Hiển thị các bài đăng có nhãn ý kiến. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ý kiến. Hiển thị tất cả bài đăng

“THIÊN ĐƯỜNG” KHÔNG TỪ CÁI TÚI BA GANG



Nguyễn Thị Hậu

Người dân nước Anh tưởng niệm 39 người Việt chết trong xe container đông lạnh khi nhập cư lậu, cảnh sát Anh dành một phút mặc niệm những người xấu số chết xa quê hương, những hành xử ấy là lòng nhân ái trước cái chết của con người - bất kể quốc tịch và nguyên do; hành xử ấy vì - như biểu ngữ của họ chỉ ra – đừng lên án người nhập lậu mà hãy nhìn thấy căn nguyên của việc này! Tức là phải thấy nguyên nhân là từ quốc gia đã để xảy ra tình trạng nhiều người phải ra đi tìm cách nhập cư lậu vào nước khác. Chính vì quan niệm như vậy nên những người đã chết vì chính sự phạm pháp của mình vẫn được nơi mà lẽ ra phải trừng phạt họ - đối xử tử tế và thương xót. Có lẽ đó cũng là một trong những nguyên nhân sâu xa khiến nhiều người tìm đến vùng đất – nơi họ dù thế nào đi nữa - vẫn nhận được lòng trắc ẩn từ đồng loại.

Mọi người đều có quyền lựa chọn và chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình. Đúng thôi, nếu có quyền lựa chọn những khả năng ngang nhau. Còn giữa một bên là đói nghèo và bên kia “có khả năng giàu có”, chắc chắn nhiều người sẽ chọn tia sáng dù mong manh còn hơn chịu sống mòn trong đêm tối. Một vài người “tham, liều” thì còn nói là do bản thân họ, nhưng hiện tượng này phổ biến ở nhiều làng quê, công khai, đến mức coi cái chết thảm chỉ là “không may”, thì rõ ràng nó không còn là chuyện của vài gia đình mà đó là chuyện của xã hội, của quốc gia. Trách nhiệm của nhà nước chính là ở đấy!

Trách người dân tham, liều thì cứ nhìn quan chức các cấp xem có tham có liều không? Quan chức luôn tìm cơ hội đục khoét tham nhũng hối lộ để giàu có mà “đi nhờ” và trốn ra nước ngoài, cho con cái du học, đầu tư rồi làm thẻ xanh cho cả nhà. Quan chức bất chấp luật pháp coi tài sản tiền bạc tài nguyên quốc gia như “của chùa” để tha hồ “của chung ai đã vẫy vùng thành riêng”. Những người dân khi buộc phải phạm pháp thì họ đã đánh đổi nhân phẩm nhưng quan chức tham nhũng thì đã đánh mất nhân phẩm.

Tôi chẳng hy vọng nhà nước VN có hình thức nào để tưởng niệm 39 người chết xa quê hương, vì bao tai nạn thảm khốc trong nước, như hồi sập cầu Cần Thơ hàng trăm ngươi chết còn không có tưởng niêm quốc tang gì nữa là... Một lời xin lỗi với nhân dân vì đã để xảy ra những thảm cảnh có lẽ là quá xa xỉ đối với những người, những cơ quan có trách nhiệm.

Trước những cái chết còn quá trẻ, chỉ mong các bậc cha mẹ và gia đình khác, sau thảm cảnh này xin đừng vì giấc mơ giàu có nhanh chóng, đừng buộc cho con cái chữ hiếu phải trả bằng tiền bạc vật chất... mà để con cái vượt biên mạo hiểm sống chết cận kề, chưa kể bao hiểm nguy trong cuộc sống chui lủi, phạm pháp nơi đất khách. Xưa có chuyện “Ăn khế trả vàng” trong đó cây khế là một cơ hội để đổi đời. Nhưng xin đừng ảo tưởng việc đó dễ dàng mà bay ra đảo xa lấy vàng bạc. Cái chết của người anh trong chuyện cổ tích này mới là điều mà ông bà xưa muốn nhắn gửi lại, nhưng tiếc thay người đời sau chỉ thấy “túi ba gang” đầy vàng của người em mà quên rằng cũng như người anh, mấy ai bằng lòng với túi ba gang để rồi chết thảm.

Thiên đường không thể bắt đầu từ cái túi ba gang đầy may rủi mà “may mắn” chỉ là cuộc sống khốn khó nơi đất khách còn sự rủi ro là tính mạng con người và số phận cả gia đình.

“Quê hương là chùm khế ngọt”, cây khế phải được tươi tốt nhờ đất đai màu mỡ, nhờ sự vun trồng của con người. Giữ gìn và chăm lo cho mảnh đất ấy ngày càng màu mỡ, không cho lũ diều quạ đến phá hoại cây trồng trước hết là trách nhiệm của nhà nước, sau mới là của mỗi người dân có công vun xới bắt sâu... Khi những cây khế trĩu nặng những chùm quả vàng trái ngọc thì không còn ai phải liều mình theo lũ quạ diều vượt biển đến nơi xa mưu cầumột “thiên đường mong manh”.

Sài Gòn 4.11.2019




THÁNG BẢY – NƯỚC MẮT NGƯỜI Ở LẠI



Nguyễn Thị Hậu

Năm nay mới đầu tháng Bảy mà ông Ngâu bà Ngâu đã gặp nhau và mang lại cho trần gian những cơn mưa như trút. Khi thì do ảnh hưởng bão ngoài biển Đông, khi thì do áp thấp nhiệt đới… Những ngày mưa lớn ngập đường xen với những ngày nắng oi bức đưa con người đến với tháng Bảy, cũng là tháng của những tai nạn mà người ta tin rằng do những “cô hồn” trở lại trần gian.

Ngỡ rằng tháng Bảy mang lại cho vợ chồng Ngâu cơ hội vài ngày bên nhau, mang lại cho trần thế mùa Vu lan báo hiếu, mùa từ bi hỉ xả và tưởng nhớ những người đã khuất… lòng người hướng thiện và thanh thản hơn, như một khoảng lặng bình yên trong bề bộn cuộc sống khó khăn. Vậy mà mới vài ngày thôi xã hội đã choáng váng vì nhiều việc đau lòng và bất nhẫn, càng đau lòng và bất nhẫn hơn khi những việc xảy ra đã hủy hoại cuộc sống của trẻ nhỏ cả về thể xác và tinh thần.

***

Buổi chiều, lướt qua báo mạng tôi bắt gặp tin một nhà sư đã bạo hành và lạm dụng tình dục một bé trai 11 tuổi, khi em được mẹ gửi đến “chùa” để tham gia “khóa tu mùa hè”. Nhìn hình ảnh khắp thân hình nhỏ bé của em tím bầm, đọc những lời em nhắn về cho mẹ xin không “học tu” nữa... Ai mà không đau xót...
Hiện nay đang có hiện tượng khá phổ biến là vào thời gian nghỉ hè, một số gia đình cho các con tham gia “học kỳ quân đội” do một vài nơi tổ chức, hoặc theo học “khóa tu mùa hè” ở một số ngôi chùa. Những người đưa con đến tham gia cho rằng, mùa hè là thời gian để các con vừa học vừa chơi, học tính kỷ luật tự phục vụ, sinh hoạt cộng đồng... (như học kỳ quân đội) hay học giáo lý Phật giáo bồi dưỡng đạo đức, lòng từ bi cho con trẻ (như khóa tu mùa hè)... Bên cạnh đó không thể không thấy, khi gửi con học tập trung một thời gian thì gia đình cũng đỡ lo lắng vì nếu không có người trông nom các con phải ở nhà một mình.

Tất cả những khóa học như vậy đều có ích lợi nhất định. Tuy nhiên, không phải nơi nào cũng tùy tiện tổ chức mà cũng như mọi hình thức giáo dục trẻ em khác, các khóa học như vậy phải được những nơi có chức năng và cơ sở vật chất phù hợp, được người có chuyên môn nghiệp vụ về các lĩnh vực cùng với kỹ năng sư phạm tốt mới có thể dạy cho trẻ tiếp thu những nền nếp sinh hoạt và ứng xử mới, nhất là những yếu tố mới về tinh thần.
Với trẻ còn nhỏ như học sinh tiểu học, cần thiết nhất là việc dạy con tự phục vụ bản thân và có thể giúp đỡ cha mẹ việc vặt. Để trẻ có thể tự giác làm việc đó thì sự dạy dỗ hàng ngày của cha mẹ là yếu tố quyết định. “Kỷ luật” mà cha mẹ đặt ra phù hợp với từng đứa con vì hiểu tâm tính mỗi đứa, các con thực hiện đúng “kỷ luật” không chỉ vì sợ cha mẹ mà vì hiểu rằng việc đó có ích cho bản thân, hơn nữa là mang lại niềm vui cho cha mẹ, gia đình.

Cũng vậy, giáo dục đạo đức cho trẻ nhỏ bắt đầu từ sự thương yêu con người, thương yêu thiên nhiên. Có tình yêu thương sẽ biết đối xử nhân ái, không làm tổn hại, tổn thương con người, không tàn ác với động vật, không hủy hoại thiên nhiên... Những điều đó được truyền đạt hàng ngày, đơn giản từ những ví dụ sinh động trong cuộc sống... có ở đâu và có ai làm việc đó thuận lợi hơn, có hiệu quả hơn là cha mẹ và ngay trong môi trường gia đình? Nếu học điều tốt ở “quân trường” hay “nhà chùa” mà về gia đình không giáo dục hay duy trì thói quen tốt thì khóa học ngắn ngủi cũng chẳng có tác dụng gì. Chưa kể những bất trắc khó lường ở nơi “tập thể”.
Sống tự lập, không ngại lao động, yêu thương con người, đó là hành trang quan trọng và thiết thực nhất gia đình mang theo cho mỗi đứa trẻ. Thiếu cái đó cuộc sống của người trưởng thành sẽ khó khăn nhất là về tinh thần. Khi gia đình là tổ ấm, mọi người có trách nhiệm và tình yêu thương thì con trẻ lớn lên sẽ trở thành người nhân ái và có trách nhiệm với gia đình, với xã hội.

***
Nửa đêm tôi trở dậy làm việc và đọc ngay những dòng tin về cái chết thương tâm của em bé học lớp một. Em mới bước vào ngày thứ hai đi học nhưng sự vô trách nhiệm của người lớn đã cướp đi cuộc sống của em. Có lẽ không cần nói gì thêm về sự tắc trách của nhiều người trong sự việc này, từ người lái xe đến cô giáo nhận trẻ từ cha mẹ, từ cô chủ nhiệm điểm danh đến người có trách nhiệm thông báo với gia đình sự vắng mặt của em, và hơn hết là nhà trường nơi cha mẹ em đã tin tưởng cho con vào học. Với mức học phí cao như vậy chắc chắn gia đình không chỉ kỳ vọng vào kiến thức con mình được dạy dỗ, mà còn tin tưởng vào sự an toàn và chu đáo của nhà trường.

Những gương mặt trẻ con thảng thốt trước tai nạn của bạn, tiếng khóc uất nghẹn của cha mẹ em, những dòng tiếc thương và phẫn nộ tràn ngập facebook... nhắc chúng ta nhớ lại cũng vào tháng bảy vài năm trước đã xảy ra việc những trẻ sơ sinh chết vì “sốc phản vệ thuốc” sau khi tiêm vacxin ngừa bệnh. Hơn chín tháng mang nặng đẻ đau, sinh con ra vuông tròn rõ ràng, vậy mà chỉ tích tắc con bỏ cha mẹ mà đi… Rồi một đoàn học sinh đi du lịch ở Cần Giờ, cũng chỉ sơ sảy phút chốc mà mấy em nhỏ đã bị sóng cuốn ra xa... Và hầu như năm nào cũng xảy ra bao nhiêu cái chết thương tâm của trẻ vì tai nạn giao thông, vì chết đuối, vì những tai bay vạ gió không ai có thể hình dung...

Nhưng sau sự chịu trách nhiệm “chung chung” của vài cá nhân, vài cơ quan... là trẻ em vẫn chết vì sự vô trách nhiệm của người lớn! Sự vô cảm ấy hình như không có điểm dừng! Thế nên các thiên thần xấu số đã phải ra đi ngay trong cái mùa mà cả người ở âm phủ cũng còn có cơ hội “quay về” dương thế.

Nước mắt vợ chồng Ngâu có nhiều hơn nước mắt những người ở lại…?

Sài Gòn 7.8.2019

 


LUẬT VỀ ĐẶC KHU VÀ TRÁCH NHIỆM VỚI NHÂN DÂN, VỚI LỊCH SỬ



Kỳ họp quốc hội tháng 6/2018, ngoài những vấn đề nóng mà nhân dân mong muốn được nghe quốc hội lên tiếng như việc “thu giá BOT”, việc đạo văn, phong hàm giáo sư, phó giáo sư trong ngành giáo dục... và nhiều “việc thường kỳ” của các lĩnh vực khác, nhân dân cả nước rất quan tâm đến một vấn đề có tầm quan trọng nhất và ảnh hưởng lâu dài đến tương lai của đất nước, đó là việc quốc hội bàn luận về Dự thảo để quyết định thông qua LUẬT ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH - KINH TẾ ĐẶC BIỆT VÂN ĐỒN, BẮC VÂN PHONG, PHÚ QUỐC.
Được biết, chủ trương thành lập các đơn vị hành chính này đã bắt đầu từ vài năm trước, những ai quan tâm sẽ nhận ra tín hiệu từ việc nhiều đại gia đổ xô đến những khu vực này mua bán đất đai, giá đất tăng nhanh nhất là trong một, hai năm gần đây. Cũng như nhiều khu kinh tế khác đã hình thành, việc đầu tư tại Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc dù sôi động đến đâu vẫn được coi là bình thường, như một sự chuyển mình, phát triển mà ít nhiều mang lại sự thay đổi ở những địa phương có nhiều tiềm năng phát triển.
Tuy nhiên, sự quan tâm của nhân dân đến Dự luật về ba “đặc khu” và gây nên rất nhiều lo ngại chính là từ những điều khoản ảnh hưởng lớn đến chủ quyền quốc gia cả về chính trị, quân sự và kinh tế.
 Nhiều chuyên gia về kinh tế đã chỉ ra sự lạc hậu và những bất lợi của mô hình ‘đặc khu” đối với những nước đang phát triển như nước ta, bởi vì mô hình này đã ra đời từ vài chục năm trước trong hoàn cảnh của thế giới khi ấy. Những quốc gia áp dụng mô hình này đều đã có nhiều bài học kinh nghiệm mà không phải đều là bài học thành công, bởi vì mỗi quốc gia có một hoàn cảnh lịch sử riêng, điều kiện kinh tế xã hội riêng. Mấy chục năm sau, thế giới đã phát triển và thay đổi rất nhanh, bản thân cấu trúc và hoạt động của mô hình này cũng phải khác trước. Vì vậy những bài học thất bại của các “đặc khu” chính là sự cảnh báo quan trọng và cần thiết mà chúng ta phải quan tâm chứ không chỉ nhìn thấy một vài thành công, thậm chí chỉ ở một quốc gia mà coi đây là con đường duy nhất để phát triển.
Từ góc độ khác, cả ba đặc khu đều nằm ở vị trí đặc biệt nhạy cảm cả về quân sự và an ninh quốc gia: Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc đều là những “tiền tiêu” trấn giữ bờ biển và biển Việt Nam, từ Vịnh Bắc bộ đến vùng biển Đông với hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa cho tới biển Tây Nam ở Vịnh Thái Lan. Điều nguy hiểm là ngay từ tháng 3/2014 tại đã Hạ Long diễn ra Hội thảo về Đặc khu Kinh tế do tỉnh Quảng Ninh phối hợp với Trung tâm nghiên cứu Đặc khu kinh tế Đại học Thâm Quyến tổ chức (1). Tham gia hội thảo chỉ có lãnh đạo bốn tỉnh Quảng Ninh, Khánh Hoà, Kiên Giang, Lâm Đồng, đó là ba địa phương nằm ở ven biển có ba đơn vị hành chính trên và Lâm Đồng – tỉnh cao nguyên miền Trung có khu công nghiệp khai thác Boxit – một đại dự án cũng từng nhận được rất nhiều ý kiến lo ngại, cảnh báo và phản đối của nhiều chuyên gia, trí thức và các tầng lớp nhân dân về sự nguy hại và hoàn toàn bất lợi cho ta.
Rồi mới đây, tại Diễn đàn bền vững Việt Nam 2018 vào tháng 2 năm 2018, được tổ chức bởi Hội Khoa học và Chuyên gia VN Toàn cầu, dưới sự bảo trợ của Bộ Kế hoạch Đầu tư, trong tài liệu hội thảo đã thẳng thừng nhắc đến vị trí chiến lược của Quảng Ninh và đặc khu Vân Đồn là "tiếp điểm quan trọng của dự án One Belt, One Road của Trung Quốc" ("an important node on the project One Belt, one Road of China")(2). Cả Bắc Vân Phong đều thuộc vùng “chiến lược” này còn Phú Quốc nằm ngay sát bên.
Theo dự luật: “thời hạn sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh tại đặc khu không quá 70 năm; trường hợp đặc biệt, thời hạn sử dụng đất có thể dài hơn nhưng không quá 99 năm do Thủ tướng Chính phủ quyết định. 99 năm! Một thế kỷ - thời hạn dài một cách không tưởng trong thời đại ngày nay, khi mà một mỗi giây phút trôi qua thế giới đã có những biến đổi to lớn, mỗi một thế hệ kịp phát minh, nhận biết, tiếp thu được khối lượng tri thức khổng lồ bằng biết bao nhiêu thế kỷ trước... Vậy mà với vị trí chiến lược và ba vùng đất giàu tiềm năng như thế lại cho nước ngoài thuê đến 99 năm – khoảng thời gian bằng vài ba thế hệ người Việt Nam. Lẽ nào người Việt Nam chúng ta mãi mãi không đủ điều kiện, trình độ, tài năng để phát triển đất nước mình mà phải dựa dẫm vào nước ngoài như một sự lệ thuộc kiểu mới?
Từ hàng chục năm qua trong nước đã có nhiều khu vực và mô hình kinh tế mà chủ đầu tư là trong hay ngoài nước, đã có nhiều ưu đãi, dành được nhiều điều kiện thuận lợi từ trung ương đến địa phương... Tuy nhiên phải nói rằng việc quản lý nhà nước đối với những khu vực đó không mang lại sự tin tưởng của người dân đối với hiệu quả kinh tế, an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường...  cũng như kết quả khác từ hoạt động của các chủ đầu tư này. Boxit Tây Nguyên hay Formosa Hà Tĩnh, những nhà máy nhiệt điện, công trình đường sắt trên cao ở Hà Nội... là vài trường hợp điển hình như vậy.
Mặt khác, từ những dự án, công trình trên còn phát hiện ra nhiều sai phạm của các cấp, các ngành quản lý, phổ biến hiện tượng “đặc khu là đặc quyền, đặc lợi”. Do đó sự lo ngại, cảnh báo, phản biện của giới chuyên gia, các nhà khoa học và nhân dân đều có cơ sở và qua thời gian ngắn cho thấy phần lớn các ý kiến là đúng đắn.
Vì vậy, Dự luật về đặc khu với nhiều điều khoản ưu đãi, thời gian quá dài và nhằm vào những vị trí chiến lược về kinh tế, quân sự, với tính chất “khép kín” và “độc lập” của các đặc khu Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc... hoàn toàn có cơ sở để nhân dân lo ngại, lên tiếng đề nghị xem xét lại Dự luật này, không phải chỉ về thời hạn của đặc khu mà còn cả về tính hợp lý, sự cần thiết của việc thành lập đặc khu, nhất là sự lo ngại rằng không thể lường trước những bất trắc và hệ lụy đối với hiện tại và tương lai của đất nước!
Chủ trương về thành lập các đặc khu từ vài năm trước đây có thể là đúng và cần thiết, nhưng, như đã nói ở trên, với sự thay đổi nhanh chóng của thế giới toàn cầu và sự thay đổi của chính nước ta, việc quốc hội trong kỳ họp này xem xét lại Dự luật này là hoàn toàn cần thiết, chứng tỏ trách nhiệm của quốc hội đối với nhân dân và tương lai của đất nước.
Xin được gửi vài lời đến các đại biểu quốc hội: Thưa quý vị, tôi tin rằng trước khi bấm nút đồng ý hay không đồng ý thông qua Dự luật về các đặc khu Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc, quý vị ĐBQH đều nhớ rằng mình là người Việt Nam trước khi là quan chức, doanh nhân hay bất cứ một cương vị nào. Tôi cũng tin rằng con cháu quý vị, không phải ai cũng mang tâm thế và hành xử kiểu COCC dốt nát, tham lam và hèn hạ, mà cũng như phần lớn người Việt Nam, họ là những người trẻ có lòng tự trọng, có tri thức và có trách nhiệm với đất nước, với tiền nhân. Nếu quý vị hành động sai lầm thì không có gì đau xót hơn là sẽ bị chính con cháu mình lên án!
Tôi rất mong quý vị ĐBQH chứng tỏ quốc hội là của nhân dân! Đừng để bị lịch sử lên án, và nhất là đừng để thế hệ tương lai phải sửa sai cho chúng ta. Hãy để tương lai làm việc của tương lai, nếu không đất nước ta mãi mãi lạc hậu trong nhục nhã vì không thể ngẩng mặt nhìn ai.

Sài Gòn ngày 8.6.2018
TS. Nguyễn Thị Hậu
Phó Tổng Thư ký Hội khoa học lịch sử VN

Chú thích:
(1) http://baoquangninh.com.vn/theo-dong-su-kien/201403/hoi-thao-khoa-hoc-quoc-te-ve-phat-trien-dac-khu-kinh-te-kinh-nghiem-va-co-hoi-2223071/
(2) http://www.vsf.a-vse.org/…/…/02/W4.2.DoanDinhHong_Slides.pdf
http://baoquangninh.com.vn/kinh-te/201801/dien-dan-ben-vung-viet-nam-2018-cac-chuyen-gia-trao-doi-ve-mo-hinh-dac-khu-van-don-2371496/




NHỮNG BIỆT PHỦ VÀ CON ĐƯỜNG “TÍNH TỪNG GIỜ MÁY XÚC”

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, văn bản và ngoài trời
Nguyễn Thị Hậu
Những năm gần đây tôi có dịp đi đến nhiều tỉnh miền núi phía bắc: Hà Giang, Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang… Tại đây, cũng như nhiều tỉnh thành khác, thành phố “thủ phủ” được xây dựng “hiện đại hóa” nhanh đến mức có thể không nhận ra diện mạo “vùng cao” nếu không có những dãy núi bao quanh.
Do quỹ đất dồi dào nên trong thành phố nào cũng có công viên trung tâm hay quảng trường mênh mông, tượng đài nghìn tỷ… Trụ sở cơ quan công quyền rất hoành tráng với kiểu dáng như Tây, cơ sở hạ tầng gồm những con đường rộng 8 làn xe có dải phân cách trồng hoa, cây xanh, vỉa hè rộng rãi có nơi được lát đá granit bóng loáng, nhà mặt tiền xây dựng kiểu cách, cửa hàng cửa hiệu phong phú đa dạng không thua gì Hà Nội. Những khu “dân cư mới” mọc lên, nhà liên kế, biệt thự nhà vườn san sát mà phần lớn là của quan chức và công chức.
Đây thật là điều đáng mừng cho “vùng sâu vùng xa” nếu như không có một quang cảnh khác hẳn, thậm chí đối lập khi chỉ cần ra khỏi thành phố chừng vài mươi cây số là có thể nhìn thấy. Đó là những xã, bản mà từ hạ tầng “điện đường trường trạm” đến đời sống dân cư nói chung như vẫn còn ở thập niên 60,70 của thế kỷ trước.
Hôm đầu tháng bảy chúng tôi đến một xã thuộc một tỉnh vùng trung du phía Bắc. Chính xác hơn nơi tôi đến là một xóm nhỏ có chừng hơn 20 nóc nhà và một điểm trường cấp Một. Xóm ở tách biệt với phần còn lại của xã bởi một cái hồ lớn, nước sâu hút chưa kể mùa lũ về thì mênh mông. Xóm nằm sát chân núi, từ bến đò chỉ có đường mòn ngoằn nghèo dốc ngược xuyên qua xóm nhưng không nối liền với nơi khác trong xã. Chỉ có cách đi thuyền máy qua hồ mất khoảng hơn một tiếng nếu trời yên sóng lặng, còn vào mùa mưa bão thì không ai dám mạo hiểm.
Các bạn tôi đã cùng nhau đóng góp tiền của để thuê máy xúc làm đường cùng với công sức của dân trong xóm. Sau gần ba năm có lúc tưởng chừng phải dừng lại vì chạy tiền không kịp, vì một vài thủ tục nhiêu khê… đến nay con đường đã hoàn thành: dài hơn 20km rộng khoảng 5m có nhiều đoạn phải làm cống, vắt vẻo sát chân núi trèo qua những đỉnh núi rồi nối với đoạn đường có sẵn bắt đầu từ trung tâm xã. Không chỉ vậy ngày mừng đường mới khách về chơi còn tặng cho điểm trường ở nơi hẻo lánh này một số dụng cụ sinh hoạt văn hóa, thể thao theo đề nghị của cô hiệu trưởng.
Xóm đã có điện nay có thêm đường, không thể nói hết niềm vui của người dân trong xóm và các cô giáo ở đây. Từ nay sinh hoạt của người dân, việc đi dạy đi học thuận lợi hơn rất nhiều, đặc biệt là vào mùa thu hoạch trái cây thì xe ô tô có thể vào tận xóm mua hàng, giá cả phù hợp hơn vì không mất nhiều thời gian và công sức thuê thuyền chở ra tận chợ. Tôi hỏi anh lái thuyền máy của xã:
- Chắc ngày nào anh cũng phải ra vào xóm này nhỉ?
- Không cô ạ, năm chỉ đôi ba lần, chủ yếu chở các sếp và khách khứa đi chơi hồ thôi.
- Sao vậy, thế cán bộ không thường vào xóm à?
- Họ chả vào làm gì…
Ừ, có lẽ vậy nên mong mỏi bao năm của dân về một con đường chẳng ai “thấu cảm”. Khi về chúng tôi đi qua Trụ sở Ủy ban xã, một tòa nhà 3 tầng khá mới, khang trang, phía trước là con đường đổ bê tông rộng rãi nhưng ít người qua lại. Ra khỏi xã đã là đường cao tốc, cầu vượt, và thành phố của tỉnh hiện đại như nhiều nơi khác…
Hiện nay có rất nhiều nhóm thiện nguyện đi đến những xã, bản khó khăn và giúp đỡ người dân bằng mọi cách tùy thuộc vào khó khăn từng nơi và nguồn đóng góp. Nhưng hầu như ở đâu cũng bắt đầu từ việc chăm lo cho các điểm trường và học sinh như xây trường học và nhà nội trú, tặng học bổng hay chi phí cho những bữa ăn cho học sinh, hay như nhóm bạn tôi làm một con đường… Lòng nhiều và của cũng không hề ít nhưng không ai tính đếm vì mọi người đều coi là việc cần làm “vì các con”.
Tôi tự hỏi, các quan chức – chủ nhân của “biệt phủ” lộng lẫy hoành tráng giữa rừng núi có bao giờ biết rằng đã những có mái trường, con đường, ngôi nhà ở ngay địa phương của các vị đang quản lý được xây nên từ những giọt mồ hôi, từ đồng tiền đóng góp có khi chỉ đủ cho “một giờ máy xúc” của những người mà thu nhập cả đời của họ cũng không thể xây được một góc nhỏ ngôi biệt phủ, nhưng họ vẫn dốc sức sẻ chia vì tình thương yêu và cả vì trách nhiệm với đồng bào của mình.
“Chỉ có súc vật mới quay lưng lại nỗi thống khổ của đồng loại mà chăm lo riêng cho bộ lông của mình”. Tôi ước gì câu nói này được khắc trên cánh cửa tất cả những ngôi biệt phủ của các quan chức nói láo không biết ngượng miệng khi “giải trình” về nguồn gốc những đồng tiền dơ bẩn và đen tối xây dựng nên biệt phủ.

TC Phụ Nữ Mới 7.2017
@ Mình yêu bạn Hà Phạm và những "đồng đội" tâm lành việc thiện thường xuyên giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn.
Hơn nữa, tạp chí của bạn ấy đẹp và chất thế này, được đọc được viết cho nó cũng là một niềm vui đấy.
Đặt mua và chia sẻ cùng chúng mình 500 anh em nhé :)


Không có văn bản thay thế tự động nào.


MIỆNG NHÀ QUAN

TBKTSG hôm nay 27.7.2017


“Miệng nhà quan có gang có thép” là câu nói của dân từ xưa. Có gang có thép là lời nói ném ra ghê lắm, đe dọa chặt chém sắc bén lạnh lùng trấn áp gớm lắm… làm người nghe thấy phận mình như con sâu cái kiến, phải rùng mình sợ hãi mà len lét tránh xa rồi ngậm ngùi tự trách “sao mình lại gây chuyện với nhà quan làm gì cho khổ!”.

Tưởng sự đe dọa nỗi sợ hãi ấy chỉ có trong “văn chương hiện thực phê phán” trước 1945 với thân phận của những anh Pha, chị Dậu, lão Hạc, giáo Thứ…  Vậy mà ngày nay nhiều vị quan miệng “có gang có thép” như đã bước ra từ trang sách và có mặt không chỉ ở công đường mà cả ngoài đường phố nơi quán xá. Nhưng vào thời đại internet thì trong chốc lát lời nói hành vi “gang thép” của “quan phụ mẫu” đã tràn ngập trên truyền thông, nó không còn làm cho người ta sợ hãi mà trái lại gây ra sự bất bình và những phản ứng.

Vì sao nhiều quan chức của một nhà nước “vì dân” lại tự cho mình cái quyền có thể vi phạm quy tắc chung, vi phạm luật pháp, coi thường dân và trấn áp, đe dọa bằng lời nói và hành vi khi có người phản ứng hay thực hiện chức trách xử lý điều sai trái của quan chức?  Đó là vì những quan chức này không ý thức được họ đang sống trong thời đại nào, họ vẫn tư duy và hành xử như “quan phụ mẫu” ngày xưa, tuyệt đối hóa chức vị nên họ lạm dụng quyền thế trong mọi trường hợp, không thấy mình sai trái và nếu biết thì cũng dùng uy quyền để lấp liếm.

Dư luận qua báo chí và mạng xã hội những ngày vừa qua đã có thái độ phản ứng sự lạm dụng chức quyền của một vài vị có chức sắc (đương chức hoặc đã về hưu) không phải chỉ vì các vị vi phạm luật (có thể là vô tình và thật ra lỗi không lớn) mà chính là vì cách hành xử khi được chỉ ra sai phạm. Quát nạt chửi bới đe dọa đuổi việc người thi hành công vụ, lấp liếm cái sai, chụp mũ “bôi nhọ chính quyền” cho phản ứng của dân, “cái xảy nảy cái ung” vì ai cũng có thể mắc sai lầm nhưng thái độ nhận biết và sửa sai mới quyết định nhân cách của một con người.

Chức tước trước hết đó là trách nhiệm và đạo đức của quan chức, của cơ quan công quyền. Tiếc rằng nhiều quan chức, công chức chỉ coi đó là quyền lợi: lợi về vật chất (thu vén, vơ vét tài sản công biến thành tư) và lợi về tinh thần (có quyền đứng trên dân, trên pháp luật). Sự bất bình đẳng trong tiến trình phát triển một xã hội thoát ra từ kinh tế bao cấp ngày càng phổ biến và sâu sắc chính là từ tình trạng tham nhũng của quan chức, nhất là sự “tham nhũng quyền lực”. Khi chính quyền coi quyền lực là “tài sản” lớn nhất thì xã hội bất ổn, tha hóa và nảy sinh nhiều nguy cơ.

Sự bất ổn dẫn đến tha hóa trong xã hội từ hiện tượng nhiều người có hành vi xấu, và cũng như quan chức họ cậy mình là đại gia, có thân có thế, có tiếng có tăm nên sẵn sàng chống đối người thi hành công vụ hay ăn hiếp người yếu thế. Rồi có người vi phạm luật pháp nhưng liều mạng kiểu Chí Phèo gây nguy hiểm cho chính mình và cho người khác mà không ai dám can thiệp, vì đã thấy người thực hiện đúng chức trách đúng pháp luật lại bị coi là có tội vì “thiếu tế nhị”, là “cố tình bôi nhọ” chính quyền... Biến “nạn nhân” thành “tội đồ” là đánh tráo sự thật nhằm bao che, thậm chí ngụy biện cho những hành vi sai trái của quan chức. Một quan chức không phảỉ là chính quyền nhưng người dân nhìn và đánh giá chính quyền qua lời nói hành vi của từng quan chức.

Xây dựng chính quyền của dân, do dân và vì dân đâu cứ phải theo khái niệm “chủ tớ, nô bộc” của thời phong kiến. Bởi vì có xã hội nào mà “đầy tớ, nô bộc” lại ít hơn “ông chủ” về số lượng nhưng giàu hơn nhiều lần về tài sản và sẵn sàng ném vào “ông chủ” những lời “gang thép”? Xây dựng một “chính phủ kiến tạo” không thể không bắt đầu từ đạo đức công chức thể hiện qua mỗi lời nói hành vi, từ việc chính quyền tạo ra, điều hành và thực thi công bằng xã hội bằng sự công minh.

Sài Gòn 22.7.2017

 Nguyễn Thị Hậu





Sài Gòn với nền kinh tế vỉa hè

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/95746/sai-gon-voi-nen-kinh-te-via-he.html


Được nhiều người coi là "miền đất hứa", TP. Hồ Chí Minh cũng phải đối mặt với những khó khăn, phức tạp mà một phần không nhỏ đến từ những người lao động phi chính thức.
LTS: Vấn đề nhập cư đối với các thành phố lớn như Hà Nội, Tp. HCM, Đà Nẵng luôn đóng vai trò quan trọng và thường gây ra các tranh luận, ý kiến trái chiều.
Với riêng thành phố Hồ Chí Minh, người nhập cư đã tạo nên một phần diện mạo cho mảnh đất 10 triệu dân này. Một cái nhìn tổng thể về lịch sử nhập cư, cũng như những đặc thù, tác động mang tính xã hội của đối với Tp. HCM sẽ có thể hữu ích để thiết lập nền tảng cho các chính sách nhập cư.
Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết của TS Nguyễn Thị Hậu, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP. HCM, xung quanh vấn đề trên.

Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa mở rộng đô thị, ruộng đất làm nông nghiệp bị thu hẹp, áp lực việc làm ngày càng lớn đối với lao động nông thôn, người di cư ra thành phố càng đông đúc. Số người này nếu không có vốn, không được học nghề do không đủ trình độ học vấn, không kiếm được việc làm dù là giản đơn trong các khu chế xuất - khu công nghiệp (KCX-KCN) thì không còn sự chọn lựa nào khác là trở thành lao động phi chính thức ở nhiều khu vực kinh tế.
Nền kinh tế chủ yếu của Việt Nam nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng là nông nghiệp. Với đặc trưng cơ bản của cơ cấu thời gian mang tính thời vụ, vì vậy thời gian "nông nhàn" cũng là thời gian người nông dân tận dụng để kiếm thêm thu nhập từ họat động kinh tế phi nông nghiệp, lên thành phố kiếm việc làm thêm là khá phổ biến.
Cùng với việc ruộng đất bị thu hồi hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng cho các KCN - KCX hay những công trình khác, hiện nay có thể nói, nông dân là lực lượng "tiềm năng" của lao động phi chính thức tại các đô thị.
Chỗ trũng
Ở Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh lao động phi chính thức là thực tế khách quan tồn tại ngay từ lúc đô thị được hình thành, ngày càng phát triển mạnh mẽ và đa dạng do những nhu cầu nội tại của đời sống đô thị.
Trong thời kỳ đô thị trung cổ các ngành kinh tế hầu không có sự phân biệt giữa "chính thức" và "phi chính thức", nhưng từ khi hình thành các đô thị thời cận đại vào cuối thế kỷ XIX ở Sài Gòn - Bến Nghé đã đồng thời làm hình thành và tách biệt hai khu vực kinh tế này. Sự thành lập những nhà máy, công sở, cơ sở dịch vụ công như bệnh viện, trường học... ở Sài Gòn thời Pháp thuộc tuy số lượng không nhiều nhưng cũng đủ để hình thành một tầng lớp xã hội "làm công ăn lương", làm việc theo những luật lệ "hành chính" về giờ giấc và nhiều yếu tố khác. Có thể coi đây là sự hình thành tầng lớp "thị dân" - cư dân sống ở đô thị và làm những nghề nghiệp của đô thị, có lối sống thị dân khác với những người lao động khác ở thành phố.
Khu vực "kinh tế chính thức" tập trung ở trung tâm hành chính - quận 1, quận 3 hiện nay. Còn lại các khu vực khác của Sài Gòn - Chợ Lớn là nơi phát triển thương nghiệp dịch vụ, xóm lao động, vùng Gia Định chủ ýếu là nông nghiệp... Khu vực kinh tế "phi chính thức" bao quanh khu vực "kinh tế chính thức" là hạt nhân của đô thị, là "vùng lõi" của quy hoạch kiến trúc thành phố. Đặc điểm này xuyên suốt sự phát triển của đô thị Sài Gòn từ cuối thế kỷ XIX đến nửa cuối thế kỷ XX.
Sài Gòn còn trải qua một thời gian dài thời kỳ chiến tranh. Khác với Hà Nội (trong chiến tranh những người làm trong thành phần kinh tế chính thức - làm nhà nước - đều tản cư, sơ tán về nông thôn, hòa bình mới trở về thành phố, trong khí đó người làm kinh tế phi chính thức hầu như không bị bắt buộc đi khỏi thành phố), Sài Gòn lại là nơi người dân nhiều vùng nông thôn từ miền Trung, từ đồng bằng sông Cửu Long đổ vào thành phố.
Hầu như không có nghề nghiệp, không có hoặc ít vốn, họ tham gia vào lực lượng lao động phi chính thức bằng những công việc như buôn bán nhỏ lẻ, hàng rong, dịch vụ, lao động thủ công, chuyên chở bằng xe thô sơ... Địa bàn làm việc của họ, có thể nói khái quát, là "ngòai trời" gồm lòng lề đường, các công trường, chợ búa...
Sau năm 1975 một bộ phận người dân trở về quê quán, một bộ phận khác đi vùng kinh tế mới, khu vực việc làm phi chính thức thu hẹp. Cấu trúc kinh tế của thành phố chỉ còn "một thành phần" nên nhiều lọai hình kinh tế và việc làm ngòai quốc doanh trở thành "phi chính thức".
Khi kinh tế nước ta lâm vào thời kỳ khó khăn "trước đổi mới" và nhất là từ cuối những năm 1990 đến nay quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, thì thành phố lại như một "chỗ trũng" có thể dung nạp những dòng người "chảy" vào kiếm sống, phần nhiều tham gia vào hình thức "kinh tế vỉa hè".
Khu vực kinh tế phi chính thức càng mở rộng, phong phú đa dạng về lọai hình, cách thức họat động và ngày càng có đóng góp đáng kể phục vụ cho cuộc sống đô thị và cho sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên sự nhìn nhận của nhiều "người thành phố" đối với dân nhập cư, người bán hàng rong, trẻ đường phố vẫn có phần xem thường, thương hại, thậm chí họ còn bị coi là nguyên nhân chính làm cho thành phố chưa có nếp sống "văn minh đô thị".
Từ nông thôn mới lên hoặc sống ở thành phố chưa lâu, tầng lớp này được gọi chung là "dân nhập cư". Lâu dần sẽ trở thành / tham gia vào tầng lớp "dân nghèo thành thị" mà hiện nay dùng khái niệm mới là "nghèo đô thị". Địa bàn cư trú của những lao động này thường ở các huyện ngọai thành, quận vùng ven hay trong những khu hẻm sâu "nhà lá" ở các quận nội thành. Không có nghề nghiệp "được đào tạo" và không có điều kiện tiếp cận cơ hội đào tạo nghề nghiệp nên phần lớn lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức đều phải chấp nhận điều kiện làm việc kém, thu nhập thấp, không được hưởng quyền, nghĩa vụ lao động, quỹ phúc lợi xã hội, dịch vụ công ích...
Ở Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh lao động phi chính thức là thực tế khách quan tồn tại ngay từ lúc đô thị được hình thành
Đặc biệt số lượng phụ nữ tham gia vào khu vực kinh tế này khá lớn, từ "buôn gánh bán bưng" đến công nhân tại KCN - KCX, từ giúp việc nhà đến làm việc trong quán xá, từ thợ hồ đến thậm chí làm xe ôm... Lao động nữ mang một trách nhiệm như "thiên chức", đó là luôn hy sinh, chịu thiệt thòi vì gia đình.
Cũng như cả nước, TP. Hồ Chí Minh đã có khá nhiều hoạt động, tổ chức tương trợ đối với người lao động tự do, trẻ em đường phố, dân nhập cư. Thế nhưng, quy mô và hoạt động của những tổ chức này vẫn chưa thật sự tạo được sự tiếp cận sâu sát, kịp thời đến đối tượng này và quan trọng hơn là chưa lôi kéo họ cùng tham gia các hoạt động tương trợ.
Phần lớn người lao động phi chính thức chưa biết cách khai thác sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội mà vẫn thụ động, tự bảo vệ mình một cách kém hiệu quả. Với những đóng góp của lao động phi chính thức đối với xã hội và nền kinh tế hiện nay, việc thừa nhận vị trí, vai trò xã hội và tạo điều kiện cho họ thụ hưởng các dịch vụ công ích là điều rất cấp thiết.
Kinh tế vỉa hè
Thành phố Hồ Chí Minh phát triển từ đô thị Sài Gòn - Bến Nghé lớn dần lên, nối kết với các trung tâm khác là Chợ Lớn và Gia Định. Tốc độ đô thị hóa của Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh trong giai đọan lịch sử nào cũng rất nhanh, tuy nhiên phải nhìn nhận rằng hiện nay quy họach của nhà nước không theo kịp tốc độ phát triển của thành phố, việc xây dựng tự phát do người dân chưa có ý thức cao trong việc tuân thủ quy họach của nhà nước, sự tùy tiện phát triển các khu dân cư xen lẫn thương mại, khu sản xuất... là rất rõ.
Có thể dùng cụm từ "làng trong phố" để hình dung về tính chất văn hóa nhiều khu đô thị mới. Đây chính là địa bàn thuận tiện cho lao động phi chính thức phát triển: từ việc buôn bán trong những chợ "chồm hổm" "chợ đuổi"... đến một "nền kinh tế vỉa hè": buôn bán cố định/ di động, sản xuất, dịch vụ... Do cơ chế quản lý chưa phù hợp, "kinh tế vỉa hè" cũng "góp phần" làm cho thành phố còn nhiều nơi nhếch nhác, không mang dáng dấp của một đô thị văn minh hiện đại.
Việc sử dụng vỉa hè, lòng lề đường để kinh doanh, buôn bán, thậm chí sản xuất, làm các dịch vụ như giữ xe... còn xuất phát từ chính nhận thức của người dân. Nhiều người dân thành phố có quan niệm vỉa hè, lòng lề đường thuộc sở hữu của chủ nhà có mặt tiền đường. Và để có một chỗ buôn bán nhỏ lẻ ở vỉa hè trước mặt nhà không phải của mình đều phải được sự cho phép của chủ nhà và phải đóng một khoản tiền "thuê chỗ" hàng tháng.
Những năm gần đây, thành phố có chủ trương phát triển nhiều trung tâm để phân tán mức độ tập trung; ở nhiều quận do chưa hình thành các khu mua bán lớn nên lại bị phân tán theo các trục đường và lề đường. Quy hoạch khu hành chánh, trường học, chợ, cửa hàng... không theo khu vực "ô phố" đặc trưng của đô thị mà vẫn phân tán theo mặt tiền một số con đường chính nên làm việc gì người dân cũng phải "xuống đường". Và thực tế, loại hình kinh tế phi chính thức phổ biến nhất ở TP Hồ Chí Minh là buôn bán trên vỉa hè từ nhiều năm qua đã nhanh chóng đáp ứng nhu cầu mua - bán nhanh, tiện lợi với các loại hàng hóa giá rẻ. Và đây cũng là điều kiện thuận lợi để các hoạt động kinh tế vỉa hè có điều kiện nảy sinh và tồn tại.
Cùng với đó "Văn hóa mặt Tiền" trở thành "đặc trưng" mới của đô thị Việt Nam, từ thành phố lớn đến thị trấn hẻo lánh (Có lẽ không có nước nào mà dân cư lại có thói quen, nhu cầu và "đua nhau" ra sống cạnh mặt đường lớn, nhỏ như ở nước ta! Trong khi đó ở các nước thì mặt tiền vỉa hè là không gian công cộng, cần tuân thủ những quy định chung của thành phố, không được tùy tiện sử dụng theo ý muốn cá nhân).
Thói quen này dẫn đến nhiều hệ lụy: Thứ nhất, quy họach và quản lý kiến trúc mặt tiền các con đường trở nên khó khăn, thậm chí làm cho hình thức kiến trúc xấu, không đồng bộ dù tốn kém rất nhiều kinh phí để xây dựng hay cải tạo đường xá (đường Nam Kỳ khởi nghĩa từ sân bay Tân Sơn Nhất về trung tâm thành phố Hồ Chí Minh là  ví dụ điển hình);
Thứ hai, những đường cao tốc mới xây dựng lại không thể lưu thông với tốc độ cao vì rất nguy hiểm khi dân cư trú ngay hai bên đường, không có khoảng lùi an toàn và cảnh quan cần thiết,  làm giảm hiệu quả xây dựng và đầu tư;
Thứ ba, buôn bán vỉa hè, lòng đường, mặt tiền đường phố và phương tiện giao thông cá nhân có mối quan hệ mật thiết của "cung và cầu", xe cá nhân phát triển thì người sử dụng còn nhu cầu mua bán ngay ở vỉa hè lòng đường. Tình trạng tắc đường kẹt xe lại có thêm một nguyên nhân. Các nhà quản lý và điều phối giao thông thấy được điều này nhưng khó mà giải quyết.
Không để người dân tự giải quyết
Ở các thành phố như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, nếu phương tiện giao thông công cộng phát triển, tiện lợi, phù hợp nhu cầu, tạo điều kiện cho người dân có thói quen sử dụng xe công cộng thay vì xe cá nhân, nhu cầu "mua bán nhanh tiện lợi" sẽ chuyển đến các đầu mối giao thông như bến tàu xe, trạm xe bus, ga xe điện ngấm, bãi giữ xe hơi... Có nghĩa là những trung tâm mua bán, dịch vụ... sẽ được thiết lập ở đó.
Tuy nhiên, trong khi chờ đợi có được những yếu tố giao thông mang tính chất "giao thông đô thị", bằng cách nào hạn chế mặt tiêu cực của "kinh tế vỉa hè" tác động đến nếp sống văn minh đô thị? Nên chăng cần tổ chức những con đường, khu vực theo ô phố - đặc thù quy họach đô thị, để duy trì và phát triển kinh tế vỉa hè, vừa giải quyết nhu cầu sinh sống của người bán, người mua, vừa đảm bảo mỹ quan và trật tự đô thị, vừa bảo tồn được nét độc đáo, cần thiết giữ gìn và có thể khai thác nó như một di sản văn hóa phi vật thể. "Văn minh đô thị" sẽ có bộ mặt mới.
Mặt khác cũng cần thấy rằng, những loại hình dịch vụ và buôn bán nhỏ hiện nay còn phù hợp với tập quán tiêu dùng, tiện ích, khả năng chi trả... của phần lớn người dân thành phố.
Hơn nữa, nó còn được xem giải pháp mưu sinh hữu hiệu của rất nhiều hộ dân nghèo, hộ thu nhập thấp, vì vậy cần tổ chức và tăng cường mạng lưới cửa hàng nhỏ lẻ trong các khu vực tập trung dân cư, khu công nghiệp, khu chế xuất... nhằm đáp ứng nhu cầu của đa số dân cư. Cũng vậy, việc hạn chế và lọai bỏ các lọai xe thô sơ 3, 4 bánh - phương tiện mưu sinh của hàng ngàn hộ gia đình, cũng cần có tính tóan thấu đáo khả năng chuyển đổi nghề nghiệp để không đẩy người dân vào chỗ khó khăn.
Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều thành phố, đô thị khác trong cả nước đang xây dựng nếp sống văn minh hiện đại. Không thể không bắt đầu từ yếu tố kinh tế: các ngành nghề của dân cư, lọai hình kinh tế cần được phát triển cân đối, đảm bảo quyền lợi của nhân dân nhưng cũng đảm bảo sự phát triển bền vững của thành phố.
Trong việc này vai trò quản lý và điều phối của nhà nước là chủ đạo, không thể trông chờ người dân tự giải quyết mà chỉ có thể kêu gọi ý thức chấp hành luật pháp và ý thức cộng đồng. Do đó, người nhập cư và vấn đề việc làm - kinh tế phi chính thức cần được nhìn nhận xem xét ở một góc độ lịch sử - văn hóa sâu rộng hơn, bên cạnh góc độ kinh tế, góp phần tìm ra giải pháp cải thiện đời sống của cư dân và phát triển những lợi ích của khu vực kinh tế phi chính thức.
Nguyễn Thị Hậu

Lễ khai ấn nuôi dưỡng tâm lý “chạy chức chạy quyền”

Nhiều nhà sử học, khảo cổ học (và một số công trình nghiên cứu) đã chỉ ra thực chất về ý nghĩa và quy mô của Lễ phát ấn Đền Trần trong lịch sử. Không rõ căn cứ vào đâu mà ViệnVăn hóa Nghệ thuật đưa ra phương án 2 “phát ấn vào ngày hôm sau và kéo dài các ngày kế tiếp”? Phải chăng từ thực tế lễ hội này đã thu hút rất nhiều người đến xin ấn, và địa phương (ban tổ chức, ban quản lý Đền…?) đã thu được những khoản lợi nhuận lớn từ việc “phát ấn” và những dịch vụ kèm theo? Tổ chức nhiều ngày có nghĩa là sẽ thu được lợi nhuận nhiều hơn, số lượng người (đa phần là công chức nhà nước) về xin ấn sẽ nhiều hơn. Thiệt hại bao nhiêu cho nhà nước và cho nhân dân trong những ngày công chức bỏ việc đi lễ như thế Viện Văn hóa Nghệ thuật đã có tính đến chưa?! Theo tôi, nếu duy trì lễ phát ấn Đền Trần thì phải làm như trong sử sách đã ghi lại. Không nên tổ chức lễ hội này dài ngày. Hai phương án mà Viện Văn hóa nghệ thuật đưa ra cho thấy cơ quan nhà nước bất lực trong việc quản lý lễ hội này nên không cho tổ chức hoặc tổ chức dài ngày (không thể quản lý được thì cấm hoặc là… mặc kệ!). Chưa kể là cứ đà này, lễ hội nào có vấn đề bị xã hội lên án, lập tức nhà nước lại phải tốn tiền cho các công trình nghiên cứu kiểu “đề án xây dựng mô hình…”.

Vài năm gần đây lễ này (và một số Lễ hội khác) đã bị biến dạng cả về ý nghĩa và quy mô. Dưới danh nghĩa “bảo tồn văn hóa truyền thống” nhưng ta cũng có thể nhận thấy “thương mại hóa” là mục đích chính của các lễ hội kiểu này. Đồng thời, việc bóp méo, thậm chí bịa ra những sinh hoạt văn hóa truyền thống như thế đã góp phần nuôi dưỡng và phát triển tâm lý không lành mạnh của một bộ phận không nhỏ trong công chức, quan chức trong việc coi chức tước quyền hành là mục đích tối thượng, vì vậy phải “chạy chức chạy quyền”. Tâm lý bất an khi làm một việc không quang minh chính đại khiến người ta càng phải tìm đến Thánh thần làm chổ dựa… Cứ thế cái vòng luẩn quẩn cứ tiếp diễn, ngày càng phức tạp, và gây ra nhiều hệ lụy.
Nếu cứ bành trướng quy mô lễ hội Phát ấn Đền Trần như thế, tôi e đến một ngày đẹp giời nào đó lễ hội này sẽ được làm hồ sơ Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, rồi có khi trình UNESCO làm Di sản văn hóa thế giới cũng nên! Điều đó thật nguy hiểm vì khi không phân biệt được giá trị thật với những giá trị rởm của những lễ hội kiểu này, người ta sẽ không thể tôn trọng và trân quý văn hóa truyền thống đích thực. Khi ấy mục đích bảo tốn di sản văn hóa có đạt được hay không?!

http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/445446/Chua-chung-minh-duoc-tuc-phat-an.html

TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...