Hiển thị các bài đăng có nhãn nghiên cứu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nghiên cứu. Hiển thị tất cả bài đăng

SÂN KHẤU KỊCH NÓI KIM CƯƠNG - MỘT “DI SẢN ĐÔ THỊ”

 Nguyễn Thị Hậu

Di sản văn hóa đô thị không chỉ là những công trình vật chất – văn hóa vật thể, mà còn là những di sản phi vật thể, trong đó có những ký ức, thực hành văn hóa và trải nghiệm sống của cộng đồng. Với Sài Gòn, một đô thị trẻ nhưng nhiều biến động, tổng thế những ký ức ấy được lưu giữ không chỉ trong văn chương hay báo chí, điện ảnh, mà còn rất đậm nét trong sân khấu kịch nói.
Khác với các loại hình sân khấu truyền thống mang tính ước lệ cao, kịch nói xuất hiện ở Sài Gòn như một nhu cầu tự nhiên của đời sống đô thị hiện đại. Đó là nơi con người nói bằng ngôn ngữ đời thường, đối diện trực tiếp với những vấn đề của xã hội, từ đó bộc lộ những xung đột nội tâm cá nhân. Sài Gòn với đặc trưng là một đô thị mở, đa tầng đa dạng, sớm hình thành một lớp công chúng yêu thích sự đối thoại, thích suy ngẫm và sẵn sàng tiếp nhận những câu hỏi đạo đức mà kịch nói đặt ra. Kịch nói ở đây không tìm cách trở thành diễn đàn hô khẩu hiệu, mà là không gian để con người tự soi chiếu chính mình. Những câu chuyện gia đình, chiến tranh, thân phận người phụ nữ, lựa chọn cá nhân giữa biến động xã hội… trở thành chất liệu chủ đạo.
Trong điều kiện xã hội nói chung và bối cảnh nghệ thuật sân khấu Sài Gòn nói riêng, Kịch nói Kim Cương đã song hành với đô thị Sài Gòn trong một giai đoạn nhiều biến động. Ở không gian và thời gian đó, đời sống thị dân được phản ánh không qua những sự kiện lớn, mà qua những câu chuyện nhỏ, những xung đột gia đình, những thân phận con người phải lựa chọn giữa bổn phận và khát vọng cá nhân. Chính những câu chuyện tưởng như rất riêng ấy lại tạo nên ký ức chung của đô thị, bởi đô thị, suy cho cùng là được cấu thành từ số phận của vô số cá nhân bình thường.
Những vở kịch nói Kim Cương đã lưu giữ ký ức đô thị bằng ngôn ngữ, giọng nói và cảm xúc. Đó là giọng nói của Sài Gòn: giản dị, thẳng thắn, giàu lòng trắc ẩn. Đó là cách người Sài Gòn đối diện với bi kịch không bằng sự bi lụy mà bằng tính nhân văn, có khi bằng một câu nói “cà rỡn”, một nụ cười dịu dàng làm nhẹ đi những đau đớn, những xung đột gay gắt. Lời thoại trong các vở kịch gần gũi, đậm khẩu khí Nam Bộ. Đó là thứ ngôn ngữ không trau chuốt cầu kỳ nhưng giàu sức gợi cảm xúc, giúp khán giả nhận ra giọng nói quen thuộc của đô thị mình đang sống. Ngôn ngữ ấy khiến sân khấu Kim Cương không tạo khoảng cách với công chúng. Khán giả không chỉ “xem” kịch, mà như đang nghe lại những câu chuyện của chính mình, của gia đình mình, của xã hội mình từng trải qua. Chính điều này làm cho ký ức đô thị trên sân khấu trở nên sống động và tồn tại bền bỉ. Những buổi tối đi xem kịch, những giọt nước mắt rơi trong im lặng của khán giả, những tràng vỗ tay không dứt, cả những khoảng lặng của mỗi người khi rời khỏi rạp hát... tất cả hợp thành một trải nghiệm đô thị đã từng rất quen thuộc, rất Sài Gòn.
Có thể nhận thấy “tinh thần kịch nói Sài Gòn” một nét rất riêng, đó là nhân vật và khán giả cùng một “tầng cảm xúc”, cùng suy ngẫm, khán giả không ở thế “bị động” do diễn viên dẫn dắt bằng những thông điệp cao siêu, khô cứng. Các câu chuyện vì thế không áp đặt, mà được truyền đi một cách tự nhiên, thấm dần vào cảm xúc người xem. Và sau mỗi đêm khi đi xem kịch Kim Cương về, mỗi người đều thấy yêu thương con người hơn, cảm thông hơn với những số phận không may, và hy vọng về một ngày mai tốt đẹp hơn.
Nhìn từ góc độ văn hóa đô thị, Nghệ sĩ Kim Cương là một trong những người có đóng góp quan trọng trong việc lưu giữ ký ức tinh thần của đô thị Sài Gòn. Sân khấu của bà thể hiện những lát cắt đời sống, những tâm trạng xã hội và những câu hỏi đạo đức mà đô thị này từng đối diện. Có thể nói, sân khấu kịch nói Kim Cương là nơi ký ức đô thị Sài Gòn được kết tinh thành nghệ thuật. Ở đó, con người Sài Gòn đã từng cười, khóc, suy ngẫm về chính mình qua những câu chuyện rất đời, rất thật.
Trong dòng chảy lịch sử sân khấu miền Nam, giá trị di sản của sân khấu Kim Cương không nằm ở việc bảo tồn một mô hình sân khấu cụ thể, mà ở việc nhận diện và gìn giữ một lớp ký ức văn hóa của các thế hệ thị dân. Đó là ký ức về cách một đô thị từng tự kể câu chuyện của mình, từng suy ngẫm về chiến tranh, về gia đình, về người phụ nữ, về nhân tính con người thông qua nghệ thuật kịch nói. Hiện nay, khi những không gian biểu diễn kịch nói, cải lương đang vắng dần, thậm chí có nguy cơ biến mất, trong nhịp sống đô thị ngày càng gấp gáp, cư dân ngày càng biến động, con người dường như ngày càng xa nhau... những ký ức ấy càng trở nên mong manh.
Việc nhìn nhận sân khấu kịch nói Kim Cương như một di sản đô thị không chỉ mang ý nghĩa tri ân một nghệ sĩ, một đoàn hát hay một giai đoạn sân khấu, mà còn là lời nhắc nhở về trách nhiệm gìn giữ ký ức tinh thần của đô thị, thứ ký ức không nằm trong bảo tàng, mà sống trong ký ức cộng đồng.
Đó là loại di sản không hiện hữu bằng hình khối, không đo đếm bằng niên đại, mà tồn tại trong ký ức tập thể của người xem, trong cảm xúc đã từng được cộng hưởng và chia sẻ giữa sân khấu và khán giả.
Đó là thứ di sản chỉ có thể được tiếp nối bằng sự ghi nhớ, bằng nghiên cứu, bằng việc duy trì các “sân khấu kịch nói TP. HCM” mang hơi thở, suy nghĩ của “người Sài Gòn”, và bằng sự trân trọng của các thế hệ sau đối với những giá trị nhân văn đã từng làm nên bản sắc Sài Gòn!
----





Dạy sử thời hậu chiến: làm thế nào để trưởng thành từ bài học lịch sử?

  Góc Nhìn Phát Triển | 04/11/2013 Nghiêm Hoa

http://dienngon.vn/Blog/Article/day-su-thoi-hau-chien-lam-the-nao-de-truong-thanh-tu-bai-hoc-lich-su

Chiến tranh, xung đột vũ trang và bạo lực là hoàn cảnh làm nảy sinh những vi phạm nhân quyền trắng trợn và tràn lan nhất. Di sản của một cuộc chiến cần được nhìn nhận như thế nào để đau thương không lặp lại và những vi phạm nhân quyền ở quy mô lớn như vậy không tái diễn? Với tư cách là một môn khoa học xã hội nhân văn, việc viết sách giáo khoa sử và dạy sử ở một xã hội hậu chiến cần được cân nhắc như thế nào từ góc độ nhân quyền?

“Việc dạy sử cần hướng đến thúc đẩy tư duy phê phán, học hỏi và tranh luận dựa trên lý tính, nhấn mạnh tính phức hợp của lịch sử, việc dạy sử cần làm nảy sinh cách tiếp cận mang tính so sánh và đa diện. Việc dạy sử không nên đặt ra mục đích đắp bồi chủ nghĩa yêu nước, tô đậm bản sắc dân tộc hay gò khuôn cho lớp trẻ, dù là theo lý tưởng chính thống hay một tôn giáo đang chiếm ưu thế”.

Đó là phát biểu của bà Farida Shaheed, Báo cáo viên Đặc biệt về các quyền con người trong lĩnh vực văn hóa trước Đại hội đồng Liên Hợp quốc về việc viết sách giáo khoa môn sử và dạy sử ở những xã hội thời kỳ hậu xung đột và hậu chiến. Nhân dịp bà Shaheed sẽ sang thăm chính thức Việt Nam theo lời mời của Nhà nước từ ngày 18 đến 29 tháng 11 năm 2013, bài viết này thảo luận một số vấn đề xung quanh tuyên bố trên đây.

Làm gì với vết thương hậu xung đột?

Điều gì sẽ xảy ra với con người cá nhân trong một cuộc xung đột? Cuộc xung đột, ở quy mô nhỏ, có thể là mối mâu thuẫn cá nhân với một người khác. Ở quy mô lớn, xung đột có thể là mâu thuẫn giữa hai hoặc nhiều tập hợp xã hội, hai tôn giáo, hai quốc gia. Dạng thấp nhất của một cuộc xung đột có thể là sự không dung hòa giữa hai cách suy nghĩ hoặc hành xử khác nhau. Dạng xung đột cao nhất với mức độ bạo lực cao nhất là chiến tranh. Ở bất kỳ cấp độ và quy mô nào, hậu quả trực tiếp của xung đột bạo lực với cá nhân hay với một nhóm, dù ở bên nào, là sự tổn thương mất mát.

Câu hỏi đặt ra với những thế hệ bước ra khỏi cuộc chiến là, từ những nỗi đau thương của mình, họ muốn để lại thông điệp gì cho thế hệ tiếp theo. Cách thức đối diện với vết thương hậu xung đột sẽ đè nặng và phá hủy nhân cách của một cá nhân hoặc một dân tộc, hay sẽ giúp một họ đứng lên mạnh mẽ như phượng hoàng bay lên từ tro tàn? Quan trọng hơn, phượng hoàng ấy sẽ khiến xung quanh kinh hoàng hay thán phục, sẽ giúp viết nên một trang chỉ lặp lại và kéo dài thêm nỗi đau, hay sẽ tiến bộ và nhân văn hơn? Người Đức mất đến hai lần thua cuộc đại chiến thế giới để tự học và khẳng định tư thế một nước lớn với những giá trị vững vàng. Người Nhật, từ bên thua cuộc trong Thế chiến thứ Hai, đã viết cho mình một chương lịch sử mới khiến thế giới kính nể.

Cách thức một cá nhân hay một dân tộc tự nhận thức về mình và nhận thức về thế giới xung quanh khi họ bước ra khỏi cuộc xung đột mang tính bạo lực, dù ở tư cách bên thắng cuộc hay bên thua cuộc, sẽ định hình vận mệnh tiếp theo của cá nhân hay dân tộc đó.

Trách nhiệm lịch sử của thế hệ sau là truyền bá sự thù địch hay xây đắp hòa bình?

Từ một trải nghiệm mất mát có thể sinh ra nhiều tâm lý khác nhau. Sự thù hận là một hệ quả mang tính bản năng của mất mát. Sự mất mát và tâm lý hơn thua chính là động lực nuôi dưỡng những mối thù được truyền kiếp trong lịch sử của một dòng tộc, một tôn giáo, một nhóm người hay một dân tộc. Điều đó chẳng khác gì việc giữ lại một hạt giống bạo lực chỉ chờ có dịp sẽ nảy mầm sinh sôi. Chỉ khi nào chúng ta không còn chất lên vai thế hệ sau gánh nặng thù địch kết quả từ một cuộc chiến, chúng ta mới có thể đoạn tuyệt khỏi thời kỳ tăm tối của lịch sử loài người mà kẻ thua trận và cả con cháu của họ sẽ phải làm nô lệ.

Thế hệ sau, dù thừa hưởng di sản là nỗi đau của một cuộc chiến, không cần và không đáng phải mang trên lưng mình ý thức cừu địch và nhiệm vụ trả thù. Romeo và Juliet không cần và không đáng phải đeo một mối thù truyền kiếp giữa hai dòng họ mà họ vốn chẳng trực tiếp liên quan. Tuổi trẻ và trường học là mảnh đất màu mỡ để gieo nhiều loại hạt giống khác nhau. Vì vậy cần chọn hạt giống của tư duy khoa học, lòng vị tha và tình bác ái thay vì hạt giống thù hận, chia rẽ và bạo lực.  Sự thù hận không chỉ nảy sinh từ vết thương bạo lực của tất cả các bên xung đột. Tâm lý vẻ vang với chiến thắng cũng có thể làm nảy sinh thù hận.

Trong một cuộc chiến, người tham chiến cần được coi là chiến binh chuyên nghiệp mà vinh quang là của cả người thắng cuộc lẫn người ngã xuống. Bên thắng cuộc được hưởng vinh quang, nhưng vinh quang ấy không thể thiếu vẻ đẹp mã thượng thể hiện lòng tôn trọng với đối thủ thua cuộc. Bên thua cuộc cũng có vinh quang của họ bởi cái giá xương máu họ đã phải trả cho một cuộc chiến. Có nghĩa là khi cuộc chiến kết thúc, người ngã xuống thương vong hoặc bên thua cuộc cần được đối xử như những con người với đầy đủ phẩm giá của họ.

Không phải ngẫu nhiên mà ngày nay nhân loại công nhận đây là một nguyên tắc nền tảng của Luật Chiến tranh – hay các Công ước Geneva trong Luật Nhân đạo quốc tế. Nguyên tắc này giảm thiểu sự tàn bạo trong một hoàn cảnh tàn bạo nhất, và là một nỗ lực để không gieo những hạt mầm bạo lực. Việc dạy và học sử ở nhà trường cũng cần tôn trọng và thực hành nguyên tắc nhân bản này.

Môn sử cần giúp nhận thức trưởng thành cả về lý tính và nhân tính

Cả tâm lý thù hận do mất mát và tâm lý vẻ vang với chiến thắng đều che mờ khả năng lý tính để nhận thức sự việc một cách khách quan. Ngược lại, vận dụng lý tính và thúc đẩy việc nhận thức sự việc một cách khách quan, dựa trên các bằng chứng khoa học và việc soi sáng những bằng chứng ấy bằng tư duy độc lập và biện chứng cho phép chúng ta tiến gần hơn đến thực tế. Những diễn biến trong lịch sử và đặc biệt là trong một cuộc xung đột là vô cùng phức tạp bởi nó liên quan đến nhiều bên khác nhau, nhiều luồng tư tưởng, nhiều lợi ích khác nhau, nhiều mối quan hệ quyền lực và cả những ý đồ chính trị khác nhau.

Mỗi chứng nhân của lịch sử có thể mô tả sự kiện họ đã liên đới theo cách nhìn khác nhau, xuất phát từ vai trò, quan điểm và ý thức hệ của họ, từ đó tạo ra một phiên bản lịch sử của họ. Bởi thế không có một phiên bản mô tả lịch sử nào có thể coi là trọn vẹn và duy nhất. Cũng như không có sự thực nào là hoàn hảo do nhận thức của con người là giới hạn, và do bản chất phức tạp của cả thực tại khách quan lẫn quan điểm và phẩm chất của con người.

Bởi thế, bản thân những mô tả về lịch sử cũng đa dạng, mà chúng ta chỉ có thể biết về một sự kiện một cách bao quát hơn bằng cách tập hợp nhiều góc nhìn, nhiều phiên bản, nhiều bằng chứng. Phủ nhận một góc nhìn khác cũng chính là phủ nhận một cơ hội tiến gần hơn đến sự thật. Chính vì thế, thúc đẩy những tranh luận dựa trên bằng chứng khoa học chứ không phải bản năng trả thù, chấp nhận tính phức hợp và đa nguyên của lịch sử chứ không phải những thông tin một chiều nặng tính tuyên truyền sẽ giúp chúng ta tiến gần hơn đến tri thức.

Môn sử trong nhà trường trước hết cần đóng vai trò là một môn khoa học giúp người học phát triển về khả năng tư duy để nhận thức về bản thân và thế giới, từ đó lựa chọn số mệnh của mình một cách ngôn khoan hơn. Môn học ấy cũng cần bồi đắp tinh thần nhân văn và sự khoan dung để giúp thế hệ sau xung đột biết cách tránh được xung đột và mất mát, thay vì biến họ thành những hạt giống mới của bạo lực, thành phương tiện truyền đạt hoặc công cụ  xương máu cho các chủ nghĩa hoặc các ý thức hệ.

Với tư cách là một khoa học nhân văn, việc dạy và học môn sử ở xã hội hậu xung đột có vai trò phá vỡ vòng xoáy bạo lực để tránh sự lặp lại những vi phạm nhân quyền tràn lan trong chiến tranh: Ký ức và trải nghiệm được ghi nhận và truyền bá không phải là những thông điệp bạo lực, mà phải tạo điều kiện cho sự nhận diện bạo lực và thức tỉnh khỏi bạo lực.  Những bài học lịch sử không nên truyền đạt sự thù hận địch – ta, bởi nó cần sự khách quan từ việc công nhận tính đa diện và đa nguyên của một cuộc xung đột.

Nhìn lại một cuộc chiến có những trận đánh được sắp đặt như thế nào là câu hỏi của khoa học quân sự. Những quan hệ quyền lực diễn biến ra sao trong xung đột như thế nào là câu hỏi của khoa học chính trị. Truyền đạt vẻ đẹp của sự hy sinh, lòng trung thành, tình yêu nước hay ghi tạc bản sắc dân tộc là thông điệp của thi ca và nghệ thuật. Còn lịch sử, như một ngành khoa học và người dạy sử như một người hướng dẫn phát triển tư duy cần làm nhiệm vụ khai sáng để giúp người học nhận thức rõ ràng hơn về thế giới trong quá khứ, và hướng đến một tương lai chung sống hòa bình.

Bài này mình copy về FB lâu rồi, link bây giờ cũ không truy cập được.



HỘI AN - TỪ TIẾP CẬN KCH ĐÔ THỊ (trích một báo cáo HTKH 2021)

Từ năm 1995, tại Hội thảo khoa học “Văn hóa Sa Huỳnh ở Hội An” tôi có tham luận “Về những yếu tố Sa Huỳnh trong văn hóa Giồng Phệt”. “Dù mọi so sánh đều là khập khiễng nhưng không thể không nhận thấy trong giai đoạn tiền – sơ sử, vị thế địa – lịch sử và bản sắc địa – văn hóa của Cần Giờ trong bối cảnh miền Đông Nam bộ đã có những nét tương đồng với Hội An trong bối cảnh vùng Quảng Nam – Đà Nẵng, ít nhất ở ba điểm sau:

- Là hai khu vực có dấu tích văn hóa khảo cổ trên những vùng đất cao giữa một phức hệ sông chằng chịt vùng cửa biển: Hội An với sắc thái văn hóa cồn – bầu còn Cần Giờ là sắc thái văn hóa giồng trên vùng ngập mặn.
- Những di tích văn hóa khảo cổ ở Cần Giờ và Hội An phần nào thể hiện sự chuyển tiếp từ thời kỳ tiền – sơ sử lên thời kỳ lịch sử của vùng đất phía Nam của tổ quốc: Văn hóa Sa Huỳnh lên văn hóa Champa và nước Champa; Văn hóa Giồng Phệt lên văn hóa Óc Eo và nước Phù Nam. tất nhiên không chỉ/không phải đơn tuyến và đơn giản như vậy!
- Là những cảng thị cổ cho thấy mối quan hệ giao lưu rộng rãi và mạnh mẽ của hai khu vực này với nhiều nơi ở ĐNA và xa hơn... Đây là những yếu tố quan trọng góp phần cho sự phát triển rực rỡ của văn hóa giồng Phệt và văn hóa Sa Huỳnh thời tiền sử, văn minh Óc Eo, văn minh Champa trong những thế kỷ về sau”.
Có thể coi đó là những đặc trưng của Hội An thời tiền – sơ sử, cách nay trên dưới hai ngàn năm. Từ đó và trên cơ sở đó, trong quá trình lịch sử về sau Hội An đã tạo dựng được bản sắc riêng mà không làm thay đổi những đặc trưng vốn có, phát triển nó trong bối cảnh xã hội mới, phản ánh toàn diện những mối quan hệ giao lưu kinh tế - văn hóa của Hội An – Xứ Quảng – Đàng trong với nhiều quốc gia.
Thương cảng Hội An hình thành từ thế kỷ XVI, thịnh đạt nhất trong thế kỷ XVII-XVIII và suy giảm từ thế kỷ XIX. Mặc dù thời gian tồn tại không dài, quy mô của đô thị Hội An trong thời thịnh vượng không lớn, nhưng Hội An có vị trí và vai trò quan trọng, có đặc trưng lịch sử - văn hóa độc đáo. Cho đến nay, trong khi hầu hết các đô thị cổ khác trải qua những biến thiên của lịch sử và điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên đã bị hư hỏng biến dạng, hoặc bị cải tạo xây mới theo kiểu hiện đại, chỉ sót lại vài di tích rời rạc, thì Hội An lại được bảo tồn khá nguyên vẹn. Chính vì vậy mà đô thị cổ Hội An được Unesco công nhận là Di sản văn hóa thế giới căn cứ vào hai tiêu chí:
*Hội An là biểu hiện vật thể nổi bật của sự kết hợp các nền văn hóa qua các thời kỳ trong một thương cảng quốc tế.
*Hội An là điển hình tiêu biểu về một cảng thị châu Á truyền thống được bảo tồn một cách hoàn hảo .
Cùng với đó, Hội An còn như “bảo tàng sống” của một đô thị truyền thống, một không gian văn hóa phi vật thể hết sức phong phú và giá trị. Cuộc sống thường nhật của cư dân phố cổ với những lối sống nếp sống, phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nghệ thuật dân gian, lễ hội truyền thống, tri thức dân gian phong phú và đa dạng. Tất cả sinh hoạt văn hóa cộng đồng được “Người Phố Hội” gìn giữ và lưu truyền tạo nên sức hấp dẫn lớn.
Như vậy từ điều kiện tự nhiên và quá trình lịch sử, Hội An đã phát triển các đặc trưng thời tiền - sơ sử thành ba đặc trưng cho Hội An ngày nay:
1/Đô thị - thương cảng cổ
2/Đô thị dung hợp nhiều nền văn hóa
3/Bảo tàng sống của đô thị truyền thống
Đó là ba “ADN văn hóa” cơ bản gắn bó chặt chẽ với nhau và là điều kiện cho nhau tồn tại. Nếu các ADN này biến mất hay biến dạng thì Hội An sẽ không còn là Hội An nữa, thành phố không còn những “tài nguyên văn hóa” là “lợi thế cạnh tranh” trong khu vực và quốc tế, đảm bảo cho phát triển bền vững.
Mỗi đô thị đều sở hữu những tài nguyên văn hóa riêng biệt, độc đáo, bao gồm di sản lịch sử, nghệ thuật kiến trúc, cảnh quan đô thị hoặc địa danh. Chúng cũng bao gồm truyền thống địa phương và bản địa về cuộc sống cộng đồng, lễ hội, nghi thức, ngôn ngữ, ẩm thực, các hoạt động giải trí... hợp thành tài nguyên văn hóa của đô thị. Một trong những phương thức khai thác hiệu quả tài nguyên văn hóa và thúc đẩy chúng phát triển, đồng thời duy trì và “bảo tồn” những tài nguyên ấy là sáng tạo “sản phẩm văn hóa mới” từ “tài nguyên, nguyên liệu” vốn có của địa phương. Khi yếu tố sáng tạo được chú trọng trong việc sử dụng và phát huy tài nguyên văn hóa, nó sẽ mang lại những lợi ích kinh tế to lớn.
Hình: Thăm nhà văn Nguyên Ngọc. Hội An 7.1.2022





BẠN VỀ QUÊ Ở



Anh nhắn: chiều ngồi đâu lai rai chút, mai tui về quê. Hỏi: Bao giờ lên? Anh: Về ở luôn dưới đó, đồ đạc sách vở chuyển đi hết rồi.
Anh là một người nghiên cứu “tự do”: không làm ở một cơ quan nào cả, không bị ràng buộc bởi các quy định của công chức và đương nhiên không có đồng lương cơ bản cùng những thu nhập khác ngòai lương, tuy ít ỏi nhưng cũng neo được nhiều người trong cái bộ máy cồng kềnh của nền học thuật hành chánh. Nhưng nhờ vậy mà anh có thể tòan tâm tòan ý theo đuổi những gì mình say mê: nghiên cứu, biên dịch tài liệu cổ sử, những vấn đề văn hóa… khi rảnh rang còn viết cả truyện ngắn. Thu nhập thất thường vì không phải ai cũng hiểu được giá trị những tư liệu anh công bố (nhưng cũng có trừờng hợp chính vì người ta hiểu quá rõ giá trị của tư liệu nên...).

Từ nhiều năm qua để lại vợ con ở quê, anh sống một mình ở thành phố này, lặng lẽ, khiêm nhường, cần mẫn làm nhiều việc để kiếm sống. Dù làm việc gì anh cũng không từ bỏ niềm đam mê nghiên cứu cổ sử của mình. Nhiều lần kêu anh đi cà phê, anh nói không có rảnh, bạn bè chọc: ông làm gì mà bận, chảnh dữ ha. Anh cười: đang viết bài trả nợ nè. “Nợ” là chính anh tự nợ mình một vấn đề khoa học chứ đâu phải nợ ai tiền bạc. Và bạn bè biết sắp được anh chia sẻ một công trình nghiên cứu nghiêm túc và có giá trị. Được in hay không, với anh không quan trọng, vấn đề là anh đã làm được nhiều việc chắn chắn hữu ích cho những ai quan tâm đến lịch sử văn hóa hôm nay và mai sau.Không có nhiều “nhà” nghiên này cứu nọ trong các viện, trường mà viết được như anh. Có lẽ khi tự thóat khỏi những ràng buộc cơm áo sân si chức vị đời thường, từ ý thức công dân và bằng tri thức của mình, người nghiên cứu sẽ tìm thấy không gian tư duy tự do cho ý tưởng bay lên, như cánh diều trên bầu trời lộng gió.

Dọn về quê, đồ đạc của anh không có gì, nhiều nhất chỉ là sách. Hàng ngàn cuốn sách quý anh cân nhắc chọn lựa mua bằng đồng nhuận bút khiêm tốn, tìm kiếm trong hầu hết các hiệu sách cũ khắp Sài Gòn, Chợ Lớn… Không hiểu sao anh có thể sắp xếp hết chừng đó sách vở trong ngôi nhà anh ở thuê nhỏ xíu không đủ chỗ mà quay qua quay lại? Có người nói đùa: số sách này bán đi ông sống khỏe cả đời. Anh cười hiền lành: sống đui mù cực lắm ông ơi.

Năm nào cũng vậy, gần Tết là anh mua giấy dó mực tàu rồi cùng bạn bè ngồi ở một nơi nào đó, viết chữ cho bạn, cho cả người qua đường. Thư pháp Hán Nôm của anh tuyệt vời, mềm mại mà cứng cỏi, thanh thóat. Mỗi người đều nhận ra mình trong mỗi chữ nôm na anh tặng.
Những lần ngồi lai rai trong quán nhỏ bên bờ kè, anh kể chuyện xưa chuyện nay bằng cái giọng từ từ, tưng tửng… Bạn bè mỗi người góp một câu rồi cùng cười nghiêng ngả. Sau những trận cười là nỗi đắng cay, người viết có tâm thời nào cũng vất vả…

Thời buổi lạm phát, nơi đô thành sống khó khăn quá thì anh cứ về quê mà ở nhưng đừng đi ẩn nhé. Về đó yên tĩnh viết lách, theo đuổi công việc nghiên cứu nhọc nhằn…  Sài Gòn – Định Tường đâu có xa xôi, xe cộ giờ rất sẵn. Rảnh thì nhắn nhe lên xuống thăm nhau, nếu có ngồi bờ kè nhớ nhau thì kêu điện thọai, mà cần gì còn có email, khó gì…

Tưởng chỉ ngày xưa mới có chuyện vào lúc thời buổi nhiễu nhương trắng đen lẫn lộn vàng thau khó lường, thì các nho sĩ bèn rời bỏ kinh thành về quê ẩn dật… Bỗng ngậm ngùi. Người như anh dường như “vận” cả số phận quê hương…

Tạp chí Tia sáng ngày 22.8.2012. Repost nhân dịp nhà nghiên cứu PHẠM HOÀNG QUÂN ĐOẠT GIẢI SÁCH HAY 2019

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, trong nhà

Không có mô tả ảnh.

QÚA TRÌNH HÌNH THÀNH NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG NAM BỘ (kỳ 4)

PHỤ LỤC

MỘT SỐ NGHỆ SĨ PHỔ BIẾN, CẢI BIÊN VÀ  SÁNG TÁC BÀI BẢN

- Một số tay đờn tài hoa của xứ Huế như ông Dùng, ông Tam … mang vào Nam những bài bản cổ nhạc sẵn có của xứ Huế như: Lưu thủy, Kim tiền Huế, Hành vân Huế, Nam Xuân, Nam Ai, Xuân tình …
- Khi những bài bản ấy được phổ biến thì các tay khoa bảng của miền Nam như Phan Hiền Dạo, Tôn Thọ Tường (từng du học đất Huế), Trịnh Hoài Nghĩa (giáo thọ dạy chữ nho trường trung học Mỹ Tho khoảng năm 1907) cũng dựa trên cơ sở đó mà lần lượt soạn ra những bản Lưu thủy, Phú Lục, Xuân tình, Hành vân theo lối cổ nhạc miền Nam.
- Các thầy đờn gốc ở đất Quảng như cha con ông Nguyễn Liêng Phong cũng mang vào Nam một số bài ca Huế được cải biên. Con ông Nguyễn Liêng Phong là Nguyễn Tùng Bá (tức Tư Bá) có soạn tập bản đờn kìm (khoảng 20 bài), xuất bản trước năm 1923. Sau đó ông Bá xuống Sóc Trăng dạy đờn.
- Ông Trần Quang Quờn đã phổ biến 10 bản ngự của Huế: Phẩm tuyết, Nguyên tiêu, Hồ quảng, Liên huờn, Bình bán (tức Bình nguyên), Tây mai, Kim tiền, Xuân phong , Long hổ, Tẩu mã và đặt cho cái tên là Thập thủ liên huờn.
- Năm 1899, khi vua Thành Thái vào Sài Gòn thì ông Ba Đợi (tức Nguyễn Văn Đại) người miền Trung vào ngụ ở Cần Đước, Long An đã sáng tác ra 8 bài ngự, dùng vào cuộc hòa tấu để nghênh giá. Mục đích làm những bài này để giãi tỏ với vua Thành Thái – một ông vua có tư tưởng yêu nước chống Pháp – nỗi khổ của người dân miền Nam sống dưới ách nô lệ, 8 bài gồm: 
1)         Đường Thái Tôn (ám chỉ vua Thành Thái).
2)         Vọng phu (trông chồng, ngụ ý người miền Nam mong ngày giành lại quyền tự chủ cho đất nước).
3)         Chiêu quân (Chiêu quân cống Hồ, ám chỉ 6 tỉnh miền Nam đã giao cho Pháp).
4)         Ái tử kê (thương đàn gà con mất mẹ, ám chỉ người dân mất nước).
5)         Bát man tấn cống (tám nước nhỏ triều đình, ngụ ý thời xưa oanh liệt).
6)         Tương tư (nhớ mong hoặc nhớ thời đất nước còn chủ quyền, hoặc nhớ người yêu nước trôi dạt phương xa).
7)         Duyên kỳ ngộ (vừa có ý nói nỗi mừng gặp vua vừa có ý nói mong đợi ngày đất nước đoàn viên).
8)         Quả phụ hàm oan (trở lại cảnh trước mắt: tiếng kêu oan của người vợ mất chồng).

- Có tài liệu chép: Ông Ba Đợi còn sáng tác các bài: Giang nam, Phụng hoàng, Tứ đại, Phụng cầu …
Ông Hai Khị sáng tác ra các bài: Ngự giá đăng lâu, Ái tử kê.
Ông Trần Quang Quờn và ông Đặng Nhiều Hơn (Mười Hơn) sáng tác ra bài Văn Thiên Tường. Ông Quờn còn sáng tác ra bài Bình sa lạc nhạn.
- Ông Phụng Hoàng Sang đã soạn tập sách dạy đờn ca (Nhà in Đinh Thái Sơn 1909). Các ông Phạm Đăng Đàn, Nguyễn Tùng Bá, Đỗ Văn Y đã soạn các tập sách dạy đờn ca: Tứ tài tử, Lục tài tử, Bát tài tử, Thập tài tử (Nhà in Phát Toán 1915).

MỘT SỐ BAN NHẠC TÀI TỬ NỔI TIẾNG

1) Ban Kinh Lịch Quờn ở Vĩnh Long do ông Trần Quang Quờn từng làm chức Kinh Lịch thành lập.

2) Ban Tư Triều do ông Nguyễn Tống Triều ở Cái Thia, Mỹ Tho, một nghệ sĩ đờn kìm nổi tiếng thành lập vào khoảng năm 1901. Trong ban này có những nghệ nhân như: Chín Quán (đờn độc huyền), Mười Lý (thổi tiêu), Bảy Vô (đờn cò), cô Hai Nhiễu (đờn tranh), cô Ba Bắc (ca). Phần lớn những tài tử này được chọn đi trình bày nhạc cổ Việt Nam tại cuộc triển lãm thuộc địa Pháp năm 1910. Sau đó thầy Hộ chủ rạp chiếu bóng Casino ở sau chợ Mỹ Tho, muốn cho rạp mình đông khách bèn mời ban tài tử Tư Triều đến trình diễn mỗi tối thứ bảy và thứ tư trên sân khấu, trước lúc chiếu bóng được khán giả hoan nghênh nhiệt liệt.

3) Ban Bảy Triều do ông Trần Văn Triều (1897 – 1931) ở Vĩnh Kim, Mỹ Tho, một nhạc sĩ đờn cò nổi tiếng thành lập. Ông là con trai ông Năm Diệm tên thật Trần Quang Diệm (1853 – 1925) cũng là một nhạc sĩ đờn tỳ. Em gái ông Bảy Triều là cô Ba Viện tức Trần Ngọc Viện cũng nổi tiếng với cây đờn tranh, ngoài ra còn sử dụng được đờn tỳ và thập lục.

4) Ban Ba Chột ở Bạc Liêu. Ông Ba Chột là một nghệ sĩ đờn đàn đoản và đờn sến nổi tiếng, con trai ông Hai Khị làm chức Nhạc sanh (đứng đầu ban cổ nhạc) cho nên còn gọi là ông Nhạc Khị. Ông Nhạc Khị bị đau cổ xạ, ngón tay co rút và ngo ngoe rất khó. Vậy mà ông có tài ngồi trong mùng và chơi một lúc nhiều thứ nhạc khí như: trống, kèn, đờn, chụp chõa… khiến người ngồi bên ngoài tưởng có cả một dàn nhạc hòa tấu.

5) Ban Ái Nghĩa ở Phong Điền, Cần Thơ.

6) Ban Bảy Đồng ở Sa Đéc gồm các nghệ nhân Bảy Đồng (kìm), Chín Dì (cò), Năm Tần (đoản), Hai Lời (tiêu), Mười Nho (tranh) …

MỘT SỐ NHẠC SĨ NỔI TIẾNG

1)         Ông Cao Huỳnh Diêu
2)         Ông Cao Huỳnh Cư
3)         Ông Mười Nhường
4)         Ông Mười Lý
5)         Ông Tư Khôi
6)         Ông Mười Khói
7)         Ông Phạm Đăng Đằng

MỘT SỐ CA SĨ NỔI TIẾNG

1)         Ông Bảy Kiên
2)         Cô Ba Đắc (trong ban Tư Triều)
3)         Cô Bảy Lùng
4)         Cô Tám Sâm
5)         Cô Ba Niệm
6)         Cô Ba Điểu
7)         Cô Hai Cúc (trong ban Bảy Đồng)

MỘT SỐ NHẠC SĨ CÓ NHIỀU TÌM TÒI TRONG VIỆC SỬ DỤNG
VÀ CẢI CÁCH NHẠC CỤ

- Trần Quang Cảnh (Bảy Cảnh) làm trưởng tòa ở Sóc Trăng, sử dụng violon đầu tiên. Thày Bảy Thông dạy trường Bố Thảo (Sóc Trăng) sử dụng mandoline đầu tiên.
- Năm 1920: Trần Văn Huờn (Ký Huờn) ở Mỹ Tho đã thử cải cách đờn gáo thành hồ hai bầu.
- Năm 1920: Giáo Tiên (Rạch Giá) dùng cây guitare và mandoline móc phím để đàn nhạc tài tử.
- Năm 1925: Sáu Tài sử dụng cây violon.
- Năm 1927: Bảy Thạch sử dụng cây guitare Hawaienne.
- Năm 1927: Tư Niệu sử dụng cây violoncelle.

Nguyễn Ngọc Bạch

Kết quả hình ảnh cho "nguyễn ngọc bạch một đời sân khấu"

THẦY PHAN HUY LÊ CỦA CHÚNG TÔI

Chia tay giáo sư Phan Huy Lê - người thầy của nền sử Việt - Ảnh 1.

TS. Nguyễn Thị Hậu
Tổng Thư ký Hội Sử học TP.HCM
Cho đến nay, chúng tôi, sinh viên khoa Lịch sử của trường Đại học tổng hợp TPHCM những khóa đầu tiên sau 1975 vẫn gọi Thầy Phan Huy Lê một cách kính trọng và giản dị như thế dù Thầy có rất nhiều danh hiệu và giải thưởng cao quý. Bởi lẽ đối với nhiều thế hệ học trò, Thầy Phan Huy Lê luôn là một người Thầy điềm đạm, chu đáo và cẩn trọng trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học, nhân hậu và tình cảm với mọi người.
Những giờ học đầu tiên của chúng tôi về Lịch sử là những trang sử thời cổ - trung đại Việt Nam do Thầy Lê phụ trách. Mười thế kỷ chống ách đô hộ của các triều đại phong kiến Trung quốc, những cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Minh – Thanh, qua bài giảng của Thầy đã trở nên sống động và gần gũi với chúng tôi, không phải chỉ từ những chiến thắng hào hùng mà còn từ những “góc khuất” của lịch sử. Những góc khuất ấy, như Thầy nói, không hề làm giảm giá trị của vinh quang mà khi sáng tỏ sẽ làm cho Lịch sử trở nên cao quý hơn!
Thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI được ghi dấu ấn bằng việc phát hiện hàng lọat di tích khảo cổ - lịch sử về kinh thành Thăng Long cổ xưa. Người “đứng mũi chịu sào” đưa ra những kiến nghị về việc cần thiết bảo tồn khu di tích này với tinh thần trách nhiệm, khoa học và đau đáu nỗi lòng với những di sản văn hóa Thăng Long – Hà Nội là Thầy Phan Huy Lê – Chủ tịch Hội KHLSVN. Với riêng tôi, Thầy Lê dù quê hương ở vùng sông Lam núi Hồng nhưng là một “người Hà Nội” vì đây là nơi ông đã sống, làm việc trọn đời, và còn vì ông đã gửi gắm tình yêu và cống hiến cho sự nghiệp nghiên cứu và bảo vệ di sản lịch sử - văn hóa Thăng Long – Hà Nội.
Được làm việc với Thầy trong BCH Hội Khoa học lịch sử VN trong nhiều khóa từ năm 2005 đến nay, tôi luôn nhận được sự chỉ bảo tận tâm của Thầy trong công tác Hội, khi tham gia nghiên cứu lịch sử vùng đất phía Nam, trong cách thức “phản biện” các vấn đề xã hội... Thầy gửi cho tôi những cuốn sách mới của Thầy, mỗi lần gặp Thầy lại động viên “Mình mới đọc bài của Hậu viết về bảo tồn di sản Sài Gòn. Cố gắng nhé!”. Vài năm sau này, quanh việc nghiên cứu Triều Nguyễn và một số nhân vật lịch sử, Thầy đã chia sẻ với chúng tôi về trách nhiệm của người nghiên cứu là phải vượt qua bằng được những khó khăn để có thể khôi phục “sự thật lịch sử”.
Dẫu biết Thầy đã phải nằm viện từ những ngày trước, nhưng thật đột ngột là tin Thầy đã ra đi... Với chúng tôi, sự ra đi của những người Thầy như Thầy Trần Quốc Vượng, Thầy Đinh Xuân Lâm và Thầy Phan Huy Lê đã để lại những khoảng trống không dễ gì bù đắp, dù các Thầy không bao giờ muốn học trò coi mình là “thần tượng”.
Sài Gòn 23.6.2018
https://tuoitre.vn/chia-tay-giao-su-phan-huy-le-nguoi-thay-cua-nen-su-viet-2018062411391966.htm

Linh tinh lang tang (162 ). Vài nhời về một Hội thảo



Vậy là kết thúc hai ngày Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ 5 tại Hà Nội. 

So với những lần trước thì hội thảo lần này “3 không”: không tài trợ vé máy bay, không được ở khách sạn “miễn phí” và không có nhuận bút. Thật ra những hội thảo trước cũng không nhuận bút nhưng thường có một tập kỷ yếu hoặc một CD-rom in toàn văn các báo cáo của hội thảo. Người tham dự coi đó như là nhuận bút vì được thêm thông tin, tài liệu mình quan tâm, nếu may mắn thì có được tài liệu mới. Lần này chỉ có một tập các tóm tắt báo cáo, chương trình các tiểu ban và cuốn tạp chí của ĐHQG chuyên đề HT VNH (nhưng phải ký tên vào đến 4 tờ danh sách… hic hic!)

“500 anh em” phía Nam ra dự HT lần này rất ít, phần nhiều vì “3 không”.

Các tiểu ban HT lần này thể hiện tính chất liên ngành rộng hơn so với những lần trước. Mình chỉ tham dự tại tiểu ban 2 “Nguồn lực văn hóa” mà không thể tham dự hết các tiểu ban khác, nhưng từ quan sát của mình, qua các bản tóm tắt và thông tin từ bạn bè ở các tiểu ban thì có thể thấy vài điểm sau đây (nếu so với lần thứ 4 gần nhất):

-         Phiên khai mạc và bế mạc đều vắng nhiều. Phiên khai mạc đến sát giờ rồi mà hội trường còn thưa thớt. Đến 9g mới khai mạc (giấy mời và chương trình ghi 8.30) người tham dự chỉ ngồi đầy hai dãy ghế giữa hội trường còn hai cánh thì hầu như còn trống. Lần trước, cũng tại đây, mới 8g hội trường đã không chỗ trống cả trên lầu, khi khai mạc nhiều người còn ngồi tạm ở cả bậc lên xuống. 

-         Tham dự lần này có nhiều người trẻ: phiên khai mạc còn có cả một số sinh viên được trường đưa đến. Ở các tiểu ban người nghiên cứu trẻ có mặt khá nhiều trong vai trò báo cáo viên và người thảo luận. Các bạn mạnh dạn, tự tin, nhiều người khá sắc sảo. Phần lớn những bạn trẻ đó học ở nước ngoài về (thạc sĩ, tiến sĩ), ngoại ngữ tốt, tư duy liên ngành gần như “thường trực” nên cách tiếp cận vấn đề khá cởi mở. 

-         Nhiều đồng nghiệp ở các viện, trường ở HN không tham dự ngay từ khâu gửi bài. Chắc bận rộn quá. Ở HN luôn có nhiều hội thảo quốc tế nên chia sẻ sức lực cũng mệt. SG là “vùng sâu vùng xa” 4 năm mới có dịp gặp lại đồng nghiệp gần xa nên ráng chút xíu J Vui vì gặp nhiều anh chị và các bạn đồng nghiệp tâm huyết và tử tế với nghề, mặc dù vẫn gặp nhau trên FB nhưng nói chuyện ngoài đời vẫn thú vị hơn chứ, nhất là với các bạn trẻ.

-         Mình hy vọng được gặp một số học giả nước ngoài nghiên cứu về VN mà mình kính nể, nhưng chẳng có ai cả :( Cũng tiếc không gặp các bạn trẻ Hán Nôm mà mình luôn quý mến :)

-         Không biết tiểu ban khác thế nào chứ TB 2 của mình, các topic ở phòng 219 báo cáo đúng giờ, thảo luận sôi nổi và vui nữa, hầu như không bị tình trạng “buồn ngủ” như nhiều HT khác J Có lẽ vì đề tài đa dạng nhưng đều có cái gốc là “lịch sử - văn hóa” nên phong phú nhiều ý kiến, trong đó nhiều ý kiến xác đáng!

-         Nghe các báo cáo và trao đổi với một số nhà nghiên cứu Nhật Bản, kể cả những NCS của họ, mình hình dung (không biết đúng không) việc nghiên cứu VNH của họ như một bức tranh tổng thể đã được định hướng rõ ràng, mỗi nhà nghiên cứu, mỗi công trình như một “mảnh ghép” của bức tranh đó. Kết hợp tất cả lịch sử - văn hóa VN khá đầy đủ các giai đoạn các lĩnh vực. Vấn đề là mỗi người “chịu” làm một/vài mảnh ghép nhỏ hay lớn, biết cách “khớp” với nhau để dần dần (không vội vã) làm nên một bức tranh toàn diện.

-         Lần này theo lịch của HT có đến 2 cuộc “diện kiến” lãnh đạo đảng và nhà nước, tất nhiên chỉ có một số người do BTC bố trí, chắc đó phải là những người nổi tiếng trong nước, việt kiều và người nước ngoài. Cũng có 2 cuộc gặp mặt trước và sau HT của những VIP. Hình như đây cũng là cái mới của HT lần này (ít nhất là mới vì có thông báo và có in trong chương trình hẳn hoi) :D

-         Lần sau, hội thảo lần thứ 6 vào năm 2020 sẽ do Viện Hàn lâm KHXH VN đăng cai, chấm dứt “triều đại” 5 lần tồ chức của ĐHQGHN :D

Còn gì nữa nhỉ? À, hai hôm nay Hà Nội chuyển lạnh vừa đủ, không mưa, thời tiết đẹp quá… Nói chung cứ mình ra HN là đẹp giời thuận tiết :)
Nhưng dù vậy, mai mình cũng về SG rồi, ra vẻ bận rộn tí khi không có ai níu giữ “người ở đừng dìa” :D

Hà Nội 16/12/2016 


Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng và hoa


Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang ngồi, đang đứng và trong nhà
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng

TRÀ VÀ CÀ PHÊ KẾT NỐI GIA ĐÌNH

  Trong gia đình tôi, nếu nhìn vào thói quen uống nước thôi cũng có thể thấy cả một dòng thời gian lặng lẽ trôi qua. Thời ông bà tôi tr...