BẢO TỒN ĐÌNH Ở TP. HỒ CHÍ MINH - Trường hợp đình An Khánh – Thủ Thiêm

 Trích bài NCKH tại Hội thảo về Di tích lịch sử Đình An Khánh - Thủ Thiêm

3.     Đình ở đô thị: từ giá trị truyền thống đến chức năng hiện đại

3.1 Đình Nam bộ thể hiện rõ nét những giá trị của đời sống văn hóa Nam bộ. Trong quá trình hình thành và phát triển, cư dân Nam bộ đã có sự tiếp nhận nhiều yếu tố mới và biến đổi yếu tố cũ trong kỹ thuật sản xuất, lối sống, sinh hoạt, văn hóa cộng đồng... để phù hợp với môi trường tự nhiên và xã hội mới. Vì vậy, thiết chế đình làng ở Nam bộ cũng không nằm ngoài “quy luật” đó, đình làng Nam bộ không nên bị bó hẹp ở sinh hoạt tín ngưỡng truyền thốngcần thể hiện nhu cầu của đời sống mới bên cạnh lưu giữ lối sống nếp sống truyền thống.

 Theo nhà văn Sơn Nam[1], ở vùng đất Nam bộ đình làng có ý nghĩa rất quan trọng trong bối cảnh lưu dân vào khai phá vùng đất mới: xây dựng đình thì làng mới tạo được thế đứng, tăng cường gắn bó vào cộng đồng dân tộc và càn khôn vũ trụ. Bằng không thì “làng chỉ như lục bình trôi sông, một dạng lưu dân tập thể. Cho nên, người lưu dân lập làng ở đâu dựng đình ở đó. Đình có vai trò “trung tâm” của làng xã, nơi tổ chức các lễ hội và những hoạt động văn hóa – xã hội khác.

Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Khánh lại có một nhận định thú vị và chính xác: Đình Nam bộ có lẽ đáng chú ý hơn các nơi khác vì đó còn là “biểu tượng” văn hóa của chủ thể quốc gia dân tộc. Đối với người Nam bộ, đình từng là nơi thể hiện hầu như toàn bộ thế giới quan và nhân sinh quan của người lưu dân… Vẻ uy nghi trang trọng của đình, ngoài căn nguyên tín ngưỡng, còn là sự kết tinh của “hồn thiêng sông núi” được xây đắp qua nhiều thế hệ, bằng máu và mồ hôi khai phá và bảo vệ đất đai làng xóm. Vì vậy, bảo tồn gìn giữ sự hiện diện của đình làng là một cách bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, trong quá khứ cũng như hiện tại và tương lai[2].

Với ý nghĩa đó, ở Nam bộ nói chung hay ở Sài Gòn – TP.HCM nói riêng, đình làng luôn là nơi lưu truyền truyền thống quê hương bản quán của mỗi cộng đồng, của từng lớp cư dân người Việt. Đình là nơi thờ cúng và ghi nhớ công lao các bậc Tiên hiền Hậu hiền khai hoang lập ấp, xây dựng xóm làng. Đình làng là “không gian cộng cảm” của cộng đồng về những ký ức chung, những sinh hoạt và thực hành tín ngưỡng, văn hóa chung. Từ cuối thế kỷ 20, quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa nhanh chóng trên phạm vi cả nước trong đó có TP.HCM, đã tác động không nhỏ đến thiết chế văn hóa truyền thống, nhất là đối với sự tồn tại các ngôi đình. Do đó, đình lại càng quan trọng vì đó là không gian lưu giữ, nhắc nhở về những giá trị tinh thần, những mối liên hệ cội nguồn đang ngày càng bị con người xao lãng, mối quan hệ “tình làng nghĩa xóm” có nguy cơ ngày càng lạt lẽo... trong xã hội đô thị phát triển nhanh chóng theo tốc độ internet thời đại toàn cầu.

Để có thể bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của đình trong đời sống đô thị hiện đại, cần chú ý bảo vệ và nâng cao hai yếu tố quan trọng của đình làng: 1/vai trò, ý nghĩa của đình làng đối với cộng đồng địa phương; 2/chức năng của đình làng phải đáp ứng nhu cầu đời sống hiện đại.

3.2 Quy hoạch đình làng trở thành trung tâm, hạt nhân của khu đô thị, khu dân cư mới. Có thể học tập kinh nghiệm của một số nước châu Âu từ việc quy hoạch, xây dựng những thành phố, khu đô thị mới trên cơ sở bảo tồn và phát huy vai trò của di sản văn hóa ở địa phương, đặc biệt là bảo tồn những nhà thờ cổ mà về khía cạnh xã hội thì ý nghĩa, chức năng tương tự như đình (làng) ở nước ta.

Trong vài năm gần đây, để có kiến thức thực tế về việc bảo tồn di sản văn hóa đô thị, tôi đã có một số chuyến đi khảo sát Pháp, Đức, Bỉ, Thụy sĩ, Hungaria, Ba Lan, Slovakia, Nga...  Điều khiến tôi tâm đắc nhất khi đến nhiều thành phố du lịch là, dù lớn hay nhỏ, có từ thời cổ xưa hay mới hình thành vài chục năm… hầu như tất cả đều lấy một ngôi làng hoặc thị trấn nhỏ có niên đại sớm nhất ở đó, để làm “điểm tựa” cho “đô thị hóa” và phát triển thành phố. Trong mỗi làng nhỏ hay thị trấn bình thường ấy, dấu tích quá khứ hiện diện mỗi ngày và được trân trọng như là báu vật: trung tậm làng là ngôi nhà thờ cổ kính trong đó còn lưu giữ những bức bích họa trên vòm trần hay bức tranh kính trên khung cửa cao; là quảng trường có tòa nhà trụ sở của làng/trấn, là một cái chợ có mái che, xung quanh vài tiệm cà phê, tiệm ăn lâu đời, quán bia của người địa phương “cha truyền con nối”, phục vụ du khách những món ăn truyền thống với phong cách chuyên nghiệp không thua tiệm ăn ở thành phố lớn mà vẫn ấm áp thân mật như với người cùng làng. Những công trình cổ như nhà thờ, trụ sở làng, chợ, kể cả những ngôi nhà của dân làng... qua thời gian, nhất là trong chiến tranh thế giới thứ 2, đã bị hư hỏng ít nhiều. Nhưng việc trùng tu, tôn tạo đều theo nguyên tắc khoa học, không biến thành công trình hiện đại. Tại đó, ngoài những sinh hoạt truyền thống  còn có nhiều sinh hoạt hiện đại nhất là của giới trẻ. Những công trình cổ, ngôi làng cổ trở nên thân gần gũi hơn với “đô thị mới”, thậm chí cả khi đó là một khu công nghiệp hiện đại.

Quy hoạch này nhất quán qua nhiều thể chế, thể hiện truyền thống tôn trọng lịch sử. Ngày nay đến những nơi đó du khách không chỉ được ngắm nhìn mà còn được cảm nhận, trải nghiệm qua tham quan, mua sắm, ẩm thực, lễ hội… những sinh hoạt “đậm đà bản sắc” của từng thành phố, vùng miền. Thậm chí ngày cuối tuần đến đó chỉ để nghỉ ngơi thư giãn dạo chơi trong khu rừng, bên hồ nước hay trên cánh đồng bạt ngàn hoa... Cách thức bảo tồn, quản lý, khai thác “tài nguyên bản địa” cho thấy di sản tham gia và “phục vụ” cuộc sống đương đại trước hết là vì cộng đồng – chủ nhân của di sản. Không gian công cộng trở thành “tài sản chung” bởi nó là ký ức của bao thế hệ dân làng, rồi lại được thế hệ sau tiếp tục gìn giữ và làm đẹp hơn. Di sản hình thành từ đó [3].

Tại TP.HCM, những huyện ngoại thành hay ở thành phố mới như Thủ Đức, và sắp tới đây sẽ có thể có thêm những “thành phố trong Thành phố”, các ngôi đình làng hoàn toàn có thể được coi là “hạt nhân” để quy hoạch một khu phố mới, khu dân cư mới. Nếu như xưa kia, qua quá trình làng xóm mở rộng, dần dần ngôi đình trở thành trung tâm của làng về vị trí, vị thế bên cạnh ý nghĩa là trung tâm sinh hoạt tinh thần và hành chính, thì ngày nay cần coi việc bảo tồn đình, chùa hay làng cổ trở thành điểm tựa, đòn bẩy cho sự phát triển hiện đại. Có vậy mới tránh được nguy cơ di dời, phá hủy công trình kiến trúc cổ, làm cho giá trị di sản và giá trị đô thị mới cao hơn.  Tuy nhiên, hiện nay vai trò của đình, chùa trong việc đáp ứng nhu cầu tinh thần của người dân khác nhau vì đã có sự thay đổi lớn trong nhu cầu và sinh hoạt tinh thần của cộng đồng, do đó sự đầu tư tiền của, công sức vào việc tôn tạo, trùng tu đình, chùa cũng khác nhau.

1.3   Đổi mới sinh hoạt của cộng đồng và bảo tồn lễ hội truyền thống tại đình làng trong đô thị

Để gắn bó hơn với cộng đồng và đáp ứng nhu cầu đời sống hiện đại, sinh hoạt văn hóa của đình cần đa dạng, phong phú hơn đồng thời bảo tồn tốt những lễ hội cổ truyền. Từ sự thay đổi hoàn cảnh kinh tế - xã hội và “chất lượng sống” của dân cư đô thị, nên chăng đình cần có thêm hình thức sinh hoạt, nội dung hoạt động mới trên cơ sở những giá trị cơ bản để tạo ra sức hấp dẫn và nhu cầu từ cộng đồng. Ở Nam bộ nhiều địa phương đã sử dụng, tận dụng không gian, mặt bằng đình làng cho những sinh hoạt cộng đồng có tính “thời điểm”: Hội họp phổ biến chủ trương đường lối mới, thảo luận, đóng góp ý kiến cho các chủ trương, chính sách của chính quyền, phát động các phong trào xã hội của cộng đồng... Không gian ở đình tạo sự thân thiện, gần gũi giữa chính quyền với người dân.

Những sinh hoạt khác phù hợp điều kiện cụ thể của đô thị như tổ chức biểu diễn văn hóa nghệ thuật truyền thống (đờn ca tài tử, cải lương, hát bội...) với quy mô nhỏ ở đình làng để giới thiệu di sản văn hóa truyền thống cho cộng đồng, nhất là cho giới trẻ. Đồng thời bảo tồn, duy trì Lễ Kỳ Yên hàng năm với nghi thức truyền thống, hạn chế sự tham góp của yếu tố hiện đại không phù hợp, làm biến dạng và giảm giá trị lịch sử của lễ hội cổ truyền. Từ đó sự tiếp nhận và lan truyền các giá trị văn hóa của đình, ý thức lưu truyền của cộng đồng sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn trong việc bảo tồn công trình và sinh hoạt đình[4]. Điều cần thiết nhất hiện nay là chính quyền hỗ trợ các Ban quản lý, Ban trị sự, Ban Hội đình về phương thức hoạt động, nắm bắt nguyện vọng, nhu cầu của cộng đồng, từ đó tạo điều kiện vật chất và tinh thần cho cộng đồng tổ chức các hoạt động tại đình. Hiện nay có nhiều đình đã bổ sung nhân sự Ban quản lý, Ban trị sự là những người ở độ tuổi mới về hưu, còn sức khỏe, có tâm huyết để năng động hơn trong điều hành và kế thừa, thực hành các nghi lễ trong sinh hoạt tại đình. “Sức sống” của đình có được là nhờ chính sách thiết thực của chính quyền và sự gắn kết, tham gia của cộng đồng.

Các cơ quan văn hóa địa phương (quận, huyện) cần có những hình thức phổ biến giá trị, ý nghĩa đình làng bằng việc dịch các tài liệu văn bản Hán – Nôm liên quan đến lịch sử đình, về danh nhân, nhân thần nhiên thần thờ tự tại đình, để mọi người có điều kiện tìm hiểu. Ban trị sự, ban quản lý đình phối hợp với các trường học tổ chức các buổi sinh hoạt truyền thống về lịch sử và di sản văn hóa địa phương trong đó có đình làng... Kết nối với ngành du lịch để đưa một số ngôi đình có giá trị tiêu biểu về kiến trúc nghệ thuật, về lịch sử, về lễ hội... vào tuyến điểm du lịch của địa phương và kết nối với tuyển điểm du lịch quốc gia. 

Lời kết

Tầm quan trọng của ký ức cộng đồng đặc biệt cần thiết ở đô thị, nơi mà mối liên hệ và tính gắn kết của cộng đồng chưa sâu bền bằng ở nông thôn. Ký ức cộng đồng góp phần xác định cảnh quan tự nhiên và nhân văn – môi trường sống, phản ánh các thành tố văn hóa và sự nhận thức về các yếu tố đó của cộng đồng dân cư đô thị.

Quá trình đô thị hoá nhanh chóng làm cho những giá trị vốn có của đô thị mất đi. Áp lực sinh lợi kinh tế tức thời và sự thiếu khôn ngoan tỉnh táo, thiều tầm nhìn xa trong hoạch định chính sách, quy hoạch đô thị tất dẫn tới việc khai thác triệt để đất đai trong đô thị. Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, áp lực về kinh tế lẫn áp lực của “kiến trúc hiện đại” làm biến mất bản sắc văn hoá của mỗi đô thị. Đặc biệt những công trình tín ngưỡng, tôn giáo – thiết chế văn hóa truyền thống của cộng đồng cư dân đô thị thường là đối tượng chịu tác động nhanh và mạnh nhất.

Đình nơi đô thị cần thiết phải được bảo tồn, vì đó là lịch sử đô thị, là dấu tích cho người tứ xứ đến đây biết rằng, mình đang sống trên mảnh đất từng có những lớp người xưa đã đổ biết bao mồ hôi nước mắt để khai phá và bảo vệ cho những thế hệ sau. Đình nói riêng và di tích khảo cổ học, di tích lịch sử văn hóa nói chung ở TP.HCM và Nam bộ có giá trị cực kỷ quan trọng vì đã cho biết “vùng đất Nam bộ không phải là VÙNG ĐẤT MỚI như nhiều người vẫn nghĩ từ trước đến nay”! Đây là một quan niệm cũ cần thay đổi để có thể có ứng xử khác/mới/phù hợp hơn với vùng đất này.

Những hoạt động, sinh hoạt với nội dung mới phù hợp cuộc sống mới sẽ mang lại cho đình làng chức năng tương tự như một “Nhà văn hóa” hay câu lạc bộ ở khu phố. Đình là thiết chế văn hóa của cộng đồng, phục vụ cho cộng đồng địa phương (và khu vực rộng hơn) bằng những sinh hoạt hữu ích với sự thân thiện, gần gũi. Nhưng đình còn là một di sản văn hóa, việc “tích hợp” vào nó chức năng văn hóa mới sẽ góp phần thiết thực bảo tồn và phát huy giá trị một di sản kiến trúc – văn hóa độc đáo của dân tộc trong thời đại toàn cầu.

                 


[1] Sơn Nam, 2009. Đình miếu và lễ hội dân gian miền Nam, NXB Trẻ, tr.21.

[3] Nguyễn Thị Hậu, 2017. Nghĩ ngợi đường xa, NXB Văn hóa văn nghệ, tr.119.

[4] Nguyễn Thị Hậu, 2019. “Đình làng Nam bộ thời 4.0”. Sách Mỗi ngày ta sống. NXB Tổng hợp TPHCM, tr.178

Sáng nay 15/11 âm lịch Đi dự Lễ cúng Kỳ Yên đình An Khánh, Thủ Thiêm. Có niềm vui nhỏ là đã góp chút công sức cho việc xếp hạng di tích TP cho Đình An Khánh (phục dựng) và Nhà thờ Thủ Thiêm (bảo tồn).






Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BẢO TỒN ĐÌNH Ở TP. HỒ CHÍ MINH - Trường hợp đình An Khánh – Thủ Thiêm

  Trích bài NCKH tại Hội thảo về Di tích lịch sử Đình An Khánh - Thủ Thiêm 3.      Đình ở đô thị: từ giá trị truyền thống đến chức năng hiện...