Hiển thị các bài đăng có nhãn tạp bút. tâm trạng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tạp bút. tâm trạng. Hiển thị tất cả bài đăng

MỘT ĐỜI NGƯỜI QUA ĐƯỢC MẤY DÒNG SÔNG

GIẢI BA CỦA CUỘC THI "CHUYỆN CỦA NHỮNG DÒNG SÔNG" DO BÁO VIETNAMNET TỔ CHỨC

MỘT ĐỜI NGƯỜI QUA ĐƯỢC MẤY DÒNG SÔNG (Nguyễn Thị Hậu)

 Tuổi 17.

Một ngày tháng 5.1975. Chuyến xe đưa tôi từ Hà Nội vào Sài Gòn phải dừng lại chờ phà rất lâu bên bờ Bắc sông Gianh trên đất Quảng Bình. Lúc ấy cảnh quan bến phà còn như thời chiến tranh, đường dẫn xuống phà lổn nhổn gạch đá, đất đỏ bụi mù, cây cối xơ xác… Đoàn xe đi “tiếp quản” miền Nam nối dài hàng cây số chờ qua phà. Chỉ có hai chiếc phà lừ đừ qua lại, người xe nhốn nháo cả ngày giữa nắng quái tháng năm đến suốt đêm. Trong bộ quần áo bộ đội, mũ cối trên đầu, gương mặt những công nhân lái phà cũng bạc ra vì mệt mỏi nhưng họ vẫn miệt mài làm việc.

Bến phà sông Gianh từng là trọng điểm đánh phá của đạn bom Mỹ trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Địa danh này tôi được biết từ khi còn nhỏ. Khi ấy anh tôi là bộ đội đóng ở một binh trạm sửa chữa xe ở khu vực này, còn ba tôi cũng nhiều lần đi công tác qua đây. Vào khoảng năm 1967 trong một chuyến lưu diễn, khi vừa qua phà sông Gianh thì ba tôi phát hiện chiếc ví trong túi quần không còn nữa. Trong đó là toàn bộ giấy tờ của đoàn công tác, không biết rơi mất từ lúc nào, vì cả đoàn hành quân từ sáng sớm, qua bờ nam sông Gianh mới lên xe đi tiếp. Ba tôi quay lại bến phà, trình bày sự việc để được qua phà ngược về bờ Bắc (bảo vệ bến phà hỏi rất kỹ vì có trường hợp người đi lạc, hoặc đề phòng “B quay” – người đào ngũ). Ba tôi nghĩ là không thể tìm thấy chiếc ví nhỏ trên con đường nườm nượp quân đi, nếu rơi lúc lên xuống phà thì không còn hy vọng. Vậy mà như một phép màu, giữa đêm tối bụi mịt mờ, chỉ có ánh đèn pin nhỏ xíu mà ông nhìn thấy chiếc ví nằm trên một gốc cây bên đường, chắc chắn ai đó đã  lượm được và để đây cho người mất quay lại lấy. Ba tôi mừng đến rơi nước mắt…

Sau này lịch sử còn cho tôi biết, sông Gianh từng là nơi xảy ra nhiều trận chiến vô cùng ác liệt. Từ năm 1627 đến 1672 hai bên Trịnh–Nguyễn giao tranh liên tục ở vùng này. Tuy cùng lấy danh nghĩa "Phù Lê" nhưng sau nhiều năm giao chiến, cả hai bên đều kiệt quệ về sức người sức của nên phải chấp nhận đình chiến. Sông Gianh trở thành ranh giới chia nước Đại Việt thành Đàng Trong và Đàng Ngoài trong hơn hai trăm năm sau đó.

Đại Nam liệt truyện kể rằng, sau trận chiến ác liệt kéo dài vào cuối vào năm 1672, khi chiến thuyền quân Trịnh rút lui, chúa Trịnh ra lệnh tha tất cả tù binh phe chúa Nguyễn, lại cho quần áo, ai muốn đi đâu thì đi.  Bởi vì đó là những người bị bắt đi lính, không theo bên này thì phải theo phía kia, gần như ngoài ý muốn. Còn phía chúa Nguyễn “Sau khi quân địch rút lui, phàm những quân lính Bắc Hà bị bắt, Hoàng tử Hiệp đều sai cấp cho tiền gạo quần áo, tha cho về, không giết một người nào. Lại đặt một lễ đàn trong thành Trấn Ninh tế tướng sĩ tử vong, cũng đặt một đàn ở ngoài thành Trấn Ninh để tế quân Hà Bắc chết trận”. Người chết thuộc bên này hay bên kia đều là dân nước Việt, tất cả đều xứng đáng giải oan sau cuộc “nồi da xáo thịt”.

Dòng sông nào là giới tuyến thì dù hai trăm năm hay hai mươi năm, một chuyến đò ngang cũng sẽ nối liền… Còn lòng người, lỡ cắt chia rồi thì phải bao lâu mới về một mối?

Tuổi 37

Tôi có vài chuyến đi dọc theo sông Thu Bồn ở xứ Quảng. Đây là một trung tâm quan trọng của vương quốc cổ Champa. Trong công trình của giáo sư Trần Quốc Vượng về “Miền Trung Việt Nam và văn hoá Chămpa - một cái nhìn địa - văn hóa”, ông đã chỉ rõ vai trò quan trọng của các con sông ở miền Trung trong sự phát triển của nhà nước và văn minh Champa. Theo ông, mô hình một vùng văn hoá Chămpa được “quy hoạch” theo một dòng sông thiêng. Quảng Nam là khu vực tiêu biểu cho mô hình này: theo dòng sông thiêng Thu Bồn, thượng nguồn có núi thiêng là đỉnh Răng mèo, thánh địa Mỹ Sơn, hạ lưu có thành Trà Kiệu và cửa sông là cảng thị Đại Chiêm Hải khẩu (Hội An), Cù lao Chàm là tiền cảng. Văn minh Champa phát triển rực rỡ chính là nhờ một hệ thống cảng thị nối liền sông – biển – giao thương suốt mười mấy thế kỷ.

Lần ấy sau khi khảo sát Di sản thế giới Thánh địa Mỹ Sơn, tôi đi xuôi dòng Thu Bồn ra Cửa Đại. Hành trình này có đoạn đi thuyền trên sông, nhiều đoạn đi trên bờ ven sông. Là con sông có lưu vực lớn, hàng năm sông Thu Bồn đã bồi đắp phù sa cho đồng bằng Quảng Nam, một trong những đồng bằng lớn và trù phú nhất nước ta, tạo nên sự giàu có của những làng xóm yên bình đẹp như tranh ở hai bên bờ sông. Theo sử sách, thời chúa Nguyễn thuế nộp bằng lúa gạo từ xứ Quảng có thể cung cấp đủ cho cả Bắc hà.

Trước khi đổ ra biển, ven các nhánh sông nhỏ của Thu Bồn có nhiều làng nghề truyền thống nay là những di sản văn hoá quý giá. Đó là các làng dệt xứ Quảng nổi tiếng khắp nơi, là làng mộc Kim Bồng nơi có các thế hệ nghệ nhân đã có đóng góp to lớn cho những kiến trúc nhà cổ ở Hội An và nhiều nơi khác, nhất là phía Nam. Gần đó là làng gốm Thanh Hà - di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia với nét đặc sắc là sản phẩm từ nồi ơ đến bát đĩa, chén tô, bình bông... đều được làm thủ công rồi nung trong lò cóc nhỏ gọn, mỗi lò có những sản phẩm riêng độc đáo.

Nằm ven sông Hoài là Hội An. Phố cổ “Di sản thế giới” là tổng hòa của những nét văn hóa độc đáo. Những ngôi chùa, dãy nhà xưa với vẻ đẹp cổ kính và tĩnh lặng đã tồn tại gần bốn trăm vòng xuân hạ thu đông hòa hợp với sự hồn hậu của con người Hội An… Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất từ thế kỷ 17 -18. Ngoài khơi Cù lao Chàm đã khai quật được một tàu đắm chở gốm Chu Đậu của Việt Nam (thế kỷ 15,16) xuất khẩu đi nước ngoài, trên “con đường gốm sứ” của thế giới đi qua biển Đông.

Có thể coi sông Thu Bồn là “cái nôi” của hai Di sản thế giới. Nếu ở Thánh địa Mỹ Sơn thời gian như ngừng lại thì Hội An, Cù lao Chàm cho đến nay cuộc sống vẫn không ngừng phát triển.

Tuổi 57.

Sông Đồng Nai đã sản sinh và lưu giữ những trầm tích lịch sử, đồng thời kết nối hệ thống di sản văn hoá của miền Đông Nam bộ.

Nhiều lần đi theo dấu chân những đoàn lưu dân thời khẩn hoang từ cửa Cần Giờ vào vùng đất Gia Định xưa, tôi càng thấm thía thế nào là “Nhà Bè nước chảy chia hai/Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”, mới hiểu vì sao ông Thủ Huồng dựng nhà trên sông, để sẵn gạo nước cho ghe xuồng nghỉ lại chờ nước ròng nước lớn. Sau này không hiểu sao chuyện Thủ Huồng có thêm đoạn cuối giống tích xưa “Mục Kiền Liên cứu mẹ”, làm mất đi phong vị phóng khoáng của con người Nam bộ.

Lưu vực sông Đồng Nai là địa bàn của một nền văn hoá phát triển mạnh mẽ từ 3.000 năm trước. Cư dân cổ trồng trọt, làm gốm, buôn bán trao đổi từ thượng nguồn về hạ lưu và ra đến biển. Tại đây cũng tồn tại một “vùng văn hoá” theo mô hình của GS Trần Quốc Vượng: thượng nguồn Đồng Nai là Thánh địa Cát Tiên, vùng hạ lưu thành Biên Hoà (thời Nguyễn) “được xây dựng trên một thành Man”, chắc hẳn là di tích thành cổ từ thời trước đó, ra đến cửa sông là cảng thị Cần Giờ có từ thời tiền sử. Và rất có thể Côn Đảo chính là một “tiền cảng”. Vào thời Nguyễn quân đóng ở Côn Đảo thuộc đạo Cần Giờ của Thành Gia Định.

Trên sông Đồng Nai còn những địa danh nổi tiếng như Cù lao Phố (Biên Hoà), một thương cảng giao dịch quốc tế của cả vùng Gia Định hồi thế kỷ 17, 18.  Cù Lao Rùa (Bình Dương) là nơi tụ cư đông đúc, phong cảnh thanh bình, xóm làng trù phú… Với lịch sử xa xưa và liên tục, Đồng Nai/Gia Định không phải là một “vùng đất mới” vì nơi đây đã từng có những nền văn hoá rực rỡ.

Gần đây, TP. Hồ Chí Minh chú ý đến việc phát triển đường sông và đôi bờ sông Sài Gòn. Nhưng đừng quên, sông Đồng Nai chảy đến Nhà Bè thì có thêm phụ lưu là sông Sài Gòn. Ngoài ra nó có hai phân lưu là sông Soài Rạp và sông Lòng Tàu là hai tuyến đường thuỷ chủ yếu đi ra biển ở cửa Soài Rạp và cửa Cần Giờ. Vì vậy đối với vùng đất Sài Gòn, Gia Định, sông Đồng Nai sông Sài Gòn đều có vai trò ý nghĩa quan trọng: là nguồn nước, là con đường kết nối Sài Gòn với Đông và Tây Nam Bộ và xa hơn... Trong bối cảnh địa – văn hóa – kinh tế đó mới có thể khai thác và phát triển “tài nguyên sông nước” phù hợp với quy luật “thông thương – thông thoáng – hướng biển” của Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh.

***

Số phận cho tôi sự may mắn khi được đi qua, đi theo nhiều dòng sông nổi tiếng từ Bắc vào Nam. Sông Gianh với nỗi đau chia cắt trăm năm, sông Thu Bồn là dòng chảy của một vùng văn hoá giao hoà Việt – Chăm độc đáo, sông Đồng Nai là nguồn lực của “vùng kinh tế trọng điểm” trong mọi thời kỳ lịch sử của đất nước… Mỗi dòng sông đều là con đường xuyên thời gian lịch sử, đều chứa đựng những di sản văn hoá quý giá, đều nối liền đôi bờ, hai miền ngược xuôi, và cuối cùng “trăm sông đều ra biển cả”.

Một đời người qua được mấy dòng sông… Những dòng sông đã trở thành ký ức không phai, đã mang lại cho tôi biết bao tri thức, biết bao tình cảm. Và tôi mong đến một ngày nào đó, khi dòng sông đời tôi ngừng lại, tôi lại được hoà mình vào một dòng sông…

Bài trên VNN:  https://vietnamnet.vn/chuyen-cua-nhung-dong-song-mot-doi-nguoi-qua-duoc-may-dong-song-2287799.html?fbclid=IwY2xjawFYQbRleHRuA2FlbQIxMAABHV-C9A8IttDuVWSpgZuA8-ZNIK00GrUKN70Ta5zJCWMPPM-kHdYf3jadAQ_aem_WPr45OdDeOPB5o3JXQFQuA








 

 

 

 

CHÚC MỪNG NĂM MỚI GIÁP THÌN 2024

Xin chúc Năm mới tốt lành đến với mọi người mọi nhà 🙂 Chúc các anh chị em một năm mới may mắn và hạnh phúc!





Ngày cuối cùng của năm cũ

Ngày này mình thường thay những cuốn lịch mới: lịch treo tường và lịch để bàn. Nhìn lại lịch bàn và cuốn sổ tay ghi chép chi chít việc cần làm, những cuộc họp, những chuyến đi... Năm nay hơi ít những cuộc hò hẹn cà phê, chắc vì ai cũng như mình, làm nhiều hơn để bù lại hai năm covid công việc đình trệ, rồi kinh tế chung khó khăn, người về hưu như mình ráng thêm chút nào cũng tốt, sau đỡ phải nhờ con cháu 😊

Năm nay viết lách vẫn OK. Giữa năm ra cuốn tản văn – tùy bút THƯƠNG NHỮNG MIỀN QUA qua được nhiều bạn đọc thích thú. Giáo trình KHẢO CỔ HỌC ĐẠI CƯƠNG được phát hành trong đó mình viết một phần nội dung chính yếu. Bài viết cho báo không nhiều như các năm trước nhưng trung bình cũng 2 bài /tháng. Báo Tết cũng tạm ổn hy vọng không bị “đổ” bài nào 😊... Nói chung vẫn miệt mài luyện phím khi có anh em bạn bè nhắn nhe: chị ơi cho em bài.. chữ vào ngày này nhé, về a,b,c... Có một số lần từ chối viết và trả lời phỏng vấn vì không thuộc phạm vi hiểu biết của mình, không dám nói đại.

Những chuyến đi khá dày, và hậu quả là 2 lần vào bịnh viện vì... đuối sức. Hoàng a mã và hai công chúa nhắc nhẹ: 65 rồi nha bà ngoại, không phải 45 đâu nha! Ơ thế mình tưởng mình mới 35 😊 Nói vậy thôi chứ tự biết “bây giờ không như hồi xưa”, chỉ là vẫn ham việc, ham đi, ham vui mà quên mất. Chủ yếu là tham gia đi khảo sát, hội thảo và viết một số báo cáo khoa học, về chủ đề quen thuộc là khảo cổ, di sản văn hóa, du lịch... Kết nối và quen biết thêm nhiều đồng nghiệp, nhất là các bạn trẻ, học được nhiều điều mới và thú vị. Giảng dạy và nghiên cứu nhờ đó cũng tốt hơn và khác hơn năm trước.

Tham gia một số công việc của thành phố (như thành viên hội đồng tư vấn thực hiện NQ 98), thấy vui những kiến thức của mình có ích cho việc chung, và mình không đến nỗi lạc hậu với nhiều lĩnh vực khác trong sự phát triển của thành phố. Mong sao thành phố qua được những khó khăn cả vật chất và tinh thần, phát triển thực sự bền vững, mau chóng trở thành một “thành phố đáng sống” như nhiều người mong đợi!

Má mất hồi tháng 8, cảm giác trống trải đến nay chưa bớt mà ngày càng nhiều hơn... Ở tuổi nào mất mẹ thì ta cũng vẫn là một đứa trẻ. Hàng ngày về thắp nhang cho má, nhìn căn phòng trống lại rưng rưng... Biết má được gặp lại ba, anh chị Hai sẽ vui nên mình cũng... bớt buồn.

Vậy thôi, hy vọng sang năm có đủ sức khỏe và những cơ hội, điều kiện làm việc như năm nay. Như vậy có là nhiều quá không nhỉ 😊


XIN TẠ ƠN NGƯỜI…


Biết về Lễ Tạ ơn đã lâu nhưng mình chỉ chú ý đến ngày Lễ này từ khi mình và bạn tìm thấy nhau nhờ thế giới mạng hỗn độn, ảo mà cũng thật - giản - đơn!
Nơi bạn sống Lễ Tạ ơn có lẽ là ngày Lễ lớn nhất trong năm của từng gia đình, như bạn kể, các con đi đâu thì đi, ngày Lễ nào có thể không về nhưng Lễ tạ ơn thì dứt khoát phải trở về nhà, cả nhà tập hợp ở ngôi nhà chung nơi có cha mẹ, ông bà. Mặc dù chưa đến những ngày từ biệt năm cũ đón chào năm mới nhưng trong hình dung của mình, dịp lễ Tạ ơn giống như ngày Tết của quê mình, cũng có những món ăn truyền thống, cũng quây quần cả gia đình, cũng nghi lễ giản đơn mà trân trọng thể hiện lòng biết ơn những ai những gì đã mang lại cho mình một năm có cơm ăn áo mặc, có người thân yêu bên cạnh…
Tất nhiên so sánh nào cũng là khập khiễng, vì mỗi lễ hội truyền thống có nguồn gốc khác nhau, nhất là giữa hai thế giới Đông – Tây, giữa hai dân tộc có quá trình hình thành và tồn tại khác nhau, giữa vô vàn sự khác nhau về lối sống, phong tục tập quán và quan niệm đạo đức… Nhưng qua tất cả, trên tất cả lại là sự giống nhau ở tính nhân văn của những ngày lễ đó. Ở đâu cũng vậy, mình nghĩ, lòng biết ơn là nhân tính đầu tiên và cơ bản của con người. Biết ơn vũ trụ tươi đẹp đã bao dung cho loài người và cho mỗi con người, biết ơn ông bà cha mẹ đã tạo ra hình hài và dạy ta từng tiếng nói đầu tiên, biết ơn thế giới quanh ta cho ta những nhận thức và niềm tin, biết ơn Đất Mẹ cho vụ mùa bội thu, biết ơn từng cơn mưa từng dải nắng mang lại sức sống diệu kỳ cho mỗi rừng cây mỗi bông hoa… Tất cả đã nuôi dưỡng cho ta đủ đầy cả “bánh mì và hoa hồng”… Biết ơn từng ánh mắt dịu dàng từng bàn tay ấm áp từng bờ vai vững vàng ở bên ta mỗi khi khốn khó. Biết ơn sự chia sẻ niềm chung vui với ta trong từng khoảnh khắc của cuộc sống. Biết ơn từng nắm gạo từng hột muối từng cọng rau ta được chia sớt khi đói lòng…
Ở quê mình, lòng biết ơn ít khi được thốt ra bằng lời “cám ơn”, nhưng một nụ cười thay lời muốn nói, một lần thăm hỏi khi nhớ đến nhau, một nén nhang cho người mà ta mang ơn khi họ nằm xuống và nhiều năm sau nữa… Ơn người mang đến cho ta và rồi ta lại dành mang cho người khác… Làm ơn không nên nhớ mang ơn chớ nên quên, đạo lý ông bà cha mẹ đã truyền cho tụi mình như thế, phải không?
Nơi bạn ở, dù lời “cám ơn” và “”xin lỗi” có thể nghe thấy ở mọi nơi mọi lúc, luôn được nói ra với thái độ chân thành, vậy nhưng Lễ Tạ ơn vẫn là ngày Lễ quan trọng nhất của tất cả mọi người bất kể tôn giáo nào sắc tộc nào. Mình đọc ở đâu đó, rằng Lễ Tạ ơn mới hình thành chỉ vài trăm năm, so với nhiều lễ hội của các dân tộc khác đây là khoảng thời gian không dài. Vậy mà nó đã thu phục được những ai đến và sống trên mảnh đất ấy, dù họ thuộc tộc người nào đến từ châu lục nào và mang theo văn hóa truyền thống nào. Bên cạnh sự hòa nhập về lối sống, mình nghĩ, ý nghĩa nhân văn của Lễ Tạ ơn vẫn luôn được cộng đồng dân cư nơi đấy biến thành sự thật bằng những hành xử cụ thể và có hiệu quả để giúp đỡ những người mới đến. Dù con người đến và đi trong cuộc đời này chỉ là khoảnh khắc nhưng lòng nhân từ, sự biết ơn luôn nối tiếp nhau, Tạ Ơn đời đời…
Chừng nào những Lễ hội được cộng đồng dân cư tiếp nối và duy trì như thế, Lễ hội đó thực sự là di sản văn hóa mà không cần đến một sự vinh danh nào đó từ bên ngoài.


SAU LỄ TẠ ƠN
Lễ Tạ ơn mọi người quây quần bên gia đình, náo nức mua sắm trong ngày Black Friday. Ai cũng email, gửi thiệp tới người thân với những lời chúc mừng ấm áp. Anh cũng vậy.
Đầu tuần đi làm anh mới nhớ đến cô, người luôn bên anh khi anh cần chia sẻ. Chút áy náy... nhưng rồi: thân thiết mà, cần gì phải khách sáo! Nghĩ vậy anh bình thản lái xe và bấm máy gọi cô mấy lần nhưng chỉ nghe:
"Số máy quý khách vừa gọi hiện không liên lạc được..."
@ Black Friday
Tình yêu hạ giá/khuyến mãi nỗi buồn
Tặng nhau cuộc đời/khuyến mãi cô đơn

KHI ĐÀN BÀ YÊU (Truyện ngắn, Nguyễn Thị Hậu)

 

1.    Những cây cầu

Tình cờ cô nhìn thấy  tấm hình chụp gia đình anh ở nơi anh đang sống. Trong hình anh đứng bên người vợ xinh đẹp, phía trước là câu con trai nhỏ hai tay nắm tay ba mẹ. Hai người không đứng sát vào nhau, chỉ có mái đầu của người vợ  hơi nghiêng gần như chạm vào bờ vai vững chãi của anh, tin cậy và âu yếm.

Trên cao là bầu trời xanh, phía sau hai người xa  xa là dòng sông uốn quanh và những cây cầu nhiều hình dáng. Chỉ một dòng sông chảy ngang đã làm cho thành phố đẹp lên rất nhiều bởi hàng trăm chiếc cầu nối liền khi là những con đường, khi là thảm cỏ, cánh rừng, khi là ngọn đồi, dốc núi… Nơi đây được gọi là “Thành phố của những cây cầu”, nhiều lần anh đã kể với cô như thế.

Cô quen anh từ một người bạn nhưng họ nhanh chóng thân nhau vì có chung nhiều điều quan tâm, suy nghĩ. Giữa họ có biết bao chuyện “trên trời dưới đất” và trong những cuộc trò chuyện không dứt  của anh và cô bao giờ cũng có câu “Ừ khi nào em qua đây”… Câu nói có khi là đùa bỡn, khi lại như lời hứa hẹn, nỗi ước ao, cũng có khi như một lời xin lỗi… Tự nhận mình là những người “mơ hoang chuyên nghiệp” nhưng cả anh và cô đều biết, chuyện đó, lúc này, với họ như là một điều không tưởng. Không phải vì tiền bạc, không phải vì thời gian, những thứ thủ tục hồi nào khó khăn rắc rối giờ đây cũng không còn là trở ngại, mà vì, như một câu hỏi lặng thầm luôn vang lên giữa hai người “gặp nhau… rồi sao nữa…?”

Thời gian trôi đi. Những câu chuyện không dứt rồi cũng ngắn dần. Giấc mơ “về nơi xa lắm” luôn khép lại trước khi được thốt thành lời. Có khi năm bữa nửa tháng gặp nhau trên mạng, họ trò chuyện như vẫn gặp mỗi ngày. Giữa câu chuyện vô thưởng vô phạt luôn là những dấu lặng kéo dài, bởi vì còn đó niềm khát khao nỗi trông đợi sự dằn vặt…  “gặp nhau… rồi sao nữa?!”

Anh vẫn ở xa tít tắp với những dự án những công trình. Cô vẫn mỗi ngày lu bu họp hành công việc. Khoảng thời gian lệch nhau nửa ngày sáng tối bỗng là bức tường thành ngăn cách  hữu hiệu. Mỗi ngày khi mở trang facebook của mình cô cố gắng nén lại để không ném lên câu status  “có những buổi chiều sao quá dài như thế”. Chỉ cần nhìn thấy cái chấm sáng nhỏ nhoi bên cạnh tên cô trong danh sách bạn bè là anh cảm thấy bình yên, rằng cô vẫn còn đó, thật gần anh dù chỉ là trên không gian ảo.

Rồi cô có dịp đến thành phố của anh. Một ngày trời cũng xanh như thế, một mình cô đi lên ngọn đồi cao, đứng ở nơi anh đã chụp tấm hình ấy, nhìn xuống dòng sông và những cây cầu… tất cả nhòe đi. Cô biết, không cây cầu nào có thể đưa cô đến bên bờ vai vững chãi của anh, bởi vì giữa họ không phải là một dòng sông, bởi vì bên anh luôn có một người hướng về anh đầy tin cậy và âu yếm. Người ấy cũng là phụ nữ, như cô…

Lặng lẽ bên bờ hai hàng cây nối những cây cầu. Và dưới kia dòng sông vẫn miên man chảy.

2.    Đón và đưa tiễn

Cô ra phi trường đón một người, chuyến bay của anh sẽ đến vào lúc nửa đêm.

Từ chập tối, đi làm về cô vội vàng ăn gói mỳ, rồi mở máy tranh thủ xem có email không. Vừa lướt qua những tài liệu được gửi đến cô vừa nhìn đồng hồ dù khách sạn cô ở cách sân bay chỉ nửa giờ xe taxi. Khi còn gần hai tiếng nữa, cô tắm và mặc một chiếc váy màu xanh. Trên đường ra sân bay cô mới nhận ra chiếc váy này cô đã mặc và chụp hình gửi cho anh vài ngày trước khi anh đi. Càng hay, anh có thể nhận ngay ra mình, cô mỉm cười.

Các chuyến bay từ nửa vòng trái đất thường đến vào giờ này, khi thành phố bắt đầu vắng lặng thì sân bay lại tấp nập. Bảng đèn nhấp nháy báo hiệu các chuyến đến liên tục nhưng chưa hiện số hiệu chuyến bay của anh. Lơ đãng giở tờ tạp chí ra xem, lại nhìn đồng hồ… rồi tự cười mình “làm như là con nít mới lớn…”. Rồi chuyến bay của anh cũng hạ cánh. Dòng người đổ ra quanh băng chuyền nhận đồ đạc rồi đi ra… mãi vẫn chưa thấy anh. Hay là anh qua rồi mà không nhận ra mình? Rùng mình vì ý nghĩ vừa thóang qua thì cô nhìn thấy anh. Anh cũng nhận ra cô, tay kéo valy tay kia giữ cái ba lô trên vai, sải những bước dài đi về phía cô.

Sau này mỗi khi nhớ anh hình ảnh này lại trở về, cảm giác quen thuộc gần gũi nao lòng…

Thời gian qua nhanh. Ngày chia tay. Lần này anh đưa cô đi nhưng vào lúc trời rạng sáng. Dường như cả đêm đó cô không ngủ, vậy mà khi anh lay nhẹ vai cô, cô vẫn giật mình thảng thốt.

Ngồi trên taxi cô chỉ mong quãng đường ra sân bay dài hơn chút nữa. Nhà ga vẫn đông như mọi ngày.Họ đứng bên nhau, im lặng, thỉnh thỏang cô tìm ánh mắt anh. Hình như anh không nhận ra cô trong chiếc váy xanh ngày đi đón anh. Ở cổng an ninh sau cái ôm vội vã anh quay đi, vẫn những bước sải dài… Cô ngoái nhìn lưng áo trắng của anh khuất dần sau bao nhiêu gương mặt.

Có một điều cô định nói với anh mà quên mất: Đã bao nhiêu chuyến đi và về nhưng đây là lần đầu cô có một người thân yêu để được đón và đưa tiễn.

Mà bây giờ có lẽ không cần nói nữa.

3.    Mười năm

Không hiểu sao trong những câu chuyện về tình yêu dang dở, những bài hát về sự chia ly hay có lời hẹn ước “Mười năm…”. Mười năm - khoảng thời gian không hề ngắn của một đời người, nhất là khi người ta đã ở vào tuổi trung niên (mà hình như ở tuổi này người ta mới hứa/ hẹn như thế, chứ nếu còn trẻ thì người ta sẽ hành xử khác?)

Sài Gòn rộng đến độ
Mười năm ta xa nhau
Chưa một lần gặp em tình cờ trên phố*

Chia tay nhau lần cuối, anh trìu mến ôm vai cô và nói, “có lẽ mười năm nữa ta mới gặp nhau, anh không còn lý do gì để về lại quê hương”. Lúc đó cô chỉ cười và trả lời “ừ, nếu có gặp nhau chắc là sẽ ở đâu đó ngoài quê mình. Bạn tạo điều kiện để mình đi chơi chăng?”. Anh cười gượng gạo. Không biết anh có hiểu lời nói giỡn của cô đang che dấu một sự thất vọng cùng cực, cô biết, mười năm nữa với cô - bây - giờ có nghĩa là không - bao - giờ!

Mười năm trước anh và cô chưa hề biết nhau, và mười năm sau nữa, anh và cô sẽ trở thành những người xa lạ. Trong cái thế giới đang thay đổi nhanh đến chóng mặt, cả tình cảm và những mối quan hệ của con người, thời gian của mỗi người chỉ tính bằng từng ngày từng giờ thì mười năm là một khoảng thời gian khó có thể hình dung được. Không gian nào cho 10 năm sau cô và anh gặp lại? Nguyên cớ nào để họ tìm về nhau? Và lúc đó cô là ai, anh là ai? Không hiểu sao cô luôn đoan chắc rằng, mười năm nữa sẽ không có gì thay đổi khi họ nghĩ về nhau, dù khoảng thời gian mười năm ấy có những người đàn bà khác đi qua đời anh. Bởi vì giữa anh và cô không chỉ là một tình yêu không thể thay thế mà còn là một tri kỷ!

Đoạn đường dài một ngày anh tiễn cô đi lúc mưa lúc tạnh, trời hôm ấy lạnh giá như một ngày đông dù đã sang xuân.

Cô trở về thành phố của mình, tiếp tục tồn tại trong cái “lãnh cung” mà cô tự xây cho mình khổ công như yến làm tổ. Cô sống dù phải đếm từng ngày. Rồi sẽ đến lúc cô quên mất ngày thứ bao nhiêu đã trôi qua…

Sài Gòn vui đến độ
Ta không còn đủ buồn
Để đi hết những quán đêm*

Đoạn kết

Họ gặp nhau trong quán cà phê, ba người đàn bà. Ly đá tan lõang, ly đen nguội tanh. Một người nói: Chị đã nghĩ là em không nên đi… Ngập ngừng, người kia như tự hỏi: Còn chị, chị có ân hận khi không gặp anh ấy?

Người thứ ba lơ đãng khuấy vỡ lớp bọt kem hình trái tim trên ly capuchino, màn hình ipad nhấp nháy những dòng chữ:

- Em vẫn còn yêu anh à?

- Vâng.

- Chuyện chúng ta đã chấm dứt...

- Tình yêu có phải là Hợp đồng làm ăn đâu mà khi một bên hủy hợp đồng thì tình yêu dừng lại?

- Không phải lỗi tại anh...

- Không, đây là tình yêu của riêng em, anh chỉ là người tình cờ đi qua...

Quán vắng. Mưa. Nước tràn đường phố... Thấp thoáng đâu đó là hình bóng những người đàn ông đang ở rất xa...

 

(* thơ NLiêm Khoan)

Sài Gòn, 2012 - 2013. In trong cuốn này:

 


CUỘC SỐNG VẪN PHẢI TIẾP TỤC

https://tuoitre.vn/cuoc-song-van-phai-tiep-tuc-20211218073631049.htm?fbclid=IwAR2mshfAMo4mL94b-Vp9ZINY89NdCFZzyN2ePwEqXyFo3QvL2_8_Odm9UQs

Hơn một năm nay tôi mới đi ra khỏi TP. Hồ Chí Minh. Để chuẩn bị cho chuyến công tác tại Hà Nội tôi đã thực hiện nghiêm quy định của Hàng không Việt Nam: di chuyển nội địa cần có “thẻ xanh”, đến bệnh viện test nhanh để lấy Giấy chứng nhận âm tính, đồng thời ra sân bay còn phải Khai báo y tế...
Sân bay Tân Sơn Nhất khá đông hành khách nhưng tất cả đều theo đúng quy định, một số người chưa biết cách khai báo y tế thì được nhân viên hướng dẫn tận tình, nhờ vậy thủ tục hoàn tất nhanh chóng. Chuyến bay vào giờ “cao điểm” nhưng không quá đông, dãy ghế ở giữa được giãn cách chỗ ngồi. Trong sân bay hay trên máy bay mọi người cũng ít trò chuyện hơn, tất cả đều đeo khẩu trang, nhiều người còn mặc cả bộ quần áo bảo hộ nữa.
Hà Nội đang những ngày đẹp trời, không quá lạnh và đến trưa thì hửng nắng. Ngày đi làm nên trên đường phố đông người qua lại, quán hàng ăn sáng ăn trưa thì ít người ngồi ăn uống mà người ta mua mang theo. Đến 9 giờ tối hầu như hàng quán đều đóng cửa, thực hiện chỉ thị của thành phố. Siêu thị, nơi công cộng cũng còn thưa thớt. Hà Nội những ngày này ca nhiễm đã vượt quá mốc 1000 ca/ ngày, người dân tuy không quá hoảng sợ như những đợt dịch trước nhưng rất cẩn thận, thực hiện 5K đã trở thành một phản xạ tự nhiên ở phần lớn người dân.
Trò chuyện với bạn bè ở Hà Nội ai cũng chia sẻ với tôi những lo lắng về hậu quả dịch bệnh và nhiều tình cảm dành cho Sài Gòn vừa trải qua cơn đại dịch... Cũng từ đó, mọi người đều nhận thức rằng nguy cơ xảy ra “cơn dịch” lần thứ tư ở nước ta, nhất là ở Hà Nội, là có thật! Đối phó hay ứng phó với nguy cơ thế nào, một phần là nhờ chính sách và giải pháp cụ thể, kịp thời, sát thực tế của nhà nước. Nhưng quan trọng nhất, và trước hết, là việc tự bảo vệ mình của mỗi người! Thực hiện tiêm vac-xin cho bản thân và người nhà, hạn chế đi lại và giao tiếp chưa “cấp thiết”, chuẩn bị trước lương thực thực phẩm dự trữ... để không bị động khi tình huống khẩn cấp xảy ra. Đó cũng là một kinh nghiệm cho người Hà Nội từ đại dịch vừa qua ở Sài Gòn.
Một năm đã sắp hết. Thông thường dịp này các thành phố đã nhộn nhịp nhân lễ Giáng sinh, tết Dương lịch và chuẩn bị cho Tết nguyên đán. Nhưng thay vì chuẩn bị sắm sửa cho mùa lễ, tết cuối năm thì giờ đây hầu hết người dân vẫn còn loay hoay mưu sinh. Kinh tế dịch vụ ở đô thị sau một năm đình trệ bắt đầu khởi sắc để phục vụ nhu cầu mua sắm cuối năm. Tuy nhiên thu nhập của nhiều người dân hiện quá ít ỏi, thậm chí nguồn thu nhập cơ bản còn chưa được khôi phục. Tình hình tài chính chưa ổn định chắc chắn ảnh hưởng lớn đến nhu cầu và khả năng tiêu dùng của xã hội.
Khoảng thời gian 3, 4 tháng vừa qua sự căng thẳng vì dịch bệnh ở TP. Hồ Chí Minh đã có tác động không nhỏ đến cả nước, nhất là Hà Nội, vì đây là hai thành phố lớn nhất nước và là đầu mối của biết bao kế hoạch, dự án... Chỉ mới hai tháng cuộc sống trở lại trạng thái “bình thường mới”, khoảng thời gian này chưa kịp để khôi phục kinh tế, sinh hoạt của người dân vẫn còn dè dặt trong tâm thế cảnh giác với dịch bệnh. Vậy nhưng nhịp sống ở hai thành phố đang phải tăng tốc để có thể hoàn thành công việc của năm 2021 với kết quả tốt, vừa để khắc phục hậu quả dịch bệnh vừa đặt cơ sở cho năm 2022 – một năm được dự báo là thế giới vẫn phải “sống chung” với Covid-19.
Rời Hà Nội sau hai ngày hối hả công việc, vội vàng gặp gỡ, chưa kịp tận hưởng mùa đông Hà Nội đẹp nao lòng như những bài hát của người nhạc sĩ tài danh vừa đi xa... Tôi trở về trên chuyến bay muộn màng bị lùi giờ bay “vì lý do khai thác”. Sân bay Nội Bài rất vắng, chuyến bay về TP. Hồ Chí Minh càng ít khách. Mọi thủ tục tại sân bay vẫn được kiểm soát cẩn thận, gương mặt nhân viên, hành khách đều ít nhiều ưu tư... Dường như mọi người đều cùng một suy nghĩ, dù sao thì cuộc sống vẫn phải tiếp tục!
Dịch bệnh với những biến chủng mới đã đe dọa con người suốt hai năm qua, giờ đến lúc cần ứng phó với nó trong tâm thế mới: không sợ hãi và cũng không “ngạo nghễ”. Thích nghi một cách chủ động và tích cực, đấy là cách mà trong quá khứ chúng ta đã vượt qua nhiều thách thức.
Báo Tuổi trẻ 18/12/2021




NGƯỜI THẦY ĐẦU TIÊN CỦA TÔI


1  1. Hơn bảy mươi năm trước, vào năm 1942, ba tôi tốt nghiệp trường sư phạm Lasan Taberd ở Sài Gòn và được phân về dạy tại Cái Răng, Cần Thơ. Sau đó ông xin về dạy trường tiểu học huyện Chợ Mới (tỉnh An Giang) - quê nhà - để tiện chăm sóc ông bà nội tôi.

Ông dạy lớp Nhứt nhưng được nhiều học trò các lớp khác biết và quý mến, vì là thầy giáo nhưng ông “có máu đờn ca hát xướng” – như một người học trò của ông là nhà văn Nguyễn Quang Sáng sau này nhớ lại. Thầy giáo mà biết đờn ca là một điều rất lạ đối với đám học trò ở một trường huyện xa xôi. Sau giờ học vào buổi chiều, ba tôi dạy hát cho học trò bằng cây đờn Banjo tiếng nghe giòn tan, vui tươi. Rồi ông thành lập nhóm “văn nghệ” vào ngày hè đi biểu diễn gây quỹ giúp học sinh nghèo trong trường. Tiếng hát của học trò đã mang lại sức sống cho phố huyện, ban hát của thầy trò đi đến đâu cũng được bà con ủng hộ.

Từ cách mạng tháng Tám 1945 ba tôi đi kháng chiến, ông từ giã bục giảng để “đi hát”: lập đoàn hát biểu diễn suốt chín năm rồi tập kết ra miền Bắc năm 1954. Thời gian chiến tranh ông thường dẫn Đoàn cải lương Nam bộ, Kịch nói Nam bộ đi chiến trường phục vụ bộ đội. Trong chuyến đi, có lần ông đến biểu diễn tại một binh trạm trên cung đường Trường Sơn. Ở đó trong cuộc trò chuyện một bác sĩ đã nhận ra ông là thầy giáo của mình hồi lớp Nhứt. Thầy trò gặp nhau mừng rỡ, bác sĩ quân y vẫn cung kính gọi ông là thầy xưng con như thủa ấu thơ.

Sau này nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã viết về ông qua nhân vật thầy giáo trong tiểu thuyết Dòng sông thơ ấu. Ông và nhà văn Nguyễn Quang Sáng cũng là hai người bạn thân thiết.

2. Ba tôi là người Thầy đầu tiên của tôi, không chỉ dạy chữ mà Ba dạy tôi làm Người. Một đoạn tôi viết về Ba vào ngày giỗ lần thứ 10 của ông  (1995):

Năm 1973, Hiệp định Paris được ký kết. Trong không khí náo nức chung tôi có một niềm vui nhỏ dành tặng ba nhân ngày đầu năm. Đó là việc tôi thi đậu vào trường Nghệ thuật Sân khấu. Khi tôi hồi hộp báo tin, không như tôi nghĩ, ba ngồi lặng với vẻ băn khoăn lo lắng. Cuối cùng ba nói với tôi, trang nghiêm mà trìu mến:

- Ba rất vui khi có một đứa con muốn nối nghiệp ba. Trước khi con tự quyết định tương lai của mình, ba muốn nói với con điều này. Mọi nghề nghiệp đều đẹp và đều sẽ thành công nếu ta lao động kiên nhẫn và trung thực. Nhưng trong nghệ thuật thì còn phải có một điều kiện quan trọng, đó là tài năng. Không có tài thì không có vai diễn hay, mà đã là diễn viên phải là một diễn viên giỏi. Đây không phải là chuyện danh tiếng mà là chuyện làm gì để có ích nhiều hơn cho mọi người, cho xã hội, và cho bản thân mình.

Với ba tôi, danh hiệu “nghệ sĩ” thật là cao quý… Lần đầu tiên ba tâm sự với tôi về nghề nghiệp cùng những buồn vui thăng trầm của cuộc đời nghệ sĩ, khi hiểu được điều đó tôi mới thực sự trở thành “người bạn” nhỏ của ba.

Khi tôi tốt nghiệp đại học và được trường giữ lại làm giảng viên, ba tôi rất vui vì trước đây ông cũng là một thầy giáo. Ông hay nói với tôi: “Người thầy giáo cũng như người nghệ sĩ. Phải yêu nghề, yêu người, yêu đời sâu sắc thì mới có thể đứng trên bục giảng hay trên sân khấu để mang đến cho mọi người những điều tốt đẹp của cuộc sống. Thầy giáo hay nghệ sĩ đều là những “kỹ sư tâm hồn”, nhưng tiếc rằng giữa hai nghề này luôn có một khoảng cách khá xa… Người thầy giáo thì thiếu tâm hồn nghệ sĩ, còn người nghệ sĩ lại thiếu đạo đức của người thầy!”

3. Gần như cả cuộc đời ba tôi đi theo “nghiệp hát”, là người nghệ sĩ nhưng ông giữ được nhiều thói quen sinh hoạt của nghề giáo. Đó là sự ngăn nắp, sạch sẽ; thói quen ghi chép những điều nhìn thấy, cảm nhận, đặc biệt là tình yêu sách vở. Anh chị em tôi thừa hưởng được tình yêu với văn học nghệ thuật và thói quen đọc sách từ ba, biết dành dụm tiền mua sách, biết chọn sách để đọc, và biết chia sẻ cảm xúc sau khi đọc một cuốn sách, xem một bộ phim hay vở kịch... cũng là nhờ ba tôi!

Là thầy giáo của một thời còn phong kiến nhưng ông rất dân chủ trong nuôi dạy con cái: không áp đặt trong mọi suy nghĩ, hành xử, chỉ phân tích đúng sai; luôn trao đổi và lắng nghe nhất là khi con cái có khuyết điểm, và ông cũng thường xuyên nói chuyện về công việc của mình cho con nghe, hỏi nhận xét của các con về những “chuyện đời” mà ông chứng kiến, ông còn nói với các con những lỗi lầm của mình để các con biết mà tránh... Ba tôi luôn nói rằng, điều này ông được thừa hưởng từ người Cha, tức là ông nội của tôi, chứ không phải từ giáo dục trong trường học, vì thời đó thầy giáo Việt thì còn phong kiến lắm, thầy giáo Pháp thì rất coi thường người Việt.

Sự dân chủ, công bằng này còn là phương châm hành xử của ông trong nhiều cương vị lãnh đạo, trong đối nhân xử thế với bạn bè, đồng nghiệp, người thân. Sau này đọc những gì ông nội tôi viết để lại cho con cháu tôi càng thấy rõ "truyền thống" này của gia đình tôi.

Đấy là những điều tôi học được từ Ba tôi - người Thầy đầu tiên của tôi!

Nguyễn Thị Hậu

 


THÀNH PHỐ NGÀY KHÔNG CÒN VẮNG


Tạp bút, Nguyễn Thị Hậu

Thế là thành phố bắt đầu trở lại nhịp sống bình thường sau ba tuần “dãn cách xã hội”. Thực tế gần một tháng qua người thành phố gần như bị cách ly khỏi sinh hoạt hàng ngày: không đến công sở, không cà phê ăn sáng tụ tập nơi quán xá, gần như không bước chân ra khỏi nhà... Đường phố còn thông thoáng hơn cả mấy ngày tết, thỉnh thoảng vài chiếc xe máy chạy vội vã, ngay cả ban đêm mặt người cũng kín mít khẩu trang.
Thế nhưng nhờ internet người ta không bị “cách ly” khỏi xã hội. Tin tức về tình hình dịch bệnh được báo chí thường xuyên cập nhật, những hoạt động thiện nguyện qua facebook nhanh chóng phổ biến và lan rộng... Người ta vẫn thường xuyên hỏi thăm nhau dù cách đến nửa vòng trái đất, vẫn trao đổi thậm chí tranh luận những chuyện ở tận bên Tây, rồi cãi nhau vì những vụn vặt đời thường... Cuộc sống “trên mạng” vẫn tiếp diễn và còn sôi động hơn trước, chắc vì người ta rảnh hơn.

Nhưng, dẫu được nghỉ ngơi, tạm xa những bận rộn thường nhật thì người ta vẫn mong cuộc sống trở lại bình thường. Sự trì trệ của xã hội vì dịch bệnh - ít hay nhiều, trước mắt hay lâu dài – đều ảnh hưởng đến tất cả mọi người. Vì vậy, khi tình hình bệnh dịch lắng xuống thì thành phố được trở lại sinh hoạt bình thường, dù chưa phải tất cả. Từ sáng sớm ngoài đường đã có tiếng còi xe, công viên xuất hiện những người đi tập thể dục, các ngõ hẻm sáng ánh đèn từ những ngôi nhà, tiếng mở cửa, tiếng nói chuyện vang lên... Không gian sống động, không còn sự vắng lặng như những ngày trước.
Trên nhiều đường phố các quán ăn sáng như phở, hủ tíu, bánh cuốn... đã đông khách, vài tiệm cà phê lớn chưa mở cửa đón khách nhưng đã thấy nhân viên đến quét dọn sắp xếp bàn ghế... Nhiều quán vẫn nguyên tờ giấy dán ở cửa: quán bán hàng mang về nhà. Tiệm cắt tóc gội đầu nhộn nhịp ra vào, nhất là mấy tiệm dành cho nam giới. Nhiều công sở nhân viên bắt đầu đến làm, trên đường, trong quán mọi người vẫn mang khẩu trang. Tuy vậy ở trung tâm thành phố còn vắng vẻ. Vài ngày nữa khi tất cả các hoạt động trở lại bình thường thì nơi này sẽ như “người đẹp” được “chàng hoàng tử” đánh thức và hồi sinh, “Sài Gòn đẹp lắm Sài Gòn ơi” trong sự nhộn nhịp sôi động của nó.

Tuy vậy những cuộc trò chuyện khi gặp nhau hay trên mạng vẫn chưa hết lo âu khi ở nhiều nước dịch bệnh vẫn còn căng thẳng, nếu “mở cửa” sớm liệu dịch có lại bùng phát như hồi tháng ba? Trong nước người nghèo khó chưa thể gượng dậy sau những ngày không việc làm không thu nhập, sự giúp đỡ của cộng đồng cũng chỉ là tạm thời trong lúc ngặt nghèo... sắp tới sẽ ra sao? Sáng đi chợ tôi nghe mấy chị bán hàng nói chuyện với nhau: “không biết bữa nay cho bán vé số lại chưa, để tui mua giùm bà già hay đi bán gần nhà tui, tội nghiệp hổm rày hai bà cháu đi đâu không biết.”. Chị khác nói: “Ờ, xóm tui có mấy nhà từ ngoài Trung vô làm “thợ đụng”, mấy tuần nay may có cây ATM gạo gần đó nên đỡ đói, nhưng họ chỉ mong có việc đi làm, chớ sống nhờ hoài, ai muốn...”

Ngày mới có niềm vui “hết cách ly” thì lại có nỗi buồn vì vụ tham nhũng ở CDC Hà Nội trong việc mua sắm trang thiết bị phục vụ công tác phòng chống cúm covid-19. Tại sao họ có thể làm điều vô lương tâm ngay vào thời điểm chính phủ lo từng đồng cho chống dịch chữa bệnh, xã hội góp từng ký gạo cứu đói người nghèo... Sự việc đã được phát hiện và xử lý nhưng làm gợn lên một câu hỏi, còn có nơi nào nữa như CDC Hà Nội?
“Có một bài ca không bao giờ quên, là lời đất nước tôi chẳng phút bình yên...”. Bốn mươi lăm năm trước một ngày cuối tháng Tư chiến tranh đã chấm dứt, đất nước hòa bình non sông một dải trở thành sự thật. Tháng Tư này, khi chúng ta đang phải đương đầu chống dịch bệnh thì “ông bạn” láng giếng lại tiếp tục gây hấn trên biển Đông – lãnh hải thiêng liêng từ bao đời của Tổ quốc. Bài ca không quên lại vang lên trong mỗi chúng ta.

Báo THANH NIÊN 26.4.2020
Không có mô tả ảnh.


GIAN BẾP CỦA NGOẠI



Mỗi lần về quê vào dịp Tết, sau khi lên nhà trên thắp nhang bàn thờ ông bà, tôi thường xuống ngay gian bếp, nơi ngoại tôi luôn ở đó với nụ cưới móm mém chờ tôi chạy vào ngồi kế bên ngoại, thơm sực mùi trầu.

Gian bếp của ngoại nằm ngang so với nhà trên, từ nhà trên đi xuống qua một hành lang dài mái tôn có máng xối hứng nước mưa vào hai hàng lu mái. Nhà bếp mái ngói cũ nâu thâm lác đác những chiếc lá của cây mận hồng đào sau bếp. Ngoại nói cây mận này ngoại trồng hồi má tôi sinh tôi, nay cũng đã tuổi “U 50” rồi mà vẫn rất sai trái. Vào mùa gần Tết từng chùm trái đỏ rực, lúc lỉu trên cành, mỗi đêm gió chướng lại rụng lộp bộp, trẻ con khoái lượm những trái mận chín rụng, ăn giòn và ngọt như đường phèn.

Cũng như nhiều gian bếp trong những ngôi nhà miệt vườn Nam bộ, gian bếp của ngoại rộng rãi, sáng sủa, cửa ra vào hai cánh bằng gỗ luôn rộng mở. Cửa sổ sát mé con rạch Cái Tôm đón từng cơn gió mát rượi ngày hai lần nước lớn, lúc nước ròng thoảng mùi bùn non và tiếng cá quẫy… Ngay cửa bếp là sàn nước rửa chén bát và làm đồ ăn. Bước vô, một đầu gian bếp là khuôn bếp, cao khoảng 0,8m, dài 1,2m rộng 0,5m, đóng bằng cừ tràm lâu ngày đen bóng. Ba “ông lò” luôn sạch than tro, phía trên có cà ràng chặn khói, bên cạnh là ống thổi, kẹp gắp than, miếng lót nhắc nồi. Phía trên khuôn bếp cậu Út tôi làm một mái tôn có ống hút khói, tránh cho ngoại và mợ Út khỏi cực khi mùa mưa dầm củi ẩm ướt. Phía dưới khuôn bếp xếp củi đã chẻ nhỏ, từng bó lá dừa chặt đầu đuôi bằng nhau, gọn gàng. Trên vách là hai hàng đinh treo những chiếc nồi, xoong, chảo lớn nhỏ thường được mợ Út tôi chùi rửa sạch sẽ. Nhớ những lần ở quê có đám tiệc, tôi luôn phải “chỉ huy” con gái tôi và mấy đứa cháu mang nồi xoong chảo ra sông chùi rửa bằng trấu và tro bếp. Khi những chiếc nồi xoong bóng loáng treo trong bếp theo thứ tự lớn nhỏ chuẩn bị cho việc nấu nướng vào ngày mai, thì tụi nhỏ móng tay đứa nào cũng đen thui, dùng chanh rửa hoài không sạch hết.

Kế bên khuôn bếp là tủ đựng thức ăn, phía dưới để các loại chai lọ hộp đựng gia vị.
Gian giữa của bếp đặt tủ chén bát, ống đũa muỗng treo bên cạnh tủ. Một bàn ăn tròn có thể gập lại một nửa lại cho gọn. Mấy chiếc ghế gỗ, một giá gỗ thấp để đặt nồi cơm. Bữa cơm hàng ngày nhà ngoại thường ăn dưới bếp, trừ khi có khách lạ hay có đám tiệc thì dọn cơm ở nhà trên. Khách quen thân tới nhà vào bữa thường được ngoại mời cơm luôn, nếu chưa ăn khách vui vẻ cùng ăn, còn nếu khách ăn rồi thì tới ngồi trên bộ ván uống nước trà, hay ngả lưng trên chiếc võng treo tòng teng bên cửa sổ. Gian còn lại kê bộ ván ngựa, nơi ngoại thường ngồi với ô trầu hay giỏ đồ may bên cạnh, vào buổi trưa là nơi ngả lưng của ông ngoại sau khi đã sương sương vài ly trong bữa cơm trưa… Má tôi kể, hồi xưa mỗi lần giận ông ngoại là ngoại… xuống bếp ngủ. Một đêm, hai đêm…ông ngoại phải xuống năn nỉ, và sau đó má tôi lại có thêm một đứa em, vì vậy bây giờ nhà ngoại có cậu Út tới thứ 12 lận!

Có dịp đi nhiều vùng miền trong nước, tôi nhận thấy gian bếp của ngoại tôi, của những gia đình Nam bộ thật đặc biệt. Bước vào gian bếp có thể nhận biết sự vén khéo của những người phụ nữ trong gia đình vì tuy là nhà bếp nhưng luôn sạch sẽ, thoáng mát. Đồ đạc sắp xếp thật tiện lợi, nhất là khuôn bếp đứng, khi nấu nướng không mất công đứng lên ngồi xuống, đồ dùng đặt để đúng tầm tay, dãy nồi xoong luôn chùi rửa sạch bong, không sợ quệt lọ nồi dơ bẩn quần áo, dường như nhờ đó người phụ nữ khi làm bếp cũng thong thả ung dung hơn…

Bếp là nơi sinh hoạt của cả gia đình vào mọi thời điểm trong ngày. Ban ngày nhà trên thường khép cửa, mọi người đi vắng, khi trở về thì vào bếp trước, cửa bếp hầu như không bao giờ đóng. Lúc rảnh rỗi, ông ngoại, hay sau này là cậu Út tôi, cũng thường ở dưới bếp, ngồi trên chiếc võng đong đưa bàn công chuyện nhà với bà ngoại hay với mợ Út. Bếp là nơi ngoại và mợ Út có “toàn quyền quyết định” những việc bếp núc, đám tiệc, giỗ chạp, hiếu hỉ bà con lối xóm… Bếp là nơi cả nhà quây quần hai bữa cơm trưa tối, nơi mỗi chiều ông ngoại, cậu Út ngồi lai rai con khô nướng quyện mùi khói lá dừa ngọt ngào. Nếu có khách đột xuất thì món nhậu cũng được mợ Út tôi chế biến rất nhanh. 

Trong bếp nhà ngoại tôi còn thường có sẵn một vài món ăn như nồi cháo trắng, chảo cơm chiên vào buổi sáng, tô bánh lọt nước dừa lúc xế trưa, hay nồi khoai, bắp nấu vào buổi tối… Bếp là nơi những người quen thân hay ghé vô ngồi chơi, đôi khi cũng bàn công chuyện (và nếu người quen ghé nhà mà được mời lên nhà trên uống nước nói chuyện thì hoặc là có việc quan trọng, hoặc coi chừng, tình cảm hai bên đã có điều gì sứt mẻ…). Nhà ngoại tôi nằm kế rạch Cái Tôm gần chợ Cao Lãnh nên đôi khi vào ban đêm, có khách lỡ đường ngủ nhờ, trên bộ ván mát rượi nơi nhà bếp khách vẫn cảm thấy quen thuộc và ấm cúng như ở nhà mình.

Gần Tết, các con tôi lại háo hức: mẹ, bữa nào về quê ngoại đi, mẹ! Ừ, về quê để đắm mình trong từng cơn gió chướng như thoảng hương sen từ Đồng Tháp Mười gửi tới, để nằm trong gian bếp của ngoại mà lắng nghe từng trái mận trở mình chín ngọt ngoài kia, để hít sâu vào lồng ngực mùi thơm khói lá dừa nướng bánh phồng bánh tráng… Ừ, về quê lần này mấy đứa phụ mẹ và ngoại gói bánh tét bánh ít nghen… Nhưng không phải chùi xoong nồi nữa, mẹ nhỉ, vì nhà ngoại bây giờ đã có bếp gaz. Con gái Út của tôi vừa nói vừa thở phào, nhẹ nhõm…

Chợt giật mình, quê ngoại giờ đã là thành phố Cao Lãnh, làng xóm đô thị hóa khá nhanh, liệu vài năm nữa các con tôi có còn thích về quê…?

(2010) Hình: internet

Kết quả hình ảnh cho BÊP lò miền tây

TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...