“NGÀY PHỤ NỮ”
MỘT NGÀY MỖI NĂM VẪN CÓ
“NGÀY PHỤ NỮ”
MỘT NGÀY MỖI NĂM VẪN CÓ
“NHÀ NHỎ” XƯA VÀ NAY
Ở đô thị nước ta thời bao
cấp, phần lớn người dân sống trong những ngôi nhà nhỏ hoặc trong các căn phòng ở
khu tập thể. Hầu hết các khu dân cư, khu tập thể mọi người mọi nhà đều phải
chung đụng với nhau những nhu cầu riêng tư nhất: nhà tắm, nhà vệ sinh, nhà bếp,
kể cả chuyện “ngủ chung” cha mẹ con cái cùng một giường, vợ chồng mới cưới ngủ
cùng một căn phòng với cả đại gia đình... Vì thế đã có bao chuyện giở khóc giở
cười, bao chuyện tọc mạch mất lòng phiền phức.
Vậy nên, qua khỏi thời
bao cấp, khi có điều kiện thì ai cũng muốn có một không gian riêng cho mình,
cho gia đình mình dù nhỏ bé, chỉ cần tiện nghi cơ bản cho sinh hoạt và làm việc.
Từ nhu cầu đó, các đô thị ngày nay phát triển nhiều chung cư hoặc khu dân cư,
diện tích mỗi căn hộ, mỗi ngôi nhà vừa đủ cho nhu cầu của một gia đình nhỏ, thường
là vợ chồng và 1- 2 con nhỏ. Khoảng mươi
năm trở lại đây, nhiều người trẻ công việc làm ăn ổn định, muốn “thoát ly” khỏi
gia đình còn làm xuất hiện những căn hộ cho một người.
Có thể nói, nhu cầu “ra riêng” của một gia đình hay một cá nhân không chỉ là nhu cầu được thoái mái tiện nghi hơn về “không gian sống”, mà còn là nhu cầu “tự do hơn” về sinh hoạt và tinh thần. Vì vậy xu hướng phát triển những căn hộ diện tích vừa và nhỏ là phổ biến và lâu dài, khi mà các thành phố lớn như Hà Nội, TP. HCM còn là nơi có dân số tăng cơ học một cách nhanh chóng và phức tạp.
Tôi từng nhiều năm sống trong
một căn phòng 25m2 trong khuôn viên trường học nơi tôi giảng dạy. Ở
căn phòng “tập thể” chỉ kê vừa cái giường đôi, tủ quần áo, nền nhà tráng xi
măng luôn lau sạch để tối có thể nằm nếu trời nóng quá. Tất cả là ở hành lang:
một bàn nhỏ vừa là nơi ăn cơm vừa là nơi tôi làm việc, cái tủ nhỏ đựng đồ dùng
bếp núc, phía trên đặt cái bếp dầu, thau chậu, mấy xô nước nấu ăn... Những gia
đình bên cạnh cũng vậy. Ban ngày mọi người đi làm nhưng trưa chiều thì hành
lang nhộn nhịp, nơi này nấu nướng nơi kia tắm gội cho trẻ con, rồi tiếng mời nhau
khi đang ăn có người đi qua..
Muốn vệ sinh tắm giặt thì
xuống khu bể nước ở tầng trệt, ban ngày thì chuột chạy ban đêm gián bò lổm ngổm...
Dẫu vậy, những gia đình trẻ vẫn thấy vui vì ở riêng thì... dễ cãi nhau hơn,
không phải “giữ ý” vì sống chung bên chồng bên vợ. Nói vui là thế nhưng cũng có
một phần sự thật.
Về sau gia đình tôi ở trong một chung cư mới xây trên một nghĩa địa vừa giải tỏa, phía sau nhà còn ngổn ngang hố huyệt ván hòm, chiều tối là trong nhà lạnh ngắt, luôn phải thắp nhang. Căn hộ trên lầu một khoảng 50m2, có khu bếp và vệ sinh, diện tích còn chia thành phòng khách và hai phòng ngủ nhỏ xíu, nhưng với tôi đã là “thiên đường”! Ít nhất chúng tôi có nơi để giá sách, bàn làm việc, hai con có phòng riêng, có góc học tập của mình. Chung cư không có “không gian dịch vụ” nên các nhà ở tầng trệt nhanh chóng đảm nhận việc này: giữ xe, bán tạp hóa, bán cà phê, ăn sáng...
Từ trước 1975 Sài Gòn đã
có hàng trăm chung cư phân bố trong nội thành, hợp thành những khu vực cư trú của
người bình dân ở quận Ba, quận Mười như Nguyễn Thiện Thuật, Ngô Gia Tự, Nguyễn
Kim... một vài chung cư cao cấp hơn rải rác ở quận Một như trên đường Nguyễn Huệ,
Đồng Khởi, Trần Hưng Đạo... Nhiều chung cư xây dựng sau 1975 đến khoảng năm
2000 vẫn theo mô hình và quy mô tương tự chung cư cũ. Cộng đồng sống trong
chung cư phần lớn là người và hộ gia đình có thu nhập trung bình và thấp, trải
qua thời gian dài khó khăn nhưng cơ bản vẫn “bảo tồn” được lối sống bình dị, gần
gũi tình làng nghĩa xóm. Hiện nay các chung cư, các khu phố người dân đã thay đổi
suy nghĩ và hành vi theo hướng tích cực:
từ suy nghĩ chung cư chỉ là nơi “ở tạm” họ đã gắn bó và quan tâm hơn đến
không gian sống “của mình, của chúng ta”, như trồng hoa và cây cảnh, giữ vệ
sinh sạch sẽ hành lang, cầu thang, ứng xử văn minh, thân thiện... Đây chính là
điểm độc đáo thể hiện sự nhân văn đồng thời góp phần bảo tồn một loại hình di sản
đô thị và hướng cộng đồng đến lối sống bền vững.
Tuy nhiên chất lượng những chung cư này đến
nay là điều cần phải quan tâm, đồng thời, những hạn chế về dịch vụ, về cấu trúc
căn hộ đơn giản, không phù hợp tiện nghi và sinh hoạt hiện đại chính là điều mà
những chung cư hay khu nhà mới xây dựng hiện nay cần khắc phục.
Chung
cư “bình dân” mới cần có khu vực dịch vụ càng đa dạng càng tốt, diện tích căn hộ
nhỏ nhưng bố trí không gian hợp lý cho nhu cầu chung và riêng của từng thành
viên gia đình. Đồ đạc nội thất là loại dùng đa chức năng, linh hoạt và thiết kế
sao cho có thể tiết kiệm diện tích nhưng vẫn tiện nghi... Và cuối cùng là giá
bán hay cho thuê hợp lý. Tất nhiên, người mua chấp nhận vị trí có thể xa khu vực
trung tâm thành phố, nhưng nếu ở gần trường học, bệnh viện, chợ hay siêu thị lớn,
và nhất là môi trường tốt như có “không gian công cộng” là công viên, nhiều cây
xanh... thì đó sẽ là sự lựa chọn của nhiều người.
Nhu
cầu về nhà ở/căn hộ vừa và nhỏ luôn là nhu cầu bức thiết ở đô thị, vì không
gian đô thị hạn hẹp không thể “cơi nới” mà dân số thì luôn có xu hướng tăng
lên, vì nhu cầu tâm lý “tự do trong không gian của mình” của thị dân hiện đại
cũng ngày càng tăng lên, và phần đông dân chúng có khả năng chi trả cho căn hộ/nhà
ở với diện tích như vậy.
GÓC NHỎ BÌNH YÊN
Tính
ra, gần như cả ngày mỗi người trong gia đình đều ở nơi làm việc.
Buổi
tối về nhà sau giờ cơm nước, dọn dẹp nhà cửa thì mỗi người lại
ngồi ở góc riêng của mình miệt mài với công việc. Bởi vậy dù nhà
nhỏ nhưng bố mẹ vẫn tạo một khoảng không gian chung ở tầng lửng, nơi đặt TV, máy tính, tủ
sách để cả nhà có thể gần nhau sau cả ngày dài mỗi người mỗi nơi.
Không
định mà cả nhà cùng “dính líu” vào nghề viết lách nên ở góc nhỏ
ấy cô Út dịch sách, cô Hai biên tập bài, bố chấm thi, sửa luận văn
cho sinh viên, mẹ viết
báo cáo, thi thoảng tạp bút tản văn… Nhà có ba phụ nữ nên nhiều lúc góc
nhỏ biến thành… chợ chồm hổm, đủ thứ chuyện từ cơ quan đến ngoài
đường, từ chuyện xã hội đến facebook
– thế giới ảo vui vẻ thư giãn của mấy mẹ con. Có lúc ồn ào quá,
bố phải “mắng”, này,
họp ở cơ quan chưa chán à?
Nhớ
hồi xưa, khi các con còn nhỏ, nhà tập thể chật không có chỗ xoay
người, “góc nhỏ” của mấy mẹ con chính là cái xe máy. Mỗi ngày bốn
lượt đưa đón 2 con đến trường, trên chiếc xe máy cũ kỹ ấy 3 mẹ con
vẫn có thể “tám” đủ chuyện. Mẹ biết được việc học hành, biết thầy
cô, bạn bè của con… Giờ đây nơi góc nhỏ có khi mỗi người mỗi cuốn
sách, mỗi máy tính vẫn thấy gần nhau như xưa. Ngày nào mà gia đình
thiếu vắng một thành viên ngày ấy góc nhỏ bỗng im ắng buồn hiu.
Có lần mấy mẹ con “nổi hứng” dọn dẹp góc nhỏ ấy. Không đụng đến thì thôi, đụng vào
thì quá trời đồ đạc linh tinh, bỏ thì tiếc mà để thì không dùng đến. Có những
thứ nho nhỏ xinh xinh không biết mua làm gì, giờ cũ xì mà
trông vẫn xinh, ngắm nghía mãi cũng phải cho vào thùng rác. Có thứ mua rồi
nhưng cất kỹ quá tìm không ra, tưởng mất hay không có, lại mua... giờ hiện ra ba, bốn cái mà không cần nữa. Còn trăm thứ bà rằn khác, bỏ thì thương vương thì tội... ba mẹ con phải hô “quyết tâm” để dọn dẹp cho gọn
gàng. Thứ nào còn tốt mà không dùng sẽ chuyển giao cho người cần dùng; những thứ
linh tinh cương quyết giải tán, không như vài lần trước con vứt mẹ tiếc của giữ
lại, hóa ra chiếm chỗ trong tủ trên bàn, thành
nơi chứa bụi...
Sách nữa, có cuốn có tới hai, ba bản vì mẹ mua rồi con
cũng mua hay có rồi lại được tặng thêm. Nhiều sách không còn đọc nữa như tạp
chí cũ, sách truyện linh tinh, cả sách khoa học mà không phải chuyên môn của bố
mẹ... Thế là xếp vào thùng giấy để mang tặng các nhà mở, mái ấm. Riêng bộ sách
Conan và Đô Rê Mon thì lần nào dọn dẹp con xin mẹ được giữ lại vì đó là “tuổi
thơ của con”. Đúng rồi, hồi đó mẹ còn tranh nhau với con để được đọc trước mà.
Bây giờ, có cháu ngoại rồi lại mang ra cho cháu xem, cháu chỉ vào hình những
gương mặt rất ngộ nghĩnh và bi bô: mẹ, bố, ngoại... cả nhà cười vui vẻ.
Dọn dẹp xong, lau nhà sạch sẽ, giặt giũ tấm phủ máy
tính, rèm cửa sổ, đặt thêm bình bông tươi tắn, góc nhỏ trở nên gọn gàng, thông
thoáng, đẹp hẳn ra, “cứ như nhà mới, mẹ nhỉ!”.
Bạn
đến chơi đúng
lúc mấy mẹ con đang tay năm tay mười “làm việc bằng hai”. Ra về bạn nói: Nhà cậu vui thật đấy.
Còn nhà mình cứ như cái khách sạn, ai nấy rút vô phòng riêng với TV,
máy tính và thế giới riêng! Không biết mình xây nhà rộng để làm gì
nữa…
Góc nhỏ bình yên đâu cần nhà hẹp hay rộng, nó tồn tại trong mỗi thành viên trong gia đình, bạn ạ.
Vài năm nay khoảng thời gian này lại rộ lên tin tức
về thu hoạch, xuất khẩu vải thiều trồng ở Bắc Giang. Trên truyền hình, báo chí
nhiều hình ảnh những trang trại vải chín đỏ rực, chùm quả sai trĩu cành, những
chuyến xe tải chở hàng chục sọt vải tươi di khắp mọi miền, xe đông lạnh chở
hàng tấn vải tươi lên biên giới...
Có năm tôi đã về Bắc Giang vào mùa này. Đúng là
trên trời dưới vải. Chợ lớn chợ nhỏ tràn ngập vải, xe đạp chở 1 sọt thì xe máy
cũng 2, 3 sọt lớn, rồi xe tải nhỏ xe tải lớn... từ trong các nhà vườn, trang
trại nối đuôi nhau chạy ra quốc lộ. Như tôi cảm nhận thì vải Bắc Giang trái lớn
hơn vải Thanh Hà (Hải Dương – quê hương của giống vải thiều nổi tiếng), màu đỏ
sẫm hơn. Cùi dày nước nhiều và vị ngọt không được thanh như vải Thanh Hà, thậm
chí còn có vị “hậu” hơi chua.
Xin nhắc lại, đây chỉ là cảm nhận của tôi thôi nhé.
Cảm nhận chắc chắn chủ quan, càng chủ quan hơn khi cảm giác “ngon” của trái vải
Thanh Hà ngày xưa vẫn còn mãi trong ký ức.
Vào đầu mùa
hè, “khi con tu hú gọi bầy” thì Hà Nội cũng xuất hiện những chùm vải trên các
gánh hàng rong hay hàng hoa quả ở đầu các chợ. Nhưng muốn ăn vải thiều thì phải
chờ độ một tuần mươi ngày nữa. Chùm trái vải lúc này đã bắt đầu chuyển sang màu
hồng đỏ, phía dưới trái vải vẫn còn sắc xanh vàng. Trái không lớn lắm nhưng đều
nhau, gai nở đều, luôn được buộc với chùm lá còn xanh mướt. Người bán hay bóc
vỏ 1, 2 trái để trên làm mẫu: Trái vải cùi dày bao lấy hạt xinh xinh màu nâu,
mọng nước nhưng khi bóc không bị tứa nước ra. Chỉ cần nhìn thấy là... chảy nước
miếng, muốn mua ngay để có thể cắn ngập răng vào lớp cùi trắng mềm ngọt kia.
Thật ra ngày ấy ít khi tôi được ăn vải. Mà không
chỉ vải, những trái cây theo mùa như nhãn, na, hồng, mận hậu... tôi cũng ít
được ăn. Nó là “đặc sản” vì chỉ trồng ở vài vùng, có tiếng là ngon cũng chỉ
một, hai nơi. Đưa về Hà Nội không bao nhiêu vì đường xá chuyên chở khó khăn,
rồi đồng lương công chức của ba má tôi tôi eo hẹp... nên hiếm khi được thưởng
thức. Vì vậy, mỗi lần ăn là một lần nhớ, nhớ cảm giác vui mừng khi thấy má đi
làm về trên giỏ xe có chùm trái cây, nhớ cảm giác hồi hộp chờ được má cho ăn,
nhớ vị ngon quen mà lạ của vải thiều Thanh Hà của nhãn lồng Hưng Yên, nhớ cảm
giác thòm thèm khi má cất chùm trái cây vào “gác – măng - giê” để dành ngày mai...
Có lần quên gài tủ nên chuột vào ăn nham nhở cả chùm vải. Hôm sau má rưng rưng:
biết vậy hôm qua để con ăn cho đã, hà tiện chi để chuột ăn hết... Lúc ấy tôi
hết cả cảm giác thèm thuồng, chỉ thấy thương má quá...
Nhưng cái duyên của tôi với trái vải không chỉ là
cảm giác nhớ và thèm, mà còn có cả cảm giác “ngán” nữa. Lạ chưa, không có mà ăn
mà lại bày đặt “ngán” là sao? Để tôi kể tiếp cho nghe.
Có một dạo nhà tôi ở ngõ Mai Hương đường Bạch Mai,
từ đấy qua Chợ Mơ đi xuống đường Trương Định có một nhà máy chế biến hoa quả.
Mùa hè, khi trái cây chín rộ thì nhà máy tuyển thêm nhân công làm thời vụ. Học
sinh khoảng 14, 15 tuổi hay đến làm thêm. Tôi và nhiều bạn trong khu tập thể
cũng vậy. Chúng tôi cũng được phân theo ca kíp sáng, chiều và đêm, đi làm như công
nhân thực sự, được ăn bồi dưỡng giữa ca và tất nhiên, cuối tháng lĩnh lương
đàng hoàng. Lâu lắm rồi tôi chẳng nhớ là bao nhiêu, nhưng sau hai tháng hè thì
với món tiền đó tôi có thể mua đủ sách vở cho năm học mới và đóng các khoản tiền
linh tinh ở trường vào đầu năm học.
Mấy năm liền tôi đi làm vào mùa vải và dứa (khóm).
Vào ca làm vải thì bóc vỏ tách hột. Bóc vải không được làm dập hay sây sát trái
vải, sau đó dùng một dụng cụ chuyên lấy hột từ đầu trái vải, sao cho trái vải
không bị rách và đầu trái không bị tưa ra, rồi nhẹ nhàng để vào thau nhôm. Khi
thau gần đầy thì cô công nhân đến lấy mang qua nơi kiểm tra, trái nào không đạt
thì bỏ ra... Cuối ca ai làm bị lỗi nhiều hoặc làm được ít sẽ bị nhắc nhở và tất
nhiên, cuối tháng bị trừ lương. Sản phẩm cuối cùng là trái vải được đóng hộp
với nước đường.
Những công nhân nghiệp dư ngồi đối diện nhau trên
chiếc bàn dài, tay cầm dao, rồi lại cầm cái ống lấy hột, xung quanh là mùi vải
ngây ngất. Một hai ngày đầu còn lén ăn những trái xanh hay làm bị hỏng, nhưng
ngày thứ ba thứ tư thì không còn thấy thèm nữa vì khắp nơi là mùi vải, ngày
tiếp theo thì bắt đầu ngán... ngán đến không ăn được cơm hay mì bồi dưỡng giữa
ca.
Còn làm dứa thì sao? Dứa có máy gọt vỏ nên chúng
tôi ngồi cắt mắt cho sạch, cũng không được làm dập hay cắt quá sâu, sau đó dứa
được mang qua máy đục cùi, máy cắt thành khoanh hoặc từng miếng... Sản phẩm
cũng là dứa đóng hộp với nước đường. Làm dứa còn ngán hơn vì có ăn cũng chỉ vài
miếng là rát lưỡi, nhưng cắt mắt dứa dù đeo bao tay bằng cao su thì cuối ca vẫn
bị chảy máu ở kẽ móng tay vì bị chất chua (axit) trong trái dứa ngấm vào.
Chỉ có thế thôi mà năm nào vào mùa này tôi cũng nhớ
về kỷ niệm nho nhỏ này. Bây giờ thì trái cây nào cũng được trồng ở nhiều nơi,
vị ngon hay không thì tùy sở thích mỗi người. Tính chất “đặc sản” hiếm hoi cũng
mất vì thông thương dễ dàng giữa các vùng miền. Tuy nhiên tôi thấy sản phẩm về vải và dứa hình như không khác trước, có thêm vải sấy khô nữa
thôi. Mỗi năm vẫn thấy trái cây được mùa rớt giá, rồi dội chợ, thậm chí có lúc
phải “giải cứu” nữa, vì thế tôi không biết nhà máy chế biến hoa quả - hay là
chế biến nông sản nói chung – có được xây dựng nhiều hơn không, có được xây
dựng ở những vùng chuyên canh vải, dứa hay những loại trái cây khác hay không?
Nhiều năm
tham gia xây dựng Quy hoạch kinh tế - xã hội cho các tỉnh, tôi thấy tỉnh nào
cũng định hướng Công nghiệp hóa là xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, thu
hút đầu tư nhưng phần lớn nhà máy là làm gia công cho nước ngoài. Hầu như không
có nhà máy chế biến nông sản hay sản xuất sản phẩm từ nông sản, dù địa phương
có thế mạnh về loại đó. Trái cây nông sản vẫn bán buôn thậm chí xuất khẩu “thô
sơ” như bao nhiêu năm trước,! Nếu cứ vậy làm sao tránh được rủi ro như lúc này,
hay chỉ cần bên mua ép giá hay ra một điều kiện mới nào đấy (như đã từng xảy
ra) là trái cây sẽ ứ đọng ở cửa khẩu... Công sức tiền bạc cả năm có khi chỉ vài
ngày trái cây nằm trên xe là mất hết.
Là một đất
nước nông nghiệp, Công nghiệp hóa đầu tiên phải là CNH nền nông nghiệp để làm thay
đổi một “hằng số” của xã hội Việt Nam là Nông nghiệp – nông dân – nông thôn (như
thầy tôi, GS Trần Quốc Vượng đã nói). Sự thay đổi tận gốc này chính là một con
đường để phát triển bền vững.
https://phunumoi.net.vn/mua-vai-d232108.html
https://nld.com.vn/thoi-su/hoa-binh-20210428230020749.htm
Nguyễn Thị Hậu
Vào tháng 08 năm 1996 tại New York Ủy ban UNICEF của
UNESCO đã đưa ra một chương trình giáo dục các giá trị toàn diện
LVEP (Living Values an Educational Program) dành cho
trẻ em trên toàn thế giới. Có thể hiểu nội dung chính của chương trình là giáo
dục nhận thức và tạo điều kiện cho trẻ em trải nghiệm các giá trị sống cơ bản của
nhân loại, bao gồm: Hòa bình, Tôn trọng, Tình yêu thương, Khoan
dung, Trung thực, Khiêm tốn, Hợp tác, Hạnh phúc, Trách nhiệm, Giản dị, Tự do và
Đoàn kết.
Hòa Bình là giá trị sống cơ bản đầu tiên, là điều kiện để các giá trị sống khác
hình thành và phát triển. Hướng đến việc giáo dục trẻ em những giá trị sống này
Tổ chức văn hóa giáo dục của Liên Hiệp Quốc đã thể hiện tầm nhìn đúng đắn, lâu
dài đến tương lai của nhân loại: trẻ em phải được sống trong hòa bình, biết gìn
giữ hòa bình, cùng với những phẩm chất/giá trị sống khác thì trẻ em hôm nay –
người lớn ngày mai cũng phải biết bảo vệ và chống lại những gì đe dọa nền hòa
bình.
Vì sao Hòa Bình lại được coi là quan trọng nhất, đứng đầu những giá trị
sống của nhân loại? Theo nghĩa rộng (tích
cực, chủ động) Hòa bình được UNESCO định nghĩa và giải
thích như sau: “Hòa bình là đặc trưng nổi bật
của những gì mà chúng ta gọi là “xã hội văn minh”, là mơ ước của biết bao thế
hệ người về một trạng thái tinh thần bình an, một cuộc sống hạnh phúc không có
chiến tranh và bạo lực, trong đó mọi người đều yêu thương và hợp tác cùng nhau.
Hòa bình cần phải bắt đầu từ
mỗi người trong số chúng ta. Thông qua sự suy ngẫm lặng lẽ và nghiêm túc về ý
nghĩa của hòa bình, mỗi người, mỗi dân tộc lại có được các cách thức và sáng
tạo mới để có thể hiểu biết, cảm thông và chia sẻ cùng nhau hướng tới tình bạn
và sự hợp tác. Hòa bình bao gồm có các tư tưởng, tình cảm,
ước muốn và hành động trong sáng. Để giữ được hòa bình chúng ta cần có tri
thức, tình cảm, lòng quyết tâm và sức mạnh”.
Một cách hiểu đơn giản và phổ biến, “Hòa
bình là tình trạng không có chiến tranh”. Cũng có nghĩa là chiến tranh để
lại hậu quả trái ngược với hòa bình: Có thể nhìn thấy ngay những tội ác khủng
khiếp, nhất là tội diệt chủng, sự tàn phá những thành tựu văn minh của loài
người. Nhưng chiến tranh còn để lại hậu quả lâu dài và không dễ nhận thức, đó
là sự hủy diệt, phá vỡ và làm đảo lộn các giá trị sống của nhân loại nói chung,
của từng khu vực từng quốc gia nói riêng.
Chính vì điều đó mà Hòa Bình trở thành điều kiện
tiên quyết để con người được SỐNG HẠNH PHÚC và nhân loại PHÁT TRIỂN VĂN MINH.
***
Có thể nói Việt Nam là đất nước hiểu rõ về chiến
tranh và có ước vọng Hòa bình hơn ai hết.
Tính từ nhà nước độc lập đầu tiên ra đời vào năm 939 của Ngô Quyền, diễn
trình lịch sử thời trung đại Việt Nam (từ thế kỷ 10 cho đến đầu thế kỷ 19) đã lý
giải cho nhận định trên:
Trong khoảng gần
10 thế kỷ, liên tiếp các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc. Đây
là đặc điểm nổi bật của lịch sử Đại Việt. Các vương triều thường được thành lập
sau chiến thắng ngoại xâm và bắt đầu xây dựng quốc gia tự chủ. Giai đoạn cuối
của các triều đại thường xảy ra “nội chiến” trong triều chính hoặc khởi nghĩa
nông dân/nổi loạn ngoài xã hội, vì vậy xã hội bất ổn, đời sống nhân dân không
được bình yên. Bên cạnh đó còn có những lần xung đột với vương quốc Chămpa, rồi
nội chiến đàng trong/đàng ngoài kéo dài hơn hai trăm năm... “Từ thủa mang gươm đi mở cõi” đất nước được mở
rộng dần về phía Nam. Từ đầu thế kỷ 19 có một lãnh thổ tròn vẹn như ngày nay.
Từ nửa sau thế kỷ 19 đến hết thế kỷ 20 Việt Nam lại phải tiếp tục hai cuộc
kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ngày 30.4.1975 thống nhất đất nước, hòa
bình chưa bao lâu thì nổ ra cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh
chống bành trướng Trung quốc ở biên giới phía Bắc. Hiện nay chúng ta vẫn luôn
cảnh giác và sẵn sàng bảo vệ biển đảo của Tổ quốc.
Mười thế kỷ luôn biến động, thời gian hòa bình đã không dài còn bị cắt đứt
bởi chiến tranh. Người dân lúc nào cũng trong tâm thế “ngụ binh ư nông”, “giặc
đến nhà đàn bà cũng đánh”, chính quyền luôn trong trạng thái cảnh giác ngó
trước nhìn sau để kịp thời ứng phó với giặc ngoại xâm. Bao thế hệ người Việt
Nam đã mơ “giấc mơ Hòa Bình” và luôn đấu tranh cho điều đó trở thành hiện thực,
kể cả khi biết rằng có thể đến đời con cháu mình mới được hưởng nền hòa bình
trọn vẹn.
***
Bao nhiêu năm đã
qua hay nhiều năm nữa về sau, đối với người Việt Nam ngày 30/4 mang ý nghĩa lớn
nhất là ngày kết thúc chiến tranh. Chiến tranh kéo dài đến đâu cũng chỉ là hiện
tượng nhất thời. Trước và sau chiến tranh là cuộc sống hòa bình, bất cứ người
nghèo khó hay giàu sang thì cũng mong ước được sống trong hòa bình, mong muốn
chồng con anh em không phải ra chiến trường, không bị tên bay đạn lạc... Trên
khắp đất nước có biết bao nhiêu nghĩa trang của những người lính, của dân
thường đã chết trong những năm dài chiến tranh, có những người ra đi đúng thời
điểm hòa bình chạm vào cửa ngõ Sài Gòn. Tất cả họ chưa từng được hưởng một giây
phút hòa bình cho đến khi sang thế giới bên kia, để cho
những người ở lại được sống trong hòa bình.
Nếu tính đời người bắt đầu từ khi đủ tuổi dựng vợ gả chồng để sinh thành
một thế hệ mới, thì hơn bốn mươi sáu năm qua đã hai thế hệ hậu
chiến ra đời và trưởng thành. Nhìn con cái lớn lên và phải giải quyết những vấn
đề của thế hệ @ là đừng để đất nước bị lạc hậu so với thế giới, thậm chí còn “gay go, ác liệt” hơn cuộc chiến của thế hệ chúng
ta, tôi bỗng nhận ra rằng, nếu chỉ mãi nhìn về một thời chiến tranh thì khác nào chúng
ta tự giam mình trong “bảo tàng viện” và trở
nên xa lạ với cuộc sống hòa bình đang diễn ra bên ngoài tủ kính.
Chắc chắn còn nhiều điều làm ta bức xúc, chưa thể hài lòng nhất là về đời
sống tinh thần, nhưng cũng cần nhìn thấy những điều tốt đẹp. Sự thay đổi của những “dòng kênh đen”, khu đô thị mới hay tuyến metro đang thành hình, những khu đô thành phố đang thay da đổi thịt… đó là kết tinh công sức của
biết bao nhiêu con người thầm lặng lao động trong hòa
bình dù cuộc sống còn nhiều vất vả.
Chúng ta quý trọng những đổi thay dù nhỏ vì giá trị
lao động của những con người đó, quý trọng những gì hiện hữu
mỗi ngày vì đó là cuộc sống của các con ta, và vì chính chúng ta đang sống.
Các giá trị sống cơ bản của nhân loại mà Unesco đúc kết lại không gì khác chính là những thông điệp thế hệ hôm nay gửi đến thế hệ mai sau. “Trẻ em hôm nay – thế giới ngày mai”, giáo dục cho trẻ em hiểu biết giá trị và yêu mến Hòa Bình và những giá trị sống nhân bản khác cũng là cách tốt nhất để ngăn ngừa và chống lại chiến tranh. Ngược lại, đã và đang sống trong hòa bình nhưng không hiểu biết và không tôn trọng những giá trị sống cơ bản khác của nhân loại thì xung đột và chiến tranh vẫn có nguy cơ xảy ra. Bởi vì nền hòa bình ở bất cứ nơi nào cũng chỉ có được trên cơ sở thực sự tôn trọng và yêu thương con người.
TP. Hồ Chí
Minh 24.4.2021
https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...