Nguyễn Thị Hậu
PHẬT VIỆN ĐỒNG DƯƠNG: BẢO TỒN MỘT DI SẢN ĐÃ THAY ĐỔI HỆ QUY CHIẾU
Giữ ‘gen đô thị’ trước áp lực phát triển (TC NGƯỜI ĐÔ THỊ)
Mỗi lần chỉnh trang một công trình quen thuộc không chỉ là thay đổi diện mạo, mà còn tác động đến ký ức đô thị. Câu chuyện bảo tồn di sản Sài Gòn vì thế không chỉ thuộc về quá khứ, mà còn là lựa chọn cho tương lai.
TS. Nguyễn Thị Hậu - Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử TP.HCM, chuyên gia hàng đầu về khảo cổ học và bảo tồn di sản, cho biết bảo tồn di sản không chỉ là “giữ hay không giữ”, mà còn liên quan đến các yếu tố sâu hơn như cấu trúc xã hội, kinh tế... Chính điều này khiến việc bảo tồn trở nên phức tạp, đôi khi dẫn đến những kết quả không như mong muốn(*).
Di sản đô thị: Không chỉ là công trình, mà là ký ức sống
Những ngày gần đây, câu chuyện chợ Bến Thành, Hồ Con Rùa, Nhà chú Hỏa… được chỉnh trang đã thu hút sự chú ý lớn của dư luận. Qua đó đặt ra câu hỏi: đâu là ranh giới giữa bảo tồn và cải tạo, giữa gìn giữ ký ức và nhu cầu phát triển? Và quan trọng hơn, ai là người có quyền quyết định diện mạo của những không gian đã trở thành một phần ký ức chung của thành phố? Để giải quyết những câu hỏi đó, việc hiểu đúng về di sản là rất cần thiết.
Theo TS. Nguyễn Thị Hậu, di sản đô thị là một tổng thể gồm cả vật thể và phi vật thể. Chúng gồm di tích khảo cổ dưới lòng đất, cảnh quan và công trình trên mặt đất, các yếu tố kiến trúc và phi vật thể như lễ hội, lối sống, văn hóa, đạo đức… Tất cả tạo nên khía cạnh lịch sử - xã hội của thành phố trong từng giai đoạn, phản ánh quá trình phát triển đô thị.
Tuy vậy trong nghiên cứu và thực tiễn, người ta thường chú ý nhiều đến di tích vật thể vì chúng hiện hữu rõ ràng. Vì vậy bảo tồn di sản đô thị, dưới góc độ này, trước hết là bảo tồn các khu vực có công trình di sản như một tổng thể, sau đó mới đến các công trình đơn lẻ.
Dẫu thế, cũng cần biết rằng, bảo tồn vật thể chính là cơ sở để bảo tồn yếu tố phi vật thể, bởi khi một công trình mất đi, ký ức về nó cũng dần biến mất. Ví dụ với những công trình không còn như Thương xá Tax, trong khi thế hệ trước vẫn còn nhớ được hình ảnh và vị trí công trình, thì các thế hệ sau sẽ dần lãng quên. Tương tự, hàng cây cổ thụ trên đường Tôn Đức Thắng đã bị đốn hạ để dành đất làm hạ tầng cầu đường, hàng cây này giờ cũng chỉ còn lại trong ký ức hay qua những bưu ảnh… Đây chính là mối quan hệ giữa di sản hữu hình và ký ức đô thị.
Từ thực tiễn trong và ngoài nước, theo bà Hậu, bảo vệ di sản thực chất là vấn đề chính sách và thực thi chính sách văn hóa đô thị. Nó bắt đầu từ cấp vĩ mô nhưng được hiện thực hóa bằng hành động cụ thể của nhiều bên tham gia.
Ngoài ra, hệ thống di sản cũng phải xuất phát từ các đặc trưng đô thị, bao gồm đặc trưng tự nhiên, lịch sử - văn hóa và cộng đồng cư dân. Qua gần 20 năm nghiên cứu, bà rút ra bốn đặc trưng cơ bản mà nếu mất đi, “gen” Sài Gòn – TP.HCM sẽ thay đổi, dẫn đến một diện mạo khác, một bản sắc khác.
Chúng gồm, thứ nhất là địa lý tự nhiên - nền tảng của đô thị. Sài Gòn - TP.HCM có cảnh quan sông nước hướng biển và tính kết nối. Thứ hai, ngay từ khi hình thành, Sài Gòn đã là trung tâm kinh tế, giao thương, dịch vụ và công nghiệp. Thứ ba là sự đa dạng văn hóa tộc người, gắn với quá trình nhập cư liên tục và biến động dân cư. Cuối cùng, đây là đô thị được quy hoạch theo kiểu phương Tây từ rất sớm.
Từ bốn đặc trưng trên có thể hình dung hệ thống di sản vật thể và phi vật thể của thành phố. Về phi vật thể, sự đa dạng tộc người kéo theo đa dạng lễ hội, ngôn ngữ, tôn giáo, tín ngưỡng (Việt, Hoa, Khmer, Ấn…), trong khi với nhánh vật thể, các đặc trưng này biểu hiện thành một hệ thống di sản phong phú.
Theo cách tiếp cận loại hình học, có thể phân chia di sản vật thể thành chín loại hình để nhận diện chức năng, cấu trúc và phục vụ trùng tu chính xác, tránh làm sai lệch các yếu tố gốc. Việc phân loại các loại hình di sản cũng nhằm nhận diện và có cách ứng xử phù hợp: có cái cần giữ, có cái có thể chuyển đổi.
Bà Hậu cũng lưu ý cảnh quan và văn hóa đô thị là một quần thể, không thể tách rời thành các đơn vị đơn lẻ. Do đó nếu khu trung tâm thành phố đã được xác định là vùng di sản thì cần được bảo tồn như một chỉnh thể, không thể chỉ giữ riêng từng công trình như nhà hát hay nhà thờ, trong khi cảnh quan xung quanh lại bị phá bỏ. Khi bối cảnh không còn, giá trị của công trình cũng sẽ suy giảm.
Vì vậy, các lý thuyết quy hoạch di sản đô thị đều nhấn mạnh: cảnh quan phải được nhìn nhận như một tổng thể. Mọi can thiệp vào công trình đều cần xét đến toàn bộ không gian đô thị xung quanh, đúng như cách đô thị được hình thành và quy hoạch từ đầu.
Nhiếp ảnh và vai trò lưu giữ lịch sử đô thị
Nhưng dù thuộc phân loại nào, thì cũng không thể phủ nhận mọi di sản vật thể đều gắn với di sản phi vật thể, trong đó ký ức đô thị là quan trọng nhất. Khác với nông thôn - nơi gắn kết bằng huyết thống, đô thị gắn kết qua mối quan hệ giữa con người và không gian sống.
Vì vậy đã có không ít người cố gắng lưu giữ những ký ức này. Một trong số đó là nhiếp ảnh gia Nguyễn Minh Hòa. Với hơn 45 năm kinh nghiệm, những năm gần đây, ông dành nhiều tâm huyết ghi lại hình ảnh lịch sử, di sản và văn hóa Sài Gòn.
Tại buổi tọa đàm, nhiếp ảnh gia Minh Hòa cho biết mình vốn là nhiếp ảnh gia tự do, trước đây tập trung chủ yếu vào mảng chân dung cũng như thời trang. Tuy nhiên bởi nhận ra tư liệu, hình ảnh về Sài Gòn giai đoạn 1975 - 1990 còn tương đối ít, nên sau khi con cái trưởng thành, ông đã dành nhiều thời gian hơn để chụp thành phố.
Một trong những hướng đi mà ông đặc biệt theo đuổi là đối chiếu ảnh xưa - nay. Trong đó, ông sử dụng tư liệu từ khoảng thập niên 1920 rồi sau đó chụp lại cũng đúng góc cũ để thấy được sự thay đổi.
Chẳng hạn ga Sài Gòn – chợ Bến Thành trước đây có bùng binh lớn, nhưng nay không còn. Ngoài ra tại công trường Mê Linh cũng từng đặt tượng Hai Bà Trưng nên con đường mang tên này (hiện nay đặt tượng Trần Hưng Đạo), và giữ cho đến ngày nay, minh chứng cho sức bền của ký ức đô thị…
Không dừng ở đó, nhiếp ảnh gia Minh Hòa cũng ghi lại những khoảnh khắc đặc biệt của thành phố này, có thể kể đến như vào dịp Tết không kẹt xe, không gian trở nên tĩnh lặng. Trong giai đoạn đại dịch Covid-19, ông cũng ghi được hình ảnh núi Bà Đen quan sát được từ trung tâm thành phố, nơi chỉ số ô nhiễm giảm mạnh vì thực hiện giãn cách xã hội… Ngoài ra ông cũng gắn liền với những bức ảnh chụp các ngôi trườngsở hữu kiến trúc Pháp, như trường Trần Đại Nghĩa, Lê Quý Đôn, Marie Curie, Lê Hồng Phong…
Từ những trải nghiệm đó nhiếp ảnh gia Minh Hòa khẳng định rằng: “Nhiếp ảnh không chỉ là ghi hình mà là kể chuyện. Khi hiểu và kể lại câu chuyện đằng sau mỗi không gian, mỗi công trình, thì người xem (dù là cư dân hay người đến từ nơi khác) đều có thể hình thành tình cảm sâu sắc hơn với thành phố này”.
Không dừng ở đó, nhiếp ảnh cũng có khả năng phản ánh hiện thực đặc biệt về quy hoạch đô thị. Chẳng hạn khi chụp một loạt tượng đài, ông nhận ra và lấy làm tiếc là có những công trình dân sự vượt quá chiều cao của các di sản. Trong khi từ góc nhìn trên cao qua drone hay trực thăng, thì bên cạnh cảm xúc ngoạn mục trước cảnh quan là một nỗi buồn trĩu nặng khi những mái ngói xuất hiện xen lẫn cao ốc một cách lộn xộn, phản ánh sự thiếu nhất quán trong khâu quy hoạch qua các thời kỳ…
Như vậy có thể nhận thấy Sài Gòn – TP.HCM là một thành phố có cấu trúc giàu lịch sử, nhưng đang phải đối diện với áp lực phát triển nhanh.
Tiếng nói cộng đồng và áp lực thay đổi chính sách bảo tồn
Tại buổi tọa đàm, trả lời câu hỏi của độc giả về việc nhìn nhận vai trò của các công trình thời Pháp thuộc tạo ra dư luận mới đây, TS. Nguyễn Thị Hậu nhận định việc xem xét công bằng chỉ mới được thực hiện tương đối quy củ, khách quan trong những năm gần đây, bởi trước đó từng tồn tại quan điểm cho rằng những gì thuộc về phong kiến hay là thực dân thì “không phù hợp” với ngày hiện tại.
Bà khẳng định đó là cách nhìn có phần phiến diện, khi chỉ đặt mọi thứ trong lát cắt lịch sử đơn tuyến. Theo bà, mỗi công trình đều mang giá trị lịch sử với chính vùng đất nơi nó tồn tại. Chẳng hạn với một đô thị hơn 300 năm như Sài Gòn, thì những công trình 100 - 200 năm tuổi hoàn toàn có ý nghĩa như những “chứng nhân” của quá trình hình thành và phát triển. Do đó không thể so sánh đơn giản với các vùng có lịch sử hàng nghìn năm để rồi phủ nhận giá trị của chúng.
Không dừng ở đó, các công trình còn có giá trị kiến trúc và văn hóa. Mỗi công trình tiêu biểu cho một phong cách, một tầng lớp xã hội và một thời kỳ nhất định. Từ những ngôi nhà gỗ dân gian đến các dinh thự, biệt thự hay công trình công cộng… tất cả đều góp phần tạo nên diện mạo văn hóa đô thị. Kiến trúc, vì thế, không chỉ là hình thức, mà còn là một phần quan trọng của ký ức văn hóa.
Cuối cùng, cũng cần quan tâm đến giá trị kinh tế của di sản. Nếu được nhìn nhận, khai thác đúng cách, các công trình này hoàn toàn có thể chuyển hóa thành nguồn lực phát triển, đặc biệt là trong lĩnh vực du lịch văn hóa. Do đó, điều quan trọng không nằm ở việc giữ lại một cách thụ động, mà là sử dụng một cách phù hợp để vừa bảo tồn, vừa phát huy giá trị.
Từ góc nhìn đó, có thể thấy việc đánh giá di sản cần bắt đầu bằng sự tôn trọng lịch sử của chính vùng đất. Dù công trình thuộc về giai đoạn nào, miễn là được xây dựng, tồn tại và gắn bó với đời sống con người ở đó, thì đã trở thành một phần của di sản. Và khi nhìn nhận như vậy, ta mới có thể thấy rõ giá trị thực sự của chúng trong dòng chảy liên tục của đô thị.
Bà cũng nói thêm trong khoảng hai thập niên gần đây, có thể nhận diện bốn nhóm tác nhân ảnh hưởng trực tiếp đến câu chuyện bảo tồn di sản. Trước hết là chính quyền và các cơ quan quản lý đô thị - bao gồm các sở, ngành liên quan đến di sản và cả bất động sản xung quanh. Đây là lực lượng nắm quyền quyết định về quy hoạch, cấp phép và định hướng phát triển, nên có vai trò mang tính then chốt.
Thứ hai là giới nghiên cứu và giảng dạy. Tuy vậy, bà cũng nhấn mạnh nghiên cứu sẽ không trọn vẹn nếu chỉ dừng ở học thuật mà không đi ra cộng đồng. Ngoài ra, những phát hiện, tri thức về giá trị di sản cần được truyền đạt rộng rãi, để cả xã hội (trong đó có nhà quản lý) có thể hiểu được, đưa ra quyết định thận trọng hơn nữa.
Thứ ba là cộng đồng, không chỉ cư dân tại chỗ mà bất kỳ ai quan tâm đến di sản đều có quyền lên tiếng. Những câu chuyện như bảo vệ cảnh quan Hồ Tây tại Hà Nội hay các công trình tại TP.HCM gần đây cho thấy tiếng nói cộng đồng không bị giới hạn về mặt địa lý, bởi di sản là tài sản chung, nên trách nhiệm gìn giữ cũng rất rộng mở.
Nhòm thứ tư, và ngày càng có sức ảnh hưởng lớn, là các nhà đầu tư. Trước đây, nhóm này thường được xem là một phần của cộng đồng, nhưng với tác động ngày càng mạnh mẽ đến diện mạo đô thị, họ dần trở thành lực lượng riêng biệt. Mục tiêu của họ không thể khác đi chính là lợi nhuận, từ đây đặt ra vấn đề cân bằng giữa lợi ích phát triển và bảo tồn, bởi phát triển đô thị không thể tách rời giá trị di sản.
Trong bối cảnh hiện nay, nhiều nghiên cứu cho rằng chính quyền, nhà quản lý và nhà đầu tư đang giữ vai trò quyết định, nhưng theo thời gian, tiếng nói của cộng đồng cũng đang có sức ảnh hưởng mạnh mẽ. Có thể minh chứng qua việc thay đổi màu sơn hay thiết kế cảnh quan ở chợ Bến Thành, khu vực Hồ Con Rùa… gần đây.
Từ đó có thể rút ra mỗi cá nhân đều có tiếng nói trong việc bảo vệ di sản. Nếu chỉ dừng ở sự tiếc nuối mà không lên tiếng, thì những giá trị ấy rất dễ biến mất. Ngược lại, khi nhiều người cùng quan tâm, cùng bày tỏ, tiếng nói cộng đồng sẽ tạo thành áp lực tích cực, buộc các quyết định phải được cân nhắc thấu đáo hơn nữa.
Bảo tồn, vì thế, không chỉ là trách nhiệm của một nhóm riêng lẻ, mà là một quá trình đồng hành giữa nhiều phía. Và điều quan trọng nhất là giữ được nhận thức rằng: “Những gì còn có thể giữ lại thì cần được giữ bằng mọi cách có thể”.
Minh Anh
https://nguoidothi.net.vn/giu-gen-do-thi-truoc-ap-luc-phat-trien-52093.html
DI SẢN ĐÔ THỊ - CHUYỆN VỀ CÁC VÒI NƯỚC CỔ
Nguyễn Thị Hậu
Trong
các thành phố châu Âu ta thường
bắt
gặp những vòi nước cổ trên đường phố.
Từ
thời trung cổ đến sau này các vua chúa châu Âu đã nghĩ tới việc xây những vòi
nước công cộng, hệ thống dẫn nước sạch tới đó cho người dân ở các khu dân cư,
cũng như người qua đường. Có
khi
bên vòi nước công cộng còn có cả bồn nước lớn có mái che dành cho các bà nội trợ
mang quần áo đến giặt, cũng là nơi gặp gỡ chuyện trò. Bây giờ chỉ còn lại những
vòi nước trên hè phố, nhiều người lơ đãng không biết rằng mình vừa đi qua một
chứng tích của cuộc sống từ vài trăm năm trước.
Vòi
nước cổ thường được đúc bằng gang, dựng thành trụ trên vỉa hè hay gắn vào tường
ngôi nhà ven đường. Nhiều miệng
vòi đúc thành hình miệng thú. Vòi
nước dùng cần bơm tay hay tự chảy (do áp lực từ tháp nước) nhưng đều là nước sạch
có thể uống được ngay. Dòng
nước chảy thẳng xuống cống thóat nước phía dưới, phía trên là vỉ nắp đậy cũng đúc bằng gang. Hầu hết các vòi nước cổ được bảo tồn khá tốt:
luôn được sơn chống rỉ, quét dọn sạch sẽ, nắp cống phía dưới không có rác
làm nghẹt cống. Quan trọng là nguồn nước dẫn đến những vòi này luôn đảm bảo vệ
sinh nên những người đi đường vẫn thường ghé miệng uống nước từ vòi một cách tự
nhiên và thích thú. Uống nước từ vòi nước mà mạch nước có từ hàng
trăm năm trước không chỉ là giải khát mà còn mang lại cảm giác dường
như đang sống ở thời xa xưa.
Hệ
thống cấp nước cổ ở
những thành phố này thời xưa gần như có chung một nguyên tắc: các “cầu dẫn nước” từ nguồn trên núi, từ
sông hay suối… đều được dẫn đến một
hay nhiều tháp nước chung của một thành phố. Một số thành phố có “bể chứa nước” khổng lồ như một cung
điện dưới lòng đất, như ở Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ). Tại đó nước được lọc
sạch và theo các ống dẫn về từng khu vực mà đầu tiên là đến các vòi nước công cộng.
Sau này hệ thống nước vào từng ngôi nhà nhưng những vòi nước trên đường phố vẫn
được duy trì để sử dụng. Sinh họat từ một nguồn nước nên cư dân có thói quen bảo
vệ nguồn nước chung, giữ vệ sinh để
hạn chế dịch bệnh thường xảy ra vào thời đó. Vào thời đó nguồn nước chung còn
liên quan đến một sinh hoạt cộng đồng: nhà tắm và nhà vệ sinh công cộng. Tại đó
có vòi nước sạch, những rãnh nước bằng đá được nước chảy qua suốt ngày đêm nên
luôn sạch sẽ. Các di tích này vẫn còn hiện diện ở nhiều thành phố cổ.
Đi qua nhiều nơi ở châu Âu ta có thể nhìn thấy những “cây
cầu máng” dài hàng chục, có khi hàng trăm cây số dẫn nước từ trên núi cao về
thành phố. Điển hình là những cầu dẫn nước cổ thời văn minh La Mã. Đó là những
cây cầu máng khổng lồ bằng đá có khi có hai tầng để đảm bảo độ cao,
sừng sững như những con rắn khổng lồ chạy dài hàng trăm
km vắt ngang qua nhiều vùng địa hình, làm ta luôn choáng ngợp về vẻ đẹp hoành
tráng mà rất nhẹ nhõm, duyên dáng cũa nó. Một ví dụ cho thấy trình độ của các kỹ
sư La Mã, ở thế kỷ thứ nhất là cầu dẫn nước ở Nimes - Pont du Gard (miền Nam nước
Pháp), bằng đá, dài gần 50km, chênh lệch chiều cao từ đầu tới cuối cầu ở mức độ
chính xác mà các kỹ sư cầu đường ngày nay phải thán phục. Hay cầu máng ở khu
Amoreiras (Lisbon), thoạt đầu mới nhìn tưởng đấy là một thành trì cổ khổng lồ, như
một con khủng long còn sót lại từ thời tiền sử...
Các thành phố này còn có nhiều Đài phun nước ở quảng
trường, có khi trong khu vườn, trong công viên… Tại những quảng trường – mở rộng
từ giao lộ của những con đường chính trong thành phố, đài phun nước thường có
các nhóm tượng nổi chìm mờ trong làn hơi nước phun ra từ chính những bức tượng ấy.
Các tia nước được phun ra theo nhiều hình dạng khác nhau. Nước ở đây như chưa
bao giờ ngừng chảy và du khách hầu như ai cũng dừng chân ghé lại, ngồi chơi
trên bệ đá, khỏa bàn tay mình vào bể nước trong biếc, có thể hứng từ những tia
nước ấy để uống hay để xoa lên mặt lấy phước, lấy may. Họ chụp hình, đôi khi những
bức hình rất đẹp bởi phía sau màn nuớc bỗng ánh lên ngũ sắc cầu vồng… Những đài
phun nước ở trung tâm thành phố, nhiều người cầm đồng tiền nhỏ, đứng quay lưng
vung tay ném qua đầu mình xuống bể nước trước khi tạm biệt, để mong ước có ngày
được trở lại nơi đây.
Các
cầu máng dẫn nước, vòi nước cổ, đài phun nước hay những nhà tắm, nhà vệ sinh
chung thời xưa... đều là những không gian cộng cộng, nơi con người gặp gỡ và
sinh hoạt chung. Bên cạnh đó còn có những quảng trường, nhà hát hay đấu trường...
dành cho các sự kiện lớn. Chỉ từ câu chuyện vòi nước cổ hay những đài phun nước
cũng cho ta biết về “quy họach đô thị” của những thành phố châu Âu từ hàng trăm
năm trước. Nó được tính tóan đến từng chi tiết nhưng lại hữu hiệu lâu dài bởi
vì không chỉ là việc xây dựng các công trình, nhà cửa, đường xá, quảng trường,
đài phun nước, công viên cho cộng đồng, mà còn là những vòi nước trên đường cho
từng khách bộ hành từng gia đình… Bài học giản đơn cho một “không gian đô thị bền
vững”: luôn có các không gian công cộng dù lớn hay nhỏ, dành cho cộng đồng cũng
đáp ứng nhu cầu của từng con người thì mỗi con người sẽ có ý thức gìn giữ và bảo
vệ lợi ích cho cả cộng đồng.
Từ câu chuyện các
vòi nước cổ ở châu Âu ta có thể nhình thấy nhiều
câu hỏi lịch sử lý thú có thể đặt ra chung quanh chủ đề "nguồn nước" và sinh hoạt cộng đồng
liên quan đến nước ở nước ta. Miền Nam có “văn minh sông nước” mà sông, kênh rạch
là nguồn nước chung sử dụng với nhiều mục đích từ sinh hoạt hàng ngày đến trồng
trọt, nuôi trồng và khai thác thủy sản... Miền Bắc xưa là “văn minh ao hồ”, mỗi
nhà có ao hoặc nhiều nhà dùng chung ao với nhiều chức năng, có “giếng làng” phần
nhiều từ ao, hồ sửa sang mà thành, giữ gìn làm “nước ăn” chung cho
cả làng, về sau nhiều nhà cũng đào giếng, Người Chăm cổ có “giếng Chăm” sửa
sang nguồn nước tự nhiên hoặc đào “giếng vuông”. Như vậy, ở nước ta nguồn nước
sạch được sử dụng trong phạm vi hẹp: từng làng hay từng gia đình, các công
trình nhân tạo như kênh đào, sông đào phần lớn là các công trình thủy lợi. Điều này phản ánh đời sống cộng đồng gắn liền với sân
đình, phố chợ, hồ nước hay bến sông – những không gian mang dấu ấn làng xã và
văn hóa nông nghiệp.
Tại các đô thị Việt Nam,
các quảng trưởng hình thành từ các giao lộ hay phía trước công trình cộng cộng,
quy mô nhỏ, có đài phun nước hay tượng đài chỉ xuất hiện từ khoảng đầu thế kỷ
20, “máy nước công cộng” trên đường phố cững vậy, được duy trì miền Nam đến khoảng
cuối những năm 1950, ở miền Bắc đến hết thời bao cấp khoảng 1990.
Đây là một hiện tượng kiến trúc – quy hoạch phản ánh sự thay đổi trong đời sống và sinh hoạt
đô thị Việt Nam.
Hình ảnh: Mai Nguyễn
KHƠI THÔNG DÒNG DI SẢN TỪ BẢO TÀNG
https://nguoidothi.net.vn/ve-can-tho-xem-cam-thi-46872.html
Từ khi Luật Di sản Việt Nam ra đời (2001) đến nay hệ
thống bảo tàng ngoài công lập với nhiều loại hình khác nhau đã dần dần hình
thành. Hệ
thống này có các loại hình bảo tàng về khảo cổ học (cổ vật...), dân tộc học,
thiên nhiên, nghệ thuật, kỹ thuật, lịch sử (lịch sử chiến tranh…), con người,
nhân vật và gia đình… Có một số bảo tàng mang tính chất tổng hợp, ở đó trưng
bày về nhiều đối tượng/loại hình di sản khác nhau, tùy theo mối quan tâm riêng
của nhà sưu tập.
Tuy nhiên từ nhiều năm nay, trong những chuyến khảo sát của tôi ở các tỉnh thành trong cả nước, tôi luôn nhận thấy một thực tế. Đó là, số lượng bảo tàng ngoài công lập vẫn còn quá ít ỏi so với tiềm năng, trữ lượng những di sản văn hóa đang được nhiều cá nhân, cộng đồng lưu giữ hoặc sở hữu. Mỗi địa phương đều có các nhà sưu tập còn chưa “xuất đầu lộ diện”, mặc dù trong giới sưu tầm cũn
g như giới bảo tàng có thể đã rất “rành
nhau”.
Gần đây nhất tôi có dịp đến thăm nhà sưu tập Nguyễn An Hà
và Bảo tàng Cầm Thi tại thành phố Cần Thơ. Nhà sưu tập Nguyễn An Hà – tính về
tuổi tác là thuộc thế hệ thứ ba những nhà sưu tập cổ vật ở Nam bộ - mà thế hệ đầu
tiêu biểu là nhà văn hóa Vương Hồng Sển. Đây là thế hệ lớn lên sau ngày đất nước
hòa bình thống nhất, có nhiều cơ hội tiếp cận nhiều nguồn tài liệu, hiện vật kể
cả những tài liệu quân sự, chính trị mà do trong một thời gian dài, loại tư liệu
hiện vật này chưa được đánh giá đúng giá trị lịch sử - văn hóa và khoa học. Điều
này có thể nhìn thấy ở khối lượng lớn hiện vật đa dạng về loại hình và chất liệu,
tính chất và niên đại... mà nhà sưu tầm Nguyễn An Hà đang lưu giữ.
Ngôi nhà anh ở có khuôn viên rộng rãi nên anh đã sử dụng
một phần thành nơi trưng bày di vật thời chiến tranh: những lô cốt, công sự của
lính Mỹ được phục dựng lại tỷ lệ 1/1 bằng vật liệu và hiện vật gốc như súng, đồ
dùng sinh hoạt, các loại quân phục và trang thiết bị khác... Ngoài ra còn có ba
chiếc xe tải lớn đã sử dụng trong chiến tranh cũng được anh đưa về trưng bày và
bảo quản tại đây. Cũng trong khuôn viên này còn có những chiếc cổng xưa đúc bằng
gang có chi tiết hoa văn độc đáo với phong cách trang trí thời Pháp. Đó là những
chiếc cổng của các công trình nhà xưa, dinh thự nổi tiếng quanh vùng được anh
sưu tầm từ rất sớm.
Trong ngôi nhà của anh Nguyễn An Hà nơi nào cũng như “kho
hiện vật” mới tạm sắp xếp còn chưa kịp phân loại một cách có hệ thống theo chất
liệu hay loại hình, niên đại. Anh giới thiệu với chúng tôi bộ sưu tập tranh của
họa sĩ Thái Đắc Phong đã được trưng bày tại TP. Hồ Chí Minh trong không gian
triển lãm De La Sot của nghệ sĩ Xuân Phượng – người được mệnh danh là “bà đỡ
mát tay” đưa hội họa Việt Nam ra thế giới. Họa sĩ Thái Đắc Phong sinh sống ở miền
Tây, ông từng hoạt động qua hai cuộc kháng chiến. Cơ may đưa anh Nguyễn An Hà gặp
gỡ ông và từ đó, những bức tranh của ông nằm im nhiều năm nay được “sống dậy”,
bước ra với người thưởng lãm, nhận được rất nhiều lời đánh giá cao từ các họa
sĩ, các nhà sưu tập và công chúng. Qua cuộc triển lãm này Nguyễn An Hà cũng được
nhìn nhận “là người gìn giữ ký ức và thời gian, qua công lao bảo tồn những di sản
văn hóa nghệ thuật của một vùng đất”, vì anh không chỉ có trong tay sưu tập tranh của họa sĩ Thái Đắc
Phong mà còn có tranh của một số họa sĩ nổi tiếng khác.
Cũng như một số nhà sưu tập phía Nam, anh Nguyễn An Hà
cũng có những sưu tập hiện vật thời kỳ trước 1975 kéo dài đến thời bao cấp thập
niên 1989 – 1990. Mấy chục két nước ngọt còn đóng nguyên chai nhãn hiệu phổ biến
như Chương Dương, bia Con Cọp, những vật dụng xưa cũ khác như máy hát, xe
honda, xe xích lô máy, máy may... Một “kho” áo dài xưa cùng hình chụp chủ nhân
trong bộ quần áo đó... Một thời đã qua với những sinh hoạt đời thường bỗng “sống
dậy” trong ký ức của bất cứ ai nhìn thấy những đồ vật quen thuộc này. Đặc biệt với
người nghiên cứu văn hóa xã hội thì những tập báo và tạp chí cũ, trong đó có chồng
Báo Xuân có hình bìa được các họa sĩ nổi tiếng ở Sài Gòn thể hiện, sưu tập các
tờ rơi giới thiệu của các rạp chiếu phim... vô cùng hữu ích. Đó là các bộ báo quý
hiếm như An Hà báo (của hai tỉnh An Giang – Hà Tiên thời chống Pháp), Gia Định
báo, Nông cổ mín đàm... Từ sưu tập báo chí này, vào năm 2023 anh Nguyễn An Hà
đã được Bảo tàng Báo chí Việt Nam mời dự Tọa đàm trưng bày “Chuyên đề báo Tết
1865 – 2000”.
Trong “kho mở” của nhà sưu tập Nguyễn An Hà còn có rất
nhiều loại hình hiện vật khác: những bức hình chân dung cá nhân, gia đình, nhiều
loại hồ sơ giấy tờ như các bản vẽ công trình trường học, nhà máy, dinh thự, kể
cả bản vẽ thiết một đoạn đường xe lửa hay một dòng kinh xáng... Tất cả được anh
Hà sưu tầm từ những chồng giấy tờ, hồ sơ bị bỏ đi, nhặt nhạnh từ dưới tầng hầm
các tòa nhà bị đập bỏ để xây mới... cho thấy sự tinh tường của nhà sưu tập, sớm
nhận biết giá trị độc đáo của những thứ “ve chai” và kiên trì lưu giữ. Nay những
hiện vật đó đã trở thành một phần của lịch sử đời sống của thành phố Cần Thơ
nói riêng và Nam bộ nói chung. Đó là chưa kể đến loại hình cổ vật. Nhìn một số
“gốm Cây Mai” ở đây tôi đã phải hỏi ngay xem anh còn lưu giữ những gì nữa? Tiếc
là phần lớn sưu tập này anh đã trao đổi để có kinh phí sưu tầm loại hiện vật
khác. Đặc biệt anh còn có sưu tập tài liệu hiện vật của một số nhân vật thuộc
lĩnh vực lịch sử quân sự. Gần đây anh cũng đã cung cấp cho một số nhà nghiên cứu
về lĩnh vực này.
Có thể nói, hiện vật của nhà sưu tập Nguyễn An Hà mang
tính tổng hợp nhưng đều được sưu tầm có chủ đích, vì vậy tuy chưa trưng bày “ra
tấm ra món” nhưng anh đã có sự hiểu biết sâu sắc về từng sưu tập, thể hiện qua
cách anh giới thiệu và trao đổi với chúng tôi. Dù Bảo tàng Cầm Thi chỉ mới phục
vụ chủ yếu là khách tại khu du lịch sinh thái này, nhưng nội dung của bảo tàng
– nếu được thể hiện bằng một hệ thống trưng bày có thể không lớn nhưng khoa học
và chọn lọc – thì hoàn toàn có khả năng tiếp đón một lượng khách lớn hơn và đa
dạng hơn.
Theo sự hiểu biết của tôi thì thực trạng sưu tầm, bảo quản
và giới thiệu các sưu tập hiện vật tại Bảo tàng Cầm Thi của nhà sưu tập Nguyễn
An Hà không phải là cá biệt. Tôi từng được tiếp xúc với những nhà sưu tập cũng
có số lượng hiện vật rất lớn, theo nhiều chủ đề khác nhau, bằng nhiều chất liệu
nhiều loại hình... Nhưng hiện nay vẫn chưa giới thiệu rộng rãi với công chúng.
Qua trao đổi với các anh chị chủ nhân sưu tập, điều đầu
tiên có thể nhận biết là các nhà sưu tập có thể có nhiều loại hiện vật khác
nhau. Sự phong phú của các loại hiện vật “thời đã qua” tôi tạm chia làm bốn chủ
đề chính: 1/cổ vật, 2/hiện vật dân tộc học, 3/hiện vật thời chiến tranh, 4/hiện
vật thời bao cấp. Mỗi chủ đề có nhiều nội dung khác nhau dựa vào việc phân chia
chất liệu, loại hình... Có những hiện vật có thể nằm ở nhiều nội dung, hoặc thuộc
về các chủ đề khác nhau. Sự đa dạng của hiện vật phản ánh sự đa dạng của đời sống
xã hội ở mỗi một địa phương, vùng miền, thậm chí phản ánh cả những hiện tượng
mà lịch sử chưa ghi chép.
Đây là điểm khác biệt đầu tiên so với các bảo tàng công lập
– nơi thường có một chủ đề cơ bản là “truyền thống lịch sử” từ thời nguyên thủy
đến hiện đại, mang tính khái quát. Vì vậy có sự trùng lắp về nội dung giữa nhiều
bảo tàng địa phương. Còn ở các sưu tập cá nhân có thể trưng bày theo nhiều “câu
chuyện” khác nhau, mang đến sự gần gũi và thân thiện hơn với người xem.
Thứ hai, đó là sự đam mê của các nhà sưu tập, đến mức có
thể “hy sinh, đánh đổi” nhiều thứ khác để có bằng được những hiện vật quý hiếm
hoặc yêu thích. Cơ chế tài chính cá nhân tạo điều kiện cho các nhà sưu tập linh
hoạt trao đổi hay mua bán hiện vật, ngoài ra họ còn có không gian để lưu giữ, tạm
thời bảo quản hiện vật ở mức tối thiểu. Nhiều nhà sưu tập dành phần lớn không
gian sắp xếp hiện vật như “kho mở” theo từng chủ đề, đây là cách thức phù hợp
nhất hiện nay để có thể giới thiệu các sưu tập hiện vật. Đồng thời cũng giúp
các nhà sưu tập “kiểm kê” biết còn thiếu hay đã dư loại hiện vật nào có thể
trao đi đổi lại. Từ đó khi xây dựng bảo tàng có thể lựa chọn trưng bày trước nội
dung độc đáo, “không đụng hàng”.
Thứ ba. Để hình thành một bảo tàng thì ngoài số lượng hiện
vật, chủ đề các sưu tập hiện vật thì nguồn gốc và niên đại hiện vật là những
tiêu chí quan trọng. Không chỉ các cổ vật mới cần định tuổi mà các hiện vật
khác cũng cần có một (khung) niên đại cụ thể (sản xuất vào thời gian nào), nguồn
gốc rõ ràng (sản xuất, làm ra ở đâu), xuất xứ (tìm thấy, hoặc mua từ đâu). Tuy
nhiên, có thể nói khá nhiều hiện vật trong các sưu tập chưa có thông tin này,
hoặc có thể chủ nhân các sưu tập không tiết lộ. Tuy nhiên, hồ sơ hiện vật bảo
tàng nếu thiếu nội dung này thì việc xác định giá trị hiện vật sẽ thiếu tính khoa
học.
Thứ tư. Nhiều nhà sưu tập chỉ muốn trưng bày hiện vật như
“kho mở” mà chưa mặn mà với việc thành lập bảo tàng tư nhân, thậm chí chưa muốn
công khai sưu tập của mình. Có thể nhận thấy điều làm cho họ ngần ngại khi muốn
thành lập bảo tàng là ở thủ tục hành chính, cùng với thái độ “không nhiệt tình”
của cán bộ văn hóa địa phương. Nhiều nhà sưu tập và nhà nghiên cứu cho rằng, các
điều khoản về điều kiện cho phép thành lập bảo tàng ngoài công lập như trong Luật
Di sản văn hóa hiện nay quy định là chung chung, nhiều điều không thiết thực, bất
cập, nặng về “quản lý” mà không thuận tiện cho cá nhân, cộng đồng tham gia hoạt
động bảo tàng.
Gần đây ở nước ta đã có một số bảo tàng ngoài công lập
gây được sự chú ý của cộng đồng bởi nội dung phong phú và hình thức trưng bày
hiện đại, hấp dẫn. Khi một tư nhân hoặc tổ chức quyết định thành lập bảo tàng
thì họ đã có số vốn lớn bằng hiện vật, cơ sở vật chất và sẵn sàng đầu tư xây dựng
bảo tàng hiện đại, theo xu hướng phát triển kinh tế di sản. Làm thế nào để
“khơi thông” nguồn vốn xã hội rất lớn này là một câu hỏi quan trọng mà các cấp
quản lý ngành văn hóa cần phải tìm ra câu trả lời nhanh chóng.
Một số bìa báo Xuân xưa trong bộ sưu tập của Nguyễn An Hà.
HẾT TẾT
TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)
https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...
-
Trích phần 3 của bài đăng trên tạp chí Di sản văn hóa số 3(15) 2023 3. Bảo tồn và phát triển nghệ thuật gốm Chăm ở Bàu Trúc trong bối cảnh ...
-
Một người bạn fb bất ngờ ra đi. Post bài thơ rất hay của bạn. Tôi biết Cao Hải Hà qua mạng Yahoo blog và sau là FB. Vài lần gặp Hà ở chỗ ...
-
Người Việt có một số thành ngữ và sự tích liên quan đến cá trê, như truyện Trê Cóc chẳng hạn. Câu chuyện không chỉ là việc Trê tranh giàn...

