SÀI GÒN TÌNH NGHĨA – KHI BÁO CHÍ CŨNG LÀ MỘT PHẦN CỦA DI SẢN ĐÔ THỊ
Xây trên ký ức chưa kịp khai mở: TP.HCM đang bỏ lỡ “mỏ vàng” di sản dưới lòng đất?
Mỗi công trình mới ở trung tâm TP.HCM có thể đang đặt lên những lớp trầm tích lịch sử chưa từng được nhận diện. Khi không có khảo cổ học đô thị đi trước, thành phố không chỉ mất đi bằng chứng vật chất của quá khứ mà còn đánh rơi cơ hội hình thành một nền kinh tế di sản đúng nghĩa.
Khoảng trống khảo cổ ở trung tâm TP.HCM
Có những thành phố lớn lên bằng bê tông, kính và thép, rất nhanh, rất hoành tráng, nhưng chỉ lướt qua trong trí nhớ mỗi người. Có những thành phố lớn lên bằng ký ức, chậm hơn và bền vững trong tâm thức nhiều thế hệ. Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) trong quá trình hiện đại hoá, đáng tiếc, nhiều khi đang chọn cách thứ nhất. Mỗi công trình mới mọc lên ở trung tâm thành phố đều có thể đang đặt trên một lớp trầm tích lịch sử chưa được biết đến. Khi đó, không chỉ xây thêm một tòa nhà mà đồng thời còn xóa đi một phần ký ức chưa kịp khai mở của thành phố.
Gần đây, thông tin về việc xây dựng lại Nhà Văn hóa Thanh niên trên trục đường Lê Duẩn đã một lần nữa đặt ra một vấn đề không chỉ là quy hoạch hay kiến trúc, mà sâu xa hơn là cách thành phố này đối diện với quá khứ của chính mình. Bởi ngay bên dưới toàn bộ không gian của đường Lê Duẩn có thể vẫn còn những dấu tích của Thành Gia Định – hạt nhân đầu tiên của đô thị Sài Gòn. Nếu không thăm dò, khai quật khảo cổ và nghiên cứu, thì những dấu tích còn lại sẽ vĩnh viễn biến mất dưới móng của một công trình hiện đại.
Trong gần hai thế kỷ qua có thể kể đến vài trường hợp hiếm hoi đã ghi nhận bằng chứng lịch sử tại khu vực thuộc Thành Gia Định xưa. Cuối thế kỷ 19 người Pháp xây dựng Thảo cầm viên, Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Thành phố và một số công trình khác, đã ghi nhận việc tìm thấy dưới lòng đất những chiếc rìu đá, mộ vò của thời tiền sử, nhưng không nhắc gì đến dấu tích kiến trúc của Thành Gia Định (thành Quy thời Gia Long) và thành Phụng thời Minh Mạng bị quân đội Pháp trực tiếp phá huỷ.
Trải qua suốt thế kỷ 20 khu vực này thay đổi rất nhiều. Thập niên 1990 khi xây dựng toà nhà 33 tầng tại đường Tôn Đức Thắng, hay việc xây dựng Thư viện sách nói trong khuôn viên Thư viện khoa học Tổng hợp, và gần đây khi trùng tu công trình Toà án Nhân dân Thành phố… cán bộ khảo cổ đều tìm thấy hiện vật của nhiều thời đại lịch sử, nhiều nhất là những đồ gốm thời Nguyễn, thậm chí cả dấu tích xây dựng chân móng thành Gia Định như đá ong, san hô, cát sạn sỏi… Ngay trong khuôn viên số nhà 108 Nguyễn Du – phía sau Dinh Độc Lập - cũng từng phát hiện mộ cổ thời Nguyễn.
Đó là bằng chứng vô cùng ít ỏi, tìm thấy trong quá trình xây dựng công trình mà chưa phải do khảo sát và khai quật khảo cổ học đúng nghĩa. Mặt khác chỉ tìm thấy những hiện vật rời rạc mà không phải dấu tích của một công trình quy mô lớn vào bậc nhất hồi cuối thế kỷ 18. Như vậy từ nửa sau thế kỷ 19 khi người Pháp quy hoạch và xây dựng đô thị Sài Gòn, đến hai thập niên đầu của thế kỷ 21 khu vực này đã xây dựng nhiều công trình mới, nhưng không ai biết trong lòng đất nơi này lưu giữ những gì và còn lại những gì sau bao biến đổi?
Nhiều năm qua hầu hết các công trình được xây dựng tại khu vực trung tâm thành phố đều không qua công tác khảo sát khảo cổ học, chắc chắn nhiều dấu tích và di vật quý giá đã bị phá hủy. Những gì đã không còn chính là những bằng chứng vật chất của lịch sử, đó là thứ không thể tái tạo. Một thành phố không thiếu tương lai vì luôn xây dựng những công trình hiện đại, nhưng có nguy cơ không còn quá khứ bởi những dấu tích lịch sử đang mỗi ngày biến mất ngay dưới chân mình!
Dừng lại để bảo tồn và bài học từ Hoàng thành Thăng Long
Nhìn ra Hà Nội, câu chuyện Hoàng thành Thăng Long cho thấy một lựa chọn khác. Khi những dấu tích đầu tiên được phát lộ tại khu 18 Hoàng Diệu, từ đề xuất của Hội Khoa học lịch sử VN, việc thi công đã quyết định dừng lại cho công tác khai quật khảo cổ học. Dừng để tìm hiểu những gì đang nằm dưới lòng đất. Dừng để bảo tồn. Và dừng lại để Hà Nội không tự cắt đứt mà tiếp nối ký ức 1000 năm Thăng Long.
Từ quyết định đó, một chuỗi giá trị mới được hình thành. Hoàng thành Thăng Long được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới. Không gian khai quật quan trọng nhất được bảo tồn và phát triển thành Bảo tàng Hoàng thành Thăng Long, nơi chúng ta có thể trực tiếp trải nghiệm các lớp lịch sử chồng xếp qua thời gian. Những khu vực khác sau khi hoàn thành khai quật tiếp tục xây dựng các công trình mới như Toà nhà Quốc Hội. Hiện nay đây là khu di tích khảo cổ nổi tiếng và thu hút rất nhiều du khách đến tham quan di tích và bảo tàng, tham dự những hoạt động văn hoá thường xuyên được tổ chức ở đây. Quá khứ hiện hữu ngay cạnh hiện tại và là cảm hứng của tương lai.
Công tác khai quật khảo cổ học khu vực Hoàng thành Thăng Long vẫn được tiếp tục và mở rộng, làm cơ sở cho dự án phục dựng Điện Kính Thiên sắp tới, tiếp tục tái hiện không gian trung tâm của kinh đô Thăng Long xưa. Từ đó, di sản không chỉ được bảo tồn mà còn trở thành nguồn lực cho giáo dục, du lịch và kinh tế văn hóa. Nhận thức quan trọng nhất là tất cả những giá trị đó không có sẵn. Nó bắt đầu từ một hành động tưởng chừng đơn giản nhưng không dễ thực hiện: dừng lại trước khi xây, nghĩ về quá khứ trước khi nói đến tương lai!
Bài học từ Hoàng thành Thăng Long cho thấy, khảo cổ học đô thị không làm chậm sự phát triển hiện đại. Ngược lại, nó mở ra một hướng phát triển bền vững hơn, giàu bản sắc hơn, có khả năng tạo ra giá trị lâu dài hơn. Khảo cổ học góp phần giữ lại và trao truyền cho thế hệ sau những giá trị văn hoá mà cha ông đã tích luỹ qua hàng ngàn năm, được chuyển hoá và nâng cao hơn giá trị qua kinh tế di sản.
Thành phố không chỉ để xây, mà còn để nhớ
Quay lại với TP.HCM, từ nhiều năm nay thực trạng công tác bảo tồn di sản đã phản ánh một vấn đề của thời đại: phát triển có mâu thuẫn với bảo tồn hay không? Không ai phủ nhận nhu cầu về những công trình mới, những không gian hiện đại cho một thành phố năng động. Nhưng cũng thành phố ấy có quá khứ của mình, 300 năm đô thị vẫn xứng đáng để được trân trọng tìm hiểu và bảo vệ. Vậy nên vấn đề của thời đại cần được đặt ra ở đây là: Bảo tồn là phương thức đặc thù của phát triển bền vững!
Nếu phát triển đồng nghĩa với việc quên hết những dấu tích nằm dưới lòng đất và xoá hết những gì “cũ kỹ” trên mặt đất thì đó là một kiểu phát triển “siêu bão, sóng thần” chỉ có thể tạo nên một thành phố “mất trí nhớ”. Ngược lại, nếu biết dừng lại một bước để nghiên cứu khảo cổ, để ghi nhận và tích hợp di sản vào không gian đô thị của thời hiện tại và tương lại, thì đó là một cách phát triển có chiều sâu, không loại trừ quá khứ, chăm chút cái cây từ gốc rễ, gốc rễ nuôi cành lá sum suê… Thế hệ nào cũng được thừa hưởng tài sản của ông bà và “nhân lên” nhiều lần số tài sản ấy.
Vì vậy, câu chuyện công trình Nhà Văn hóa Thanh niên không chỉ là một dự án xây dựng, mà là một cơ hội hiếm hoi để thực thi Luật Di sản văn hóa mới nhất có hiệu lực từ 1.7.2025, cụ thể là thực hiện khảo sát và khai quật khảo cổ học trước khi xây dựng công trình nằm trong “vùng lõi di sản đô thị”. Đây là công trình của nhà nước đầu tư, xây dựng một công trình cho thanh niên thành phố nên càng thuận lợi hơn! Có thể coi đây là trường hợp tiêu biểu để thành phố thực hiện quy trình đi từ khảo cổ đến bảo tồn, từ bảo tồn đến diễn giải, từ diễn giải đến du lịch và kinh tế di sản. Không có bảo tồn di tích và trưng bày bảo tàng thì không có gì để kể. Khi không có câu chuyện thì không thể có một nền kinh tế di sản đúng nghĩa. Đừng để thành phố chỉ có những công trình mới, giống nhau như được nhân bản, nhưng nhanh chóng cũ đi vì những cái mới hơn lại được nhân bản… Cứ thế, không có gì trở thành ký ức đô thị.
Sâu xa hơn, vấn đề không nằm ở việc thành phố có hiện đại hay không mà ở cách thành phố lựa chọn đứng ở đâu trong mối quan hệ với quá khứ của mình. Dưới những bước chân vội vã của một thành phố đang lớn lên từng ngày, có thể vẫn còn những lớp ký ức nằm im chưa kịp gọi tên mà chỉ một quyết định xây dựng cũng đủ làm chúng biến mất vĩnh viễn. Một thành phố trưởng thành không đứng trên quá khứ để vùi lấp nó, càng không đào lên rồi vội vàng xóa đi, mà biết dừng lại, khai mở những gì nằm dưới lòng đất, tiếp nối chúng vào đời sống hôm nay như một phần của chính mình.
Sài Gòn – TP.HCM luôn được coi là “thành phố trẻ 300 năm”, nếu không giữ lại dấu tích lịch sử thì không bao giờ là một thành phố ngàn năm tuổi, mãi chỉ là 300 năm trên mặt chữ! Nhưng nếu biết giữ, biết kể, biết làm cho quá khứ “hiện hình” thì chính những lớp đất, những viên gạch, những mảnh gốm… sẽ kéo dài hơn chiều sâu lịch sử của đô thị.
Một thành phố hiện đại là thành phố biết lúc nào cần xây cao và lúc nào cần dừng lại, biết cúi xuống và lắng nghe “thành phố thì thầm” ngay dưới chân mình. Một thành phố có thể xây rất nhanh rất rộng nhưng không thể làm lại quá khứ nếu đã đánh mất nó. Vì thế, mỗi quyết định hôm nay không chỉ là cách chúng ta đối xử với lịch sử của chính mình, mà còn là quyết định định hình tương lai!
TP.HCM 14.4.2026.
Thập niên 1990 khi xây dựng toà nhà 33 tầng tại đường Tôn Đức Thắng, hay việc xây dựng Thư viện sách nói trong khuôn viên Thư viện khoa học Tổng hợp, và gần đây khi trùng tu công trình Toà án Nhân dân Thành phố… cán bộ khảo cổ đều tìm thấy hiện vật của nhiều thời đại lịch sử... Ảnh: Minh Hòa
DI TÍCH “BÓT CATINA” TRONG CẢNH QUAN ĐƯỜNG ĐỒNG KHỞI VÀ VÙNG LÕI DI SẢN ĐÔ THỊ SÀI GÒN
Trích tham luận HTKH "BOT CATINAT - DI TÍCH LỊCH SỬ CỦA TP.HCM"
1. Đường
Đồng Khởi: lịch sử hình thành
và cảnh quan di sản đô thị
Trong công trình “Sài Gòn – Chở Lớn ký ức đô thị và con
người”[1] của
nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Hiệp, có một mục về “Đường Catinat đầu thế kỷ 20” khảo
sát
khá chi tiết về những công trình và chức năng của nó, một
số nhân vật từng sinh sống, buôn bán, làm việc tại đó.
Theo công trình “Hạ tầng đô thị Sài Gòn buổi đầu” của Trần
Hữu Quang[2] Đây là một trong những con đường cổ xưa nhất
của Sài Gòn, có từ trước khi Pháp đến chiếm thành phố này. Con đường này do chính quyền người Việt Nam làm từ xưa hay
thậm chí có thể còn lâu hơn nữa. Nhìn trên các bản đồ cổ, ta có thể nhận thấy
con đường này dẫn thẳng từ sông Sài Gòn vào thành Gia Định (khi đó còn là thành
Bát Quát hay thành Quy).
Sau năm 1859 con đường này chỗ rộng chỗ hẹp, rải đá dăm đỏ,
hai bên đường còn những đoạn mương nước ứ đọng hôi thối... Trước 1897 con đường
này kéo dài đến tận đường Võ Thị Sáu hiện nay, nhưng từ 1897 thì đường Catinat chỉ còn từ bờ
sông đến Nhà Thờ Đức Bà. Đây là con đường đầu tiên của Sài Gòn mà Pháp cho chỉnh
trang để làm thành một đường phố của đô thị. Và từ lúc đó những trục đường
chính khác đều được làm song song với con đường này theo hướng tây bắc – đông
nam... Đường Catinat cũng là một trong những con đường đầu tiên của Sài Gòn được
tráng nhựa.
Kề từ đầu thời Pháp thuộc cho đến tận ngày nay, con đường
này luôn luôn là con một đường trung tâm mang tính chất phố thương mại và có những
tiệm thuộc hạng sang nhất của cả thành phố Sài Gòn... Tại đây có những địa điểm
nổi tiếng trong lịch sử Sài Gòn như khách sạn Continental, khách sạn Majestic,
tiệm Givral, Brodard, nhà sách Xuân Thu, hành lang thương mại Eden...
Còn theo công trình “Đô thị Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh, khảo
cổ học và bảo tồn di sản” của Nguyễn Thị Hậu[3],
trục đường Đồng Khởi từ Nhà thờ Đức Bà đến Nhà hát Lớn là nơi tập trung nhiều
công trình văn hóa lịch sử, kết nối trục đường Lê Duẩn với không gian công
cộng rộng mở... là một phần quan trọng
của “vùng lõi di sản đô thị”, có những giá trị độc đáo so với những khu vực
khác. Con đường Đồng Khởi được xếp vào loại hình di sản Cảnh quan đô thị, cùng
với các tuyến đường quanh đó như Lê Duẩn, Nguyễn Huệ - Lê Lợi – Tôn Đức Thắng...
Tuy nhiên từ khoảng 2010 khu vực này đã biến đổi nghiêm trọng.
Có thể kể đến những công trình di sản trên đường Đồng Khởi
đã biến đổi hoặc không còn nữa: Hai tòa nhà lớn là Metropolitan góc Đồng Khởi –
Nguyễn Du cùng với Diamon plaza bên đường Lê Duẩn đã làm thu hẹp cảnh quan quảng
trường Công xã Paris và Nhà thờ Đức Bà, không gian khu vực này trở nên chật hẹp.
Công viên Chi Lăng xanh mát như một “vườn treo” với các quán cà phê, là không
gian công cộng, một “chiếu nghỉ” trên con đường đi bộ Đồng Khởi cũng bị biến đổi trở thành “mặt tiền” của
công trình hình khối đồ sộ là Trung tâm thương mại Vincom.
Khu hành lang
thương mại Eden biến mất cùng những thương hiệu nổi tiếng như Givral, La
Pagoda, nhà sách ngoại văn Xuân Thu, rạp phim Eden... Công viên Lam Sơn trước
Nhà hát thành phố (cũng là một “chiếu nghỉ”) như một khu vườn nhỏ bao bọc bởi
những hàng cây cao vút nhưng cũng biển đổi do hàng cây bị chặt, bùng binh Cây
liễu trên đường Nguyễn Huệ kế đó cũng không còn. Khu chung cư cổ góc Đồng Khởi
– Lê Thánh Tôn được xây mới và trở thành một phần của Ủy ban nhân dân TP.
Nhiều công trình mới, cao tầng, kiểu dáng hiện đại đã hiện
diện trên con đường cổ xưa nhất của thành phố. May mắn là đến nay còn vài ngôi
nhà phố, Nhà hát thành phố, vài khách sạn như Continental, Majestic, vài công
trình khác như “Dinh Thượng thư” góc Lý Tự Trọng – Đồng Khởi, và “bót Catinat”
số 164 Đồng Khởi. Nhưng cả con đường không còn là một tổng thể thống nhất về cảnh
quan và kiến trúc như xưa.
Hiện
trạng khu trung tâm TP. Hồ Chí Minh phản
ánh xung đột điển hình giữa phát triển và bảo tồn di sản ở vùng lõi di sản đô thị Sài Gòn. Chính vì vậy, việc xếp hạng để có thể bảo
tồn và phát huy giá trị một cách hiệu quả cho công trình “Bót Catinat” tại 164
Đồng Khởi càng có ý nghĩa quan trọng trong việc gìn giữ di sản văn hóa đô thị
Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh.
Hình
1. Vị trí công trình (Nguồn: https://www.bookingservice.com.vn/khu-dat-vang-164-dong-khoi-sap-duoc-giai-cuu-.html
)
2.
Những giá trị cơ bản của công trình “Bót Catinat” tại 164 Đồng Khởi
2.1
Giá trị kiến trúc – cảnh quan
Bót Catinat nay là trụ sở của Sở Văn hoá – Thể thao TP. Hồ Chí
Minh toạ lạc tại 164 Đồng Khởi (Q.1) nay thuộc phường Bến Nghé, nằm ngay đầu
phía bắc đường Đồng Khởi (đường Catinat xưa), góc giao Nguyễn Du (xưa là Taberd), bắt đầu
từ Quảng trường Công xã Paris phía trước Nhà thờ Đức Bà và Bưu điện TP. HCM,
hướng xuống sông Sài Gòn đến Bạch Đằng, đường Tôn Đức Thắng.
Vị trí này với 3 mặt tiền Nguyễn Du, Đồng Khởi và Lý
Tự Trọng, mặt còn lại giáp với trường Trần Đại Nghĩa, diện tích 9.800m2, thuộc
khu vực “đất vàng” tại trung tâm thành phố[4],
trên trục đường có các công trình có giá trị lịch sử - văn hoá và một số công
trình hiện đại được coi là “điểm nhấn” của khu vực trung tâm.
Từ góc độ di sản kiến trúc, có
thể nói di tích Bót Catinat là một trường hợp tiêu biểu của kiến trúc công sở
thuộc địa thực dụng – thích nghi khí hậu, vừa giữ chức năng hành chính, vừa gắn
với lịch sử đô thị đầy biến động. Giá trị lớn nhất không nằm ở “hình thức mỹ lệ”,
mà ở tầng ký ức và cấu trúc gắn kết với cảnh quan đô thị Đồng Khởi. Đồng Khởi
là “đường di sản” tập trung dày đặc công trình biểu tượng (Nhà hát Thành phố, Dinh
Thượng thư, Continental, Majestic...).
Công trình 164 Đồng Khởi nằm ở vị
trí mốc mở đầu của trục, góp phần giữ đường gãy khối thấp – trung tầng ở đầu phố
để tôn tầm nhìn về cụm Nhà thờ Đức Bà – Bưu điện. Việc giữ hình thái lộ giới,
cao độ khối tích, và khoảng lùi tại 164 Đồng Khởi vì vậy có tác dụng cảnh quan
đô thị vượt ra ngoài bản thân tòa nhà.
Hình
2. Một công trình di sản giữa “rừng” công trình hiện đại.
Nguôn:https://baodautu.vn/batdongsan/tai-sao-dai-gia-ngoai-bo-chay-khoi-dat-vang-d25422.html
2.2
Giá trị Lịch sử – ký ức đô thị
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Hiệp dựa vào thống kê Niên giám
và nghiên cứu nhiều nguồn tư liệu, đã cho biết công trình tại 164 Catinat khởi
dựng 1881, ban đầu (1905 – 1906) dùng
làm nơi thu ngân địa phương (Recette locale). Từ 1907 –
1917 là nơi ông bà Descourtis – thâu ngân đặc biệt – tọa lạc. Từ 1912 trở đi là
Kho bạc, Nha ngân khố (Trésor public). Sau này tòa nhà ngân khố trở thành bót cảnh sát của an
ninh (La surete) sau khi Kho bạc mới được xây dựng trên đường Charner (đường
Nguyễn Huệ). Kế bên số 164 Catinat là số 162, theo Niên giám 1905, 1906 là
Cadastreet topographie (Nhà Địa dư), đến 1912 là Commissariat central de police
(Trụ sở trung ương cảnh sát) do ông M. Lecoeur lãnh đạo[5].
Theo
nhà nghiên cứu Tim Doling -
tác giả một cuốn sách hướng dẫn du lịch di sản TP. Hồ Chí
Minh[6] được nhiều người tìm đọc:
Năm 1917, trụ sở cảnh sát này được mở rộng đến số 164 phố
Catinat, nơi sau này trở thành Sở Cảnh sát và Sở An ninh. Năm 1933, những kế
toán viên cuối cùng được chuyển khỏi số 166 phố Catinat và toàn bộ khu nhà
(162, 164 và 166) được xây dựng lại theo hình dạng hiện tại thành trụ sở Sở An
ninh tại số 164 phố Catina.
Từ
1954 – 1975 nơi đây nổi tiếng là một nơi tàn bạo đến đáng sợ; người
ta nói rằng nhiều tù nhân bị giam giữ trong các phòng giam này đã bị tra tấn
trước khi được chuyển đến nơi ở lâu dài hơn là Maison centrale (Nhà tù Trung
tâm) trên đường La Grandière, nay là đường Lý Tự Trọng. Nằm rất gần Nhà thờ
Chính tòa, Bót Catinat được những tù nhân bất hạnh mô tả là "Địa ngục bên
cạnh thiên đường". Sau năm 1975, một tấm biển bên ngoài lối vào chính của
tòa nhà cho chúng ta biết (bằng tiếng Việt) rằng ngay sau Cách mạng Tháng Tám,
lá cờ Việt Minh đã tung bay trên Bót Catinat từ ngày 26 tháng 8 đến ngày 23
tháng 9 năm 1945, khi Pháp, với sự hỗ trợ của Anh, tái chiếm các tòa nhà công cộng
ở Sài Gòn. Sau đó, Bót Catinat tiếp tục chức năng ban đầu của nó[7].
Từ
sau 1975 toà nhà là trụ sở của Sở Văn hoá – Thể thao TP. Hồ Chí Minh.
Hiện
nay sự biến đổi, mất mát nhiều công
trình trên đường Đồng Khởi và những con đường ở khu vực trung tâm đã làm mất đi
những di sản vật thể gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử, các nhân vật lịch sử,
văn hóa một thời. Nó cũng làm suy giảm giá trị văn hóa phi vật thể của khu vực
này: đó là sinh hoạt cộng đồng ở vỉa hè, công viên gồm buôn bán, giao tiếp, giải
trí, dạo chơi đi bộ... tạo nên “hồn đô thị” đặc trưng của từng thành phố. Từ
đó, một phần “ký ức đô thị” Sài Gòn dần biến mất, để lại biết bao sự tiếc nuối.
Tuy
không đẹp như các di sản khác trên đường Đồng Khởi, nhưng công trình 164 Đồng
Khởi đã trở thành một phần ký ức lịch sử – chính trị của thành phố. Cùng với
nhiều công trình lịch sử - văn hóa khác trên con đường Đồng Khởi góp phần tạo
nên một “vùng ký ức đô thị” Sài Gòn. Dù vậy nhưng cho đến nay công trình “Bót Catina 164
Đồng Khởi” chưa được xếp hạng di tích của TP. HCM.
Khu
“đất vàng” này từng quy hoạch tái phát triển (tổ hợp thương mại – khách sạn), tuy chưa thực hiện nhưng cho đến nay khu vực này vẫn có
giá trị về bất động sản thuộc hàng cao nhất thành phố, luôn là “đích đến” của
nhiều nhà đầu tư địa ốc. Vì vậy, trước hết cần khẩn tập hợp, nghiên cứu hồ sơ để xếp hạng
di tích Lịch sử - Văn hoá cấp thành phố cho công trình này, bảo tồn và phát huy
giá trị theo định hướng giữ công năng “công sở” của công trình.
[1] Nguyễn Đức Hiệp, 2016. Sài Gòn Chợ Lớn ký ức
đô thị và con người. NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh
[2] Trần Hữu Quang, 2012. Hạ tầng đô thị Sài
Gòn buổi đầu. NXB Tổng hợp TPHCM, tr.34 -37
[3] Nguyễn Thị Hậu, 2019 (tái bản). Đô thị Sài
Gòn – TP Hồ Chí Minh, khảo cổ học và bảo tồn di sản. NXB Tổng hợp TPHCM, tr.
88-93
[5] Nguyễn Đức Hiệp,
2016. Sài Gòn Chợ Lớn ký ức đô thị và con người. NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, tr. 27-83.
[6] Tim
Doling, 2019. Khám phá Sài Gòn-Chợ Lớn – Di sản biến mất của Thành phố Hồ Chí
Minh (NXB Thế Giới, Hà Nội, 2019)
[7]
Tim Doling, 2014. https://www.historicvietnam.com/bot-catinat/
Di sản khảo cổ - đô thị TP. HCM
KHẢO CỔ HỌC ĐÔ THỊ - NHỮNG CHUYỆN BÊN BỜ ĐƯƠNG ĐẠI
1
Khoảng
đầu thế kỷ 20 nhiều đô thị ở Việt Nam bắt đầu được quy hoạch và xây dựng theo
kiểu phương Tây, tại trị sở các tỉnh thời Nguyễn. Ở trung tâm là công trình
Dinh (Hotel de ville) và Nhà thờ lớn, xung quanh là các cơ quan hành chính và
công trình công cộng, dịch vụ. Ngày nay đây chính là “vùng lõi di sản” của đô
thị, nơi tích lũy các giá trị lịch sử - văn hoá quan trọng.
Bên
cạnh di sản kiến trúc hình thành thời thuộc địa, các đô thị còn bảo tồn di sản
truyền thống: Những ngôi đình, chùa, hội quán, đền miếu, nhà cổ, hoặc quần thể phố
cổ như Hội An hay Chợ Lớn… Những công trình này hiện diện rải rác trong đô thị,
có khi từng là trung tâm của làng cổ hay một cộng đồng. Quá trình đô thị hoá suốt
thế kỷ 20 đã làm thay đổi cảnh quan, thậm chí huỷ hoại nhiều công trình kiến
trúc cổ xưa.
Do
mỗi đô thị có cảnh quan tự nhiên, địa hình và yếu tố văn hóa khác nhau nên di sản
đô thị sẽ mang những đặc trưng riêng. Di sản đô thị, có thể hiểu một cách cụ thể,
là tập hợp các địa điểm, vị trí, khu phố, các công trình và tập quán mà một xã
hội được kế thừa từ quá khứ, muốn bảo tồn và truyền lại cho các thế hệ tương
lai. Đó là những công trình tiêu biểu của kiến trúc một thời, đồng thời ẩn chứa,
lưu giữ trong nó biết bao ký ức và câu chuyện về lịch sử và con người đô thị. Trải
qua quá trình lịch sử những đặc trưng về kiến trúc, cảnh quan trở thành bản sắc
riêng của từng đô thị. Chính vì vậy các quốc gia đều coi trọng việc bảo tồn di
sản đô thị.
2.
Liên
quan đến nghiên cứu bảo tồn và phát huy giá trị di sản đô thị có nhiều ngành
khoa học và cơ quan quản lý nhà nước. Những năm gần đây khảo cổ học đô thị được
coi là một ngành quan trọng trong quá trình này, bởi tính chất nghiên cứu vừa
chuyên sâu vừa liên ngành. Qua đó góp phần tích cực vào thực tiễn bảo vệ và ứng
dụng giá trị di sản vào quá trình phát triển đô thị.
Một
vấn đề đặc biệt khó khăn là hiện nay trong quá trình đô thị hóa, nhiều địa
phương không quan tâm giữ gìn bảo tồn công trình kiến trúc đô thị mà thường
phá bỏ để xây công trình “hiện đại”. Điều đó thể hiện sự hiểu biết giá trị di
sản văn hóa đô thị còn hạn chế, kéo theo sự “phủ nhận” những chứng tích lịch
sử văn hoá thời cận – hiện đại.
Dưới
lòng đất các đô thị còn có những di tích thời tiền sơ sử, bởi vì vị trí các đô
thị cũng là khu vực thuận tiện cho các cộng đồng cổ xưa sinh sống: đồi gò cao,
gần sông hay nơi các dòng sông giao nhau, khu vực cửa sông – vịnh biển… Hiện
nay công tác khai quật di tích gặp nhiều khó khăn do đã có công trình kiến trúc
đời sau xây dựng bên trên. Vì vậy, chỉ khi các công trình hiện hữu bị phá bỏ để
xây dựng lại, hay giải toả xây dựng hạ tầng giao thông… thì khảo cổ học mới có
điều kiện khảo sát, khai quật và nghiên cứu, đề xuất những giải pháp phù hợp.
Vì
vậy hiện nay ở Việt Nam khảo cổ học đô thị chú trọng làm việc với các di
tích còn tồn tại trên mặt đất: nghiên cứu, phân loại, xác định loại hình,
chức năng, đánh giá tính chất, giá trị lịch sử - văn hóa. Từ đó đề xuất công
tác khai quật, bảo tồn, trùng tu hay phục dựng nếu cần thiết. Đặc biệt đề xuất
giải pháp phát huy giá trị di sản đô thị trong đời sống đương đại một cách phù
hợp, mà
điển hình là trường hợp Hoàng Thành Thăng Long.
2.
Tuy
các đô thị được “định danh” là thành phố còn rất ít, nhưng xu thế đô thị hoá –
hiện đại hoá là không thể đảo ngược. Vì vậy, dù với danh xưng gì thì Đà Nẵng, Hội
An, Tam Kỳ và những khu đô thị mới sẽ hình thành, vẫn cần bảo tồn được và phát
triển những di sản đô thị và di sản truyền thống của mình.
Tính
đến đầu năm 2025, tỉnh Quảng Nam cũ có 458 di tích được xếp hạng, trong đó có
04 di tích quốc gia đặc biệt (Đô thị cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn vừa là di
tích quốc gia đặc biệt vừa là Di sản Văn hóa thế giới), 67 di tích cấp quốc
gia, 387 di tích cấp tỉnh. Ngoài ra, còn có Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù
Lao Chàm – Hội An. Thành phố Đà Nẵng cũ có 88 di tích được xếp hạng, bao gồm 2
di tích quốc gia đặc biệt, 17 di tích quốc gia và 69 di tích cấp thành phố.
Như
vậy hệ thống di tích của thành phố Đà Nẵng hiện nay bao gồm đầy đủ các loại
hình: Di sản thế giới, khảo cổ học, kiến trúc nghệ thuật, lịch sử cách mạng,
danh lam thắng cảnh… Bên cạnh đó còn hệ thống di sản văn hoá phi vật thể, di sản
tư liệu phong phú, đa dạng, chưa kể hàng trăm công trình, địa điểm trong danh mục
Kiểm kê di tích theo quy định của Luật Di sản văn hoá.
Cũng
như các thành phố khác, bảo tồn di sản đô thị ở Đà Nẵng gặp nhiều khó khăn do một
quan niệm đã rất lạc hậu, đó là “mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển”. Bên cạnh
các di sản vật thể được bảo tồn và phát huy giá trị (qua phát triển du lịch)
như Hội An, Mỹ Sơn, Bảo tàng và các di tích trong thành phố, các làng nghề thủ
công, Cù lao Chàm… thì nhiều thắng cảnh đã bị biến đổi do những công trình hiện
đại (khu vực Bà Nà, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, ven biển từ Đà Nẵng đến Hội An…),
làm giảm giá trị di sản tự nhiên và ảnh hưởng đến lợi ích cộng đồng. Cần lưu ý,
bên cạnh hai Di sản thế giới thì các thắng cảnh núi – biển của Đà Nẵng là một lợi
thế cạnh tranh quan trọng so với nhiều trung tâm du lịch cả trong và ngoài nước.
Để
có thể bảo vệ hệ thống di sản văn hoá này, hạn chế những tổn hại của quá trình
hiện đại hoá và sự dịch chuyển của đô thị trong giai đoạn sáp nhập hành chính, chính
quyền thành phố Đà Nẵng cần xác định rõ: bảo tồn di sản là một phương thức đặc
biệt của phát triển bền vững. Vì vậy cần thực hiện những giải pháp căn cơ, khoa
học. Bắt đầu từ đưa quy hoạch bảo tồn di sản trở thành một hợp phần của quy hoạch
phát triển kinh tế - xã hội, từ đó xây dựng các kế hoạch khảo sát, kiểm kê di
tích, thực hiện khai quật khảo cổ học, lập bản đồ hệ thống các công trình, di
tích và cập nhật thường xuyên về tình trạng cũng như dự báo tác động (của tự
nhiên và xã hội). Tiếp tục bảo tồn, trùng tu các di tích, hạn chế tối đa tác động
và phá huỷ cảnh quan tự nhiên, bảo vệ nghiêm ngặt những khu vực đã bị tổn
thương có có nguy cơ bị tổn thương. Phát triển du lịch văn hoá, du lịch nghỉ dưỡng
theo định hướng du lịch bền vững.
Đồng
thời với việc toàn xã hội thực hiện nghiêm túc Luật Di sản văn hoá, sự đồng bộ của
các cơ quan quản lý nhà nước liên quan, kinh nghiệm quan trọng đã được áp dụng
thành công ở nhiều quốc gia là có quan điểm nhất quán: Di sản đô thị là thuộc về
cộng đồng, phải được coi là nguồn vốn xã hội phục vụ lợi ích cộng đồng, tham
góp tích cực vào phát triển bền vững. Di sản lịch sử - văn hóa chỉ có thể được
bảo tồn và phát huy giá trị khi cộng đồng có cơ hội tham gia đóng góp vào cơ chế
quản lý đô thị, nhất là chính sách và thực thi chính sách bảo tồn di sản văn
hóa.
VĂN HOÁ THỊ DÂN Ở THÀNH PHỐ MỚI
Nguyễn Thị Hậu
Thành phố Đà Nẵng hiện nay bao gồm TP. Đà Nẵng và tỉnh
Quảng Nam, tuy cùng trong vùng văn hoá “Xứ Quảng” lâu đời nhưng là hai địa phương
có bản sắc riêng. Việc sáp nhập đơn vị hành chính thống nhất mang lại một thành
phố ĐÀ NẴNG MỚI sẽ có tác động sâu sắc đến cấu trúc kinh tế – xã hội – văn hóa
của cả “xứ Quảng”, đồng thời cũng làm nảy sinh nhiều thách thức, đặc biệt là
văn hoá thị dân sẽ có những chuyển biến lớn. Có thể nhận diện một số đặc trưng
cơ bản của Đà Nẵng và Quảng Nam, từ đó tìm kiếm những phương thức phù hợp để xây
dựng và phát triển “văn hoá thị dân” cho một thành phố trung tâm của khu vực
miền Trung.
Đà Nẵng là thành phố trực thuộc trung ương, phát triển hiện
đại, định hướng quốc tế hóa. Tính chất đô thị ngày càng được khẳng định: từ đầu
những năm 2000 đến nay Đà Nẵng là một trung tâm lớn về văn hoá và dịch vụ. Hạ
tầng phát triển nhanh chóng, đồng bộ, nhiều không gian công cộng và sinh hoạt giao
lưu văn hoá quốc tế. Dân cư tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng, tính chất
thị dân ngày càng rõ nét (ứng xử nơi công cộng, dịch vụ, kỷ cương…). Một “thành
phố đáng sống” như mục tiêu được đặt ra và như đánh giá của nhiều người dân và
du khách.
Quảng Nam là một tỉnh nông – ngư nghiệp, địa hình sinh
thái đa dạng từ vùng núi, đồng bằng đến biển và đảo ven bờ. Hạ tầng phát triển
chưa đồng bộ, thiết chế văn hoá nông thôn làng xã là chủ yếu. Dân cư chủ yếu sống
ở nông thôn hoặc thị tứ nhỏ, văn hoá cộng đồng cao. Truyền thống văn hoá “xứ
Quảng” mang tính đặc thù và bền vững. Nhiều di sản văn hoá độc đáo và nổi
tiếng: Mỹ Sơn, Hội An, Cù lao Chàm, các làng nghề gốm, mộc, dệt lụa, vùng văn
hoá lưu vực sông Thu Bồn…
Thành phố Đà Nẵng mới về cơ bản vẫn là không gian và
con người “xứ Quảng”, chung một lịch sử hình thành và phát triển (dù đã có vài
lần tách nhập), chung cá tính “người Quảng”, chung nhiều yếu tố văn hoá đặc
trưng như ngôn ngữ, ẩm thực… Đó là “cơ sở khoa học” mang lại sự thuận lợi hơn
nhiều địa phương khác trong quá trình sáp nhập. Với định hướng Đà Nẵng sẽ là
một trung tâm kinh tế lớn, trung tâm dịch vụ và du lịch… thành phố sẽ phát
triển nhanh hơn tính chất văn hoá đô thị về cả “vật thể và phi vật thể”: có
điều kiện vật chất xây dựng hạ tầng đường xá với vỉa hè, cây xanh, phương tiện
giao thông công cộng, các khu đô thị mới hoặc chỉnh trang khu cư trú cũ theo
hướng tiện nghi, vệ sinh hơn… Xây dựng các thiết chế văn hoá đô thị (như các
cụm công trình rạp phim, nhà hát, thư viện, nhà văn hoá…) ở những vùng nông
thôn hiện nay. Cơ sở vật chất là tiền đề cho việc xây dựng ý thức “văn minh đô
thị” ở người dân. Đô thị hoá – hiện đại hoá cũng là xu hướng phát triển hiện
nay, nhưng nếu được định hướng và lấy một đô thị có “thương hiệu” như Đà Nẵng
làm hạt nhân lan toả các yếu tố văn hoá đô thị, thì quá trình này sẽ thuận lợi
và phát triển đúng hướng.
***
Tuy nhiên, bất cứ quá trình đô thị hoá nào cũng có hiện tượng “xung
đột văn hoá”, thể hiện rõ nhất là văn hoá thị dân. Văn hoá đô thị hướng đến xây
dựng phát triển tính chất công dân hiện đại với nền hành chính chuyên nghiệp, “chính
quyền và công dân số”. Do đó những khu vực nông thôn bảo lưu văn hoá
làng xã, họ tộc, tín ngưỡng dân gian… cần có sự chuyển đổi nhanh chóng để thích
nghi với môi trường xã hội và không gian sống mới. Đó là lối sống mới trong môi
trường đô thị đông đúc, đa dạng, sinh hoạt theo thời gian “hành chính, công
nghiệp”, thích nghi với những thói quen ở đô thị như đúng giờ, không ồn ào, giữ
vệ sinh nơi công cộng, tôn trọng tính cá nhân trong chung cư, khu đô thị
mới…
Người dân thành phố đã quen với nếp sống đô thị như xếp
hàng, đúng giờ, không xả rác, sống trong chung cư thân thiện nhưng không tò mò
chuyện riêng, giao tiếp hiện đại, đi lại bằng phương tiện công cộng, quen với
hiện tượng nhập cư. Nhưng một số yếu tố văn hoá truyền thống có phần phai nhạt như
thói quen tụ tập, mối quan hệ dòng họ, sinh hoạt gia đình trong những ngày giỗ
chạp tết nhất… Đó là những nét văn hoá được bảo tồn tốt hơn ở nông thôn, tạo
thành sợi dây cố kết gia đình, dòng họ, tạo nên tính chất “đồng hương” bền chặt
ở nơi xa quê.
Sinh hoạt văn hoá đô thị mang tính hướng ngoại, giao
tiếp với cộng đồng đa dạng, văn hoá quốc tế hiện đại. Còn sinh hoạt văn hoá
miền quê mang tính hướng nội, giao tiếp chủ yếu trong họ hàng, làng xã, tổ chức
và duy trì văn hoá truyền thống bản địa… Vì vậy không chỉ vùng nông thôn mà cả
ở đô thị đều cần có thêm nhận thức và hiểu biết, điều chỉnh và thay đổi để tăng
cường sự thông cảm, hoà nhập thực sự. Từ đó mới có chuyển biến trong lối sống
và những yếu tố văn hoá khác. Đồng thời, hai mô hình sinh hoạt văn hoá cần có
những điều kiện vật chất và thiết chế khác nhau. Do đó, nếu không có chiến lược
điều chỉnh, thích ứng từ cả hai phía một cách hài hoà, khách quan, dễ dẫn đến
hiện tượng “đô thị đồng hoá nông thôn”, xoá bỏ những giá trị truyền thống độc
đáo. Hoặc ngược lại, “nông thôn hoá đô thị”, trong không gian mang dáng vẻ đô thị nhưng sinh hoạt theo kiểu nông thôn, kiến
trúc – quy hoạch lộn xộn, không rõ chức năng, bản sắc mờ nhạt, kỹ năng “sinh
tồn” ở đô thị kém, con người thấy xa lạ không thuộc về đô thị mình đang sống…
***
Làm thế nào để tất cả người dân thành
phố Đà Nẵng cảm thấy tự hào là công dân một thành phố hiện đại, không bị “gò
bó” theo cách quản lý đô thị? Làm thế nào để văn hóa thị dân Đà Nẵng vừa tiên
tiến vừa giữ được bản sắc Xứ Quảng? Đó là những câu hỏi mà chính quyền và người
dân thành phồ cần có sự đồng tâm nhất trí để tìm ra câu trả lời.
Xu hướng phù hợp là xây dựng "văn
hoá đô thị hoà hợp" vừa bảo đảm đô thị Đà Nẵng giữ vai trò trung tâm hiện
đại; các đô thị cổ như Hội An, Tam Kỳ giữ vai trò kết nối với vùng đồng bằng và
miền núi, nơi bảo tồn bản sắc truyền thống. Trên cơ sở đó xây dựng các tiêu chí
văn hoá thị dân tôn trọng sự đa dạng văn hoá, không đồng nhất cưỡng chế.
Gìn giữ và tích hợp văn hóa bản địa
vào vùng đô thị mới. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống theo
hướng chuyển hóa, thích nghi với cuộc sống đô thị. Đồng thời xây dựng hạ tầng
và không gian văn hóa công cộng, các thiết chế văn hoá đáp ứng nhu cầu cụ thể của cộng
đồng dân cư từng khu vực. Đặc biệt coi trọng vai trò cộng đồng trong việc tham
gia xây dựng, giáo dục, truyền thông và phổ biến văn hoá thị dân, bởi hơn ai
hết, cộng đồng hiểu rõ việc tạo dựng văn hóa thị dân từ thực tiễn sinh động của
chính mình.
Không thể phủ nhận vai
trò của văn hoá thị dân trong phát triển đô thị, trong việc góp phần tạo dựng
và gìn giữ bản sắc đô thị. Từ những định hướng hành vi và lối sống của cư dân sẽ
tạo nền tảng xây dựng “thành phố văn minh”, “xã hội công dân”. Văn hoá đô thị với
thị dân là chủ thể, là nguồn tài nguyên cho phát triển công nghiệp văn hoá – du
lịch, nền kinh tế quan trọng của các thành phố nói riêng và của thế giới nói
chung trong thế kỷ 21.
TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)
https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...
-
Trích phần 3 của bài đăng trên tạp chí Di sản văn hóa số 3(15) 2023 3. Bảo tồn và phát triển nghệ thuật gốm Chăm ở Bàu Trúc trong bối cảnh ...
-
Một người bạn fb bất ngờ ra đi. Post bài thơ rất hay của bạn. Tôi biết Cao Hải Hà qua mạng Yahoo blog và sau là FB. Vài lần gặp Hà ở chỗ ...
-
Người Việt có một số thành ngữ và sự tích liên quan đến cá trê, như truyện Trê Cóc chẳng hạn. Câu chuyện không chỉ là việc Trê tranh giàn...


