GIỮ HỒN QUÊ HƯƠNG TRONG NHỮNG ĐƯỜNG BIÊN MỚI
TRƯỚC TẾT VỀ VỚI CỘI RỄ
https://tuoitre.vn/truoc-tet-ve-voi-coi-re-2026020808104696.htm
Năm nào cũng vậy, khoảng sau rằm tháng chạp là gia đình tôi luôn nhắn hỏi nhau: ngày nào cùng đi tảo mộ. Đi tảo mộ là về quê viếng mộ ông bà nội ngoại, đến nhà thờ họ thắp nhang, rồi mới về viếng ở nghĩa trang thành phố, nơi có các bác, ba má tôi và nhiều người khác trong gia đình.
Khác với bối cảnh nông thôn, nơi nghĩa địa thường tồn tại ổn định, gắn bó
lâu dài với cộng đồng cư trú, tại các thành phố nhiều nghĩa địa đã di dời, thu
hẹp hoặc chuyển đổi công năng để phát triển đô thị. Quá trình này, dưới góc độ
sinh hoạt văn hóa tinh thần, đã kéo theo những đứt gãy đáng kể trong thực hành
nghi lễ và ký ức không gian của cộng đồng. Dù vậy, lễ tảo mộ trước Tết vẫn được duy trì như một thực hành văn hóa bền bỉ, có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì tình cảm gia đình và cộng đồng. Đây không
chỉ là một phong tục truyền thống, mà còn là một “cơ chế ký ức” giúp con người
đô thị kết nối với nguồn cội trong điều kiện không gian sống và điều kiện sinh hoạt ngày càng phân tán.
Từ nhiều năm nay nhịp sống thành phố ngày càng bận rộn, thời gian trước Tết luôn là những
ngày sôi động nhất vì bộn bề công việc cuối năm. Ngày tảo mộ ở thành phố thường
được “linh động” thực hiện vào ngày cuối tuần. Vào dịp này, các nghĩa trang
luôn đông người lui tới, nhất là vào buổi sáng. Các nghĩa trang cũng được
dọn dẹp sạch sẽ, khang trang, có nơi còn trưng bày hoa làm cho không gian ấm áp
hơn. Giữa không khí cuối năm hối hả, lễ
tảo mộ như một điều nhắc nhở: có những đời người đã đi qua, có ông bà cha mẹ để
mình có mặt hôm nay. Cảm giác đó mang lại cảm giác ấm áp như ngày nào còn được ngồi bên
ông bà, cha mẹ
và người thân.
Khi
đứng trước
ngôi mộ của ông bà cha mẹ, thời
gian bỗng đi chậm lại. Mọi lo toan của một năm dài dừng lại nhường cho sự tưởng nhớ những người thân yêu.
Khi sửa sang lau dọn phần mộ là lúc mọi người lại nhớ những câu chuyện lúc ông bà, cha mẹ còn sống, cả những câu nhắc nhở hay rầy la của họ...
Khi đó, dường như ai cũng lặng thầm soi lại chính mình xem đã sống thế nào. Có khi trong vô thức cũng “tự kiểm”, rằng vừa rồi
mình làm chuyện này việc kia không đúng, nếu còn cha mẹ sẽ nói sao? Vì vậy,
tảo mộ trước Tết không chỉ là một nghi lễ,
mà là cách
mỗi người khép lại năm cũ bằng cách trở lại với cội rễ, với đạo đức gia đình, để thêm sức mạnh tinh thần bước vào năm mới vững vàng hơn, tốt đẹp hơn.
Lễ tảo mộ có thể được xem là một nghi lễ trong khoảng thời gian ranh giới giữa năm cũ và năm mới, giữa đời sống thường nhật và thế giới
của tổ tiên. Việc đến các nghĩa
trang để thăm viếng người nhà hay để tưởng nhớ những người có công với đất nước
chính là thể hiện sự tái lập ký ức trong bối cảnh hiện đại, nhất là ở các thành phố. Những nghĩa trang không chỉ là nơi nằm lại của thế hệ trước mà còn là một “không gian lưu trữ ký ức”, nơi lịch sử gia đình được khắc ghi
bằng tên họ, niên đại và các câu chuyện truyền miệng luôn được “tái bản” trong mỗi lần tảo mộ. Tảo mộ cho thấy gia đình không chỉ là quan hệ huyết thống, mà là đơn vị
bảo tồn văn hóa. Giữ được gia phong, ký ức gia đình cũng là một dạng gìn giữ di
sản.
Trong xã hội đô thị hiện nay, lễ tảo mộ trước Tết còn
như một sự “đề kháng văn hóa”, khi mà các nghi lễ truyền
thống luôn có nguy cơ lu mờ, biến mất
trong quá trình hiện đại hóa. Nhất là trong thời đại của AI, khi mà nhiều hành vi của con người hoàn toàn có thể
thay thế bởi AI, thì nghi lễ tảo mộ vẫn đòi hỏi sự hiện diện thân thể của mỗi con người, sự tham gia trực
tiếp và cảm xúc của từng gia
đình. Chính yếu tố đó giúp ký ức không bị trừu tượng hóa mà tiếp tục tồn tại
như một trải nghiệm sống, truyền thống gia đình, truyền thống dân tộc được duy trì bền vững.
Tảo mộ trước hết là để
tưởng nhớ những người đã khuất, nhưng tục lệ này còn là một thực hành văn
hóa giúp người còn sống trở nên hướng
thiện và tốt đẹp hơn. Bởi vì khi đứng giữa quá khứ và hiện
tại, giữa đời sống cá nhân và ký ức tập thể (gia đình, cộng đồng), những gì tốt đẹp luôn được
nhắc đến, luôn được coi là một trách nhiệm và nghĩa vụ của con cháu đối với ông
cha.
Nguyễn Thị Hậu
NGƯỜI MIỀN TÂ Y KHÔNG QUEN “ĐÓNG CỬA KHÉP LÒNG”
Nguyễn Thị Hậu
Không biết từ bao
giờ khi nói về miền Tây Nam bộ (vùng đồng bằng sông Cửu Long) thì tính cách của
con người nơi đây luôn được gắn với những từ như hào sáng, phóng khoáng, rộng
rãi, nghĩa khí… Chắc không phải do người miền Tây tự nói về mình, mà thường là nhận xét từ góc
nhìn của người “bên ngoài” với sự trân trọng và thấu hiểu. Những tính cách đó được hình
thành một cách tự nhiên từ điều kiện thiên nhiên, theo lịch sử khai khẩn và trong
đời sống cộng đồng. Nó được nuôi dưỡng qua nhiều thế hệ người miền Tây, lưu truyền qua nhiều
biến đổi của thời cuộc và được coi là một hệ giá trị nhân văn sâu sắc của đất
và người miền Tây.
Hào sảng là tấm lòng rộng như sông nước và sẵn sàng sẻ chia
Miền Tây là vùng đất
cuối của dòng Mê Kông vĩ đại. Chảy qua hàng ngàn cây số núi cao rừng thẳm, qua
bao thác ghềnh hung dữ, để rồi về đến miền Tây Nam bộ là dòng Cửu Long hiền hoà
bồi đắp nên một đồng bằng rộng lớn. Dòng sông của mùa nước nổi tràn bờ, của
nhịp điệu ngày hai lần nước lớn nước ròng, của tiếng bìm bịp kêu chiều khắc khoải, của giề lục bình lờ
lững tím ngát trôi xuôi… Bầu trời miền Tây chói chang mùa nắng, sầm sập cơn
giông mùa mưa, lấp lánh hàng triệu vì sao những đêm trời cao trong vắt…
Trên vùng đồng bằng sông Cửu Long từ hàng trăm ngàn kinh rạch chằng chịt đan xen với nhau đã
kết nối những con người xa xứ cùng tạo dựng xóm làng. Hàng trăm kinh đào lớn nhỏ bằng sức lực người
miền Tây để thoát nước rửa phèn nuôi dưỡng những cánh đồng lúa vàng những vườn
cây trái ngọt… Không gian miền Tây rộng rãi, đồng ruộng miền Tây mênh mông nào
phải tự nhiên mà có? Nó được hình thành từ những bước chân giẫm đạp lên gai góc sình lầy, những đôi tay chai sần cầm
leng cầm cuốc, từ mồ hôi, máu và nước mắt của hàng triệu người nghèo khó, tội đồ, sa cơ thất thế, của cả những
người có chí làm ăn dám thử sức mình ở “vùng đất mới”.
Người miền Tây không
quen “đóng cửa khép lòng”, họ sống như dòng nước cứ chảy, cứ cho đi. Rạch nhỏ
ra rạch lớn, rạch lớn ra sông, sông nhỏ ra sông cái… Dòng sông Cửu Long nhận nước từ đầu nguồn
rồi chảy ra biển cả, hàng năm bồi đắp từng lớp phù sa mới cho đồng bằng thêm màu mỡ để rồi nhận lại những vụ mùa vàng. Ở miền Tây khi có ai ghé nhà, dù quen hay lạ cũng được mời bữa cơm, ly
nước và có thể tá túc qua đêm thậm chí vài ngày mà không bị hỏi han dòm ngó.
Mỗi mùa nước nổi, hàng xóm giúp nhau sửa nhà cửa thêm chắc chắn, cứu đồ đạc lúa
má, đóng giúp chiếc xuồng “năm quăng” để có cái mà kiếm ăn trong cơn nước lũ…
Những việc làm không cần tính công xá, không ai coi là “làm ơn” mà cũng không
ai quên giúp lại người khác mỗi khi hữu sự. Bởi vì đó lẽ tự nhiên của tình
người.
Sống và lao động
trong điều kiện tự nhiên – xã hội đặc thù như thế, con người ở đây dần hình
thành tâm thế hào sảng, hành xử rộng rãi, bao dung, như dòng sông như bầu trời
nào của riêng ai… Không gian rộng rãi khoáng đạt đưa tầm mắt người miền Tây xa
hơn những “cánh đồng chó ngáp”, đưa nghĩ suy của người miền Tây vượt ra khỏi tâm
thức truyền thống ngàn năm trong “luỹ tre làng”, để người miền Tây có thể nhìn khác, nghĩ
khác và làm khác. Người miền Tây lao động và chiến đấu như một lẽ thường tình,
dù ai có nói “miền Tây được thiên nhiên ưu đãi” thì người miền Tây cũng chỉ
cười mà rằng, “ờ, ông trời không cho làm sao mình có”?
Lối sống “thuận thiên” làm nên sự an nhiên, lao động hết
mình tạo nên lòng tự trọng. Sự hào sảng của người miền Tây bắt nguồn từ đó.
Hào sảng ở tinh thần lạc quan và sự bộc trực, chân thành trong ứng xử
Cuộc sống miền Tây
gắn với thiên nhiên, vốn dĩ nhiều rủi ro khi lũ về, nước dâng, mùa vụ có khi mất trắng. Lại có năm nước kém đất phèn
mặn, hạn hán ruộng khô nứt nẻ… Nhưng lạ thay, người miền Tây vẫn luôn giữ nụ
cười lạc quan. Đó chính là cái “hào sảng tinh thần” vì tin rằng ngày mai vẫn có
cái để làm, để ăn, để sống. Hào sảng ở đây là sống cởi mở, không bi lụy, biết
buông bỏ cái khổ, tin vào điều lành. Đó không phải là sự “vô lo” mà biết lo ít đi để sống trọn
hơn, “biết đủ là đủ”. “Trời sinh voi, sinh cỏ” là câu người miền Tây thường nói, nhưng nói vậy không phải
để ỷ lại mà để nhắc với nhau một niềm
tin: nếu mình sống tử tế, trời đất không nỡ phụ người. Vì vậy, người miền
Tây không hay than nghèo kể khổ, ai cũng khó như mình than thở ích gì, hãy cùng kiếm công chuyện làm ăn
chứ đừng ngồi đó mà than thở.
Sống với tấm lòng
nhân hậu và giản dị, luôn phải đối phó
với khó khăn của thiên nhiên và xã hội, người miền Tây thiên
về hành động thực tiễn hơn là lý luận bằng lời. Sự hào sảng không chỉ ở thái độ mà là việc làm không toan tính, cần thì làm ngay: mua vài tờ vé số là giúp người
bán có một bữa ăn, thấy việc sai trái thì “giữa đường thấy sự bất bằng chẳng
tha”. Nhưng hành xử cũng đầy lòng trắc ẩn: có xung đột thì luôn bênh vực người yếu thế trước, rồi “hạ hồi phân giải” phải quấy tính
sau. Lỡ “đụng độ” nhưng khi
đã tỏ tường phải trái thì “làm một ly” để bỏ qua, tha thứ, không “nhớ lâu thù dai” vì như vậy
ai chơi với mình? Hào sảng từ nội tâm nhờ không chất chứa hận thù, không nhỏ
nhen cố chấp.
Người miền Tây không
thích “làm màu”, cũng không thích tranh luận hơn thua. Trong câu chuyện thường
ngày, họ dùng tiếng cười để hóa giải mâu thuẫn, dùng cách nói nhẹ nhàng thân mật để khuyên răn nhau: “thôi, bỏ đi Tám” là xong, không để bụng. Hào sảng là
“biết quên” những điều nhỏ nhặt, giữ cho lòng nhẹ và tình người bền. Người miền
Tây nói năng thẳng thắn, thật bụng, không “vòng vo tam quốc” mà nghĩ sao nói vậy, “ghét nói ghét, thương nói thương”. Sự bộc trực ấy đôi
khi làm người nơi khác cho là “tự nhiên quá” hay “thiếu tế nhị”, nhưng thật ra
là sự chân thành không khách sáo. Cách nói trực diện, thẳng thắn cũng làm cho thế lực cường quyền “khó
chịu”, nhưng đó là sự thể hiện nghĩa khí trước uy
quyền. Hào sảng ở người miền Tây còn
là sự công bằng chính trực.
Miền Tây là nơi dừng chân sau cùng trong hành trình mở đất của người Việt. Những lớp cư dân đi khẩn hoang phải dựa vào nhau mà sống, giúp nhau lao động
sản xuất, đoàn kết chống thú dữ. Không chỉ vậy, họ còn phải hoà hợp với cư dân
bản địa, học kinh nghiệm làm ăn trồng trọt, đồng thời cởi mở trong giao lưu văn hoá. Sự
liên kết cộng đồng mạnh mẽ
đã tạo ra đặc trưng “văn hóa mở”: ai cũng được chấp nhận, ai cũng có thể bắt đầu tại đây, chấp nhận những điều mới mẻ, dám làm dám chịu, không sợ sai và sửa sai nhanh… Những khác biệt không bị phán xét
mà được dung nạp để rồi từ từ hoà nhập. Chính từ đó, hào sảng trở thành tính cách cộng đồng chứ không chỉ là một vài cá nhân. Tuy nhiên tính cách này kết tinh ở nhiều nhân vật
lịch sử đã trở thành đại diện cho người miền Tây.
Hào sảng làm nên hồn cốt và tâm thế tự do
của người Nam
Bộ
Tính cách hào sảng
của người miền Tây là kết tinh của đất – nước – người trải qua một quá trình lịch sử và vượt qua biết bao
thử thách từ thiên nhiên và hoàn cảnh xã hội. Sự hào sảng giúp kết nối những
con người một cách chân thành, tạo nên sức mạnh giúp họ đi
qua khó khăn, giữ được niềm vui sống và lan tỏa tình yêu cuộc đời. Nếu người Bắc nổi tiếng cẩn trọng,
người Trung kiên cường, thì người Nam – đặc biệt là miền Tây – luôn được nhớ đến bởi sự phóng khoáng, hào sảng, “làm chết bỏ, chơi tới bến”. Hào sảng không chỉ là tính cách mà là một triết lý: sống nhẹ nhàng, sống chân thành, sống
chia sẻ. Một cộng đồng
hào phóng sẵn lòng cho đi và đón nhận, luôn tin vào tình nghĩa “bà con mình”.
Ở nơi cuối sông cùng đất, miền Tây Nam bộ như đứa con út của dòng Mê Kong và dải đất chữ S kéo dài khó nhọc. “Giàu con út khó con út”, chấp nhận số phận và ứng phó linh hoạt để tồn tại nhưng không bi lụy không hạ mình, luôn chính trực và hào sảng, khi còn giữ được những phẩm chất đó thì người miền Tây còn giữ được cho mình một tâm thế tự do như ông cha mình trước đây!
NƠI ẤY QUÊ NHÀ
Tản văn, Nguyễn Thị Hậu
Nhớ quê
Tuổi càng về chiều người ta càng muốn “quy cố
hương” bằng cách hồi tưởng về ký ức thời
còn ở quê, hay là kỷ niệm mỗi lần về quê. Mà nguyên cớ để những hồi ức trở về
thì không thiếu.
Trên những con đường ta qua bất cứ gì nhìn thấy
đều như giọt nước rơi vào cái ly “nhớ quê” để rồi một ngày sẽ có giọt nước làm
tràn ly, nỗi nhớ vỡ òa, không thể không nói ra không kể lại không trải ra trên
trang giấy trên màn hình máy tính.
Một lần đi trên đường phố Quận Cam, nhìn thấy mấy
tàu chuối vươn khỏi tường rào vẫy vẫy trên hè phố, bỗng nhớ nhà da diết dù chỉ
mới xa nhà hai ngày trong đó có gần 20 giờ trong chuyến bay dài. Hỏi bạn, ở đây
trồng nhiều chuối không? Bạn như hiểu, trả lời: chị thấy nhà ai mà trồng bụi
chuối thì gần như chắc chắn là nhà người Việt mình. Ừ càng đi xa lại càng muốn
lưu lại chút gì của quê hương bên mình.
Bụi chuối sau hè, hồi nhỏ là sự sợ hãi mỗi tối
khi phải ra đó vì một lý do mà ai cũng như ai J, là niềm vui khi thấy bắp hoa bắt đầu kết
thành buồng bé xíu xinh xinh, lớn dần lên, rồi từng nải trái già căng, mẹ chặt
mang vô dựng trong bếp gần khạp gạo. Vài bữa khi trái hườm hườm, nải chuối ngon
nhất, đẹp nhất được cha đặt lên bàn thờ ông bà, thắp nén nhang trước là lấy thảo
sau là lấy hơi ấm cho cả nải chín đều. Bữa cơm Nam bộ ít khi thiếu vài trái chuối
sứ, từ con nít đến bà già đều quen với chén cơm chan nước cá kho thịt kho ăn với
chuối chín. Nhà có đàn bà sanh nở luôn có buồng chuối chín dần, canh chuối sứ
nêm chút muối chút đường là món ăn lợi sữa rất lành và cũng rất rẻ tiền, dễ kiếm.
Giữa buổi mà đói, có chén chè chuối hay cái bánh chuối chiên thì không còn gì bằng.
Một người bạn, có lần đi đâu đó đến tận bờ biển
Mexico xa xôi, nhắn về: trời ơi, tui như
đang ở bãi biển quê mình, cũng hàng dừa đong đưa trong gió chiều, cũng mùi thơm
của mực tươi cá tươi, của ốc của sò nướng trên than hồng, cũng mấy trái khóm
trái chuối mà mấy bà đội cái thúng trên đầu mang bán… nhớ nhà quá trời… Bạn
đã hơn 30 năm sống ở nước ngoài, đã tự coi mình như một người Tây “chánh hiệu”,
vậy mà chỉ mùi thơm khói bếp than cũng làm bạn bần thần rồi quyết tâm “tết này
sẽ về nhà” dù ở quê nhà bạn chẳng còn ai cả.
Ở xa thì vậy, còn ở gần thì sao? Quê tôi ở miền
Tây, một năm cũng vài lần về tết nhất giỗ chạp, chưa kể đi công việc. Sáng đi tối
về hay đi vài ngày, đi xe đò, đi xe riêng, hồi trước còn chạy xe gắn máy nữa… vậy
mà lần nào trở lên thành phố cũng bồi hồi (người miền Tây hay gọi Sài Gòn là
“thành phố”, lên thành phố, ở thành phố mới dìa…). Nhớ từ tiếng gà trưa nhớ đến chùm mận bên
chái bếp, nhớ từ bờ mương thoảng tiếng cá quẫy trong vườn đến mùi khói bếp lò
trấu lúa mới… Mỗi lần về đám giỗ là “quảy” lên nào thịt kho tàu, thịt ram, tôm
rang nước dừa, nào dừa xiêm nào xoài nào dưa hấu. À, có ai còn nhớ món bắp đùm
thơm mùi nước dừa lá dứa không? Gần nhà ngoại tôi có lò nấu bắp và hấp bắp đùm,
khi tôi chuẩn bị ra về là cô em dâu tất tả chạy ra lò xách về mấy chục bắp mới
nấu nóng hổi “chị bỏ theo xe lỡ tụi nhỏ đói thì ăn”.
Trên đường miền Tây rất dễ nhận ra “người miền
Tây” trên những chiếc xe máy trước sau ràng buộc túi xách ba lô, người chạy xe
hay người ngồi sau đều mặc áo khoác giữa ngày nắng như đổ lửa, là để không bị
trúng nắng, trúng gió. Mùa tháng chạp gió chướng trên xe còn có mấy giỏ bánh mứt,
người vợ ngồi sau cầm bó vạn thọ gói bằng mấy tàu lá ló ra chùm bông vàng rực rỡ,
đúng là vợ chồng chở nhau về nhà ăn tết
với ông bà. Lúc quay lên thành phố thế nào cũng có máng ở móc xe mấy đòn bánh
tét nhưn đậu nhưn chuối.
Dọc đường
gặp quán cà phê nào ưng ý thì ghé vô, ngả lưng trên những chiếc võng treo tong
ten. Bạn có thể nằm đó thật lâu, dù chỉ kêu một ly cà phê ngọt như chè hay một
trái dừa xiêm thanh mát, đung đưa dưới ánh nắng xuyên qua tàu lá dừa trên cao,
ngó dàn bông giấy đỏ trắng tím vàng rực lên ngoài cửa quán, nghe hết những CD
nhạc “sến” mà cô chủ quán luôn lẩm nhẩm hát theo, những "nếu lỡ chúng mình hai đứa xa
nhau...", với "tình đẹp mùa chôm chôm" rồi sang "cây trứng
cá" rồi lại đi đào ao thả cá gì đấy... lời ca giai điệu của chôm chôm với trứng
cá với cây cầu dừa với rau đắng sau hè, rồi phút cuối với sầu tím thiệp hồng,
ai khổ vì ai... các kiểu cây trái các kiểu dối lừa đau lòng hờn dỗi, các kiểu
chim sáo mồ côi hay chim trắng cô đơn...
Sến là thế đấy nhưng cam
đoan khi bạn rời quán tiếp tục lên đường, bạn sẽ thấy cuộc đời không cần gì hơn
thế nữa!
Một lần ngồi trong quán ven đường như thế, ngó
ra hồ sen bát ngát phía sau quán, nghe hương sen vấn vít, nôn nao theo lời ca Lâu nay muốn qua thăm em nhưng ngại vì cầu
tre lắc lẻo… Ờ mà nhà quê giờ nhiều cầu tre lắt lẻo đã thay
bằng cầu bê tông, vẫn cheo leo nhưng chắc chắn hơn. Đám cưới qua cầu, chú rể dắt
tay cô dâu còn cô dâu tay nâng váy dài mà không còn phải cầm đôi giày đi chân
không qua cầu khỉ. Bọn trẻ con không còn cơ hội hò reo khi ai đó lỡ trợt chân
té xuống kinh rạch, các bà già trầu không phải chép miệng an ủi: đám cưới mà “gặp
nước” như vầy là hên lắm nghen.
Nỗi nhớ quê chỉ giản đơn như hương tóc mạ non mà sao khi Tháng ngày tuổi đời trôi theo níu chân nhau,
bạc thêm mái đầu… với quê hương ta vẫn biết “tình mình dù ngăn cách sông chớ đâu cách lòng, mỗi lần nhớ nhau sao nghẹn
lời…”.
Vọng cổ
trưa
Đã bao lâu rồi mình chưa nghe một câu vọng cổ ở
Sài Gòn, cái nôi của nghệ thuật cải lương? Tôi đã tự hỏi như thế khi bất chợt
nghe thấy giọng ca Lệ Thủy ngọt ngào chân chất vang lên trong một trưa hè đứng
nắng giữa bạt ngàn xanh miệt vườn Nam bộ.
“Hỡi cô đi bán đèn hồng, đèn hồng cô bán má hồng cô bán
không… Đèn hồng đã có người mua, má hồng thì đã nắng mưa phai rồi…”
Có lẽ không ở đâu mà một loại hình nghệ thuật lại
có sức sống bền bỉ, gắn bó sâu đậm và được người dân yêu thích như cải lương ở
Nam bộ. Ra đời mới khoảng gần 100 năm nhưng cải lương đã trở thành “máu thịt” của
người Nam bộ, vượt qua những năm kháng chiến chống Pháp bị coi là “ướt át ủy mị”,
vượt qua thời gian dài chia cắt Bắc – Nam… Từ sau 1954 ở miền Bắc ngoài Đoàn Cải
lương Nam bộ tập kết còn có hàng chục đoàn “cải lương bắc” của các tỉnh. Thời kỳ
sau 1975 khó khăn cùng cực mà sân khấu cải lương vẫn có những vở diễn trở thành kinh điển… Nhưng
cho đến hôm nay thì nhiều người vô Sài Gòn, về miền Tây đã phải hỏi thăm “sân
khấu cải lương Nam bộ đâu rồi? còn không?”
Ừ nhỉ, từ bao giờ sân khấu cải lương thành phố
không còn nhộn nhịp sáng đèn? những “thánh đường” của Cải lương Sài Gòn đâu rồi?
Rạp Aristo hay còn gọi là Trung ương Hý Viện, rạp Hưng Đạo, Olimpic, các rạp Nguyễn Văn Hảo, Thanh Bình, Hưng Đạo, Quốc
Thanh, Khải Hoàn, Thành Xương, Hào Huê, Cao Đồng Hưng, Thủ Đô, Huỳnh Long, Quốc
Thái, Cây Gõ… bây giờ đã biến thành gì? Các đoàn cải lương nổi tiếng như Kim
Chung, gánh hát Nam Phi của bầu Năm Phỉ, gánh cải lương tuồng Tàu Phụng
Hảo của bầu Nhơn-Phùng Há, gánh Việt Kịch Năm Châu của ông bầu Năm Châu. Đoàn cải lương Kim Thanh-Út Trà Ôn, đoàn Thanh
Minh – Thanh Nga, các đoàn Sài Gòn 1,2,3, Hương Mùa Thu, cải lương tuồng cổ Huỳnh
Long…còn ai nhớ đến…?
Thế hệ nghệ nhân “khai sáng” sân khấu cải lương
như các nghệ sĩ Năm Châu, Phùng Há, Ba Vân, Út Trà Ôn… đã không còn nữa, “thế hệ
vàng” của các nghệ sĩ Bạch Tuyết, Lệ Thủy, Ngọc Giàu, Thanh Sang, Minh Vương, Mỹ
Châu… cũng đã từ biệt sân khấu, lớp nghệ sĩ kế tiếp cũng bị mai một: người ra
nước ngoài định cư, người ở lại chuyển sang tấu hài diễn kịch đóng phim lập gia
đình bỏ nghề… Có ai nhớ được tên một nghệ sĩ cải lương nào thuộc thế hệ thứ tư
không…?
Vậy nhưng cuộc thi “Bông lúa vàng” của Đài tiếng
nói nhân dân TPHCM vẫn thu hút hàng ngàn lượt thí sinh tham gia, đủ lứa tuổi đủ
nghề nghiệp, sống ở thành phố hay ở tỉnh vẫn say mê thuộc nằm lòng nhiều bài bản
cổ… Những chương trình ca cổ theo yêu cầu vẫn luôn nhận được hàng ngàn lời đề
nghị, lời nhắn gửi… của người yêu gửi cho người yêu, con gửi tặng ba má, bạn gửi
cho bạn, của trò gửi tặng thầy… Người Nam bộ vẫn yêu cải lương và coi nó như
cách tỏ bày tình cảm một cách chân thành và thoải mái nhất. Trong các quán
karaoke, “hát với nhau” không bao giờ thiếu những bài ca tân cổ giao duyên – một
sự “cải biên” để thích nghi với đời sống thị thành hồi thập niên 1970 của cải
lương. Và người Sài Gòn, người miền Tây luôn sẵn sàng ca một, hai câu vọng cổ
khi bạn bè yêu cầu. Dù là karaoke nhưng khi hạ giọng “xuống xề” người ca vẫn nhận
được những tràng pháo tay giòn giã của bạn bè. Chèo ở miền Bắc, hát bài chòi
hay hát bội ở miền Trung có lẽ phải “ganh tỵ” với cải lương về hiện tượng này!
Gần đây Đờn ca Tài tử Nam bộ được Unesco vinh
danh là Di sản văn hóa Phi vật thể của thế giới. Nhiều di sản văn hóa phi vật
thể được công nhận khi chúng đã và đang có nguy cơ biến mất, biến dạng bởi những
làn điệu lời ca mộc mạc chân chất không còn chỗ trong quay cuồng đời sống hiện
đại, bởi con người không có sự hiểu biết đầy đủ để quý trọng và gìn giữ nó. Khi
đó di sản văn hóa mới được vội vã “bảo tồn”. Một ngày nào đó có thể Cải lương
cũng được vinh danh như thế… Lẽ nào sẽ
có một ngày Sài Gòn, Nam bộ không còn cải lương?!
Miệt vườn vẫn lướt qua xanh ngát ngoài kia, nắng
đứng bóng tiếng gà trưa vẫn eo óc ngoài kia, giọng ca Lệ Thủy vẫn ngọt ngào quyến
rũ trong bản vọng cổ trưa buồn như tiếng thở dài…
Đường về quê
Đường về miền Tây từ TP. Hồ Chí Minh mới vài năm gần đây có đoạn cao tốc từ
Bình Chánh đến Trung Lương, còn lại gần như toàn tuyến vẫn chật hẹp dù đã giải
tỏa mở rộng thêm nhưng mỗi bên cũng chỉ có 2 làn xe hơi. Xe máy nhiều quá đành
đi vào làn đường xe hơi, nguy hiểm vô cùng. Có vài đoạn đường tránh nhưng lưu
lượng xe ở quốc lộ Một vẫn không giải tỏa được bao nhiêu. Không hiểu sao đã bao
nhiêu năm mà đường miền Tây vẫn “kiên trì độc đạo”?
Ngày nào cũng vậy, từ sáng tới khuya đường miền Tây lúc nào cũng nườm
nượp xe cộ. Trạm dừng chân sáng đèn suốt đêm, hàng quán nơi thị tứ luôn thức
khuya dậy sớm. Dưới những con sông, kinh rạch cắt ngang đường lộ có lúc nào im
tiếng ghe máy ngược xuôi…
Từ Sài Gòn về các tỉnh miền Tây có bao nhiêu cây cầu? Chắc không ai biết
hết. Cũng mới vài năm nay nhiều cây cầu đã được xây mới, xây thêm cầu đôi để
ngày thường tránh nạn kẹt xe nhưng vào dịp lễ tết thì vẫn ùn ứ ở những “|nút thắt
cổ chai” hai bên đầu cầu. Chỉ riêng con đường vô thành phố Cao Lãnh từ quốc lộ
Một rẽ ngã ba An Hữu khoảng 30km đâu đã hơn 20 cây cầu, hồi “thế kỷ trước” toàn
cầu sắt lót ván gập ghình, xe “bò” qua cầu và hành khách phải xuống đi bộ, chú
lơ xe còn phải vác theo tấm ván lót những đoạn ván cầu bị mục. Nay cầu đã được
xây bằng bê ton, đường trải nhựa ngon lành, thời gian qua đoạn đường này rút lại
chỉ hơn một tiếng đồng hồ thay vì nửa ngày như trước.
Đường miền Tây vào mùa Tết đẹp nhất vì nhà nào cũng có vài cây mai, có
khi cả một vườn mai nở vàng rực. Cây mai như người bạn của mỗi gia đình miền
Tây, rằm tháng Chạp lặt lá để Tết nở hoa, nhìn mai nở biết người thân sắp về ăn
tết. Nhìn mai rụng biết người thân sắp rời nhà đi thành phố… Cây mai trồng
trong sân vườn nhưng người miền tây ít khi chặt cành mai vô chưng trong nhà mà
để mai nở tự nhiên ngoài vườn. Cũng giống như ở vùng núi phía miền Bắc, đào, mận
trồng trước nhà, mùa xuân nở hoa hồng hoa trắng đẹp vô cùng. Vùng thôn quê miền
Bắc ít thấy trồng đào phổ biến như nông thôn Nam bộ trồng mai.
Mỗi lần về quê thấy con sông Cao Lãnh ngày càng cạn hẹp dù đã được kè bờ
(má vẫn kể ngày xưa sông rộng tàu lớn còn đi về tận Nam Vang), thấy khu đất nền
nhà ông cố bây giờ thành những dãy nhà phố đông đúc, nhớ hồi đó nhà máy xay gạo
của ông ngoại với đống trấu đống tro cao ngang mái nhà sàn của ngoại. Trong nhà
sàn gian giữa có dãy bàn thờ mà ngày giỗ ngày tết, bà ngoại, má và mấy dì mấy mợ
chỉ lo cúng cơm ở đó cũng hết ngày. Nét xưa nay không còn nữa…
May mà còn những cây mai vàng khoe sắc rực rỡ trong sân nhà cậu Út để mỗi lần về
lại nhận ra, dù sống ở đâu thì trong mỗi người vẫn luôn còn đó một quê hương…
Làm bà
Mình có thêm một cháu ngoại. Một đứa trẻ bé xíu bước vào cuộc đời, và cùng với cháu, mình tiếp tục làm bà lần nữa, nhưng cảm giác vẫn n...
-
(Bài phát biểu của Giáo sư Trần Quốc Vượng tại Hội nghị bàn về phương hướng xây dựng giáo trình Lịch sử Việt Nam và Lịch sử Văn hóa Việt N...
-
Một người bạn fb bất ngờ ra đi. Post bài thơ rất hay của bạn. Tôi biết Cao Hải Hà qua mạng Yahoo blog và sau là FB. Vài lần gặp Hà ở chỗ ...
-
(Bắt chước tựa “Nhân trường hợp chị thỏ bông” một tản văn nổi tiếng của Thảo Hảo/ Phan Thị Vàng Anh 😊 ) Đây là m ột cuốn sách đang g...

