Hiển thị các bài đăng có nhãn tham luận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tham luận. Hiển thị tất cả bài đăng

DẤU ẤN VĂN HÓA ĐÔNG SƠN Ở NAM BỘ - VIỆT NAM

  (trích tham luận tại HTKH 100 năm phát hiện và nghiên cứu văn hóa Đông Sơn, 1924 - 2024)

Thời đại kim khí Việt Nam có ba trung tâm văn hóa phát triển rực rỡ: Đông Sơn ở miền Bắc, Sa Huỳnh ở miền Trung và Đồng Nai ở miền Nam. Mỗi trung tâm có truyền thống và bản sắc riêng, thông qua giao lưu văn hóa – kỹ thuật mỗi nền văn hóa đã lưu lại dấu ấn đặc biệt của các nền văn hóa khác.

Vùng đất Nam bộ đã phát hiện một số di vật thể hiện dấu ấn của văn hóa Đông Sơn, tuy ít ỏi nhưng là hiện vật đặc trưng của nền văn hóa này. Tìm hiểu về giao lưu văn hóa có thể nhận thấy ảnh hưởng của văn hóa Đông Sơn đến những vùng xung quanh tùy thuộc vào mức độ tương đồng và khác biệt với những nền văn hóa ở đó. Những dấu ấn của văn hóa Đông Sơn ở Nam bộ phản ánh mức độ và cách thức văn hóa Đồng Nai tiếp nhận những ảnh hưởng của văn hóa Đông Sơn.

....

Cơ sở của sự giao lưu văn hóa Đông Sơn và văn hóa Đồng Nai

Đây là hai nền văn hóa hình thành và phát triển chủ yếu ở lưu vực hai con sông lớn: sông Hồng và sông Đồng Nai, là tiền đề của hai nền văn minh. Do đó chúng đều có ý nghĩa lịch sử và giá trị văn hóa quan trọng như nhau. Từ những yếu tố cơ bản của một nền văn hóa khảo cổ, có thể nhìn nhận một số tương đồng và khác biệt của hai nền văn hóa này[1].

Địa hình cư trú của dân cư văn hóa Đông Sơn, văn hóa Đồng Nai.

Xuất phát của hai nền văn hóa này đều từ vùng trung du – đồi phù sa cổ của sông Hồng/sông Đồng Nai. Giai đoạn phát triển cuối – sơ kỳ sắt – thì hệ thống di tích đã lan rộng đến tận ven biển. Nếu văn hóa Đông Sơn lấy sông Hồng làm tuyến phát triển chính, bên cạnh đó còn có lưu vực sông Mã, sông Cả thì văn hóa Đồng Nai cũng lấy lưu vực sông Đồng Nai làm tuyến chính, cùng với đó là lưu vực sông Bé và sông Vàm Cỏ.

Văn hóa Đông Sơn và văn hóa Đồng Nai đều có thể phân chia thành những “loại hình” theo địa lý: Đông Sơn núi/đồng bằng/ven biển; Đồng Nai đồi bazan/phù sa cổ/ngập mặn. Trong đó, dân cư văn hóa Đông Sơn phát triển đời sống phong phú nhất ở đồng bằng sông Hồng còn dân cư văn hóa Đồng Nai có đời sống phong phú nhất là vùng ven biển, vì sông Đồng Nai chưa kịp tạo lập được một vùng đồng bằng như sông Hồng. Đồng thời, vùng cửa sông Đồng Nai nằm trên tuyến đường biển vùng ĐNA có mối quan hệ giao lưu sôi động trong thời hậu kỳ kim khí.

Về quan hệ giao lưu và lan tỏa của hai nền văn hóa Đông Sơn, Đồng Nai

Văn hóa Đông Sơn có xu hướng giao lưu theo dòng chảy của sông Hồng từ phía bắc xuống; trong khi đó ảnh hưởng và giao lưu ở văn hóa Đồng Nai nổi rõ yếu tố từ biển Đông vào. Đến giai đoạn sơ kỳ sắt yếu tố văn hóa lục địa khá nổi trội trong văn hóa Đông Sơn (thể hiện qua những bộ sưu tập công cụ – vũ khí đồng/sắt) còn trong văn hóa Đồng Nai yếu tố văn hóa biển càng rõ ràng (nhất là qua đồ trang sức và đồ gốm của nhóm di tích Giồng Cá Vồ/ Giồng Phệt/ Giồng Lớn/ Gò Ô Chùa).

Trong mối quan hệ với với văn hóa Sa Huỳnh – trung tâm kim khí ven biển miền Trung và là “vùng đệm” thì mối liên hệ Đông Sơn – Sa Huỳnh không nhiều: vài ngôi mộ vò trẻ em, một vài trang sức thủy tinh, khuyên tai hai đầu thú, khuyên tai ba mấu, tìm thấy chủ yếu ở khu vực giáp ranh (Bắc Trung bộ). Có lẽ đây là sản phẩm của giao lưu trao đổi. Còn văn hóa Đồng Nai lại có quan hệ chặt chẽ và nhiều chiều với văn hóa Sa Huỳnh: thể hiện trên đồ gốm, trang sức, táng thức mộ chum; khu vực giáp ranh Nam Trung bộ (Hòa Diêm – Khánh Hòa) càng đậm nét. Tuy nhiên, cần nhìn nhận mối quan hệ này biểu hiện sự “đồng quy văn hóa” của các nền văn hóa Biển, thể hiện qua hệ thống các di tích ven biển và hải đảo Đông Nam Á mà W. Solheim đã chỉ ra trong truyền thống gốm Sa Huỳnh – Kalanay.

          Táng thức mộ chum/vò (Sa Huỳnh và Đồng Nai) hay táng thức mộ thuyền (Đông Sơn) tuy khác nhau về hình thức nhưng cùng phản ánh một tín ngưỡng về cái chết. Trong các mộ chum ở Cần Giờ có chôn theo “cà ràng” – loại bếp gốm độc đáo dùng trên ghe, thuyền; nắp đậy mộ vò ở hang Manungui đảo Palanwan ở Philippines có núm cầm hình thuyền với 2 người đang chèo, hay mộ quan tài hình thuyền trong văn hóa Đông Sơn… đều thể hiện ý nghĩa: quan tài hình thuyền hay mộ chum/vò đều tượng trưng cho “phương tiện” chuyên chở linh hồn qua thế giới bên kia. Trong ý nghĩa này văn hóa Đông Sơn và Cần Giờ – Đồng Nai gần nhau hơn vì cùng tục chôn nguyên thi thể.

Kỹ thuật luyện kim: Di tích văn hóa Đông Sơn và văn hóa Đồng Nai đều không tìm thấy nhiều công cụ, vũ khí bằng sắt, khác với văn hóa Sa Huỳnh đồ sắt khá phổ biến, hầu hết là đồ tùy táng tìm thấy trong mộ chum. Tuy nhiên văn hóa Đông Sơn và Đồng Nai có kỹ thuật đúc đồng phát triển đến đỉnh cao: nhiều di tích là công xưởng, phổ biến khuôn đúc hai mang, khuôn đúc liên hoàn… Trong các loại vũ khí thì cả Đông Sơn và Đồng Nai đều có “qua đồng” – một loại hiện vật được coi là có nguồn gốc từ phía văn hóa Hán. Một hiện vật nguồn gốc văn hóa Hán có mặt trong cả ba nền văn hóa là gương đồng.

Đặc biệt trống đồng “kiểu” Đông Sơn trong văn hóa Đồng Nai có trường hợp sử dụng rất đặc biệt:  Trống đồng được sử dụng làm nắp đậy chum trong táng thức “mộ chum gỗ” ở Phú Chánh (Bình Dương) là sự kết hợp hai yếu tố đặc trưng của hai văn hóa. Ngoài ra trong những chum gỗ còn tìm thấy bộ “công cụ dệt gỗ” 23 hiện vật gồm trục dệt, dao dệt, lược chải sợi và các thanh có nấc. Đây là những kết cấu của loại khung dệt mà hiện nay một số dân tộc ít người ở Tây Nguyên và Đông Nam Á vẫn còn sử dụng[2], cả ở ĐNA hải đảo[3].

Về truyền thống văn hóa tạo dựng nhà nước sơ khai thời đại kim khí: Nền văn minh sông Hồng phát triển trên cơ sở kỹ thuật luyện kim trình độ cao và nông nghiệp lúa nước, được định danh là “văn minh lúa nước” và trở thành truyền thống “bốn ngàn năm”. Văn hóa Đông Sơn trở thành cốt lõi của nhà nước Văn Lang – Âu Lạc và được “tái hiện” trong văn minh Đại Việt sau một ngàn năm “Bắc thuộc”.

          Văn minh sông Đồng Nai phát triển trên cơ sở kinh tế nông nghiệp nương rẫy và giao lưu “kinh tế biển”; sau này vương quốc Phù Nam phát triển trên nền tảng nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long sự thịnh đạt của cảng thị Óc Eo - Nền Chùa. Văn hóa Đồng Nai với những di tích “Tiền Óc Eo” là nguồn gốc bản địa của văn hóa Óc Eo thời Vương quốc Phù Nam.  Khi vương quốc Phù Nam sụp đổ, “truyền thống” Óc Eo còn kéo dài thêm nhiều thế kỷ, không thể không có vai trò cội rễ của văn hóa Đồng Nai.

Yếu tố “biển” trong văn hóa Đồng Nai phổ biến trong hệ thống các di tích thời sơ kỳ sắt ven biển Đông nam bộ và tái hiện mạnh mẽ trong văn hóa Óc Eo. Trong văn hóa Đông Sơn yếu tố bin không phải là chủ đạo tuy có loại hình Đông Sơn ven biển, nhưng “nguồn gốc biển” lại hiện diện trong truyền thuyết khởi nguồn Âu Cơ và Lạc Long Quân.

Như vậy, từ sự tiếp cận môi trường sinh thái và đặt trong bối cảnh văn hóa rộng hơn, những tương đồng và khác biệt của văn hóa Đông Sơn và văn hóa Đồng Nai đã chứng minh cho sự đa dạng của đời sống và văn hóa các nhóm dân cư thời tiền sử trên đất nước ta. Sự tương đồng hay khác biệt đều xuất phát từ “thế ứng xử” với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội – trong đó có những mối quan hệ giao lưu nhiều chiều của chủ nhân hai nền văn hóa này. Những tương đồng là điều kiện cần có để thực hiện quá trình giao lưu văn hóa, để có thể tiếp nhận những gì phù hợp và tiến bộ, thúc đẩy sự phát triển nội tại và toàn khu vực. Những khác biệt là điều kiện cần đủ để có các cách thức khác nhau trong chọn lọc, thay đổi những gì tiếp nhận từ một nền văn hóa khác, từ đó tạo ra yếu tố mới mang đặc điểm riêng, độc đáo. Duy trì và phát triển sự khác biệt độc đáo góp phần cho sự đa dạng của toàn khu vực ĐNA. Cả văn hóa Đông Sơn và văn hóa Đồng Nai đều có những đóng góp quan trọng như vậy.


[1] Nguyễn Thị Hậu, 2014, Văn hóa Đồng Nai và văn hóa Đông Sơn – Những tương đồng và khác biệt. HTKH kỷ niệm 90 năm phát hiện và nghiên cứu Văn hóa Đông Sơn. Bảo tàng lịch sử quốc gia. Hà Nội

[2] Hồ sơ Bảo vật quốc gia Bộ dụng cụ dệt gỗ Phú Chánh – Bình Dương. Cục Di sản văn hóa.

[3] Kết quả khảo sát của tác giả và đồng nghiệp tại Hoa Liên, Đài Loan, tháng 3.2024. Hoa Liên là nơi có một số cộng đồng dân cư bản địa, họ vẫn bảo tồn những nghề truyền thống như săn bắt, dệt vải... Công cụ dệt vải của họ khá giống những hiện vật tìm thấy trong mộ chum Phú Chánh ( Bình Dương). Hoa Liên cũng là nơi có những di tích chế tác đá ngọc, mà nhiều trang sức bằng đá ngọc trong văn hóa Đồng Nai có xuất xứ nguyên liệu từ đây.

TS. Nguyễn Thị Hậu






TỪ VĂN HÓA HÒA BÌNH - VÀI SUY NGHĨ VỀ VĂN HÓA ĐỒNG NAI

 Trích BCKH tại Hội nghị quốc tế 90 năm xác lập và nghiên cứu Văn hóa Hòa Bình (1932 – 2022)

3.    III.- Tiếp cận từ môi trường sinh thái

3.1 Điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái vô cùng quan trọng với cuộc sống của con người, nhất là trong thời nguyên thủy. Khi khẳng định “Lao động đã sáng tạo ra xã hội loài người” thì F.Engels cũng nói rõ “Kỳ thực thì lao động phải gắn liền với tự nhiên mới thực sự sản xuất ra của cải” [1]. Tất cả các cộng đồng người đều tác động lên môi trường sống của họ, trong phạm vi địa phương hẹp hay vùng rộng lớn. Trong đó, ảnh hưởng quan trọng nhất của con người đến môi trường tự nhiên là việc thuần hóa động thực vật, cách thức loài người quản lý, khai thác môi trường tự nhiên và nguồn tài nguyên thiên nhiên. Có thể lấy thành tựu nghiên cứu về khảo cổ học Thời đại đồ đá Việt Nam minh chứng cho điều này.

Khi nghiên cứu tiền sử Việt Nam cũng như Đông Nam Á, khảo cổ học hết sức chú ý đến môi trường sinh thái  ở khu vực này phản ánh qua lối sống, cụ thể trong hoạt động săn bắt hái lượm của cư dân tiền sử. Căn cứ vào tàn tích thức ăn động thực vật, khảo cổ học nhận biết người cổ đã sử dụng nhiều loại thức ăn nhưng mỗi loại một ít, lại tùy theo mùa và thức ăn thực vật khá phong phú. Trong khi đó thức ăn động vật có được do hoạt động săn bắt không nhiều, phổ biến các loại động vật thủy sinh nhất là các loài nhuyễn thể nước ngọt, nước lợ… Khảo cổ học gọi đây là lối hái lượm theo phổ rộng. Từ đặc điểm này có thể nhận dạng hệ sinh thái ĐNA – Việt Nam là hệ sinh thái Phổ tạp với đặc trưng chỉ số đa dạng cao, số loài nhiều nhưng số cá thể ít, thực vật nổi trội hơn động vật về giống loài và số lượng, động vật thủy sinh chiếm ưu thế. Hệ sinh thái Phổ tạp phân bố ở khu vực nhiệt đới khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, môi trường sông nước phổ biến…Trong môi trường sinh thái này, từ lối sống hái lượm theo phổ rộng và trội vượt hơn săn bắt, khi tiến lên nền kinh tế sản xuất thì cư dân ở đây sẽ phát triển một nền nông nghiệp đa canh, tức là thuần hóa nhiều loại thực vật một lúc và trồng trọt sẽ trội vượt hơn chăn nuôi [2]. Tiến trình từ thời đại đồ đá (các văn hóa khảo cổ như văn hoá Sơn Vi, Hoà Bình, Bắc Sơn, Hạ Long, Quỳnh Văn, Đa Bút, Hoa Lộc, Bàu Tró)…đến thời đại kim khí (văn hóa khảo cổ Đông Sơn, Sa Huỳnh, Đồng Nai) là sự thể hiện sinh động của quá trình này, đồng thời cũng cho thấy sự phát triển văn hóa đa dạng của thời tiền sử.

Về cơ bản hai nền văn hóa Hòa Bình và Đồng Nai khác biệt về niên đại và không gian văn hóa – môi trường sinh thái. Tuy nhiên cho đến nay đã có những phát hiện, ghi nhận về công cụ đá kiểu Hòa Bình ở vùng đồi badan thuộc tỉnh Đồng Nai. Mặt khác những nghiên cứu về khảo cổ học Nam bộ đều cho biết “săn bắt hái lượm” là phương thức sinh sống chủ đạo trong một giai đoạn dài của thời tiền sử Đông Nam bộ. Đây cũng là phương thức chính của cư dân văn hóa Hòa Bình. Có thể coi đó là “hình ảnh” của văn hóa Hòa Bình, một sự “tái hiện” trong điều kiện tự nhiên tương tự nhưng ở không gian khác và thời gian muộn hơn. Điều này có thể giải thích từ quá trình hình thành và phát triển khác nhau của địa chất, địa hình và môi trường sinh thái của hai nền văn hóa khảo cổ này [3].

Nét cơ bản của môi trường tự nhiên mà con người sinh sống là địa điểm cư trú và các yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn lựa địa điểm cư trú. Thông thường thì đó là khu vực có nguồn nước hoặc vị trí thuận lợi cho di chuyển, tìm kiếm thức ăn, hoặc thích hợp về nhiệt độ (bóng mát, luồng gió…). Sự tương đồng đầu tiên của “người Hòa Bình” và “người Đồng Nai” là sự lựa chọn nơi/địa điểm cư trú thích nghi với địa hình và khí hậu. Văn hóa Hòa Bình còn được định danh là “văn hóa thung lũng, văn hóa hang động” do đây là khu vực cư trú chủ yếu của người Hòa Bình, không chỉ trong tỉnh Hòa Bình mà đặc điểm này còn hiện diện ở nhiều khu vực khác. Còn trong văn hóa Đồng Nai giai đoạn thời đá mới muộn, di tích phân bố ngoài trời tập trung ở khu vực đất đỏ badan - “thế giới thực sự của các nón núi lửa” – di tích của hàng trăm ngọn núi lửa hoạt động từ hàng triệu năm trước thời cánh tân Pleitocene. Trong thời toàn tân Holocene toàn vùng Nam bộ bị ngập do biển tiến trong khoảng thời Holocene sớm từ 10.000 năm cách ngày nay, đến Holocene giữa khoảng 6.000 năm biển tiến đến mức cực đại và lùi dần từ khoảng 4.000 năm[4]. Vì vậy nơi đây là địa bàn thuận tiện và phù hợp nhất cho lớp người cổ xưa sinh sống vì là khu vực khá cao ráo so với các khu vực khác.

Miền Đông Nam bộ nói chung và vùng đồi badan nói riêng khí hậu mang đặc điểm chung của ĐNA là nóng ẩm và mưa nhiều, nhưng chia làm hai mùa mưa/nắng rõ rệt, lượng mưa cao. Trải qua hàng ngàn năm nơi này đã hình thành các khu hệ rừng thưa thực vật rất thích hợp cho sự phát triển phong phú của các loài động vật trên cạn, dưới nước trong các dòng chảy sông suối, đầm lầy, rừng ngập nước. Người cổ Đồng Nai lấy hái lượm và săn bắt/bắn là phương thức sinh sống chính, họ có thể dùng tay hái lá, nhổ cây, bẻ trái, hoặc bắt cá tôm cua ốc, hoặc bắt các loại thú nhỏ bằng bẫy đơn giản làm bằng tre nứa, dây rừng… Những cách thức này không để lại dấu tích khảo cổ học nhưng có thể khảo sát qua đời sống của một số dân tộc bản địa tại miền Đông Nam bộ cũng như nhiều nơi khác [5].

Khai thác thực vật, động vật theo phổ rộng, có tính chu kỳ “mùa” nên người cổ Hòa Bình và người cổ Đồng Nai có kinh nghiệm về các loại thực vật, động vật sử dụng làm thức ăn, họ thường xuyên đánh bắt động vật thủy sinh dưới sông suối hơn là săn bắt động vật trong rừng nhiệt đới. “Sự xuất hiện của đồ gốm trong văn hoá tiền sử nói chung không nhất thiết phải gắn với kinh tế sản xuất với lối sống định cư, mà là do nhu cầu bức thiết của kinh tế hái lượm, đánh bắt những loại thuỷ sinh như ốc, cua, cá… Sự hiện diện của các tầng ốc dày trong các di chỉ Hoà Bình thể hiện một lối sống định hướng ven sông, ven suối, ven biển. Để làm chín thức ăn từ nguồn thuỷ sinh đó, họ không thể duy trì cách nướng từng con ốc, con cua, con cá. Sự ra đời của đồ gốm với chức năng là đồ nấu dường như là một hệ quả tất yếu của những cư dân Hoà Bình chuyên “ăn ốc[6]. Đồ gốm đã xuất hiện sớm trong văn hóa Hòa Bình với chức năng được lý giải như vậy. Có thể cho rằng những đồ gốm có mặt tại di chỉ Cầu Sắt cũng có chức năng tương tự, tuy tàn tích thức ăn không phong phú như trong các hang động văn hóa Hòa Bình, do mật độ dân cư và thời gian chưa đủ để tích tụ như vậy.

3.2  Trong một bối cảnh rộng hơn cần đặt văn hóa Đồng Nai, nhất là giai đoạn hậu kỳ đồ đá, với khu vực Nam Tây Nguyên. Về mặt địa hình, Đông Nam bộ có thể coi là vùng “chân núi, trước núi” của phần Nam dãy Trường Sơn, có quá trình lịch sử địa chất liên quan mật thiết với nhau. Ngoài ra sông Đồng Nai – Đạ Đờn luôn là yếu tố liên kết giữa miền núi, trung du phù sa cổ và đồng bằng cửa sông ở ven biển Đông Nam bộ từ thời tiền sử.

Những phát hiện gần đây về những hang động có di tích thời đồ đá, thậm chí di tích thời đá cũ đã hiện diện chắc chắn. Kết quả hợp tác khai quật Việt - Nga tại hệ thống di tích đá cũ An Khê (Gia Lai), Hội thảo quốc tế về Kỹ nghệ sơ kỳ Đá cũ An Khê đã đánh giá, khẳng định thêm một bước giá trị của di tồn văn hóa Đá cũ An Khê, với sự xuất hiện của người nguyên thủy sớm nhất hiện biết ở Việt Nam. Cuộc khai quật hệ thống hang động núi lửa Krong Nô, tỉnh Đắk Nông, các nhà khoa học đã thu được những kết quả rất quan trọng với nhiều di vật được phát hiện như đồ đá, đồ gốm, răng xương động vật. Đặc biệt là tìm thấy di cốt của người tiền sử có niên đại cách đây 7.000 năm. Phát hiện này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng  bởi đây là những phát hiện khảo cổ học người tiền sử đầu tiên ở hang động núi lửa ở Tây Nguyên.

Di tích Thác Hai (H. Easup, Dak Lak) được phát hiện đầu năm 2020 bên cạnh công cụ lao động như rìu bôn đá, đồ gốm và các mộ táng, các nhà khảo cổ còn thu được hơn 1000 mũi khoan (gồm cả những phác vật đang trong quá trình hoàn thiện) bằng các loại đá opal, đá silic, phtanit… cùng hàng vạn những mảnh tước nhỏ (vảy tước). Di chỉ có khung niên đại cách ngày nay từ khoảng 3.500 năm đến 2.000 năm và tồn tại kéo dài khoảng 1.000 năm, với hai giai đoạn phát triển sớm muộn khác nhau. Giai đoạn sớm thuộc Hậu kỳ Đá mới, đại diện là lớp văn hóa chứa mũi khoan, có mộ nồi, mộ đất, đồ tùy táng chôn theo chủ yếu đồ đá và đồ gốm. Giai đoạn muộn thuộc thời đại đồ Sắt, với lớp văn hóa chứa hạt chuỗi thủy tinh, mộ nồi vò chôn theo hạt chuỗi thủy tinh…[1]

Trong chuyên khảo bàn về “Hoà Bình ở Đông Nam Á: Văn hoá, những văn hoá hay phức hợp kỹ thuật” được công bố năm 1994, GS. Hà Văn Tấn đã lưu ý về tính đa dạng, phức tạp của bản thân khái niệm văn hoá Hoà Bình. Từ không gian phân bố trải rộng khắp ĐNA trên nhiều địa hình, trong khung thời gian kéo dài hơn 10.000 năm, nhiều nhà khảo cổ học khác đã đề xuất và sử dụng khái niệm “Phức hệ kỹ thuật Hoà Bình” (Hoabinhian Technocomplex) hay văn hóa Hòa Bình như “một phức hợp kỹ thuật” [2]. Tất cả phát hiện mới ở Nam Tây Nguyên càng cho thấy cần phải tìm ra mối liên hệ giữa văn hóa Đồng Nai với các văn hóa, di tích mới phát hiện ở Nam Tây Nguyên. Đặt văn hóa Đồng Nai trong bối cảnh sinh thái Nam Trường Sơn –  Đông Nam bộ để nghiên cứu như hiện tượng “dư âm” của “làn sóng chấn động” từ giai đoạn văn hóa Hòa Bình phát triển cực thịnh ở phía Bắc vài ngàn năm trước. Điều đó cũng sẽ góp phần minh định những khái niệm mang tính công cụ, lý thuyết nói trên.

Trong tiến trình khoa học đương đại, ngành khảo cổ chuyển dần vị trí từ là phương tiện chứng minh lịch sử sang tham khảo lịch sử để hiểu di tích cổ. Bản thân lịch sử cũng tìm đến nhiều lối tiếp cận khác nhau để lý giải (making sense) quá khứ. Khảo cổ cũng tìm sang các nguồn bổ sung và khu vực ứng dụng mới như nhân học, văn hóa học, khu vực học, du lịch, thậm chí còn tham gia tích cực vào lĩnh vực phát triển cộng đồng và truyền thông, công nghiệp giải trí… Ngành khảo cổ hiện nay không chỉ đơn giản là bảo tồn và tái hiện, diễn giải di tích, mà còn tái dựng (reconstruction) một kết cấu lịch sử, xã hội và văn hóa cả theo chiều không gian lẫn thời gian trong một hệ tọa độ mà người nghiên cứu sử dụng để khảo sát và nghiên cứu [1].

Thực trạng phát hiện, nghiên cứu văn hóa Hòa Bình qua 90 năm, văn hóa Đồng Nai gần 50 năm đã mang lại những giá trị “vật thể” và “phi vật thể” của di sản khảo cổ thời đại đồ đá mới Việt Nam. Đó là những chất liệu tuyệt vời để có thể tái dựng lịch sử, văn hóa và xã hội thời tiền sử vào giai đoạn có sự chuyển biến mạnh mẽ, từ phương thức săn bắt hái lượm “phụ thuộc” tự nhiên chuyển qua hoạt động trồng trọt làm phương thức chính. Những “bảo tàng tại chỗ” như một số di tích của văn hóa Hòa Bình đã phần nào thể hiện được những giá trị đó. Còn đối với văn hóa Đồng Nai, cần sự quan tâm nhiều hơn mới có thể bảo vệ và phát huy giá trị của những di sản khảo cổ đa dạng và phong phú tại đây.

Hiện nay, quá trình biến đổi khí hậu toàn cầu ngày càng cực đoan, sự tham gia tích cực vào việc “giải mã” quá trình lịch sử xa xưa của khảo cổ học tiền sử, khảo cổ học cộng đồng là một phương thức quan trọng, góp phần mang lại những bài học hữu ích từ sự ứng xử phù hợp với thiên nhiên nhân loại từ thời tiền sử.  

 







Nguồn: C. Mác và Ph. Ăng-ghen. Toàn tập, tập 20. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994. Phiên bản điện tử: http://www.cpv.org.vn

[2] Hà Văn Tấn (1982), “Các hệ sinh thái nhiệt đới tiền sử Việt Nam và Đông Nam Á”, Tạp chí Khảo cổ học, số 3. tr.3-8

[3] Lê Bá Thảo, 2004. Thiên nhiên Việt Nam. NXB Giáo dục

[4] Bùi Chí Hoàng (chủ biên) 2017. Sách đã dẫn. Tr. 16

[5] Bảo tàng lịch sử VN, Bảo tàng LSVN.TPHCM, 1998. Khảo cổ học tiền sử và sơ sử TP. Hồ Chí Minh. NXB Trẻ. Tr,338-347

[6] Trình Năng Chung (2019), nguồn đã dẫn.

[1] Báo cáo sơ bộ cuộc khai quật và nghiên cứu bước đầu các di tích trên. Tài liệu lưu tại Bảo tàng tỉnh Đăk Nông, Bảo tàng tỉnh Đăk Lăk

[2] Trình Năng Chung, 2019. Nguồn đã dần

[1] Nguyễn Thị Hậu, Lê Thanh Hải, 2010. Sách đã dẫn, tr. 271

HỘI THẢO QUỐC TẾ 20 NĂM KHU DI TÍCH HOÀNG THÀNH THĂNG LONG

 Phát biểu ý kiến tại hội thảo

Hoàng thành Thăng Long là quần thể di tích gắn với lịch sử kinh thành Thăng Long - Hà Nội bắt đầu từ thời kì tiền Thăng Long qua thời Đinh - Tiền Lê, phát triển mạnh dưới thời Lý, Trần, Lê và thành Hà Nội dưới triều Nguyễn. Do đó, vào năm 2004, khi đang tiến hành khai quật khảo cổ học địa điểm số 18 Hoàng Diệu – sau này trở thành một phần quan trọng của Di sản Hoàng Thành Thăng Long, các nhà nghiên cứu và người dân phía Nam đã vô cùng quan tâm theo dõi những kết quả đầu tiên, về việc phát lộ một giai đoạn quan trọng của kinh đô Thăng Long và của nhà nước Đại Việt trong lịch sử.
Nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử và chiêm ngưỡng những di vật tiêu biểu của dí tích quan trọng này, ngày 25.2. 2004, 328 hiện vật thu được từ công cuộc khai quật di chỉ Hoàng thành Thăng Long ra mắt công chúng TP.HCM tại bảo tàng Lịch sử Việt Nam TP.HCM trong một phòng trưng bày chuyên đề quy mô lớn.
Để kịp thời có được cuộc trưng bày này, Bảo tàng lịch sử TPHCM đã nhận được sự chỉ đạo trực tiếp của Văn phòng chính phủ, UBND.TPHCM, UBNDTP Hà Nội , sự giúp đỡ và phối hợp tận tình của sở VHTT TPHCM, Viện Khảo cổ học thuộc Viện Hàn lâm KHXHVN, và nhất là các nhà khảo cổ học đang trực tiếp khai quật và nghiên cứu tại di tích.
Có thể nói, đây là một trong những cuộc trưng bày quan trọng và thành công nhất của Bảo tàng lịch sử TP.HCM. Cuộc trưng bày được tổ chức cùng với nhiều hoạt động như tọa đàm khoa học, triển lãm lưu động tại các trường học, khu công nghiệp… đã mang lại nhiều kết quả về khoa học. Đặc biệt là đã ghi nhận được tình cảm chân thành và vô cùng cảm động của nhân dân miền Nam đối với kinh đô Thăng Long – Hà Nội, như câu thơ nổi tiếng của Tướng Huỳnh Văn Nghệ:
Từ thủa mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long
Từ sau cuộc trưng bày này, những kiến thức, tri thức mới có được từ cuộc khai quật và nghiên cứu khu di tích quan trọng này đã kịp thời được đưa vào giảng dạy tại trường ĐHKHXHNV.TPHCM, không chỉ trong chuyên ngành KCH, khoa Lịch sử mà còn tại các khoa khác có liên quan như Văn hóa học, Việt Nam học… Trong Giáo trình Khảo cổ học đại cương mới xuất bản của trường cũng đã có một phần trình bày “nghiên cứu trường hợp” Di sản thế giới độc đáo này. Đặc biệt, “Khảo cổ học đô thị” – một ngành rất cần thiết cho sự phát triển của các đô thị trong quá trình hiện đại hóa - qua trường hợp điển hình của “Hoàng thành Thăng Long” - đã là động cơ và gợi ý cho các nhà khảo cổ học tại TP.HCM nghiên cứu ứng dụng trong việc bảo tồn di sản đô thị SG – TPHCM một cách hiệu quả!
Năm 2010 Khu di tích Hoàng thành Thăng Long được UNESCO công nhận là Di sản thế giới! Trong hành trình để đi đến kết quả này có sự ủng hộ nhiệt tình và đóng góp của nhiều học giả, các nhà nghiên cứu và nhân dân các tỉnh phía Nam, bên cạnh nhân dân cả nước và kiều bào ở nước ngoài. Đó là sự đóng góp của cộng đồng cho “lịch sử xã hội” được quần chúng nhân dân làm nên và gìn giữ, bảo tồn.
Trong một cuộc họp của BCH Hội KHLSVN sau đó, GS Phan Huy Lê đã nói, đại ý “Đối với quốc tế, ta thể hiện việc nhà nước VN thực hiện tốt lời hứa của Thủ tướng chính phủ với UNESCO. Đối với TP Hà Nội việc chúng ta làm theo những khuyến nghị của các nhà khoa học trong và ngoài nước là đúng đắn!”. Đó cũng là những ý nghĩa đối với xã hội bên cạnh giá trị khoa học của khu Di sản thế giới này! 












@ Nhân chuyện “mua bán bài báo khoa học”.

 

Bữa hôm tham dự cuộc họp góp ý việc chuyển báo Khoa học Phổ thông thuộc Liên hiệp các hội KHKT.TPHCM thành tạp chí Khoa học phổ thông (sẽ) trực thuộc UBNDTP. Trong số mấy người được chủ tọa mời phát biểu tôi chú ý đến ý kiến của 2 PGS.TS.

Hai vị này đều đề nghị TC Khoa học Phổ thông mới phải là một TC khoa học dành để đăng tải bài của các nhà nghiên cứu, đặc biệt – họ nhấn mạnh - làm sao phải là TC có tính điểm cho bài báo, như vậy sẽ thu hút người làm luận án TS, người làm hồ sơ PGS, GS gửi đăng bài, từ đó TC có thể thu phí – một nguồn kinh phí để hoạt động.

 Ý kiến này có hai vấn đề mà bữa đó tôi đã trao đổi lại như sau.

1/ Báo KHPT hình thành và phát triển đã mấy chục năm, luôn hoàn thành tốt sứ mệnh KHOA HỌC VÀ/MÀ PHỔ THÔNG. Đó là đăng tải các kiến thức khoa học dưới dạng phổ thông, cập nhật tri thức cho xã hội, đồng thời vận dụng kiến thức khoa học vào nhiều lĩnh vực của đời sống, nhất là lao động sản xuất. Tất nhiên báo cũng có chức năng thông tin chính trị, xã hội như nhiều tờ báo khác. Qua việc thực hiện chức năng này mà báo KHPT đã làm tốt vai trò của Hội LHKHKT là tập hợp các nhà khoa học (nhất là những người đã hưu trí, có thời gian và điều kiện quan tâm, tham gia công tác xã hội), những người quan tâm đến các lĩnh vực KHKT, phổ biến kiến thức, tri thức cho cộng đồng và đưa KHKT đi vào đời sống.

Nay chủ trương tờ báo thành Tạp chí Khoa học phổ thông thì sứ mệnh của TC vẫn là như thế. Nhưng với vị thế một TC thì “ý nghĩa khoa học và thực tiễn” của những thông tin, bài báo phải cao hơn. Sự gắn bó giữa những người nghiên cứu/tổ chức khoa học và xã hội/doanh nghiệp càng chặt chẽ hơn, thúc đẩy khoa học ứng dụng phát triển, đồng thời góp phần nâng cao tri thức cho cộng đồng.
 Nếu chỉ chuyển thành một “tạp chí khoa học” thì không còn đúng tên gọi và chức năng của KHPT nữa. Mặt khác như vậy là xem nhẹ vai trò lan truyền và nâng cao tri thức cho xã hội – một trong những trách nhiệm quan trọng của các nhà khoa học. Chưa kể phần lớn người tham gia công việc truyền bá kiến thức là những nhà khoa học đã về hưu, có thời gian hơn khi còn phải làm công tác quản lý.

 2/ Việc tích lũy điểm công trình cho việc phong chức danh PGS, GS, hay cho đủ bài báo để bảo vệ LA TS, luận văn thạc sĩ là việc cần thiết. Hiện nay đã có hệ thống các TC khoa học từ Viện hàn lâm KHXH, KHTN, KHKT đến các Viện chuyên ngành, hệ thống tạp chí của các trường đại học trung ương và địa phương, chưa kể nhiều tạp chí nước ngoài... Đây là môi trường thuận lợi để có thể gửi đăng bài nghiên cứu có chất lượng. Đa số những tạp chí khoa học có uy tín đều mời các nhà khoa học cùng lĩnh vực phản biện bài gửi đến, sau khi trao đổi tác giả sẽ chỉnh sửa để chất lượng bài tốt hơn. Việc đóng một khoản phí cho tạp chí chính là một phần chi phí mời người phản biện chứ không phải cứ đóng tiền là bài sẽ được đăng.

 Với một hệ thống TC khoa học đa dạng như vậy, người làm khoa học thật sự không thiếu nơi để công bố công trình khoa học, người nghiên cứu nghiêm túc sẽ không lựa chọn một tạp chí không ai biết để gửi đăng công trình của mình. Bởi vì bài đăng ở đâu sẽ cho biết trình độ của người viết thế nào. Từng là Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu phát triển của Viện NCPT TPHCM, tôi biết rằng để có một bài viết chất lượng tốt đăng tạp chí thì không hề nhanh chóng và dễ dàng.

 Có thể thấy ý kiến trên của hai vị PGS.TS đã phản ánh thực tế hiện nay có một số cá nhân hay tập thể “nghiên cứu khoa học” có nhu cầu là chỉ cần có TC đăng bài của mình. Vì nhu cầu này nên có tạp chí mới ra đời đã muốn (và được!) xếp vào danh sách những TC được tính điểm công trình. Và ngược lại, có những tạp chí như vậy nên chất lượng nhiều “bài đăng tạp chí” chưa thật sự là nghiên cứu khoa học.

 #vunvatdoithuong 29.8.2020



Sài Gòn: một đô thị – thương cảng bẩm sinh

Sông Sài Gòn là giao thông đường thuỷ quan trọng nhất, cảng Bến Nghé (bến Bạch Đằng), xưởng đóng tàu Ba Son là vị trí tiền tiêu, cửa ngõ giao dịch buôn bán với tàu nước ngoài. Hệ thống kênh rạch dày đặc như rạch Thị Nghè, kênh Bến Nghé, kênh Tẻ, rạch Cầu Kho. Kênh Tàu Hũ nối liền các tỉnh miền Tây và cảng Bến Nghé, là con đường huyết mạch để vận chuyển lúa gạo và các loại nông sản, hàng hoá khác.

Thương cảng Sài Gòn, từ góc độ lịch sử có thể coi là đặc điểm chủ yếu của đô thị Sài Gòn. Khu vực đường Tôn Đức Thắng, rạch Thị Nghè, đoạn sông Bến Nghé gần Ba Son đã tìm thấy hàng ngàn hiện vật gốm gia dụng bằng đất nung của người Việt, người Hoa, người Chăm như nồi đất kiểu nồi đồng, ấm nấu nước, siêu nấu nước, nồi ơ có tay cầm, đèn tráng men trắng, bình vôi, hũ sành, ghè ống… Nhiều hơn là đồ gốm hoa văn men xanh trắng gồm gốm Bát Tràng, gốm Phúc Kiến, Quảng Đông… có cả loại gốm sứ triều Nguyễn đặt Trung Quốc làm. Khu vực này chỉ là một phần của cảng Bến Nghé xưa gồm một hệ thống các bến – chợ dọc rạch Thị Nghè từ đoạn sông Sài Gòn (quãng công xưởng Ba Son) kéo dài theo rạch Bến Nghé vào tận Chợ Lớn, có thể còn theo cả kênh Ruột Ngựa nối liền với hệ thống sông Vàm Cỏ. Là trung tâm thương mại, giao lưu của một vùng sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp, hàng hoá của hệ thống thương cảng Sài Gòn gồm sản phẩm của các ngành nghề thủ công được tổ chức thành phường hội tập trung ở các khu vực nhất định như Xóm Chiếu, Xóm Chỉ, Xóm Lò Vôi, Xóm Lò Gốm… trong đó nghề làm gốm phát triển lâu dài và rực rỡ nhất (...)

Thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn được quy hoạch trở thành một đô thị – thương cảng kiểu phương Tây: từ hạ tầng cơ sở như đường bộ thay thế giao thông trên kênh rạch, hệ thống điện, đường cống ngầm thoát nước, xử lý chất thải và vệ sinh thành phố…) đến việc phát triển những ngành nghề dịch vụ, hình thành tầng lớp thị dân và lối sống, văn hoá đô thị, khu dân cư, khu thương mại, nhà thờ, quảng trường, công sở, các thiết chế văn hoá đô thị (thư viện, rạp hát, rạp chiếu phim, sân vận động…)

Những kiến trúc lớn như trụ sở công ty vận tải biển Hoàng Gia (bến Nhà Rồng), nhà thờ Đức Bà, nhà Bưu điện, nhà hát Thành phố, bảo tàng Thành phố, bảo tàng Lịch sử, trụ sở Toà án, trụ sở UBND thành phố… hợp thành khu trung tâm ngay từ khi thành phố chỉ mới có vài trăm ngàn dân, trở thành những công trình tiêu biểu cho sự phù hợp giữa kiến trúc với công năng nên không hề lạc hậu dù đã hơn một thế kỷ trôi qua.

Trong tiến trình lịch sử không thể phủ nhận một điều, với vị thế là thương cảng trung tâm kinh tế – văn hoá, có tầm giao lưu và ảnh hưởng đến khu vực rộng hơn, Sài Gòn luôn được coi là thành phố tiêu biểu và đại diện cho Nam bộ trên tất cả các lĩnh vực. Cũng cần lưu ý rằng, trong một thời gian dài Sài Gòn là thủ phủ của chính quyền thực dân và thủ đô của chính quyền miền Nam trước năm 1975, vì vậy Sài Gòn còn có đặc điểm của một thành phố từng là trung tâm chính trị. Những yếu tố trên đây hợp thành và tạo nên một đô thị cổ Bến Nghé – Gia Định, một thành phố Sài Gòn độc đáo khác với Hà Nội hay Huế – hai thành phố cũng là trung tâm của cả nước trong những giai đoạn khác nhau…

bến bình đông xưa
và nay

Ra HN họp về việc này đây :)

http://thethaovanhoa.vn/132N20100306112659364T0/viec-lam-phi-chinh-thuc-o-tp-hcm-tu-goc-nhin-lich-suvan-hoa.htm -

Việc làm phi chính thức ở TP. HCM: Từ góc nhìn lịch sử - văn hóa

(TT&VH) - Tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, lực lượng lao động tham gia vào nền kinh tế phi chính thức chiếm một phần khá lớn, nhất là tại các thành phố. Tại Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng, phần lớn những việc làm mới đã được tạo ra từ khu vực kinh tế này.

1. Họ gồm những lao động làm việc trong các doanh nghiệp phi chính thức (quy mô sản xuất nhỏ hoặc không phù hợp với quy định pháp luật); trong các doanh nghiệp chính thức nhưng công việc không được sự bảo vệ của xã hội, luật lao động; người làm việc trong hộ gia đình và lao động ăn lương trong nhiều khu vực, kể cả khu vực Nhà nước, nhưng công việc không ổn định. Dễ nhận ra nhất là những người làm việc tự do (buôn bán, khuân vác, dịch vụ đơn giản) hay tự nguyện làm công cho người khác mà không được ký hợp đồng lao động. Tình trạng này là một đặc trưng của đời sống đô thị.

Các loại hình việc làm phi chính thức thực tế đã tồn tại từ ngay lúc đô thị được hình thành. Việc hình thành các đô thị thời cận đại, bắt đầu vào cuối thế kỷ XIX ở Sài Gòn - Bến Nghé, đã đồng thời làm hình thành và tách biệt hai khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức. Sự thành lập những nhà máy, công sở, cơ sở dịch vụ công như bệnh viện, trường học... ở Sài Gòn thời Pháp thuộc tuy số lượng không nhiều nhưng cũng đủ để hình thành một tầng lớp xã hội “làm công ăn lương” theo những quy định “hành chính” về giờ giấc và nhiều yếu tố khác. Có thể coi đây là tầng lớp “thị dân” - cư dân sống ở đô thị và làm những nghề nghiệp của đô thị, và do đó, có lối sống đô thị, có phần khác với những loại hình lao động khác ở thành phố. Khu vực “kinh tế chính thức” này tập trung ở khu trung tâm - Q.1, Q.3 hiện nay. Còn lại các khu vực khác của Sài Gòn, khu vực Chợ Lớn là khu buôn bán dịch vụ, xóm lao động, vùng Gia Định chủ yếu là vùng nông nghiệp, là khu vực kinh tế “phi chính thức”. Đặc điểm này xuyên suốt sự phát triển của đô thị Sài Gòn.


Gánh hàng rong - một dạng của kinh tế “phi chính thức”
2. Sài Gòn còn trải qua một thời gian dài thời kỳ chiến tranh. Khác với Hà Nội (trong chiến tranh những người làm trong thành phần kinh tế chính thức - làm nhà nước - đều tản cư, sơ tán về nông thôn, hòa bình mới trở về thành phố, trong khi đó người làm kinh tế phi chính thức hầu như không bị bắt buộc đi khỏi thành phố), Sài Gòn lại là nơi người dân nhiều vùng nông thôn từ miền Trung đến Nam bộ đổ về. Hầu như không có nghề nghiệp, không có hoặc ít vốn, họ làm những công việc như buôn bán nhỏ, hàng rong, dịch vụ, lao động thủ công, chuyên chở bằng xe thô sơ... Địa bàn làm việc của họ là “ngoài trời” gồm lòng lề đường, các công trường, chợ búa... Sau giải phóng một bộ phận người dân trở về quê quán, một bộ phận khác đi vùng kinh tế mới, khu vực việc làm phi chính thức thu hẹp. Cấu trúc kinh tế của thành phố chỉ còn “một thành phần” nên nhiều thành phần kinh tế, nhiều loại hình việc làm “ngoài quốc doanh” trở thành “phi chính thức”. Khi kinh tế lâm vào thời kỳ khó khăn “trước đổi mới” thì thành phố lại như một “chỗ trũng” có thể dung nạp những dòng người “chảy” về đây kiếm sống. Khu vực kinh tế phi chính thức lại mở rộng thêm.

3. TP.HCM đã thu hút hàng triệu người từ các tỉnh thành khác đến lập nghiệp và mưu sinh, đáng chú ý nhất là hình thức “kinh tế vỉa hè” và lao động trong các KCN, KCX. Tỷ lệ đóng góp đáng kể vào thu nhập quốc gia cho thấy nền kinh tế này đã thực hiện được chức năng thiết yếu là tạo ra việc làm và tăng phúc lợi cho cả nhà sản xuất lẫn người tiêu dùng. Khu vực này sử dụng nguồn lực vốn cố định một cách hiệu quả thông qua việc kết hợp nguồn vốn thấp với số lượng lao động đông. Đồng thời, tiết kiệm nhu cầu vốn lưu động bằng cách chia khâu sản xuất và tiêu thụ hàng hóa thành những quy mô nhỏ, dễ quản lý. Mặt khác, đối với những người nghèo, dân nhập cư, không bằng cấp, hộ khẩu, tay nghề thấp... thì việc được chấp nhận vào làm trong các doanh nghiệp phi chính thức là bước khởi đầu khả thi nhất để họ có thể tạo thu nhập, học tập, nâng cao tay nghề. Tuy nhiên, về lý thuyết và mục đích là vậy, nhưng trên thực tế không nhiều doanh nghiệp chú ý đến việc đào tạo tay nghề một cách có hệ thống cho người lao động, khiến cho việc thực hiện mục đích “phát triển bền vững” của KTXH càng khó khăn.

Hiện vẫn còn những quan niệm chưa đúng về lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức, dù thu nhập giàu có hay thu nhập thấp. Sự đánh giá của nhiều “người thành phố” đối với “dân nhập cư, dân hàng rong, trẻ đường phố” vẫn có phần xem thường, thương hại, thậm chí còn bị coi là nguyên nhân chính làm cho thành phố chưa có nếp sống “văn minh đô thị”. Đối tượng này còn chưa được quan tâm đúng mức cả về mặt pháp lý lẫn tâm lý.

TP.HCM phát triển từ đô thị Sài Gòn - Bến Nghé lớn dần lên, nối kết với các trung tâm khác là Chợ Lớn và Gia Định. Tốc độ đô thị hóa trong giai đoạn lịch sử nào cũng rất nhanh, tuy nhiên phải nhìn nhận rằng hiện nay quy hoạch của Nhà nước không theo kịp tốc độ phát triển của thành phố. Có thể dùng cụm từ “làng trong phố” để hình dung về tính chất văn hóa ở nhiều khu đô thị mới. Đây chính là địa bàn thuận tiện buôn bán trong những chợ “chồm hổm’ “chợ đuổi”... đến một nền “kinh tế vỉa hè”: buôn bán cố định/di động, sản xuất, dịch vu. .. Do cơ chế quản lý chưa phù hợp, “kinh tế vỉa hè” cũng “góp phần” làm nhếch nhác khu vực trung tâm thành phố.

4. “Văn hóa mặt tiền” đã trở thành “đặc trưng” mới của đô thị Việt Nam, từ thành phố lớn đến thị trấn hẻo lánh. Có lẽ không có nước nào mà dân cư lại có thói quen, nhu cầu và “đua nhau” ra sống cạnh mặt đường lớn, nhỏ như ở nước ta! Trong khi đó ở các nước thì mặt tiền vỉa hè là không gian công cộng, cần tuân thủ những quy định chung của thành phố, không được tùy tiện sử dụng theo ý muốn cá nhân. Thói quen này dẫn đến nhiều hệ lụy: Thứ nhất, quy hoạch kiến trúc mặt tiền các con đường trở nên khó khăn, thậm chí kiến trúc xấu, không đồng bộ dù tốn kém rất nhiều kinh phí để xây dựng hay cải tạo đường xá; Thứ hai, trên những đường cao tốc lại không thể có tốc độ cao vì rất nguy hiểm khi dân cư trú ngay hai bên đường, làm giảm hiệu quả xây dựng; Thứ ba, buôn bán vỉa hè, lòng đường, mặt tiền đường phố người sử dụng phương tiện giao thông cá nhân có mối quan hệ mật thiết của “cung và cầu”, xe cá nhân phát triển thì còn nhu cầu mua bán vỉa hè lòng đường. Tình trạng tắc đường kẹt xe lại có thêm một nguyên nhân.

5. Trong khi chờ đợi có được những yếu tố giao thông mang tính chất “giao thông đô thị”, bằng cách nào hạn chế mặt tiêu cực của “kinh tế vỉa hè” đến nếp sống văn minh đô thị? Nên chăng cần tổ chức những con đường, khu vực theo ô phố - đặc thù quy hoạch đô thị, để duy trì và phát triển kinh tế vỉa hè, vừa giải quyết nhu cầu sinh sống của người bán, người mua, vừa đảm bảo mỹ quan và trật tự đô thị, vừa bảo tồn được nét độc đáo, cần thiết giữ gìn và có thể khai thác nó như một di sản văn hóa phi vật thể. “Văn minh đô thị” sẽ có bộ mặt mới. Trong một chừng mực nào đó, việc hạn chế và loại bỏ các phương tiện mưu sinh thô sơ của hàng ngàn hộ gia đình, cũng cần có tính toán thấu đáo để không đẩy người dân vào chỗ khó khăn.

Một khu vực việc làm phi chính thức nữa ở TP.HCM có đông người lao động là tại các khu CN, KCX. Tại đây người lao động hầu hết là thanh niên từ các vùng nông thôn, trình độ học vấn không cao nên tham gia làm việc với tính chất lao động giản đơn. Do đó thu nhập thấp, bấp bênh, dễ mất việc, cũng dễ thay đổi công việc, cuộc sống không ổn định... Nếu các KCN, KCX không tổ chức đào tạo nghề cho công nhân thì tình trạng này sẽ diễn ra lâu dài, khu vực “việc làm không chính thức” này sẽ không thu hẹp mà có nguy cơ ngày càng phát triển.

TP.HCM và nhiều thành phố, đô thị khác trong cả nước đang xây dựng những thành phố văn minh hiện đại. Không thể không bắt đầu từ yếu tố kinh tế: các ngành nghề của dân cư, loại hình kinh tế cần được phát triển cân đối, đảm bảo quyền lợi của nhân dân nhưng cũng đảm bảo sự phát triển bền vững của thành phố. Là một đặc trưng của các đô thị Việt Nam, việc làm - kinh tế phi chính thức cần được nhìn nhận xem xét ở một góc độ lịch sử - văn hóa sâu rộng hơn, ngoài góc độ kinh tế, để có thể sẽ mang lại những giải pháp hữu hiệu tích cực cho vấn đề này.

(Báo TTVH lược trích tham luận của tui tại Hội thảo khoa học)

TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...