Hiển thị các bài đăng có nhãn báo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn báo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thương nhớ những hàng cây

https://tuoitre.vn/thuong-nho-nhung-hang-cay-20240512091631695.htm 

Nguyễn Thị Hậu

Những ngày này ở TP.HCM và nhiều nơi khác, có những con đường với hàng cây cao lớn bị tỉa cành chặt nhánh vì sắp vào mùa mưa, một số đường có cây xanh bị chặt từ lâu để làm hạ tầng nhưng đến nay vẫn chưa trồng lại, hoặc cây mới trồng còn quá nhỏ đang héo hắt trong mùa nắng. Giữa những ngày nắng nóng này, những tin tức về chặt tỉa nhưng làm cây xanh trụi lủi hay hàng trăm cây xanh sắp bị chặt hạ để làm hạ tầng khiến tôi và nhiều người khác vô cùng tiếc nuối.

Ở đô thị, cây xanh gắn liền với các tuyến đường tạo ra mảng xanh để cân bằng cảnh quan với những khối gạch đá bê tông kính thép, điều hòa không khí tạo sự trong lành và tươi mát cho không gian hạn hẹp của đô thị. Sự sinh động muôn màu sắc hình dáng của cây xanh tạo nên vẻ đẹp tự nhiên mà không bàn tay con người nào có thể làm được. Một đô thị không thể thiếu cây xanh, công viên, thiếu những hàng cây cổ thụ với mùa đâm chồi nảy lộc, mùa lá bay như níu bước chân người.

Tôi cứ hay lần dở những tài liệu về cây xanh theo chiều dài lịch sử đô thị. Hơn trăm năm trước Sài Gòn rất đẹp vì “đường phố rợp bóng cây, tất cả như chìm ngập trong một đại dương xanh. Nhìn từ trên cao xuống, từ chòi quan sát trên nóc một con tàu hoặc từ các tháp của nhà thờ, Sài Gòn hiện ra như một công viên rộng lớn”. Trong thời kỳ đầu tiên quy hoạch và xây dựng đô thị thì “phần lớn cây trồng đều được Sở Cầu đường lấy từ vườn ươm trong vườn Bách thảo” tạo nên  hệ thống cây xanh đường phố mà đến nay vài con đường còn những hàng cây cổ thụ cao vút. 

Thành phố càng phát triển, dân số càng tăng lên thì đúng ra diện tích cây xanh càng phải tăng gấp nhiều lần. Tuy nhiên số lượng mảng xanh và không gian chung đang dần bị thu hẹp trước sự “bành trướng” của các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và đô thị mới. Chỉ xét riêng về mật độ cây xanh, trung bình người dân ở các thành phố lớn như TP.HCM hay Hà Nội được thụ hưởng diện tích mảng xanh còn thấp hơn so với chỉ tiêu quy hoạch và với tiêu chí 9m2 cây xanh/người mà theo WHO là cần thiết để được sống khoẻ mạnh và cân bằng.

Và cứ trước mùa mưa là cây bị chặt cành mé nhánh đế trơ trụi, dù qua mùa nắng gắt cây chưa kịp phát triển tán lá, tầng nước ngầm chưa đủ cung cấp cho bộ rễ hồi phục. Trong khi đó việc trồng cây xanh không đủ đền bù cho nhiều cây xanh lâu năm bị chặt hạ để xây dựng hạ tầng giao thông. Tôi cứ tiếc ngẩn ngơ những hàng cổ thụ ở đường Tôn Đức Thắng cao vút và xanh um trước đây. Khi hàng cây bị chặt để nhường chỗ làm đường kết nối cầu Ba Son, đã có những lời hứa về việc trồng lại cây xanh. Nhưng cho đến nay, cây trồng lại thưa thớt và không lớn nổi, con đường vẫn nắng chang chang…

Tại các thành phố, hàng ngày cây xanh cần được chăm sóc theo đặc điểm của từng loại, khi cây “bị bệnh” thì chữa trị ngay. Cũng như các di tích kiến trúc cần được kiểm tra theo dõi, sửa chữa thường xuyên, phải trùng tu ngay nếu hư hỏng... Ngay cả việc xây dựng một công trình mới nếu liên quan đến số phận của nhiều cây xanh cũng cần cân nhắc, một mức độ nào đó phải được xem xét như phải di dời một tòa nhà cổ nhường chỗ cho công trình hiện đại, vì hiện nay cây xanh ở đô thị cũng được coi là một loại “cổ tích”. Một đô thị hiện đại văn minh không thể vắng thiên nhiên và di sản mà cây xanh lại đồng thời có cả hai đặc tính đó.

Thời gian sắp tới ở TP.HCM và nhiều đô thị khác sẽ xây dựng nhiều trục giao thông mới. Bộ mặt giao thông đô thị cần phải khởi sắc và phát triển, nhưng điều đó không có nghĩa là đi liền với việc đốn đi những hàng cây xanh. Những con đường và công trình hạ tầng luôn có tuổi vì không tồn tại lâu dài, nhưng những hàng cổ thụ thì không có tuổi, vẫn tồn tại mãi. Aai ai cũng tiếc khi đốn hạ cây xanh thì hãy tìm những giải pháp thay thế để duy trì những hàng cây, góp phần tạo ra TP xanh có môi trường sống xanh và sạch cho con người.

 


 

BAO GIỜ CẢI LƯƠNG LỘNG LẪY NHƯ XƯA?


Nguyễn Thị Hậu

Gần đây tôi được mời xem một chương trình cải lương. Đó không phải là một vở diễn hoàn chỉnh mà là một câu chuyện về loại hình nghệ thuật này. Buổi diễn giới thiệu khái quát nhưng sắc nét thế nào là cải lương: từ đờn ca tài tử đến ca ra bộ, từ bản dạ cổ hoài lang tới bản vọng cổ, từ vở diễn đề tài xã hội đến tích tuồng lịch sử... những đặc trưng cơ bản về loại hình, kịch bản, tính cách nhân vật và không thể thiếu tính hiện đại của một nghệ thuật truyền thống đặc biệt như cải lương. Qua đó phần nào lý giải vì sao cải lương được người Nam bộ yêu quý và hiện nay vẫn tồn tại trong đời sống người dân miền Tây Nam bộ.

Chương trình làm tôi nhớ những buổi đi nói chuyện có minh họa đờn ca, vũ đạo, trích đoạn vở diễn... về “Lịch sử và đặc điểm nghệ thuật sân khấu cải lương Nam bộ” của ba tôi – đạo diễn Nguyễn Ngọc Bạch - hồi những năm 1975- 1980 ở Nhà văn hóa Thanh niên và nhiều trường đại học tại TP.HCM... Trước đó, vào năm 1969 trong đợt đưa đoàn Nghệ thuật của Việt Nam sang biểu diễn ở Paris (Pháp), ba tôi cũng tổ chức vài cuộc nói chuyện như vậy cho kiều bào ở Pháp, có cả những người nghiên cứu sân khấu truyền thống các nước châu Á tham dự và họ rất thích thú.

Cũng từ lâu rồi cải lương Sài Gòn đã lui về “ẩn dật” khi những rạp hát không còn sáng đèn hàng đêm, thế hệ nghệ sĩ tiền bối lần lượt khuất núi, thế hệ nghệ sĩ nổi tiếng trước sau 1975 cũng lần lượt rời sân khấu... Bởi vậy khi nghe những bài bản cải lương vang lên trong nhà hát, cảm giác như sống lại những năm 1980, thời kỳ sân khấu cải lương Sài Gòn có một sức sống mới qua nhiều vở diễn từ kinh điển đến hiện đại, từ những nghệ sĩ khởi đầu tài hoa đến nhiều nghệ sĩ kế tiếp đầy tài năng, từ sự nhuần nhuyễn của năng khiếu bẩm sinh đến sự thể hiện bài bản của đào tạo, truyền nghề... Hơn hết cả là mỗi đêm diễn khán phòng rạp hát là một không gian giao hòa cảm xúc của nghệ sĩ và biết bao khán giả ở mọi lứa tuổi mọi thành phần.
***
Hồi tôi còn nhỏ gia đình tôi sống trong khu tập thể của Đoàn cải lương Nam bộ (tại Hà Nội), tối ngày ê a theo mấy cô chú và rồi tôi thuộc nhiều bài bản cải lương. Má tôi rất sợ tôi theo nghề của ba tôi vì ông đi diễn quanh năm suốt tháng, hiếm có năm nào ông ăn tết ở nhà. Sau này dẫu không đủ năng khiếu để theo nghề của ba nhưng trong tôi có “dòng máu cải lương”, nghe câu vọng cổ ở đâu tôi cũng nhớ cảm giác náo nức chờ ánh đèn sân khấu lộng lẫy bừng lên khi hai cánh màn mở ra, lại nao nao nhớ về miệt vườn miền Tây những trưa đứng nắng, giọng Lệ Thủy ngọt ngào giọng Thanh Kim Huệ trong vắt từ radio nhà ai văng vẳng, xóm làng bình yên quá đỗi...

Vậy mà bây giờ cải lương chỉ còn trên TV hay đài phát thanh một số tỉnh miền Tây. Vẫn những vở diễn cũ, bài ca cũ nhưng tài năng của các nghệ sĩ làm nhiều người trẻ thích thú. Về miền Tây không ít lần tôi dự đám giỗ chạp, đám cưới hay đơn giản là cuộc vui gặp bạn bè. Lần nào cũng có cuộc đờn ca, cùng một vài bài bản “truyền thống” còn phần lớn là “hát cương”, tức là các “nghệ sĩ vườn” kể một câu chuyện nào đó bằng một bài bản phù hợp nội dung câu chuyện hay tâm trạng vui buồn của mình. Chất “tài tử” chính là ở đó: sáng tác, ứng tác ngay và tàn cuộc thì quên đi, lần sau sẽ lại có sáng tác, ứng tác khác, cuộc đờn ca nào cũng sinh động tươi mới và bất ngờ. Chất “tài tử” còn ở chỗ bất cứ ai cũng là “nghệ sĩ” trong cuộc rượu, nhưng trong mỗi xóm làng sẽ có một số người nổi lên bởi ngón đờn, giọng ca hay sự ứng tác độc đáo. Họ - người bình dân giản dị luôn được sự mến mộ của cộng đồng, bởi tài năng đờn ca tài tử ở họ như loại rượu đế trong vắt, cay nồng mà ngọt êm có thể làm say lòng bất cứ ai dù chỉ một lần nhấp môi.

Qua hơn trăm năm, từ làng quê Nam bộ - “không gian cộng cảm” của những “nghệ sĩ chân đất” - đờn ca tài tử trở thành “dòng sữa mẹ” của sân khấu cải lương. Nhưng khi “Đờn ca tài tử Nam bộ” được vinh danh là “Di sản văn hóa phi vật thể” thì có nơi đã phát cho những “câu lạc bộ đờn ca tài tử” tập bài ca mà nội dung và ca từ thiếu hẳn sự chân chất, duyên dáng “tài tử” độc đáo, câu lạc bộ nào cũng đờn ca có nhiêu đó. Đờn ca tài tử lên sân khấu “biểu diễn”, trở thành “chuyên nghiệp” phục vụ du lịch, hội nghị... là đã rời xa môi trường và sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng từng sáng tạo và nuôi dưỡng nó.
***
Nhiều năm trước có lần tôi gặp nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng, ông kể “Hồi chín năm kháng chiến ở khu 9, bản vọng cổ bị hạn chế vì “ảo não, làm nản lòng chiến sĩ”. Nhưng cha mày (ông gọi ba tôi một cách thân thiết như vậy) cứng đầu lắm, vẫn cho đoàn hát của nó ca vọng cổ. Nhờ vậy mà mang được vọng cổ tập kết ra Bắc, rồi từ Đoàn cải lương Nam bộ đã hình thành Nhà hát cải lương Việt Nam”. Qua mấy chục năm chiến tranh, nghệ thuật cải lương đã phát triển rực rỡ ở cả hai miền Nam – Bắc, vậy mà giờ đây ngay tại Sài Gòn cải lương chỉ còn được nhớ đến như một nhan sắc đã tàn phai.

Đã từ lâu, việc cần có một Viện nghiên cứu sân khấu cải lương, một Bảo tàng nghệ thuật cải lương để ghi ơn những thế hệ tiền bối và lưu giữ một tinh hoa văn hóa Nam bộ đã được những người tâm huyết đặt ra. Và hơn nữa, người Nam bộ vẫn yêu cải lương, vẫn ca cải lương, vẫn luôn mong muốn cải lương sống dậy lộng lẫy như xưa.

báo Phụ nữ TPHCM ngày 3.8. 2020

Cải lương thiếu kịch bản hay | Văn hóa | Thanh Niên

NHỮNG THÀNH PHỐ VÌ CON NGƯỜI

https://nguoidothi.net.vn/nhung-thanh-pho-vi-con-nguoi-15280.html

 Nguyễn Thị Hậu

Mùa hè vài năm gần đây tôi thường tham dự những cuộc hội thảo thú vị, được tổ chức ở một số thành phố lớn như Toulouse “thành phố hồng”, Berlin, qua Prague “thành phố tình yêu” và Budapest “Hòn ngọc bên sông Danube”, rồi đến Warsaw – thành phố hồi sinh từ đổ nát sau chiến tranh thế giới thứ hai. Và trong những chuyến đi ấy điểm dừng lâu nhất của tôi bao giờ cũng là Paris – thành phố tôi yêu từ thời thơ ấu và ở đó tôi có những người bạn thân quý.
Mỗi nơi tôi chỉ lưu lại có vài ngày để tham quan một cách vội vã nhưng những “thành phố di sản văn hóa” đã để lại cho tôi ấn tượng khó quên, bởi sự hòa hợp kỳ lạ giữa cuộc sống hiện đại và sức sống “cổ tích” từ di tích và bảo tàng hiện diện mỗi ngày.

Những thành phố này là thủ đô hoặc đô thị lớn từ thời trung cổ, vì vậy hệ thống thành cổ, cung điện lâu đài, công trình công cộng được xây dựng trong thời gian dài vài thế kỷ đã được bảo tồn khá nguyên vẹn. Khu vực thành cổ (hay những lâu đài lớn của một dòng họ quý tộc) thường xây dựng trên đồi hay sườn núi để bao quát toàn bộ khu vực và phòng vệ quân sự. Cấu trúc gồm tường thành cao, dày, xây bằng đá hoặc gạch, bên trong là quần thể cung điện, lâu đài, nhà thờ lớn ở trung tâm… xung quanh là khu phố buôn bán và những dịch vụ cho sinh hoạt. Bên ngoài thành có một dòng sông, là đường giao thông và “tuyến phòng ngự” khi có sự cố, nhưng nhờ vậy mà phong cảnh bốn mùa đều nên thơ.

Trải qua hàng trăm năm nên trong nhiều tòa thành cổ có di tích đã hoặc đang được khảo cổ học khai quật. Thành cổ Buda ở Budapest khu vực khai quật liền kề với những công trình còn nguyên vẹn, du khách có thể nhìn thấy nền móng của các kiến trúc đã sụp đổ, hầm ngầm, đường bí mật sâu dưới lòng đất… Công trường đang khai quật thì có mái che bên trên bảo vệ hiện trạng, di tích khai quật xong hầu hết được bảo tồn tất cả các lớp kiến trúc làm bằng chứng cho từng giai đoạn xây dựng vào những niên đại khác nhau. Bảo tồn được như vậy vì vật liệu xây dựng hầu hết bằng gạch, đá, trải qua vài trăm năm trong điều kiện khí hậu không ẩm ướt nên vẫn còn chắc chắn. Hiện vật tìm thấy trưng bày trong bảo tàng nhỏ ngay tại tòa thành hay lâu đài. Khu di tích nào cũng có một mô hình đúc bằng đồng đặt gần lối ra vào, thể hiện toàn bộ khu lâu đài, thành cổ, giúp khách tham quan nhận biết tổng thể qua các công trình kiến trúc còn nguyên và phế tích do khảo cổ học khai quật.

Hầu như không có công trình nào xây lại mới hoàn toàn trên nền móng cũ, mặc dù có thể làm được điều đó vì tài liệu, hình ảnh và tư liệu khoa học còn lưu lại đầy đủ. Riêng thành cổ Warsaw là một trường hợp đặc biệt: chiến tranh thế giới lần thứ hai đã biến cả thành phố thành đống đổ nát hoang tàn trong đó có tòa thành cổ xây dựng từ thế kỷ 12 và tồn tại đến thế kỷ 20. Sau năm 1945 Ba Lan đã phục dựng lại thành phố Warsaw – khu phố cổ và tòa thành cổ - như tình trạng trước chiến tranh. Các công trình đều xây bằng gạch – vật liệu đặc trưng của kiến trúc cổ của ba Lan, gạch mới được nghiên cứu phục chế gần như không khác biệt với gạch cũ, có lẽ nhờ thời tiết không nóng ẩm nên ít bị rêu mốc và các loài thực vật gây hại.

Trong các thành phố, tại khu phố cổ hay ở trung tâm, trên đường phố hẹp hay quảng trường rộng lớn, cả những “rãnh thoát nước” hình lòng máng xưa cũ vẫn giữ nguyên vật liệu lát đường là những viên đá nhỏ, đan xen thành hoa văn hình vỏ sò, hình xoáy ốc… vừa đẹp vừa dễ rút nước khi mưa và mùa tuyết tan, giảm trơn trượt khi băng giá. Nếu làm lại những con đường quảng trường này bằng vật liệu mới thì ngoài chuyện rất tốn kém, nó còn làm giảm giá trị của cảnh quan cổ xưa – chính là giá trị cần gìn giữ và được du khách tìm đến chiêm ngưỡng.

Mùa hè là mùa du lịch cao điểm ở châu Âu, những thành phố tôi đến lúc nào cũng đông đúc nhưng không lộn xộn hay gây cảm giác bất an. Cũng là quần thể di tích thành cổ, phố cổ nhưng mỗi nơi có những hình thức tham quan khác nhau nhằm đáp ứng nhiều nhu cầu, điều kiện của du khách: Tham quan tòan bộ lâu đài, cung điện hay chỉ một phần, tham quan hầm mộ trong lâu đài hay nơi có liên quan đến một nhân vật nổi tiếng, hay tổ chức sinh hoạt đặc biệt như ở Nhà thờ “con gà” quảng trường trung tâm thủ đô Prague chẳng hạn, cứ mỗi giờ là du khách tập trung rất đông, ngước nhìn lên tháp đồng hồ để ngắm chú Gà bằng vàng và những vị Thánh xuất hiện lần lượt sau ô cửa nhỏ, rồi tiếng kèn báo hiệu thời khắc vang lên…

Thú vị nhất là Dinh Tổng thống trong các tòa thành cổ cũng là điểm tham quan của du khách. Tôi được chứng kiến lễ đón khách của Tổng thống Hungary, có Đội danh dự duyệt binh. Du khách vẫn đứng trong sân của Dinh Tổng thống, chỉ có vài cảnh sát làm nhiệm vụ giữ trật tự. Dinh Tổng thống Cộng hòa Sec cũng vậy, ngày vài lần du khách tụ tập vào thời điểm đổi phiên gác để chiêm ngưỡng đội danh dự bước đi trong trang phục rất đẹp mắt. Hay Tòa thị chính Paris trở thành “bảo tàng” đón du khách vào một số ngày trong mùa hè... Có rất nhiều di tích được tham quan miễn phí, nhất là nhà thờ cổ, nơi ở của các nhân vật lịch sử và danh nhân văn hóa, nhà hát, kể cả những tòa nhà là công sở còn đang hoạt động.

Không chỉ di tích thời trung cổ được trân trọng gìn giữ mà cả những tượng đài và di tích chiến tranh thế giới thứ hai, một số bảo tàng về “thời kỳ quốc xã” hay “thời kỳ cộng sản” được xây dựng. Tại Berlin có khu tưởng niệm người Do Thái, trên nhiều đường phố có những tấm biển đồng nho nhỏ đóng ở vỉa hè trước những ngôi nhà đã có người bị bắt và chết trong trại tập trung thời Hitler... Tại Warsaw có Bảo tàng về người Do Thái, Bảo tàng sự kiện Katyn... Budapest có bảo tàng “Nhà khủng bố”... Con người được “can dự” vào lịch sử bằng sự thật chứ không phải là những huyền thoại, vì thế nhận thức và hiểu biết quá khứ không chỉ là những ý nghĩa to lớn mà còn là những câu chuyện đời thường, đau thương và mất mát của từng số phận. Tất cả, dù ghi dấu ấn chiến thắng hay gợi nhớ tội ác của một chính thể đều thuộc về Lịch sử.

Quan sát “cuộc sống” của hệ thống di sản văn hóa tại các thành phố này, có thể nhận thấy giữa bảo tồn và bảo tàng không hề tách rời: bảo tồn di tích cổ là làm cho chúng trở thành những “bảo tàng mở”, những “bảo tàng mở’ mang lại sức sống cho di tích được bảo tồn. Điều đó tạo điều kiện cho công chúng có thể tiếp cận di sản văn hóa một cách dễ dàng nhất, tiếp nhận những giá trị lịch sử - văn hóa một cách phong phú hấp dẫn nhất. Bảo tồn di sản văn hóa không chỉ giới hạn trong phạm vi di tích, mà đã trở thành một bộ phận quan trọng của quy hoạch đô thị và được ưu tiên hàng đầu trong quá trình phát triển đô thị.

Cũng cần nói thêm, việc trùng tu di tích thường xuyên được tiến hành nhất là vào mùa hè thời tiết thuận lợi. Nơi nào cũng có di tích đang được trùng tu một cách khoa học, cẩn trọng nhưng vẫn có thể phục vụ du khách. Có những di tích trùng tu kéo dài nhiều năm do quy mô lớn và thực hiện nhiều công đoạn rất tỉ mỉ.
Tôi đã nhận được nhiều kinh nghiệm từ việc bảo tồn và “phát huy giá trị” di sản văn hóa của những thành phố này. Họ cũng đã qua “một thời đạn bom, một thời hòa bình”, cũng từng chịu sức ép của “đô thị hóa, hiện đại hóa” sau chiến tranh và trong quá trình phát triển kinh tế, nhưng họ gìn giữ trân trọng di sản văn hóa trước hết là cho đất nước mình, và sau đó “hữu xạ tự nhiên hương”, di sản trở thành của thế giới. Họ đã thành công từ một điều giản dị: di sản văn hóa phải có một đời sống của chính nó, nhờ con người và vì con người.

Bạn bè hỏi tôi có cảm nhận thế nào khi ngắm nhìn những công trình di sản văn hóa hiện hữu trong thành phố đang phát triển? Và tôi, không tránh khỏi tâm trạng ngậm ngùi khi luôn phải đặt ra một câu hỏi day dứt: vì sao người ta gìn giữ và làm giàu được từ di sản văn hóa, còn chúng ta thì để tình trạng phá hoại di sản diễn ra triền miên và ngày một trầm trọng? Vì sao?

Sài Gòn 9.8.2018

 Trong hình ảnh có thể có: bầu trời, đám mây, ngoài trời, thiên nhiên và nước

PHỤ NỮ ĐẸP BÌNH DỊ NHƯ ĐỒ GỐM



1. Thưa chị, không biết nên xưng hô với chị như thế nào? Nhà khảo cổ học hay nhà văn…
- Chỉ là “chị Nguyễn Thị Hậu” thôi, vì đối với tôi cả hai “nhà” đều lớn quá.
2. Và cũng xin bắt đầu câu chuyện bằng sự “lưỡng phân” này. Giữa khảo cổ và văn học, theo chị, có điểm gì chung?
- Có lẽ có: cùng tìm hiểu, giải mã về con người quá khứ hoặc hiện tại từ những “bằng chứng” có khi rất nhỏ nhoi. Và tìm hiểu về con người chính là tìm hiểu về xã hội, bối cảnh sống của con người.
3. Còn điểm riêng thưa chị?
- Khi “giải mã” về con người thì khảo cổ nghiêng về “lý” còn văn học nặng về “tình”.
4. Với chị, văn học là…?
- Từ nhỏ văn học đã là sở thích, là niềm vui của tôi. Còn bây giờ, nếu viết được chút gì đấy cũng để cho vui vì đã chia sẻ được với bạn bè.
5. Ngoài những cuốn sách khảo cổ học chi tiết và… dài, với văn chương, chị lại viết rất ngắn, kể cả khi viết tản văn, truyện ngắn, truyện rất ngắn. Tại sao?
- Sách về khảo cổ cần tuân thủ những yêu cầu – dù tối thiểu - của một công trình khảo cổ học để đảm bảo nội dung khoa học, mặc dù thật ra những cuốn đó của tôi cũng khá đơn giản và… mỏng thôi J. Còn khi viết những cái khác thì… thấy đủ thì thôi, vì đó là những chuyện nho nhỏ, người đọc hiểu mà, đâu cần phải dài dòng?
6. Với những truyện ngắn chỉ vỏn vẹn 100 chữ, liệu chị đang làm khó (thử thách chính) mình, hay là để đỡ tốn thời gian của độc giả thời bận rộn?
- Viết truyện 100 chữ đầu tiên là “thử” xem vốn từ ngữ của mình có thể sử dụng chính xác đến đâu? Vả lại, trong cuộc sống, một “cái dằm”  cũng đủ làm người ta bận tâm rồi. Thế thì cứ viết giản dị như chính nó thôi. Càng chính xác càng giản dị, tôi nghĩ thế.
7. Vài năm trước, đọc tập truyện “ngắn và rất ngắn” của chị in chung với nhà phê bình Nguyễn Thị Minh Thái, tôi ấn tượng với truyện “Kiến”. Còn bây giờ, khi đọc cuốn “101 truyện 100 chữ” tôi luôn ám ảnh về những nhân vật nữ - thường là không có tên, những “nàng”, “cô”, “mẹ”, “vợ anh”. Truyện nào cũng rưng rưng, và hình như nhiều nước mắt ngậm ngùi sau mỗi 100 chữ của chị?
- Tôi đọc ở đâu đó rằng, chỉ có phụ nữ mới biết yêu thương – theo nghĩa là luôn có khả năng chia sẻ. Có lẽ vì vậy mà phụ nữ hay “tám” với nhau về mình và cả những thứ ngoài mình.
8. Là phụ nữ, khi viết và trong cuộc sống nữa, chị thường đứng về "phe nước mắt" chứ?
-Tôi đứng về phía nào không làm cho ai phải rơi nước mắt.

9. Những chuyện tình trong truyện của chị đôi khi thật ngọt ngào, nhưng đôi khi tan vỡ rất nhanh, có thể chỉ trong 34 chữ: “Trời mưa. Cô mơ màng: Bây giờ ngồi quán với một cốc café sữa nóng và nghe nhạc thì tuyệt. Anh lắc đầu: Trời mát thế này nhậu thịt chó mắm tôm là nhất. … Thế là tan vỡ một mối tình”. Chị có thường áp dụng cái nghề khảo cổ vào để khảo sát các cuộc hôn nhân không?
- Có lẽ không cố ý nhưng thói quen “tinh tướng” trong nghề nghiệp đôi khi giúp mình tinh ý hơn trong cuộc sống (hay là ngược lại nhỉ?).
10. Những xung đột và mâu thuẫn văn hóa trong cuộc sống gia đình hiện nay, có cảm giác, được chị “bắt sóng” rất nhanh để đưa vào các truyện rất ngắn của mình. Hình như chị đang muốn một khắc họa hình ảnh những người phụ nữ nhạy cảm và… thiệt thòi?
- Phụ nữ thường nhạy cảm, phụ nữ có nội tâm phong phú càng nhạy cảm. Mà cuộc sống hiện nay thì quá nhanh, hiếm có khoảnh khắc “lặng” để nhìn lại… Còn thiệt thòi à, tôi không nghĩ thế, được mất vô chừng lắm…
11. Nhưng phụ nữ, cũng có khi được quý như “Cổ vật”? (tr.89)
- Vâng. Không phải cổ vật nào cũng có vẻ đẹp rực rỡ như đồ trang sức vàng bạc hay đồ sứ hoa văn nhiều màu, mà phần đông phụ nữ như những đồ gốm, đồ đất nung có vẻ đẹp rất bình dị. Hình như ít người nhìn thấy vẻ đẹp như thế ở người phụ nữ của mình, quanh mình…
12. Người ta nói văn là người? Liệu có đúng với chị, và đúng bao nhiêu %, trong tập sách này thưa chị?
- Như tôi đã trả lời trong một cuộc trò chuyện : 50% là « chuyện » - chất liệu từ cuộc sống xung quanh và của chính mình, 50% còn lại là cảm nhận, góc nhìn của tôi, là cách « xử lý » những chất liệu ấy thành một món ăn nhẹ để mọi người có thể nhấm nháp cả lúc đói và lúc không đói J
 Xin cám ơn chị!

Hoàng Thu Phố (thực hiện nhân xuất bản tập truyện này, 2011)




BẢO TỒN DINH THƯỢNG THƠ - TRÁCH NHIỆM CỦA CHÍNH QUYỀN



Về những ý kiến của các nhà quản lý ở thành phố cho rằng, công trình Dinh Thượng thơ không phải là di tích đã được xếp hạng, cũng không nằm trong danh mục kiểm kê di tích của ngành văn hóa thể thao nên không thể bảo tồn mà sẽ phá đi để xây dựng công trình mới. Tôi cho rằng những ý kiến này chưa thể hiện hết trách nhiệm của chính quyền thành phố!

Việc khẩn cấp xếp hạng một di tích, hay trước mắt đưa ngay vào danh mục kiểm kê di tích để sau đó đánh giá toàn diện giá trị của công trình, là việc làm không quá khó khăn và cần nhiều thời gian. Tôi có thể đưa ra một trường hợp cụ thể: vào năm 1997 – 1998 bảo tàng lịch sử TPHCM tổ chức khai quật di tích Lò gốm cổ Hưng Lợi (quận 8), đây là di tích thuộc “xóm lò gốm Sài Gòn xưa” duy nhất còn lại khá quy mộ, tuy đã hư hỏng rất nhiều. Cuộc khai quật chia làm 2 đợt, xong đợt 1 vào cuối năm 1997, nhận thấy giá trị đặc biệt của di tích này, từ việc nhận được nhiều ý kiến của các nhà khoa học, các giáo sư đầu ngành về KCH, được chính quyền thành phố đồng ý, Sở VHTT lúc đó đã khẩn trương làm hồ sơ và trình Bộ VHTT, chỉ trong thời gian rất ngắn, vào tháng 4/1998 Bộ VHTT đã có quyết định công nhận Lò gốm cổ Hưng Lợi là di tích KCH cấp quốc gia. Sau đó, Bộ VHTT và thành phố đã cho cho phép BTLS tiếp tục khai quật đợt 2 để nghiên cứu bảo tồn tại chỗ, phát huy những giá trị lịch sử - văn hóa một di tích của “Sài Gòn 300 năm”.

Vì vậy, đối với công trình Dinh Thượng thơ hoàn toàn có thể tiến hành những thủ tục pháp lý theo cách thức như vậy! Trước hết cần đưa ngay công trình vào danh mục kiểm kê di tích của thành phố, tổ chức cho những nhà nghiên cứu lịch sử, bảo tồn di sản, kiến trúc và quy hoạch, quản lý văn hóa... tọa đàm, hội thảo khoa học về giá trị lịch sử, kiến trúc của công trình và cả cảnh quan khu vực công trình tọa lạc, vì di tích kiến trúc xưa cần được đặt trong cảnh quan và quy hoạch đô thị. Đồng thời lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân vì “di sản là tài sản và ký ức” của nhiều thế hệ cộng đồng trong quá khứ và tương lai, di sản phải được bảo vệ và di truyền cho đời sau chứ không thể tùy tiện phá hủy vì lợi ích trước mắt của một đời, một “nhiệm kỳ”. Các cơ quan chức năng khẩn trương tiến hành làm hồ sơ xếp hạng di tích cấp thành phố cho công trình này. Cũng cần thấy rằng, di sản văn hóa SG – TPHCM không phải của riêng thành phố này mà là “tài sản văn hóa” chung của đất nước!

Tất cả những công việc trên sẽ làm được với một điều kiện quan trọng: chính quyền thành phố tôn trọng những di tích ít ỏi còn lại của Sài Gòn, nhất là ở khu vực trung tâm, cần thể hiện trách nhiệm của chính quyền một thành phố “văn minh, hiện đại, nghĩa tình” mà trước hết là văn minh trong ứng xử với di sản văn hóa, hiện đại theo xu hướng bảo vệ di sản văn hóa của thế giới và nghĩa tình với quá khứ của mảnh đất mình đang sinh sống!

TS. NguyỄn Thị Hậu
Phó Tổng Thư ký Hội KHLSVN

Bảo tồn Dinh Thượng Thơ, vấn đề là thành phố có muốn hay không - Ảnh 3.

DI SẢN VĂN HÓA “SỐNG” CÙNG THÀNH PHỐ


Hình như tôi “có duyên” với mùa thu châu Âu nên những ngày cuối tháng Chín vừa qua tôi lại được đến đây để tham dự một cuộc hội thảo về di sản văn hóa tổ chức tại Krakow – Ba Lan vào giữa những ngày thu đẹp nhất. Sau đó, “hành trình” nho nhỏ của tôi bắt đầu từ Warsaw – thành phố hồi sinh từ đổ nát sau chiến tranh thế giới thứ hai, rồi đến Krakow kinh đô cổ xưa của Cộng hòa Ba Lan, sang Budapest –  “Hòn ngọc bên sông Danube” của Cộng hòa Hungary, qua Prague - Cộng hòa Sec, “thành phố tình yêu”; và Wien - Cộng hòa Áo, “kinh đô âm nhạc Châu Âu”. Chỉ là “đi qua” thôi, nhưng những “thủ đô di sản văn hóa” đã để lại cho tôi ấn tượng khó quên, bởi sự hòa hợp kỳ lạ giữa cuộc sống hiện đại và sức sống “cổ tích” từ di sản văn hóa hiện diện mỗi ngày trong thành phố.

Những thành phố này đều là thủ đô  từ thời trung cổ, vì vậy hệ thống thành cổ, cung điện lâu đài, công trình công cộng được xây dựng trong một thời gian dài vài thế kỷ nay được bảo tồn khá nguyên vẹn. Khu vực thành cổ (hay những lâu đài lớn của một dòng họ quý tộc) thường ở trên đồi hay sườn núi, cấu trúc gồm tường thành cao, dày, xây bằng đá hoặc gạch, bên trong là quần thể cung điện, lâu đài, nhà thờ lớn ở trung tâm… xung quanh là khu phố buôn bán và những dịch vụ cho sinh hoạt. Bên ngoài thành có một dòng sông, là đường giao thông và “tuyến phòng ngự” khi có sự cố, nhưng nhờ vậy mà phong cảnh rất nên thơ.

Trong nhiều tòa thành cổ có di tích khảo cổ học. Như trong thành cổ Buda ở Budapest: Khu vực khai quật liền kề với những công trình còn nguyên vẹn, du khách có thể nhìn thấy nền móng của các kiến trúc đã bị sụp đổ, hầm ngầm, đường bí mật sâu dưới lòng đất…Có hố khai quật xong đã lấp cát và trồng cỏ lên trên tạo thành vườn hoa nho nhỏ, có hố được giữ lại, bên ngoài có hàng rào thấp để khách có thể quan sát các tầng văn hóa của di tích. Hiện vật tìm thấy trưng bày trong bảo tàng nhỏ ngay tại tòa thành hay lâu đài ấy. Công trường đang khai quật thì có mái che bên trên bảo vệ hiện trạng, di tích khai quật xong hầu hết được bảo tồn tất cả các lớp kiến trúc làm bằng chứng cho từng giai đoạn, có thể xây dựng vào những niên đại khác nhau. Làm được như vậy vì vật liệu xây dựng hầu hết bằng gạch, đá, trải qua vài trăm năm trong điều kiện khí hậu không ẩm ướt nên vẫn còn chắc chắn. Khu di tích nào cũng có một mô hình đúc bằng đồng đặt gần lối ra vào, thể hiện toàn bộ khu lâu đài, thành cổ, giúp khách tham quan nhận biết tổng thể khu di tích qua các công trình kiến trúc còn nguyên và những phế tích do khảo cổ học khai quật.

Hầu như không có công trình nào xây lại mới hoàn toàn trên nền móng cũ, mặc dù có thể làm được điều đó vì tài liệu, hình ảnh và những căn cứ khoa học còn lưu lại khá đầy đủ. Riêng thành cổ Warsaw là một trường hợp đặc biệt vì chiến tranh thế giới lần thứ hai đã biến Warsaw thành những đống đổ nát hoang tàn trong đó có tòa thành cổ xây dựng từ thế kỷ XII, XIII và tồn tại đến thế kỷ XX. Sau năm 1945 Ba Lan đã xây dựng lại thành phố Warsaw và tòa thành cổ như trước chiến tranh chứ không xây dựng mới hoàn toàn. Các công trình trong thành và cả tường thành đều xây bằng gạch (được nghiên cứu phục chế gần như không khác biệt với gạch cũ, có lẽ nhờ thời tiết không nóng ẩm nên ít bị rêu mốc và các loài thực vật gây hại). Trong thành, đường phố hẹp hay quảng trường rộng còn giữ nguyên những viên đá nhỏ lát thành hoa văn hình vỏ sò, hình xoáy ốc… nhìn vừa đẹp, vừa dễ rút nước khi mưa và mùa tuyết tan, giảm trơn trượt khi băng giá. Tôi đã nhìn thấy một người công nhân với xô hồ và chiếc búa nhỏ trong tay, tỉ mỷ cẩn thận gắn lại vài viên đá bị bật lên. Mọi người qua lại đi chậm và nhẹ chân hơn. Những chiếc xe ngựa lăn bánh lốp cốp trong phố cổ rất hấp dẫn du khách vì tiết kiệm thời gian và cho đôi chân nghỉ ngơi. Dạo chơi trên đường phố lát đá như thế này cũng khá mỏi chân, nhất là nếu bạn không quen đi bộ. Hơn nữa người đánh xe trong bộ trang phục xưa còn là hướng dẫn viên nhiệt tình và thú vị, những câu chuyện xưa về thành cổ, về từng địa điểm từng nhân vật lịch sử… sống động hơn qua từng tour ngắn như thế. Bao thế hệ đã đi trên những đường phố khấp khểnh này và sẽ còn nhiều thế hệ nữa…vì sự tôn trọng lịch sử và ý thức bảo tồn quá khứ trở thành thói quen bình thường của cộng đồng.

Hai bên đường là những tòa nhà xưa, tiệm ăn, cửa hàng, công sở, nhà hát… hầu như không có kiến trúc mới, càng không có công trình nào cao như nhà thờ. Nhìn từ trên cao những tháp nhà thờ vươn lên in trên nền trời xanh thăm thẳm là điểm nhấn quan trọng nhất của từng khu vực. Nhà thờ trung tâm ở giữa quảng trường rộng, nơi mỗi ngày diễn ra nhiều sinh họat cộng đồng. Trên quảng trường và vỉa hè có nhiều quán cà phê ngăn cách với đường phố bằng hàng rào gỗ thấp treo những chậu hoa tươi tắn. Thành cổ lúc nào cũng nhộn nhịp khách du lịch nhưng không tiếng động cơ không mùi khói xăng, thậm chí cũng không có âm thanh ồn ào. Nhịp sống nơi thành cổ bình thản êm đềm như không có cuộc sống hiện đại sôi động đang diễn ra bên ngoài bức tường thành.

Tháng Mười, mùa du lịch cao điểm ở châu Âu đã qua, vậy mà những thành phố tôi đến không hề vắng du khách. Qua mùa hè nóng nực đông đúc, vào mùa thu thời tiết ôn hòa nên có nhiều đoàn du lịch của người cao tuổi và khách từ châu Á. Cũng là quần thể di tích thành cổ, phố cổ nhưng có nhiều hình thức tham quan nhằm đáp ứng nhu cầu, điều kiện khác nhau của du khách: Tham quan tòan bộ lâu đài, cung điện hay chỉ một phần, tham quan hầm mộ trong lâu đài hay nơi có liên quan đến một nhân vật nổi tiếng (ví dụ tour tham quan các gian phòng hòang hậu Sisi từng sống trong cung điện Mùa hè ở Vienna)…Hay một sinh hoạt đặc biệt như Nhà thờ “con gà” ở quảng trường trung tâm thủ đô Praha chẳng hạn, cứ mỗi giờ là du khách tập trung rất đông, ngước nhìn lên tháp đồng hồ để ngắm chú Gà bằng vàng và những vị Thánh xuất hiện lần lượt sau ô cửa nhỏ, rồi tiếng kèn báo hiệu thời khắc vang lên…
Có rất nhiều di tích tham quan miễn phí, nhất là những nhà thờ cổ, nơi ở của các nhân vật lịch sử và danh nhân văn hóa, nhà hát, kể cả những tòa nhà là công sở còn đang hoạt động. Thú vị nhất với tôi là Dinh Tổng thống trong các tòa thành cổ cũng là điểm tham quan của du khách. Tôi được chứng kiến lễ đón khách của Tổng thống Hungary, có Đội danh dự duyệt binh. Du khách vẫn đứng trong sân của Dinh Tổng thống, chỉ có vài cảnh sát làm nhiệm vụ giữ trật tự. Dinh Tổng thống Cộng hòa Sec cũng vậy, ngày vài lần du khách tụ tập vào những thời điểm đổi phiên gác để chiêm ngưỡng đội danh dự bước đi trong trang phục rất đẹp mắt.

Xen giữa đường phố và quần thể công trình kiến trúc là những vườn hoa nho nhỏ, luôn có tượng đài nhân vật, sự kiện lịch sử, danh nhân văn hóa, không hoành tráng phô trương mà hòa hợp với công viên hay quảng trường xung quanh. Những công viên lớn vốn là khu rừng ở trong và ven thành phố cũng được coi là “di sản cảnh quan đô thị” không chỉ vì nó “có tuổi” mà còn vì nơi đây bảo tồn tự nhiên nhiều loại thực vật, động vật nhỏ. Trong công viên Chopin ở Warsaw những chú sóc những chú chim công mạnh dạn đến gần để nhận những mẩu bánh mỳ vụn từ tay người đi dạo. Mùa hè, mùa thu khu rừng ngoại ô thành phố là nơi người dân đến hái nấm, hái quả dại, nghỉ ngơi cùng gia đình, bạn bè trên thảm cỏ xanh thảm lá vàng…

Quan sát “cuộc sống” của những di sản văn hóa có thể nhận thấy giữa bảo tồn và bảo tàng không hề tách rời, bảo tồn di tích cổ là làm cho chúng trở thành những “bảo tàng mở”, những “bảo tàng mở’ mang lại sức sống cho di tích được bảo tồn. Điều đó tạo điều kiện cho công chúng có thể tiếp cận di sản văn hóa một cách dễ dàng nhất, tiếp nhận những giá trị lịch sử - văn hóa một cách phong phú hấp dẫn nhất. Bảo tồn di sản văn hóa cũng không chỉ giới hạn trong phạm vi di tích, mà đã trở thành một bộ phận quan trọng của quy hoạch đô thị và được ưu tiên hàng đầu trong quá trình phát triển đô thị. Một đô thị mà lịch sử luôn hiện diện trên đường phố bằng từng viên gạch, từng ngôi nhà bằng những tượng đài tuyệt đẹp. Một đô thị được lưu giữ ký ức bằng những công trình cổ xưa, bằng âm nhạc cổ điển bằng những bức danh họa… trong từng ngôi nhà từng quán hàng từng tiệm cà phê… Lịch sử và ký ức đô thị hiện lên thật đẹp, vẻ đẹp của quá khứ dành tặng tương lai. Di sản văn hóa được lưu truyền như một vẻ đẹp vĩnh cửu.

Mặc dù tự “cảnh giác” với hội chứng “đi Tây về chỉ ngợi khen Tây” nhưng quả thật, tôi đã nhận được nhiều kinh nghiệm từ việc bảo tồn và “phát huy giá trị” di sản văn hóa của những thành phố này. Họ cũng đã qua “một thời đạn bom, một thời hòa bình”, cũng từng chịu sức ép của “đô thị hóa, hiện đại hóa” sau chiến tranh và trong quá trình phát triển kinh tế, nhưng họ gìn giữ trân trọng di sản văn hóa trước hết là cho đất nước mình, và sau đó “hữu xạ tự nhiên hương”, di sản trở thành của thế giới. Họ đã thành công từ một điều giản dị: di sản văn hóa phải có một đời sống của chính nó, nhờ con người và vì con người.

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang cười, bầu trời, ngoài trời và cận cảnh

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, mọi người đang đứng, bầu trời, cây, ngoài trời và thiên nhiên

KHOẢNG XANH THÀNH PHỐ


Nguyễn Thị Hậu


Sài Gòn có những khoảng xanh mang dáng dấp rừng cây tự nhiên như Thảo Cầm Viên, Tao Đàn, các công viên Gia Định, Hoàng Văn Thụ, 23 tháng 9, Lê Văn Tám… Những khoảng xanh này đã có mặt cùng với sự hình thành đô thị Sài Gòn hơn trăm năm nay.
Trong hồi ký của Paul Doumer, toàn quyền Đông Dương thời kỳ 1897 – 1902 đã miêu tả Sài Gòn cuối thế kỷ XIX như sau.“Sài Gòn là một thành phố nhiệt đới xinh đẹp, thành phố duyên dáng nhất vùng Viễn Đông. Một số công trình nghệ thuật ở Sài Gòn rất đẹp, tất cả đều có kích thước lớn, nhà cửa nói chung khá xinh xắn, đường phố rợp bóng cây xanh, tất cả như bị ngập trong một đại dương xanh. Nhìn từ trên cao xuống, từ chòi quan sát trên nóc một con tàu hoặc từ các tháp của nhà thờ, Sài Gòn hiện ra như một công viên rộng lớn…”. Màu xanh đó không chỉ từ những “rừng cây” mà còn từ những con đường với hai hàng cây cao rợp mát. Thành phố Sài Gòn ngay từ đầu đã được quy hoạch nhiều loại cây trồng trên vỉa hè và trong công viên.Việc trồng và chăm sóc các khoảng xanh này giống như ở Paris và nhiều nước châu Âu: dù là cây trồng nhưng luôn được thiết kế sao cho “tự nhiên” như khoảng rừng còn sót lại. Một số công viên còn có hồ nhân tạo, tuy nhỏ nhưng tạo cảnh quan đẹp và giúp điều hòa không khí.
Hơn trăm năm qua những mảng xanh không chỉ là “lá phổi” trong lành của thành phố mà còn là ký ức của biết bao thế hệ thị dân. Phần lớn công viên và hệ thống cây xanh tập trung ở khu vực nội thành, các quận mới và huyện ngoại thành số lượng công viên còn rất ít mặc dù nơi đây nhiều đất đai có thể quy hoạch thành công viên, nhất là ở những khu đô thị mới. Những thống kê gần đây cho biết, mỗi ngày có đến hàng trăm ngàn người đến tập thể dục và nghỉ ngơi, vui chơi tại các công viên lớn.Sự hấp dẫn đầu tiên của công viên là cây xanh thảm cỏ, sau đó mới là những trò chơi hay dịch vụ.

Nhưng trên thực tế, hệ thống công viên và cây xanh vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển của thành phố và chưa đáp ứng được nhu cầu của dân số ngày càng tăng. Nhiều khu vực mật độ dân số cao nhưng tỷ lệ cây xanh rất thấp (như quận 5), một số khu đô thị mới – ngoại trừ Phú Mỹ Hưng – chỉ trồng cây cảnh trang trí đơn lẻ mà chưa chú ý đến hệ thống cây xanh lâu năm và xây dựng công viên một cách đồng bộ. Bao nhiêu cây cổ thụ trên đường phố đang chết dần vì vỉa hè lát kín không còn chỗ để thấm nước mưa, để rễ cây “thở”, vì không được chăm sóc thường xuyên, vì bị người chặt cành đục thân “giết chết”.
Hiện nay khá phổ biến tình trạng nhiều công viên bị thu hẹp diện tích vì việc chiếm mặt bằng, sử dụng công viên sai mục đích, sai công năng. Có công viên buộc phải mở đường cắt ngang để đáp ứng nhu cầu giao thông cho khu vực, như công viên Gia Định phải xẻ một con đường giải tỏa kẹt xe cho sân bay Tân Sơn Nhất. Áp lực giao thông ngày càng tăng làm cho việc xẻ đất công viên làm đường hay chặt cây cổ thụ để làm hạ tầng mới (mở rộng đường, làm ga metro ở đường Lê Lợi, làm cầu ở đường Tôn Đức Thắng) sẽ trở nên “bình thường”. Và con người sẽ thấy bình thường khi xóa bỏ ký ức những hàng cây, bình thường khi sống trong không khí ngày càng nóng bỏng và ô nhiễm… Sự bình thường vô cảm!

Mỗi khi đi dưới hàng cây cao vút trên những con đường Sài Gòn xưa (hẳn là nơi mà Paul Doumer đã từng đi qua?) tôi luôn nghĩ đến lúc nào đó trên mọi con đường thành phố đang ngày càng mở rộng đều có bóng cây: phượng đỏ gọi mùa hè về, hàng me “lá hát như mưa” trong cơn gió, hoa bò cạp vàng rực rỡ cuối mùa nắng gắt, cây dầu cánh hoa xoay xoay, bằng lăng tím đến nao lòng người... Cây trồng trên lề đường phía dưới là thảm cỏ xanh chứ không chỉ là vỉa hè “lát đá hoa cương” phẳng lỳ trơ trụi; và hoa lá trên ban công, và cây dây leo trên những bức tường… Bất cứ nơi nào cũng có màu xanh để mang lại cảm giác thư thái bình yên giữa nhịp sống đô thị ồn ào vội vã.
Thành phố như thế lẽ nào chỉ có trong mơ?

Sài Gòn 16.4.2016


 



KHI NÀO SỰ HOANG PHÍ CHẤM DỨT?!


Vào ngày Quốc Tổ năm nay (10-3 âm lịch), bên cạnh nhiều sản vật từ phương Nam, Công viên Văn hoá Đầm Sen (TP HCM) còn tiến hành làm chiếc bánh chưng nặng 2,5 tấn. Thông tin về chiếc bánh khổng lồ được dư luận đón nhận với nhiều ý kiến trái chiều. Quanh câu chuyện này, PV Báo Đại Đoàn Kết trò chuyện với TS Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu.
PV: Khi nghe về việc Công viên Văn hoá Đầm Sen tiến hành gói, luộc chiếc bánh trưng 2,5 tấn nhân ngày Quốc Tổ, bà có suy nghĩ gì?
TS Nguyễn Thị Hậu: Cũng như mọi lần biết về những việc tương tự, tôi luôn “ngạc nhiên” và ngán ngẩm tự hỏi: sau bao nhiêu phản ứng của xã hội, vì sao kiểu cách phô trương lãng phí vẫn tiếp diễn? Đến bao giờ thì sự phô phang nấp dưới sự “cung kính” như vậy mới chấm dứt?! Hàng năm Việt Nam vẫn là nước phải ra nước ngoài vay tiền, xin viện trợ các kiểu, trong nước thì nhiều tỉnh còn có những thôn xóm thiếu đói quanh năm thì việc đua nhau làm những việc không giống ai như vậy chẳng khác nào khuyến khích sự giả dối và hoang phí vô độ.
PV. Gần nhất với TP HCM lúc này, trong thời điểm hạn mặn kéo dài, không ít gia đình miền Tây đang khóc vì mất mùa, thiếu ăn… liệu làm chiếc bánh chưng khổng lồ có phải thích hợp?
- Hoàn toàn không thích hợp trong bất cứ lúc nào, nhất là thời gian này khi miền Tây Nam Bộ đang chắt chiu từng giọt nước chén cơm cho người dân đói khát.
Mà TP HCM có xa xôi gì đâu, hàng trăm năm nay Sài Gòn - TP HCM được miền Tây Nam Bộ nuôi dưỡng bằng lúa gạo nông sản, và bằng cả tình nghĩa của những con người. Không ai ngăn cản lòng thành thờ cúng tổ tiên, nhưng khi những người anh em ruột thịt đang hoạn nạn, liệu cúng bái “hoành tráng” như vậy có phù hợp không?! Với 2,5 tấn bánh, có thể thực hiện cách khác để thể hiện lòng biết ơn với tổ tiên là hãy yêu thương đồng bào cùng cội nguồn một cách thiết thực hơn.
PV. Tuy nhiên làm chiếc bánh 2,5 tấn này không phải để ghi kỷ lục, mà là hướng về nguồn cội và sẽ phục vụ 1.000 người ăn?
- Dù không để ghi kỷ lục (những kỷ lục phù phiếm) thì cũng không nên thực hiện việc này. Lễ hội tất nhiên phải là ngày vui, nhưng cứ khuyến khích và dung dưỡng những việc làm phô trương thế này, có khác nào khuyến khích và dung dưỡng sự vô cảm, sự tranh giành, thậm chí cướp giật miếng ăn như đã xảy ra trong vài lễ hội.
Tôi nghĩ, nếu thực sự muốn phục vụ 1.000 người ăn, và có thể nhiều hơn, vì sao không làm hơn 1.000 chiếc bánh chưng để người đến cúng bái được chia phần “thụ lộc” như phong tục xưa? Chắc chắn 1.000 chiếc bánh ấy sẽ được người nhận nâng niu và “ăn được”, vì đã có những chiếc bánh, nồi hủ tíu khổng lồ phải vứt bỏ không thể ăn được sau khi trưng bày!
PV. Để làm một cái bánh 2,5 tấn này, công sức bỏ ra không nhỏ, còn có cả 50 nghệ nhân sẽ cùng thực hiện gói bánh và bánh được luộc trong 70 giờ… Theo bà vì điều gì, để làm gì?
- Vừa qua Lễ hội Chùa Bà ở Bình Dương, người dân đã tự động phục vụ hàng chục ngàn chai nước, ổ bánh mì, gói xôi cho những người đến thăm viếng. Đấy là cách chia sẻ đầy tình nghĩa, mang tính xã hội sâu sắc đồng thời cũng là cách bày tỏ lòng thành của người dân Bình Dương trong tín ngưỡng này. Đấy chính là lễ hội của cộng đồng.
Vì sao không làm như vậy? Tất nhiên, người ta đã dựa vào nhiều ý nghĩa mục đích cao cả để biện minh cho những việc làm tiêu tốn tiền bạc, nhưng tất cả điều đó không thể che dấu được sự lãng phí và phô trương, hãnh tiến. Nếu nói rằng “tôi có tiền, tôi muốn cúng kiểu gì là việc của tôi” thì không cần bàn đến nữa. Một doanh nghiệp không chỉ cần kinh doanh có hiệu quả mà còn cần ứng xử có văn hóa với cộng đồng.
PV. Thể hiện lòng thành tâm với tổ tiên có nhiều phương cách, theo bà hữu dụng nhất là gì?
- Từ thời xa xưa qua truyền thuyết bánh chưng bánh dày ông bà mình đã cảnh báo “bệnh” phô trương giàu sang lãng phí, đề cao sự thiết thực và quý trọng những thứ bình thường nhất như hạt lúa hạt đậu: Vua Hùng đã cho bánh chưng bánh dày giải nhất chứ không phải là nem công chả phượng hay những sơn hào hải vị. Lang Liêu chất phác nhưng hiểu và thể hiện giá trị của lúa gạo bằng sản phẩm giản dị tinh túy được vua cha truyền ngôi chứ không phải những công tử khoe khoang của ngon vật lạ.
Trong một xã hội nông nghiệp như thời Hùng Vương, lúa gạo do chính con người làm ra là thành quả đáng tự hào nhất để tôn vinh và “sánh vai” cùng những bộ lạc gần xa chứ không phải những thứ đi vay mượn của người khác hay chiếm đoạt của tự nhiên. Bài học lịch sử về lao động trung thực và tình cảm chân thành vẫn là một giá trị cần phải được nhắc nhở, nhất là trong dịp lễ hội thờ cúng tổ tiên.
Trân trọng cảm ơn TS!
Việt Quỳnh (thực hiện)

THIẾT CHẾ VĂN HÓA Ở ĐÔ THỊ

Nguyễn Thị Hậu
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “thiết chế văn hóa là chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí; chỉ riêng ngôi nhà hoặc công trình văn hóa chưa đủ để gọi là thiết chế văn hóa”. Theo đó có thể kể đến một số thiết chế văn hóa phổ biến ở đô thị nước ta như bảo tàng, thư viện, sân vận động, rạp hát rạp phim, lễ hội truyền thồng và hiện đại, và nhà văn hóa  - một thiết chế có từ thời Liên xô cũ, được duy trì phát triển mạnh ở thành phố Hồ Chí Minh từ sau 1975.
Khái niệm trên không cho biết chức năng của thiết chế văn hóa là nhằm để làm gì. “Thiết chế văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân” là quan niệm khá phổ biến trong các nhà quản lý, thể hiện trên văn bản chính sách và truyền thông. Tuy nhiên thực chất sự ra đời và tồn tại của thiết chế văn hóa là nhằm đáp ứng cho người dân nói chung và cư dân ở các đô thị nói riêng những nhu cầu về tinh thần cơ bản bên cạnh nhu cầu vật chất như ăn, mặc, ở, đi lại… Vì tách rời nhu cầu tinh thần khỏi đời sống hàng ngày và coi đó là nhu cầu xa xỉ để “hưởng thụ” nên hiện nay ở các đô thị lớn, như thành phố Hồ Chí Minh chẳng hạn, hiện tượng có những “thiết chế văn hóa” ít người biết đến hoặc không biết nó tồn tại để làm gì…khá phổ biến.
Ra đời cùng với đô thị, những bảo tàng, thư viện, nhà hát rạp phim, sân vận động, công viên… cũng như chợ, trung tâm thương mại, các cơ sở dịch vụ, là để phục vụ sinh hoạt hàng ngày của cư dân: giải trí, tìm hiểu kiến thức, nâng cao dân trí… Càng ngày nhu cầu sử dụng thời gian nhàn rỗi một cách có ích của cư dân ngày càng phong phú, có tác động làm thay đổi hoạt động của các thiết chế văn hóa ngày càng đa dạng và hiện đại hơn. Ngày nay, thư viện hay bảo tàng chẳng hạn, khó có thể tồn tại (với nghĩa được dân cư sử dụng thường xuyên) nếu chỉ có hình thức và nội dung hoạt động như cách đây hàng chục năm. Hay Nhà văn hóa hoạt động như thế nào đối với khu vực nào, cho nhóm cư dân nào ở đô thị, nếu không xác định được sẽ chỉ có xác mà vô hồn.
Mỗi đô thị có quá trình hình thành và phát triển theo quy luật chung nhưng cũng có những đặc thù riêng, về cộng đồng dân cư, về tích tụ văn hóa, về truyền thống lịch sử… tạo thành vị thế riêng của nó trong hệ thống đô thị một vùng miền hay của quốc gia. Do đó các đô thị có nhu cầu khác nhau và thiết chế văn hóa là nhằm, và phải thể hiện nhu cầu đó.
Ở thành phố Hồ Chí Minh, một số thiết chế văn hóa đã trở thành “ký ức đô thị” của nhiều thế hệ cư dân như bảo tàng, thư viện, rạp hát rạp phim là tiêu biểu. Ra đời từ thời Pháp thuộc và trải qua hơn một trăm năm tồn tại, những thiết chế này đáp ứng nhu cầu của nhiều tầng lớp thị dân, trong đó rạp hát gắn liền với sự phát triển của một loại hình nghệ thuật đặc thù là cải lương. Thế nhưng từ thập kỷ cuối của thế kỷ XX đến nay đã bị cư dân đô thị “quên lãng” mặc dù bảo tàng, thư viện đã có sự thay đổi nhất định nhưng vẫn chưa theo kịp sự phát triển các loại hình giải trí, truyền thông cũng như tri thức khoa học kỹ thuật. Còn mấy chục rạp hát và rạp phim thì lần lượt biến mất, nhường chỗ cho trung tâm thương mại, nhà hàng và tổ chức tiệc cưới… Thành phố Hồ Chí Minh không còn rạp cải lương sáng đèn hàng đêm, đó là sự mất mát quá lớn một di sản văn hóa tiểu biểu của Sài Gòn, của Nam bộ.
Một thiết chế mới xây dựng từ sau 1975 là Nhà văn hóa thì có sự phát triển đáng kể về số lượng, tuy nhiên trong nội thành chỉ vài nơi hoạt động có hiệu quả. Trong khi đó ở ngoại thành và nhiều quận khác thì Nhà văn hóa vừa thiếu vừa yếu. Ở đô thị mỗi “tiểu vùng” (trung tâm- đô thị cũ, vùng ven, ngoại thành, khu đô thị mới) là những cộng đồng dân cư có nhu cầu khác nhau về sinh hoạt văn hóa nên không thể “cào bằng”, “đầu tư dàn trải”. Nếu khu vực trung tâm tư nhân sẵn sàng đầu tư những rạp chiếu phim, rạp hát, trung tâm thương mại sang trọng… vì có khả năng thu hồi vốn nhanh, thì ở khu vực khác cần nhà nước đầu tư loại hình nhà văn hóa đa năng để nâng cao năng lực hoạt động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn và nhân lực.
Mặt khác phương thức “xã hội hóa” các thiết chế văn hóa không thể chỉ là tư nhân đầu tư tiền bạc mà còn cần được tham gia vào điều hành, thực hiện các hoạt động trong sự quản lý của cơ quan chức năng, nhằm hài hòa mục đích phục vụ cộng đồng và lợi nhuận. Ý thức trách nhiệm của nhà đầu tư thể hiện qua sự tham gia vào quản lý, điều hành, đồng thời thiết chế văn hóa phát triển phù hợp nhu cầu xã hội hơn, khắc phục sự tồn tại kiểu phong trào “đầu voi đuôi chuột”
Nói một cách khác, thiết chế văn hóa cũng là “của dân, do dân, vì dân” chứ không phải là sản phẩm mà chính quyền, nhà quản lý mang lại để cho dân “hưởng thụ”. Do đó, thống kê hàng năm về mức sống hay chất lượng sống ở đô thị và các vùng khác, ngoài những số liệu về nhà ở, giáo dục, y tế hay mức thu nhập, chi tiêu và tài sản vật chất… cần có cả tiêu chí về mức độ tham gia sinh hoạt các thiết chế văn hóa cũng như những nhu cầu tinh thần khác của người dân.
Các mô hình mà đô thị nước ta đang hướng đến, như “thành phố đáng sống” hay “thành phố sống tốt” đều mang nội hàm đánh giá về “chất lượng sống” trong đó có đời sống tinh thần lành mạnh, phong phú, đa dạng của dân cư và sự đáp ứng của chính quyền với nhu cầu đó qua các thiết chế văn hóa.


Phản xạ văn hóa các vùng miền Việt Nam

_Nguồn:  https://logbasex.substack.com?utm_source=navbar&utm_medium=web Bản đăng lại từ bài viết trên trang Substack cùng tên của tác gi...