Hiển thị các bài đăng có nhãn Pháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Pháp. Hiển thị tất cả bài đăng

NOTRE DAME DE PARIS - NƠI DỪNG CHÂN CỦA KÝ ỨC

Notre-Dame de Paris - Nơi dừng chân của kí ức - 3

Tôi có may mắn được đến Paris vài lần, và lần nào cũng vậy Nhà thờ Đức Bà Paris luôn là nơi tôi tìm đến, có thể chỉ là đi ngang qua chốc lát. Như nhiều người cùng thế hệ, tôi biết đến ngôi nhà thờ nổi tiếng này đầu tiên là qua tác phẩm Notre-Dame de Paris của đại văn hào Victor Hugo, sau đó là nhờ xem nhiều bộ phim có cảnh quay tại đây. Từ đó trở thành một ký ức chưa bao giờ rời khỏi tâm tưởng khiến tôi luôn “đi tìm”, mỗi lần nhìn thấy lại như trở về miền ký ức ngọt ngào và bí ẩn.

Tiểu thuyết của Victor Hugo để lại sự ám ảnh nặng nề từ kiến trúc đồ sộ của nhà thờ như một cái bóng khổng lồ đè lên số phận chàng gù Quasimodo nhân hậu và nàng Esmeralda tài hoa xinh đẹp, tiếng chuông đầy đe dọa với đám người bần cùng luôn tụ tập đầy rẫy xung quanh nhà thờ, sự ám ảnh của những cuộc nổi loạn, cướp phá và giết chóc...  tất cả đã dựng lại xã hội nước Pháp đen tối thời trung cổ. Những nhân vật chính của tiểu thuyết trở thành huyền thoại bởi mối tình lãng mạn, quên mình... một kiểu tình yêu “rất Pháp”.

Từ một thiết chế tôn giáo quan trọng trong một giai đoạn lịch sử nhất định, từ một tác phẩm được dựng trên bối cảnh của nó và qua ký ức của nhiều thế hệ độc giả trong và ngoài nước Pháp, Notre-Dame de Paris đã trở thành biểu tượng của Paris về kiến trúc, về lịch sử và tính cách “Parisiens”. Nhà thờ Đức Bà Paris còn một trong những biểu tượng được công nhận rộng rãi nhất của cả nước Pháp, là nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật nổi tiếng. Mỗi năm có hàng chục triệu du khách khắp thế giới ghé thăm nơi đây.
***
Cho đến ngày 15.4.2019 khi cuộc hỏa hoạn xảy ra, Notre-Dame de Paris đã tồn tại khoảng 850 năm. Công trình bắt đầu xây dựng từ thế kỷ 12 và phải qua một thế kỷ sau mới hoàn thành, đồng thời cũng được  trùng tu vài lần do tác động của thời gian, hư hỏng sau cuộc cách mạng Pháp... Ngày nay bất cứ ai đến Paris cũng muốn tìm đến nơi này, ngắm nhìn công trình kiểu Gothic tiêu biểu cho kiến trúc công giáo thời trung cổ. Nhìn chính diện từ quảng trường với hai tòa tháp cao sừng sững và cân đối thì Notre-Dame de Paris như một Đức Ông lạnh lùng đầy quyền uy, nhưng khi nhìn từ phía sông Seine với tháp chuông cao vút, những đường nét trang trí thanh thoát mềm mại thì Notre-Dame de Paris lại giống một mệnh phụ thanh lịch và duyên dáng...

Công trình có được sự trang nghiêm của tôn giáo nhưng gần gũi với dân chúng như vậy là nhờ việc xây dựng nhà thờ đi cùng việc quy hoạch đôi bờ sông Seine. Sự kết hợp giữa công trình đồ sộ ở một hòn đảo nhỏ hài hòa với quảng trường rộng phía trước, những con đường lớn và đường đi bộ, bến du thuyền ven sông. Các dãy phố hai bên bờ sông từ hàng trăm năm nay không xây nhà cao tầng là phố thương mại dịch vụ gồm quán ăn, quán cà phê, hiệu sách cũ, cửa hàng đồ lưu niệm... Một cây cầu không quá lớn, không trang trí cầu kỳ dẫn vào quảng trường xung quanh có cây xanh, trụ đèn, thảm cỏ bồn hoa như một công viên nhỏ. Điểm KM số 0 của nước Pháp đánh dấu ở sân trước Nhà thờ Đức Bà được ghi dòng chữ KILOMETRE ZERO DE FRANCE.  Tất cả cảnh quan đó đã tạo nên cảm giác thân thiện với cộng đồng và du khách.

Tháp chuông cao vút như một mũi tên của Nhà thờ Đức Bà luôn in trên nền trời, nhìn từ phía nào cũng nổi bật, nhất là đi du thuyền trên sông Seine. Nhà thờ là một trong ba điểm nhấn quan trọng – cột mốc Lịch sử của Paris, cùng với hai điểm nữa là Khải Hoàn Môn – cột mốc thời cận đại và Tháp Eiffel – thời hiện đại. Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử kiến trúc đã có nhận xét: về kiến trúc và sự gìn giữ bảo tồn thì Notre-Dame de Paris không quá đặc sắc so với nhiều nhà thờ ở nước Pháp và châu Âu, nhưng khi gắn liền với Paris – một nơi chốn cụ thể với quá trình lịch sử, văn hóa cụ thể thì giá trị to lớn của Notre-Dame de Paris  ở chỗ nó là cột mốc cho lịch sử thời trung cổ của thành phố này.

Một điểm đặc sắc của Notre-Dame de Paris mà không nhiều du khách biết đến, đó là ngay dưới nền của quảng trường nhà thờ đã có một bảo tàng Khảo cổ học. Khi thành phố Paris định xây dựng một bãi đậu xe ngầm tại đây thì phát hiện di tích một làng cổ còn dấu tích nhà cửa, lò bánh mì, những vật dụng sinh hoạt… Chính quyền thành phố đã quyết định khai quật toàn bộ và bảo tồn trở thành bảo tàng tại chỗ, bởi vì đó chính là làng cổ đã nhường chỗ để xây dựng nhà thờ từ thế kỷ 12. Bảo tàng này có thể coi là Bảo tàng về việc hình thành Paris cổ xưa và quá trình xây dựng Notre-Dame de Paris, được minh họa bằng những bộ phim tài liệu khoa học 3D hiện đại bên cạnh những hiện vật khảo cổ học.

Ngoài giá trị về kiến trúc và điêu khắc trang trí như những cửa sổ Hoa Hồng, tranh thánh tích bằng kính màu, tượng điêu khắc linh vật Gargoyle, mười chiếc chuông cổ… nhà thờ Đức Bà Paris còn là nơi lưu giữ nhiều tác phẩm nghệ thuật và báu vật quốc gia mà theo thông tin chính thức, những báu vật này đã được kịp thời cứu thoát khỏi trận hỏa hoạn: " các tác phẩm nghệ thuật lớn và những mẫu vật thiêng liêng, vương miện gai bằng vàng, áo choàng của nhà vua của Saint Louis - vị vua thế kỷ thứ 13 của Pháp, và một mảnh của Thánh giá Đích thực hiện đã về nơi an toàn". Ngoài ra hai tòa tháp chính (cao đến 68m, bao gồm 387 bậc thang mà khi leo hết những bậc thang này, du khách sẽ được chiêm ngưỡng toàn cảnh thành phố Paris) cũng đã thoát khỏi ngọn lửa khủng khiếp. Những chứng tích quan trọng này sẽ trở thành điểm tựa cho cuộc hồi sinh của của Notre-Dame de Paris.

Hỏa hoạn ở Notre-Dame de Paris được dập tắt chỉ trong vài giờ nhưng thiệt hại của nó thì chắc chắn phải hàng thập kỷ nữa cũng chưa bù đắp được. Nhưng cũng từ đây, bằng tình yêu lịch sử và sự trân trọng di sản văn hóa đã trở thành truyền thống, chính phủ và người dân Paris, nhân dân Pháp sẽ làm mọi cách để biểu tượng này được “sống lại”. Tôi tin điều đó sẽ trở thành hiện thực trong một mùa Phục sinh không xa!
***
“Trông người lại ngẫm đến ta”, nhiều di sản văn hóa từ nông thôn đến đô thị nước ta đang bị mai một, bị hủy hoại do tự nhiên và phần lớn là do con người. Ý thức, sự hiểu biết và trân trọng các công trình di sản còn chưa trở thành thói quen, truyền thống… Những mối lợi trước mắt về địa ốc, về lợi nhuận luôn rình rập để có cơ hội là phá bỏ các công trình di sản, việc trùng tu không khoa học và không cẩn trọng luôn ẩn chứa nguy cơ tại họa như mới xảy ra với Nhà thờ Đức Bà Paris… Nguyên nhân sâu xa là từ  việc nhận thức và giáo dục về di sản không được coi trọng, nguyên nhân trực tiếp là việc phá hủy di sản bằng nhiều hình thức mỗi ngày vẫn diễn ra mà không bị ngăn chặn hay chế tài kịp thời.

Trên mạng xã hội đã có một số ý kiến gay gắt chỉ trích các ngôi sao “người của công chúng” khi họ bày tỏ thương xót luyến tiếc Nhà thờ Đức Bà Paris mà chưa bao giờ lên tiếng vì những di sản văn hóa trong nước!  Mong rằng, khi đã biết trân trọng di sản văn hóa nước ngoài thì hãy nhìn về di sản nước nhà để nhận biết giá trị và trân trọng.  Mất mát nào cũng là bài học - miễn là mỗi người chúng ta đều thấy cần phải học! Mất mát nào cũng phải trả giá nhưng di sản mất đi thì không có sự trả giá nào bù đắp được. Hãy gìn giữ để di sản văn hóa Việt Nam trở thành những điểm đến mang giá trị “nơi dừng chân của ký ức” như Notre Dame de Paris và nhiều di sản trên thế giới.

Nguyễn Thị Hậu, Sài Gòn 16.4.2019


Notre-Dame de Paris - Nơi dừng chân của kí ức - 2

CÀ PHÊ PARIS


 Khi đến bất cứ thành phố nào tôi cũng thường chú ý đến những quán cà phê.
Không phải là một tín đồ trung thành của lọai nước uống màu nâu thơm phức này nhưng cà phê luôn “quyến rũ” tôi, trước hết là vì nó giúp cho tôi tỉnh táo sau chặng đường dài hay chuẩn bị cho một ngày quay cuồng vì công việc. Và, điều này quan trọng hơn, quán cà phê là nơi tôi thường gặp gỡ bạn bè, đồng nghiệp, và những người bạn mới quen. 
Có thể đó là một tiệm cà phê sang trọng danh tiếng khắp thế giới, có thể là một tiệm nhỏ bên đường có bán cả bánh ngọt và thức ăn nhanh, mà cũng có khi là quán hàng bàn ghế bày ngòai lề đường dưới những cây dù màu sắc nhã nhặn hay sặc sỡ. Sự khác nhau giữa nơi này và nơi khác có lẽ là ở hương và vị ly cà phê, là phong cách phục vụ, là cách trưng bày trang trí, là những người cùng ngồi với tôi ở đó. Sự khác nhau còn ở thời gian tôi đến đó ngắn hay dài ngày, vào mùa nào trong năm. Và bạn có tin không, hương vị cà phê mỗi mùa mỗi khác đấy, nhất là ở những nơi có đủ bốn tiết Xuân, Hạ, Thu, Đông như những thành phố ở châu Âu.

Một ngày thu tôi trở lại Paris. Chuyến tàu từ Rotxterdam đến Paris băng qua màn mưa, ánh nắng thi thỏang hiện ra rồi nhanh chóng trốn sau đám mây xám âm u. Giang nói với tôi: phía trời hửng sáng kia là Paris đấy, hy vọng Paris đẹp trời vì thời tiết ở Pháp không thất thường như ở Hà Lan hay Bỉ. Khi tôi đến Paris không mưa tầm tã nhưng gió lạnh đã tràn về. Trưa chủ nhật, khu trung tâm Paris tìm không ra nơi đậu xe, anh chị T. phải chạy xe vòng vòng gần một tiếng mới tìm ra một chỗ hiếm hoi trước quán ăn đối diện Notre Dame. Thật may mắn vì đứng nơi đây có thể nhìn thấy tòan cảnh Nhà thờ Đức bà Paris
Gió hun hút đôi bờ sông Seine bứt tung những chiếc là vàng rải dọc vỉa hè. Những kiốt sách cũ vẫn thế, nhưng hình như những người chủ quán không còn nét hồn hậu như xưa. Vài năm trước tôi qua Paris cũng đến đây tìm mua sách cũ, khi ấy nhiều người bán rất say mê chính những gì họ bán, một cuốn sách bán đi, một tấm bưu thiếp có người mua, một bức tranh có ngừơi chủ mới… người bán dường như phải chia tay với người bạn thân thiết, họ gửi gắm cho người mua cả tình yêu của mình đối với Paris, với nước Pháp. Vẫn đông khách ngắm nghía những tấm bưu thiếp, bức tranh, những cuốn sách cũ. Một Paris cổ xưa hiện lên cụ thể và đa dạng trên từng quầy sách. Tôi và G. trầm trồ trước những bức ảnh đen trắng, những bức ký họa chì chân dung những quý cô quý bà Paris duyên dáng. Cái duyên của những người phụ nữ thấm đẫm sự tinh tế và sang trọng của một Paris cổ xưa…

Quán cà phê nhỏ phía sau Notre Dame. Anh chị T. chọn bàn ngòai vỉa hè dưới cây dù nhỏ vì biết tôi thích như thế. Ngồi cà phê ở Paris thì ngồi ngòai vỉa hè mới cảm nhận hết không khí đặc trưng của Paris : dòng người nối nhau trên đường, những cặp tình nhân thong thả tay trong tay, những cửa hàng đồ lưu niệm tấp nập người ra vào. Bạn sẽ bảo : Ừ thì nơi nào chả thế, bất cứ thành phố du lịch nào mà không có những quán cà phê như vậy ? Nhưng với tôi gió trên những con phố này, những hàng cây lá vàng xào xạc nơi đây, dòng sông Seine lăn tăn sóng dưới kia, ly cà phê nhỏ thơm thơm, những người bạn thân quý ngồi bên tôi… tất cả làm cho ly cà phê không đường càng ngọt ngào hơn, ấm áp hơn…

Một vòng đồi Montmartre, mưa như rây trên những mái nhà ngói cũ, trên những bức tường dây leo xanh lá đỏ, trên những con đường dốc lát đá nhỏ vuông vắn từng viên. Khung cửa nhỏ ấm áp, tiếng nhạc nhè nhẹ, tiệm đồ gốm xinh xắn, ngày cuối tuần du khách rất đông … Từ nhà thờ trung tâm nhìn xuống Paris lô nhô ngút mắt.. Nghỉ chân trong quán cà phê nhỏ. Mưa đã tạnh mà Paris dưới kia sao vẫn mờ như sương… 
 
Mỗi lần cà phê ở Paris luôn mang lại cảm giác lạ mà quen. Cám xúc là lạ khi trở lại bởi tôi luôn giữ trong mình ấn tượng một Paris của những bài thơ những trang tiểu thuyết đã đọc từ thời thơ ấu. Nhưng sự thấp thỏm vì giờ chia tay đang đến gần thì quen lắm, Paris như muốn niu giữ người ra đi khi chiều nay mưa mùa thu đến sớm…

Ly cà phê chợt đắng…

Trong hình ảnh có thể có: thực vật và ngoài trời
Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và ngoài trời

TÔI CÒN NỢ MÙA HÈ NƯỚC PHÁP


Tạp bút, Nguyễn Thị Hậu

Tôi đến nước Pháp vài lần, vừa là cái duyên từ những ký ức qua văn chương thời thơ ấu, vừa là kỳ duyên với những người bạn vong niên thân quý. Cách đây 10 năm và 5 năm (2005, 2010) Paris đón tôi bằng cái se lạnh cuối hè đầu thu và hai năm nay (2014, 2015) ánh nắng ấm áp mùa hè nước Pháp theo tôi suốt những con đường tôi qua…

Paris tháng bảy là mùa du khách tấp nập trong khi người Paris bắt đầu “đi trốn” cái nóng. Nhân viên các công sở lần lượt nghỉ hè, cửa hàng cửa hiệu bắt đầu treo bảng “tạm nghỉ”… Những chuyến xe bus, metro thoát khỏi cảnh chen chân nhau lên xuống, những quán cà phê vỉa hè không còn quá đông đúc, có thể dễ dàng tìm thấy một vài bàn trống để ngồi đó thoải mái ngó nghiêng một Paris mà tôi yêu thích. Cà phê Paris cũng giống như cà phê Sài Gòn (có lẽ phải nói ngược lại mới đúng J ) là bạn có thể ngồi đó hàng giờ chỉ với một ly cà phê hay thêm một cái croissant, ngồi đó mơ màng, viết lách thậm chí chẳng nghĩ ngợi gì cả, giản đơn chỉ là đắm mình vào cái thú nhàn tản của người Paris. Ở Paris người ta chỉ “cắm mặt” vào thế giới ảo ở smarphone hay ipad khi đi bus hay metro, còn ở tiệm ăn hay quán cà phê thì người ta thưởng thức cuộc sống, trò truyện, ăn uống hoặc im lặng bên nhau… Người Paris “sống thật” hơn nhiều nơi khác.

Có lần tôi ngồi ở Café de Flore nổi tiếng trên đại lộ Saint-Germain. Được mở từ năm 1887, trong suốt thế kỷ 20, Café de Flore từng là điểm đến của rất nhiều nhân vật nổi tiếng nhưng người ta thường tự hào nhắc đến các nghệ sĩ như Jean-Paul Sartre, Picasso, Yves Saint Laurent, Ernest Hemingway... Cùng với Les Deux Magots và Brasserie Lipp, Café de Flore là một trong ba quán cà phê nổi tiếng của khu phố Saint-Germain-des-Prés.  Quán lúc nào cũng đông khách và hình như ai cũng thích ngồi ngoài vỉa hè có lẽ vì bên trong quán khá nhỏ, ngồi dưới bảng hiệu “Café de Flore” và trên nữa là những ban công hàng rào bằng gang đúc hoa văn mềm mại xen những chậu hoa mùa hè rực rỡ, phía sau thấp thoáng rèm thưa màu trắng tinh khôi… Một cảm giác thật là Paris.

Ở Paris có nhiều nơi để bạn đi chơi, nhìn ngắm và thư giãn: trong công viên, viện bảo tàng, những lâu đài cung điện, di tích thắng cảnh, các khu chợ trời, nhâm nhi cà phê hay tản bộ dọc theo sông Seine, kể cả những nghĩa trang yên tĩnh… Không cần phải vội vàng cứ thong thả dạo quanh thành phố,  có thể mang theo đồ ăn đơn giản, tìm một chiếc ghế mát dọc theo bờ sông, trên bãi cỏ trong công viên hay ngay trên những cây cầu dành cho người đi bộ, ngồi đó với bạn bè hay chỉ một mình thưởng thức bữa trưa ngoài trời. Paris ngày hè làm cho ai đến đây cũng  có cảm giác đang tận hưởng ngày cuối tuần kéo dài bất tận bởi vì đến chín, mười giờ đêm ngoài trời vẫn còn nhìn rõ mặt người.
Mỗi lần đến Paris như một lần gặp lại người thân yêu, quen thuộc lắm nhưng cảm xúc luôn mới mẻ, hệt như mỗi sáng “gặm” miếng bánh mì baguette còn nóng hổi thơm lừng mùi men mùi bột và cả mùi ban mai Paris tinh khiết.

Nhưng nước Pháp đâu chỉ có Paris?
Mùa hè nước Pháp trong ký ức tươi nguyên của tôi là ba sắc màu xanh, vàng và trắng. Màu xanh của cây lá khắp nơi, màu vàng của cánh đồng lúa mì đang mùa thu hoạch, của vệt dài hoa cỏ ven đường, và màu trắng lấp lánh của cánh quạt điện gió và những cánh chim bay về nơi cuối trời… Tất cả sắc màu tươi tắn hiện ra dưới ánh nắng trong như mật những ngày hè tháng bảy.
Mùa hè cũng là mùa gặt - ừ, bây giờ hay gọi là mùa thu hoạch bởi trên những cánh đồng lúa mì chỉ thấy những chiếc máy gặt đập thong thả cuốn từng vòng để lại phía sau lớp rơm rạ nằm ngay hàng thẳng lối. Đã lâu lắm rồi người nông dân châu Âu đâu còn phải cắm mặt xuống đất còng lưng cầm liềm hái gặt lúa nữa.

Mùa hè nước Pháp của tôi là những thành phố cổ kính, những ngôi làng xưa “đẹp nhất nước Pháp”, pháo đài cổ, nhà thờ, di tích khảo cổ hang động xưa hàng triệu năm, xưởng gốm cổ chuyên sản xuất phục vụ Hoàng gia Pháp… Những  ngọn đồi xanh mướt bên thung lũng xanh thắm nối nhau hiện ra rồi lùi lại phía sau… Và tôi, hệt như cậu bé Remi trong “Không Gia đình” khi ngồi trên đỉnh đồi nhìn xuống thung lung, nơi có ngôi làng và căn nhà nhỏ của má Bacboranh, lòng nao nao vì phải rời xa nó…

Trong nhiều làng cổ nước Pháp chợt tôi nhìn thấy cái nhà lồng chợ, quen thuộc như nhà lồng ở bất cứ thị tứ nào ở Nam bộ, đó là ngôi nhà rộng rãi, cao ráo chỉ có những cây cột và mái ngói, bốn phía trống không, nền cao. Khác với nhà thờ bao giờ cũng ở trung tâm của làng, nhà lồng thường nằm ngay “quảng trường” đầu làng, là chợ cũng là nơi hội họp chung khi cần. Xưa người ta họp chợ vào buổi sáng hay vào ngày phiên chợ, bây giờ không còn sinh hoạt này nữa, nhà lồng trở thành “di tích”, chỉ vào ngày cuối tuần khi du khách đổ về, trong nhà lồng là những quầy hàng thức ăn đặc sản, đồ lưu niệm đặc sắc của làng, xung quanh những ngôi nhà cổ trở thành hàng quán, tiệm ăn, khách sạn nhỏ… Làng cổ bình yên giữ nguyên cảnh quan và được đẹp thêm bởi hàng chục loài hoa nở rộ dưới hiên nhà, trên bệ cửa sổ, bởi những khuôn cửa trắng bình yên, bởi con đường uốn quanh sạch sẽ và những nụ cười của dân làng… Những ngôi làng với nhà lồng nơi xa dường như chẳng có gì liên quan lại làm tôi nhớ quá chừng những làng quê Nam bộ, cũng nhà lồng chợ xôn xao lúc ngày rạng sáng, cũng những gương mặt hồn hậu… chỉ còn thiếu tiếng mái chèo khua nhẹ trên kinh rạch và bóng chị bóng mẹ dịu dàng trên chiếc xuồng ba lá…

Thấp thoáng đâu đó hương thơm dịu nhẹ của những bông hồng nở muộn và những bụi oải hương màu tím… còn đọng lại trong ký ức tôi. Cánh đồng lavender tím ngát tận chân trời, quyến rũ như người đàn bà tuổi vào thu đầy bí ẩn.
Mùa hè nước Pháp với tôi còn là sắc vàng trong những bức tranh của Van Gogh. Những cánh đồng bát ngát lúa mì vàng sậm, những cánh đồng tràn hoa hướng dương rực rỡ. Đắm mình trong không gian này mới hiểu và cảm nhận hết những sắc độ màu vàng trong những bức tranh của danh họa – người đã chọn nước Pháp làm nơi ra đi lần cuối - màu vàng đầy sức sống nhưng cũng đầy ám ảnh của sự chia ly mãi mãi.

Rời nước Pháp vào giữa những ngày hè rực rỡ nhưng chỉ ít ngày sau bạn nhắn, bên này trời chưa lạnh nhưng lá bắt đầu vàng, sắp sang thu rồi đấy. Tôi hay đi xa vào mùa thu nhưng chưa lần nào phải chia tay với ai vào cái mùa mà người ta mặc định là “mùa chia ly”. Nhưng khi chia tay mùa hè nước Pháp với cảm giác còn nợ một điều gì đó… cũng ám ảnh không khác gì màu vàng hoa hướng dương Van Gogh.
Bởi vì, ở tuổi mùa thu của chúng ta mùa hè không trở lại nữa, mà phía trước là một mùa đông…




 

 



Thị trấn nhỏ bên vịnh biển

Tạp bút, Nguyễn Thị Hậu

Một ngày hè tháng bảy tôi đến một thị trấn nhỏ vốn là một làng chài ở Baie de Somme (vịnh sông Somme) trên bờ biển vùng Picardie nước Pháp. Bên kia vịnh là cũng là một thị trấn nhỏ nhưng ngày cuối tuần tấp nập hơn vì có họp chợ… Mỗi khi thủy triều rút xuống có thể từ hai thị trấn đi bộ qua vịnh đến bờ bên kia, trên lớp cát ẩm màu nâu đen và giữa những cánh chim hải âu táo tác kiếm ăn trên vùng nước lợ.

Thị trấn nhỏ bé có ba con đường chính gần song song với nhau, một ven bờ biển và hai chạy xuyên qua, từ đó có những đường xương cá nhỏ hơn cắt ngang. Nhà cửa cũng nhỏ nhắn xinh xắn, hầu hết một trệt một lầu, còn giữ được nhiều nét xưa cũ. Nơi ngã ba ngã tư có vài ngôi nhà cao hơn thường là tiệm bán buôn. Khu vực mới mở rộng có nhiều khu nhà mới, phần lớn người từ Paris về mua làm nhà nghỉ. Trong thị trấn có vài tòa lâu đài, dinh thự cổ, trong đó có tòa lâu đài từng là nơi nữ anh hùng Jeanne D'arc bị bắt giamvào năm 1430 trong cuộc chiến chống quân Anh , trước khi bị đưa về Rouen xử tử trên dàn thiêu. Tượng nàng được đựng ngay con đường chính bên bờ biển, bồn hoa dưới chân nàng những nhánh oải hương dịu dàng màu tím luôn tươi tắn trong ánh nắng ngày hè đến tận gần 10g tối.

Trên con đường ven biển nhìn ra một cảng nhỏ, tàu đánh cá tải trọng nhỏ, tàu du lịch đậu san sát… trên bờ là nhà hàng, khách sạn cũng nhỏ nhắn xinh xinh, mấy cửa hàng hải sản mang thương hiệu của những tàu cá lâu đời trong làng. Ngày cuối tuần khách đông đủ để ngồi kín những nhà hàng, thưởng thức đồ ăn tươi ngon trong cái gió se se ẩm ướt của cơn bão rớt nơi xa…

Trong thị trấn có một ngôi nhà thờ - chưa có nhà thờ thì chưa thành một cái làng, ai đó đã nói như vậy nhỉ?  Nhà thờ xây bằng đá còn nguyên lớp tường xù xì của gác chuông, chắc hẳn đây là phần kiến trúc cổ nhất từ thời hình thành làng cổ, còn gian chính trông mới hơn, có lẽ  được xây, sửa lại vào thời gian sau. Bước vào nhà thờ tôi ngạc nhiên vì so với bên ngoài có phần giản đơn, bên trong khá rộng rãi, cao ráo, có thể nhận ngay ra nhà thờ của một làng chài bởi hàng chục tấm hình những con tàu đánh cá của “người làng” với đầy đủ thông tin được treo dọc theo những cây cột và hai bên tường. Một bên “bàn thờ” thánh còn có cả mô hình bằng gỗ chiếc tàu nhỏ đầy đủ cột buồm mái chèo..
Nhà thờ có những bức tranh kính tuyệt đẹp. Ánh mặt trời cuối chiều hè xuyên qua lớp kính màu làm cho vẻ dịu dàng thánh thiện tràn ngập nơi đây… Phía cuối là bức tượng thánh  Jeanne D'arc trong dáng vẻ thiếu nữ nông dân chất phác, tóc cắt ngắn dáng người khỏe mạnh, trang phục giản dị, không khác lắm bức tượng bên bờ biển.

Thị trấn nhỏ còn là nơi Jules Verne – nhà văn khoa học viễn tưởng nổi tiếng người Pháp - sống những ngày ông viết cuốn tiểu thuyết phiêu lưu “80 ngày vòng quanh thế giới” được xuất bản lần đầu vào năm 1873. Từ làng chài nhỏ bé này nhà văn đã “nhìn thấy” những nơi chốn và phương tiện giao thông hiện đại mà các nhân vật của ông “đi qua” trong hành trình tưởng tượng của mình.
Các cửa sông ở Baie de Somme có biên độ thủy triều khá lớn, khi triều lên nếu không có hồ chứa với đê bao thì có thể sẽ ngập cả khu vực ven biển của thị trấn. Khi triều xuống, hồ chứa nước biến thành vùng “biển cạn”  cho nhiều loài chim về cư trú và là khu bảo tồn lý tưởng. Ngày mùa hè khá dài, khoảng 8,9 giờ tối bạn có thể dạo chơi trên đê bao, ngắm nhìn từng đàn hải âu bay về đậu trắng lòng hồ, những dải cỏ lau bắt nắng vàng óng ánh, bầu trời tiếp giáp mặt nước chuyển dần các sắc màu từ xanh biếc của nước đến xám đen của những dải cát… Chỉ khoảng hơn một tiếng sau hoàng hôn buông trên vịnh, những tia mặt trời cuối cùng còn làm nền trời óng ánh màu mây ngũ sắc…

Thị trấn cổ xưa nhỏ bé nay cũng đã thay đổi nhiều, nhưng những dấu tích lịch sử đều được cẩn trọng gìn giữ dù chỉ có chút liên quan đến cuộc đời của một nữ anh hùng, một nhà văn nổi tiếng, cũng như nhà thờ, những con phố nhỏ giữ lại dấu tích làng chài ngày xưa… Đường phố và những ngôi nhà mới xây hòa hợp cảnh quan cũ làm cho thị trấn càng đẹp hơn, vẻ đẹp bình lặng êm đềm thích hợp cho những người muốn về đây nghỉ ngơi sau những ngày làm việc căng thẳng ở các thành phố đông đúc.
Nơi đây vẫn bảo tồn nguyên vẹn cảnh quan tự nhiên và di tích lịch sử - văn hóa nên vào những ngày cuối tuần – nhất là mùa hè - ở đây khá đông du khách. Tuy nhiên không vì vậy mà cuộc sống thị trấn nhỏ trên bờ vịnh sông Somme bị “thương mại hóa”. Sự niềm nở nhiệt tình và chất phác của người dân như thỏi “nam châm” giữ chân du khách và có dịp thì họ luôn quay trở lại.

Thị trấn này làm tôi nhớ đến Cần Giờ, nơi vịnh Gành Rái đổ ra biển và bên kia là thành phố Vũng Tàu. Cũng vùng cửa sông mặt nước đổi màu theo thủy triều lên xuống, cũng bờ biển ẩm ướt lớp cát nâu đen mịn màng hút lấy bàn chân, cũng những dãy phố xưa hai bên bờ vịnh, và cả khu bảo tồn rừng ngập mặn… Những kinh nghiệm, bài học về bảo tồn di sản và phát triển du lịch bền vững đâu phải chỉ có ở những Di sản thế giới mà chúng ta có thể học được ở bất cứ nơi nào, như ở Baie de Somme, vì đó là những điều giản đơn nhưng được thực hiện từ sự hiểu biết, yêu quý và trân trọng thiên nhiên – lịch sử nơi mình đang sống.

Paris, 20.7.2015









TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...