Hiển thị các bài đăng có nhãn vài phim mới xem. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn vài phim mới xem. Hiển thị tất cả bài đăng

SOMETHING'S GOTTA GIVE

 Có những bộ phim không làm người ta choáng ngợp vì kịch tính, mà khiến người ta lặng đi vì nhận ra mình trong đó. Tối qua, Something's Gotta Give đã mang lại cho mình cảm giác ấy.

Điều làm phim này chạm đến nhiều người không chỉ là câu chuyện tình yêu ở tuổi đã đi qua thanh xuân, mà là cách nó nói về sự thay đổi rất muộn màng nhưng chân thật của con người. Harry quen sống hời hợt, sợ ràng buộc, chỉ tìm kiếm cảm giác trẻ trung để chống lại nỗi sợ già đi. Erica thì tưởng như đã chấp nhận một đời sống bình lặng, trí tuệ, tự chủ, nhưng sâu bên trong vẫn là một người phụ nữ khao khát được yêu và được nhìn thấy như một người đàn bà, không chỉ là một người “đã lớn tuổi”. Bộ phim đẹp ở chỗ: tình yêu đến không phải để cứu rỗi ai cả. Nó đến khi mỗi người bắt đầu đối diện với chính mình.

Có một điều rất cảm động trong hành trình của Erica: bà không trở nên hấp dẫn hơn vì cố níu kéo tuổi trẻ. Bà đẹp lên khi sống thật với cảm xúc của mình — đau đớn, cô đơn, rung động, ghen tuông, hy vọng. Một người phụ nữ ngoài sáu mươi vẫn có thể yêu cuồng nhiệt, tổn thương sâu sắc và hồi sinh từ tình yêu. Điện ảnh thường quên mất điều đó. Có lẽ điều khiến mình đồng cảm nhất là nhận ra ở những người đàn bà mà – một – nửa – là – đàn - ông: tuổi tác không làm họ hết khả năng yêu, mà thứ dễ mất đi thường là lòng can đảm để mở cửa trái tim lần nữa.

Phim cũng không tô hồng tình yêu trưởng thành. Những người đã đi qua nhiều năm tháng mang theo rất nhiều lớp phòng vệ, thói quen, tự ái và những vết thương cũ. Bởi vậy, khi họ thay đổi vì nhau, điều đó có sức nặng hơn rất nhiều so với những rung động tuổi đôi mươi. Một người đàn ông như Harry biết nói lời chân thành, biết ở lại, biết sợ mất một ai đó, thật sự gần như là một cuộc “trưởng thành muộn”. Có lẽ vì thế mà xem phim xong người ta không chỉ nghĩ về tình yêu, mà còn nghĩ về chính mình. Rằng dù đã đi qua bao nhiêu năm tháng, con người vẫn có thể bắt đầu lại. Không phải bắt đầu bằng việc trở thành ai khác, mà bắt đầu từ việc hiểu mình hơn, dịu dàng với mình hơn, và đủ chân thành để yêu người một lần nữa, và yêu đời hơn.

Điều đặc biệt của Something's Gotta Give là cảm xúc của phim gần như được nâng đỡ hoàn toàn bởi hai diễn viên chính: Jack Nicholson và Diane Keaton. Nếu là hai gương mặt khác, bộ phim có thể đã chỉ là một phim tình cảm nhẹ nhàng. Nhưng chính tuổi tác, trải nghiệm và “vết hằn thời gian” hiện lên trên gương mặt họ đã khiến câu chuyện trở nên đáng tin và đau đáu.

Jack Nicholson gần như mang cả hình ảnh đời thực của ông vào vai Harry: quyến rũ, hài hước, ngạo nghễ, hơi ích kỷ và có chút bất cần. Ông không cố làm mình trẻ hơn. Nụ cười nửa miệng, ánh mắt láu lỉnh, cách nói chuyện đầy tự tin của Nicholson khiến người ta hiểu vì sao Harry có thể hấp dẫn phụ nữ trẻ. Nhưng càng về sau, diễn xuất của ông càng lộ ra một sự mong manh rất đàn ông — nỗi sợ già đi, sợ cô độc, sợ một ngày không còn ai thật lòng cần mình nữa. Có những cảnh Nicholson gần như không diễn bằng lời. Chỉ là ánh mắt nhìn Erica khi nhận ra mình đã yêu thật sự. Một người đàn ông từng sống rất hời hợt bỗng trở nên vụng về trước cảm xúc chân thành — Jack Nicholson làm điều đó vừa buồn cười vừa đau lòng.

Còn Diane Keaton thì gần như là linh hồn của bộ phim.

Bà không mang vẻ đẹp kiểu điện ảnh cổ điển. Nhưng càng xem càng thấy cuốn hút bởi trí tuệ, sự tự nhiên và cảm giác rất thật. Diane Keaton có khả năng diễn những người phụ nữ cô độc mà không bi lụy. Erica của bà vừa mạnh mẽ vừa dễ tổn thương; vừa sắc sảo vừa đầy nữ tính. Một trong những điều đẹp nhất ở Keaton là bà không sợ để nhân vật của mình “già”. Những nếp nhăn, sự lúng túng, những khoảnh khắc bật khóc, cười một mình, ngồi viết trong căn nhà rộng… tất cả làm người xem tin rằng người phụ nữ này đã sống rất nhiều năm, đã đi qua nhiều mất mát, và vì vậy khi bà yêu lại, cảm xúc ấy có chiều sâu khác hẳn. Cảnh Erica khóc rồi bật cười khi viết về chính cuộc tình của mình là một trong những cảnh điện ảnh rất hiếm hoi nói được cảm giác của phụ nữ trưởng thành: đau đớn nhưng vẫn sống, vẫn sáng tạo, vẫn mở lòng.

Thật ra, bộ phim thành công không chỉ vì chuyện tình yêu tuổi già, mà vì nó dám trao cho những diễn viên đã ngoài thời “hào quang thanh xuân” một câu chuyện tình đầy hấp lực, gợi cảm và giàu cảm xúc. Hollywood thường chỉ cho người trẻ quyền được yêu say đắm. Bộ phim này nói rằng: những người lớn tuổi cũng có trái tim run rẩy như thế, chỉ là họ giấu kỹ hơn thôi. Và có lẽ vì vậy mà chemistry giữa Jack Nicholson và Diane Keaton rất đặc biệt. Nó không bùng cháy kiểu tuổi trẻ. Nó giống hai con người đã đi qua quá nhiều năm tháng, cuối cùng nhìn thấy nhau thật sự. Chậm hơn, sâu hơn — nhưng cũng cô đơn hơn, nên càng quý giá hơn.

“Something’s gotta give”, quả thật đôi khi phải có điều gì đó thay đổi. Và nhiều khi, điều thay đổi lớn nhất chính là trái tim tưởng đã quá quen với cô độc. Đã lâu quá rồi, mình mới được một lần trở lại với cảm xúc về một bộ phim hay.

19.5.2026 #vaiphimmoixem

 




 

 

 

MỘT THỜI CỦA NHỮNG TIẾC NUỐI ĐẸP...

 


Lâu rồi không đi xem phim “mời” vì thường những buổi đó rất đông, nhiều người quen, đôi khi không khí ấy khó làm cho mình có cảm xúc trọn vẹn. Những phim hay thường đi xem sau, khi dư luận lắng xuống.... để tự mình thưởng thức và ngẫm ngợi... Riêng tối qua, tình cảm với Song Lang, với Gánh cải lương Thiên Lý... cũng đủ để kéo mình đến với Quán Kỳ Nam ngay trong buổi chiếu “họp báo. Cảm xúc được lưu giữ từ Song Lang giờ lại trở về, ngày càng trọn vẹn!

Ngay những thước phim đầu đã cho mình bước vào một không gian ký ức quen thuộc,như trở về độ tuổi thiếu phụ nhiều năm về trước: chút gì xao xuyến và tiếc nuối, một thời khó quên vì những vất vả khó nhọc, vì những gì đã bỏ lỡ, bỏ qua

Một khu chung cư cũ với những hỉ nộ ái ố vừa đủ để thấy một Sài Gòn nhẹ nhàng, nhân hậu và lạc quan. Tại đó, Quán Kỳ Nam trong một căn nhà giữa những hàng xóm nhiều nguồn gốc: người cố cựu kẻ mới nhập cư, người mất mát kẻ cũng chẳng được gì... tất cả đều lo làm ăn, đều quan tâm đến hàng xóm bằng những cách khác nhau, tất nhiên không thể thiếu sự tò mò thậm chí tọc mạch... Nhưng tất cả vẫn là một bức tranh mà chủ đạo là gam màu trầm lắng. Câu chuyện trong Quán Kỳ Nam không phải một bi kịch mà là nỗi buồn dịu dàng, giống như khi ta bắt gặp làn khói thuốc lá quen thuộc thoáng qua ngoài khung cửa, một hương cà phê lan nhẹ trên vỉa hè Sài Gòn, một điều gì cảm động nhói lên khi nhìn thấy bức tường quét vôi màu vàng ký ức... Tất cả làm mình chợt nhớ về một thời nào đó, có lúc đã rất cần một nơi để cảm xúc được trào ra, một không gian giản dị mà ấm áp, một người bạn thấu hiểu mà không cần nhiều lời...  

Phim đã chạm vào phần “đời” rất thật của con người. Những câu chuyện trong quán không kịch tính, ta như nhận ra mình hoặc người thân quen nào đó trong mỗi nhân vật, mỗi người mỗi gia đình đều có “vấn đề” của mình: những vết thương, niềm tiếc nuối, sự cô độc không thể chia sẻ cùng ai... Nhưng trên tất cả là ai cũng nghĩ về cách họ đối xử với chính vấn đề của mình, và với “vấn đề” của người hàng xóm.... Qua đó, dù người già hay trẻ đều “trưởng thành” hơn trong tình người.

Những cảnh trong phim mang lại không khí nghệ thuật mà vẫn gần gũi, như một lát cắt của văn chương đô thị: tiếng mưa rơi ngoài hiên, bóng người đi ngược sáng, tiếng muỗng khuấy ly cà phê tan chảy vào im lặng, cả tiếng rao mua đồ cũ... Mỗi chi tiết như một gợi ý về ký ức một Sài Gòn chưa xa những đã giữ những câu chuyện cuộc đời không ai biết.  Một con hẻm cũ, một bóng người cô đơn trong đêm, một ánh mắt ngập ngừng, một lời chưa kịp nói, hay chỉ là một buổi chiều ngồi trên sân thượng nhìn bầu trời để thấy lòng mình nhẹ đi một chút.

Một chút tiếc nuối kiểu Sài Gòn xưa qua khung cảnh, âm nhạc, cách kể chuyện gợi lại chất “đô thị ký ức” – thứ mà giờ đây nhiều người quan tâm và hay nói đến (nhưng không vì chính ký ức mà vì cái khác). Ký ức và cảm xúc về những gì đã qua thường bất chợt đến trong một chiều mưa, trên một bức tường vàng, nghe một giọng hát xưa... rồi đọng lại trong tim mình, rất lâu... Quán Kỳ Nam đánh thức đúng phần mơ hồ ấy trong mỗi người.

Những ký ức ấy khi chạm vào không còn nguyên vẹn, từng tiếc nuối không thể gọi tên.… nhưng chính sự lẫn lộn đó mới là cảm xúc thật của con người. Nỗi tiếc nuối đẹp không phải thứ làm mình đau, mà là một lời nhắc rằng mình đã sống chân thành trong một thời điểm nào đó. Bộ phim đã mang lại cho người xem một điều, rằng mỗi người đều có một “quán Kỳ Nam” riêng trong ký ức.

SG 24.11.25



VỀ NHỮNG TÁC PHẨM "NHÌN LẠI QUÁ KHỨ"

Đọc THUYỀN của NGUYỄN ĐỨC TÙNG.

Có lẽ đã có nhiều bài viết rất hay về cuốn sách này qua hai cuộc giới thiệu sách và gặp gỡ tác giả ở HN và Huế, nói khá đầy đủ về nội dung, bút pháp, tâm thức, cảm xúc... của người viết và nhiều người đọc. Tôi là một người đọc bình thường, và là người trong một gia đình cũng có những người ruột thịt đã vượt biển vào khoảng thời gian được kể lại trong THUYỀN.

Tôi đọc THUYỀN trong một buổi chiều Sài Gòn mưa tầm tã, cảm giác bị lạc trong màn mưa dày đặc tối trời có lẽ góp phần làm cho tôi đồng cảm sâu sắc hơn về nỗi bất an và tai họa của những người trên THUYỀN qua từng trang sách của Nguyễn Đức Tùng.
Khép lại trang cuối, tôi bỗng nhớ tới một từ tôi học được từ những ngư dân đảo Lý Sơn. Cứ sau mỗi chuyến đi biển gặp bão tố hay tai họa, trở về bờ một thời gian sau họ vẫn còn một cảm giác, gọi là SAY BỜ.

Có lẽ THUYỀN của Nguyễn Đức Tùng chính là cảm giác Say Bờ... Đến bờ, ở trên bờ đã rất lâu, nhưng những gì chứng kiến, trải qua trên biển vẫn còn đó, không dữ dội hoảng loạn nhưng vẫn đầy ám ảnh và đau đớn...


Phim THE READER (ĐỘC GIẢ - 2008) 

Tôi xem lại phim Độc giả (The reader) giữa những ngày tình hình Israel và Iran đang ác liệt.Điều làm tôi nhớ để xem lại phim này (dù xem đã lâu) chính là đoạn cuối. Luật sư Michael đến Boston tìm gặp một nạn nhân của trại tập trung, nơi mà Hanna từng làm cai ngục ở đó. Khi ấy nạn nhân ấy là một cô bé bị bắt cùng cả gia đình. Tại phiên tòa xử Hanna, Michael đã gặp hai mẹ con nạn nhân với tư cách là nhân chứng. Và bây giờ khi Hanna đã chết, anh tìm đến người phụ nữ này để thực hiện “di chúc” của Hanna.

Machael đưa cho cô ấy chiếc hộp trà bằng sắt trong đó có tiền mà Hanna muốn gửi lại cho cô gái với lời nhắn “tùy ý sử dụng”. Người phụ nữ nói, đại ý:
- Tôi chẳng thể làm gì với số tiền này. Nếu tôi đưa cho một tổ chức nào đó liên quan đến cuộc diệt chủng Do Thái, tôi thấy như mình đang xá tội. Tôi không muốn và không đủ tư cách làm vậy.
Michael trả lời: Tôi đang nghĩ đến một tổ chức thúc đẩy xóa mù chữ chẳng hạn?
- Tốt lắm. Người phụ nữ trả lời
Michael như trút được gánh nặng, anh hỏi: cô có biết một tổ chức Do thái nào không?
- Lĩnh vực nào cũng có tổ chức Do Thái. Nhưng mù chữ cũng là vấn đề lớn của người Do Thái. Sao anh không tự tìm và gửi tiền cho họ?
Người phụ nữ giữ lại chiếc hộp trà bằng thiếc... nó gợi cho cô nhớ lại chiếc hộp đựng kỷ vật mà hồi nhỏ cô mang vào trại tập trung, nhưng đã bị lấy mất vì có những dòng chữ Do thái trên đó.
Chỉ một đoạn ngắn thôi mà để lại quá nhiều suy nghĩ và liên tưởng.
Trải qua những tội ác trong chiến tranh (và cả tội ác thời hậu chiến), sự trừng phạt, trả thù không bao giờ mang lại cho nạn nhân (của cả hai thời kỳ) sự quên lãng. Vì vậy tha thứ hay khoan dung đều hề không dễ dàng. Muốn hay không muốn tha thứ chỉ là chuyện cá nhân, nhưng quan trọng hơn là có thẩm quyền để làm điều đó hay không? Thẩm quyền ấy, thường là của cả một cộng đồng từng là nạn nhân, từng phải chịu đựng bất công, tội ác! Thẩm quyến của cộng đồng sẽ quyết định hành xử tha thứ hay không. Nhưng cộng đồng lại là tập hợp của nhiều cá nhân. Ý chí của cá nhân có thể tác động đến ý chí cộng đồng hay không?
Như trong THE RAEDER, cả hai bên đều chân thành, tôn trọng sự thật lịch sử và “cảm xúc lịch sử” của nhau. Vì vậy đã bắt đầu “đến gần nhau hơn” từ một điểm chung: nhìn nhận và góp phần giải quyết những vấn đề của ngày hôm nay. Chưa thể tha thứ cho quá khứ nhưng có thể cùng thay đổi hiện tại và tương lai! Cũng là cách tự hòa giải với ký ức đau buồn của chính mình!
Tôi xem khá nhiều phim nước ngoài có chủ đề chiến tranh và hòa giải, và những phim ấy đều mang thông điệp nhân văn: con đường hòa giải với ký ức có quá nhiều cái hố của thù hận, chia cắt. Muốn thay đổi cần bắt đầu từ một hòn đá có khi chỉ đủ chèn vào một hố nhỏ trên đường, giúp cho một người đi đường không vấp té... Và cứ thể, mỗi người với từng viên đá nhỏ có thể giúp con đường bằng phẳng hơn, chứ không dùng để đào thêm những hố sâu và gây thêm thương tích cho chính mình, cho người khác... Cần lắm, sự kiên nhẫn và lòng khoan dung.

20.6.25
#vaiphimvuaxem [lâu qúa mới viết lại mục này]
Tìm mãi mới có 1 tấm hình của đoạn phim trên 🙂



Lịch sử từ và ngoài bảo tàng: Trận chiến “Battle of little bighorn”

 


1. Bộ phim “Battle of little bighorn” chiếu trên kênh National Geographic kể về việc tìm hiểu một sự kiện lịch sử nước Mỹ, từ những gì có trong bảo tàng và cả những gì đang lưu giữ ngoài bảo tàng: ký ức, lễ hội phục dựng sự kiện, về cá nhân những người lãnh đạo sự kiện ấy và hậu duệ của họ, những nguyên nhân sâu xa, những sự việc tưởng không liên quan trực tiếp đến sự kiện.

Trận chiến Little Bighorn là một cuộc giao tranh vũ trang giữa các lực lượng phối hợp của người Lakota Sioux và các bộ lạc Arapaho và Trung đoàn Kỵ binh số 7 của Quân đội Hoa Kỳ. Trận chiến dẫn đến sự thất bại của lực lượng Hoa Kỳ, diễn ra vào ngày 25–26 tháng 6 năm 1876, dọc theo Sông Little Bighorntrong Khu dành riêng cho người da đỏ Crow ở đông nam Lãnh thổ Montana. Cuộc chiến là một chiến thắng áp đảo cho Lakota, Bắc Cheyenne và Arapaho, do một số Thủ lĩnh như Crazy Horse và Chief Gall lãnh đạo. Kỵ binh số 7 của Hoa Kỳ, một lực lượng gồm 700 người, do George Armstrong Custer chỉ huy đã thất bại nặng nề và Custer bị giết.

Trong những thập kỷ sau đó, Custer và quân đội của ông luôn được coi là những nhân vật anh hùng trong lịch sử Hoa Kỳ. Đài tưởng niệm Quốc gia Chiến trường Little Bighorn vinh danh những người đã chiến đấu ở cả hai phía. Tuy nhiên cho đến ngày nay trận chiến này và đặc biệt là hành động của Custer, vẫn được các nhà sử học nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân thất bại của quân đội Hoa Kỳ dưới sự chỉ huy của vị chỉ huy “chưa từng thua trận” George Armstrong Custer. Những gì được ghi chép, được trở thành “truyền thuyết”, kể cả những gì hiện diện trong bảo tàng, ở nơi tưởng niệm… liệu có phải là sự thật? hay sự thật là bao nhiêu phần trăm từ những gì hiện nay người ta biết về trận chiến này?

2. Đầu tiên “nhà sử học” - cũng là “người dẫn chuyện” - đi theo những ghi chép lịch sử như đã nêu vắn tắt ở trên. Không thỏa mãn vì không tìm ra nguyên nhân giải thích một cách hợp lý thất bại to lớn và “kỳ lạ” của quân đội Hoa kỳ, nhà sử học tìm hiểu/tiếp cận từ những hướng khác. Đầu tiên ông đến di tích “chiến trường” xưa. Nơi này được bảo tồn nguyên vẹn cảnh quan, trở thành một địa điểm kỷ niệm với tượng đài và lễ hội liên quan, thu hút rất đông khách tham quan hàng năm. Vào ngày kỷ niệm trận chiến diễn ra nhà sử học đã tham gia vào Lễ hội phục dựng lại trận chiến ngay tại đây. Đây là lễ hội được cộng đồng cư dân địa phương sáng tạo và duy trì từ rất lâu, xuất phát từ lòng ngưỡng mộ vị chỉ huy tài danh George Armstrong Custer.

Tại lễ hội, người ta sử dụng quân trang quân dụng được phục chế đúng như hiện vật trong bảo tàng, phục dựng một phần trình chuẩn bị cho trận chiến để làm tăng “cảm thức xác thực” của người tham gia và tham dự sự kiện. Từ phía đội quân người Crow, cũng theo lễ hội được phục dựng, họ tổ chức một truyền thống nghi lễ lâu đời được gọi là Vũ điệu Mặt trời là sự kiện tôn giáo quan trọng nhất trong năm nhằm tiếp nhận những gì Thần linh báo trước.

Tiếp đến, nhà sử học tìm hiểu về bản thân George Armstrong Custer từ những gì lưu trữ trong bảo tàng. Ông nhận thấy đó là một có tính cách mạnh mẽ, vị chỉ huy quân đội tài giỏi, quyết đoán, nhưng cũng kiêu ngạo và coi thường ý kiến của người khác. Rồi nhà sử học tìm hiểu về Thủ lĩnh của người Crow qua hậu duệ của ông, tìm hiểu về những gì diễn ra trong khu làng ấy khi trận chiến diễn ra và sau đó nữa.

Từ tất cả những hướng tiếp cận đó, nhà sử học tìm ra nguyên nhân thật sự của cuộc tấn công, lý giải nguyên nhân thất bại thảm hại của quân đội Custer, lý giải tâm lý tôn sùng ông từ đó đến mãi về sau, tìm hiểu cả việc cộng đồng người Crow sau đó tan rã nhanh chóng thế nào… Sự thật được “phục dựng” từ nhiều góc độ, chân dung các nhân vật lịch sử góp phần làm sáng tỏ các hành động, hành vi của họ đã tác động và dẫn đến kết quả cuộc chiến.

Mỏ vàng lớn và vùng đất giàu tài nguyên của cộng đồng người bản địa là cái đích mà quân đội Hoa kỳ lúc đó nhắm đến. Sự kháng cự của cộng đồng bản địa làm tăng quyết tâm tiêu diệt toàn bộ “làng Crow” của Custer làm ông bỏ qua những tin tức bất lợi từ trinh sát hay khuyến cáo chờ quân tiếp viện của một số sĩ quan dưới quyền. Về phía cộng đồng bản địa, do luôn cảnh giác và được rèn luyện thường xuyên nên họ không bị bất ngờ trước cuộc tấn công, đồng thời họ cũng có quyết tâm giữ lại đất đai ngàn đời của mình. Tuy nhiên họ đã giết hết đối thủ và cướp đi rất nhiều chiến lợi phẩm, điều đó làm “trái lời thần linh” nên dẫn đến hậu quả là không lâu sau đó, hầu hết người bản địa đã bị đưa vào những “khu bảo tồn người da đỏ” và mất hết đất đai.

Tìm ra nguyên nhân hay lý giải một sự kiện lịch sử chưa đủ, mà còn cần nhận biết “di sản” nó để lại. Như nhà sử học kết thúc bộ phim của mình: đó là “sự va chạm của hai nền văn hóa” và kết quả là “một bên thua trận và bên còn lại mất hết”.

3. Tham khảo thêm từ Vikipedia: Địa điểm diễn ra trận chiến lần đầu tiên được bảo tồn như một nghĩa trang quốc gia của Hoa Kỳ vào năm 1879 để bảo vệ các ngôi mộ của những người lính Kỵ binh số 7. Năm 1946, nó được chỉ định lại là Đài tưởng niệm Quốc gia Chiến trường Custer, phản ánh sự tôn sùng Custer. Từ đầu những năm 1970, Công viên Quốc gia này lo ngại về cái tên Đài tưởng niệm Quốc gia Chiến trường Custer không phản ánh đầy đủ lịch sử lớn hơn của trận chiến giữa hai nền văn hóa. Các phiên điều trần về việc đổi tên được tổ chức tại Billings vào ngày 10 tháng 6 năm 1991 và trong những tháng tiếp theo, Quốc hội đã đổi tên địa điểm này thành Đài tưởng niệm Quốc gia Chiến trường Little Bighorn .

Gần 100 năm sau, ý tưởng về ý nghĩa của trận chiến đã trở nên bao quát hơn. Chính phủ Hoa Kỳ thừa nhận rằng sự hy sinh của người Mỹ bản địa cũng xứng đáng được công nhận tại địa điểm này. Dự luật năm 1991 đổi tên đài tưởng niệm quốc gia cũng cho phép xây dựng Đài tưởng niệm người da đỏ gần Đồi Last Stand để vinh danh các chiến binh Lakota và Cheyenne. Vào Ngày Tưởng niệm năm 1999, sau khi tham khảo ý kiến ​​của các đại diện bộ lạc, Hoa Kỳ đã bổ sung hai điểm đánh dấu bằng đá granit đỏ trên chiến trường để ghi nhận nơi các chiến binh người Mỹ bản địa ngã xuống.

4. Sự hành xử của chính quyền/nhà nước/cộng đồng người mới đến một vùng, khu vực, lãnh thổ, nơi đã có những cộng đồng bản địa cư trú lâu đời, có truyền thống lịch sử và văn hóa khác biệt…  luôn để lại những bài học đắt giá! Lịch sử là những sự kiện đã diễn ra nhưng bài học của nó không bao giờ là “quá khứ”. Không thể “làm lại lịch sử” nhưng có thể nhận thức và ứng xử với quá khứ một cách khách quan, bằng cách tìm hiểu, lý giải, trưng bày, phục dựng, kỷ niệm sự kiện, lưu giữ ký ức…  không định kiến dân tộc đa số/thiểu số, không mặc cảm bên thắng cuộc/ bên thua cuộc, công bằng và nhân văn thì sẽ hòa giải, hòa hợp và thật sự đoàn kết!

2.7.2023

Phim Giáng sinh

 Mấy bữa nay TV chiếu nhiều phim về Giáng sinh. Gia đình đoàn tụ, hạnh phúc, tình yêu đôi lứa... hầu hết là những bộ phim kiểu “ngôn tình”, dù sướt mướt hay hài hước, thậm chí kinh dị, thì cũng đều có một Happy End. Không ít phim là về tình yêu của những người đã vào tuổi trung niên mà vẫn chưa tìm thấy một nửa của mình, phim về đôi lứa đã đánh mất nhau khi còn trẻ dại... Nhưng vào đêm giáng sinh họ đều tìm thấy hạnh phúc.

Tất nhiên, không phải tình yêu nào cũng phải đợi đến đêm giáng sinh mới kết thúc tốt đẹp. Giáng sinh – như là một biểu tượng của điều lành và cơ hội may mắn – là cái cớ để những gì không thể sẽ - có - thể xảy ra. Và tất nhiên, người xem hiểu được ý nghĩa biểu tượng ấy. Nhờ đó, phim về Giáng sinh luôn được đón đợi vào mùa Giáng sinh. Phim hay hoặc không hay lắm cũng đâu quan trọng khi mang lại cho người xem niềm vui về hạnh phúc của nhân vật trong phim, cảm giác bồi hồi trước những mối tình đẹp và một thông điệp vĩnh cửu: cuộc sống tốt đẹp là nhờ lòng nhân hậu và những điều tử tế.

Ừ, cuộc sống chỉ cần lòng nhân hậu và những điều tử tế. Nhưng đó lại là điều thường ít được nhận biết và hiểu đúng giá trị, bởi vì nhân hậu và tử tế thường giản dị, không màu mè gay cấn nổi bật... như những điều ngược lại.

Last Christmas, bộ phim "kinh điển" về chủ đề Giáng sinh. Trái tim của một chàng trai nhân hậu và luôn sống tích cực - chẳng may bị tai nạn và qua đời - được trao cho cô gái bị bệnh tim bẩm sinh, trong một ngày Giáng sinh. Vào dịp Giáng sinh sau cô gái "gặp lại" chàng trai, anh đã giúp cô vượt qua những bất ổn của cuộc sống từ sự nhân hậu và thái độ sống tích cực của mình.

Đêm Giáng sinh, cô gái đi tìm anh và để hiểu ra rằng, cô đến với những điều tốt đẹp và tử tế chính là từ một điều vĩnh cửu trong trái tim mỗi người: "Đôi lúc bạn chỉ cần giữ bên mình một niềm tin".







PHỤC SINH - MỘT BỘ PHIM TỪ KIỆT TÁC CỦA L.TONXTOI

 

Mình xem tiểu thuyết “Sống lại” từ hồi mười hai, mười ba tuổi… Khi đó chưa được xem phim nhưng tâm trí in sâu những hình ảnh khó quên: cô gái Kachiusa ngước đôi mắt đen láy vui tươi nhìn chàng Nekhliudop, rồi hai người hôn nhau với câu nói còn ngượng ngập nhưng tràn đầy niềm vui “Chúa sống lại rồi”, trong tiếng chuông nhà thờ rộn rã và ánh nến lấp lánh của ngày lễ Phục Sinh… Cái đêm tối mịt mùng, mưa gió từng cơn, nàng chạy theo đoàn xe lửa trên đó chàng đang ngồi ấm áp uống rượu với bạn bè. Sự ngây thơ lòng trong trắng của nàng đã bị vùi dập… Rồi sau đó là nỗi ân hận muộn màng của chàng Nekhliudop, cố gắng tuyệt vọng của chàng nhằm bù đắp phần nào những khổ đau mà Kachiusa đã phải chịu đựng… 50 năm qua, hôm nay bộ phim đen trắng PHỤC SINH đã mang lại cho mình trọn vẹn cảm xúc từng có khi đọc tiểu thuyết, đồng thời thêm những cảm nhận mới mà ở độ tuổi này mới thấu hiểu hơn chăng?

Phim mở ra khung cảnh mùa thu nước Nga nhưng không có lá vàng trời xanh đẹp tuyệt mà nhiều người vẫn ca ngợi, mà là cảnh tượng khắp nơi một màu xám xịt trong nhà tù, trên đường phố, những tòa nhà mờ mịt trong sương mù… Chỉ có chiếc khăn choàng đầu màu trắng của Maslova sáng lên như một tia hy vọng về cuộc sống tự do như bầy chim bồ câu bay nhảy trên đường phố, bất chấp sự ảm đảm, ẩm ướt và lạnh lẽo. Ảm đảm và lạnh lẽo cũng là ánh mắt của cô gái Maslova trong nhà tù, trên đường bị giải đến tòa án, trong phòng xử án. Đôi mắt đen long lanh thỉnh thoảng lóe lên sự lọc lõi, ánh nhìn khiêu khích, mời gọi theo thói quen “nghề nghiệp”, nhưng cũng không dấu vẻ khinh bỉ những người đàn ông đang hau háu nhìn cô.

Nhưng cũng cô gái đó với đôi mắt ngơ ngác không hiểu điều gì xảy ra, nức nở tuyệt vọng khi bị kết án 4 năm tù khổ sai. Maslova sống trong tầng lớp dưới đáy của xã hội nhưng nàng vẫn ngây thơ khi tưởng rằng, đã nói tất cả sự thật cô không phải là kẻ giết người, rằng cô chỉ muốn được thoát khỏi một kẻ say rượu hành hạ thể xác cô, thì mọi người sẽ hiểu cô vô tội… Sự ngây thơ của người lương thiện, khác hẳn sự “hiểu biết” của những kẻ kết án cô vì sự vô cảm, vì thói quen kết tội người yếu thế, và vì trong cuộc sống bọn họ đều có thể hành xử bẩn thỉu như tên lái buôn say rượu đã hành hạ Maslova và bị nàng vô tình giết chết. Kết tội nàng vì bọn họ hoảng sợ trước một cái kết mà rất có thể là của chính họ!

Lần thứ hai “sự thật” của Maslova bị vùi dập nên nàng không thể tin vào thiện ý của Nekhliudop. Nhưng dần dần nàng nhận thấy sự ân hận vô cùng thành tâm và trong sáng của Nekhliudop, nàng nhận ra con người Nekhliudop có thể phạm lỗi lầm nhưng không phải là người xấu xa như nàng từng căm hận. Sau khi ném vào mặt chàng những lời nặng nề, coi việc chàng làm mọi điều để nàng được giảm án chỉ là “sự chuộc tội cho kiếp sau”, nàng không thể không nhận thấy sự quên mình của chàng còn cao hơn sự chuộc lỗi thông thường, đó là vì tình yêu những gì tốt đẹp trong con người nàng hiện tại, nhờ đó tình yêu của nàng yếu ớt hồi sinh…

Chứng kiến cuộc đời Kachiusa tàn tạ bởi một lỗi lầm thời tuổi trẻ của mình, Nekhliudop nhìn lại cuộc đời mình, chàng “sống lại” từ nhận thức về bản thân, từ sự nhìn nhận cái xã hội thượng lưu mà chàng là một phần trong đó, từ việc quyết liệt thực hiện mọi việc nhằm thay đổi số phận của Maslova và của chính mình… dù chàng hiểu rằng “nàng Kachiusa xưa kia đã chết”. Tình cảm của chàng với Maslova đi từ “trách nhiệm, bổn phận” của lương tâm đến sự thấu hiểu và chia sẻ của tâm hồn. Maslova tìm thấy cuộc sống trong tình yêu và sự cảm phục một người tù chính trị, Nekhliudop để nàng tự quyết định số phận dù chàng nhận ra tình yêu của hai người đã mong manh hồi sinh… Hai người từ biệt tình yêu của mình, số phận của họ đi theo hai con đường khác nhau. Nhưng tâm hồn họ sẽ mãi gắn bó bởi họ đã cùng tìm lại được bản thân trong một tình cảm cao cả: yêu thương CON NGƯỜI. Con người có thể sai lầm nhưng sửa chữa lỗi lầm không chỉ là nhận lấy gánh nặng của sự tự trừng phạt, mà còn là việc thay đổi chính mình, trở nên khoan dung, thấu hiểu và vị tha hơn.

Diễn biến của phim trung thành với nguyên tác tiểu thuyết. Trước đây, khi bình về tiểu thuyết này nhiều người thường nhấn mạnh cái kết hướng theo “lý tưởng cách mạng” như một tất yếu. Nhưng mình luôn nghĩ rằng trong nhiều kiệt tác của L.Tonxtoi, tình yêu nói riêng và lòng yêu thương con người nói chung mới chính là sự cứu rỗi cho tâm hồn các nhân vật của ông, cho sự tha hóa của xã hội mà ông lên án và đả phá. Tình yêu mang cho con người sự sống và có thể làm hồi sinh những gì tốt đẹp nhất mà con người từng đánh mất. Bộ phim PHỤC SINH với diễn xuất tuyệt vời của hai nhân vật chính, đặc biệt đôi mắt ám ảnh  biểu cảm tuyệt vời của nữ diễn viên Tamara Syomina đã thể hiện trọn vẹn những gì mà L.Toixtoi gửi gắm trong kiệt tác của ông.

1.7.2022

Hình: Nàng Kachiusa- Maslova








NGƯỜI INCA VÀ NGƯỜI TÂY BAN NHA (phim khám phá lịch sử)

 

Ở nhà mình có thời gian xem nhiều phim tài liệu khoa học, trong đó có những phim về khảo cổ học, lịch sử... Rất thích những phim này vì có những kiến thức lý thuyết trong những phim này là thực tế, ví dụ như ứng dụng phương pháp, kỹ thuật hiện đại trong nghiên cứu khảo cổ học – nhất là trong khảo sát, thám sát, thăm dò di tích khảo cổ các loại, từ mộ táng, nơi cư trú và nhất là các thành phố cổ... đã “biến mất” dưới đáy biển, trong rừng rậm, dưới lòng đất... qua hàng ngàn hàng trăm năm.

Hôm qua xem được hai phim khá hay, vừa là khảo cổ vừa là lịch sử, thậm chí là lịch sử hiện đại! Kể về phim khảo cổ - lịch sử cổ đại trước nè.

Phim kể về cuộc chinh phạt của người Tây Ban Nha đến đế chế Inca ở Peru (Nam Mỹ) vào thế kỷ 16. Sử ký ghi chép: người TBN tiêu diệt các nhóm thổ dân, tàn phá các đô thị của đế chế Inca, trong đó có cuộc “giải vây” thành phố Lima do người TBN lập nên (nay là thủ đô của Peru). Nói chung sử TBN ghi chép sự chiến thắng hoàn toàn của người TBN trong việc xóa sổ đế chế Inca văn minh lừng lẫy một thời.

Tuy nhiên, gần đây các nhà khảo cổ học đã phát hiện một nghĩa địa của người Inca ở gần thành phố Lima. Cuộc khai quật KC các mộ táng ở nghĩa địa này đã cung cấp nhiều bằng chứng lịch sử khác đồng thời bổ sung nhiều chi tiết mới cho sử ký mà nhiều người đã biết.

Những di cốt ở nghĩa địa này là người Inca, được chôn theo cùng vũ khí thô sơ của họ, phần lớn đều bị thương nặng và chết trong trận chiến. Đây là một bằng chứng của cuộc vây hãm Lima do một cộng đồng người Inca thực hiện mà sử đã ghi lại. Tuy nhiên khi nghiên cứu các di cốt này, các nhà KCH đã khám phá ra một số bằng chứng mới:
1/ Một di cốt có một vết thương nhỏ trên đầu giống như vết đạn xuyên qua, giám định “pháp y” cũng xác định như vậy. Tuy nhiên, thời kỳ này súng đạn còn vô cùng hiếm nên các nhà KCH chưa tin lắm vào giả thuyết này. Để kiểm tra giả thuyết họ đã phải dùng đến một loại máy vô cùng hiện đại mới có thể nhìn thấy và xác định dấu vết những mạt kim loại li ti còn dính quanh lỗ thủng và mảnh sọ của di cốt. Đó chính là dấu vết của vỏ đạn để lại!
Di cốt này có rất nhiều vết thương nặng khác nhưng chính viên đạn này mới làm chết người.

Phát hiện này cực kỳ quan trọng vì đây dấu vết đạn bắn vào người sớm nhất và đầu tiên tìm thấy ở châu Mỹ! Càng quan trọng hơn vì di cốt bị phát đạn này được xác định chính là người Thủ lĩnh của Inca, vì trang phục và vì sự chôn cất cẩn thận hơn di cốt khác. Ông cũng là người mà nhiều truyền thuyết lịch sử nói đến.

2/ Hầu hết những di cốt khác có vết thương đều từ vũ khí thô sơ, trong đó nhiều vết thương khá lớn, không phù hợp với loại vũ khí nào của quân TBN. Sau khi nghiên cứu ở “Bảo tàng về người Inca” thì các nhà KCH đã khám phá ra, các vết thương ấy phù hợp với sự va chạm mạnh của những chiếc “búa đá” – một loại vũ khí phổ biến của người Inca (Hòn đá hình rìu khá lớn, nặng, được buộc vào dây, có thể quăng, ném tạo ra một lực rất mạnh). Hiện tượng này dẫn đến suy đoán: trong cuộc đụng độ này có những người Inca đánh lại người Inca, thậm chí đây là lực lượng giao tranh nhiều hơn người TBN.

Từ phát hiện của các nhà KCH, các nhà sử học đã lần lại những truyền thuyết, sử liệu bị bỏ qua, và họ phát hiện ra những sự kiện khác có liên quan mật thiết: trong quá trình đế chế Inca chinh phục các vùng và các cộng đồng khác đã có những nơi không tuân phục đế chế. Khi quân đội TBN tiến đến thì những nơi này nhân cơ hội đó nổi dậy chống lại đế chế, thậm chí còn đi theo quân TBN vì lời hứa hẹn sẽ được ban tặng nhiều quyền lợi nếu tiêu diệt được đế chế này. Tất nhiên lời hứa này không bao giờ được thực hiện. Thậm chí để tăng cường mối quan hệ với cộng đồng người Inca, người đứng đầu quân đội TBN lúc đó đã lấy con gái của một tù trưởng Inca sau khi cô này rửa tội theo đạo Thiên chúa.

Khi Lima – nơi quân đội TBN trú đóng - bị vây hãm, cô gái đã gửi thư kêu cứu về cha mẹ mình. Vị tù trưởng kia đã gửi quân đến giải cứu cho con gái. Vậy là cuộc giải vây Lima đã “có công” của nhiều thổ dân Inca chứ không phải chỉ là của quân đội TBN. Thậm chí còn có cả phụ nữ Inca trong trận chiến này qua một số di cốt tìm thấy, nhưng sử ký không ghi nhận vai trò của phụ nữ trong cuộc chiến tranh này. Đây là một sự kiện rất quan trọng, vì sau trận chiến này hầu như không còn đụng độ giữa người Inca và lính TBN nữa.

Sự thật này cả hai phía TBN và Peru sau này đều không nói đến. Phía TBN tất nhiên với vị thế “bên thắng cuộc” thì chỉ ghi chép về “chiến thắng” và nhấn mạnh “công lao” của quên đội TBN. Còn phía Peru ghi chép lịch sử “truyền thống” cũng bỏ qua các chi tiết về sự “phản bội” nhau trong những người Inca trong cuộc chiến chống lại người TBN. Đây là kết quả của cuộc khai quật nghĩa địa này của các nhà KCH, cũng là kết luận "về lịch sử" của bộ phim.

Cuối cùng lịch sử cũng bộc lộ từ những chi tiết nhỏ, tưởng đơn giản, về một vài cá nhân, phản ánh gián tiếp sự kiện chính nên hay bị bỏ qua, gạt đi. Bằng chứng hay sử liệu KCH luôn phản ánh sự thật một cách khách quan, “có sao để lại vậy”, vì vậy các nhà KCH không được phép bỏ qua một chi tiết nào, trước bất kỳ hiện tượng nào cũng phải đặt câu hỏi: vì sao, thế nào, tại sao, ai, lúc nào.... Để có “sự thật lịch sử” thì khi tìm ra những bằng chứng khác với những gì đã biết, cần liên ngành với sử học và nhiều ngành khác để có thể lý giải nó một cách phù hợp nhất trong bối cảnh lịch sử của nó. Và cuối cùng, cần dũng cảm nhìn nhận sự thật - chỉ có một sự thật mà thôi.







 

Một bộ phim để lại nhiều suy nghĩ.




Khi làm việc thỉnh thoảng để “giải lao”, mình ghé mắt qua TV xem từng đoạn vài bộ phim ở các kênh TV nước ngoài. Có lần xem một bộ phim kiểu phóng sự về vấn đề “lạm dụng tình dục trẻ em”. Phim đã làm mình phải ngồi xem đến hết. Không rõ tựa phim là gì, nhưng phim là một câu chuyện thật, các nhân vật cũng là người thật ngoài đời.
Bằng những lời kể của bà mẹ, cô gái, các nhân chứng, tư liệu hình ảnh, video gia đình, báo chí, tài liệu của cảnh sát, tòa án, bình luận của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, tư liệu về hoạt động nghệ thuật của bà mẹ và ông chồng hờ... Bộ phim dựng lại câu chuyện về gia đình một nữ diễn viên điện ảnh khá nổi tiếng, bà có những đứa con nuôi là người Mỹ da trắng, da đen, gốc Hàn, gốc Hoa... Bà yêu thương, tôn trọng và chăm sóc tất cả các con nuôi như nhau, không hề có sự phân biệt. Bạn trai của bà là một đạo diễn điện ảnh rất nổi tiếng, thỉnh thoảng sống cùng bà và những đứa con nuôi. Bọn trẻ đều coi ông như cha.
Chuyện xảy ra khi bà tình cờ phát hiện ông có quan hệ với cô con gái nuôi người Hàn, lúc đó học gần xong trung học. Khi bị phát hiện cô gái chỉ khóc lóc, còn ông bồ thì chối bay, thề thốt sẽ không để xảy ra nữa. Nhưng rồi họ vẫn lén lút với nhau. Cô gái bỏ nhà ra đi. Bà mẹ đành nhờ toà án ra lệnh hạn chế ông bồ / chồng – đến gặp các con của mình. Bà vẫn tin ông sẽ ko tái phạm. Nhưng rồi sau đó bà phát hiện ông có những hành vi lạm dụng và cuối cùng là việc cưỡng bức cô con gái 7 tuổi... Bà đã chia tay với ông bồ để bảo vệ các con cả trai và gái khỏi bị tổn thương thể xác và tâm lý. Thậm chí phải bỏ cả sự nghiệp nghệ thuật vì không thể chịu sức ép từ đồng nghiệp, báo chí và dư luận khi bà tố cáo “chồng”. Sau đó ông bồ nhanh chóng cưới cô con gái nuôi người Hàn và vẫn tiếp tục nổi tiếng.
Tuy nhiên cô con gái lúc 7 tuổi bị cưỡng bức thì bị chấn thương tâm lý rất lâu, cô ko thể có bạn trai, và khi tìm được một người phù hợp thì thời gian hai người yêu nhau cô vẫn bị ám ảnh chuyện hồi nhỏ và ko thể sống bình thường. Phim kể về sự khó khăn nhưng vô cùng dũng cảm của cô gái khi nhiều năm sau cô mới quyết định tố cáo hành vi của người bố nuôi: “bạn thích xem phim nào của ông X? Bạn có muốn xem nữa không nếu con gái nhỏ của bạn bị ông ta cưỡng bức như đã nhiều lần lạm dụng và đã cưỡng bức tôi khi tôi còn nhỏ?”. Nhưng trong gia đình có một người con nuôi gốc Hoa – anh cô gái – nói rằng cô nói dối, rằng việc đó do cô tưởng tượng ra, rằng hồi nhỏ lũ trẻ luôn bị mẹ bạo hành tinh thần và thể xác...
Những người anh, chị em khác đã dũng cảm ủng hộ cô và nói lên sự thật, dù họ biết rằng, nếu “bảo vệ” bố nuôi họ sẽ có lợi về vật chất, về tiếng tăm. Còn bà mẹ - dù bà thú nhận là vẫn sợ ông bồ, một sự sợ hãi mà bà không giải thích được vì sao - cũng nói với cô gái: “nếu con ko nói gì thì mẹ rất hiểu vì sao, nhưng nếu con quyết định nói ra sự thật thì mẹ luôn bên con”. Gia đình mẹ và các anh chị em, chồng cô, là chỗ dựa cho cô gái vững vàng hơn trong hành trình dài để có thể nói lên sự thật. Hành trình ấy bắt đầu được xã hội chú ý và ủng hộ nhất là khi phong trào ME TOO bùng ra ở Hollywood.
Phim không chỉ dựng lại câu chuyện của một gia đình mà còn phản ánh quá trình nhận thức của xã hội về thực trạng phụ nữ bị lạm dụng tình dục. Sự thay đổi ý thức xã hội từ việc công chúng luôn bênh vực nam giới/người nổi tiếng, cho rằng họ không bao giờ phạm tội, rằng người khác vu oan và muốn kiếm chác từ việc dựng chuyện cho người nổi tiếng. Phụ nữ, những người bình thường luôn là kẻ yếu thế trong xã hội, không được dư luận, truyền thông và cả pháp luật xem xét một cách công bằng.
Trong phim còn đặt ra vấn đề: Đạo đức của nghệ sĩ có quan hệ thế nào với tác phẩm/sản phẩm của họ? Và đâu là giới hạn sự vô đạo đức của nghệ sĩ? Nhiều nghệ sĩ và dư luận vẫn bênh vực những ngôi sao mạc dù họ phạm tội, nhất là các “thần tượng” của công chúng. Nhưng cũng đã có những nghệ sĩ tỏ rõ thái độ không chấp nhận, không cộng tác cùng, ngay cả khi người phạm tội không bị pháp luật trừng trị. Cuối phim đưa ra thông tin: ông đạo diễn nổi tiếng kia vẫn sống với cô vợ người Hàn, họ luôn từ chối không trả lời phỏng vấn về chuyện bị tố cáo. Nhưng phim của ông không được phép chiếu ở Mỹ dù chiếu ở nước ngoài rất thành công.
Một số vấn đề xã hội khác cũng rất hay: Cô gái nói chuyện với vị thẩm phán để tìm hiểu sự thật từ phía tòa án, vì sao khi xưa ông khép lại vụ án? Đó là vì muốn bảo vệ cô trước sự độc ác của dư luận vì cô còn quá nhỏ, khi mà chưa thể trừng trị kẻ phạm tội. Một quan điểm nhân văn khi giải quyết một vụ án liên quan đến tình dục và trẻ vị thành niên. Và khi cô lớn lên, đủ nhận thức và biết tự bảo vệ mình, pháp luật sẽ giúp cô đưa sự thật ra ánh sáng.
Vì sao hai người con nuôi gốc Á (Hàn, Hoa) “phản” mẹ? Với người châu Á, cha nuôi – trong trường hợp này như cha dượng - với con gái nuôi cũng là cha con, nên việc lạm dụng, cưỡng bức con gái nuôi hay con gái lấy cha dượng đều là loạn luân. Phải chăng chính vì mặc cảm “không phải là người Mỹ” nên dù được mẹ nuôi người Mỹ yêu thương và đối xử tử tế, thì ẩn ức “thấp kém” làm cho họ phải “trả thù” làm mẹ và các anh chị em khác phải đau khổ, gia đình thực sự bất ổn.
Sự sợ hãi của bà mẹ với ông chồng hờ là sự sợ hãi vô thức đối với kẻ có quyền hành, có thể chi phối về tinh thần, cụ thể là “sức mạnh” của một ông đạo diễn tài năng, nổi tiếng đối với một nữ diễn viên dù cũng rất có tài? Nhưng bà đã dũng cảm từ bỏ ông ta, tuy chưa đủ sức mạnh để đưa ông ra tòa, bảo vệ danh dự cho chính mình và cho con gái. Sợ hãi kẻ có quyền hành là nỗi sợ của rất nhiều người, nhất là khi người đó có dư luận và cả một hệ thống truyền thông ủng hộ.
Kẻ phạm tội không bị trừng trị, nhưng quan trọng là nạn nhân đã dám đối diện với nỗi đau tinh thần không thể quên, và đã lên tiếng. Xã hội sẽ bớt đi những điều xấu xa không chỉ vì không còn kẻ bất nhân mà vì những người tốt đã không im lặng và cùng nhau phản kháng.
Và cuối cùng, bộ phim chính là quá trình đưa kẻ phạm tội ra trước sự phán xét của người xem.
17.3.2021

THIẾU TÌNH YÊU

Hai vợ chồng mất con nhưng không hề có một giây phút nào hình ảnh đứa con trai dễ thương hiện về trong tâm trí họ, không hề có hình ảnh nào họ từng chăm sóc từ lúc nó lúc còn bé bỏng hay khi nó lớn lên, không hề... dù họ đã có nó trong 12 năm!

Họ tìm con như tìm một đồ vật gì đấy mà họ cũng chẳng cần thiết lắm, nhưng không tìm thì không được, đi tìm con cũng là một cơ hội để họ tiếp tục nguyền rủa nhau như bất cứ lúc nào họ cũng làm điều đó! Thực ra hai người này đã mất con từ lâu rồi, từ khi họ không còn là gì, là ai trong mắt nhau! Cho nên, khi họ từ chối cái xác khủng khiếp trong bệnh viện là con trai thì... họ đã nhận đòn trừng phạt của Đức Chúa trời! Aliosa mất tích mãi mãi, Aliosa đang phải chịu những gì còn tệ hơn cái chết ở một nơi nào đó... đó mới là khủng khiếp nhất, sự cảnh báo/cảnh cáo cao nhất mà bộ phim để lại cho người xem!
Một xã hội bất ổn với những tin tức bắn giết, chiến tranh tràn ngập trên truyền thông, quan hệ gia đình không có tình yêu, mà "tình yêu" cũng chỉ là tình dục; một xã hội có những người mẹ coi con cái là món nợ, là gánh nặng, là bằng chứng sự ngu dại của mình, nơi mà tình mẫu tử bị bào mòn, người phụ nữ không còn lòng trắc ẩn ngay với con mình... xã hội ấy rất gần với địa ngục!
Và rồi trong phần đời còn lại của mình, khi sống cùng gia đình mới cũng “thiếu tình yêu”, liệu có khi nào, chỉ một lần, một giây thôi, hình ảnh đứa con trai bất hạnh hiện về trong tâm trí, trong trái tim người đã từng là cha là mẹ? Hình ảnh đầu phim cậu bé cô độc trong rừng cây u ám, cuối phim là những tờ rơi với khuôn mặt cậu bé hiện diện khắp nơi, cô độc giữa sự thờ ơ của mọi người, cô độc trên đường phố, giữa những xa lộ, trên cây, trên cột điện, giữa đêm tối hay trong bão tuyết... đã ám ảnh người xem rất lâu...
Trong phim có Đội tình nguyện tìm người mất tích giống như những "hiệp sĩ đường phố" ở TPHCM, những tổ chức như vậy xuất hiện khi cơ quan nhà nước có chức năng và nhiệm vụ làm việc đó lại quan liêu và vô trách nhiệm - dù được biện hộ bằng nhiều lý do.
***
Tham gia vào trang phim LLNN và sau là KLNN tôi được xem các dòng phim LX/Nga, nhiều thể loại nhiều chủ đề. Bên cạnh dòng phim sử thi, phim chiến tranh hay phim dựng theo các tác phẩm văn học cổ điển trở thành kinh điển của điện ảnh thế giới, nhiều bộ phim thuộc chủ đề tâm lý xã hội – đời sống thời xưa được nhiều người yêu thích và nhớ mãi. Có lẽ vì cuộc sống ở nước ngoài thời đó, nhất là LX – là mơ ước một thời của nhiều người sống ở miền Bắc, vì nói chung phim luôn là “Happy end” dù con người thủ đoạn hay xấu xa thế nào thì về cơ bản xã hội vẫn tốt đẹp. Sự hấp dẫn của phim LX còn vì nghệ sĩ diễn hay, lại đẹp “như Liên Xô” 🙂 Vì vậy, xem lại phim LX thường nhớ về một thời khó khăn, một thời lý tưởng và lãng mạn...
Nhưng khi đã biết nhiều nền điện ảnh khác thì không thể không có sự so sánh, nhất là về nghệ thuật điện ảnh dù nhiều phim Nga có nội dung sâu sắc. Nhưng, với phim ELENA và THIẾU TÌNH YÊU thì với tôi, đây là những bộ phim mang tính hiện đại cả về tâm lý xã hội và nghệ thuật điện ảnh, nhưng vẫn đậm chất Nga, cả về tâm lý con người và bối cảnh xã hội.
Lời cám ơn bao nhiêu với người lập ra trang phim và biên dịch những bộ phim này một cách tuyệt vời cũng là không đủ, nhưng tôi vẫn muốn nhắc lại lần nữa. Xin cám ơn chị Phan Bạch Yến!

ELENA (phim Nga)

 Elena là y tá, có một con trai. Khoảng hai năm trước khi nghỉ hưu, bà chắp nối với một người đàn ông thượng lưu đã ly hôn và có một cô con gái, ông là bệnh nhân bà chăm sóc trong bệnh viện. Có thể thấy rõ vị thế khác nhau trong mối quan hệ giữa hai vợ chồng Elena: một người thượng lưu sung túc quen quyết định mọi việc rất lý trí và một người bình dân nghèo, tận tụy nhưng ngầm phản kháng.

Trong ngôi nhà sang trọng, cuộc sống chung có vẻ êm đẹp trừ khi hai người đề cập đến chuyện anh con riêng của Elena: hai vợ chồng anh ta không có việc làm, Elena luôn phải chu cấp và giúp đỡ gia đình họ, hơn thế, do sự thúc giục của con trai, Elena còn muốn chồng cho tiền để con trai mình “chạy” cho cháu nội vào đại học. Nhưng ông chồng từ chối vì không muốn (lại) giúp đỡ một người cha, người chủ gia đình lười biếng và vô trách nhiệm. Những cuộc trò chuyện của Elena với chồng đều đi vào “ngõ cụt” vì một bên là sự yêu thương và nuông chiều con vô lối, một bên là lý lẽ rành mạch thậm chí lạnh lùng, nhưng không thể nói là sai – nhất là với văn hóa châu Âu.
Chồng Elena lại luôn cảm thấy có lỗi với con gái – một cô gái sống phóng túng nhưng có công ăn việc làm. Nhưng hai bố con đã phần nào hòa giải với nhau khi ông bố nằm viện vì đột quỵ. Sau khi qua cơn đột quỵ rất nguy hiểm, chồng Elena nói với bà ý định làm di chúc của mình: phần lớn tài sản ông để lại cho con gái riêng, Elena sẽ được chu cấp đấy đủ đến khi chết. Và điều đó không làm cho Elena hài lòng.
Nhịp phim chậm rãi, nhạc nền căng thẳng như báo hiệu chuyện chẳng lành. Có đoạn dài chỉ thỉnh thoảng có tiếng những con quạ kêu thảng thốt...
Phân hóa xã hội không chỉ làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo về kinh tế mà nó còn làm bần cùng hóa về tinh thần: Người giàu không còn sự cảm thông và rộng lượng với người khó khăn, người nghèo lấy sự yếu thế của mình để đòi hỏi và chiếm đoạt của người giàu hơn, coi đó là sự “công bằng”. Chính tâm thức này làm cho Elena đã tỉnh táo và lạnh lùng, hành động tàn nhẫn, không hề hối hận, không chút xấu hổ ngay cả khi nhận thấy sự khinh bỉ của cô con riêng của chồng. Hành động của Elena không chỉ vì thương con mù quáng, mà đó là vì trong sâu thẳm Elena cho rằng bà hoàn toàn có quyền được hưởng tài sản của người mới làm chồng bà có hai năm, dù bà không hề đóng góp chút nào vào khối tài sản ấy. Người xem phải tự hỏi, không biệt sự tận tụy của Elena với chồng là thật lòng hay chỉ vì một tính toán nào đó?
Cái kết của phim cho thấy một “cuộc cách mạng” đã thành công: Mẹ con Elena “đổi đời”: có tiền, có tài sản, có nhà đẹp, nhưng lương tâm thì câm lặng dù Elena có chút sợ hãi trước những “điềm gở”! Nhưng “mục đích không thể biện minh cho phương tiện”, dùng thủ đoạn và tội ác để đòi "công bằng" thì ngay khi đang ăn mừng chiến thắng đã nhìn thấy tương lai chông chênh và vô định bắt đầu!
Là một phim Nga, ý nghĩa này lại càng sâu sắc!
16.1.2021


Bộ phim CON ĐƯỜNG ĐAU KHỔ

 

Khi mới làm quen với FB Lặng lẽ nước Nga, tôi đã mạo muội đề nghị được xem lại bộ phim “Con đường đau khổ” – phim truyền hình 13 tập dựa theo tiểu thuyết cùng tên của nhà văn A. Tolxtoi. Chủ trang đã nhiệt tình nhận lời nhưng cũng nói rõ, chắc phải chờ một thời gian vì phim nhiều tập nên phải mất khá nhiều thời gian và công sức mới có thể post được. Tôi kiên nhẫn chờ đợi, lúc rảnh rỗi thì đọc lại tiểu thuyết này – một trong những tác phẩm văn học Nga – Xô viết yêu thích nhất của tôi.

Tiểu thuyết “Con đường đau khổ” là bộ “sử thi” về cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất ở Nga và cách mạng tháng Mười 1917, từ góc nhìn của tầng lớp trí thức, phản ánh số phận các nhân vật chính cũng là trí thức – tiểu tư sản thành thị. Nó dựng nên bao nhiêu nhân vật bao nhiêu tính cách, từ trí thức salon đến trí thức dấn thân, từ tư sản, sinh viên đến dân nghèo thành thị, từ quân nhân đến vô chính phủ, từ nông dân mugic đến quan chức cao cấp trong chính quyền Nga Hoàng hay chính phủ lâm thời, từ  công nhân binh lính đến các lãnh tụ cách mạng... Đến nay sau hơn một trăm năm, dù cuộc cách mạng tháng Mười có thể được nhìn nhận đa chiều, khách quan và thực chất hơn... thì cũng không thể phủ nhận những tác động to lớn của nó đến xã hội Nga già cỗi, bảo thủ và gần như tê liệt vào cuối Thế chiến 1, đã làm thay đổi xã hội và đất nước Nga, cũng là làm cho thế giới chuyển sang một thời kỳ mới (và hơn 70 năm sau sự tan rã của Liên bang Xô viết cũng gây ra tác động tương tự).

Từ lần đầu xem phim Con đường đau khổ, tôi đã rất ấn tượng với hai nhận vật nữ, “hai chị em” (tập 1 của tiểu thuyết) là Đasa (em) và Kachia (chị). Hai các tên rất Nga, hai vẻ đẹp một trong sáng một kiêu sa, hai tính cách một rất cương nghị một quá đỗi dịu dàng... Tưởng như mâu thuẫn trong mỗi người nhưng lại hòa hợp và tạo nên số phận kỳ lạ của hai chị em. Họ không phải chỉ là những bông hoa cắm trong bình và im lặng phô vẻ đẹp của mình, họ đã vượt lên chính mình từ nhận thức nội tâm, sự thay đổi ở họ bắt đầu từ “cảm tính” nhưng ngày càng được củng cố vững chắc, vì nó dựa trên sự nhân hậu, lòng thương người, luôn công tâm với mọi người và nghiêm khắc với chính mình. Thoát ra khỏi cái bình hoa chật chội, hai chị em Kachia và Đasa như hai bông hoa trên cánh đồng Nga bạt ngàn hoa dưới bầu trời xanh đầy nắng gió.

Cùng với “hai chị em” là hai người đàn ông đã gặp họ đúng vào thời gian của những thay đổi, loạn lạc và chiến tranh... để rồi số phận của hai người đàn ông này gắn chặt với hai chị em, bất chấp chết chóc, phản bội và chia ly... Đó là kỹ sư Teleghin và sĩ quan Rosin. Cả hai đều thông minh, nhân hậu, là những trí thức Nga luôn day dứt trước thời cuộc, cố gắng đi tìm cho mình một vị trí để “phụng sự nước Nga”. Hai người đàn ông đã trải qua những thử thách, nghi ngờ, tuyệt vọng, cả cái chết... Nhưng hình bóng hai chị em – hay chính là khát vọng về sự chính trực, vẻ đẹp của tâm hồn Nga và lòng yêu thương con người – đã giúp họ thoát khỏi sự tàn khốc của chiến tranh, tìm được về bên người yêu dấu.

Cuộc đấu tranh nội tâm của các nhân vật chính thật ra là đi từ sự phức tạp, chênh vênh, vị kỷ... của đời sống thị dân tù túng “quẩn quanh trong tổ” đến sự chân thành, giản dị, hết mình, vì người khác... trong đời sống chiến tranh và được tiếp xúc với nhiều loại người khác nhau.  Những đòi hỏi, thử thách của cuộc sống khiến người ta phải nhìn lại và thay đổi mình, khát vọng “sống tốt hơn” mạnh hơn khát vọng “được sống”, bởi vì họ đã từng “sống mòn”. Quan trọng là họ thoát khỏi những định kiến sinh ra từ vị thế xã hội, từ lối sống, từ hoàn cảnh của mình để có cái nhìn khác đi, cởi mở hơn với con người và cũng vị tha hơn với lỗi lầm của chính mình.

Một câu nói của Rosin được nhiều người thế hệ của tôi nhớ đến, có lẽ cũng vì khát vọng bình yên, hạnh phúc của một thời chiến tranh “Năm tháng sẽ trôi qua, những cuộc chiến tranh sẽ im ắng dần, những cuộc cách mạng sẽ thôi gào thét, và chỉ còn lại không phôi pha tấm lòng em nhẫn nại, dịu dàng và chan chứa tình yêu thương.” Tôi cứ nghĩ đây mới chính là “thông điệp” mà tác giả gửi đến cho người đọc, khi đã trải qua “con đường đau khổ” cùng ông, dẫu rằng thời kỳ ông viết tiểu thuyết này và cho đến nay, “đấu tranh này là trận cuối cùng” vẫn là câu cửa miệng của chính thể XHCN không chỉ ở nước Nga.

Cả bốn nhân vật chính đều mang vẻ đẹp Nga rất giống hình dung của tôi khi đọc tiểu thuyết. Còn phải nói, ánh mắt luôn là câu hỏi lặng thầm của Đasa đúng là như vậy, nỗi buồn như tuyệt vọng của Kachia phải như thế, sự cương nghị Teleghin, sự dằn vặt của Rosin thì không thể có gương mặt khác được... ngoại hình các nghệ sĩ rất phù hợp với các nhân vật! Xem những phân đoạn của Kachia và Rosin tôi lại hình dung ra những nhân vật trong các truyện ngắn của Pauxtopxki: Tuyết, Bình minh mưa... Cả Anna Karenina nữa, giá mà Svetlana Penkin (người đóng Kachia) vào vai này nhỉ! Còn nàng Đasa kiều diễm (diễn viên Irina Alferova) với gương mặt trong sáng dưới chiếc mũ trắng lướt đi trên đường phố... giống như “Người đàn bà xa lạ” của Kramxkoi, mà trong lần ngắn ngủi đến Moskva tôi đã cố gắng đến bảo tàng xem trực tiếp, vì bức tranh đã để lại một ấn tượng rất mạnh từ khi tôi nhỏ xíu lần đầu nhìn thấy trên một tờ họa báo Liên xô.

Có lẽ ít có phim Liên xô nào mà lời thoại mang tính tự sự nhưng tư nhiên, không bị “kịch hóa” - như lời thoại và lời dẫn trong phim Con đường đau khổ. Tất nhiên là do phim dựa vào tiểu thuyết, nhưng khá nhiều phim LX (và dòng phim XHCN) nghe lời thoại của các nhân vật đôi khi như nhai phải sạn, hoặc cứ phải “trân mình” theo ngôn và ngữ của diễn viên. Nhiều câu nói của các nhân vật tưởng như nói về chính VN sau 1975, thậm chí như tiên đoán số phận của nước Nga trong thế kỷ 20. Và không khỏi chút tiếc nuối, giá mà chúng ta cũng có được những bộ sử thi chân thực bằng tiểu thuyết, bằng phim như vậy!

Nhân đây xin cám ơn người biên dịch, chị Phan Bạch Yến – chủ trang “Lặng lẽ nước Nga”, chị đã biên dịch rất nhiều phim Nga - LX bằng ngôn ngữ uyển chuyển, tinh tế, giàu nhạc điệu, và cho người xem/nghe một cảm giác “Nga” thật tròn đầy!

8.11.2020

Đây là bản tiếng Việt tiểu thuyết Con đường đau khổ do Cao Xuân Hạo dịch từ nguyên bản tiếng Nga, nxb Văn nghệ TPHCM năm 2000, in lần thứ tư. Mình thích bản này vì khổ nhỏ tiện mang theo người để xem, và có bìa do họa sĩ Trịnh Cung vẽ rất đẹp :)



 

Phản xạ văn hóa các vùng miền Việt Nam

_Nguồn:  https://logbasex.substack.com?utm_source=navbar&utm_medium=web Bản đăng lại từ bài viết trên trang Substack cùng tên của tác gi...