Hiển thị các bài đăng có nhãn quê hương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quê hương. Hiển thị tất cả bài đăng

GIỮ HỒN QUÊ HƯƠNG TRONG NHỮNG ĐƯỜNG BIÊN MỚI


*Quê hương không bao giờ là “quê cũ”
Khi thông tin sáp nhập các tỉnh, thành được công bố, nhiều người nhận ra những tên đất, tên làng, những ký hiệu hành chính vốn quen đến mức ít người để ý, bỗng trở thành chủ đề khiến lòng ai cũng có chút xao động. Trên truyền thông bắt đầu phổ biến những địa danh mới bao trùm những vùng đất cũ, tựa như mọi thứ có thể đổi thay ngay lập tức chỉ bằng một đường kẻ mới, bằng một dòng chữ khác… Nhưng sâu trong ký ức của mỗi người mỗi cộng đồng, tên làng tên tỉnh không chỉ là những chữ cái vô hình, nó là ký ức là lịch sử, đâu có thể dễ dàng sắp xếp thay đổi như trên một văn bản, một tấm bản đồ.
Người bạn tôi sống ở nước ngoài đã vài chục năm, nhưng trong tâm tưởng của chị, quê nhà vẫn là dòng kinh với cây cầu dừa, những ngôi nhà sàn ven sông luôn mấp mé mặt nước vào mùa nước nổi, ngôi nhà lồng chợ tuy nhỏ nhưng luôn đầy ắp cá tôm và những loại rau trái tươi ngon… Ngôi đình dựng từ thủa mở làng lập ấp đến nay trên dưới hai trăm năm, vẫn đều đặn Lễ Khai hạ Lễ Kỳ yên đúng thời đúng khắc. Chỉ cần nhắc đến một địa danh là tất cả những hình ảnh ấy liền hiện hữu. Địa danh nào phong cảnh ấy. Bởi vậy, khi chị nhắn hỏi và tôi trả lời về tên mới của quê chị, dù cách nhau nửa vòng trái đất tôi vẫn nghe thấy chị lặng đi…
Công cuộc cải cách hành chính từ việc sáp nhập các tỉnh thành lần này không phải là lần đầu tiên. Sau mỗi lần “nhập tách” đều để lại một vấn đề cốt lõi: đó là những giá trị văn hóa đặc hữu của từng vùng không dễ chìm khuất trong một bản đồ rộng lớn hơn nhưng đã bị hao hụt, tổn thương. Khi địa danh hành chính thay đổi kéo theo rất nhiều thứ khác thay đổi theo, người nghe không dễ định vị một khu vực theo cách gọi mới, không dễ hình dung ngay bản sắc văn hóa một đơn vị hành chính mới. Những ngày miền Trung bị lũ lụt vừa qua, bên cạnh bao nỗi lo lắng và sự vất vả chống đỡ của những người dân quê để bảo vệ sinh mạng, tài sản có nguy cơ bị dòng nước hung dữ cuốn đi, những người xa quê lại luôn thảng thốt hỏi nhau khi nghe tin tức: địa danh tỉnh đó mà cụ thể là ở chỗ nào? Có phải là quê mình không?
Trong việc làm của các cơ quan quản lý văn hóa luôn có kế hoạch kiểm kê di sản, gìn giữ lễ hội, tu bổ công trình cổ… Bên cạnh những nỗ lực ấy, còn một phần di sản vô hình chỉ tồn tại trong lòng người. Đó là cách bà dạy cháu một điệu ru xưa, là nếp nhà nhỏ vẫn giữ bàn thờ tổ với tấm hoành phi sẫm màu thời gian, là việc mỗi nhóm thợ, mỗi dòng họ vẫn gìn giữ quy ước truyền thống như một món nợ ân tình với quê cha đất tổ. Bởi với người dân bình thường, bảo tồn di sản không phải là làm cho đông người biết đến, không phải ở con số “có bao nhiêu di sản”, mà là giữ cho được những truyền thống của cha ông, để sau này con cháu còn biết quê hương, dòng họ, và dù đi đến đâu cũng luôn nhớ về đất nước mình!
Sáp nhập có thể mang lại nhiều điều mới: thuận lợi trong quản lý, phát triển kinh tế, hạ tầng mở rộng. Nhưng đổi thay không đồng nghĩa với lãng quên. Trên bước đường hiện đại hóa, mỗi người dân lại trở thành một người giữ lửa. Họ giữ trong tiếng nói, trong món ăn, trong câu chuyện kể, những điều mà không bản đồ hành chính nào có thể gom vào hay tách ra được. Quê hương không nằm trong tên gọi cũ hay đường biên cũ, mà nằm trong cách chúng ta tiếp tục kể về nó, tiếp tục sống với nó, tiếp tục gìn giữ nó bằng tất cả sự trân trọng.
Và khi những giá trị ấy được giữ gìn, quê hương, dẫu có đổi tên, vẫn không bao giờ là “quê cũ”.
*“Quê mới” và nhu cầu an cư – an tâm
Ở tầng sâu của xã hội, mọi cải cách hành chính chỉ bền vững khi đáp ứng được hai nhu cầu nền tảng mà cộng đồng mong đợi: an cư trong đời sống vật chất và an tâm trong cảm nhận tinh thần.
An cư là câu chuyện của đời sống thường ngày. Người dân nhận biết hiệu quả của cải cách hành chính một cách giản dị: thủ tục có thuận tiện không, đi lại có gần hơn không, dịch vụ công có tốt hơn không. Tổ chức chính quyền chỉ thật sự mang lại ý nghĩa khi nó cải thiện trải nghiệm sống thường nhật. Khoảng cách đến bệnh viện tuyến tỉnh hay trung tâm hành chính có rút ngắn? Con trẻ có thêm cơ hội học tập? Hệ thống xe buýt liên vùng, đường giao thông, nước sạch, xử lý rác thải có được đầu tư đồng bộ hơn? Những điều này tác động trực tiếp đến chất lượng cuộc sống, đầu tiên là ở quy mô gia đình, sau mới đến quy mô tỉnh thành.
Một nỗi lo phổ biến từ những đợt “nhập, tách” trước đó là sự chênh lệch phân bổ nguồn lực. Người dân ở khu vực xa trung tâm thường e ngại mình sẽ bị “lép vế” vì nguồn lực sẽ dồn về một điểm và vùng sâu xa bị quên lãng. Đây không phải cảm xúc nhất thời mà là từ thực tế ở không ít địa phương. Vì vậy, để người dân an cư, cải cách cần đi kèm các bảo đảm cụ thể: hạ tầng giao thông liên kết vùng, cơ chế đầu tư cân bằng và dịch vụ công cần phủ rộng đến mọi vùng dân cư.
Sáp nhập kéo theo điều chỉnh quy hoạch, đôi khi tác động đến giá đất và thị trường lao động, vì vậy yếu tố sinh kế cần được tính toán cụ thể. Những gia đình thu nhập trung bình hoặc người lao động tự do luôn nhạy cảm với sự thay đổi này. Nếu thiếu thông tin minh bạch người dân dễ cảm thấy bấp bênh, điều đó tác động làm giảm niềm tin vào chủ trương, chính sách.
Bên cạnh sự An cư là An tâm. Đây là nhu cầu tinh thần tưởng nhẹ mà rất nặng nhưng thường ít nhận được những chính sách cụ thể. Ngoài đời sống vật chất, sự an tâm của người dân lại chịu ảnh hưởng mạnh từ những điều rất trừu tượng: bản sắc, ký ức đô thị hay làng quê, tên gọi quen thuộc, đặc biệt là cảm giác “mình thuộc về đâu”. Nhiều địa danh tồn tại hàng trăm năm, chứa đựng bao lớp lịch sử, phong tục, lối sống. Khi một nơi được sáp nhập và đổi tên, người dân đôi khi có cảm giác như một phần ký ức bị đặt lại chỗ khác. Đó không phải là phản ứng bảo thủ mà đó là biểu hiện của căn tính cộng đồng, một yếu tố quan trọng giúp một vùng đất duy trì sự ổn định xã hội.
Chính quyền chủ trương sáp nhập để nâng cao hiệu quả quản lý, nhưng người dân ghi nhớ địa danh quê quán như một phần của đời mình. Do đó, để người dân “an tâm” thì chính sách về văn hoá – an sinh cần tinh tế và kiên nhẫn hơn nhiều so với việc trình bày các chỉ tiêu kinh tế. Trong sâu thẳm mỗi con người, mỗi cộng đồng luôn có những câu hỏi, cũng là những trách nhiệm mà người dân có quyền được biết: Lợi ích của sự thay đổi là gì? Điều gì cần thay điều gì cần đổi, và điều gì cần được giữ nguyên? Bản sắc địa phương có được bảo toàn, vị thế cộng đồng có được tôn trọng?
Những nỗi lo này không phải là trở ngại mà là dấu hiệu giúp chính quyền thiết kế chính sách tốt hơn. Nói cách khác, người dân không đòi hỏi điều gì quá lớn lao, họ mong sự thay đổi đem lại giá trị đủ rõ ràng để giảm nguy cơ bất ổn. Từ những vấn đề này khi người dân cảm nhận được sự minh bạch và tôn trọng, họ sẽ đồng hành cùng chính quyền vượt qua những thay đổi khó khăn nhất. Đó là một trong những động lực để phát triển bền vững.
*Có những “đường biên” mà AI không thể xóa
Không chỉ là những người đi xa, mà ngay người sống tại quê nhà cũng luôn mang trong mình những hoài niệm về quê hương gắn liền với tên gọi cũ bởi vì đấy là ký ức tuổi thơ, là câu chuyện của ông bà, cha mẹ, là mối tình đầu thời thanh xuân, là tình nghĩa sâu nặng lúc tuổi xế chiều... Khi những tên gọi ấy không còn, nhiều người cảm giác như mất đi một phần gốc rễ. Cuộc sống hiện đại với nhiều vấn đề hiện ra rồi biến mất nhanh chóng, nhưng sự lưu luyến với những gì thân thuộc vẫn hiện diện dai dẳng trong tâm thức con người. Đó là điều mà không trí tuệ nhân tạo nào có thể thay thế được!
Chúng ta đều biết AI có thể tối ưu mọi quy trình, phân tích dữ liệu hay đề xuất mô hình tổ chức hiệu quả. AI rất giỏi trong việc tổng hợp các nhóm dữ liệu: vùng kinh tế, mật độ dân số, mạng lưới giao thông. Nhưng con người không sống như những tập dữ liệu nên AI không thể đo chính xác nỗi băn khoăn của người dân khi đối diện sự xáo trộn lớn trong đời sống, AI không thể đánh giá đúng cảm giác lo lắng khi văn hoá một vùng quê có nguy cơ bị mai một… “Đường biên ký ức” là thứ không thể xóa bằng thuật toán. AI giúp con người rất nhiều trong đề xuất chính sách, nhưng nếu chỉ dựa vào AI, chính sách sẽ thiếu chiều sâu nhân văn.
Mặt khác, AI có thể dự báo và thiết kế xã hội bằng nhiều mô hình khác nhau, có thể lập trình những biểu hiện yêu ghét đồng thuận chối từ trong các robot… Nhưng dù thông minh đến mấy AI không thể thấu được nỗi đau, không cảm nhận được sự lo lắng khi bản sắc cộng đồng bị mai một trong biến động xã hội, AI không thể hiểu vì sao con người từ thế hệ này sang thế hệ khác luôn gắn bó với truyền thống quê hương. Cho đến nay những cảm xúc từ tâm hồn là vùng mà công nghệ phải đứng ngoài, và chỉ có thể vượt qua “đường biên” mơ hồ ấy bằng chính cảm xúc của con người!
Chính vì vậy, dù có sự hỗ trợ của AI về kỹ thuật nhưng con người phải giữ quyền quyết định các chính sách cho con người. Trong thời đại trí tuệ nhân tạo, con người có thể vẽ lại bản đồ nhanh hơn, chính xác hơn, có thể thiết kế những bản đồ mới trong tương lai.... Nhưng có những đường biên không nằm trên bản đồ. Đó là ranh giới của ký ức, của căn tính và cảm xúc. Những đường biên ấy, dù công nghệ phát triển đến đâu, vẫn cần được con người nhận diện, tôn trọng và gìn giữ.
Bởi vì loài người không bao giờ muốn để lại hậu duệ là những thế hệ robot có thể vô cùng thông minh nhưng không biết lưu giữ cảm xúc về ký ức và lịch sử, điều mà khi được nhắc nhớ chỉ có trái tim của con người mới có thể rưng rưng…

Nguyễn thị Hậu

TRƯỚC TẾT VỀ VỚI CỘI RỄ

https://tuoitre.vn/truoc-tet-ve-voi-coi-re-2026020808104696.htm 

Năm nào cũng vậy, khoảng sau rằm tháng chạp là gia đình tôi luôn nhắn hỏi nhau: ngày nào cùng đi tảo mộ. Đi tảo mộ là về quê viếng mộ ông bà nội ngoại, đến nhà thờ họ thắp nhang, rồi mới về viếng ở nghĩa trang thành phố, nơi có các bác, ba má tôi và nhiều người khác trong gia đình.

Khác với bối cảnh nông thôn, nơi nghĩa địa thường tồn tại ổn định, gắn bó lâu dài với cộng đồng cư trú, tại các thành phố nhiều nghĩa địa đã di dời, thu hẹp hoặc chuyển đổi công năng để phát triển đô thị. Quá trình này, dưới góc độ sinh hoạt văn hóa tinh thần, đã kéo theo những đứt gãy đáng kể trong thực hành nghi lễ và ký ức không gian của cộng đồng. Dù vậy, lễ tảo mộ trước Tết vẫn được duy trì như một thực hành văn hóa bền bỉ, có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì tình cảm gia đình và cộng đồng. Đây không chỉ là một phong tục truyền thống, mà còn là một “cơ chế ký ức” giúp con người đô thị kết nối với nguồn cội trong điều kiện không gian sống và điều kiện sinh hoạt ngày càng phân tán.

Từ nhiều năm nay nhịp sống thành phố ngày càng bận rộn, thời gian trước Tết luôn là những ngày sôi động nhất vì bộn bề công việc cuối năm. Ngày tảo mộ ở thành phố thường được “linh động” thực hiện vào ngày cuối tuần. Vào dịp này, các nghĩa trang luôn đông người lui tới, nhất là vào buổi sáng. Các nghĩa trang cũng được dọn dẹp sạch sẽ, khang trang, có nơi còn trưng bày hoa làm cho không gian ấm áp hơn. Giữa không khí cuối năm hối hả, lễ tảo mộ như một điều nhắc nhở: có những đời người đã đi qua, có ông bà cha mẹ để mình có mặt hôm nay. Cảm giác đó mang lại cảm giác ấm áp như ngày nào còn được ngồi bên ông bà, cha mẹ và người thân.

Khi đứng trước ngôi mộ của ông bà cha mẹ, thời gian bỗng đi chậm lại. Mọi lo toan của một năm dài dừng lại nhường cho sự tưởng nhớ những người thân yêu. Khi sửa sang lau dọn phần mộ là lúc mọi người lại nhớ những câu chuyện lúc ông bà, cha mẹ còn sống, cả những câu nhắc nhở hay rầy la của họ... Khi đó, dường như ai cũng lặng thầm soi lại chính mình xem đã sống thế nào. Có khi trong vô thức cũng “tự kiểm”, rằng vừa rồi mình làm chuyện này việc kia không đúng, nếu còn cha mẹ sẽ nói sao? Vì vậy, tảo mộ trước Tết không chỉ là một nghi lễ, mà là cách mỗi người khép lại năm cũ bằng cách trở lại với cội rễ, với đạo đức gia đình, để thêm sức mạnh tinh thần bước vào năm mới vững vàng hơn, tốt đẹp hơn.

Lễ tảo mộ có thể được xem là một nghi lễ trong khoảng thời gian ranh giới giữa năm cũ và năm mới, giữa đời sống thường nhật và thế giới của tổ tiên. Việc đến các nghĩa trang để thăm viếng người nhà hay để tưởng nhớ những người có công với đất nước chính là thể hiện sự tái lập ký ức trong bối cảnh hiện đại, nhất là ở các thành phố. Những nghĩa trang không chỉ là nơi nằm lại của thế hệ trước mà còn là một “không gian lưu trữ ký ức”, nơi lịch sử gia đình được khắc ghi bằng tên họ, niên đại và các câu chuyện truyền miệng luôn được “tái bản” trong mỗi lần tảo mộ. Tảo mộ cho thấy gia đình không chỉ là quan hệ huyết thống, mà là đơn vị bảo tồn văn hóa. Giữ được gia phong, ký ức gia đình cũng là một dạng gìn giữ di sản.

Trong xã hội đô thị hiện nay, lễ tảo mộ trước Tết còn như một sự “đề kháng văn hóa”, khi mà các nghi lễ truyền thống luôn có nguy cơ lu mờ, biến mất trong quá trình hiện đại hóa. Nhất là trong thời đại của AI, khi mà nhiều hành vi của con người hoàn toàn có thể thay thế bởi AI, thì nghi lễ tảo mộ vẫn đòi hỏi sự hiện diện thân thể của mỗi con người, sự tham gia trực tiếp và cảm xúc của từng gia đình. Chính yếu tố đó giúp ký ức không bị trừu tượng hóa mà tiếp tục tồn tại như một trải nghiệm sống, truyền thống gia đình, truyền thống dân tộc được duy trì bền vững.

Tảo mộ trước hết là để tưởng nhớ những người đã khuất, nhưng tục lệ này còn là một thực hành văn hóa giúp người còn sống trở nên hướng thiện và tốt đẹp hơn. Bởi vì khi đứng giữa quá khứ và hiện tại, giữa đời sống cá nhân và ký ức tập thể (gia đình, cộng đồng), những gì tốt đẹp luôn được nhắc đến, luôn được coi là một trách nhiệm và nghĩa vụ của con cháu đối với ông cha.  

Nguyễn Thị Hậu






 


NGƯỜI MIỀN TÂ Y KHÔNG QUEN “ĐÓNG CỬA KHÉP LÒNG”

 Nguyễn Thị Hậu

Không biết từ bao giờ khi nói về miền Tây Nam bộ (vùng đồng bằng sông Cửu Long) thì tính cách của con người nơi đây luôn được gắn với những từ như hào sáng, phóng khoáng, rộng rãi, nghĩa khí… Chắc không phải do người miền Tây tự nói về mình, mà thường là nhận xét từ góc nhìn của người “bên ngoài” với sự trân trọng và thấu hiểu. Những tính cách đó được hình thành một cách tự nhiên từ điều kiện thiên nhiên, theo lịch sử khai khẩn và trong đời sống cộng đồng. Nó được nuôi dưỡng qua nhiều thế hệ người miền Tây, lưu truyền qua nhiều biến đổi của thời cuộc và được coi là một hệ giá trị nhân văn sâu sắc của đất và người miền Tây.

Hào sảng là tấm lòng rộng như sông nước và sẵn sàng sẻ chia

Miền Tây là vùng đất cuối của dòng Mê Kông vĩ đại. Chảy qua hàng ngàn cây số núi cao rừng thẳm, qua bao thác ghềnh hung dữ, để rồi về đến miền Tây Nam bộ là dòng Cửu Long hiền hoà bồi đắp nên một đồng bằng rộng lớn. Dòng sông của mùa nước nổi tràn bờ, của nhịp điệu ngày hai lần nước lớn nước ròng, của tiếng bìm bịp kêu chiều khắc khoải, của giề lục bình lờ lững tím ngát trôi xuôi… Bầu trời miền Tây chói chang mùa nắng, sầm sập cơn giông mùa mưa, lấp lánh hàng triệu vì sao những đêm trời cao trong vắt…

Trên vùng đồng bằng sông Cửu Long từ hàng trăm ngàn kinh rạch chằng chịt đan xen với nhau đã kết nối những con người xa xứ cùng tạo dựng xóm làng. Hàng trăm kinh đào lớn nhỏ bằng sức lực người miền Tây để thoát nước rửa phèn nuôi dưỡng những cánh đồng lúa vàng những vườn cây trái ngọt… Không gian miền Tây rộng rãi, đồng ruộng miền Tây mênh mông nào phải tự nhiên mà có? Nó được hình thành từ những bước chân giẫm đạp lên gai góc sình lầy, những đôi tay chai sần cầm leng cầm cuốc, từ mồ hôi, máu và nước mắt của hàng triệu người nghèo khó, tội đồ, sa cơ thất thế, của cả những người có chí làm ăn dám thử sức mình ở “vùng đất mới”.

Người miền Tây không quen “đóng cửa khép lòng”, họ sống như dòng nước cứ chảy, cứ cho đi. Rạch nhỏ ra rạch lớn, rạch lớn ra sông, sông nhỏ ra sông cái… Dòng sông Cửu Long nhận nước từ đầu nguồn rồi chảy ra biển cả, hàng năm bồi đắp từng lớp phù sa mới cho đồng bằng thêm màu mỡ để rồi nhận lại những vụ mùa vàng. Ở miền Tây khi có ai ghé nhà, dù quen hay lạ cũng được mời bữa cơm, ly nước và có thể tá túc qua đêm thậm chí vài ngày mà không bị hỏi han dòm ngó. Mỗi mùa nước nổi, hàng xóm giúp nhau sửa nhà cửa thêm chắc chắn, cứu đồ đạc lúa má, đóng giúp chiếc xuồng “năm quăng” để có cái mà kiếm ăn trong cơn nước lũ… Những việc làm không cần tính công xá, không ai coi là “làm ơn” mà cũng không ai quên giúp lại người khác mỗi khi hữu sự. Bởi vì đó lẽ tự nhiên của tình người.

Sống và lao động trong điều kiện tự nhiên – xã hội đặc thù như thế, con người ở đây dần hình thành tâm thế hào sảng, hành xử rộng rãi, bao dung, như dòng sông như bầu trời nào của riêng ai… Không gian rộng rãi khoáng đạt đưa tầm mắt người miền Tây xa hơn những “cánh đồng chó ngáp”, đưa nghĩ suy của người miền Tây vượt ra khỏi tâm thức truyền thống ngàn năm trong “luỹ tre làng”, để người miền Tây có thể nhìn khác, nghĩ khác và làm khác. Người miền Tây lao động và chiến đấu như một lẽ thường tình, dù ai có nói “miền Tây được thiên nhiên ưu đãi” thì người miền Tây cũng chỉ cười mà rằng, “ờ, ông trời không cho làm sao mình có”?

Lối sống “thuận thiên” làm nên sự an nhiên, lao động hết mình tạo nên lòng tự trọng. Sự hào sảng của người miền Tây bắt nguồn từ đó.

Hào sảng ở tinh thần lạc quan và sự bộc trực, chân thành trong ứng xử

Cuộc sống miền Tây gắn với thiên nhiên, vốn dĩ nhiều rủi ro khi lũ về, nước dâng, mùa vụ có khi mất trắng. Lại có năm nước kém đất phèn mặn, hạn hán ruộng khô nứt nẻ… Nhưng lạ thay, người miền Tây vẫn luôn giữ nụ cười lạc quan. Đó chính là cái “hào sảng tinh thần” vì tin rằng ngày mai vẫn có cái để làm, để ăn, để sống. Hào sảng ở đây là sống cởi mở, không bi lụy, biết buông bỏ cái khổ, tin vào điều lành. Đó không phải là sự “vô lo” mà biết lo ít đi để sống trọn hơn, “biết đủ là đủ”. “Trời sinh voi, sinh cỏ” là câu người miền Tây thường nói, nhưng nói vậy không phải để ỷ lại mà để nhắc với nhau một niềm tin: nếu mình sống tử tế, trời đất không nỡ phụ người. Vì vậy, người miền Tây không hay than nghèo kể khổ, ai cũng khó như mình than thở ích gì, hãy cùng kiếm công chuyện làm ăn chứ đừng ngồi đó mà than thở.

Sống với tấm lòng nhân hậu và giản dị, luôn phải đối phó với khó khăn của thiên nhiên và xã hội, người miền Tây thiên về hành động thực tiễn hơn là lý luận bằng lời. Sự hào sảng không chỉ ở thái độ mà là việc làm không toan tính, cần thì làm ngay: mua vài tờ vé số là giúp người bán có một bữa ăn, thấy việc sai trái thì “giữa đường thấy sự bất bằng chẳng tha”. Nhưng hành xử cũng đầy lòng trắc ẩn: có xung đột thì luôn bênh vực người yếu thế trước, rồi “hạ hồi phân giải” phải quấy tính sau. Lỡ “đụng độ” nhưng khi đã tỏ tường phải trái thì “làm một ly” để bỏ qua, tha thứ, không “nhớ lâu thù dai” vì như vậy ai chơi với mình? Hào sảng từ nội tâm nhờ không chất chứa hận thù, không nhỏ nhen cố chấp.

Người miền Tây không thích “làm màu”, cũng không thích tranh luận hơn thua. Trong câu chuyện thường ngày, họ dùng tiếng cười để hóa giải mâu thuẫn, dùng cách nói nhẹ nhàng thân mật để khuyên răn nhau: “thôi, bỏ đi Tám” là xong, không để bụng. Hào sảng là “biết quên” những điều nhỏ nhặt, giữ cho lòng nhẹ và tình người bền. Người miền Tây nói năng thẳng thắn, thật bụng, không “vòng vo tam quốc” mà nghĩ sao nói vậy, “ghét nói ghét, thương nói thương”. Sự bộc trực ấy đôi khi làm người nơi khác cho là “tự nhiên quá” hay “thiếu tế nhị”, nhưng thật ra là sự chân thành không khách sáo. Cách nói trực diện, thẳng thắn cũng làm cho thế lực cường quyền “khó chịu”, nhưng đó là sự thể hiện nghĩa khí trước uy quyền. Hào sảng ở người miền Tây còn là sự công bằng chính trực.

Miền Tây là nơi dừng chân sau cùng trong hành trình mở đất của người Việt. Những lớp cư dân đi khẩn hoang phải dựa vào nhau mà sống, giúp nhau lao động sản xuất, đoàn kết chống thú dữ. Không chỉ vậy, họ còn phải hoà hợp với cư dân bản địa, học kinh nghiệm làm ăn trồng trọt, đồng thời cởi mở trong giao lưu văn hoá. Sự liên kết cộng đồng mạnh mẽ đã tạo ra đặc trưng “văn hóa mở”: ai cũng được chấp nhận, ai cũng có thể bắt đầu tại đây, chấp nhận những điều mới mẻ, dám làm dám chịu, không sợ sai và sửa sai nhanh… Những khác biệt không bị phán xét mà được dung nạp để rồi từ từ hoà nhập. Chính từ đó, hào sảng trở thành tính cách cộng đồng chứ không chỉ là một vài cá nhân. Tuy nhiên tính cách này kết tinh ở nhiều nhân vật lịch sử đã trở thành đại diện cho người miền Tây.

Hào sảng làm nên hồn cốt và tâm thế tự do của người Nam Bộ

Tính cách hào sảng của người miền Tây là kết tinh của đất – nước – người trải qua một quá trình lịch sử và vượt qua biết bao thử thách từ thiên nhiên và hoàn cảnh xã hội. Sự hào sảng giúp kết nối những con người một cách chân thành, tạo nên sức mạnh giúp họ đi qua khó khăn, giữ được niềm vui sống và lan tỏa tình yêu cuộc đời. Nếu người Bắc nổi tiếng cẩn trọng, người Trung kiên cường, thì người Nam – đặc biệt là miền Tây – luôn được nhớ đến bởi sự phóng khoáng, hào sảng, “làm chết bỏ, chơi tới bến”. Hào sảng không chỉ là tính cách mà là một triết lý: sống nhẹ nhàng, sống chân thành, sống chia sẻ. Một cộng đồng hào phóng sẵn lòng cho đi và đón nhận, luôn tin vào tình nghĩa “bà con mình”.

Ở nơi cuối sông cùng đất, miền Tây Nam bộ như đứa con út của dòng Mê Kong và dải đất chữ S kéo dài khó nhọc. “Giàu con út khó con út”, chấp nhận số phận và ứng phó linh hoạt để tồn tại nhưng không bi lụy không hạ mình, luôn chính trực và hào sảng, khi còn giữ được những phẩm chất đó thì người miền Tây còn giữ được cho mình một tâm thế tự do như ông cha mình trước đây!

Sài Gòn tháng 11.202




NƠI ẤY QUÊ NHÀ

 Tản văn, Nguyễn Thị Hậu

Nhớ quê

Tuổi càng về chiều người ta càng muốn “quy cố hương” bằng cách hồi tưởng về  ký ức thời còn ở quê, hay là kỷ niệm mỗi lần về quê. Mà nguyên cớ để những hồi ức trở về thì không thiếu.

Trên những con đường ta qua bất cứ gì nhìn thấy đều như giọt nước rơi vào cái ly “nhớ quê” để rồi một ngày sẽ có giọt nước làm tràn ly, nỗi nhớ vỡ òa, không thể không nói ra không kể lại không trải ra trên trang giấy trên màn hình máy tính.

Một lần đi trên đường phố Quận Cam, nhìn thấy mấy tàu chuối vươn khỏi tường rào vẫy vẫy trên hè phố, bỗng nhớ nhà da diết dù chỉ mới xa nhà hai ngày trong đó có gần 20 giờ trong chuyến bay dài. Hỏi bạn, ở đây trồng nhiều chuối không? Bạn như hiểu, trả lời: chị thấy nhà ai mà trồng bụi chuối thì gần như chắc chắn là nhà người Việt mình. Ừ càng đi xa lại càng muốn lưu lại chút gì của quê hương bên mình.

Bụi chuối sau hè, hồi nhỏ là sự sợ hãi mỗi tối khi phải ra đó vì một lý do mà ai cũng như ai J, là niềm vui khi thấy bắp hoa bắt đầu kết thành buồng bé xíu xinh xinh, lớn dần lên, rồi từng nải trái già căng, mẹ chặt mang vô dựng trong bếp gần khạp gạo. Vài bữa khi trái hườm hườm, nải chuối ngon nhất, đẹp nhất được cha đặt lên bàn thờ ông bà, thắp nén nhang trước là lấy thảo sau là lấy hơi ấm cho cả nải chín đều. Bữa cơm Nam bộ ít khi thiếu vài trái chuối sứ, từ con nít đến bà già đều quen với chén cơm chan nước cá kho thịt kho ăn với chuối chín. Nhà có đàn bà sanh nở luôn có buồng chuối chín dần, canh chuối sứ nêm chút muối chút đường là món ăn lợi sữa rất lành và cũng rất rẻ tiền, dễ kiếm. Giữa buổi mà đói, có chén chè chuối hay cái bánh chuối chiên thì không còn gì bằng.

Một người bạn, có lần đi đâu đó đến tận bờ biển Mexico xa xôi, nhắn về: trời ơi, tui như đang ở bãi biển quê mình, cũng hàng dừa đong đưa trong gió chiều, cũng mùi thơm của mực tươi cá tươi, của ốc của sò nướng trên than hồng, cũng mấy trái khóm trái chuối mà mấy bà đội cái thúng trên đầu mang bán… nhớ nhà quá trời… Bạn đã hơn 30 năm sống ở nước ngoài, đã tự coi mình như một người Tây “chánh hiệu”, vậy mà chỉ mùi thơm khói bếp than cũng làm bạn bần thần rồi quyết tâm “tết này sẽ về nhà” dù ở quê nhà bạn chẳng còn ai cả.

Ở xa thì vậy, còn ở gần thì sao? Quê tôi ở miền Tây, một năm cũng vài lần về tết nhất giỗ chạp, chưa kể đi công việc. Sáng đi tối về hay đi vài ngày, đi xe đò, đi xe riêng, hồi trước còn chạy xe gắn máy nữa… vậy mà lần nào trở lên thành phố cũng bồi hồi (người miền Tây hay gọi Sài Gòn là “thành phố”, lên thành phố, ở thành phố mới dìa…).  Nhớ từ tiếng gà trưa nhớ đến chùm mận bên chái bếp, nhớ từ bờ mương thoảng tiếng cá quẫy trong vườn đến mùi khói bếp lò trấu lúa mới… Mỗi lần về đám giỗ là “quảy” lên nào thịt kho tàu, thịt ram, tôm rang nước dừa, nào dừa xiêm nào xoài nào dưa hấu. À, có ai còn nhớ món bắp đùm thơm mùi nước dừa lá dứa không? Gần nhà ngoại tôi có lò nấu bắp và hấp bắp đùm, khi tôi chuẩn bị ra về là cô em dâu tất tả chạy ra lò xách về mấy chục bắp mới nấu nóng hổi “chị bỏ theo xe lỡ tụi nhỏ đói thì ăn”.

Trên đường miền Tây rất dễ nhận ra “người miền Tây” trên những chiếc xe máy trước sau ràng buộc túi xách ba lô, người chạy xe hay người ngồi sau đều mặc áo khoác giữa ngày nắng như đổ lửa, là để không bị trúng nắng, trúng gió. Mùa tháng chạp gió chướng trên xe còn có mấy giỏ bánh mứt, người vợ ngồi sau cầm bó vạn thọ gói bằng mấy tàu lá ló ra chùm bông vàng rực rỡ, đúng  là vợ chồng chở nhau về nhà ăn tết với ông bà. Lúc quay lên thành phố thế nào cũng có máng ở móc xe mấy đòn bánh tét nhưn đậu nhưn chuối.

 Dọc đường gặp quán cà phê nào ưng ý thì ghé vô, ngả lưng trên những chiếc võng treo tong ten. Bạn có thể nằm đó thật lâu, dù chỉ kêu một ly cà phê ngọt như chè hay một trái dừa xiêm thanh mát, đung đưa dưới ánh nắng xuyên qua tàu lá dừa trên cao, ngó dàn bông giấy đỏ trắng tím vàng rực lên ngoài cửa quán, nghe hết những CD nhạc “sến” mà cô chủ quán luôn lẩm nhẩm hát theo, những "nếu lỡ chúng mình hai đứa xa nhau...", với "tình đẹp mùa chôm chôm" rồi sang "cây trứng cá" rồi lại đi đào ao thả cá gì đấy... lời ca giai điệu của chôm chôm với trứng cá với cây cầu dừa với rau đắng sau hè, rồi phút cuối với sầu tím thiệp hồng, ai khổ vì ai... các kiểu cây trái các kiểu dối lừa đau lòng hờn dỗi, các kiểu chim sáo mồ côi hay chim trắng cô đơn...  Sến là thế đấy nhưng cam đoan khi bạn rời quán tiếp tục lên đường, bạn sẽ thấy cuộc đời không cần gì hơn thế nữa!

Một lần ngồi trong quán ven đường như thế, ngó ra hồ sen bát ngát phía sau quán, nghe hương sen vấn vít, nôn nao theo lời ca  Lâu nay muốn qua thăm em nhưng ngại vì cầu tre lắc lẻo…  Ờ mà nhà quê giờ nhiều cầu tre lắt lẻo đã thay bằng cầu bê tông, vẫn cheo leo nhưng chắc chắn hơn. Đám cưới qua cầu, chú rể dắt tay cô dâu còn cô dâu tay nâng váy dài mà không còn phải cầm đôi giày đi chân không qua cầu khỉ. Bọn trẻ con không còn cơ hội hò reo khi ai đó lỡ trợt chân té xuống kinh rạch, các bà già trầu không phải chép miệng an ủi: đám cưới mà “gặp nước” như vầy là hên lắm nghen.

Nỗi nhớ quê chỉ giản đơn như hương tóc mạ non mà sao khi   Tháng ngày tuổi đời trôi theo níu chân nhau, bạc thêm mái đầu… với quê hương ta vẫn biết “tình mình dù ngăn cách sông chớ đâu cách lòng, mỗi lần nhớ nhau sao nghẹn lời…”.

Vọng cổ trưa

Đã bao lâu rồi mình chưa nghe một câu vọng cổ ở Sài Gòn, cái nôi của nghệ thuật cải lương? Tôi đã tự hỏi như thế khi bất chợt nghe thấy giọng ca Lệ Thủy ngọt ngào chân chất vang lên trong một trưa hè đứng nắng giữa bạt ngàn xanh miệt vườn Nam bộ.

“Hỡi cô đi bán đèn hồng, đèn hồng cô bán má hồng cô bán không… Đèn hồng đã có người mua, má hồng thì đã nắng mưa phai rồi…”

Có lẽ không ở đâu mà một loại hình nghệ thuật lại có sức sống bền bỉ, gắn bó sâu đậm và được người dân yêu thích như cải lương ở Nam bộ. Ra đời mới khoảng gần 100 năm nhưng cải lương đã trở thành “máu thịt” của người Nam bộ, vượt qua những năm kháng chiến chống Pháp bị coi là “ướt át ủy mị”, vượt qua thời gian dài chia cắt Bắc – Nam… Từ sau 1954 ở miền Bắc ngoài Đoàn Cải lương Nam bộ tập kết còn có hàng chục đoàn “cải lương bắc” của các tỉnh. Thời kỳ sau 1975 khó khăn cùng cực mà sân khấu cải lương vẫn  có những vở diễn trở thành kinh điển… Nhưng cho đến hôm nay thì nhiều người vô Sài Gòn, về miền Tây đã phải hỏi thăm “sân khấu cải lương Nam bộ đâu rồi? còn không?”

Ừ nhỉ, từ bao giờ sân khấu cải lương thành phố không còn nhộn nhịp sáng đèn? những “thánh đường” của Cải lương Sài Gòn đâu rồi? Rạp Aristo hay còn gọi là Trung ương Hý Viện, rạp Hưng Đạo, Olimpic, các rạp Nguyễn Văn Hảo, Thanh Bình, Hưng Đạo, Quốc Thanh, Khải Hoàn, Thành Xương, Hào Huê, Cao Đồng Hưng, Thủ Đô, Huỳnh Long, Quốc Thái, Cây Gõ… bây giờ đã biến thành gì? Các đoàn cải lương nổi tiếng như Kim Chung, gánh hát Nam Phi của bầu Năm Phỉ, gánh cải lương tuồng Tàu Phụng Hảo của bầu Nhơn-Phùng Há, gánh Việt Kịch Năm Châu của ông bầu Năm Châu. Đoàn cải lương Kim Thanh-Út Trà Ôn, đoàn Thanh Minh – Thanh Nga, các đoàn Sài Gòn 1,2,3, Hương Mùa Thu, cải lương tuồng cổ Huỳnh Long…còn ai nhớ đến…?

Thế hệ nghệ nhân “khai sáng” sân khấu cải lương như các nghệ sĩ Năm Châu, Phùng Há, Ba Vân, Út Trà Ôn… đã không còn nữa, “thế hệ vàng” của các nghệ sĩ Bạch Tuyết, Lệ Thủy, Ngọc Giàu, Thanh Sang, Minh Vương, Mỹ Châu… cũng đã từ biệt sân khấu, lớp nghệ sĩ kế tiếp cũng bị mai một: người ra nước ngoài định cư, người ở lại chuyển sang tấu hài diễn kịch đóng phim lập gia đình bỏ nghề… Có ai nhớ được tên một nghệ sĩ cải lương nào thuộc thế hệ thứ tư không…?

Vậy nhưng cuộc thi “Bông lúa vàng” của Đài tiếng nói nhân dân TPHCM vẫn thu hút hàng ngàn lượt thí sinh tham gia, đủ lứa tuổi đủ nghề nghiệp, sống ở thành phố hay ở tỉnh vẫn say mê thuộc nằm lòng nhiều bài bản cổ… Những chương trình ca cổ theo yêu cầu vẫn luôn nhận được hàng ngàn lời đề nghị, lời nhắn gửi… của người yêu gửi cho người yêu, con gửi tặng ba má, bạn gửi cho bạn, của trò gửi tặng thầy… Người Nam bộ vẫn yêu cải lương và coi nó như cách tỏ bày tình cảm một cách chân thành và thoải mái nhất. Trong các quán karaoke, “hát với nhau” không bao giờ thiếu những bài ca tân cổ giao duyên – một sự “cải biên” để thích nghi với đời sống thị thành hồi thập niên 1970 của cải lương. Và người Sài Gòn, người miền Tây luôn sẵn sàng ca một, hai câu vọng cổ khi bạn bè yêu cầu. Dù là karaoke nhưng khi hạ giọng “xuống xề” người ca vẫn nhận được những tràng pháo tay giòn giã của bạn bè. Chèo ở miền Bắc, hát bài chòi hay hát bội ở miền Trung có lẽ phải “ganh tỵ” với cải lương về hiện tượng này!

Gần đây Đờn ca Tài tử Nam bộ được Unesco vinh danh là Di sản văn hóa Phi vật thể của thế giới. Nhiều di sản văn hóa phi vật thể được công nhận khi chúng đã và đang có nguy cơ biến mất, biến dạng bởi những làn điệu lời ca mộc mạc chân chất không còn chỗ trong quay cuồng đời sống hiện đại, bởi con người không có sự hiểu biết đầy đủ để quý trọng và gìn giữ nó. Khi đó di sản văn hóa mới được vội vã “bảo tồn”. Một ngày nào đó có thể Cải lương cũng được vinh danh như thế…  Lẽ nào sẽ có một ngày Sài Gòn, Nam bộ không còn cải lương?!

Miệt vườn vẫn lướt qua xanh ngát ngoài kia, nắng đứng bóng tiếng gà trưa vẫn eo óc ngoài kia, giọng ca Lệ Thủy vẫn ngọt ngào quyến rũ trong bản vọng cổ trưa buồn như tiếng thở dài…

Đường về quê

Đường về miền Tây từ TP. Hồ Chí Minh mới vài năm gần đây có đoạn cao tốc từ Bình Chánh đến Trung Lương, còn lại gần như toàn tuyến vẫn chật hẹp dù đã giải tỏa mở rộng thêm nhưng mỗi bên cũng chỉ có 2 làn xe hơi. Xe máy nhiều quá đành đi vào làn đường xe hơi, nguy hiểm vô cùng. Có vài đoạn đường tránh nhưng lưu lượng xe ở quốc lộ Một vẫn không giải tỏa được bao nhiêu. Không hiểu sao đã bao nhiêu năm mà đường miền Tây vẫn “kiên trì độc đạo”?

Ngày nào cũng vậy, từ sáng tới khuya đường miền Tây lúc nào cũng nườm nượp xe cộ. Trạm dừng chân sáng đèn suốt đêm, hàng quán nơi thị tứ luôn thức khuya dậy sớm. Dưới những con sông, kinh rạch cắt ngang đường lộ có lúc nào im tiếng ghe máy ngược xuôi…

Từ Sài Gòn về các tỉnh miền Tây có bao nhiêu cây cầu? Chắc không ai biết hết. Cũng mới vài năm nay nhiều cây cầu đã được xây mới, xây thêm cầu đôi để ngày thường tránh nạn kẹt xe nhưng vào dịp lễ tết thì vẫn ùn ứ ở những “|nút thắt cổ chai” hai bên đầu cầu. Chỉ riêng con đường vô thành phố Cao Lãnh từ quốc lộ Một rẽ ngã ba An Hữu khoảng 30km đâu đã hơn 20 cây cầu, hồi “thế kỷ trước” toàn cầu sắt lót ván gập ghình, xe “bò” qua cầu và hành khách phải xuống đi bộ, chú lơ xe còn phải vác theo tấm ván lót những đoạn ván cầu bị mục. Nay cầu đã được xây bằng bê ton, đường trải nhựa ngon lành, thời gian qua đoạn đường này rút lại chỉ hơn một tiếng đồng hồ thay vì nửa ngày như trước.

Đường miền Tây vào mùa Tết đẹp nhất vì nhà nào cũng có vài cây mai, có khi cả một vườn mai nở vàng rực. Cây mai như người bạn của mỗi gia đình miền Tây, rằm tháng Chạp lặt lá để Tết nở hoa, nhìn mai nở biết người thân sắp về ăn tết. Nhìn mai rụng biết người thân sắp rời nhà đi thành phố… Cây mai trồng trong sân vườn nhưng người miền tây ít khi chặt cành mai vô chưng trong nhà mà để mai nở tự nhiên ngoài vườn. Cũng giống như ở vùng núi phía miền Bắc, đào, mận trồng trước nhà, mùa xuân nở hoa hồng hoa trắng đẹp vô cùng. Vùng thôn quê miền Bắc ít thấy trồng đào phổ biến như nông thôn Nam bộ trồng mai.

Mỗi lần về quê thấy con sông Cao Lãnh ngày càng cạn hẹp dù đã được kè bờ (má vẫn kể ngày xưa sông rộng tàu lớn còn đi về tận Nam Vang), thấy khu đất nền nhà ông cố bây giờ thành những dãy nhà phố đông đúc, nhớ hồi đó nhà máy xay gạo của ông ngoại với đống trấu đống tro cao ngang mái nhà sàn của ngoại. Trong nhà sàn gian giữa có dãy bàn thờ mà ngày giỗ ngày tết, bà ngoại, má và mấy dì mấy mợ chỉ lo cúng cơm ở đó cũng hết ngày. Nét xưa nay không còn nữa…
May mà còn những cây mai vàng khoe sắc rực rỡ trong sân nhà cậu Út để mỗi lần về lại nhận ra, dù sống ở đâu thì trong mỗi người vẫn luôn còn đó một quê hương…

 Cầu Mỹ Thuận 1 và 2 trên sông Tiền



Làm bà

  Mình có thêm một cháu ngoại. Một đứa trẻ bé xíu bước vào cuộc đời, và cùng với cháu, mình tiếp tục làm bà lần nữa, nhưng cảm giác vẫn n...