Hiển thị các bài đăng có nhãn sách. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sách. Hiển thị tất cả bài đăng

Bộ phim CON ĐƯỜNG ĐAU KHỔ

 

Khi mới làm quen với FB Lặng lẽ nước Nga, tôi đã mạo muội đề nghị được xem lại bộ phim “Con đường đau khổ” – phim truyền hình 13 tập dựa theo tiểu thuyết cùng tên của nhà văn A. Tolxtoi. Chủ trang đã nhiệt tình nhận lời nhưng cũng nói rõ, chắc phải chờ một thời gian vì phim nhiều tập nên phải mất khá nhiều thời gian và công sức mới có thể post được. Tôi kiên nhẫn chờ đợi, lúc rảnh rỗi thì đọc lại tiểu thuyết này – một trong những tác phẩm văn học Nga – Xô viết yêu thích nhất của tôi.

Tiểu thuyết “Con đường đau khổ” là bộ “sử thi” về cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất ở Nga và cách mạng tháng Mười 1917, từ góc nhìn của tầng lớp trí thức, phản ánh số phận các nhân vật chính cũng là trí thức – tiểu tư sản thành thị. Nó dựng nên bao nhiêu nhân vật bao nhiêu tính cách, từ trí thức salon đến trí thức dấn thân, từ tư sản, sinh viên đến dân nghèo thành thị, từ quân nhân đến vô chính phủ, từ nông dân mugic đến quan chức cao cấp trong chính quyền Nga Hoàng hay chính phủ lâm thời, từ  công nhân binh lính đến các lãnh tụ cách mạng... Đến nay sau hơn một trăm năm, dù cuộc cách mạng tháng Mười có thể được nhìn nhận đa chiều, khách quan và thực chất hơn... thì cũng không thể phủ nhận những tác động to lớn của nó đến xã hội Nga già cỗi, bảo thủ và gần như tê liệt vào cuối Thế chiến 1, đã làm thay đổi xã hội và đất nước Nga, cũng là làm cho thế giới chuyển sang một thời kỳ mới (và hơn 70 năm sau sự tan rã của Liên bang Xô viết cũng gây ra tác động tương tự).

Từ lần đầu xem phim Con đường đau khổ, tôi đã rất ấn tượng với hai nhận vật nữ, “hai chị em” (tập 1 của tiểu thuyết) là Đasa (em) và Kachia (chị). Hai các tên rất Nga, hai vẻ đẹp một trong sáng một kiêu sa, hai tính cách một rất cương nghị một quá đỗi dịu dàng... Tưởng như mâu thuẫn trong mỗi người nhưng lại hòa hợp và tạo nên số phận kỳ lạ của hai chị em. Họ không phải chỉ là những bông hoa cắm trong bình và im lặng phô vẻ đẹp của mình, họ đã vượt lên chính mình từ nhận thức nội tâm, sự thay đổi ở họ bắt đầu từ “cảm tính” nhưng ngày càng được củng cố vững chắc, vì nó dựa trên sự nhân hậu, lòng thương người, luôn công tâm với mọi người và nghiêm khắc với chính mình. Thoát ra khỏi cái bình hoa chật chội, hai chị em Kachia và Đasa như hai bông hoa trên cánh đồng Nga bạt ngàn hoa dưới bầu trời xanh đầy nắng gió.

Cùng với “hai chị em” là hai người đàn ông đã gặp họ đúng vào thời gian của những thay đổi, loạn lạc và chiến tranh... để rồi số phận của hai người đàn ông này gắn chặt với hai chị em, bất chấp chết chóc, phản bội và chia ly... Đó là kỹ sư Teleghin và sĩ quan Rosin. Cả hai đều thông minh, nhân hậu, là những trí thức Nga luôn day dứt trước thời cuộc, cố gắng đi tìm cho mình một vị trí để “phụng sự nước Nga”. Hai người đàn ông đã trải qua những thử thách, nghi ngờ, tuyệt vọng, cả cái chết... Nhưng hình bóng hai chị em – hay chính là khát vọng về sự chính trực, vẻ đẹp của tâm hồn Nga và lòng yêu thương con người – đã giúp họ thoát khỏi sự tàn khốc của chiến tranh, tìm được về bên người yêu dấu.

Cuộc đấu tranh nội tâm của các nhân vật chính thật ra là đi từ sự phức tạp, chênh vênh, vị kỷ... của đời sống thị dân tù túng “quẩn quanh trong tổ” đến sự chân thành, giản dị, hết mình, vì người khác... trong đời sống chiến tranh và được tiếp xúc với nhiều loại người khác nhau.  Những đòi hỏi, thử thách của cuộc sống khiến người ta phải nhìn lại và thay đổi mình, khát vọng “sống tốt hơn” mạnh hơn khát vọng “được sống”, bởi vì họ đã từng “sống mòn”. Quan trọng là họ thoát khỏi những định kiến sinh ra từ vị thế xã hội, từ lối sống, từ hoàn cảnh của mình để có cái nhìn khác đi, cởi mở hơn với con người và cũng vị tha hơn với lỗi lầm của chính mình.

Một câu nói của Rosin được nhiều người thế hệ của tôi nhớ đến, có lẽ cũng vì khát vọng bình yên, hạnh phúc của một thời chiến tranh “Năm tháng sẽ trôi qua, những cuộc chiến tranh sẽ im ắng dần, những cuộc cách mạng sẽ thôi gào thét, và chỉ còn lại không phôi pha tấm lòng em nhẫn nại, dịu dàng và chan chứa tình yêu thương.” Tôi cứ nghĩ đây mới chính là “thông điệp” mà tác giả gửi đến cho người đọc, khi đã trải qua “con đường đau khổ” cùng ông, dẫu rằng thời kỳ ông viết tiểu thuyết này và cho đến nay, “đấu tranh này là trận cuối cùng” vẫn là câu cửa miệng của chính thể XHCN không chỉ ở nước Nga.

Cả bốn nhân vật chính đều mang vẻ đẹp Nga rất giống hình dung của tôi khi đọc tiểu thuyết. Còn phải nói, ánh mắt luôn là câu hỏi lặng thầm của Đasa đúng là như vậy, nỗi buồn như tuyệt vọng của Kachia phải như thế, sự cương nghị Teleghin, sự dằn vặt của Rosin thì không thể có gương mặt khác được... ngoại hình các nghệ sĩ rất phù hợp với các nhân vật! Xem những phân đoạn của Kachia và Rosin tôi lại hình dung ra những nhân vật trong các truyện ngắn của Pauxtopxki: Tuyết, Bình minh mưa... Cả Anna Karenina nữa, giá mà Svetlana Penkin (người đóng Kachia) vào vai này nhỉ! Còn nàng Đasa kiều diễm (diễn viên Irina Alferova) với gương mặt trong sáng dưới chiếc mũ trắng lướt đi trên đường phố... giống như “Người đàn bà xa lạ” của Kramxkoi, mà trong lần ngắn ngủi đến Moskva tôi đã cố gắng đến bảo tàng xem trực tiếp, vì bức tranh đã để lại một ấn tượng rất mạnh từ khi tôi nhỏ xíu lần đầu nhìn thấy trên một tờ họa báo Liên xô.

Có lẽ ít có phim Liên xô nào mà lời thoại mang tính tự sự nhưng tư nhiên, không bị “kịch hóa” - như lời thoại và lời dẫn trong phim Con đường đau khổ. Tất nhiên là do phim dựa vào tiểu thuyết, nhưng khá nhiều phim LX (và dòng phim XHCN) nghe lời thoại của các nhân vật đôi khi như nhai phải sạn, hoặc cứ phải “trân mình” theo ngôn và ngữ của diễn viên. Nhiều câu nói của các nhân vật tưởng như nói về chính VN sau 1975, thậm chí như tiên đoán số phận của nước Nga trong thế kỷ 20. Và không khỏi chút tiếc nuối, giá mà chúng ta cũng có được những bộ sử thi chân thực bằng tiểu thuyết, bằng phim như vậy!

Nhân đây xin cám ơn người biên dịch, chị Phan Bạch Yến – chủ trang “Lặng lẽ nước Nga”, chị đã biên dịch rất nhiều phim Nga - LX bằng ngôn ngữ uyển chuyển, tinh tế, giàu nhạc điệu, và cho người xem/nghe một cảm giác “Nga” thật tròn đầy!

8.11.2020

Đây là bản tiếng Việt tiểu thuyết Con đường đau khổ do Cao Xuân Hạo dịch từ nguyên bản tiếng Nga, nxb Văn nghệ TPHCM năm 2000, in lần thứ tư. Mình thích bản này vì khổ nhỏ tiện mang theo người để xem, và có bìa do họa sĩ Trịnh Cung vẽ rất đẹp :)



 

NHỮNG NGƯỜI HÀ NỘI TÔI VỪA GẶP LẠI


Tôi đọc những cuốn sách của nhà văn Vũ Ngọc Tiến từ lâu, rồi quen biết ông qua facebook, đôi lần được ngồi cà phê trò chuyện cùng ông và các nhà văn, nhà báo ở Hà Nội, Sài Gòn... Thật bất ngờ và cảm động được nhà văn gửi tặng cuốn sách mới của ông với lời nhắn “gửi em đọc những câu chuyện về Hà Nội của anh”.

“Hà Nội và Tôi” gồm 24 truyện ký phản ánh Hà Nội trải qua gần trăm năm, từ thời các nhà nho cuối mùa đến thời chiến tranh, thời bao cấp rồi đổi mới... Giọng văn điềm đạm mà thiết tha, đôi chỗ hóm hỉnh, nhà văn Vũ Ngọc Tiến như đã dựng một cuốn phim “nhân học xã hội” về Hà Nội. Những người Hà Nội hiện lên tự nhiên như chính họ là, không cố thể hiện hay phân biệt ai là “Hà Nội gốc” còn ai thì không. Hà Nội thời ấy đâu coi người phố người quê là ai hơn ai kém, làm ăn buôn bán ở 36 phố phường hay sinh sống ở khu phố Tây thì “ai mà chẳng có một nhà quê”, có khi ở ngay ngoại thành Hà Nội.

Thế kỷ 20 Hà Nội chịu nhiều biến động, những chân dung mà nhà văn Vũ Ngọc Tiến ký họa bằng ngôn từ đã cho thấy người “Hà Nội gốc” không phải là đã sinh sống bao lâu ở Hà Nội, mà quan trọng hơn là “nếp nhà” được gìn giữ thế nào. Xã hội thay đổi làm quan hệ gia đình, nhân cách và hành xử cũng biến đổi theo... Nhưng những “người Hà Nội” trong tập sách này dù có nghề nghiệp đàng hoàng hay phải làm những việc “bên lề xã hội”, có người chẳng may phạm tội vướng vòng lao tù... thì họ vẫn luôn tâm niệm “giấy rách phải giữ lấy lề”. Nếu lâm vào hoàn cảnh suy sụp về địa vị và kinh tế, không thể “thích nghi” với thời thế thì họ cũng cố gắng gìn giữ gia phong.

Nhờ được lắng đọng trong các dòng họ nổi tiếng hay những gia đình bình dị, khí chất Hà Nội càng tinh túy và bền chặt. Giàu hay nghèo, người Hà Nội xưa cần mẫn làm ăn, tính toán khéo léo nhưng không “cạn tàu ráo máng”, thương người cơ nhỡ khó khăn, cư xử lịch thiệp mà thân thiện, trên dưới rõ ràng mà vẫn tình nghĩa sau trước, gia cảnh thế nào cũng ăn ở nền nếp. Giàu mà sang là thế, nghèo nhưng không hèn là thế, người xưa trọng nhau vì nhân cách ấy. 

Trong “Hà Nội và Tôi” có vài chân dung “người nhà quê” nhưng với tôi, đó vẫn là người Hà Nội. Bởi vì, vào thời ấy khi lên thành phố họ đã mang theo những gì tốt đẹp của làng quê, rồi tiếp nhận và bồi đắp thêm “chất Hà Nội” được hình thành và lưu giữ qua ngàn năm Thăng Long. Sau này, dân cư Hà Nội biến động quá nhanh, cuộc sống hiện đại như một dòng chảy ồ ạt, cứ chưa hết một “kế hoạch năm năm” đã lại có một lớp người Hà Nội mới theo tiêu chí đầu tiên là cái hộ khẩu. Hà Nội ngày càng mở rộng và đông đúc thì “chất Hà Nội” ngày càng khó mà tìm thấy...

“Hà Nội và tôi” là những ký ức và chiêm nghiệm của tác giả cũng như thế hệ người Hà Nội trưởng thành vào nửa sau thế kỷ 20. Tôi cũng được trải qua một thời gian ngắn như vậy, vì vậy cuốn sách mới của nhà văn Vũ Ngọc Tiến như đã cho tôi được “gặp lại” những người Hà Nội mà tôi quen thuộc từ thời thơ ấu.

Sài Gòn, tháng 8.2020

  Nguyễn Thị Hậu


 

 

Tiếng chim hót trong bụi mận gai


Xem lại phim này, suy nghĩ khác hẳn ngày trước.
Trước, cảm động vì mối tình của cha Ralph và Mecghi, cho rằng đàn bà yêu thì phải hết lòng giành lấy tình yêu như thế; còn đàn ông thật nhẫn tâm, chỉ biết sự nghiệp và bất chấp tình yêu của chính mình.
Trước, không thích bà bác chủ nhân đồn điền Drogheta, thấy bà ấy đúng là “quỷ sứ” khi bày ra trò thử thách – mà biết chắc mình sẽ thắng, dù mình chết nhưng người còn sống phải đau khổ mà làm đúng theo tính toán của mình.
Trước, không dành nhiều cảm tình cho bà mẹ Mecghi, cho rằng bà thật vô tâm khi để con gái bơ vơ không có ai làm chỗ dựa về tinh thần.
... Nói chung, trước, chỉ chăm chăm chiêm ngưỡng tình yêu của hai người là cha Ralph và Mecghi, và cũng có chút oán hận tác giả khi kết thúc truyện/phim như thế, như thể tác giả thay mặt Chúa mà “thực thi công lý”. 
Vân vân và mây mây...

Nay. Thấy rằng đàn ông cần phải như vậy, đừng bao giờ từ bỏ con đường mình đi vì một người đàn bà. Đàn bà mà chỉ biết tình yêu của mình thì sẽ không “buông tha”, sẽ nhân danh tình yêu mà nắm chặt trái tim anh. Cho nên, đàn ông thật sự hãy yêu, nhưng đừng đầu hàng :)
Nay, thấy bà chủ Drogheta đã đúng khi trao tài sản cho giáo hội qua tay cha Ralph. Khi đã trải qua sự đau đớn dằn vặt trả giá mới có thể thấu hiểu về “cây thập giá” mình phải vác suốt đời.
Nay, thấy bà mẹ Mecghi là người biết chấp nhận số phận nhưng không đánh mất mình. Sự quý phái của bà thể hiện ngay trong sự chịu đựng. Và bà tìm lại được tình yêu thực sự qua những năm tháng chấp nhận, tuy muộn màng.
Nay, ám ảnh nhiều hơn là mối quan hệ “xa/lạ” giữa hai người mẹ và hai người con gái. Tình yêu thương giữa họ chỉ đến muộn màng sau mất mát lớn... Còn thì suốt đời hai người mẹ đã dành hết cho hai người con trai tình yêu của họ với người cha thực sự của con trai mình.
Nay, thấy mất mát khủng khiếp của Mecghi chính là sự trả giá quá đắt cho tình yêu của nàng. Nghĩ nhiều hơn về sự “được mất” như là “nhân quả”. Chỉ là mình, ở độ tuổi này nhận thức chắc chắn hơn, cái gì không phải của mình thì sẽ không là.

Phim Tiếng Chim Hót Trong Bụi Mận Gai - The Thorn Birds FULL HD ...

BẠN VỀ QUÊ Ở



Anh nhắn: chiều ngồi đâu lai rai chút, mai tui về quê. Hỏi: Bao giờ lên? Anh: Về ở luôn dưới đó, đồ đạc sách vở chuyển đi hết rồi.
Anh là một người nghiên cứu “tự do”: không làm ở một cơ quan nào cả, không bị ràng buộc bởi các quy định của công chức và đương nhiên không có đồng lương cơ bản cùng những thu nhập khác ngòai lương, tuy ít ỏi nhưng cũng neo được nhiều người trong cái bộ máy cồng kềnh của nền học thuật hành chánh. Nhưng nhờ vậy mà anh có thể tòan tâm tòan ý theo đuổi những gì mình say mê: nghiên cứu, biên dịch tài liệu cổ sử, những vấn đề văn hóa… khi rảnh rang còn viết cả truyện ngắn. Thu nhập thất thường vì không phải ai cũng hiểu được giá trị những tư liệu anh công bố (nhưng cũng có trừờng hợp chính vì người ta hiểu quá rõ giá trị của tư liệu nên...).

Từ nhiều năm qua để lại vợ con ở quê, anh sống một mình ở thành phố này, lặng lẽ, khiêm nhường, cần mẫn làm nhiều việc để kiếm sống. Dù làm việc gì anh cũng không từ bỏ niềm đam mê nghiên cứu cổ sử của mình. Nhiều lần kêu anh đi cà phê, anh nói không có rảnh, bạn bè chọc: ông làm gì mà bận, chảnh dữ ha. Anh cười: đang viết bài trả nợ nè. “Nợ” là chính anh tự nợ mình một vấn đề khoa học chứ đâu phải nợ ai tiền bạc. Và bạn bè biết sắp được anh chia sẻ một công trình nghiên cứu nghiêm túc và có giá trị. Được in hay không, với anh không quan trọng, vấn đề là anh đã làm được nhiều việc chắn chắn hữu ích cho những ai quan tâm đến lịch sử văn hóa hôm nay và mai sau.Không có nhiều “nhà” nghiên này cứu nọ trong các viện, trường mà viết được như anh. Có lẽ khi tự thóat khỏi những ràng buộc cơm áo sân si chức vị đời thường, từ ý thức công dân và bằng tri thức của mình, người nghiên cứu sẽ tìm thấy không gian tư duy tự do cho ý tưởng bay lên, như cánh diều trên bầu trời lộng gió.

Dọn về quê, đồ đạc của anh không có gì, nhiều nhất chỉ là sách. Hàng ngàn cuốn sách quý anh cân nhắc chọn lựa mua bằng đồng nhuận bút khiêm tốn, tìm kiếm trong hầu hết các hiệu sách cũ khắp Sài Gòn, Chợ Lớn… Không hiểu sao anh có thể sắp xếp hết chừng đó sách vở trong ngôi nhà anh ở thuê nhỏ xíu không đủ chỗ mà quay qua quay lại? Có người nói đùa: số sách này bán đi ông sống khỏe cả đời. Anh cười hiền lành: sống đui mù cực lắm ông ơi.

Năm nào cũng vậy, gần Tết là anh mua giấy dó mực tàu rồi cùng bạn bè ngồi ở một nơi nào đó, viết chữ cho bạn, cho cả người qua đường. Thư pháp Hán Nôm của anh tuyệt vời, mềm mại mà cứng cỏi, thanh thóat. Mỗi người đều nhận ra mình trong mỗi chữ nôm na anh tặng.
Những lần ngồi lai rai trong quán nhỏ bên bờ kè, anh kể chuyện xưa chuyện nay bằng cái giọng từ từ, tưng tửng… Bạn bè mỗi người góp một câu rồi cùng cười nghiêng ngả. Sau những trận cười là nỗi đắng cay, người viết có tâm thời nào cũng vất vả…

Thời buổi lạm phát, nơi đô thành sống khó khăn quá thì anh cứ về quê mà ở nhưng đừng đi ẩn nhé. Về đó yên tĩnh viết lách, theo đuổi công việc nghiên cứu nhọc nhằn…  Sài Gòn – Định Tường đâu có xa xôi, xe cộ giờ rất sẵn. Rảnh thì nhắn nhe lên xuống thăm nhau, nếu có ngồi bờ kè nhớ nhau thì kêu điện thọai, mà cần gì còn có email, khó gì…

Tưởng chỉ ngày xưa mới có chuyện vào lúc thời buổi nhiễu nhương trắng đen lẫn lộn vàng thau khó lường, thì các nho sĩ bèn rời bỏ kinh thành về quê ẩn dật… Bỗng ngậm ngùi. Người như anh dường như “vận” cả số phận quê hương…

Tạp chí Tia sáng ngày 22.8.2012. Repost nhân dịp nhà nghiên cứu PHẠM HOÀNG QUÂN ĐOẠT GIẢI SÁCH HAY 2019

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, trong nhà

Không có mô tả ảnh.

CHUYỆN PHIẾM SỬ HỌC của TẠ CHÍ ĐẠI TRƯỜNG


Tôi đọc cuốn sách mới gồm nhiều tiểu luận ngắn của nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường vẫn với sự thích thú và… tò mò như mỗi lần tôi đọc các công trình của ông. Thích thú vì những góc nhìn lạ, sự lý giải bất ngờ cho những sự kiện lịch sử, tuy không phải lúc nào cũng làm người đọc có chút kiến thức phải “tâm phục khẩu phục”; tò mò vì không biết trong cuốn sách này ông sẽ “bóng gió” xa gần chuyện gì đây? “ôn cố NHI tri tân” – ôn cũ ĐỂ MÀ biết mới, chuyện mới nào ta sẽ hiểu/biết qua những câu chuyện cũ nhân vật cũ mà ông “điểm mặt”?

Những câu chuyện lịch sử qua góc nhìn của Tạ Chí Đại Trường lan man nhưng không linh tinh, mọi chuyện đều từ cứ liệu lịch sử. Vẫn từ phương pháp so sánh và liên kết các nguồn sử liệu ông “bóc trần” những sự kiện ẩn sau “chính sử”, đưa triều đình từ nơi cung cấm ra xã hội và vua quan không phải là vị thần uy nghi mà cũng là “dân thường” qua những sinh hoạt, ứng xử đậm tính “truyền thống” hay mang đặc trưng của dòng họ, của văn hóa vùng miền.

Cuốn sách gồm sáu tiểu luận về những vấn đề xưa nay hầu như chưa được đặt ra trong chính sử như vai trò quan trọng của nó cần được như vậy. Đó là các tiểu luận SEX VÀ TRIỀU ĐẠI, “TIỀN BẠC” – VĂN CHƯƠNG VÀ LỊCH SỬ; THÊM CHÚT TIỀN CHO TOÀN THƯ; THẦN TIỀN VÀ TIỀN THẦN; TÂY TIẾN, và TRẦN. Những vấn đề được bàn đến hoàn toàn không vắng bóng trong sử cũ, nhưng ghi chép rải rác, lướt qua, như là “tiện thể”… Cũng không khác được vì các bộ sử xưa ghi chép theo biên niên, tôn trọng lịch đại của sự kiện mà sự đồng đại phải “nhờ” người đọc tinh ý liên hệ xâu chuỗi lại dựng nên một bức tranh toàn cảnh.

Đọc và hiểu lịch sử từ sử liệu và ”dưới” ngôn từ ghi chép của sử liệu – đó là cách tiếp cận những sự thật khác của xã hội quá khứ, ngoài những gì được ghi chép chỉn chu trong chính sử. Tất nhiên những suy luận, suy đoán không thể vô căn cứ.
Nhờ cách đọc “liên ngành, xuyên ngành” của Tạ Chí Đại Trường mà người đọc hiểu thêm những “ẩn ức” và hiện thực về tính dục và giới tính trong không gian các triều đại phong kiến mà không ít trường hợp góp phần giải mã sự kiện lịch sử hay là căn nguyên sâu xa những hành xử của một nhân vật. Nói chuyện về tiền bạc Tạ Chí Đại Trường cảnh giác người nghiên cứu về sự nhầm lẫn thậm chí sai lạc khi định niên đại của những đồng tiền quý hiếm mà không khảo về hoàn cảnh xã hội khi đồng tiền đó được đúc ra. Điểm lại quan hệ ngoại giao của Đại Việt với lân bang phía tây ông cho thấy vai trò của những thổ hào không thuộc tộc người “kinh/việt” và ảnh hưởng của họ đến các triều đại Đại Việt. Đặc biệt khảo luận về thời TRẦN từ nguồn gốc đến những giai đoạn vẻ vang của triều Trần, từ mối quan hệ phức tạp chằng chéo của dòng họ đến mối quan hệ triều chính, sự lồng ghép những quan hệ huyết thống và xã hội… cho thấy một triều đại rất đặc biệt và đặc thù của thời kỳ phong kiến Đại Việt.

Sự giải thích, giải nghĩa hiện tượng lịch sử như trong tập sách này làm người đọc thích thú, nhờ đó có thể tự mình tìm hiểu lịch sử mà không quá phụ thuộc vào sự ghi chép của sử gia. Lịch sử là gì nếu không là sự tự nhận thức của mỗi người, nhất là từ bài học quá khứ nhận thức được về ngày hôm nay?
Sử học hiện đại luôn cung cấp cái nhìn đa chiều cho người đọc, cả về (và đặc biệt) những vấn đề của quá khứ. Tập sách này của nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường là theo xu hướng ấy.

Nguyễn Thị Hậu 
• Nhà xuất bản Tri Thức và Công ty sách Nhã Nam, phát hành tháng 4/2016

Trong hình ảnh có thể có: vẽ

VỀ NHỮNG NGÔI TRƯỜNG THÂN YÊU


Có lẽ tôi đã từng đọc tập truyện mang đậm tính hồi ký này nhưng không thể nhớ ra đã đọc trong thời gian nào? Nhưng điều đó không quan trọng vì lần này tôi vẫn có một cảm giác thật quen thuộc qua tất cả những gì các tác giả viết lại, chân thực và tràn đầy tình cảm với Mái trường thân yêu, với Thầy giáo của những học sinh giỏi toán.

Truyện dài Mái trường thân yêu kể về một ngôi trường miền trung du, qua đôi mắt một cậu học sinh Hà Nội sơ tán về đó vào những năm chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc. Những trang sách làm tôi được sống lại thời gian đó, quen thuộc quá chừng và nhớ quá chừng những lớp học đơn sơ mái lá, hào giao thông ngay dưới chân bàn, mũ rơm trên lưng mỗi ngày theo đường làng, men theo cánh đồng, ven đồi đến trường, tiếng trống trường khi khoan thai báo hiệu giờ học, khi dồn dập báo động máy bay Mỹ… Và con người bình dị của làng quê, trong đó có thầy cô giáo và những người bạn mới. Thế hệ trẻ em thành phố như chúng tôi có tuổi thơ và lớn lên trong chiến tranh, có thể tự hào nói rằng rất nhiều điều tốt đẹp chúng tôi đã học được từ cuộc sống ở thôn quê: sự tự lập, biết quan tâm và chia sẻ với mọi người, và biết lao động chân tay để hiểu giá trị của những gì mình đang được hưởng dù chỉ là vật chất đơn giản.

Sự thiếu thốn về vật chất hình như làm cho người ta, nhất là bọn trẻ lại say mê sách vở hơn? Tôi nhớ mỗi lần có một quyển sách mới là cả một sự kiện, mỗi quyển sách đem lại bao điều bổ ích và bao mộng tưởng – điều không thể thiếu được đối với trẻ em. Ngày nay phương tiện nghe nhìn phổ biến nên đã làm mất thói quen đọc sách ở nhiều người, đối với trẻ em phương tiện nghe nhìn “giết chết” sự tưởng tượng  của trẻ, một đặc tính mà khi người ta lớn sẽ không còn nữa.

Sự luyến tiếc “bao giờ cho đến ngày xưa” ở nhiều người hôm nay bởi vì thời ấy nghèo khó, vất vả nhưng tràn đầy tình người – cũng là một điều xã hội ngày nay đang báo động. Nếu ai đó nhìn về miền Bắc trong những năm chiến tranh chỉ thấy sự nghèo khó thiếu thốn, cười chê người miền Bắc “quê mùa” không biết đến những sinh hoạt vật chất như ở miền Nam, thì đó là thể hiện sự hiểu biết nông cạn và đầy định kiến! Họ đã không nhìn thấy, không được biết những con người nghèo khổ và quê mùa ấy có tấm một lòng nhân hậu vô cùng, sẵn sàng nhường những gì tốt nhất cho người thành phố sơ tán về ở nhờ nhà mình. Tôi nghĩ, không có trải nghiệm này chưa chắc thế hệ chúng tôi đã trưởng thành về tinh thần – vị tha, không quá coi trọng vật chất và biết cảm thông.

Một trong những tấm gương cụ thể mà lứa tuổi chúng tôi hàng ngày được soi vào, đó là những người thầy người cô ở trường phổ thông các cấp. Quả đúng là những “người mẹ, người cha” ở trường, chăm lo cho chúng tôi thay thế cho cha mẹ chúng tôi đang chiến đấu và lao động trên mọi miền đất nước. Các thầy cô cũng nghèo khó, cũng vất vả, cũng có cuộc sống như những người nông dân, nhưng luôn hành xử đúng mực và giữ được sự kính trọng của phụ huynh, của xã hội với bản thân, với nghề nghiệp. Thầy cô còn là những mẫu mực về tri thức mà học trò luôn hướng đến. Thầy giáo của những học sinh giỏi toán là một trong nhiều người Thầy như vậy. Ông đã khơi gợi, định hướng, uốn nắn và quan trọng là đã làm cho học sinh tìm ra và hiểu được khả năng của chính mình, dù sau này làm nghề gì thì những khả năng được Thầy khơi gợi luôn là hành trang quý giá của mỗi người học trò.

Cám ơn các tác giả đã mang lại cho tôi cả một quá khứ đẹp của thời thơ ấu. Mong rằng bạn đọc sẽ nhận được từ cuốn sách này nhiều điều hay về một thời đã qua, được viết lại một cách chân thực, giản dị, không tô vẽ cũng không bi kịch hóa – điều có trong không ít các tác phẩm bây giờ viết về thời quá khứ.

Sài Gòn ngày 1.11.2015
Nguyễn Thị Hậu


 

SÁCH MỚI ĐÂY Ạ - CÁC BẠN ỦNG HỘ NHÉ :)

http://www.nxbtre.com.vn/cach-nhau-chi-mot-giac-mo-tap-but.13121.5351.-1.128.aspx

Tiến sĩ khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu là người rất quen thuộc với những ai yêu quý và quan tâm đến việc bảo tồn di sản văn hóa Sài Gòn. Từ góc nhìn của nghề nghiệp và bằng một tình yêu Sài Gòn sâu đậm nhưng cũng rất lãng mạn, những tản văn, tạp bút của chị đã giúp chúng ta nhìn thấy và cảm nhận được vẻ đẹp của thành phố và con người Sài Gòn đằng sau cuộc mưu sinh vội vã hàng ngày. Cách nhau chỉ một giấc mơ chính là mơ ước của mỗi người Sài Gòn làm sao giữ gìn hồn phố thị, là ký ức nhớ quê của những người miền Tây xa xứ, là tự vấn của thế hệ đi trước đã để lại gia tài văn hóa gì cho thế hệ sau.
Bạn có thể cùng mơ ước một điều gì đó với nhiều người khác, nhưng một giấc mơ, ngay cả về điều đó, thì nó chỉ là của riêng bạn mà thôi. Ký ức và những giấc mơ là tài sản quý giá của ta không ai có thể lấy đi được. Miễn là đừng đánh mất giấc mơ.




Ảnh của Nguyễn kc Hậu.



Sách sắp ra lò :)




TS khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu là người rất quen thuộc với những ai yêu quý và quan tâm đến việc bảo tồn di sản văn hóa Sài Gòn. Từ góc nhìn của nghề nghiệp và bằng một tình yêu Sài Gòn sâu đậm nhưng cũng rất lãng mạn, những tản văn, tạp bút của chị đã giúp chúng ta nhìn thấy và cảm nhận được vẻ đẹp của thành phố và con người Sài Gòn đằng sau cuộc mưu sinh vội vã hàng ngày. Cách nhau chỉ một giấc mơ  chính là mơ ước của mỗi người Sài Gòn làm sao giữ gìn hồn phố thị, là ký ức nhớ quê của những người miền Tây xa xứ, là tự vấn của thế hệ đi trước đã để lại gia tài văn hóa gì cho thế hệ sau.
Bạn có thể cùng mơ ước một điều gì đó với nhiều người khác, nhưng một giấc mơ, ngay cả về điều đó, thì nó chỉ là của riêng bạn mà thôi. Ký ức và những giấc mơ là tài sản quý giá của ta không ai có thể lấy đi được. Miễn là đừng đánh mất giấc mơ.

KHI ĐÀN BÀ “CHƠI” TRONG THẾ GIỚI ẢO


  
LÊ MINH QUỐC

1.
Nếu đọc từ dòng chữ thứ nhất đến dấu chấm cuối cùng, chẳng có một lúc nào há miệng ra cười toe toét, cười khà khà, cười khanh khách, cười nôn ruột… tôi tha thiết đề nghị bạn nên tìm gặp bác sĩ để khám xem sợi dây thần kinh cười của mình “có vấn đề” gì không?
Nếu khép lại trang sách, trong lòng không dạt dào niềm cảm hứng những muốn tung chăn đạp gối, lao ào ra bàn phím, ngay lập tức phải post một cái notes, status gì đó lên mạng xã hội cho thiên hạ “biết mặt chơi”, tôi da diết khuyến cáo bạn nên tự hỏi chính mình: “Ủa? Ta có làm sao không?”

2.

Sở dĩ, tôi quả quyết như lúc Võ Đông Sơn thề non hẹn biển với Bạch Thu Hà vì rất đơn giản, tập sách này “đọc được”. Được quá đi chứ, cả ba điệu nhảy từ Rock, Valse đến Lambada đều ấn tượng và điệu nghệ lắm. Dù viết bất kỳ đề tài nào, cả Beo Hồng, DoNa Đỗ Ngọc, Hậu Khảo Cổ cũng có cách trình bày dí dỏm, thông minh và tự trào.
Nói như thế mà nghe được à? Chẳng lẽ, cánh đàn ông không có những tố chất ấy khi “chơi” facebook sao? Thì có. Nhưng ở đây là những trang viết đã nhìn và lý giải vấn đề bằng cảm thức đàn bà, rất đàn bà mà đôi khi các đấng mày râu e ngại nói đến. Họ chả ngại gì. Viết như chơi. Như đùa. Đây là cảnh tân hôn cực kỳ XXX: “Đêm tân hôn. Chàng tắm táp trước rồi lăn ra ngủ.
Cô, từ nhà tắm bước vào. Một cảnh tượng kinh khiếp đập thẳng vào thần kinh.
Chàng, tênh hênh, trần như nhộng”. Chuyện gì xẩy ra? Đọc tiếp, sẽ rõ. Lại có gã đàn ông si tình đến lạ lùng: “Dẫn  đi ăn chè vỉa hè Yên Đổ, gọi mỗi một  cho mình. Khách đông, bà chủ gánh có ý lấy lại  ghế. Hắn cười hiền lành lót dép ngồi, chăm chú nhìn mình ăn. Mình vô tâm vô tính, không hề biết tiền Hắn chỉ  đủ trả cho 1 chén chè”. Thú vị chưa? Đôi khi chỉ một vài chữ, lại tạo nên một niềm xao xuyến không nguôi: “Lần đầu tiên đi thang máy, Thím tuột dép bỏ ngoài. Mắt thím khô không còn một giọt nước”. Một chi tiết đắc giá. Miêu tả tính cách nhân vật đấy ư? Không, Beo Hồng chỉ quan sát. Mà nói thật, sự quan sát của cô táo tợn lắm, không người nào, không chuyện gì mà cô không biếm nhẽ, cười cợt một cách thông minh và… đanh đá. Do đó, cô ưõn ngực: “Mình là đứa trẻ con không bao giờ lớn, đã thế lại bướng, người lớn bảo đừng chọc tay vào ổ điện thì chắc chắn mình sẽ chọc vào,  còn chọc nhiều lần chọc tức nữa cơ”. Nghe mà tức ói máu (!?). Chọn cách viết “đá giò lái” thâm hậu nên dù ngắn nhưng Beo Hồng cũng tạo được sự lôi cuốn như xem phim trinh thám!

Kế đến, DoNa Đỗ Ngọc lại tạo nên phong cách viết “thẳng ruột ngựa”, chẳng hoa hòe hoa sói nhưng hấp dẫn, có duyên - nhất là khi cô bình luận chuyện đàn ông - đàn bà: “Không, đàn bà thường không tự tin như đàn ông. Họ cũng ngại. Khi biết vợ ngoại tình, đàn ông thường cao thượng, họ ít dám uýnh tình địch mà uýnh vợ. Đàn bà hèn hơn, không thèm uýnh chồng, họ uýnh "con kia". Nghĩ lại đi, có đúng không? Lại nữa, chỉ đàn bà mới có thể rơi vào cảnh ngộ dở khóc dở cười: “Vé buffet khách sạn 5 sao giá triệu trở lên. Mà mẹ ơi, nàng ta lụa là khăn quàng lướt thướt đi lại, nhìn ngó lơ đãng, cảnh vẻ dao dĩa, hết cả buổi chỉ ăn đúng một con hàu, hai con sò huyết và ba lá xà lách. Báo hại mình vì lịch sự ăn cầm chừng, tối về phải xơi bù mì tôm Hảo Hảo ba ngàn/ gói, tiếc đau tiếc đớn bọn hàu, ghẹ nhập từ Alaska…Đứa nữa, ăn uống mỹ thuật lắm, nói tiếng Anh kêu bằng ít ạc. Vào nhà hàng, nó gọi chỉ một cái bánh ngọt Tiramisu, một ly cốc teo hay cà phê lơ doa hay trai lơ gì đó. Là bữa trưa của nó. Nó khiến mình mặc cảm phàm phu tục tử. Mỗi lần nó nhắn tin rủ đi ăn, mình thường nhắn lại “đang…họp”. Đọc mà tủm tỉm cười, bởi người đâu lại thật thà đến thế cơ chứ? Những chia sẻ, tâm sự này dù nhỏ nhưng tính cách nhân vật hiện lên rõ nét. Đọc chậm và nghĩ ngợi, đôi lúc bật cười khi nghe cô tâm sự: “Đàn bà nhẹ dạ lắm, chả thế mà có câu “đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu”. Chả thế mà giận nhau tưng bừng với chồng, nước mắt nước mũi ngập lụt, thậm chí bị các lão xáng cho bạt tai, đấm đá như võ sĩ Vovinam...thế mà nhẹ dạ khi các lão áp dụng nghệ thuật làm lành, dân số nước ta thế nào cũng thêm một trẻ”. Ai nhẹ dạ? Đàn ông hay đàn bà?

Vội gì phải đi tìm câu trả lời, cứ hỏi nhân vật kế tiếp là Hậu Khảo Cổ. Nói thế, bởi ở đây cũng là phong cách giàu tính hài hước, tự trào mà Hậu Khảo Cổ gọi “Vỉa hè tạp lục” - một cách nhễu nhại Phủ biên tạp lục của cụ Lê Quý Đôn đó chăng?
Có thể lắm chứ. “Thầy là người thông suốt quá khứ tương lai nên khi nhìn Lo, thầy phán rằng: nếu Lo chết lúc này kiếp sau sẽ cơ cấu thành hoa hậu, được quy họach làm phu nhơn một quan chức Bộ quản lý mạng miếc blog facebook… thường xuyên bị chặn bị kiểm soát bị tường lửa… Nghe vậy, Lo chợt tỉnh, thều thào: làm cách nào để không có cái Bộ quản không có lý ấy?”.  Đọc xong, bạn chọn kiểu cười gì? Lại nữa, ngày nọ hai mẹ con dạo quanh Hồ Gươm, “con gái nói một cách hết sức nghiêm túc: Mẹ, sau này mẹ già thì đừng ra đây mà tập thể dục nhé, làm xấu cả Hồ Gươm!”. Hậu Khảo Cổ à, trẻ con… thông minh quá đấy chứ! Rồi lại những chuyện khác như lúc cô lên miền Tây Bắc, mẩu đối  thoại giữa tài xế và hành khách nhộn nhạo, sinh động không thể tả. Cứ như xem một màn tấu hài giữa nghệ sĩ Hoài Linh với Thúy Nga trong đời thường.Và cũng không khác hai bồ tèo Hồng Beo, DoNa Đỗ Ngọc, có lúc Hậu Khảo Cổ cũng cao hứng bàn luận chuyện “thắc mắc biết hỏi ai” thật rôm rả: “Túm lại: Đàn ông hay nói/ kể tiếu lâm về… tình dục; đàn bà hay “tám” về (thói xấu) đàn bà khác. Nhưng mức độ “ác liệt”, nói nhiều nói to thì cả đàn ông và đàn bà như nhau. Hehe…”.
Túm lại, tôi cũng mạnh miệng, mồm mép tép nhảy mà rằng: “Một người một vẻ mười phân vẹn mười”.

3.
Trong thời buổi này, sách in ấn, phát hành ào ào như lá mùa thu. Tìm đọc một quyển sách ưng ý thật khó. Nếu là bạn, tôi chọn tập sách này đặng đọc rỉ rả, đọc kỹ, đọc nhiều lần, mỗi lần đọc vài trang và cười hé hé cho đỡ buồn.
Tôi thích ba tác giả này lúc đứng chung trong một tập sách, bởi họ không không cố ý phải làm văn, phải so so, phải cân nhắc, phải lựa chọn từng chữ mà họ chỉ viết theo mạch cảm xúc đang có. Nghĩ đến đâu, viết đến đó. Cảm xúc thế nào, viết ra thế ấy. Nghĩ cho cùng, đây cũng là một dạng viết của các tín đồ “chơi” facebook toàn cầu. Nhờ thế, các bài viết dù ngắn, dài vẫn có những chi tiết thật và đời. Không bịa thêm, không hư cấu mà tự nó đã hấp dẫn, có sức sống riêng. Ngay cả câu cú, ngôn từ, sử dụng chữ cũng khác với cách viết trên văn bản truyền thống. Sức mấy văn bản truyền thống chấp nhận kiểu bông lơn mà họ đã thể hiện trong thế giới ảo: “kệ mịa”, “xang chọng”, “like còm”, “hồi xoan”, “đẹp chai”, “nhíp da”, “nhà zăn nước goài”, “ziết zăn”, “đi học đàng goàng”, “zồng khoai”, “dek thèm” v.v…
Điều này không phải làm rối rắm tiếng Việt, bởi trong ngữ cảnh hài hước một cách thầm trầm, bông đùa một cách thân mật thì Beo Hồng, DoNa Đỗ Ngọc, Hậu Khảo Cổ đã cố tình sử dụng như một thủ pháp gây cười. Mà người ta chấp nhận được, không phải phàn nàn gì. Vui thôi mà. Đời sống thế giói mạng, dù muốn dù không, tự nó đã có những quy ước riêng trong phong cách thể hiện. Đố có văn bản hành chính nào có thể quy định, bắt buộc nổi rằng phải viết thế này, phải viết thế kia. Thì, cứ để xem “chữ nghĩa” ấy có tồn tại lâu dài hay không là chuyện khác. Trước mắt, ta bắt gặp vô số những cách nói ngộ nghĩnh như “phận giọng mỏng mông dày”; “biến cho nước dùng nó trong”, “món dở hơi biết bơi” (Beo Hồng); “người Kinh ta… kinh lắm”, “nhíp da là một em camera”, “quấy rối tình phi cơ”, “khi yêu ai chả ngu, nhưng ngu vì yêu cũng đáng” (DoNa Đỗ Ngọc); “đailim đập đít lên thành đờrim”, “một con ngựa đau cả tàu tiệt không con nào thèm bỏ cỏ”, “Đời chúng ta đâu có họp là ta cứ đi” (Hậu Khảo Cổ) v.v… Quái, đọc mà “phê như con tê tê” để rồi có lúc “cứng đơ như cây cơ”, phải không?
Thì đã nói rồi mà, ở đây, họ tiếu táo, tự trào và chẳng thèm dối lòng lúc bông đùa, ngẫm nghĩ và chia sẻ trong thế giới ảo.
Nhờ thế, trang viết có sức hấp dẫn riêng. Đôi lần, có những lúc cứ như cắn phải trái ớt cay xè mà vẫn bật lên tiếng cười thích thú.

Sài Gòn ngày 8 tháng 3 năm 2014
L.M.Q


 

Nhân ngày giỗ thứ 29 của Ba.

Ba ơi. Con nhớ Ba!

NHẬT KÝ DỌC ĐƯỜNG LƯU DIỄN
LỜI GIỚI THIỆU

Nghệ sĩ Ưu tú Nguyễn Ngọc Bạch sinh ngày 12-3-1922, tại xã Mỹ Hiệp, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Tham gia Cách mạng từ “mùa thu rồi, ngày hăm ba…”, từ năm 1945 đến ngày ông mất, 1 – 10 - 1985, đối với ông sáu mươi ba tuổi đời và bốn mươi năm tuổi nghề thật khó có thể tách rời lý lịch nghệ sĩ và lý lịch chiến sĩ.
Gia đình nghèo, ông thân sinh dù phải mướn ruộng của địa chủ để làm nhưng vẫn ráng chắt bóp cho Nguyễn Ngọc Bạch được đi học. Với sự giúp đỡ của người anh lớn là Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng (1), Nguyễn Ngọc Bạch theo học trường Lasan Taberd tại Sài Gòn và trở thành thày giáo trẻ.
Từ nhỏ ông đã ham thích “hát xướng” và tình yêu thời thơ bé đó cứ lớn dần, lớn dần trong giấc mộng đẹp của thầy giáo trẻ Nguyễn Ngọc Bạch. Năm 1941 khi là thầy giáo ở trường huyện Chợ Mới, chỉ với cây măng-đô-lin ông đã say sưa dạy học trò các ca khúc của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sáng tác cho phong trào yêu nước tiền khởi nghĩa. Ông còn tập hợp một số thanh niên trong quận, tập tuồng Hận thâm cung để biểu diễn lấy tiền nuôi học trò nghèo.

Từ ham thích sân khấu, ý thức làm việc nghĩa đã đưa ông đến hành trình của người nghệ sĩ Cách mạng một cách tự nhiên. Tuổi trẻ của ông đã trôi đi trên sân khấu lưu động đủ loại. Bất cứ địa diểm nào cũng có thể thành sân khấu cho kịch đoàn của ông biểu diễn. Bà con Nam bộ trong vùng giải phóng thời kháng chiến chống Pháp vẫn được coi những vở diễn: Trần Hưng Đạo bình Nguyên, Hai chiếc xuồng, Bạch Mao Nữ do kịch đoàn “Cửu Long Giang” phục vụ. Trên sân khấu kháng chiến, ông đã dàn dựng nhiều vở diễn mà kịch bản cũng do ông sáng tác như: kịch Sanh khổ, Bình minh, Một cuộc du lịch, Bán lúa rẻ, Giữ trâu, Ông hai Hiền, vở cải lương Xử tội Bẹt-na, ca kịch Giác ngộ, Giữ lúa … Tiếc rằng nhưng kịch bản đó không còn được lưu giữ đến nay.

Sau ngày tập kết ra Bắc, Nguyễn Ngọc Bạch đã cùng với Nghệ sĩ nhân dân Tám Danh dàn dựng các vở: Phụng Nghi Đình, Kiều Nguyệt Nga, Nàng tiên Mẫu Đơn, Máu thắm đồng Nọc Nạn, Khuất Nguyên, Người con gái Đất Đỏ, Thạch Sanh, Trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, Tình riêng nghĩa cả… Tập thể Đoàn Cải lương Nam Bộ, bằng hình tượng nghệ thuật của các vở diễn đã phản ánh cuộc đấu tranh anh hùng của đồng bào miền Nam yêu thương. Là một nghệ sĩ Cách mạng, thành tích nghệ thuật ở anh đã được ghi nhận với nhiều giải thưởng về sáng tác ca khúc, soạn kịch, đạo diễn như: giải thưởng của báo “Tiếng súng kháng địch” cho hai bài hát “Cương quyết ra đi” và “Nguồn sống mới” (1947); giải khuyến khích của Chi hội Văn nghệ cho vở kịch Bán lúa rẻ hay là Tấm lòng vàng (1952); giải đặc biệt của Chi hội Văn nghệ Nam Bộ về “Công lao đóng góp cho nền sân khấu Nam Bộ” (1953); giải nhất Hội diễn vở Máu thắm đồng Nọc Nạn (Phạm Ngọc Truyền biên kịch; Tám Danh, Ngọc Bạch đạo diễn, năm 1958); huy chương bạc về đạo diễn vở Người con gái Đất Đỏ (Tám Danh, Ngọc Bạch, Ngô Y Linh đạo diễn – 1962); Huy chương vàng về đạo diễn vở Bên dòng Nhật Lệ (Ngọc Bạch, Thành Ý đạo diễn – 1970). Ông được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú năm 1982 và truy tặng huân chương Lao động hạng Ba vào năm 1999.

Thế nhưng, phần thưởng mà có lẽ Nguyễn Ngọc Bạch quý hơn tất cả, chính là lòng yêu mến của nhiều thế hệ đồng nghiệp dành cho ông. Liên tục phụ trách lãnh đạo các đoàn văn công kể từ ngày 23-9-1945, ông đã làm trưởng đoàn “Cứu quốc kịch đoàn”, “Đoàn tuyên truyền xung phong”, “Đoàn tuyên truyền lưu động” (thuộc ban tuyên truyền tỉnh Long Xuyên); “Đoàn tuyền bá vệ sinh” (Sở Y tế Nam Bộ); “Đoàn Văn nghệ lưu động” (Sở Thông tin Nam Bộ); “Đoàn Ca kịch Cửu Long Giang” (Chi hội văn nghệ Nam Bộ); “Đoàn Văn công Nam Bộ” (tập kết thuộc Bộ Văn hóa); “Đoàn Cải lương Nam Bộ” (Bộ Văn hóa); Đoàn kịch Nam Bộ” (Bộ văn hóa); “Đoàn kịch Cửu Long Giang” (Sở Văn hóa Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh). Có thời gian ông làm Phó Giám đốc Nhà hát Cải lương Việt Nam (1964 -1971) và từ 1981 là Phó Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh. Dù là lãnh đạo nhưng đối với anh chị em văn nghệ sĩ, Nguyễn Ngọc Bạch bao giờ cũng là người bạn có tâm hồn trong sáng, bộc trực; một “huynh trưởng” nghiêm khắc, nhưng rất giàu tình cảm và cởi mở, chân thành. Kính trọng và quý mến, bạn bè, đồng nghiệp thường gọi ông là “anh Bảy”, “chú Bảy Bạch” hay có khi chỉ thân thương là “Bảy”.

Qua các thời gian phụ trách nhiều đoàn nghệ thuật, Nguyễn Ngọc Bạch đã đi phục vụ suốt chiều dài đất nước. Từ vùng biển tới núi cao, từ Bắc vô Nam, từ kháng chiến chống Pháp tới chống Mỹ. Và trên mỗi chặng đường lưu diễn ông đã ghi lại cho mình những suy nghĩ, cảm nhận, trăn trở… về nghề nghiệp, về tình nghĩa của những người nghệ sĩ. Ông viết nhật ký không đều đặn, có những giai đoạn nhật ký của ông là những ghi chép như truyện ngắn, ký sự, hồi ký, cả đề cương bản thảo công trình nghiên cứu về sân khấu cải lương… mà phần lớn đã được Vũ Kim Sa tập hợp và xuất bản trong cuốn “Nguyễn Ngọc Bạch – một đời sân khấu” (2).

“Nhật ký dọc đường lưu diễn” là cuốn sách thứ hai của ông do gia đình tổ chức bản thảo, Nhà xuất bản Văn hóa – Văn nghệ TP Hồ Chí Minh xuất bản. Cuốn nhật ký dừng lại chỉ vài tháng trước ngày ông mất, trong sách có nhắc đến nhiều văn nghệ sĩ cùng thời với ông, nhiều người còn sống nhưng có người đã khuất, cả những chuyện thế sự buồn vui…nhưng vẫn đầy ắp sự nhân hậu và ấm áp tình người. Những người tổ chức bản thảo giữ nguyên những chữ viết tắt tên người để tôn trọng nguyên bản. Có thể nhận thấy hai cuốn sách này bổ sung cho nhau cả về thời gian và không gian, giúp cho bạn đọc hiểu thêm về một thời kỳ của sân khấu Việt Nam qua góc nhìn của một người nghệ sĩ cả cuộc đời gắn liền với những chuyến đi và ánh đèn sân khấu.

Có một tình yêu bồng bột mà sâu nặng; sôi nổi, mãnh liệt mà tha thiết, thủy chung – Đó là mối tình của Người Nghệ sĩ hiến dâng cho sự nghiệp sân khấu cải lương Nam bộ nói riêng và sân khấu Việt nam nói chung. Nghệ sĩ ưu tú Nguyễn Ngọc Bạch đã sống với một tình yêu như thế.

Tháng 2-2012
Nhà xuất bản Văn hóa – Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh

(1) Bác Sĩ, Thầy thuốc Nhân dân Nguyễn Văn Hưởng, Anh hùng Lao động, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội, nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
(2) Nguyễn Ngọc Bạch – một đời sân khấu. Nhà xuất bản Trẻ, TPHCM, 2004.

Tạp chí Nghiên cứu phát triển số 1/2014

Số tạp chi cuối mình là Tổng Biên Tập bây giờ mới phát hành :)
Trong mỗi số tạp chí mình làm bao giờ cũng có 1 bài tư liệu của các học giả là người Việt Nam đang sống và làm việc ở nước ngoài. Những bài này giúp bổ sung cho người nghiên cứu trong Viện những vấn đề cơ bản và vấn đề mới trong lĩnh vực KT - XH mà họ chưa được tiếp cận. 





Thế giới mạng dưới góc nhìn văn hóa

Mạng xã hội phổ biến đến nỗi nhiều người có xu hướng tiếp nhận tin tức từ mạng xã hội hơn là báo chí mỗi ngày. Tuy nhiên, mạng internet (gọi tắt là mạng) đang giúp kết nối con người hay đang “hủy diệt” thế giới thật? 
Dưới góc nhìn của một nhà văn hóa, TS Nguyễn Thị Hậu, nguyên Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP. Hồ Chí Minh, đã có những nhận định về thế giới “ảo mà thật” này qua cuốn sách Thế giới mạng và tôi.
Muôn mặt cuộc sống trên mạng
TS Nguyễn Thị Hậu đã “rong chơi” trên mạng xã hội gần mười năm nay. Chị cho biết: “Tôi đã từng rất giận khi thấy con gái viết những chữ “hiểu chết liền” trên trang blog cá nhân. Còn bây giờ, trang blog và Facebook đã trở thành thế giới quen thuộc của mẹ con tôi. Mạng xã hội là nơi các con nói về tình yêu thương dành cho cha mẹ, về tình cảm bạn bè thân thiết, có lần con gái mượn blog để xin lỗi vì đã làm cho mẹ buồn lòng…”.
Theo chị, những người chê bai, bác bỏ những giá trị tích cực của mạng xã hội khi chưa từng tham gia hoặc tìm hiểu nhiều mặt giá trị của mạng là điều khó chấp nhận.
“Trước khi muốn chê bai, bác bỏ điều gì, chúng ta cần nhìn nhận một cách khách quan tất cả các mặt của sự việc, hiện tượng đó, mạng xã hội cũng không ngoại lệ”, TS Nguyễn Thị Hậu nói. “Trước đây, một số người từng cho rằng văn hóa Nam bộ không đặc sắc. Nhưng việc phát hiện nền văn hóa Óc Eo cho thấy nhận xét trước đó là chưa chính xác”.
Không thể chối cãi rằng mạng xã hội làm cho cuộc sống con người phong phú hơn, nhiều màu sắc hơn và tiếp cận những thông tin chúng ta quan tâm nhanh nhất. Trong cuốn sách Thế giới mạng và tôi, TS Nguyễn Thị Hậu đã viết về “tính cách” của mạng xã hội như nó vốn có. Muôn mặt cuộc sống đời thường đều được phản ánh trọn vẹn trên mạng xã hội và có khi, chúng ta còn cảm thấy bất ngờ nhận ra khả năng biến hóa của chính mình.
“Trên thế giới mạng ảo mà thật (lúc này lúc khác) bạn sẽ thể hiện sự kiêu ngạo/ yếu đuối/ hài hước/ lãng mạn/ nghiêm trang/ nhạt nhẽo/ thú vị/ độc đoán… Ở đó bạn bình đẳng với tất cả khi được tự do tỏ bày/ bộc lộ/ bức xúc/ tán thưởng/ phản đối/ tranh luận/ đồng tình…”.
TS Nguyễn Thị Hậu cho biết từ những mối quan hệ tưởng như “ảo” ở trên mạng, chị đã tìm được những người bạn thật sự. Mạng xã hội đã đưa những bài viết, những tập sách của Nguyễn Thị Hậu đến với người Việt ở nước ngoài. Nhờ đó, những chuyến đi của chị đến Mỹ và châu Âu được những người bạn quen nhau qua mạng đón tiếp ân cần.
Cũng nhờ mạng xã hội, một cô sinh viên ở Hà Nội đã tìm được mẹ mình sau 20 năm xa cách hay một cô gái tìm được ân nhân của cha con cô cách đây hơn tám năm. Một hành động quả cảm hay một bài viết về tấm lòng nhân ái chia sẻ trên mạng dễ dàng tạo cảm xúc tích cực đối với hàng triệu người lướt qua.
Mạng cũng rất "tinh tướng"
Tham gia thường xuyên với mạng xã hội, chúng ta sẽ thấy rằng, dù mỗi cá nhân có thể biến hóa thường trực trên thế giới ảo thì “những gì bạn viết trên mạng chắc chắn là một phần con người bạn”. Và mỗi khuôn mặt, mỗi con người ảo trên mạng đều có những tính cách nhất định và dễ dàng bị nhận diện.
Một số nhân vật luôn cố giữ hình tượng mẫu mực, nhã nhặn, lịch sự ngoài đời thực. Nhưng trong thế giới ảo, bản tính của họ khác hẳn, thậm chí có người sẵn sàng chia sẻ những thông tin không chính xác, làm lệch lạc cái nhìn của dư luận về các vấn đề trong đời thật. Vì vậy, “Sự tương tác tức thời và không biên giới của thế giới mạng có sức quyến rũ mê hoặc ghê gớm đồng thời có sức mạnh có thể “hủy diệt” một cá nhân chỉ trong chốc lát” (trích Thế giới mạng và tôi).
Cũng vì “thế giới mạng như một tấm gương của cuộc sống, chỉ có điều cần lưu ý, nó là tấm gương phóng đại nhiều lần những tốt đẹp hay xấu xa của mỗi con người, của một xã hội” (trích Thế giới mạng và tôi), nên mạng xã hội thường bị chỉ trích là một trong những nguyên nhân chính gây ra các cảm xúc tiêu cực ở người dùng.
Những hình ảnh về chuyện hôi của, cướp bóc, giết người… lan ra nhanh chóng làm cảm xúc tiêu cực cũng lan đi nhanh chóng. Theo đó, những người thích “ném đá”, “quăng gạch” (một thuật ngữ của mạng để chỉ việc đả kích, chà đạp người khác) có cơ hội để hạ uy tín, danh dự người khác.
Nhờ khả năng kết nối, người dùng mạng xã hội dễ dàng nhảy từ “nhà” này sang nhà khác, ngó nghiêng diện mạo, tâm trạng và các mối quan hệ của chủ nhà. Trong những lúc lang thang như vậy, chúng ta có dịp làm quen với người này đồng thời cắt đứt “không thương tiếc” mối quan hệ với người khác.
Và cũng trong khi lang thang, một số người có thể góp thêm lượt thích, bình luận để làm nghiêm trọng hơn những làn sóng tiêu cực. Thực tế, những hành động bôi nhọ trên mạng xã hội đã dẫn đến hành động tự tử không thành của một nữ sinh ở Đà Nẵng và cái chết của một cô gái ở Hà Nội.
Trong thế giới mạng, mà phổ biến là Facebook là điều kiện để nhiều người đã không đọc kỹ các thông tin đăng trên các trang báo không chính thống và bình luận thiếu trách nhiệm.
Mới đây nhất là thông tin về việc bán vé tham quan ở Hội An. Việc đưa thông tin một chiều khi chưa tìm hiểu sự việc đến nơi đến chốn đã tạo một làn sóng phản đối dữ dội trên mạng. Hoặc thông tin về bệnh sởi và những cách điều trị thiếu khoa học đã làm các bậc cha mẹ có con nhỏ hoang mang và làm giá của hạt ngò (một loại hạt được cho là chữa trị bệnh sởi) tăng chóng mặt.
Qua đó có thể thấy rằng tác động tích cực hay tiêu cực từ mạng xã hội rõ ràng là được phóng đại lên rất nhiều lần. Vì vậy, khi tham gia mạng, người chơi nên đưa thông tin một cách có trách nhiệm. Nếu chỉ góp nhặt những câu chuyện không chứng cứ rồi “buôn” từ nhà này sang nhà khác trên mạng thì không khác gì những người ngồi lê đôi mách ở thế giới thật.
Vì vậy, kết thúc tản văn Thế giới mạng và tôi, chị viết: “Mạng cho tôi cuộc sống phong phú đa dạng, luôn đặt tôi trước thử thách khi đối diện tấm gương phóng đại ấy: tỉnh táo để nhìn ra giá trị của mình, của người”.

THANH NHÃ/DNSGCT
http://www.doanhnhansaigon.vn/online/van-hoa-nghe-thuat/ke-sach-rap-phim/2014/05/1081060/the-gioi-mang-duoi-goc-nhin-van-hoa/

TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...