Hiển thị các bài đăng có nhãn đô thị. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đô thị. Hiển thị tất cả bài đăng

SÀI GÒN TÌNH NGHĨA – KHI BÁO CHÍ CŨNG LÀ MỘT PHẦN CỦA DI SẢN ĐÔ THỊ

https://thethaovanhoa.vn/tphcm-di-san-hien-dai-va-nghia-tinh-bai-2-khi-bao-chi-cung-la-mot-phan-cua-di-san-nghia-tinh-do-thi-20260703110329484.htm

Nguyễn thị Hậu
1.
Những ngày này thành phố vẫn đông đúc như thường. Hàng ngày lượt xe vẫn qua những chiếc cầu trên sông Sài Gòn, hàng chục lượt tàu vẫn vào cảng, dòng người như nước vẫn xuôi ngược trên những con đường quen thuộc. Nhưng ở nhiều người có một điều xao động lặng lẽ: tạm biệt một số tờ báo đã hoàn thành sứ mệnh của mình, khép lại hành trình dưới những tên gọi đã gắn bó với bạn đọc suốt nhiều năm.
Đó là một sự thay đổi trong quá trình tổ chức lại hệ thống báo chí. Với những người làm nghề, đó là một dấu mốc của công việc. Nhưng với những người yêu Sài Gòn, yêu lịch sử đô thị và ký ức thành phố, đó còn là dịp để nghĩ về một điều sâu xa hơn: báo chí đã góp phần gìn giữ ký ức và đặc trưng của đô thị này như thế nào? Có lẽ, việc ứng xử với sự thay đổi của thành phố nói chung, của báo chí nói riêng cũng góp phần làm rõ hơn ý nghĩa của bốn chữ "Sài Gòn tình nghĩa." Tình nghĩa không chỉ nằm trong cách người Sài Gòn đối đãi với nhau mà còn thể hiện ở cách thành phố biết ghi nhớ, biết tri ân những con người âm thầm làm nên diện mạo văn hóa và bảo tồn di sản của mình.
Suốt hơn một thế kỷ, báo chí Sài Gòn không chỉ làm nhiệm vụ thông tin. Mỗi tờ báo, mỗi số báo, mỗi bài viết đều là những lát cắt của đời sống đô thị. Ở đó có câu chuyện về một khu chợ cũ, một bến nước, một con hẻm nhỏ, một nghệ nhân, một ngôi đình, một quán cà phê lâu năm, một cây cầu, một con kênh, một dòng người mưu sinh từ sáng sớm đến khuya. Có những điều khi xuất hiện trên mặt báo chỉ là tin tức của ngày hôm ấy, nhưng nhiều năm sau lại trở thành tư liệu quý giá để nhận diện lịch sử của thành phố.
Là người nghiên cứu khảo cổ học đô thị, chúng tôi thường nói rằng quá khứ được lưu giữ trong những lớp đất. Nhưng với một đô thị hiện đại như Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, quá khứ còn được lưu giữ trong những trang báo. Các nhà khảo cổ khai quật di tích trong lòng đất, còn người quan tâm, người yêu thành phố sẽ “khai quật” đời sống đã qua từ trang báo.
Theo dòng biến thiên của lịch sử, có những công trình đã không còn, có những con đường đã đổi tên, có những khu phố đã thay đổi hoàn toàn diện mạo… Thế nhưng, nhờ những tin tức, phóng sự, những bức ảnh, những ghi chép của các nhà báo, người ta vẫn có thể hình dung được thành phố đã từng như thế nào. Thành phố hiện diện trong mỗi người, trong du khách bằng dáng vẻ thân thuộc, lối sống gần gũi, con người phóng khoáng… chứ không khô khan xa lạ như trong các công trình nghiên cứu hàn lâm.
Theo nghĩa đó, báo chí không chỉ phản ánh lịch sử, mà báo chí cũng tạo nên lịch sử. Và những tờ báo dù không được xếp hạng là di sản theo nghĩa pháp lý, vẫn là một phần của di sản ký ức đô thị. Bởi vì di sản không chỉ là những ngôi nhà cổ hay những công trình kiến trúc, di sản còn là ký ức được cộng đồng cùng nhau gìn giữ. Trong ký ức ấy có tiếng rao báo mới buổi sớm, có bến Bình Đông mùa hoa Tết, có chợ Bến Thành, chợ Bình Tây tấp nập mỗi ngày, có những dòng sông và hệ thống kênh rạch từng làm nên bản sắc của một đô thị cảng sầm uất. Và có cả những trang báo đã kể lại tất cả những điều ấy.
2.
Không ít công trình còn tồn tại hôm nay là nhờ sự đồng hành của các nhà nghiên cứu, các kiến trúc sư, các nhà quản lý và những người làm báo. Đó là một biểu hiện đẹp của "Sài Gòn tình nghĩa." Tình nghĩa với con người hiện tại và cũng tình nghĩa với ký ức đô thị – những lớp ký ức được tích lũy qua nhiều thế hệ, tạo nên bản sắc của thành phố. Nhưng ký ức ấy sẽ tồn tại bằng cách nào nếu không có người ghi chép?
Nhiều cuộc vận động bảo tồn di sản ở Thành phố Hồ Chí Minh trong nhiều năm qua được báo chí ủng hộ và tiếp sức. Một bài phản ánh về ngôi biệt thự cũ sắp bị tháo dỡ. Một phóng sự về ngôi đình xuống cấp. Một cuộc tọa đàm về giá trị của bến cảng, của lò gốm Cây Mai hay của hệ thống kênh rạch. Một bản tin về cuộc trưng bày mới tại bảo tàng… Những bài báo ấy không chỉ cung cấp thông tin. Chúng khơi dậy sự quan tâm của cộng đồng, tạo nên tiếng nói chung để nhiều giá trị được nhìn nhận đúng hơn, được bảo vệ kịp thời hơn.
Không phải ngẫu nhiên mà khi tìm hiểu về lịch sử Sài Gòn, các nhà nghiên cứu luôn tìm đến kho lưu trữ báo chí. Bởi ở đó không chỉ có sự kiện, mà còn có hơi thở của đời sống. Một mẩu tin nhỏ đôi khi giúp xác định niên đại của một công trình. Một bức ảnh cũ có thể cho biết diện mạo của một góc phố trước khi bị thay đổi. Một bài phỏng vấn có thể lưu lại ký ức của nhân chứng cuối cùng. Đó là những tư liệu không gì thay thế được.
Có thể, trong quá trình phát triển, các cơ quan báo chí sẽ thay đổi mô hình tổ chức, thay đổi tên gọi, thay đổi cách vận hành để phù hợp với bối cảnh mới, điều đó là một phần của sự vận động. Nhưng điều không nên thay đổi chính là tinh thần làm báo vì cộng đồng. Tinh thần ấy đã góp phần tạo nên diện mạo văn hóa của Sài Gòn trong suốt nhiều thế hệ. Tinh thần vì cộng đồng là biểu hiện của “Sài Gòn tình nghĩa”
Một thành phố muốn phát triển bền vững không chỉ cần những tòa nhà cao hơn, mà còn cần những người gìn giữ ký ức. Đó có thể là nhà khảo cổ, nhà sử học, kiến trúc sư, nghệ sĩ, người dân địa phương. Và cũng là những nhà báo. Họ lặng lẽ đi vào từng con hẻm, từng bến sông, từng khu chợ, từng công trình đang đổi thay để ghi lại những điều tưởng như rất bình thường. Đến một ngày, chính những điều bình thường ấy lại trở thành ký ức quý giá của đô thị.
3.
Có người từng ví nhà báo là người chép sử của hiện tại. Họ vừa trực tiếp phản ánh, vừa là cầu nối với nhà nghiên cứu giúp xã hội nhận ra những giá trị cần được gìn giữ, những điều cần được lên tiếng và những ký ức cần được lưu lại trước khi quá muộn. Ngày hôm nay, có thể một số tờ báo đã khép lại tên gọi quen thuộc của mình. Nhưng những người làm báo vẫn còn đó. Những giá trị nghề nghiệp vẫn còn đó. Và trên hết, tình yêu dành cho thành phố vẫn còn đó. Những người làm báo sẽ luôn mang theo ký ức của thành phố mà họ đã gắn bó. Đó là thứ hành trang không một cuộc sắp xếp tổ chức nào có thể làm mất đi.
Đó cũng chính là điều khiến chúng ta tin rằng, giữa những đổi thay của hôm nay, Sài Gòn vẫn là một thành phố tình nghĩa. Bởi tình nghĩa không chỉ là nhớ về quá khứ. Mà còn là biết trân trọng những người đã góp phần lưu giữ quá khứ ấy để cùng bước tới tương lai.
Để Sài Gòn – TPHCM thực sự là một “thành phố nghĩa tình”, một thành phố biết tri ân những người đã góp phần lưu giữ ký ức của mình, tôi cho rằng báo chí – một đặc sản của thành phố - phải được nhìn nhận như một thành tố của "môi trường di sản đô thị" (urban heritage environment). Do đó, khi xây dựng kho dữ liệu di sản của siêu đô thị TP.HCM, các kho lưu trữ báo chí cũng cần được coi là một di sản tư liệu và là nguồn dữ liệu quan trọng để nhận diện, bảo tồn và phát huy ký ức đô thị.
Khảo cổ học đô thị khai mở những lớp đất của quá khứ, còn báo chí hôm nay đang bồi đắp những lớp ký ức của tương lai. Những thông tin trên nền tảng số có thể trôi rất nhanh trước mắt người đọc, nhưng nếu được lưu giữ và kiểm chứng, chúng sẽ trở thành "tầng văn hóa" của đô thị hiện đại trong thế kỷ 21.







Xây trên ký ức chưa kịp khai mở: TP.HCM đang bỏ lỡ “mỏ vàng” di sản dưới lòng đất?

 Mỗi công trình mới ở trung tâm TP.HCM có thể đang đặt lên những lớp trầm tích lịch sử chưa từng được nhận diện. Khi không có khảo cổ học đô thị đi trước, thành phố không chỉ mất đi bằng chứng vật chất của quá khứ mà còn đánh rơi cơ hội hình thành một nền kinh tế di sản đúng nghĩa.

Khoảng trống khảo cổ ở trung tâm TP.HCM

Có những thành phố lớn lên bằng bê tông, kính và thép, rất nhanh, rất hoành tráng, nhưng chỉ lướt qua trong trí nhớ mỗi người. Có những thành phố lớn lên bằng ký ức, chậm hơn và bền vững trong tâm thức nhiều thế hệ. Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) trong quá trình hiện đại hoá, đáng tiếc, nhiều khi đang chọn cách thứ nhất. Mỗi công trình mới mọc lên ở trung tâm thành phố đều có thể đang đặt trên một lớp trầm tích lịch sử chưa được biết đến. Khi đó, không chỉ xây thêm một tòa nhà mà đồng thời còn xóa đi một phần ký ức chưa kịp khai mở của thành phố.

Gần đây, thông tin về việc xây dựng lại Nhà Văn hóa Thanh niên trên trục đường Lê Duẩn đã một lần nữa đặt ra một vấn đề không chỉ là quy hoạch hay kiến trúc, mà sâu xa hơn là cách thành phố này đối diện với quá khứ của chính mình. Bởi ngay bên dưới toàn bộ không gian của đường Lê Duẩn có thể vẫn còn những dấu tích của Thành Gia Định – hạt nhân đầu tiên của đô thị Sài Gòn. Nếu không thăm dò, khai quật khảo cổ và nghiên cứu, thì những dấu tích còn lại sẽ vĩnh viễn biến mất dưới móng của một công trình hiện đại.

Trong gần hai thế kỷ qua có thể kể đến vài trường hợp hiếm hoi đã ghi nhận bằng chứng lịch sử tại khu vực thuộc Thành Gia Định xưa. Cuối thế kỷ 19 người Pháp xây dựng Thảo cầm viên, Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Thành phố và một số công trình khác, đã ghi nhận việc tìm thấy dưới lòng đất những chiếc rìu đá, mộ vò của thời tiền sử, nhưng không nhắc gì đến dấu tích kiến trúc của Thành Gia Định (thành Quy thời Gia Long) và thành Phụng thời Minh Mạng bị quân đội Pháp trực tiếp phá huỷ.

Trải qua suốt thế kỷ 20 khu vực này thay đổi rất nhiều. Thập niên 1990 khi xây dựng toà nhà 33 tầng tại đường Tôn Đức Thắng, hay việc xây dựng Thư viện sách nói trong khuôn viên Thư viện khoa học Tổng hợp, và gần đây khi trùng tu công trình Toà án Nhân dân Thành phố… cán bộ khảo cổ đều tìm thấy hiện vật của nhiều thời đại lịch sử, nhiều nhất là những đồ gốm thời Nguyễn, thậm chí cả dấu tích xây dựng chân móng thành Gia Định như đá ong, san hô, cát sạn sỏi… Ngay trong khuôn viên số nhà 108 Nguyễn Du – phía sau Dinh Độc Lập - cũng từng phát hiện mộ cổ thời Nguyễn.

Đó là bằng chứng vô cùng ít ỏi, tìm thấy trong quá trình xây dựng công trình mà chưa phải do khảo sát và khai quật khảo cổ học đúng nghĩa. Mặt khác chỉ tìm thấy những hiện vật rời rạc mà không phải dấu tích của một công trình quy mô lớn vào bậc nhất hồi cuối thế kỷ 18. Như vậy từ nửa sau thế kỷ 19 khi người Pháp quy hoạch và xây dựng đô thị Sài Gòn, đến hai thập niên đầu của thế kỷ 21 khu vực này đã xây dựng nhiều công trình mới, nhưng không ai biết trong lòng đất nơi này lưu giữ những gì và còn lại những gì sau bao biến đổi?

Nhiều năm qua hầu hết các công trình được xây dựng tại khu vực trung tâm thành phố đều không qua công tác khảo sát khảo cổ học, chắc chắn nhiều dấu tích và di vật quý giá đã bị phá hủy. Những gì đã không còn chính là những bằng chứng vật chất của lịch sử, đó là thứ không thể tái tạo. Một thành phố không thiếu tương lai vì luôn xây dựng những công trình hiện đại, nhưng có nguy cơ không còn quá khứ bởi những dấu tích lịch sử đang mỗi ngày biến mất ngay dưới chân mình!

Dừng lại để bảo tồn và bài học từ Hoàng thành Thăng Long

Nhìn ra Hà Nội, câu chuyện Hoàng thành Thăng Long cho thấy một lựa chọn khác. Khi những dấu tích đầu tiên được phát lộ tại khu 18 Hoàng Diệu, từ đề xuất của Hội Khoa học lịch sử VN, việc thi công đã quyết định dừng lại cho công tác khai quật khảo cổ học. Dừng để tìm hiểu những gì đang nằm dưới lòng đất. Dừng để bảo tồn. Và dừng lại để Hà Nội không tự cắt đứt mà tiếp nối ký ức 1000 năm Thăng Long.

Từ quyết định đó, một chuỗi giá trị mới được hình thành. Hoàng thành Thăng Long được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới. Không gian khai quật quan trọng nhất được bảo tồn và phát triển thành Bảo tàng Hoàng thành Thăng Long, nơi chúng ta có thể trực tiếp trải nghiệm các lớp lịch sử chồng xếp qua thời gian. Những khu vực khác sau khi hoàn thành khai quật tiếp tục xây dựng các công trình mới như Toà nhà Quốc Hội. Hiện nay đây là khu di tích khảo cổ nổi tiếng và thu hút rất nhiều du khách đến tham quan di tích và bảo tàng, tham dự những hoạt động văn hoá thường xuyên được tổ chức ở đây. Quá khứ hiện hữu ngay cạnh hiện tại và là cảm hứng của tương lai.

Công tác khai quật khảo cổ học khu vực Hoàng thành Thăng Long vẫn được tiếp tục và mở rộng, làm cơ sở cho dự án phục dựng Điện Kính Thiên sắp tới, tiếp tục tái hiện không gian trung tâm của kinh đô Thăng Long xưa. Từ đó, di sản không chỉ được bảo tồn mà còn trở thành nguồn lực cho giáo dục, du lịch và kinh tế văn hóa. Nhận thức quan trọng nhất là tất cả những giá trị đó không có sẵn. Nó bắt đầu từ một hành động tưởng chừng đơn giản nhưng không dễ thực hiện: dừng lại trước khi xây, nghĩ về quá khứ trước khi nói đến tương lai!

Bài học từ Hoàng thành Thăng Long cho thấy, khảo cổ học đô thị không làm chậm sự phát triển hiện đại. Ngược lại, nó mở ra một hướng phát triển bền vững hơn, giàu bản sắc hơn, có khả năng tạo ra giá trị lâu dài hơn. Khảo cổ học góp phần giữ lại và trao truyền cho thế hệ sau những giá trị văn hoá mà cha ông đã tích luỹ qua hàng ngàn năm, được chuyển hoá và nâng cao hơn giá trị qua kinh tế di sản.

Thành phố không chỉ để xây, mà còn để nhớ

Quay lại với TP.HCM, từ nhiều năm nay thực trạng công tác bảo tồn di sản đã phản ánh một vấn đề của thời đại: phát triển có mâu thuẫn với bảo tồn hay không? Không ai phủ nhận nhu cầu về những công trình mới, những không gian hiện đại cho một thành phố năng động. Nhưng cũng thành phố ấy có quá khứ của mình, 300 năm đô thị vẫn xứng đáng để được trân trọng tìm hiểu và bảo vệ. Vậy nên vấn đề của thời đại cần được đặt ra ở đây là: Bảo tồn là phương thức đặc thù của phát triển bền vững!

Nếu phát triển đồng nghĩa với việc quên hết những dấu tích nằm dưới lòng đất và xoá hết những gì “cũ kỹ” trên mặt đất thì đó là một kiểu phát triển “siêu bão, sóng thần” chỉ có thể tạo nên một thành phố “mất trí nhớ”. Ngược lại, nếu biết dừng lại một bước để nghiên cứu khảo cổ, để ghi nhận và tích hợp di sản vào không gian đô thị của thời hiện tại và tương lại, thì đó là một cách phát triển có chiều sâu, không loại trừ quá khứ, chăm chút cái cây từ gốc rễ, gốc rễ nuôi cành lá sum suê… Thế hệ nào cũng được thừa hưởng tài sản của ông bà và “nhân lên” nhiều lần số tài sản ấy.

Vì vậy, câu chuyện công trình Nhà Văn hóa Thanh niên không chỉ là một dự án xây dựng, mà là một cơ hội hiếm hoi để thực thi Luật Di sản văn hóa mới nhất có hiệu lực từ 1.7.2025, cụ thể là thực hiện khảo sát và khai quật khảo cổ học trước khi xây dựng công trình nằm trong “vùng lõi di sản đô thị”. Đây là công trình của nhà nước đầu tư, xây dựng một công trình cho thanh niên thành phố nên càng thuận lợi hơn! Có thể coi đây là trường hợp tiêu biểu để thành phố thực hiện quy trình đi từ khảo cổ đến bảo tồn, từ bảo tồn đến diễn giải, từ diễn giải đến du lịch và kinh tế di sản. Không có bảo tồn di tích và trưng bày bảo tàng thì không có gì để kể. Khi không có câu chuyện thì không thể có một nền kinh tế di sản đúng nghĩa. Đừng để thành phố chỉ có những công trình mới, giống nhau như được nhân bản, nhưng nhanh chóng cũ đi vì những cái mới hơn lại được nhân bản… Cứ thế, không có gì trở thành ký ức đô thị.

Sâu xa hơn, vấn đề không nằm ở việc thành phố có hiện đại hay không mà ở cách thành phố lựa chọn đứng ở đâu trong mối quan hệ với quá khứ của mình. Dưới những bước chân vội vã của một thành phố đang lớn lên từng ngày, có thể vẫn còn những lớp ký ức nằm im chưa kịp gọi tên mà chỉ một quyết định xây dựng cũng đủ làm chúng biến mất vĩnh viễn. Một thành phố trưởng thành không đứng trên quá khứ để vùi lấp nó, càng không đào lên rồi vội vàng xóa đi, mà biết dừng lại, khai mở những gì nằm dưới lòng đất, tiếp nối chúng vào đời sống hôm nay như một phần của chính mình.

Sài Gòn – TP.HCM luôn được coi là “thành phố trẻ 300 năm”, nếu không giữ lại dấu tích lịch sử thì không bao giờ là một thành phố ngàn năm tuổi, mãi chỉ là 300 năm trên mặt chữ! Nhưng nếu biết giữ, biết kể, biết làm cho quá khứ “hiện hình” thì chính những lớp đất, những viên gạch, những mảnh gốm… sẽ kéo dài hơn chiều sâu lịch sử của đô thị.

Một thành phố hiện đại là thành phố biết lúc nào cần xây cao và lúc nào cần dừng lại, biết cúi xuống và lắng nghe “thành phố thì thầm” ngay dưới chân mình. Một thành phố có thể xây rất nhanh rất rộng nhưng không thể làm lại quá khứ nếu đã đánh mất nó. Vì thế, mỗi quyết định hôm nay không chỉ là cách chúng ta đối xử với lịch sử của chính mình, mà còn là quyết định định hình tương lai!

TP.HCM 14.4.2026.

https://nguoidothi.net.vn/tp-hcm-dang-bo-lo-mo-vang-di-san-duoi-long-dat-52386.html?fbclid=IwY2xjawRMX0xleHRuA2FlbQIxMQBzcnRjBmFwcF9pZBAyMjIwMzkxNzg4MjAwODkyAAEeQRf99vhepfOMHIG6Axylpb17-i8hGjD634IDcLLbmZfStaT46zzIys7iP98_aem_Xk9aCxIxhvtqz2qetxKCcQ



Thập niên 1990 khi xây dựng toà nhà 33 tầng tại đường Tôn Đức Thắng, hay việc xây dựng Thư viện sách nói trong khuôn viên Thư viện khoa học Tổng hợp, và gần đây khi trùng tu công trình Toà án Nhân dân Thành phố… cán bộ khảo cổ đều tìm thấy hiện vật của nhiều thời đại lịch sử... Ảnh: Minh Hòa

DI TÍCH “BÓT CATINA” TRONG CẢNH QUAN ĐƯỜNG ĐỒNG KHỞI VÀ VÙNG LÕI DI SẢN ĐÔ THỊ SÀI GÒN

 Trích tham luận HTKH  "BOT CATINAT - DI TÍCH LỊCH SỬ CỦA TP.HCM"

1.    Đường Đồng Khởi: lịch sử hình thành và cảnh quan di sản đô thị

Trong công trình “Sài Gòn – Chở Lớn ký ức đô thị và con người”[1] của nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Hiệp, có một mục về “Đường Catinat đầu thế kỷ 20” khảo sát khá chi tiết về những công trình và chức năng của nó, một số nhân vật từng sinh sống, buôn bán, làm việc tại đó.

Theo công trình “Hạ tầng đô thị Sài Gòn buổi đầu” của Trần Hữu Quang[2] Đây là một trong những con đường cổ xưa nhất của Sài Gòn, có từ trước khi Pháp đến chiếm thành phố này. Con đường này do chính quyền người Việt Nam làm từ xưa hay thậm chí có thể còn lâu hơn nữa. Nhìn trên các bản đồ cổ, ta có thể nhận thấy con đường này dẫn thẳng từ sông Sài Gòn vào thành Gia Định (khi đó còn là thành Bát Quát hay thành Quy).

Sau năm 1859 con đường này chỗ rộng chỗ hẹp, rải đá dăm đỏ, hai bên đường còn những đoạn mương nước ứ đọng hôi thối... Trước 1897 con đường này kéo dài đến tận đường Võ Thị Sáu hiện nay, nhưng từ 1897 thì đường Catinat chỉ còn từ bờ sông đến Nhà Thờ Đức Bà. Đây là con đường đầu tiên của Sài Gòn mà Pháp cho chỉnh trang để làm thành một đường phố của đô thị. Và từ lúc đó những trục đường chính khác đều được làm song song với con đường này theo hướng tây bắc – đông nam... Đường Catinat cũng là một trong những con đường đầu tiên của Sài Gòn được tráng nhựa.

Kề từ đầu thời Pháp thuộc cho đến tận ngày nay, con đường này luôn luôn là con một đường trung tâm mang tính chất phố thương mại và có những tiệm thuộc hạng sang nhất của cả thành phố Sài Gòn... Tại đây có những địa điểm nổi tiếng trong lịch sử Sài Gòn như khách sạn Continental, khách sạn Majestic, tiệm Givral, Brodard, nhà sách Xuân Thu, hành lang thương mại Eden...

Còn theo công trình “Đô thị Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh, khảo cổ học và bảo tồn di sản” của Nguyễn Thị Hậu[3], trục đường Đồng Khởi từ Nhà thờ Đức Bà đến Nhà hát Lớn là nơi tập trung nhiều công trình văn hóa lịch sử, kết nối trục đường Lê Duẩn với không gian công cộng rộng mở... là một phần quan trọng của “vùng lõi di sản đô thị”, có những giá trị độc đáo so với những khu vực khác. Con đường Đồng Khởi được xếp vào loại hình di sản Cảnh quan đô thị, cùng với các tuyến đường quanh đó như Lê Duẩn, Nguyễn Huệ - Lê Lợi – Tôn Đức Thắng... Tuy nhiên từ khoảng 2010 khu vực này đã biến đổi nghiêm trọng.

Có thể kể đến những công trình di sản trên đường Đồng Khởi đã biến đổi hoặc không còn nữa: Hai tòa nhà lớn là Metropolitan góc Đồng Khởi – Nguyễn Du cùng với Diamon plaza bên đường Lê Duẩn đã làm thu hẹp cảnh quan quảng trường Công xã Paris và Nhà thờ Đức Bà, không gian khu vực này trở nên chật hẹp. Công viên Chi Lăng xanh mát như một “vườn treo” với các quán cà phê, là không gian công cộng, một “chiếu nghỉ” trên con đường đi bộ Đồng Khởi cũng bị biến đổi trở thành “mặt tiền” của công trình hình khối đồ sộ là Trung tâm thương mại Vincom.

 Khu hành lang thương mại Eden biến mất cùng những thương hiệu nổi tiếng như Givral, La Pagoda, nhà sách ngoại văn Xuân Thu, rạp phim Eden... Công viên Lam Sơn trước Nhà hát thành phố (cũng là một “chiếu nghỉ”) như một khu vườn nhỏ bao bọc bởi những hàng cây cao vút nhưng cũng biển đổi do hàng cây bị chặt, bùng binh Cây liễu trên đường Nguyễn Huệ kế đó cũng không còn. Khu chung cư cổ góc Đồng Khởi – Lê Thánh Tôn được xây mới và trở thành một phần của Ủy ban nhân dân TP.

Nhiều công trình mới, cao tầng, kiểu dáng hiện đại đã hiện diện trên con đường cổ xưa nhất của thành phố. May mắn là đến nay còn vài ngôi nhà phố, Nhà hát thành phố, vài khách sạn như Continental, Majestic, vài công trình khác như “Dinh Thượng thư” góc Lý Tự Trọng – Đồng Khởi, và “bót Catinat” số 164 Đồng Khởi. Nhưng cả con đường không còn là một tổng thể thống nhất về cảnh quan và kiến trúc như xưa.

Hiện trạng khu trung tâm TP. Hồ Chí Minh phản ánh xung đột điển hình giữa phát triển và bảo tồn di sản ở vùng lõi di sản đô thị Sài Gòn. Chính vì vậy, việc xếp hạng để có thể bảo tồn và phát huy giá trị một cách hiệu quả cho công trình “Bót Catinat” tại 164 Đồng Khởi càng có ý nghĩa quan trọng trong việc gìn giữ di sản văn hóa đô thị Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh.

Hình 1. Vị trí công trình (Nguồn: https://www.bookingservice.com.vn/khu-dat-vang-164-dong-khoi-sap-duoc-giai-cuu-.html )

2. Những giá trị cơ bản của công trình “Bót Catinat” tại 164 Đồng Khởi

2.1 Giá trị kiến trúc – cảnh quan

Bót Catinat nay là trụ sở của Sở Văn hoá – Thể thao TP. Hồ Chí Minh toạ lạc tại 164 Đồng Khởi (Q.1) nay thuộc phường Bến Nghé, nằm ngay đầu phía bắc đường Đồng Khởi (đường Catinat xưa), góc giao Nguyễn Du (xưa là Taberd), bắt đầu từ Quảng trường Công xã Paris phía trước Nhà thờ Đức Bà và Bưu điện TP. HCM, hướng xuống sông Sài Gòn đến Bạch Đằng, đường Tôn Đức Thắng.

Vị trí này với 3 mặt tiền Nguyễn Du, Đồng Khởi và Lý Tự Trọng, mặt còn lại giáp với trường Trần Đại Nghĩa, diện tích 9.800m2, thuộc khu vực “đất vàng” tại trung tâm thành phố[4], trên trục đường có các công trình có giá trị lịch sử - văn hoá và một số công trình hiện đại được coi là “điểm nhấn” của khu vực trung tâm.

Từ góc độ di sản kiến trúc, có thể nói di tích Bót Catinat là một trường hợp tiêu biểu của kiến trúc công sở thuộc địa thực dụng – thích nghi khí hậu, vừa giữ chức năng hành chính, vừa gắn với lịch sử đô thị đầy biến động. Giá trị lớn nhất không nằm ở “hình thức mỹ lệ”, mà ở tầng ký ức và cấu trúc gắn kết với cảnh quan đô thị Đồng Khởi. Đồng Khởi là “đường di sản” tập trung dày đặc công trình biểu tượng (Nhà hát Thành phố, Dinh Thượng thư, Continental, Majestic...). Công trình 164 Đồng Khởi nằm ở vị trí mốc mở đầu của trục, góp phần giữ đường gãy khối thấp – trung tầng ở đầu phố để tôn tầm nhìn về cụm Nhà thờ Đức Bà – Bưu điện. Việc giữ hình thái lộ giới, cao độ khối tích, và khoảng lùi tại 164 Đồng Khởi vì vậy có tác dụng cảnh quan đô thị vượt ra ngoài bản thân tòa nhà.

Hình 2. Một công trình di sản giữa “rừng” công trình hiện đại.

Nguôn:https://baodautu.vn/batdongsan/tai-sao-dai-gia-ngoai-bo-chay-khoi-dat-vang-d25422.html

2.2 Giá trị Lịch sử – ký ức đô thị

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Hiệp dựa vào thống kê Niên giám và nghiên cứu nhiều nguồn tư liệu, đã cho biết công trình tại 164 Catinat khởi dựng 1881, ban đầu (1905 – 1906) dùng làm nơi thu ngân địa phương (Recette locale). Từ 1907 – 1917 là nơi ông bà Descourtis – thâu ngân đặc biệt – tọa lạc. Từ 1912 trở đi là Kho bạc, Nha ngân khố (Trésor public). Sau này tòa nhà ngân khố trở thành bót cảnh sát của an ninh (La surete) sau khi Kho bạc mới được xây dựng trên đường Charner (đường Nguyễn Huệ). Kế bên số 164 Catinat là số 162, theo Niên giám 1905, 1906 là Cadastreet topographie (Nhà Địa dư), đến 1912 là Commissariat central de police (Trụ sở trung ương cảnh sát) do ông M. Lecoeur lãnh đạo[5].

Theo nhà nghiên cứu Tim Doling - tác giả một cuốn sách hướng dẫn du lịch di sản TP. Hồ Chí Minh[6] được nhiều người tìm đọc:

Năm 1917, trụ sở cảnh sát này được mở rộng đến số 164 phố Catinat, nơi sau này trở thành Sở Cảnh sát và Sở An ninh. Năm 1933, những kế toán viên cuối cùng được chuyển khỏi số 166 phố Catinat và toàn bộ khu nhà (162, 164 và 166) được xây dựng lại theo hình dạng hiện tại thành trụ sở Sở An ninh tại số 164 phố Catina.

 Từ 1954 – 1975 nơi đây nổi tiếng là một nơi tàn bạo đến đáng sợ; người ta nói rằng nhiều tù nhân bị giam giữ trong các phòng giam này đã bị tra tấn trước khi được chuyển đến nơi ở lâu dài hơn là Maison centrale (Nhà tù Trung tâm) trên đường La Grandière, nay là đường Lý Tự Trọng. Nằm rất gần Nhà thờ Chính tòa, Bót Catinat được những tù nhân bất hạnh mô tả là "Địa ngục bên cạnh thiên đường". Sau năm 1975, một tấm biển bên ngoài lối vào chính của tòa nhà cho chúng ta biết (bằng tiếng Việt) rằng ngay sau Cách mạng Tháng Tám, lá cờ Việt Minh đã tung bay trên Bót Catinat từ ngày 26 tháng 8 đến ngày 23 tháng 9 năm 1945, khi Pháp, với sự hỗ trợ của Anh, tái chiếm các tòa nhà công cộng ở Sài Gòn. Sau đó, Bót Catinat tiếp tục chức năng ban đầu của nó[7].

Từ sau 1975 toà nhà là trụ sở của Sở Văn hoá – Thể thao TP. Hồ Chí Minh.

Hiện nay sự biến đổi, mất mát nhiều công trình trên đường Đồng Khởi và những con đường ở khu vực trung tâm đã làm mất đi những di sản vật thể gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử, các nhân vật lịch sử, văn hóa một thời. Nó cũng làm suy giảm giá trị văn hóa phi vật thể của khu vực này: đó là sinh hoạt cộng đồng ở vỉa hè, công viên gồm buôn bán, giao tiếp, giải trí, dạo chơi đi bộ... tạo nên “hồn đô thị” đặc trưng của từng thành phố. Từ đó, một phần “ký ức đô thị” Sài Gòn dần biến mất, để lại biết bao sự tiếc nuối.

Tuy không đẹp như các di sản khác trên đường Đồng Khởi, nhưng công trình 164 Đồng Khởi đã trở thành một phần ký ức lịch sử – chính trị của thành phố. Cùng với nhiều công trình lịch sử - văn hóa khác trên con đường Đồng Khởi góp phần tạo nên một “vùng ký ức đô thị” Sài Gòn. Dù vậy nhưng cho đến nay công trình “Bót Catina 164 Đồng Khởi” chưa được xếp hạng di tích của TP. HCM.

Khu “đất vàng” này từng quy hoạch tái phát triển (tổ hợp thương mại – khách sạn), tuy chưa thực hiện nhưng cho đến nay khu vực này vẫn có giá trị về bất động sản thuộc hàng cao nhất thành phố, luôn là “đích đến” của nhiều nhà đầu tư địa ốc. Vì vậy, trước hết cần khẩn tập hợp, nghiên cứu hồ sơ để xếp hạng di tích Lịch sử - Văn hoá cấp thành phố cho công trình này, bảo tồn và phát huy giá trị theo định hướng giữ công năng “công sở” của công trình.

NGUYỄN THỊ HẬU

[1] Nguyễn Đức Hiệp, 2016. Sài Gòn Chợ Lớn ký ức đô thị và con người. NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh

[2] Trần Hữu Quang, 2012. Hạ tầng đô thị Sài Gòn buổi đầu. NXB Tổng hợp TPHCM, tr.34 -37

[3] Nguyễn Thị Hậu, 2019 (tái bản). Đô thị Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh, khảo cổ học và bảo tồn di sản. NXB Tổng hợp TPHCM, tr. 88-93

[6] Tim Doling, 2019. Khám phá Sài Gòn-Chợ Lớn – Di sản biến mất của Thành phố Hồ Chí Minh (NXB Thế Giới, Hà Nội, 2019)

Di sản khảo cổ - đô thị TP. HCM

 

TP. Hồ Chí Minh – đô thị năng động bậc nhất Việt Nam đang đứng trước thách thức lớn trong việc cân bằng giữa phát triển kinh tế – xã hội và bảo tồn di sản văn hóa. Từ góc độ khảo cổ học đô thị, thành phố này chứa đựng nhiều tầng lớp di sản quý giá, là nơi hội tụ văn hóa Việt – Hoa – Khmer – Pháp – Mỹ và một số cộng đồng tộc người, ngoại kiều khác. Nhiều lớp di sản khảo cổ – đô thị đã được phát hiện có niên đại từ thời tiền sử đến thế kỷ 17, 18 và lớp di sản đô thị thế kỷ 19 – 20.
Từ bốn đặc trưng của đô thị Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh: 1/Đô thị sông nước và hướng biển; 2/Trung tâm kinh tế và dịch vụ, công nghiệp sớm; 3/Đa dạng văn hoá và đa dạng cộng đồng, lối sống thị dân phát triển; 4/Đô thị kiểu phương Tây trong quy hoạch, kiến trúc và hạ tầng đô thị đã được thể hiện trong hệ thống Di sản văn hóa của thành phố.
Một nghiên cứu của tôi đã nhận diện 9 loại hình di sản văn hoá vật thể của đô thị Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh , bao gồm:
1/ Di tích khảo cổ học dưới và trên mặt đất
2/Cảnh quan đô thị
3/Công trình kiến trúc nghệ thuật
4/Nhà ở truyền thống và biệt thự
5/Công trình tín ngưỡng - tôn giáo
6/Hạ tầng đô thị và công nghiệp
7/Di tích mộ táng, lăng mộ
8/Di tích thành lũy quân sự
9/Quần thể di tích Chợ Lớn
Đồng thời những di sản phi vật thể phản ánh mọi mặt sinh hoạt cộng đồng và lối sống đô thị có thể được tập hợp trong 5 nhóm loại hình , như 1/Lễ hội và sự kiện đô thị, 2/Tập quán, nghi lễ và sinh hoạt cộng đồng, 3/Nghệ thuật trình diễn, 4/Tri thức dân gian và nghề thủ công đô thị, 5/ Ngôn ngữ truyền khẩu và ký ức đô thị.
Tuy nhiên, do nhận thức chưa đúng về giá trị di sản đô thị, cơ chế pháp lý và mô hình quản lý chưa thích hợp với sự phát triển mới, công tác quản lý còn phân tán giữa nhiều cơ quan, thiếu cơ sở dữ liệu đồng bộ và khung pháp lý riêng cho di sản và khảo cổ học đô thị. Vì vậy nhiều giá trị di sản đã và đang bị tổn thương hoặc mất mát vĩnh viễn trong quá trình đô thị hóa.
Thực trạng này không thể không nói đến vai trò của 4 nhân tố tác động đến di sản văn hóa:
Chính quyền, các cơ quan quản lý nhà nước, nhà đầu tư đang giữ vai trò quyết định; Nhà nghiên cứu, chuyên môn và cộng đồng có vai trò quan trọng!
Cuối cùng, tự hào về vai trò kinh tế quan trọng của TPHCM và tập trung cho vai trò đó, nhưng cũng đừng quên vai trò và giá trị văn hóa của thành phố. Khi chúng ta không coi trọng di sản của chính mình thì mong gì người khác tôn trọng quá khứ của mình?!

KHẢO CỔ HỌC ĐÔ THỊ - NHỮNG CHUYỆN BÊN BỜ ĐƯƠNG ĐẠI

 

1

Khoảng đầu thế kỷ 20 nhiều đô thị ở Việt Nam bắt đầu được quy hoạch và xây dựng theo kiểu phương Tây, tại trị sở các tỉnh thời Nguyễn. Ở trung tâm là công trình Dinh (Hotel de ville) và Nhà thờ lớn, xung quanh là các cơ quan hành chính và công trình công cộng, dịch vụ. Ngày nay đây chính là “vùng lõi di sản” của đô thị, nơi tích lũy các giá trị lịch sử - văn hoá quan trọng.

Bên cạnh di sản kiến trúc hình thành thời thuộc địa, các đô thị còn bảo tồn di sản truyền thống: Những ngôi đình, chùa, hội quán, đền miếu, nhà cổ, hoặc quần thể phố cổ như Hội An hay Chợ Lớn… Những công trình này hiện diện rải rác trong đô thị, có khi từng là trung tâm của làng cổ hay một cộng đồng. Quá trình đô thị hoá suốt thế kỷ 20 đã làm thay đổi cảnh quan, thậm chí huỷ hoại nhiều công trình kiến trúc cổ xưa.

Do mỗi đô thị có cảnh quan tự nhiên, địa hình và yếu tố văn hóa khác nhau nên di sản đô thị sẽ mang những đặc trưng riêng. Di sản đô thị, có thể hiểu một cách cụ thể, là tập hợp các địa điểm, vị trí, khu phố, các công trình và tập quán mà một xã hội được kế thừa từ quá khứ, muốn bảo tồn và truyền lại cho các thế hệ tương lai. Đó là những công trình tiêu biểu của kiến trúc một thời, đồng thời ẩn chứa, lưu giữ trong nó biết bao ký ức và câu chuyện về lịch sử và con người đô thị. Trải qua quá trình lịch sử những đặc trưng về kiến trúc, cảnh quan trở thành bản sắc riêng của từng đô thị. Chính vì vậy các quốc gia đều coi trọng việc bảo tồn di sản đô thị.

2.

Liên quan đến nghiên cứu bảo tồn và phát huy giá trị di sản đô thị có nhiều ngành khoa học và cơ quan quản lý nhà nước. Những năm gần đây khảo cổ học đô thị được coi là một ngành quan trọng trong quá trình này, bởi tính chất nghiên cứu vừa chuyên sâu vừa liên ngành. Qua đó góp phần tích cực vào thực tiễn bảo vệ và ứng dụng giá trị di sản vào quá trình phát triển đô thị.

Một vấn đề đặc biệt khó khăn là hiện nay trong quá trình đô thị hóa, nhiều địa phương không quan tâm giữ gìn bảo tồn công trình kiến trúc đô thị mà thường phá bỏ để xây công trình “hiện đại”. Điều đó thể hiện sự hiểu biết giá trị di sản văn hóa đô thị còn hạn chế, kéo theo sự “phủ nhận” những chứng tích lịch sử văn hoá thời cận – hiện đại.

Dưới lòng đất các đô thị còn có những di tích thời tiền sơ sử, bởi vì vị trí các đô thị cũng là khu vực thuận tiện cho các cộng đồng cổ xưa sinh sống: đồi gò cao, gần sông hay nơi các dòng sông giao nhau, khu vực cửa sông – vịnh biển… Hiện nay công tác khai quật di tích gặp nhiều khó khăn do đã có công trình kiến trúc đời sau xây dựng bên trên. Vì vậy, chỉ khi các công trình hiện hữu bị phá bỏ để xây dựng lại, hay giải toả xây dựng hạ tầng giao thông… thì khảo cổ học mới có điều kiện khảo sát, khai quật và nghiên cứu, đề xuất những giải pháp phù hợp.

Vì vậy hiện nay ở Việt Nam khảo cổ học đô thị chú trọng làm việc với các di tích còn tồn tại trên mặt đất: nghiên cứu, phân loại, xác định loại hình, chức năng, đánh giá tính chất, giá trị lịch sử - văn hóa. Từ đó đề xuất công tác khai quật, bảo tồn, trùng tu hay phục dựng nếu cần thiết. Đặc biệt đề xuất giải pháp phát huy giá trị di sản đô thị trong đời sống đương đại một cách phù hợp, mà điển hình là trường hợp Hoàng Thành Thăng Long.

2.     Thành phố Đà Nẵng nằm trong bối cảnh Địa – Văn hóa, Địa – Lịch sử của xứ Quảng, một vùng văn hóa đa sắc thái: núi, trung du, đồng bằng, ven biển, biển và đảo. Cửa sông Thu Bồn có Đại Chiêm hải khẩu được các chúa Nguyễn phát triển thành cảng thị Fai Fo – nay là Đô thị cổ Hội An di sản thế giới. Từ thế kỷ 19 Đà Nẵng là cảng biển phòng thủ quan trọng nhất của nhà Nguyễn, rồi trở thành quân cảng của Pháp, Mỹ trong hơn một thế kỷ chiến tranh. Nay Đà Nẵng là một trong 6 thành phố lớn của đất nước.

Tuy các đô thị được “định danh” là thành phố còn rất ít, nhưng xu thế đô thị hoá – hiện đại hoá là không thể đảo ngược. Vì vậy, dù với danh xưng gì thì Đà Nẵng, Hội An, Tam Kỳ và những khu đô thị mới sẽ hình thành, vẫn cần bảo tồn được và phát triển những di sản đô thị và di sản truyền thống của mình.

Tính đến đầu năm 2025, tỉnh Quảng Nam cũ có 458 di tích được xếp hạng, trong đó có 04 di tích quốc gia đặc biệt (Đô thị cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn vừa là di tích quốc gia đặc biệt vừa là Di sản Văn hóa thế giới), 67 di tích cấp quốc gia, 387 di tích cấp tỉnh. Ngoài ra, còn có Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An. Thành phố Đà Nẵng cũ có 88 di tích được xếp hạng, bao gồm 2 di tích quốc gia đặc biệt, 17 di tích quốc gia và 69 di tích cấp thành phố.

Như vậy hệ thống di tích của thành phố Đà Nẵng hiện nay bao gồm đầy đủ các loại hình: Di sản thế giới, khảo cổ học, kiến trúc nghệ thuật, lịch sử cách mạng, danh lam thắng cảnh… Bên cạnh đó còn hệ thống di sản văn hoá phi vật thể, di sản tư liệu phong phú, đa dạng, chưa kể hàng trăm công trình, địa điểm trong danh mục Kiểm kê di tích theo quy định của Luật Di sản văn hoá.

Cũng như các thành phố khác, bảo tồn di sản đô thị ở Đà Nẵng gặp nhiều khó khăn do một quan niệm đã rất lạc hậu, đó là “mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển”. Bên cạnh các di sản vật thể được bảo tồn và phát huy giá trị (qua phát triển du lịch) như Hội An, Mỹ Sơn, Bảo tàng và các di tích trong thành phố, các làng nghề thủ công, Cù lao Chàm… thì nhiều thắng cảnh đã bị biến đổi do những công trình hiện đại (khu vực Bà Nà, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, ven biển từ Đà Nẵng đến Hội An…), làm giảm giá trị di sản tự nhiên và ảnh hưởng đến lợi ích cộng đồng. Cần lưu ý, bên cạnh hai Di sản thế giới thì các thắng cảnh núi – biển của Đà Nẵng là một lợi thế cạnh tranh quan trọng so với nhiều trung tâm du lịch cả trong và ngoài nước.

Để có thể bảo vệ hệ thống di sản văn hoá này, hạn chế những tổn hại của quá trình hiện đại hoá và sự dịch chuyển của đô thị trong giai đoạn sáp nhập hành chính, chính quyền thành phố Đà Nẵng cần xác định rõ: bảo tồn di sản là một phương thức đặc biệt của phát triển bền vững. Vì vậy cần thực hiện những giải pháp căn cơ, khoa học. Bắt đầu từ đưa quy hoạch bảo tồn di sản trở thành một hợp phần của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, từ đó xây dựng các kế hoạch khảo sát, kiểm kê di tích, thực hiện khai quật khảo cổ học, lập bản đồ hệ thống các công trình, di tích và cập nhật thường xuyên về tình trạng cũng như dự báo tác động (của tự nhiên và xã hội). Tiếp tục bảo tồn, trùng tu các di tích, hạn chế tối đa tác động và phá huỷ cảnh quan tự nhiên, bảo vệ nghiêm ngặt những khu vực đã bị tổn thương có có nguy cơ bị tổn thương. Phát triển du lịch văn hoá, du lịch nghỉ dưỡng theo định hướng du lịch bền vững.

Đồng thời với việc toàn xã hội thực hiện nghiêm túc Luật Di sản văn hoá, sự đồng bộ của các cơ quan quản lý nhà nước liên quan, kinh nghiệm quan trọng đã được áp dụng thành công ở nhiều quốc gia là có quan điểm nhất quán: Di sản đô thị là thuộc về cộng đồng, phải được coi là nguồn vốn xã hội phục vụ lợi ích cộng đồng, tham góp tích cực vào phát triển bền vững. Di sản lịch sử - văn hóa chỉ có thể được bảo tồn và phát huy giá trị khi cộng đồng có cơ hội tham gia đóng góp vào cơ chế quản lý đô thị, nhất là chính sách và thực thi chính sách bảo tồn di sản văn hóa.

 Nguyễn Thị Hậu



 

 

 

 

VĂN HOÁ THỊ DÂN Ở THÀNH PHỐ MỚI

 Nguyễn Thị Hậu

Thành phố Đà Nẵng hiện nay bao gồm TP. Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam, tuy cùng trong vùng văn hoá “Xứ Quảng” lâu đời nhưng là hai địa phương có bản sắc riêng. Việc sáp nhập đơn vị hành chính thống nhất mang lại một thành phố ĐÀ NẴNG MỚI sẽ có tác động sâu sắc đến cấu trúc kinh tế – xã hội – văn hóa của cả “xứ Quảng”, đồng thời cũng làm nảy sinh nhiều thách thức, đặc biệt là văn hoá thị dân sẽ có những chuyển biến lớn. Có thể nhận diện một số đặc trưng cơ bản của Đà Nẵng và Quảng Nam, từ đó tìm kiếm những phương thức phù hợp để xây dựng và phát triển “văn hoá thị dân” cho một thành phố trung tâm của khu vực miền Trung.

Đà Nẵng là thành phố trực thuộc trung ương, phát triển hiện đại, định hướng quốc tế hóa. Tính chất đô thị ngày càng được khẳng định: từ đầu những năm 2000 đến nay Đà Nẵng là một trung tâm lớn về văn hoá và dịch vụ. Hạ tầng phát triển nhanh chóng, đồng bộ, nhiều không gian công cộng và sinh hoạt giao lưu văn hoá quốc tế. Dân cư tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng, tính chất thị dân ngày càng rõ nét (ứng xử nơi công cộng, dịch vụ, kỷ cương…). Một “thành phố đáng sống” như mục tiêu được đặt ra và như đánh giá của nhiều người dân và du khách.

Quảng Nam là một tỉnh nông – ngư nghiệp, địa hình sinh thái đa dạng từ vùng núi, đồng bằng đến biển và đảo ven bờ. Hạ tầng phát triển chưa đồng bộ, thiết chế văn hoá nông thôn làng xã là chủ yếu. Dân cư chủ yếu sống ở nông thôn hoặc thị tứ nhỏ, văn hoá cộng đồng cao. Truyền thống văn hoá “xứ Quảng” mang tính đặc thù và bền vững. Nhiều di sản văn hoá độc đáo và nổi tiếng: Mỹ Sơn, Hội An, Cù lao Chàm, các làng nghề gốm, mộc, dệt lụa, vùng văn hoá lưu vực sông Thu Bồn…

Thành phố Đà Nẵng mới về cơ bản vẫn là không gian và con người “xứ Quảng”, chung một lịch sử hình thành và phát triển (dù đã có vài lần tách nhập), chung cá tính “người Quảng”, chung nhiều yếu tố văn hoá đặc trưng như ngôn ngữ, ẩm thực… Đó là “cơ sở khoa học” mang lại sự thuận lợi hơn nhiều địa phương khác trong quá trình sáp nhập. Với định hướng Đà Nẵng sẽ là một trung tâm kinh tế lớn, trung tâm dịch vụ và du lịch… thành phố sẽ phát triển nhanh hơn tính chất văn hoá đô thị về cả “vật thể và phi vật thể”: có điều kiện vật chất xây dựng hạ tầng đường xá với vỉa hè, cây xanh, phương tiện giao thông công cộng, các khu đô thị mới hoặc chỉnh trang khu cư trú cũ theo hướng tiện nghi, vệ sinh hơn… Xây dựng các thiết chế văn hoá đô thị (như các cụm công trình rạp phim, nhà hát, thư viện, nhà văn hoá…) ở những vùng nông thôn hiện nay. Cơ sở vật chất là tiền đề cho việc xây dựng ý thức “văn minh đô thị” ở người dân. Đô thị hoá – hiện đại hoá cũng là xu hướng phát triển hiện nay, nhưng nếu được định hướng và lấy một đô thị có “thương hiệu” như Đà Nẵng làm hạt nhân lan toả các yếu tố văn hoá đô thị, thì quá trình này sẽ thuận lợi và phát triển đúng hướng.

***

Tuy nhiên, bất cứ quá trình đô thị hoá nào cũng có hiện tượng “xung đột văn hoá”, thể hiện rõ nhất là văn hoá thị dân. Văn hoá đô thị hướng đến xây dựng phát triển tính chất công dân hiện đại với nền hành chính chuyên nghiệp, “chính quyền và công dân số”. Do đó những khu vực nông thôn bảo lưu văn hoá làng xã, họ tộc, tín ngưỡng dân gian… cần có sự chuyển đổi nhanh chóng để thích nghi với môi trường xã hội và không gian sống mới. Đó là lối sống mới trong môi trường đô thị đông đúc, đa dạng, sinh hoạt theo thời gian “hành chính, công nghiệp”, thích nghi với những thói quen ở đô thị như đúng giờ, không ồn ào, giữ vệ sinh nơi công cộng, tôn trọng tính cá nhân trong chung cư, khu đô thị mới… 

Người dân thành phố đã quen với nếp sống đô thị như xếp hàng, đúng giờ, không xả rác, sống trong chung cư thân thiện nhưng không tò mò chuyện riêng, giao tiếp hiện đại, đi lại bằng phương tiện công cộng, quen với hiện tượng nhập cư. Nhưng một số yếu tố văn hoá truyền thống có phần phai nhạt như thói quen tụ tập, mối quan hệ dòng họ, sinh hoạt gia đình trong những ngày giỗ chạp tết nhất… Đó là những nét văn hoá được bảo tồn tốt hơn ở nông thôn, tạo thành sợi dây cố kết gia đình, dòng họ, tạo nên tính chất “đồng hương” bền chặt ở nơi xa quê.

Sinh hoạt văn hoá đô thị mang tính hướng ngoại, giao tiếp với cộng đồng đa dạng, văn hoá quốc tế hiện đại. Còn sinh hoạt văn hoá miền quê mang tính hướng nội, giao tiếp chủ yếu trong họ hàng, làng xã, tổ chức và duy trì văn hoá truyền thống bản địa… Vì vậy không chỉ vùng nông thôn mà cả ở đô thị đều cần có thêm nhận thức và hiểu biết, điều chỉnh và thay đổi để tăng cường sự thông cảm, hoà nhập thực sự. Từ đó mới có chuyển biến trong lối sống và những yếu tố văn hoá khác. Đồng thời, hai mô hình sinh hoạt văn hoá cần có những điều kiện vật chất và thiết chế khác nhau. Do đó, nếu không có chiến lược điều chỉnh, thích ứng từ cả hai phía một cách hài hoà, khách quan, dễ dẫn đến hiện tượng “đô thị đồng hoá nông thôn”, xoá bỏ những giá trị truyền thống độc đáo. Hoặc ngược lại, “nông thôn hoá đô thị”, trong không gian mang dáng vẻ đô thị nhưng sinh hoạt theo kiểu nông thôn, kiến trúc – quy hoạch lộn xộn, không rõ chức năng, bản sắc mờ nhạt, kỹ năng “sinh tồn” ở đô thị kém, con người thấy xa lạ không thuộc về đô thị mình đang sống…

***

Làm thế nào để tất cả người dân thành phố Đà Nẵng cảm thấy tự hào là công dân một thành phố hiện đại, không bị “gò bó” theo cách quản lý đô thị? Làm thế nào để văn hóa thị dân Đà Nẵng vừa tiên tiến vừa giữ được bản sắc Xứ Quảng? Đó là những câu hỏi mà chính quyền và người dân thành phồ cần có sự đồng tâm nhất trí để tìm ra câu trả lời.

Xu hướng phù hợp là xây dựng "văn hoá đô thị hoà hợp" vừa bảo đảm đô thị Đà Nẵng giữ vai trò trung tâm hiện đại; các đô thị cổ như Hội An, Tam Kỳ giữ vai trò kết nối với vùng đồng bằng và miền núi, nơi bảo tồn bản sắc truyền thống. Trên cơ sở đó xây dựng các tiêu chí văn hoá thị dân tôn trọng sự đa dạng văn hoá, không đồng nhất cưỡng chế.

Gìn giữ và tích hợp văn hóa bản địa vào vùng đô thị mới. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống theo hướng chuyển hóa, thích nghi với cuộc sống đô thị. Đồng thời xây dựng hạ tầng và không gian văn hóa công cộng, các thiết chế văn hoá đáp ứng nhu cầu cụ thể của cộng đồng dân cư từng khu vực. Đặc biệt coi trọng vai trò cộng đồng trong việc tham gia xây dựng, giáo dục, truyền thông và phổ biến văn hoá thị dân, bởi hơn ai hết, cộng đồng hiểu rõ việc tạo dựng văn hóa thị dân từ thực tiễn sinh động của chính mình.

Không thể phủ nhận vai trò của văn hoá thị dân trong phát triển đô thị, trong việc góp phần tạo dựng và gìn giữ bản sắc đô thị. Từ những định hướng hành vi và lối sống của cư dân sẽ tạo nền tảng xây dựng “thành phố văn minh”, “xã hội công dân”. Văn hoá đô thị với thị dân là chủ thể, là nguồn tài nguyên cho phát triển công nghiệp văn hoá – du lịch, nền kinh tế quan trọng của các thành phố nói riêng và của thế giới nói chung trong thế kỷ 21.














TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...