Hiển thị các bài đăng có nhãn HTKH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn HTKH. Hiển thị tất cả bài đăng

Ý KIẾN TẠI TỌA ĐÀM VỀ HẠ TẦNG XANH (tại xã Bình Mỹ, 18.8.2026)

 Nguyễn thị Hậu, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM

Tham dự workshop hôm nay với chủ đề “Giá trị hạ tầng xanh trong quản lý phát triển vùng ven đô thị lớn” tôi muốn bắt đầu từ một câu hỏi đơn giản:

Khi nói đến phát triển vùng ven đô thị, cụ thể là tại Bình Mỹ, chúng ta đang phát triển cái gì? Là đất đai? Là hạ tầng? Là những khu đô thị mới? Hay rộng hơn, là một không gian sống mới cho con người? Tôi cho rằng câu hỏi này rất quan trọng, bởi nếu chúng ta chỉ nhìn vùng ven như một “quỹ đất” để đô thị mở rộng, thì hạ tầng xanh có thể sẽ chỉ được hiểu như một thành phần kỹ thuật của quy hoạch: thêm cây xanh, thêm mặt nước, thêm công viên, thêm hành lang sinh thái. Nhưng nếu nhìn vùng ven như một không gian sống, thì câu chuyện sẽ khác.

1. Đặt vấn đề: Vùng ven không phải là nơi “chưa trở thành đô thị”

Trong chương trình hôm nay, các nhà tổ chức đặt vấn đề về việc dung hòa giữa chiến lược phát triển đô thị và bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên, hướng tới một “không gian cộng sinh bền vững”. Tôi rất chú ý đến chữ “cộng sinh”, bởi nó gợi cho chúng ta một cách nhìn khác về vùng ven.

Thông thường, chúng ta gọi vùng ven là vùng chuyển tiếp: từ nông thôn sang đô thị, từ đất nông nghiệp sang đất xây dựng, từ không gian tự nhiên sang không gian nhân tạo. Nhưng có lẽ cần đảo ngược cách nhìn ấy.

Vùng ven không phải là nơi đô thị chưa hoàn chỉnh. Nó có thể là nơi đang tồn tại một hệ thống sống hoàn chỉnh theo một cách khác. Một sự so sáng tương tự: huyện Châu Thành của các tỉnh Nam bộ: không gian cộng sinh giữa đô thị hóa và vùng ven. Ở đó có sông, rạch, ao hồ, ruộng vườn, cây cối; có nhà cửa, đường làng, nơi sản xuất; có cộng đồng dân cư, tập quán, ký ức và những mối quan hệ xã hội đã được hình thành qua nhiều thế hệ. Nói cách khác, đô thị đến sau không có nghĩa là không gian sống bắt đầu được kiến tạo từ khi đô thị đến. Và đây chính là điều tôi nghĩ chúng ta cần lưu ý khi quản lý phát triển vùng ven.

2. Hạ tầng xanh và Không gian “sống cộng sinh”

2.1 Hạ tầng xanh không chỉ là “màu xanh” trên bản đồ quy hoạch

Từ góc nhìn đó, tôi muốn đề nghị chúng ta mở rộng khái niệm hạ tầng xanh.

Một con rạch có thể vừa điều tiết nước, vừa tạo sinh cảnh, vừa là không gian giao tiếp của cộng đồng. Một khu vườn có thể vừa sản xuất, vừa tạo cảnh quan, vừa lưu giữ một phương thức cư trú. Một con đường làng có thể vừa là giao thông, vừa là ký ức về một cấu trúc cư trú đã tồn tại trước đô thị hóa.

Bởi mỗi thành phần ấy có thể đồng thời mang nhiều chức năng: sinh thái – kinh tế – xã hội – văn hóa – cảnh quan – ký ức. Vì thế, tôi nghĩ điều chúng ta cần bảo vệ không chỉ là “hạ tầng xanh”, mà sâu hơn là hệ thống các quan hệ làm nên không gian sống.

2.2 Có thể gọi Hạ tầng xanh là “địa tầng của không gian sống”

Tôi xin mượn một cách tiếp cận mà tôi thường quan tâm trong nghiên cứu về đô thị và di sản: đọc không gian như những địa tầng.

Một vùng đất không chỉ có một lớp hiện tại. Nó có lớp tự nhiên, trên đó hình thành lớp cư trú, Rồi đến lớp sản xuất. Tiếp theo là lớp văn hóa, ký ức và các quan hệ cộng đồng. Sau đó đô thị hóa xuất hiện và tạo thêm một lớp mới. Nhưng đô thị hóa không nhất thiết phải xóa bỏ hoàn toàn những lớp trước đó. Nếu biết tổ chức tốt, những lớp ấy có thể chồng lên nhau và tiếp tục cùng tồn tại.

Tôi gọi đó là: địa tầng của không gian sống. Đây là một cách rất hữu ích để chúng ta nhìn vùng ven TP.HCM.

2.3 Từ hạ tầng xanh đến không gian cộng sinh

Nếu tiếp tục suy nghĩ như vậy, tôi muốn đề xuất một công thức rất đơn giản:

Không gian sống = tự nhiên + con người + văn hóa + kinh tế.

Bốn yếu tố này không tồn tại riêng rẽ:

Con người sống nhờ tự nhiên èKinh tế hình thành trên nền tảng của tự nhiên và xã hội èVăn hóa được hình thành từ cách con người thích nghi với môi trường và tổ chức đời sống è Tất cả những điều ấy được biểu hiện trong không gian.

Vì vậy, hạ tầng xanh có thể được nhìn như hạ tầng của sự cộng sinh. Không phải con người đứng một bên và thiên nhiên đứng một bên. Mà là: con người sống cùng tự nhiên, kinh tế phát triển cùng sinh thái, đô thị phát triển cùng cộng đồng, và hiện tại phát triển trên nền tảng của ký ức và di sản. Đó có lẽ là một cách hiểu sâu hơn về phát triển bền vững.

2.4 Hạ tầng xanh và di sản tự nhiên và văn hóa

Có thể nhiều người sẽ hỏi: Hạ tầng xanh thì liên quan gì đến di sản? Theo tôi, mối quan hệ này rất gần. Bởi chúng ta thường quen hiểu di sản là một ngôi đình, một ngôi chùa, một căn nhà cổ, một công trình kiến trúc, một hiện vật. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, di sản còn có thể là một cảnh quan, một dòng sông, một bến nước, một con đường, một khu vườn, một không gian cư trú, một phương thức sản xuất và cả ký ức của cộng đồng về nơi chốn ấy. Như vậy, không gian sống hôm nay chính là một phần của di sản ngày mai.

Nếu quá trình đô thị hóa chỉ quan tâm đến việc xây dựng cái mới mà không nhận diện những giá trị đang tồn tại, thì chúng ta có thể tạo ra một thành phố rất hiện đại nhưng ngày càng ít khả năng nhận diện chính mình. Đây là điều tôi nghĩ TP.HCM cần đặc biệt suy nghĩ khi mở rộng không gian đô thị.

3. Vùng ven có thể là nơi thử nghiệm một mô hình đô thị khác

Tôi cho rằng vùng ven không nhất thiết phải đi theo một con đường duy nhất:

nông thôn → đô thị → đô thị hóa hoàn toàn.

Chúng ta có thể nghĩ đến một mô hình khác:

nông nghiệp + sinh thái + cư trú + văn hóa + dịch vụ + đô thị.

Trong mô hình đó, phát triển không nhất thiết đồng nghĩa với san lấp, hạ tầng không chỉ là đường và cống... Cây xanh không chỉ là phần diện tích phải đạt trong một đồ án. Di sản không chỉ là những công trình cần “bảo tồn”. Và cộng đồng không chỉ là đối tượng được lấy ý kiến. Tất cả có thể trở thành thành phần chủ động của quá trình kiến tạo không gian sống.

Vì vậy, câu hỏi quan trọng không phải là “đô thị hóa Bình Mỹ sẽ đi đến đâu?” Tôi nghĩ chúng ta nên đặt một câu hỏi khác: Khi đô thị mở rộng, chúng ta muốn Bình Mỹ tăng diện tích đô thị hóa hay mở rộng không gian sống? Hai điều đó không hoàn toàn giống nhau: Một khu đô thị có thể rất lớn nhưng không nhất thiết tạo ra một không gian sống tốt. Ngược lại, một vùng ven có thể không quá “đô thị hóa” nhưng lại có những giá trị rất lớn về sinh thái, văn hóa, cộng đồng và chất lượng sống.

Do đó, bài toán hiện nay không phải chỉ là làm thế nào để vùng ven Bình Mỹ trở thành đô thị nhanh hơn, mà là: làm thế nào để Bình Mỹ có thể chuyển hóa mà không đánh mất khả năng sống của chính nó. Khi đó, hạ tầng xanh không còn là một phần bổ sung cho quy hoạch. Nó trở thành một trong những nền tảng của quy hoạch không gian sống mới của Bình Mỹ.

4. Kết luận

Thứ nhất, cần nhìn xã vùng ven Bình Mỹ như một không gian sống đang tồn tại, chứ không phải một khoảng trống chờ đô thị hóa (hạ tầng cứng).

Thứ hai, cần nhìn hạ tầng xanh ở Bình Mỹ như một hệ thống sống, chứ không chỉ như hệ thống kỹ thuật hay cảnh quan.

Thứ ba, cần nhìn phát triển đô thị ở Bình Mỹ như quá trình tái cấu trúc không gian sống, trong đó tự nhiên, con người, kinh tế, văn hóa và ký ức phải được đặt trong cùng một bài toán.

Nếu làm được như vậy, chúng ta không chỉ tạo ra đô thị vùng ven “xanh” hơn, mà có cơ hội tạo ra một xã/phường Bình Mỹ có khả năng sống tốt hơn, có bản sắc hơn và có khả năng thích ứng lâu dài hơn. Và có lẽ, đó mới là ý nghĩa sâu xa nhất của khái niệm “không gian cộng sinh bền vững” mà workshop hôm nay đặt ra.

Xin trân trọng cảm ơn quý vị!

GHI NHẬN TỪ HỘI THẢO
https://nguoidothi.net.vn/ha-tang-xanh-vung-ven-tai-san-cho-tuong-lai-do-thi-53696.html

Dưới góc nhìn bảo tồn di sản, TS Nguyễn Thị Hậu - Tổng Thư ký Hội Hoa học Lịch sử TP.HCM - Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM - đã thẳng thắn gạt bỏ góc nhìn “hạ cố”, coi vùng ven chỉ là nơi thấp kém, chưa được đô thị hóa hay là quỹ đất dự trữ chờ được xây dựng.

Vị chuyên gia lập luận rằng vùng ven của các đô thị lớn ở Nam bộ thực chất mang bóng dáng của các “huyện Châu Thành” thời xưa, sở hữu cấu trúc không gian sống vô cùng đặc biệt và bền vững. Những vùng ven này luôn giữ một vị thế công bằng, cân bằng mọi mặt đời sống vật chất lẫn tinh thần, và chính sự bình đẳng đó đã giúp nuôi chở, bảo vệ lại khu vực đô thị trung tâm suốt hơn 200 năm qua.

Phản biện lại xu hướng quy hoạch thực dụng hiện nay, bà Hậu bày tỏ sự dị ứng với ngôn ngữ làm dự án: “Tôi rất kỵ cái từ giao đất sạch cho nhà đầu tư. Bởi vì từ đất sạch đấy làm một nhát trên bản đồ là xóa toàn bộ lịch sử, xóa toàn bộ ký ức, xóa toàn bộ đời sống con người và những người đến sau họ hoàn toàn không biết gì về cái nơi đất mà họ đang sống, họ không biết ký ức, và đặc biệt là nó không có cái lòng biết ơn nữa”.

Theo bà, một đô thị hiện đại không bắt buộc phải xây dựng từ một vùng đất trống hay dập khuôn hệ thống hạ tầng cứng của nội thành. Hạ tầng xanh ở vùng ven như Bình Mỹ không chỉ là những mảng màu xanh của cây cỏ hay kênh rạch, mà nó bao gồm nhiều địa tầng đan xen như địa tầng tự nhiên, địa tầng cư trú, kinh tế và đặc biệt là lớp ký ức của cộng đồng.

TS Nguyễn Thị Hậu đưa ra một thông điệp thấm thía khác: “Trước tiên cái gì cũng phải ưu tiên cho cộng đồng cư dân Bình Mỹ. Cho nên du lịch thì tôi vẫn nghĩ là cái thứ hai. Chỉ khi nào đời sống cư dân bản địa được cải thiện, họ thấy được hưởng lợi và tự giác bảo vệ dòng sông của mình, thì lúc đó đô thị mới thực sự phát triển bền vững”.




 

BẢO TỒN ĐÌNH Ở TP. HỒ CHÍ MINH - Trường hợp đình An Khánh – Thủ Thiêm

 Trích bài NCKH tại Hội thảo về Di tích lịch sử Đình An Khánh - Thủ Thiêm

3.     Đình ở đô thị: từ giá trị truyền thống đến chức năng hiện đại

3.1 Đình Nam bộ thể hiện rõ nét những giá trị của đời sống văn hóa Nam bộ. Trong quá trình hình thành và phát triển, cư dân Nam bộ đã có sự tiếp nhận nhiều yếu tố mới và biến đổi yếu tố cũ trong kỹ thuật sản xuất, lối sống, sinh hoạt, văn hóa cộng đồng... để phù hợp với môi trường tự nhiên và xã hội mới. Vì vậy, thiết chế đình làng ở Nam bộ cũng không nằm ngoài “quy luật” đó, đình làng Nam bộ không nên bị bó hẹp ở sinh hoạt tín ngưỡng truyền thống mà cần thể hiện nhu cầu của đời sống mới bên cạnh lưu giữ lối sống nếp sống truyền thống.

 Theo nhà văn Sơn Nam[1], ở vùng đất Nam bộ đình làng có ý nghĩa rất quan trọng trong bối cảnh lưu dân vào khai phá vùng đất mới: Có xây dựng đình thì làng mới tạo được thế đứng, tăng cường gắn bó vào cộng đồng dân tộc và càn khôn vũ trụ. Bằng không thì “làng” chỉ như lục bình trôi sông, một dạng lưu dân tập thể. Cho nên, người lưu dân lập làng ở đâu dựng đình ở đó. Đình có vai trò “trung tâm” của làng xã, nơi tổ chức các lễ hội và những hoạt động văn hóa – xã hội khác.

Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Khánh lại có một nhận định thú vị và chính xác: Đình Nam bộ có lẽ đáng chú ý hơn các nơi khác vì đó còn là “biểu tượng” văn hóa của chủ thể quốc gia dân tộc. Đối với người Nam bộ, đình từng là nơi thể hiện hầu như toàn bộ thế giới quan và nhân sinh quan của người lưu dân… Vẻ uy nghi trang trọng của đình, ngoài căn nguyên tín ngưỡng, còn là sự kết tinh của “hồn thiêng sông núi” được xây đắp qua nhiều thế hệ, bằng máu và mồ hôi khai phá và bảo vệ đất đai làng xóm. Vì vậy, bảo tồn gìn giữ sự hiện diện của đình làng là một cách bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, trong quá khứ cũng như hiện tại và tương lai[2].

Với ý nghĩa đó, ở Nam bộ nói chung hay ở Sài Gòn – TP.HCM nói riêng, đình làng luôn là nơi lưu truyền truyền thống quê hương bản quán của mỗi cộng đồng, của từng lớp cư dân người Việt. Đình là nơi thờ cúng và ghi nhớ công lao các bậc Tiên hiền Hậu hiền khai hoang lập ấp, xây dựng xóm làng. Đình làng là “không gian cộng cảm” của cộng đồng về những ký ức chung, những sinh hoạt và thực hành tín ngưỡng, văn hóa chung. Từ cuối thế kỷ 20, quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa nhanh chóng trên phạm vi cả nước trong đó có TP.HCM, đã tác động không nhỏ đến thiết chế văn hóa truyền thống, nhất là đối với sự tồn tại các ngôi đình. Do đó, đình lại càng quan trọng vì đó là không gian lưu giữ, nhắc nhở về những giá trị tinh thần, những mối liên hệ cội nguồn đang ngày càng bị con người xao lãng, mối quan hệ “tình làng nghĩa xóm” có nguy cơ ngày càng lạt lẽo... trong xã hội đô thị phát triển nhanh chóng theo tốc độ internet thời đại toàn cầu.

Để có thể bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của đình trong đời sống đô thị hiện đại, cần chú ý bảo vệ và nâng cao hai yếu tố quan trọng của đình làng: 1/vai trò, ý nghĩa của đình làng đối với cộng đồng địa phương; 2/chức năng của đình làng phải đáp ứng nhu cầu đời sống hiện đại.

3.2 Quy hoạch đình làng trở thành trung tâm, hạt nhân của khu đô thị, khu dân cư mới. Có thể học tập kinh nghiệm của một số nước châu Âu từ việc quy hoạch, xây dựng những thành phố, khu đô thị mới trên cơ sở bảo tồn và phát huy vai trò của di sản văn hóa ở địa phương, đặc biệt là bảo tồn những nhà thờ cổ mà về khía cạnh xã hội thì ý nghĩa, chức năng tương tự như đình (làng) ở nước ta.

Trong vài năm gần đây, để có kiến thức thực tế về việc bảo tồn di sản văn hóa đô thị, tôi đã có một số chuyến đi khảo sát ở Pháp, Đức, Bỉ, Thụy sĩ, Hungaria, Ba Lan, Slovakia, Nga...  Điều khiến tôi tâm đắc nhất khi đến nhiều thành phố du lịch là, dù lớn hay nhỏ, có từ thời cổ xưa hay mới hình thành vài chục năm… hầu như tất cả đều lấy một ngôi làng hoặc thị trấn nhỏ có niên đại sớm nhất ở đó, để làm “điểm tựa” cho “đô thị hóa” và phát triển thành phố. Trong mỗi làng nhỏ hay thị trấn bình thường ấy, dấu tích quá khứ hiện diện mỗi ngày và được trân trọng như là báu vật: trung tậm làng là ngôi nhà thờ cổ kính trong đó còn lưu giữ những bức bích họa trên vòm trần hay bức tranh kính trên khung cửa cao; là quảng trường có tòa nhà trụ sở của làng/trấn, là một cái chợ có mái che, xung quanh vài tiệm cà phê, tiệm ăn lâu đời, quán bia của người địa phương “cha truyền con nối”, phục vụ du khách những món ăn truyền thống với phong cách chuyên nghiệp không thua tiệm ăn ở thành phố lớn mà vẫn ấm áp thân mật như với người cùng làng. Những công trình cổ như nhà thờ, trụ sở làng, chợ, kể cả những ngôi nhà của dân làng... qua thời gian, nhất là trong chiến tranh thế giới thứ 2, đã bị hư hỏng ít nhiều. Nhưng việc trùng tu, tôn tạo đều theo nguyên tắc khoa học, không biến thành công trình hiện đại. Tại đó, ngoài những sinh hoạt truyền thống  còn có nhiều sinh hoạt hiện đại nhất là của giới trẻ. Những công trình cổ, ngôi làng cổ trở nên thân gần gũi hơn với “đô thị mới”, thậm chí cả khi đó là một khu công nghiệp hiện đại.

Quy hoạch này nhất quán qua nhiều thể chế, thể hiện truyền thống tôn trọng lịch sử. Ngày nay đến những nơi đó du khách không chỉ được ngắm nhìn mà còn được cảm nhận, trải nghiệm qua tham quan, mua sắm, ẩm thực, lễ hội… những sinh hoạt “đậm đà bản sắc” của từng thành phố, vùng miền. Thậm chí ngày cuối tuần đến đó chỉ để nghỉ ngơi thư giãn dạo chơi trong khu rừng, bên hồ nước hay trên cánh đồng bạt ngàn hoa... Cách thức bảo tồn, quản lý, khai thác “tài nguyên bản địa” cho thấy di sản tham gia và “phục vụ” cuộc sống đương đại trước hết là vì cộng đồng – chủ nhân của di sản. Không gian công cộng trở thành “tài sản chung” bởi nó là ký ức của bao thế hệ dân làng, rồi lại được thế hệ sau tiếp tục gìn giữ và làm đẹp hơn. Di sản hình thành từ đó [3].

Tại TP.HCM, những huyện ngoại thành hay ở thành phố mới như Thủ Đức, và sắp tới đây sẽ có thể có thêm những “thành phố trong Thành phố”, các ngôi đình làng hoàn toàn có thể được coi là “hạt nhân” để quy hoạch một khu phố mới, khu dân cư mới. Nếu như xưa kia, qua quá trình làng xóm mở rộng, dần dần ngôi đình trở thành trung tâm của làng về vị trí, vị thế bên cạnh ý nghĩa là trung tâm sinh hoạt tinh thần và hành chính, thì ngày nay cần coi việc bảo tồn đình, chùa hay làng cổ trở thành điểm tựa, đòn bẩy cho sự phát triển hiện đại. Có vậy mới tránh được nguy cơ di dời, phá hủy công trình kiến trúc cổ, làm cho giá trị di sản và giá trị đô thị mới cao hơn.  Tuy nhiên, hiện nay vai trò của đình, chùa trong việc đáp ứng nhu cầu tinh thần của người dân khác nhau vì đã có sự thay đổi lớn trong nhu cầu và sinh hoạt tinh thần của cộng đồng, do đó sự đầu tư tiền của, công sức vào việc tôn tạo, trùng tu đình, chùa cũng khác nhau.

1.3   Đổi mới sinh hoạt của cộng đồng và bảo tồn lễ hội truyền thống tại đình làng trong đô thị

Để gắn bó hơn với cộng đồng và đáp ứng nhu cầu đời sống hiện đại, sinh hoạt văn hóa của đình cần đa dạng, phong phú hơn đồng thời bảo tồn tốt những lễ hội cổ truyền. Từ sự thay đổi hoàn cảnh kinh tế - xã hội và “chất lượng sống” của dân cư đô thị, nên chăng đình cần có thêm hình thức sinh hoạt, nội dung hoạt động mới trên cơ sở những giá trị cơ bản để tạo ra sức hấp dẫn và nhu cầu từ cộng đồng. Ở Nam bộ có nhiều địa phương đã sử dụng, tận dụng không gian, mặt bằng đình làng cho những sinh hoạt cộng đồng có tính “thời điểm”: Hội họp phổ biến chủ trương đường lối mới, thảo luận, đóng góp ý kiến cho các chủ trương, chính sách của chính quyền, phát động các phong trào xã hội của cộng đồng... Không gian ở đình tạo sự thân thiện, gần gũi giữa chính quyền với người dân.

Những sinh hoạt khác phù hợp điều kiện cụ thể của đô thị như tổ chức biểu diễn văn hóa nghệ thuật truyền thống (đờn ca tài tử, cải lương, hát bội...) với quy mô nhỏ ở đình làng để giới thiệu di sản văn hóa truyền thống cho cộng đồng, nhất là cho giới trẻ. Đồng thời bảo tồn, duy trì Lễ Kỳ Yên hàng năm với nghi thức truyền thống, hạn chế sự tham góp của yếu tố hiện đại không phù hợp, làm biến dạng và giảm giá trị lịch sử của lễ hội cổ truyền. Từ đó sự tiếp nhận và lan truyền các giá trị văn hóa của đình, ý thức lưu truyền của cộng đồng sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn trong việc bảo tồn công trình và sinh hoạt đình[4]. Điều cần thiết nhất hiện nay là chính quyền hỗ trợ các Ban quản lý, Ban trị sự, Ban Hội đình về phương thức hoạt động, nắm bắt nguyện vọng, nhu cầu của cộng đồng, từ đó tạo điều kiện vật chất và tinh thần cho cộng đồng tổ chức các hoạt động tại đình. Hiện nay có nhiều đình đã bổ sung nhân sự Ban quản lý, Ban trị sự là những người ở độ tuổi mới về hưu, còn sức khỏe, có tâm huyết để năng động hơn trong điều hành và kế thừa, thực hành các nghi lễ trong sinh hoạt tại đình. “Sức sống” của đình có được là nhờ chính sách thiết thực của chính quyền và sự gắn kết, tham gia của cộng đồng.

Các cơ quan văn hóa địa phương (quận, huyện) cần có những hình thức phổ biến giá trị, ý nghĩa đình làng bằng việc dịch các tài liệu văn bản Hán – Nôm liên quan đến lịch sử đình, về danh nhân, nhân thần nhiên thần thờ tự tại đình, để mọi người có điều kiện tìm hiểu. Ban trị sự, ban quản lý đình phối hợp với các trường học tổ chức các buổi sinh hoạt truyền thống về lịch sử và di sản văn hóa địa phương trong đó có đình làng... Kết nối với ngành du lịch để đưa một số ngôi đình có giá trị tiêu biểu về kiến trúc nghệ thuật, về lịch sử, về lễ hội... vào tuyến điểm du lịch của địa phương và kết nối với tuyển điểm du lịch quốc gia. 

Lời kết

Tầm quan trọng của ký ức cộng đồng đặc biệt cần thiết ở đô thị, nơi mà mối liên hệ và tính gắn kết của cộng đồng chưa sâu bền bằng ở nông thôn. Ký ức cộng đồng góp phần xác định cảnh quan tự nhiên và nhân văn – môi trường sống, phản ánh các thành tố văn hóa và sự nhận thức về các yếu tố đó của cộng đồng dân cư đô thị.

Quá trình đô thị hoá nhanh chóng làm cho những giá trị vốn có của đô thị mất đi. Áp lực sinh lợi kinh tế tức thời và sự thiếu khôn ngoan tỉnh táo, thiều tầm nhìn xa trong hoạch định chính sách, quy hoạch đô thị tất dẫn tới việc khai thác triệt để đất đai trong đô thị. Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, áp lực về kinh tế lẫn áp lực của “kiến trúc hiện đại” làm biến mất bản sắc văn hoá của mỗi đô thị. Đặc biệt những công trình tín ngưỡng, tôn giáo – thiết chế văn hóa truyền thống của cộng đồng cư dân đô thị thường là đối tượng chịu tác động nhanh và mạnh nhất.

Đình nơi đô thị cần thiết phải được bảo tồn, vì đó là lịch sử đô thị, là dấu tích cho người tứ xứ đến đây biết rằng, mình đang sống trên mảnh đất từng có những lớp người xưa đã đổ biết bao mồ hôi nước mắt để khai phá và bảo vệ cho những thế hệ sau. Đình nói riêng và di tích khảo cổ học, di tích lịch sử văn hóa nói chung ở TP.HCM và Nam bộ có giá trị cực kỷ quan trọng vì đã cho biết “vùng đất Nam bộ không phải là VÙNG ĐẤT MỚI như nhiều người vẫn nghĩ từ trước đến nay”! Đây là một quan niệm cũ cần thay đổi để có thể có ứng xử khác/mới/phù hợp hơn với vùng đất này.

Những hoạt động, sinh hoạt với nội dung mới phù hợp cuộc sống mới sẽ mang lại cho đình làng chức năng tương tự như một “Nhà văn hóa” hay câu lạc bộ ở khu phố. Đình là thiết chế văn hóa của cộng đồng, phục vụ cho cộng đồng địa phương (và khu vực rộng hơn) bằng những sinh hoạt hữu ích với sự thân thiện, gần gũi. Nhưng đình còn là một di sản văn hóa, việc “tích hợp” vào nó chức năng văn hóa mới sẽ góp phần thiết thực bảo tồn và phát huy giá trị một di sản kiến trúc – văn hóa độc đáo của dân tộc trong thời đại toàn cầu.

                 


[1] Sơn Nam, 2009. Đình miếu và lễ hội dân gian miền Nam, NXB Trẻ, tr.21.

[3] Nguyễn Thị Hậu, 2017. Nghĩ ngợi đường xa, NXB Văn hóa văn nghệ, tr.119.

[4] Nguyễn Thị Hậu, 2019. “Đình làng Nam bộ thời 4.0”. Sách Mỗi ngày ta sống. NXB Tổng hợp TPHCM, tr.178

Sáng nay 15/11 âm lịch Đi dự Lễ cúng Kỳ Yên đình An Khánh, Thủ Thiêm. Có niềm vui nhỏ là đã góp chút công sức cho việc xếp hạng di tích TP cho Đình An Khánh (phục dựng) và Nhà thờ Thủ Thiêm (bảo tồn).






DI TÍCH “BÓT CATINA” TRONG CẢNH QUAN ĐƯỜNG ĐỒNG KHỞI VÀ VÙNG LÕI DI SẢN ĐÔ THỊ SÀI GÒN

 Trích tham luận HTKH  "BOT CATINAT - DI TÍCH LỊCH SỬ CỦA TP.HCM"

1.    Đường Đồng Khởi: lịch sử hình thành và cảnh quan di sản đô thị

Trong công trình “Sài Gòn – Chở Lớn ký ức đô thị và con người”[1] của nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Hiệp, có một mục về “Đường Catinat đầu thế kỷ 20” khảo sát khá chi tiết về những công trình và chức năng của nó, một số nhân vật từng sinh sống, buôn bán, làm việc tại đó.

Theo công trình “Hạ tầng đô thị Sài Gòn buổi đầu” của Trần Hữu Quang[2] Đây là một trong những con đường cổ xưa nhất của Sài Gòn, có từ trước khi Pháp đến chiếm thành phố này. Con đường này do chính quyền người Việt Nam làm từ xưa hay thậm chí có thể còn lâu hơn nữa. Nhìn trên các bản đồ cổ, ta có thể nhận thấy con đường này dẫn thẳng từ sông Sài Gòn vào thành Gia Định (khi đó còn là thành Bát Quát hay thành Quy).

Sau năm 1859 con đường này chỗ rộng chỗ hẹp, rải đá dăm đỏ, hai bên đường còn những đoạn mương nước ứ đọng hôi thối... Trước 1897 con đường này kéo dài đến tận đường Võ Thị Sáu hiện nay, nhưng từ 1897 thì đường Catinat chỉ còn từ bờ sông đến Nhà Thờ Đức Bà. Đây là con đường đầu tiên của Sài Gòn mà Pháp cho chỉnh trang để làm thành một đường phố của đô thị. Và từ lúc đó những trục đường chính khác đều được làm song song với con đường này theo hướng tây bắc – đông nam... Đường Catinat cũng là một trong những con đường đầu tiên của Sài Gòn được tráng nhựa.

Kề từ đầu thời Pháp thuộc cho đến tận ngày nay, con đường này luôn luôn là con một đường trung tâm mang tính chất phố thương mại và có những tiệm thuộc hạng sang nhất của cả thành phố Sài Gòn... Tại đây có những địa điểm nổi tiếng trong lịch sử Sài Gòn như khách sạn Continental, khách sạn Majestic, tiệm Givral, Brodard, nhà sách Xuân Thu, hành lang thương mại Eden...

Còn theo công trình “Đô thị Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh, khảo cổ học và bảo tồn di sản” của Nguyễn Thị Hậu[3], trục đường Đồng Khởi từ Nhà thờ Đức Bà đến Nhà hát Lớn là nơi tập trung nhiều công trình văn hóa lịch sử, kết nối trục đường Lê Duẩn với không gian công cộng rộng mở... là một phần quan trọng của “vùng lõi di sản đô thị”, có những giá trị độc đáo so với những khu vực khác. Con đường Đồng Khởi được xếp vào loại hình di sản Cảnh quan đô thị, cùng với các tuyến đường quanh đó như Lê Duẩn, Nguyễn Huệ - Lê Lợi – Tôn Đức Thắng... Tuy nhiên từ khoảng 2010 khu vực này đã biến đổi nghiêm trọng.

Có thể kể đến những công trình di sản trên đường Đồng Khởi đã biến đổi hoặc không còn nữa: Hai tòa nhà lớn là Metropolitan góc Đồng Khởi – Nguyễn Du cùng với Diamon plaza bên đường Lê Duẩn đã làm thu hẹp cảnh quan quảng trường Công xã Paris và Nhà thờ Đức Bà, không gian khu vực này trở nên chật hẹp. Công viên Chi Lăng xanh mát như một “vườn treo” với các quán cà phê, là không gian công cộng, một “chiếu nghỉ” trên con đường đi bộ Đồng Khởi cũng bị biến đổi trở thành “mặt tiền” của công trình hình khối đồ sộ là Trung tâm thương mại Vincom.

 Khu hành lang thương mại Eden biến mất cùng những thương hiệu nổi tiếng như Givral, La Pagoda, nhà sách ngoại văn Xuân Thu, rạp phim Eden... Công viên Lam Sơn trước Nhà hát thành phố (cũng là một “chiếu nghỉ”) như một khu vườn nhỏ bao bọc bởi những hàng cây cao vút nhưng cũng biển đổi do hàng cây bị chặt, bùng binh Cây liễu trên đường Nguyễn Huệ kế đó cũng không còn. Khu chung cư cổ góc Đồng Khởi – Lê Thánh Tôn được xây mới và trở thành một phần của Ủy ban nhân dân TP.

Nhiều công trình mới, cao tầng, kiểu dáng hiện đại đã hiện diện trên con đường cổ xưa nhất của thành phố. May mắn là đến nay còn vài ngôi nhà phố, Nhà hát thành phố, vài khách sạn như Continental, Majestic, vài công trình khác như “Dinh Thượng thư” góc Lý Tự Trọng – Đồng Khởi, và “bót Catinat” số 164 Đồng Khởi. Nhưng cả con đường không còn là một tổng thể thống nhất về cảnh quan và kiến trúc như xưa.

Hiện trạng khu trung tâm TP. Hồ Chí Minh phản ánh xung đột điển hình giữa phát triển và bảo tồn di sản ở vùng lõi di sản đô thị Sài Gòn. Chính vì vậy, việc xếp hạng để có thể bảo tồn và phát huy giá trị một cách hiệu quả cho công trình “Bót Catinat” tại 164 Đồng Khởi càng có ý nghĩa quan trọng trong việc gìn giữ di sản văn hóa đô thị Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh.

Hình 1. Vị trí công trình (Nguồn: https://www.bookingservice.com.vn/khu-dat-vang-164-dong-khoi-sap-duoc-giai-cuu-.html )

2. Những giá trị cơ bản của công trình “Bót Catinat” tại 164 Đồng Khởi

2.1 Giá trị kiến trúc – cảnh quan

Bót Catinat nay là trụ sở của Sở Văn hoá – Thể thao TP. Hồ Chí Minh toạ lạc tại 164 Đồng Khởi (Q.1) nay thuộc phường Bến Nghé, nằm ngay đầu phía bắc đường Đồng Khởi (đường Catinat xưa), góc giao Nguyễn Du (xưa là Taberd), bắt đầu từ Quảng trường Công xã Paris phía trước Nhà thờ Đức Bà và Bưu điện TP. HCM, hướng xuống sông Sài Gòn đến Bạch Đằng, đường Tôn Đức Thắng.

Vị trí này với 3 mặt tiền Nguyễn Du, Đồng Khởi và Lý Tự Trọng, mặt còn lại giáp với trường Trần Đại Nghĩa, diện tích 9.800m2, thuộc khu vực “đất vàng” tại trung tâm thành phố[4], trên trục đường có các công trình có giá trị lịch sử - văn hoá và một số công trình hiện đại được coi là “điểm nhấn” của khu vực trung tâm.

Từ góc độ di sản kiến trúc, có thể nói di tích Bót Catinat là một trường hợp tiêu biểu của kiến trúc công sở thuộc địa thực dụng – thích nghi khí hậu, vừa giữ chức năng hành chính, vừa gắn với lịch sử đô thị đầy biến động. Giá trị lớn nhất không nằm ở “hình thức mỹ lệ”, mà ở tầng ký ức và cấu trúc gắn kết với cảnh quan đô thị Đồng Khởi. Đồng Khởi là “đường di sản” tập trung dày đặc công trình biểu tượng (Nhà hát Thành phố, Dinh Thượng thư, Continental, Majestic...). Công trình 164 Đồng Khởi nằm ở vị trí mốc mở đầu của trục, góp phần giữ đường gãy khối thấp – trung tầng ở đầu phố để tôn tầm nhìn về cụm Nhà thờ Đức Bà – Bưu điện. Việc giữ hình thái lộ giới, cao độ khối tích, và khoảng lùi tại 164 Đồng Khởi vì vậy có tác dụng cảnh quan đô thị vượt ra ngoài bản thân tòa nhà.

Hình 2. Một công trình di sản giữa “rừng” công trình hiện đại.

Nguôn:https://baodautu.vn/batdongsan/tai-sao-dai-gia-ngoai-bo-chay-khoi-dat-vang-d25422.html

2.2 Giá trị Lịch sử – ký ức đô thị

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Hiệp dựa vào thống kê Niên giám và nghiên cứu nhiều nguồn tư liệu, đã cho biết công trình tại 164 Catinat khởi dựng 1881, ban đầu (1905 – 1906) dùng làm nơi thu ngân địa phương (Recette locale). Từ 1907 – 1917 là nơi ông bà Descourtis – thâu ngân đặc biệt – tọa lạc. Từ 1912 trở đi là Kho bạc, Nha ngân khố (Trésor public). Sau này tòa nhà ngân khố trở thành bót cảnh sát của an ninh (La surete) sau khi Kho bạc mới được xây dựng trên đường Charner (đường Nguyễn Huệ). Kế bên số 164 Catinat là số 162, theo Niên giám 1905, 1906 là Cadastreet topographie (Nhà Địa dư), đến 1912 là Commissariat central de police (Trụ sở trung ương cảnh sát) do ông M. Lecoeur lãnh đạo[5].

Theo nhà nghiên cứu Tim Doling - tác giả một cuốn sách hướng dẫn du lịch di sản TP. Hồ Chí Minh[6] được nhiều người tìm đọc:

Năm 1917, trụ sở cảnh sát này được mở rộng đến số 164 phố Catinat, nơi sau này trở thành Sở Cảnh sát và Sở An ninh. Năm 1933, những kế toán viên cuối cùng được chuyển khỏi số 166 phố Catinat và toàn bộ khu nhà (162, 164 và 166) được xây dựng lại theo hình dạng hiện tại thành trụ sở Sở An ninh tại số 164 phố Catina.

 Từ 1954 – 1975 nơi đây nổi tiếng là một nơi tàn bạo đến đáng sợ; người ta nói rằng nhiều tù nhân bị giam giữ trong các phòng giam này đã bị tra tấn trước khi được chuyển đến nơi ở lâu dài hơn là Maison centrale (Nhà tù Trung tâm) trên đường La Grandière, nay là đường Lý Tự Trọng. Nằm rất gần Nhà thờ Chính tòa, Bót Catinat được những tù nhân bất hạnh mô tả là "Địa ngục bên cạnh thiên đường". Sau năm 1975, một tấm biển bên ngoài lối vào chính của tòa nhà cho chúng ta biết (bằng tiếng Việt) rằng ngay sau Cách mạng Tháng Tám, lá cờ Việt Minh đã tung bay trên Bót Catinat từ ngày 26 tháng 8 đến ngày 23 tháng 9 năm 1945, khi Pháp, với sự hỗ trợ của Anh, tái chiếm các tòa nhà công cộng ở Sài Gòn. Sau đó, Bót Catinat tiếp tục chức năng ban đầu của nó[7].

Từ sau 1975 toà nhà là trụ sở của Sở Văn hoá – Thể thao TP. Hồ Chí Minh.

Hiện nay sự biến đổi, mất mát nhiều công trình trên đường Đồng Khởi và những con đường ở khu vực trung tâm đã làm mất đi những di sản vật thể gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử, các nhân vật lịch sử, văn hóa một thời. Nó cũng làm suy giảm giá trị văn hóa phi vật thể của khu vực này: đó là sinh hoạt cộng đồng ở vỉa hè, công viên gồm buôn bán, giao tiếp, giải trí, dạo chơi đi bộ... tạo nên “hồn đô thị” đặc trưng của từng thành phố. Từ đó, một phần “ký ức đô thị” Sài Gòn dần biến mất, để lại biết bao sự tiếc nuối.

Tuy không đẹp như các di sản khác trên đường Đồng Khởi, nhưng công trình 164 Đồng Khởi đã trở thành một phần ký ức lịch sử – chính trị của thành phố. Cùng với nhiều công trình lịch sử - văn hóa khác trên con đường Đồng Khởi góp phần tạo nên một “vùng ký ức đô thị” Sài Gòn. Dù vậy nhưng cho đến nay công trình “Bót Catina 164 Đồng Khởi” chưa được xếp hạng di tích của TP. HCM.

Khu “đất vàng” này từng quy hoạch tái phát triển (tổ hợp thương mại – khách sạn), tuy chưa thực hiện nhưng cho đến nay khu vực này vẫn có giá trị về bất động sản thuộc hàng cao nhất thành phố, luôn là “đích đến” của nhiều nhà đầu tư địa ốc. Vì vậy, trước hết cần khẩn tập hợp, nghiên cứu hồ sơ để xếp hạng di tích Lịch sử - Văn hoá cấp thành phố cho công trình này, bảo tồn và phát huy giá trị theo định hướng giữ công năng “công sở” của công trình.

NGUYỄN THỊ HẬU

[1] Nguyễn Đức Hiệp, 2016. Sài Gòn Chợ Lớn ký ức đô thị và con người. NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh

[2] Trần Hữu Quang, 2012. Hạ tầng đô thị Sài Gòn buổi đầu. NXB Tổng hợp TPHCM, tr.34 -37

[3] Nguyễn Thị Hậu, 2019 (tái bản). Đô thị Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh, khảo cổ học và bảo tồn di sản. NXB Tổng hợp TPHCM, tr. 88-93

[6] Tim Doling, 2019. Khám phá Sài Gòn-Chợ Lớn – Di sản biến mất của Thành phố Hồ Chí Minh (NXB Thế Giới, Hà Nội, 2019)

Phản xạ văn hóa các vùng miền Việt Nam

_Nguồn:  https://logbasex.substack.com?utm_source=navbar&utm_medium=web Bản đăng lại từ bài viết trên trang Substack cùng tên của tác gi...