Hiển thị các bài đăng có nhãn âm nhạc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn âm nhạc. Hiển thị tất cả bài đăng

LẠI NÓI VỀ BOLERO

@ Bolero phổ biến ở miền Nam trước 1975, nhưng phần lớn ở miền quê. Những năm mình mới về Sài Gòn (1975 – 1980) ở thành phố hầu như chỉ thấy nhạc Trịnh, Phạm Duy, Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên (có người gọi là dòng nhạc đô thị)… Bạn mình lúc đó ai thích nghe bolero hay cải lương đều bị gọi “quê, lúa”. Nhưng chỉ cần bước chân lên xe đò về miền Tây ra miền Trung là bắt đầu nghe borero, giống như sau này những năm 1990 – 2000 phổ biến dòng nhạc quê hương mang âm điệu dân ca.
Cũng như mọi yếu tố văn hóa, mỗi thời có một dòng nhạc phù hợp tâm trạng phổ biến của con người thời ấy. Nó phản ánh một phần của xã hội đương thời. Gần đây Bolero quay lại đáp ứng nhu cầu “hoài niệm” của nhiều người, nó tràn lan trên truyền hình, trên sân khấu đến những phòng trà ca nhạc rồi ra vỉa hè nhạc “kẹo kéo” hay karaoke với giọng ca già trẻ lớn nhỏ… Nhưng xin đừng khoác cho nó cái áo “đại diện, biểu tượng” của thời đã qua. Bởi vì cái gì càng “quá” thì càng “qua” nhanh, chẳng việc gì phải ra sức chê bai hay ca ngợi.
Mình, vốn thích nghe cả dòng nhạc đô thị, lại cũng thích nghe bolero, và cả những dòng nhạc khác, miễn đó là bài hát hay và hợp với tâm trạng. Mình vốn thích những gì gần gũi chứ không thích a dua đám đông ngợi ca những gì sang cả. Và, âm nhạc cũng như mọi hiện tượng khác, đừng cố thổi phồng giá trị, sẽ nhanh vỡ như bong bóng xà phòng. Cứ để Bolero sống cuộc đời bình dị của nó, con người còn những tâm trạng cô đơn buồn bã nhớ nhung thậm chí sến súa… thì còn Bolero, có sao đâu nhỉ?
Linh tinh lang tang (118). BOLERO… “SAO ANH NỠ ĐÀNH QUÊN” (note cũ)
Chắc chắn cả kiếp trước tôi cũng là người miền Tây, vì tôi có thể nghe Bolero bất cứ lúc nào.
Bolero không làm tôi buồn mà đơn giản chỉ như có một người bạn chơn chất ở bên. Bạn không tò mò về nỗi buồn của tôi, không cật vấn tại sao tôi khó chịu, không tra hỏi vì sự dửng dưng của tôi… Bạn cứ lẳng lặng vang lên giai điệu của mình, để đến một lúc nào đấy tự tôi quên đi những buồn những bực những điên… chỉ còn trong tôi giọng điệu lời ca sến sến ân tình.
Từ những bài hát Bolero vang lên ở những quán cà phê võng dọc đường miền Tây, vang lên trong những đám cưới miệt vườn, vang lên trên ghe xuồng ngược xuôi kinh rạch, bolero giao duyên với sáu câu vọng cổ qua giọng ca Minh Vương Lệ Thủy, bolero trải dài theo những chuyến xe đò ngược xuôi ngày đêm… đến những bản nhạc bolero mỗi tối trong phòng trà, quán cà phê, quán nhậu ở Sài Gòn… Với Bolero người sang trọng hay bình dân đều bình đẳng vì những cảm xúc tuôn tràn từ trái tim làm cho người ta cảm thấy lòng mềm lại, muốn yêu thương nhiều hơn, mong được yêu thương nhiều hơn. Tôi đoan chắc rằng những giây phút thả mình cùng bolero không ai không là người thiện, không ai có thể nghĩ đến việc làm điều ác.
Bolero nói gì? Than thân trách phận nhưng không làm người ta tuyệt vọng. Giận người giận đời nhưng không gây sự căm thù. Bày tỏ thương yêu mà không làm người ta ngại ngùng. Thất tình mà vẫn tràn đầy bao dung nhân ái. Và niềm vui hạnh phúc thì thật đơn sơ như có thể chạm tay vào được… Vậy mới hiểu vì sao bolero lại đáng yêu đáng nhớ, lại quen thuộc với người miền Tây đến như vậy.
Bolero thương nhớ, lúc nào bạn cũng có thể tìm đến với bolero, cũng như bất kỳ hoàn cảnh nào nghiệt ngã nào người miền Tây cũng sẽ vượt qua một cách nhẹ nhàng… Chỉ còn nỗi buồn sẽ ẩn sâu trong trái tim, để khi gặp bolero thì tràn ra trên môi, trên mắt…
“Anh ơi nếu một mai có ai hỏi người tên ấy. Biết nói gì đây hỡi anh, mà sao nỡ đành quên?...”
Bolero của miền Tây… không ai nỡ đành quên…
(Sài Gòn 23.8.2015)

Hình ảnh có liên quan

MANG NẶNG KIẾP NGƯỜI

http://nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/mang-nang-kiep-nguoi-20150404224505785.htm

Nguyễn Thị Hậu
Tôi biết nhạc Trịnh từ năm 17 tuổi.

Đó là vào tháng 5 năm 1975, tôi từ Hà Nội theo gia đình về quê, về Sài Gòn. Gia đình tôi ở tạm trong một căn phòng tại trụ sở Ban tiếp quản khối văn nghệ tại 5B Trần Quý Cáp (bây giờ là Sân khấu nhỏ 5B Võ Văn Tần). Chỉ là một phòng trong ngôi biệt thự nhưng so với căn nhà tập thể 16m2 của gia đình tôi ở Hà Nội thì quá rộng rãi và đầy đủ tiện nghi. Đặc biệt là một kệ sách lớn suốt chiều dài bức tường, ngăn kệ dưới là một dàn AKAI và hai chồng băng nhạc bên cạnh. Trong máy một cuộn băng đang nghe dở… Sơn Ca 7.

“Chiều nay em ra phố về, thấy đời là những chuyến xe…, thấy đời là những quán không…” Câu hát đầu tiên của Trịnh tôi nghe, và thuộc, và cho đến bây giờ luôn trở về với tôi. Vì sao không phải là Diễm xưa, hay Cát bụi, hay Nắng Thủy tinh, hay... Có nhiều bài hát mà rất nhiều người sẽ nhắc đến khi nói về nhạc Trịnh, nhưng với tôi, Nghe những tàn phai chính là "mối tình đầu" của tôi với nhạc Trịnh Công Sơn.

Những ca từ ám ảnh tôi từ lần nghe đầu tiên, mỗi lần nghe lại, và mỗi lần hát lại... Lạ lùng, khi tôi buồn, những ca từ ấy, giai điệu ấy mang lại sự an ủi, sự bình yên, và lau khô những giọt nước mắt cho tôi... Khi vui, cũng những ca từ ấy, giai điệu ấy lại mang đến cho tôi chút gì như sự tiếc nuối, nỗi buồn ngọt ngào, nỗi nhớ mơ hồ một điều gì tốt đẹp đã qua, hay là chưa đến... Khi tâm trạng nặng nề đã qua, bình thản nhìn lại, những chuyến xe lướt qua những đám đông những quán không… tất cả đã ở lại bên đường phía sau.
Ở tuổi 17 tôi cảm nhạc Trịnh khác hẳn dòng nhạc tôi từng quen thuộc trước đó, “nhạc xanh” – như hồi đó người ta vẫn gọi những bài ca lãng mạn của Nga, của Pháp, của Ý hồi thập niên 60, 70, để phân biệt với nhạc cách mạng (sau này gọi là nhạc đỏ), nhạc vàng – những bài bolero phổ biến ở Sài Gòn. Nghe Trịnh  là tự tách mình khỏi đám đông, cô đơn để cảm nhận lòng mình, sự cô đơn không thể thiếu nếu muốn tự mình suy ngẫm. Nếu không có sự cô đơn này mình dễ bị cuốn theo đám đông cảm xúc luôn bồng bột thất thường, cái đám đông có thể làm nên nhiều việc kinh khủng nhưng không làm được một việc giản dị: làm cho con người hiểu nhau hơn, và yêu nhau hơn… Bởi vì đã trót mang nặng kiếp người… từ ngày mẹ cho.
Và củng phải đến một tuổi nào đó người ta mới thật sự thấm những ca từ của Trịnh, không qua giai điệu bài hát mà từ “nhạc điệu” của chính câu chữ đó. Bạn hãy đọc bằng mắt lời bài hát của Trịnh mà xem, tự nó vang lên thanh âm riêng mà không cần cố phải hiểu những tầng nghĩa ẩn sau ca từ.
Những hẹn hò từ nay khép lại
Thân nhẹ nhàng như mây…
Đóa hoa vàng mỏng manh cuối trời
Như một lời chia tay…
Chỉ cần những lời dịu dàng này vang lên trong tâm tưởng cũng đủ làm trái tim âm thầm ứa những giọt nước mắt. Chia ly, chỉ vì phải thế, nhẹ nhàng như thế. Quay lưng là mất nhau mãi mãi…
Đã có nhiều người hát nhạc Trịnh, nhưng cũng như nhiều người, tôi chỉ thích nghe Khánh Ly, vì chị mang Trịnh đến với tôi đầu tiên, vì chị luôn bên tôi trong những tháng năm khốn khó nhất phải làm tất cả mọi việc có thể làm để sống. Thời ấy, cuối những năm 80 làm gì có heaphone, chỉ có cái catsette nhỏ, mỗi khi thức dậy từ nửa đêm để làm thêm lấy tiền nuôi con ngoài đồng lương giáo viên nhỏ nhoi, một mình với Trịnh và Khánh Ly… tiếng hát Khánh Ly đã nâng đỡ tôi vượt qua những giây phút tưởng như có thể  gục ngã. Bốn mùa mải miết trôi theo những dòng sông in bóng con trăng in dấu cát bụi lưu dấu hình hài…  Tôi không biết có ai từng như tôi, đã qua được tất cả để đến một lúc có thể tự tin “mắt tình đưa” với cuộc đời.
Nghe Trịnh, với tôi chỉ cần nhiều nhất hai người, thêm một nữa thì nhạc Trịnh chỉ còn giai điệu mà ca từ mất hẳn vẻ duyên dáng lấp lánh… vừa xa vừa gần của nó. Bởi vậy tôi chưa bao giờ đi nghe nhạc Trịnh ở bất cứ đâu đông người. Nếu có ca sĩ nào hát nhạc Trịnh mà thấy hay thì tôi mua băng, đĩa về nghe, “chung thủy” và không chia sẻ Trịnh với ai…
Có lẽ cũng phải kể chút về những lần tôi được gặp nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Ba tôi hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật nên như một lẽ tự nhiên, ông có nhiều bạn bè trong lĩnh vực này. Ngoài những người bạn trong giới cải lương của ông, ông có vài người bạn thân ở lĩnh vực khác, trong đó có nhà văn Nguyễn Quang Sáng – đồng hương An Giang, và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn – một trong hai bạn thân là người Huế (người kia là nhà thơ Thanh Tịnh). Nhà văn Nguyễn Quang Sáng và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn còn là “bạn nhậu” của ông trong những cuộc gặp thâu đêm, ở nhà tôi, nhà chú Sáng hay ở bất cứ nơi nào mà ba người cùng có mặt. Anh Sơn và chú Sáng thường nể ba tôi vì sức uống và sức ngồi “dai” của ông. 
Tôi thường được “ngồi ké” những cuộc rượu này, vì là con gái út lại kiêm nhiệm vụ lo đồ nhậu cho ba và các chú các anh. Những cuộc rượu tâm tình, trò chuyện, những băn khoăn những buồn phiền khi chứng kiến nhiều chuyện không hay trong những năm đó… Tôi không thấy có sự phân biệt “bên” nào giữa những người nghệ sĩ như ba tôi và những người bạn của ông. Sự mẫn cảm và nhân hậu của những nghệ sĩ thực sự đã đưa các ông đến với nhau, chung thủy và tử tế với nhau đến những giây phút cuối cùng. Ngày ba tôi mất chú Sáng và anh Sơn có mặt trọn 3 ngày tang lễ. Ngày nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và ngày nhà văn Nguyễn Quang Sáng mất, tôi đều ở xa không đến thắp nhang cho chú, cho anh được. Nhưng tôi luôn thầm nghĩ “bây giờ ba và anh, chú đã gặp nhau ở thế giới bên kia rồi, chắc hẳn nơi ấy sẽ bình yên hơn nơi đây…”.
Tôi chưa từng kể những chuyện này, bởi lẽ mình chỉ là một trong hàng triệu người yêu thích nhạc Trịnh, bởi hiểu, nếu mình đã từng được biết và gặp Trịnh thì cũng là một sự tình cờ may mắn của cuộc đời này mang lại cho tôi, cũng như hàng trăm người từng được quen biết và yêu quý ông.
Mười năm, hai mươi năm... bốn mươi năm. Tôi luôn mong gặp được chủ nhân căn phòng ở 5B Trần Quý Cáp khi ấy, chỉ để cám ơn người vì đã vô tình cho tôi gặp Trịnh ngay trong những ngày đầu tiên tôi ở Sài Gòn, bởi vì với tôi, nhạc Trịnh không chỉ là một Sài Gòn quyến rũ của “những mùa nắng lạ” mà vì tôi còn tìm thấy chính mình mỗi lần nghe Trịnh, suốt 40 năm qua…

Sài Gòn 1.4.2015





Đôi nét về Tây nguyên


(Vài lời cho cuộc trình diễn nghệ thuật này theo lời mời của nhạc sĩ Nguyễn Lê Tuyên)

Tây nguyên gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông và Lâm Đồng. Tọa độ từ 11 đến 15.30 độ vĩ Bắc; 107 – 109 độ kinh Đông, tổng diện tích khoảng 56.119 km2, dân số 5.115.135 người, mật độ khoảng 100 người/km2 (số liệu thống kê năm 2009). Về địa hình, đây là những cao nguyên xếp tầng, nằm sau lưng vòng cánh cung Trường Sơn Nam. Tây Nguyên có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, quân sự, an ninh, là vùng giàu tiềm năng về văn hóa truyền thống Đông Nám Á… được coi là *xương sống* và *nóc nhà* của bán đảo Đông Dương.
Là một trong những khu vực phong phú và giàu có nhất của hệ sinh thái phổ tạp nhiệt đới, ở Tây nguyên có thảm thực vật nguyên sinh nhiều kiểu rừng được bảo tồn hàng triệu năm nhờ các khối núi cao và địa hình chia cắt mạnh. Thống kê vào năm 1974 cho biết tại đây có khoảng 3600 loài thực vật bậc cao trong đó có nhiều loại rất quý bao gồm cả thân gỗ và nhiều loại dược liệu. Với vị trí trung tâm của Đông dương, Tây nguyên là nơi gặp gỡ của nhiều nhóm động vật có nguồn gốc khác nhau, phong phú và đa dạng về giống loài: hàng ngàn loài động vật nước ngọt, bò sát, chim và trên 100 loài thú trong đó có nhiều thú quý hiếm. Điều kiện tự nhiên, khí hậu, môi trường cảnh quan Tây nguyên là *cái nôi* cho cuộc sống và văn hóa của các tộc người nơi đây phát triển và bảo tồn qua hàng ngàn năm lịch sử.
Trước năm 1975 Tây nguyên như là một vùng đất ngủ yên trong sự quên lãng về lịch sử, có chăng chỉ được nhắc nhớ trong vài tập khảo cứu về Nhân học của một số tác giả người Pháp, còn về khảo cổ học thì đây là *vùng đất trắng*. Lịch sử một vùng đất được đánh dấu bởi sự xuất hiện của con người, theo đó Tây nguyên có lịch sử từ thời đá cũ cách đây chừng 300 ngàn năm. Đến nay ở Tây nguyên phát hiện được trên 100 di chỉ khảo cổ học thời tiền sử và sơ sử, đã khai quật hơn 20 di tích lớn như Lung Leng (Sa Thầy, Kon Tum), Biển Hồ (Playcu, Gia Lai…). Đã tìm thấy hàng chục ngàn công cụ đá, hàng triệu mảnh gốm chum, vò, hàng trăm công cụ kim loại và nhiều dấu tích cư trú, mộ táng, lò luyện kim... Ngoài ra gần đây còn tìm thấy hàng chục trống đồng lớn nhỏ *kiểu Đông Sơn*, những bộ đàn đá, đá kêu rất độc đáo... Đây là nguồn sử liệu cho phép chúng ta phác dựng bức tranh văn hóa và cảnh quan môi trường tiền sử Tây Nguyên.
Những sưu tập di vật khảo cổ học bằng các chất liệu ở Tây nguyên cho biết mối quan hệ sâu sắc và bền chặt giữa “người và rừng” Tây nguyên: từ bao đời rừng là sở hữu của cộng đồng, con người thuộc về cộng đồng buôn làng và thuộc về rừng, làng ở đâu cũng gần rừng, làng chuyển đi đất lại trở thành rừng, đốt rẫy làm nương rồi đi tìm rẫy mới đất bỏ hoang lại trở thành rừng... Người Tây nguyên *ăn rừng* vừa đủ, không ăn phí phạm, ăn biết dành lại cho người sau không vừa ăn vừa phá. Sống với rừng, chết làm *ma* trong nhà mồ giữa rừng, sau lễ *bỏ ma* con người trở lại với rừng, thiên nhiên. Có thể nói nếu người ở đồng bằng sống chết với đất/ vì đất thì người Tây nguyên sống chết với rừng, vì rừng.
Mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên càng bền chặt bao nhiêu thì lối sống, tâm thức con người càng hài hòa, hướng thiện bấy nhiêu. Bảo tồn sự đa dạng của môi trường cảnh quan, bảo tồn những loài động thực vật quý hiếm không chỉ là bảo vệ thiên nhiên, mà đó chính là bảo tồn sự đa dạng của văn hóa, sự giàu có của tài nguyên, và qua đó là bảo vệ sự đa dạng và giàu có của con người và văn hóa Tây nguyên, văn hóa Việt Nam.
Từ *cuộc chơi* nghệ thuật *Giấc mơ Cao nguyên* hôm nay, tôi mong sao mỗi người chúng ta, dù đang ở rừng núi, đồng bằng hay biển đảo, hãy quý trọng và ứng xử với rừng, với đất với biển như chính những nơi này đã từng nuôi dưỡng chúng ta.



ĐẠI KHÁI NÓI CHUNG LÀ TƯƠNG ĐỐI

Không khó để đọc hoặc nghe thấy lời đánh giá, nhận xét bằng những từ này. Nó phổ biến đến mức ghép các từ lại cũng thành một câu như “trạng ...