Hiển thị các bài đăng có nhãn bảo tàng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bảo tàng. Hiển thị tất cả bài đăng

BẢO TÀNG TRONG MỘT THÀNH PHỐ ĐANG LỚN LÊN

 https://tcdulichtphcm.vn/suy-ngam/bao-tang-trong-mot-thanh-pho-dang-lon-len-c8a114280.html

Nguyễn Thị Hậu

1.

Một buổi sáng cuối tuần, tôi gặp một nhóm sinh viên đứng trước cổng một Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh. Thấy các em đang tranh luận nên vào bảo tàng nào để tìm hiểu về lịch sử Sài Gòn, bất chợt tôi tự hỏi, nếu có một người bạn mới đến thành phố, tôi sẽ giới thiệu cho bạn đi xem bảo tàng nào để có thể hình dung tương đối đầy đủ hành trình lịch sử và văn hóa của thành phố? Câu hỏi tưởng đơn giản nhưng hóa ra không dễ trả lời.

TP.HCM hiện có một hệ thống bảo tàng đa dạng và phong phú, bao gồm 9 Bảo tàng công lập thuộc Sở Văn hóa và Thể thao TP. Một số bảo tàng thuộc sự quản lý của một số ngành khác, một số Di tích lịch sử có thể coi là bảo tàng tại chỗ như Dinh Độc Lập, Địa đạo Củ Chi, Di tích khảo cổ Giồng Cá Vồ... Ngoài ra còn có các bảo tàng ngoài công lập như Bảo tàng Y học, Bảo tàng áo dài, Bảo tàng Phở, Bảo tàng vũ khí cổ, Bảo tàng gốm sứ Minh Long... 

Tuy nhiên, nếu muốn biết về khảo cổ học, có một nơi. Muốn tìm hiểu về cuộc kháng chiến, có một nơi khác. Muốn biết về phụ nữ Nam bộ, về mỹ thuật hay áo dài, lại phải đến những địa chỉ khác nữa... Chưa kể hiện nay khi mở rộng không gian gồm cả Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, TP.HCM không còn được nhìn nhận đơn thuần như một đô thị trung tâm mà đang dần mang dáng dấp của một "siêu đô thị" với nhiều cực phát triển. Vậy làm thế nào để người dân và du khách có thể tìm hiểu về một “siêu đô thị” khi mà các bảo tàng còn phân tán về không gian và thiếu tính kết nối, vẫn vận hành theo mô hình truyền thống “khép kín”, thiên về trưng bày hiện vật hơn là kể chuyện và diễn giải hiện vật, dẫn đến sự rời rạc trong cách tái hiện lịch sử và mờ nhạt về văn hóa thành phố?

2.

Bảo tàng không chỉ là nơi cất giữ hiện vật. Điều công chúng tìm kiếm khi bước vào bảo tàng hôm nay là những câu chuyện. Họ muốn hiểu vì sao một hiện vật tồn tại, nó liên quan gì đến cuộc đời của những con người đã sống trên mảnh đất này và nó còn có ý nghĩa gì đối với hiện tại. Đó cũng là lý do nhiều bảo tàng trên thế giới đang thay đổi cách tiếp cận. Họ không còn xem bảo tàng là một tòa nhà khép kín mà là một phần của đời sống đô thị. Những khu phố cũ, bến cảng, chợ truyền thống, làng nghề hay không gian cộng đồng đều có thể trở thành những "phòng trưng bày" mở rộng của thành phố.

Sài Gòn vốn có lợi thế đặc biệt để làm điều đó. Ít nơi nào có một hệ thống ký ức đô thị phong phú như thành phố này. Từ những con hẻm cũ ở Chợ Lớn, các khu cư xá hình thành từ giữa thế kỷ XX, những làng nghề ven sông cho đến các khu công nghiệp hiện đại ở Bình Dương hay không gian biển của Vũng Tàu, tất cả đều kể những câu chuyện khác nhau về quá trình hình thành và phát triển của một vùng đất năng động nhất cả nước. Hiện nay người xem có thể đến nhiều bảo tàng nhưng vẫn khó nhìn thấy bức tranh toàn cảnh của thành phố. Mỗi nơi kể một phần lịch sử, nhưng thiếu một sợi dây kết nối để từ những mảnh ghép riêng lẻ ấy hiện lên diện mạo chung của siêu đô thị mang tên TPHCM.

Có lẽ đã đến lúc nghĩ về hệ thống bảo tàng như một mạng lưới thay vì những địa chỉ độc lập. Trong mạng lưới ấy, TP.HCM sẽ là nơi kể câu chuyện trung tâm về bản sắc đô thị; Bình Dương có thể kể câu chuyện công nghiệp hóa và các làng nghề; Bà Rịa - Vũng Tàu kể về biển, cảng thị và những cuộc giao lưu quốc tế. Mỗi địa phương giữ một phần ký ức riêng nhưng cùng góp vào một câu chuyện lớn hơn về vùng đất Đông Nam bộ đang chuyển mình mạnh mẽ. Và khi đó, bảo tàng sẽ không còn chỉ nằm sau những cánh cửa trưng bày.

Chợ Bến Thành, Chợ Bình Tây, những khu phố cổ, những xóm nghề ven sông hay các không gian sinh hoạt cộng đồng cũng có thể trở thành những "bảo tàng sống" của thành phố. Ở đó, di sản không nằm trong tủ kính mà hiện diện trong nhịp sống hàng ngày của cư dân. Từ đời sống hình thành các bảo tàng chuyên đề (Thematic Museums) được tổ chức theo các trục nội dung riêng biệt như nghệ thuật, chiến tranh, di cư, hay kinh tế đô thị... Mỗi bảo tàng tập trung vào một trọng tâm để tránh trùng lặp và tạo chiều sâu trong diễn giải các hiện vật và sự kiện lịch sử.

Đặc biệt, trong thời đại số thì một Bảo tàng số (Digital Layer) là cực kỳ quan trọng. Nó đóng vai trò kết nối toàn bộ hệ sinh thái thông qua bản đồ di sản, công nghệ thực tế ảo (AR/VR) và cơ sở dữ liệu mở. Đây không chỉ là công cụ hỗ trợ mà là một lớp hạ tầng thiết yếu, cho phép mở rộng trải nghiệm và tiếp cận công chúng mới.

3.

Cuối cùng nhóm các em sinh viên vẫn vào tham quan bảo tàng đó và cùng hẹn nhau tuần tới sẽ đi đến các bảo tàng khác. Tôi rất mừng vì các em không “bỏ cuộc” trong hành trình tìm về quá khứ của nơi các em được sinh ra và lớn lên. Với một lớp trẻ ham hiểu biết như vậy, bảo tàng càng cần trở thành một thiết chế văn hóa có trách nhiệm cao hơn với thế hệ tương lai.

Tôi nhớ những chuyến đi của tôi đến nhiều thành phố trên thế giới. Đến đâu tôi cũng tham quan các bảo tàng, bởi vì một thành phố lớn là nơi có nhiều bảo tàng mang lại cho người dân và du khách những hiểu biết về lịch sử - văn hóa của thành phố và của quốc gia. Đến với bảo tàng không chỉ để được biết về quá khứ, mà còn có thể hiểu thành phố đó đang và sẽ phát triển như thế nào.

Trong cách hiểu truyền thống bảo tàng như một thiết chế độc lập gắn với một tòa nhà và bộ sưu tập hiện vật cụ thể. Ngày nay trong bối cảnh đô thị hiện đại các thiết chế này dần bộc lộ những giới hạn. Xu hướng chuyển từ mô hình “bảo tàng như thiết chế” sang “mạng lưới bảo tàng”, trong đó bảo tàng là nơi lưu giữ và trưng bày hiện vật, đồng thời giữ vai trò kết nối giữa không gian xã hội, cộng đồng và công nghệ. Việc phát huy giá trị di sản thông qua hệ thống bảo tàng đòi hỏi một cách tiếp cận mới, vượt ra khỏi khuôn khổ hành chính và hướng tới mô hình hệ sinh thái đa trung tâm, thích ứng với thực trạng của TP HCM hôm nay và trong tương lai.

 


 

 

 

NGÀY BẢO TÀNG THẾ GIỚI 18/5 Bảo tàng: Gìn giữ bản sắc, kết nối cộng đồng

https://www.sggp.org.vn/bao-tang-gin-giu-ban-sac-ket-noi-cong-dong-post795722.html

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, bên cạnh vai trò gìn giữ bản sắc, truyền thống, đồng thời quảng bá lịch sử - văn hóa ra thế giới, hệ thống bảo tàng TPHCM cần phát huy vai trò lưu giữ và “làm sống lại” di sản văn hóa, kết nối giữa di sản - cộng đồng - du lịch - đô thị, tạo không gian sống nhân văn, thân thiện, góp phần phát triển đô thị bền vững.
Ngay từ khi ra đời hệ thống bảo tàng đã có vai trò đặc biệt: bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa bằng công tác lưu giữ và bảo quản hiện vật, gìn giữ giá trị di sản một cách có hệ thống và khoa học; nghiên cứu và phục dựng lại lịch sử, đời sống và văn hóa qua các giai đoạn khác nhau; thông qua trưng bày và hoạt động giáo dục, bảo tàng giúp nâng cao nhận thức cộng đồng về di sản văn hóa, đặc biệt là với thế hệ trẻ. Chính vì thế, từ năm 1977, ngày 18-5 hàng năm đã được chọn là Ngày Quốc tế Bảo tàng.
Trong quá trình hiện đại hóa, hệ thống bảo tàng còn là một không gian văn hóa công cộng, giúp kết nối cộng đồng và nâng cao chất lượng sống của đô thị. Bảo tàng kết hợp với các nhóm cộng đồng để thu thập hiện vật gắn liền những ký ức đô thị và câu chuyện di sản, tổ chức sự kiện về chính những di sản vật thể và phi vật thể mà cộng đồng lưu giữ hay sở hữu… giúp người dân nâng cao ý thức về di sản đô thị, từ đó gắn bó và tự hào với đô thị. Đặc biệt là bảo tàng gắn với di tích hoặc khu di sản đô thị có thể trở thành điểm nhấn trong không gian đô thị, thúc đẩy phát triển đô thị song song với bảo tồn và khai thác hợp lý di sản đô thị.
TPHCM - một trong những đô thị lớn nhất Việt Nam - đang đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình phát triển hiện nay: đô thị hóa quá nhanh làm mất mát di sản văn hóa, áp lực môi trường và giãn cách văn hóa giữa các thế hệ... Trong bối cảnh đó, hệ thống bảo tàng trở nên quan trọng trong việc bảo tồn bản sắc, kết nối cộng đồng, và hướng đến phát triển đô thị bền vững.
TPHCM có hệ thống di sản đô thị phản ánh lịch sử từ thời tiền sử đến thời kỳ cách mạng, hiện diện bằng nhiều loại hình kiến trúc, công trình có giá trị cao. Tuy nhiên, không ít công trình, địa điểm có giá trị đang bị thay thế bằng các cao ốc, hoặc xuống cấp do công tác bảo tồn chưa hiệu quả. Các bảo tàng ở thành phố có thể trở thành trung tâm “kể chuyện đô thị” thông qua chủ đề, nội dung trưng bày của mình, giúp người dân hiểu được quá trình hình thành và phát triển của thành phố qua từng thời kỳ. Nhưng, dù có thể được tăng cường bằng các phương tiện hiện đại, thì nếu các bảo tàng vẫn giữ quan niệm cũ, xem đây chỉ là nơi lưu trữ và trưng bày các sưu tập hiện vật, bảo tàng vẫn sẽ chỉ là không gian “đóng kín”.
Để có thể thực sự mở rộng, trở thành nơi gắn kết cộng đồng trong đô thị, hệ thống bảo tàng có thể tăng cường các hoạt động đa dạng như giáo dục, sinh hoạt cộng đồng, kể chuyện lịch sử... Ngoài ra, việc xây dựng những “bảo tàng mini” của cộng đồng hay tư nhân tại những khu dân cư cũ, khu đô thị mới, khu tái định cư sẽ giúp người dân gắn bó với lịch sử địa phương, lịch sử cộng đồng, hạn chế tình trạng “mất kết nối” giữa các thế hệ. Điều này còn tăng tính kết nối giữa bảo tàng của nhà nước với bảo tàng cộng đồng, tăng tính bền vững văn hóa cho đô thị.
TPHCM là trung tâm du lịch lớn nhất nước. Tuy nhiên, sản phẩm du lịch văn hóa chưa phong phú, chưa tạo ra chuỗi giá trị bền vững. Các bảo tàng có thể kết hợp với các công ty du lịch tạo ra hoặc phục dựng không gian di sản như chợ truyền thống, phố cổ, kênh rạch... để phát triển tour du lịch ký ức đô thị. Điển hình như dự án tuyến du lịch: Bảo tàng Lịch sử - Thảo Cầm Viên Sài Gòn - Dinh Độc Lập - Bảo tàng thành phố - chợ Bến Thành. Với những hoạt động như vậy, bảo tàng còn là nguồn lực quan trọng cho công nghiệp văn hóa.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, bên cạnh vai trò gìn giữ bản sắc, truyền thống, đồng thời quảng bá lịch sử - văn hóa ra thế giới, hệ thống bảo tàng TPHCM cần phát huy vai trò lưu giữ và “làm sống lại” di sản văn hóa, kết nối giữa di sản - cộng đồng - du lịch - đô thị, tạo không gian sống nhân văn, thân thiện, góp phần phát triển đô thị bền vững.
TS Nguyễn Thị Hậu
Tổng Thư ký Hội Sử học TPHCM






KHƠI THÔNG DÒNG DI SẢN TỪ BẢO TÀNG

 https://nguoidothi.net.vn/ve-can-tho-xem-cam-thi-46872.html 

Từ khi Luật Di sản Việt Nam ra đời (2001) đến nay hệ thống bảo tàng ngoài công lập với nhiều loại hình khác nhau đã dần dần hình thành. Hệ thống này có các loại hình bảo tàng về khảo cổ học (cổ vật...), dân tộc học, thiên nhiên, nghệ thuật, kỹ thuật, lịch sử (lịch sử chiến tranh…), con người, nhân vật và gia đình… Có một số bảo tàng mang tính chất tổng hợp, ở đó trưng bày về nhiều đối tượng/loại hình di sản khác nhau, tùy theo mối quan tâm riêng của nhà sưu tập.

Tuy nhiên từ nhiều năm nay, trong những chuyến khảo sát của tôi ở các tỉnh thành trong cả nước, tôi luôn nhận thấy một thực tế. Đó là,  số lượng bảo tàng ngoài công lập vẫn còn quá ít ỏi so với tiềm năng, trữ lượng những di sản văn hóa đang được nhiều cá nhân, cộng đồng lưu giữ hoặc sở hữu. Mỗi địa phương đều có các nhà sưu tập còn chưa “xuất đầu lộ diện”, mặc dù trong giới sưu tầm cũn

g như giới bảo tàng có thể đã rất “rành nhau”.

Gần đây nhất tôi có dịp đến thăm nhà sưu tập Nguyễn An Hà và Bảo tàng Cầm Thi tại thành phố Cần Thơ. Nhà sưu tập Nguyễn An Hà – tính về tuổi tác là thuộc thế hệ thứ ba những nhà sưu tập cổ vật ở Nam bộ - mà thế hệ đầu tiêu biểu là nhà văn hóa Vương Hồng Sển. Đây là thế hệ lớn lên sau ngày đất nước hòa bình thống nhất, có nhiều cơ hội tiếp cận nhiều nguồn tài liệu, hiện vật kể cả những tài liệu quân sự, chính trị mà do trong một thời gian dài, loại tư liệu hiện vật này chưa được đánh giá đúng giá trị lịch sử - văn hóa và khoa học. Điều này có thể nhìn thấy ở khối lượng lớn hiện vật đa dạng về loại hình và chất liệu, tính chất và niên đại... mà nhà sưu tầm Nguyễn An Hà đang lưu giữ.

Ngôi nhà anh ở có khuôn viên rộng rãi nên anh đã sử dụng một phần thành nơi trưng bày di vật thời chiến tranh: những lô cốt, công sự của lính Mỹ được phục dựng lại tỷ lệ 1/1 bằng vật liệu và hiện vật gốc như súng, đồ dùng sinh hoạt, các loại quân phục và trang thiết bị khác... Ngoài ra còn có ba chiếc xe tải lớn đã sử dụng trong chiến tranh cũng được anh đưa về trưng bày và bảo quản tại đây. Cũng trong khuôn viên này còn có những chiếc cổng xưa đúc bằng gang có chi tiết hoa văn độc đáo với phong cách trang trí thời Pháp. Đó là những chiếc cổng của các công trình nhà xưa, dinh thự nổi tiếng quanh vùng được anh sưu tầm từ rất sớm.

Trong ngôi nhà của anh Nguyễn An Hà nơi nào cũng như “kho hiện vật” mới tạm sắp xếp còn chưa kịp phân loại một cách có hệ thống theo chất liệu hay loại hình, niên đại. Anh giới thiệu với chúng tôi bộ sưu tập tranh của họa sĩ Thái Đắc Phong đã được trưng bày tại TP. Hồ Chí Minh trong không gian triển lãm De La Sot của nghệ sĩ Xuân Phượng – người được mệnh danh là “bà đỡ mát tay” đưa hội họa Việt Nam ra thế giới. Họa sĩ Thái Đắc Phong sinh sống ở miền Tây, ông từng hoạt động qua hai cuộc kháng chiến. Cơ may đưa anh Nguyễn An Hà gặp gỡ ông và từ đó, những bức tranh của ông nằm im nhiều năm nay được “sống dậy”, bước ra với người thưởng lãm, nhận được rất nhiều lời đánh giá cao từ các họa sĩ, các nhà sưu tập và công chúng. Qua cuộc triển lãm này Nguyễn An Hà cũng được nhìn nhận “là người gìn giữ ký ức và thời gian, qua công lao bảo tồn những di sản văn hóa nghệ thuật của một vùng đất”, vì anh không chỉ có trong tay sưu tập tranh của họa sĩ Thái Đắc Phong mà còn có tranh của một số họa sĩ nổi tiếng khác.

Cũng như một số nhà sưu tập phía Nam, anh Nguyễn An Hà cũng có những sưu tập hiện vật thời kỳ trước 1975 kéo dài đến thời bao cấp thập niên 1989 – 1990. Mấy chục két nước ngọt còn đóng nguyên chai nhãn hiệu phổ biến như Chương Dương, bia Con Cọp, những vật dụng xưa cũ khác như máy hát, xe honda, xe xích lô máy, máy may... Một “kho” áo dài xưa cùng hình chụp chủ nhân trong bộ quần áo đó... Một thời đã qua với những sinh hoạt đời thường bỗng “sống dậy” trong ký ức của bất cứ ai nhìn thấy những đồ vật quen thuộc này. Đặc biệt với người nghiên cứu văn hóa xã hội thì những tập báo và tạp chí cũ, trong đó có chồng Báo Xuân có hình bìa được các họa sĩ nổi tiếng ở Sài Gòn thể hiện, sưu tập các tờ rơi giới thiệu của các rạp chiếu phim... vô cùng hữu ích. Đó là các bộ báo quý hiếm như An Hà báo (của hai tỉnh An Giang – Hà Tiên thời chống Pháp), Gia Định báo, Nông cổ mín đàm... Từ sưu tập báo chí này, vào năm 2023 anh Nguyễn An Hà đã được Bảo tàng Báo chí Việt Nam mời dự Tọa đàm trưng bày “Chuyên đề báo Tết 1865 – 2000”.

Trong “kho mở” của nhà sưu tập Nguyễn An Hà còn có rất nhiều loại hình hiện vật khác: những bức hình chân dung cá nhân, gia đình, nhiều loại hồ sơ giấy tờ như các bản vẽ công trình trường học, nhà máy, dinh thự, kể cả bản vẽ thiết một đoạn đường xe lửa hay một dòng kinh xáng... Tất cả được anh Hà sưu tầm từ những chồng giấy tờ, hồ sơ bị bỏ đi, nhặt nhạnh từ dưới tầng hầm các tòa nhà bị đập bỏ để xây mới... cho thấy sự tinh tường của nhà sưu tập, sớm nhận biết giá trị độc đáo của những thứ “ve chai” và kiên trì lưu giữ. Nay những hiện vật đó đã trở thành một phần của lịch sử đời sống của thành phố Cần Thơ nói riêng và Nam bộ nói chung. Đó là chưa kể đến loại hình cổ vật. Nhìn một số “gốm Cây Mai” ở đây tôi đã phải hỏi ngay xem anh còn lưu giữ những gì nữa? Tiếc là phần lớn sưu tập này anh đã trao đổi để có kinh phí sưu tầm loại hiện vật khác. Đặc biệt anh còn có sưu tập tài liệu hiện vật của một số nhân vật thuộc lĩnh vực lịch sử quân sự. Gần đây anh cũng đã cung cấp cho một số nhà nghiên cứu về lĩnh vực này.

Có thể nói, hiện vật của nhà sưu tập Nguyễn An Hà mang tính tổng hợp nhưng đều được sưu tầm có chủ đích, vì vậy tuy chưa trưng bày “ra tấm ra món” nhưng anh đã có sự hiểu biết sâu sắc về từng sưu tập, thể hiện qua cách anh giới thiệu và trao đổi với chúng tôi. Dù Bảo tàng Cầm Thi chỉ mới phục vụ chủ yếu là khách tại khu du lịch sinh thái này, nhưng nội dung của bảo tàng – nếu được thể hiện bằng một hệ thống trưng bày có thể không lớn nhưng khoa học và chọn lọc – thì hoàn toàn có khả năng tiếp đón một lượng khách lớn hơn và đa dạng hơn.

Theo sự hiểu biết của tôi thì thực trạng sưu tầm, bảo quản và giới thiệu các sưu tập hiện vật tại Bảo tàng Cầm Thi của nhà sưu tập Nguyễn An Hà không phải là cá biệt. Tôi từng được tiếp xúc với những nhà sưu tập cũng có số lượng hiện vật rất lớn, theo nhiều chủ đề khác nhau, bằng nhiều chất liệu nhiều loại hình... Nhưng hiện nay vẫn chưa giới thiệu rộng rãi với công chúng.

Qua trao đổi với các anh chị chủ nhân sưu tập, điều đầu tiên có thể nhận biết là các nhà sưu tập có thể có nhiều loại hiện vật khác nhau. Sự phong phú của các loại hiện vật “thời đã qua” tôi tạm chia làm bốn chủ đề chính: 1/cổ vật, 2/hiện vật dân tộc học, 3/hiện vật thời chiến tranh, 4/hiện vật thời bao cấp. Mỗi chủ đề có nhiều nội dung khác nhau dựa vào việc phân chia chất liệu, loại hình... Có những hiện vật có thể nằm ở nhiều nội dung, hoặc thuộc về các chủ đề khác nhau. Sự đa dạng của hiện vật phản ánh sự đa dạng của đời sống xã hội ở mỗi một địa phương, vùng miền, thậm chí phản ánh cả những hiện tượng mà lịch sử chưa ghi chép.

Đây là điểm khác biệt đầu tiên so với các bảo tàng công lập – nơi thường có một chủ đề cơ bản là “truyền thống lịch sử” từ thời nguyên thủy đến hiện đại, mang tính khái quát. Vì vậy có sự trùng lắp về nội dung giữa nhiều bảo tàng địa phương. Còn ở các sưu tập cá nhân có thể trưng bày theo nhiều “câu chuyện” khác nhau, mang đến sự gần gũi và thân thiện hơn với người xem.

Thứ hai, đó là sự đam mê của các nhà sưu tập, đến mức có thể “hy sinh, đánh đổi” nhiều thứ khác để có bằng được những hiện vật quý hiếm hoặc yêu thích. Cơ chế tài chính cá nhân tạo điều kiện cho các nhà sưu tập linh hoạt trao đổi hay mua bán hiện vật, ngoài ra họ còn có không gian để lưu giữ, tạm thời bảo quản hiện vật ở mức tối thiểu. Nhiều nhà sưu tập dành phần lớn không gian sắp xếp hiện vật như “kho mở” theo từng chủ đề, đây là cách thức phù hợp nhất hiện nay để có thể giới thiệu các sưu tập hiện vật. Đồng thời cũng giúp các nhà sưu tập “kiểm kê” biết còn thiếu hay đã dư loại hiện vật nào có thể trao đi đổi lại. Từ đó khi xây dựng bảo tàng có thể lựa chọn trưng bày trước nội dung độc đáo, “không đụng hàng”.

Thứ ba. Để hình thành một bảo tàng thì ngoài số lượng hiện vật, chủ đề các sưu tập hiện vật thì nguồn gốc và niên đại hiện vật là những tiêu chí quan trọng. Không chỉ các cổ vật mới cần định tuổi mà các hiện vật khác cũng cần có một (khung) niên đại cụ thể (sản xuất vào thời gian nào), nguồn gốc rõ ràng (sản xuất, làm ra ở đâu), xuất xứ (tìm thấy, hoặc mua từ đâu). Tuy nhiên, có thể nói khá nhiều hiện vật trong các sưu tập chưa có thông tin này, hoặc có thể chủ nhân các sưu tập không tiết lộ. Tuy nhiên, hồ sơ hiện vật bảo tàng nếu thiếu nội dung này thì việc xác định giá trị hiện vật sẽ thiếu tính khoa học.

Thứ tư. Nhiều nhà sưu tập chỉ muốn trưng bày hiện vật như “kho mở” mà chưa mặn mà với việc thành lập bảo tàng tư nhân, thậm chí chưa muốn công khai sưu tập của mình. Có thể nhận thấy điều làm cho họ ngần ngại khi muốn thành lập bảo tàng là ở thủ tục hành chính, cùng với thái độ “không nhiệt tình” của cán bộ văn hóa địa phương. Nhiều nhà sưu tập và nhà nghiên cứu cho rằng, các điều khoản về điều kiện cho phép thành lập bảo tàng ngoài công lập như trong Luật Di sản văn hóa hiện nay quy định là chung chung, nhiều điều không thiết thực, bất cập, nặng về “quản lý” mà không thuận tiện cho cá nhân, cộng đồng tham gia hoạt động bảo tàng.

Gần đây ở nước ta đã có một số bảo tàng ngoài công lập gây được sự chú ý của cộng đồng bởi nội dung phong phú và hình thức trưng bày hiện đại, hấp dẫn. Khi một tư nhân hoặc tổ chức quyết định thành lập bảo tàng thì họ đã có số vốn lớn bằng hiện vật, cơ sở vật chất và sẵn sàng đầu tư xây dựng bảo tàng hiện đại, theo xu hướng phát triển kinh tế di sản. Làm thế nào để “khơi thông” nguồn vốn xã hội rất lớn này là một câu hỏi quan trọng mà các cấp quản lý ngành văn hóa cần phải tìm ra câu trả lời nhanh chóng.


 Nguyễn Thị Hậu. 


Một số bìa báo Xuân xưa trong bộ sưu tập của Nguyễn An Hà.



 

 

Cần cơ chế cho bảo vật hồi hương

 Báo Tuổi Trẻ ngày 9,11,2022

https://tuoitre.vn/can-co-che-cho-bao-vat-hoi-huong-20221109075211922.htm?fbclid=IwAR2WO09mv4Jcv5tzulqQjc9GfgeM0AEP9UhBqDTbGcaLws_sLICasAsHW-Y

Gần đây dư luận xã hội nói chung và giới nghiên cứu văn hóa, bảo tồn di sản nói riêng rất quan tâm đến việc một số cổ vật triều Nguyễn được thông báo bán đấu giá tại Pháp. Trong số đó, chiếc ấn vàng “Hoàng đế chi bảo” tới nay may mắn được “tạm hoãn” đưa ra sàn đấu giá và VN có thể thương lượng mua trực tiếp.

Đây không phải là lần đầu tiên dư luận xã hội quan tâm đến cổ vật VN đấu giá ở nước ngoài. Ở nước ta, giới sưu tầm cổ vật (và sưu tầm tác phẩm hội họa của các họa sĩ nổi tếng) vẫn thường xuyên theo dõi và tham gia các hoạt động này. Thời gian qua đã có những nhà sưu tầm “hồi hương” được một số cổ vật, tác phẩm hội họa của Việt Nam. Tuy nhiên, với các cổ vật như ấn vàng, bát vàng thuộc triều Nguyễn (hay trường hợp bức tranh của vua Hàm Nghi vài năm trước) thì việc “hồi hương” dù có ý nghĩa rất quan trọng vì giá trị nhiều mặt của chúng, nhưng thực tế rất khó khăn thậm chí bất khả thi.

Các cổ vật quý hiếm qua các phiên đấu giá thì giá cả rất khó lường, muốn chủ động tham gia đấu giá, kể cả việc “thương lượng mua” thì nhà nước cần có sẵn một khoản ngân quỹ dành riêng cho việc này. Thiết nghĩ đã đến lúc nhà nước cần lập Quỹ Di Sản văn hóa dành cho việc mua cổ vật từ nước ngoài và cả ở trong nước. Nguồn quỹ này từ ngân sách nhà nước là chủ yếu, có thể có sự đóng góp của xã hội, với mục tiêu mua lại cổ vật, bảo vật và lưu giữ, bảo quản, trưng bày tại các bảo tàng công lập.

Bên cạnh đó nhà nước cần có cơ chế, chính sách tạo điều kiện để các tổ chức xã hội ngoài công lập thành lập Quỹ Di sản từ nguồn đóng góp của tư nhân… Hiện nay tại nhiều tỉnh thành có “Hội sưu tầm cổ vật” của các nhà sưu tập tư nhân, họ đã có nhiều hoạt động phối hợp trưng bày hiện vật và biếu tặng hiện vật cho bảo tàng địa phương. Tuy nhiên, việc trao đổi, mua bán cổ vật chưa có một thị trường công khai, hợp pháp như các “sàn đấu giá” ở nước ngoài. Vì vậy rất khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin chính thức về những cổ vật, nhất là cổ vật quý hiếm đang được cá nhân lưu giữ trong nước. Điều này cũng làm hạn chế việc trao đổi, mua bán cổ vật giữa các nhà sưu tập với nhau và với bảo tàng nhà nước.

Xã hội hóa việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa không chỉ là kêu gọi, vận động xã hội đóng góp các nguồn kinh phí để trùng tu, tôn tạo di tích hay mua cổ vật, bảo vật “biếu tặng cho bảo tàng nhà nước”. Quan trọng hơn là cần ngay cơ chế chính sách cho tư nhân và tổ chức xã hội có thể tham gia các nguồn lực vào công cuộc này, bao gồm nguồn lực về tài chính, kinh nghiệm, tri thức, uy tín cá nhân... Nguồn “vốn xã hội” này cùng với bộ máy quản lý, chuyên gia của ngành văn hóa sẽ giúp cho việc quản lý di sản có hiệu quả hơn: từ xác định nguồn gốc, xuất xứ cổ vật, giám định chất lượng, định giá theo thị trường hay “giá sàn” để đưa ra đấu giá trong và ngoài nước, hay trường hợp tham gia đấu giá ở nước ngoài còn liên quan đến vấn đề pháp lýnâng cao tính minh bạch và khoa học. Đồng thời giảm thiểu việc mất mát cổ vật tại các di tích, ngăn ngừa hiện tượng “chảy máu cổ vật” ra nước ngoài.

Cổ vật, bảo vật được lưu giữ ở bảo tàng công cộng hay bảo tàng, sưu tập tư nhân đều có giá trị như nhau, việc phát huy giá trị của chúng đối với cộng đồng tùy thuộc vào hoạt động nghiên cứu, trưng bày giới thiệu như thế nào, bằng cách nào. Khi tính chất “hợp pháp” của cổ vật càng rõ ràng thì công chúng càng dễ dàng tiếp cận và thụ hưởng những giá trị của di sản văn hóa. Từ đó góp phần nâng cao ý thức, trở thành động lực để xã hội tích cực tham gia vào công cuộc bảo vệ di sản văn hóa.

 Hy vọng sắp tới đây, Luật Di sản văn hóa sẽ được cập nhật, bổ sung các điều khoản cụ thể tạo cơ sở pháp lý cho việc lập Quỹ Di sản công lập và ngoài công lập, các điều khoản hướng dẫn thực hiện việc “hồi hương” cổ vật VN ở nước ngoài. Sự hoàn thiện của luật pháp, sự đồng bộ giữa các cơ quan liên quan đến quản lý di sản văn hóa sẽ tạo ra môi trường thuận lợi để chính quyền, cộng đồng và xã hội cùng thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ đối với bảo tồn Di sản văn hóa quốc gia.

 

Nguyễn Thị Hậu

 


MỘT “BẢO TÀNG LÚA GẠO VIỆT NAM” – TẠI SAO KHÔNG?

https://doanhnhansaigon.vn/di-nghi-viet/nghi-ve-bao-tang-lua-gao-viet-nam-1111633.html?fbclid=IwAR10mVEIfc2AzciKS03Mx1qC6F0z0M1Xuq10lXb8kFf0KCmXCzg_ZMV2ccY

1.
VN nằm trong vùng Đông Nam Á là một trong những cái nôi của nghề nông sớm nhất thế giới. Dấu tích của nghề trồng trọt đã được tìm thấy trong các di tích thuộc nền Văn hóa Hòa Bình cách nay khoảng 10.000 năm. Từ thời kỳ này cư dân cổ đã biết thuần hóa rồi tiến tới trồng trọt các loại cây có củ và một số loại thực vật như bầu bí. Đông Nam Á cũng là nơi có giống lúa hoang Oryza Sativa sau này được thuần hóa và trồng trọt ở đây. Từ khoảng 4000 năm cách ngày nay, vùng trung du và đồng bằng sông Hồng trở thành địa bàn chính của nghề nông trồng lúa. Từ đó nông nghiệp lúa nước trở thành ngành kinh tế chủ đạo, góp phần quan trọng cho việc hình thành và phát triển nền văn minh nông nghiệp của người Việt cổ.
2.
Việc đặt ra vấn đề thành lập “Bảo tàng nông nghiệp Việt Nam” là vô cùng cần thiết và có ý nghĩa quan trọng. Với một bề dày lịch sử 4000 năm, văn minh nông nghiệp trồng lúa VN xứng đáng và cần phải có một bảo tàng riêng để có thể phản ánh một cách toàn diện và đa dạng các giống lúa và cây trồng từ xưa đến nay, các phương thức trồng lúa ở các vùng miền khác nhau trên đất nước: từ đồng bằng sông Hồng đến đồng bằng sông Cửu Long hay dọc dải đồng bằng nhỏ hẹp ven biển miền Trung. Từ miền núi, trung du phía bắc đến Tây nguyên… Mỗi vùng tùy theo điều kiện tự nhiên có những phương thức canh tác truyền thống khác nhau.
Trong quá trình người Việt đi về phía Nam cũng đã sáng tạo phương thức kỹ thuật mới, trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm cư dân tại chỗ và cải tiến kỹ thuật mang theo từ quê hương bản quán. Từ những phương thức canh tác khác nhau sẽ có những phức hệ kỹ thuật khác nhau: các loại nông cụ, cách thức sử dụng nông cụ ở mổi vùng miền, những kỹ thuật hỗ trợ như giống má, thủy lợi, phân bón… của nghề trồng lúa hay các cây trồng khác…
Ngoài trồng lúa Việt Nam còn là xứ sở của nhiều cây trồng khác nữa, vì vậy cũng cần được thể hiện trong Bảo tàng nông nghiệp Việt Nam. Từ khoảng cuối thế kỷ 19 nước ta còn có nghề trồng các cây công nghiệp do người Pháp du nhập vào (cao su, cà phê…) và từ nửa sau thế kỷ 20 phát triển các trang trại trồng cây ăn trái. Ở Nam bộ “văn minh miệt vườn” xuất hiện sớm, sản phẩm trồng trọt trở thành hàng hóa lưu thông rộng rãi trong nước, thậm chí ra nước ngoài chứ không chỉ mang tính chất tự cung tự cấp như trước nữa.
3.
Về ý tưởng thành lập “Bảo tàng lúa gạo Việt Nam”. Đây là một phần có thể được xây dựng và trưng bày trước khi Bảo tàng Nông nghiệp Việt Nam được xây dựng hoàn chỉnh. Nhưng cũng có thể là một bảo tàng riêng trưng bày riêng về lúa gạo – gạo – nếp… và những “sản phẩm sau thu hoạch” của nghề trồng lúa, đặc biệt là sản phẩm ẩm thực như cơm, xôi (nấu trong nồi, nướng trong ống tre, đồ xôi…), các loại bánh, bún, phở, nấu rượu… Gạo, nếp chế biến được rất nhiều món ăn vì vậy cách thức chế biến, vật dụng chế biến… cũng vô cùng phong phú, đa dạng theo vùng miền và theo thời gian. Có nhiều loại thức ăn trước đây chỉ dành cho những dịp đặc biệt nay phổ biến hàng ngày, nhưng cũng có nhiều món ăn cổ truyền đang có nguy cơ “biến mất” trong xã hội công nghiệp, do đó giá trị văn hóa “phi vật thể” như kỹ thuật chế biến, ý nghĩa của nó cũng mai một, thậm chí biến dạng…
Liên quan đến lúa gạo là công cụ chế biến lúa gạo và các nghề thủ công như nghề làm các loại cốm, bún, phở, bánh hỏi, các loại bánh… Rồi cách ăn các loại bánh (ví dụ cách làm bánh xèo miền Trung và Nam bộ khác nhau thế nào, những thứ rau ăn kèm, các loại nước chấm… các “biến thể” của bánh xèo là bánh khọt, bánh khoái chẳng hạn…). Hay về cách làm bánh chưng, bánh tét cũng đã là một nội dung vô cùng hấp dẫn của bảo tàng này. Đặc biệt là bao bì của các loại bánh đều từ các loại lá cây: “bao bì tự nhiên” thân thiện với môi trường.
Nói đến lúa gạo là nói đến văn hóa ẩm thực Việt Nam: có thể trưng bày về hệ thống đồ gốm dùng trong nấu nướng, ăn uống… hoặc các vật dụng chế biến bằng các chất liệu khác nhau từ truyền thống đến hiện đại… Rồi “cơ cấu” bữa ăn hàng ngày, bữa ăn có tính chất nghi lễ (đám giỗ, đám cưới, lễ hội…). Các nghi lễ, lễ hội đều có liên quan mật thiết với văn hóa ẩm thực.
4.
Tại Seoul (Hàn quốc) có một bảo tàng tư nhân, nhỏ thôi, trưng bày sản phẩm từ rơm rạ: các loại dép, áo, những đồ chơi của trẻ em, các vật dụng khác… thu hút khá nhiều khách tham quan. Nhiều du khách đến xem đã mua các sản phẩm “lưu niệm” bán tại bảo tàng. Bảo tàng về món Kim chi nổi tiếng cũng vậy: trưng bày quy trình trồng các loại rau, cách thu hoạch, cách làm các loại kim chi, cách chế biến món ăn từ kim chi, các loại đồ gốm liên quan… Tại đó còn có nhà hàng cho du khách thưởng thức các loại kim chi khác nhau, vô cùng phong phú. Trong các bảo tàng có trưng bày sản phẩm đồng thời chiếu phim về cách thức làm ra và sử dụng những sản phẩm ấy. Rất sinh động, hấp dẫn và làm cho khách tham quan nhớ lâu. Một cách thức giới thiệu, quảng bá về văn hóa Hàn Quốc rất có hiệu quả.
Ở VN có thể thành lập rất nhiều bảo tàng như thế, nhỏ thôi nhưng chuyên vào một chủ đề nhất định. Các doanh nghiệp mà sản phẩm hang hóa đã có thương hiệu, nếu làm bảo tàng về ngành nghề của mình thì sẽ tạo dựng được cả thương hiệu về văn hóa. Ví dụ bảo tàng cà phê , bảo tàng gốm sứ, hay bảo tàng về một (hoặc nhiều) món ăn nổi tiếng của Việt Nam…
Ở nhiều nơi trên thế giới, nhất là khu vực phục vụ du lịch, khi bán những đặc sản là nông sản, đều kết hợp trưng bày (một mức độ nhất định) về cách sản xuất, chế biến các loại sản phẩm. Điều này góp phần tạo được sự tin tưởng cho khách đến tham quan và mua sản phẩm, cũng đồng nghĩa với việc gìn giữ thương hiệu (chất lượng hàng hóa, thái độ phục vụ, chế độ hậu mãi…)
Luật di sản văn hóa VN đã quy định về loại hình bảo tàng tư nhân và điều kiện thành lập, tuy nhiên từ khi có Luật đến nay đã hơn 20 năm vẫn chỉ phổ biến việc trưng bày các sưu tập cổ vật tư nhân. Nếu các doanh nghiệp chú ý đến việc “lập bảo tàng” cho sản phẩm của mình thì sẽ có nhiều lợi ích: tăng cường quảng bá thương hiệu, lưu giữ lịch sử ngành nghề và tôn vinh vai trò doanh nhân. Tăng thêm giá trị văn hóa của sản phẩm, góp phần tích cực bảo tồn và quảng bá văn hóa Việt Nam, đồng thời làm cho bảo tàng phong phú hơn, “văn hóa bảo tàng” trở nên quen thuộc và phổ biến hơn trong đời sống xã hội.

Nguyễn Thị Hậu



ĐỪNG SẢN SINH NHỮNG BẢO TÀNG “VÔ HỒN”


Nguyễn Thị Hậu

Hiện nay trên thế giới hầu như quốc gia nào cũng có một hệ thống bảo tàng với nhiều loại hình. Có những quốc gia bên cạnh sức mạnh kinh tế và vị thế trên trường quốc tế, còn nổi tiếng nhờ những thiết chế văn hóa mà bảo tàng là một thiết chế quan trọng, gắn bó với “công nghiệp du lịch” mang lại lợi ích kinh tế, đồng thời nâng cao giá trị văn hóa của quốc gia. Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng để các quốc gia có chính sách văn hóa đầu tư cho việc hình thành hệ thống bảo tàng và hoạt động của bảo tàng. Sự phát triển của bảo tàng được coi là diện mạo và tài sản văn hóa của một đất nước. Tính phổ biến của bảo tàng, vì thế, không thể phủ nhận.

Bảo tàng – cùng với những di sản văn hóa – đóng vai trò như cầu nối của quá khứ và hiện tại trong mọi lĩnh vực, đặc biệt đối với việc giữ gìn truyền thống và bản sắc dân tộc, bản sắc vùng và địa phương trong quá trình toàn cầu hóa... Giá trị của bảo tàng ngày càng phát triển theo thời gian bởi quá trình tích lũy và làm giàu hơn những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của nhiều thế hệ, nhiều cộng đồng, bằng những hoạt động đặc trưng của bảo tàng. “Hồn cốt” của bảo tàng vừa là giá trị những gì nó lưu giữ, bảo quản, vừa là những gì nó mang đến cho xã hội qua các hình thức hoạt động.

Một số nguyên tắc cơ bản để bảo tàng có thể đạt hiệu quả cao trong việc thu hút và “thuyết phục” công chúng: Tính chân xác, rõ ràng về nguồn gốc xuất xứ của hiện vật;  Sự khái quát, đa dạng, tiêu biểu và liên tục của nội dung trưng bày; Tính đơn giản, cụ thể và gây nên cảm xúc trong câu chuyện từ hiện vật; Dễ dàng trải nghiệm và tiếp cận với hiện vật và tài liệu liên quan; Cởi mở cung cấp dữ liệu trực tiếp và gián tiếp (online); Duy trì và đa dạng hóa mối quan hệ và tương hỗ giữa hoạt động bảo tàng và người xem.
Tất cả nhằm đảm bảo cho mỗi bảo tàng có sự khác biệt, độc đáo về nội dung và trưng bày, sự đa dạng, hiện đại trong việc quảng bá và thu hút khách tham quan. “Hồn cốt” của một bảo tàng chỉ có khi “Bảo tàng sống cùng xã hội”.
***
Ở nước ta, trừ một vài bảo tàng hình thành từ thời Pháp thuộc, phần lớn các bảo tàng được xây dựng do nhu cầu “từ trên xuống” (ý chí chính trị, tuyên truyền về lịch sử truyền thống, xây dựng “nhân dịp, kỷ niệm”...) mà chưa phải do nhu cầu “từ dưới lên” (các sưu tập hiện vật đã được tập hợp, lưu giữ, nhu cầu giới thiệu nghệ thuật, cổ vật, di sản văn hóa vùng miền, địa phương, nhu cầu thưởng lãm của công chúng...). Do đó không tránh khỏi sự trùng lặp, đơn điệu về nội dung trưng bày và hiện vật, bên cạnh đó “tính an toàn” của thông tin từ tư liệu hiện vật cũng làm hạn chế sự phong phú, đa dạng, sự xác thực của “những câu chuyện bảo tàng”. Vì vậy, nhiều bảo tàng địa phương có cái “cốt” mà thiếu phần “hồn”, gây nên sự nhàm chán, thậm chí bị dư luận phản ứng vì hoạt động kém hiệu quả, lãng phí.

Gần đây Bảo tàng Hà Nội phải thay đổi “chủ quản” vì đã mười năm nhưng hệ thống trưng bày chưa xong! Có thể nói đây là trường hợp điển hình mà dư luận lên tiếng phản ứng vì “cái cốt” của bảo tàng rất tốn kém nhưng thời gian trôi qua bảo tàng vẫn “vô hồn”. Vài năm trước Dự án bảo tàng lịch sử quốc gia (khoảng 11 nghìn tỷ đồng từ ngân sách nhà nước) đã phải dừng lại vì lý do tốn kém, và hiện nay tỉnh Vĩnh Long có Dự án Bảo tàng nông nghiệp (khoảng 400 tỷ đồng từ kinh phí của tỉnh và xã hội hóa) cũng nhận được nhiều ý kiến lo ngại về nguy cơ phải “đắp chiếu” như Bảo tàng Hà Nội.

          Hiện nay, để vượt qua khó khăn do đại dịch Covid-19 gây ra, chính phủ quyết định thực hiện nhiều biện pháp kích cầu kinh tế, trong đó có những dự án đầu tư công. Có thể coi đây là một “thời cơ” cho việc xây dựng bảo tàng. Nhưng để thời cơ mang lại kết quả mong muốn thì không chỉ yếu tố kinh phí là quyết định. Một công trình “đẻ non” để “chào mừng, kỷ niệm” hay để tận dụng một cơ hội “đầu tư công” sẽ khó tránh được tình trạng ốm yếu, khó nuôi, “bỏ thì thương vương thì tội”, gây ra sự lãng phí và có khả năng xảy ra tiêu cực. Sự lãng phí không chỉ ở số tiền lớn bỏ ra xây dựng công trình bảo tàng, mà còn ở những sưu tập hiện vật, tài liệu, mẫu vật... đã được sưu tầm lưu giữ, bảo quản nhưng không được trưng bày hoặc trưng bày không phù hợp, làm giảm mất giá trị văn hóa - khoa học; lãng phí ở đội ngũ cán bộ bảo tàng không phát huy được tri thức và khả năng chuyên môn. Mặt khác còn một hậu quả lâu dài hơn là làm cho công chúng ngày càng quay lưng lại với bảo tàng nói riêng và di sản văn hóa nói chung.

Việc nhà nước đầu tư xây dựng các bảo tàng theo Quy hoạch của ngành từ nhiều năm nay là cần thiết, nhằm nâng cao năng lực của ngành bảo tàng trong việc lưu giữ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, truyền thống lịch sử của đất nước, tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội địa phương và quốc gia, đồng thời góp phần nâng cao dân trí và tri thức cho xã hội. Kinh phí lớn là điều kiện quan trọng, cần nhưng chưa đủ, vì không chỉ xây dựng “nhà bảo tàng” to lớn hoành tráng hiện đại, mà còn cần những điều kiện vật chất, phương tiện kỹ thuật phù hợp với chức năng mục tiêu nội dung của từng loại hình bảo tàng cụ thể thì mới hoạt động được.

Để có một bảo tàng thực sự “sống được, sống khỏe” thì việc chuẩn bị cơ sở cho nó ra đời phải thật chu đáo, đầy đủ: từ các sưu tập hiện vật đến nội dung tiếp cận mới lạ và hình thức hiện đại, từ lực lượng cán bộ có trình độ nghiên cứu và nghiệp vụ giỏi đến các mối quan hệ “phát triển công chúng” trong xã hội... Quan trọng hơn là định hướng cho bảo tàng phát triển bền vững cùng sự phát triển và nhu cầu của xã hội, không chỉ về vai trò, chức năng mà cả nguồn kinh phí. Bởi vì là một hoạt động văn hóa, bảo tàng không thể dựa mãi vào ngân sách nhà nước khi có thể “sống” nhờ nguồn lực của chính mình, như nhiều bảo tàng trên thế giới đã thực hiện.


TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...