NGƯỜI THẦY THUỐC ANH HÙNG


Nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam, post lại bài viết của nhà thơ Lê Giang về người bác ruột của tôi: BS Nguyễn Văn Hưởng - như một nén nhang cho Bác. Mấy anh chị em tôi, nếu không có bác Ba Hưởng chưa chắc chúng tôi được sống mạnh khỏe đến ngày hôm nay!


 Nghe tin bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng được Nhà nước phong Anh hùng lao động xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chắc rằng bà con cô bác Nam bộ lại có dịp nhớ chặng đường chín năm kháng chiến trường kỳ, tuy gian nan vất vả, thiếu thốn mọi bề mà đầy lòng tự hào với thắng lợi vẻ vang. Và, khi nhớ lại bức hoành tráng hào hùng đó, cô bác hẳn nhận ran gay một nét yêu thương khắc sâu trong lòng mình mà mình chuộng mãi không thể nào phai: Phải chăng đó là hình ảnh của nền y tế cách mạng miền Nam do bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng dẫn đầu suốt cuộc trường kỳ chiến đấu thắng giặc Pháp.
            Riêng người miền Tây Nam Bộ có lẽ không mấy ngạc nhiên khi nghe bác sĩ được tặng danh hiệu xứng đáng đó, bởi đã có sự gắn bó giữa thầy thuốc với nhân dân, sự hàm ơn sâu sắc đối với nền y tế cách mạng thuở ấy. Từ lâu lắm rồi, họ đã tự ý phong cho bác sĩ một tiếng gọi bằng tất cả lòng tin cậy, bằng sự yêu mến ruột thịt: Thằng Ba, anh Ba, chị Ba, bác Ba… Tiếng gọi đó đã cắt nghĩa được nhân dân miền Nam anh hùng đã sanh ra những người anh hùng, mà đất đai, làng xóm muốn gọi bằng gì thì cũng gói trọn được cái ơn cái nghĩa ở đời.
            Từ những năm năm mươi, trên tường cao trong văn phòng Bộ Y tế nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã trao bằng Huân chương Độc lập cho Sở Y tế Quân dân y Nam bộ. Huân chương quý báu đó dành tưởng thưởng cho đường lối y tế đúng đắn với bốn phương châm mà bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng đã đề ra, cùng thực hiện có những bạn đồng nghiệp như bác sĩ Nguyễn Văn Thù, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp, bác sĩ Hồ Công Nghĩa, bác sĩ Nguyễn Thiện Thành, bác sĩ Trương Công Trung, dược sĩ Nguyễn Kim Hùng… Đội ngũ trí thức yêu nước hãy còn hiếm hoi đó đã dẫn dắt những người cộng sự và lớp lớp học trò đầy nhiệt huyết ra sức phục vụ cho nhân dân và bộ đội có đủ sức khỏe chiến đấu thắng giặc ngoại xâm.
            Trong bốn phương châm y tế cách mạng miền Nam, có hai phương châm nổi tiếng nhất là “Phòng bệnh hơn trị bệnh” và “Kết hợp y học dân tộc cổ truyền với y học hiện đại” để điều trị bệnh cho nhân dân vùng giải phóng cũng như vùng tạm chiếm. Khó mà quên được  cái cảnh ngày ngày sông nước miền Tây ghe xuồng nườm nượp từ vùng tạm chiếm vô vùng giải phóng tầm đến y tế cách mạng.
            Lúc đó, bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng mới bước vào tuổi năm mươi. Rừng U Minh với năm, mười tầng lá xanh thẳm mênh mông mới thấy có dấu chân người.  Tràm xanh nước đỏ đầy vẻ hoang sơ bí hiểm, nhưng chở che ấp ủ “đoàn quân” đi tiêu diệt giặc vi trùng. Bác sĩ đưa một nhóm thanh thiếu niên ít ỏi mà lòng tràn “máu nóng” vào rừng sâu để sản xuất giống ngừa, bào chế thuốc men, lập các trạm giải phẩu lưu động, đoàn truyền bá vệ sinh lao động..v…v…Họ luôn luôn làm việc bằng tác phong “nhà binh”. Bác sĩ thường răn dạy học trò rằng cứu bệnh như cứu lửa. Người cán bộ y tế không được phép lừng khừng dễ dãi, vì cái tật đó sẽ đẻ ra bệnh làm biếng và tắc trách. Ông là một người say mê công việc và nghiêm khắc vô cùng. Thời đó, có những học trò phải chịu phạt đứng dưới cột cờ vì lỡ có thái độ ghê tởm vết thương hôi thúi của bệnh nhân…
            Những học trò của ông sẽ mãi mãi không quên một người vừa là thầy, lại là bạn chiến đấu, mà có khi tuy nghiêm khắc là thế, nhưng lời giảng dạy cứ thấm sâu tình mẹ. Có lần chiều tối ở rừng, ông gọi một chàng trai vừa mới đốt cây đèn ống khói để trên bàn:
-         Em đốt đèn để làm gì?
-         Dạ, dạ… đốt đèn cho…sáng.
-         Muốn sáng sao lại để những con thiêu thân và lớp khói đèn cản sáng?
… “Đội quân” của ông lúc đó phần lớn chưa đến tuổi hai mươi, vì lòng yêu nước mà ra đi như thác đổ; bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng hiểu điều đó, cho nên trong rừng sâu chỉ có mấy người, ông không ngần ngại, không từ chối trách nhiệm làm cha mẹ: răn dạy, khắt khe, thương yêu, đùm bọc và đào tạo nên người hữu ích.
            Như đồng chí Trần Bạch Đằng có viết một ý về sự sống trong bài viết về chị Ba Thi: Thời gian trôi qua đằng đẵng, lớp người ấy đã trải qua hai cuộc chiến tranh giữ nước, họ vẫn sống dai, sống đàng hoàng, sống giỏi giắn và vẫn là động lực thúc đẩy làm nên cái mới mẻ, cái tốt đẹp cho xứ sở quê hương mình.
            Có lẽ những học trò của bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng thuở ấy dù nay đã là giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ hay cũng có người sang con đường viết văn, làm thơ, viết kịch bản…, vẫn mang trong tâm hồn mình một kỷ niệm sâu sắc về một người thầy. Ông không hề có dáng điệu tựa lưng và khoanh tay, ông đi thẳng lưng và bước đi chắc chắn. Tuy đó là cái vẻ của bề ngoài nhưng lại thể hiện được cá tính của một người không chịu khoanh tay, bó tay. Tinh thần tự lực cánh sinh cao của ông đã biến mọi cỏ cây cảnh vật xung quanh ông đều có tác dụng cho khoa học, cho công việc trị bệnh cứu người. Những ai không sống cùng thời trong hoàn cảnh đó, thật khó lòng thông cảm được, sự gia giảm trong toa thuốc căn bản toàn những cỏ vườn trầu, lá tía tô, râu bắp, mã đề..v..v…mà trị được bá chứng cho mọi lứa tuổi, mọi căn bệnh, và cũng khó lòng hiểu được những cuộn băng băng vết thương là những nõn của bẹ chuối phơi khô rồi hấp sát trùng…
            Tin rằng rồi đây sẽ có một công trình tập hợp lại tất cả những sáng tạo, những phát minh cải tiến của bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, từ một thầy thuốc chèo xuồng ba lá dọc theo kênh rạch quê nhà để tìm người bệnh mà cứu chữa, đến một cương vị bộ trưởng của Bộ Y tế nước Việt Nam ngồi trên xe Vôn-ga, ông vẫn vậy! Xuồng và xe chỉ là một phương tiện mà thôi, không có gì thay đổi được đức tánh tận tụy hết lòng, luôn luôn cặm cụi nghiên cứu tìm tòi phương pháp điều trị thích hợp với cơ thể dân mình.
            Những năm gần đây, tuy tuổi tác đã cao nhưng phẩm chất ấy lại càng cao. Ngày ngày ông vẫn đến lớp dưỡng sinh để tập luyện chống đỡ bệnh tật, biết cách tập luyện cho tinh thần sảng khoái… để sống có ích cho gia đình và cho xã hội. Phương pháp tập dưỡng sinh do ông truyền bá đã cứu những bệnh nhân bị suy nhược thần kinh nặng, những bệnh nhân đau dạ dày, huyết áp cao… Thậm chí, có ông già trên bảy mươi tuổi, sức khỏe rất yếu, sau khi được tập phương pháp này, đã đi xe đạp tham quan khắp đất nước. Bây giờ, phong trào tập dưỡng sinh đã thành phong trào tập luyện của quần chúng, ở các xóm ấp, trong khu phố, các cơ quan. Ông đã nhân ra bao hạt nhân để thúc đẩy công việc đó, và ông được sự hưởng ứng rầm rộ của mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề.
            Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng đúng là thầy thuốc của nhân dân. Khi ông xuống bến tàu hoặc đi trên đường, về thôn xóm, từ cán bộ cho đến bà con bình dân gặp ông ở đâu cũng chào ông, vội vàng khoe với ông về sức khỏe của mình, đã sống lại, đã đi đứng bình thường, đã làm việc được…
            Chính nhờ phương pháp dưỡng sinh, ông đã tự cứu chữa cho mình khi cách đây 15 năm, ông bị tê liệt nửa thân người mà các giáo sư bác sĩ nổi danh phải lấy làm ngạc nhiên là ông vẫn sống, vẫn minh mẫn và vẫn trị bệnh cứu người.
            Nhắc đến bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, ta không thể không nhắc đến cái chí quyết của một con người. Cái chí quyết làm sao cho dân mình bớt đau khổ vì bệnh tật. Cái chí quyết đó được nung nấu từ dịch tả hoành hành làng Mỹ Hiệp, xã Chợ Mới, tỉnh An Giang quê ông, dịch tả đã giết hại dân làng và cướp đi người mẹ yêu quý của ông thuở ông còn thơ ấu.
            Ông rời làng quê ra đi và khi trở về, ông trở thành nhà vi trùng học có một không hai trong thời buổi đất nước ta sắp bước vào cuộc cách mạng mùa Thu. Chính ông là nguyên soái cầm quân chiến thắng giặc vi trùng, xóa tan cảnh đau thương khủng khiếp khi luồng dịch tả, đậu mùa tới đâu thì tiếng khóc la thảm thiết, trống khiêng trừ ma tống quái thê lương mà chỉ một đêm vườn ruộng chợ búa tiêu điều tới đấy…
            Xin chúc mừng bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, người thầy thuốc đã mang lại bao niềm vui, bao hy vọng cho sự sống của bao người. Người anh hùng lao động ấy mãi mãi là hình ảnh người con trung hiếu của nhân dân miền Nam anh hùng, mãi mãi gọi thức lương tâm trong sạch của những người làm công tác y tế, mãi mãi nhắc nhở tấm lòng nhân đạo đối với con người.
                                                                                                           LÊ GIANG ( 5.10.1985)

Vài phim mới xem và xem lại



The Pianist
Phim về những người Do Thái ở Ba Lan trong thế chiến thứ 2. Những gì nhục mạ tàn ác với con người nhất thì phát xít Đức đã làm với người Do Thái.
Xem phim, nhớ những con đường yên tĩnh ở Warsaw, nhớ lần đến trại tập trung Auswitch… Lạnh người khi nhìn hàng núi tóc, núi giày trẻ em, gai người khi nhìn thấy lò thiêu người…
Trí nhớ của con người hình như là một người bạn hay phản bội, nhất là khi có một sự kiện mới: sự sụp đổ của chính quyền CS ở các nước châu Âu.

One day - Họ mất vài năm để là bạn, mất mười năm để thấy khác nhau dù vẫn thân nhau. Và phải mất đến gần 20 năm để họ nhận ra mình là một phần không thể thiếu của nhau. Nhưng muộn mà không trọn vẹn, cô gái chết vì tai nạn.
Cuộc sống vẫn tiếp diễn.
Người đàn ông tiếp tục sống, bởi vì khi anh tuyệt vọng nhất, anh luôn nhớ câu nói một lần nào đó của cô: Tờ yêu cậu, luôn yêu cậu! Nhưng cậu cứ như thế này thì tớ chán cậu, thực sự chán cậu!
Cuối phim là cảnh anh chàng nhớ lại một lần họ đã hứa *nếu có kiếp sau nhất định sẽ làm cùng nhau những gì kiếp này chưa làm được* --- Mà tại sao lại phải đợi đến kiếp sau...?

Casablanca
Cả buổi tối xem lại phim này. Một chuyện tình trong hoàn cảnh hiểm nghèo. Yêu là thật sự nghĩ đến người mình yêu và quên mình làm mọi điều vì người mình yêu.

 The last Station về những ngày cuối của Lev Tolstoy, về lý tưởng tự do và dân chủ cho nông nô của ông, về mâu thuẫn không sao hàn gắn được trong gia đình ông... Chẳng còn cách nào là ra đi khi người thân yêu nhất không cùng chia sẻ, tệ hơn, còn xúc phạm đến những giá trị mà mình coi trọng.
Nhưng hơn cả là những phong cảnh Nga, gương mặt Nga... mà mình luôn ước ao sẽ có ngày được gặp...

ANNA KARENINA không chỉ là một tiểu thuyết/ phim về tình yêu. Trong cuộc sống, có thể số phận sẽ cho ta gặp một người mà chỉ trong mối quan hệ với người đó, ta mới đúng là ta. Sự lựa chọn đặt ra: sống như đã sống hay sống như chính mình? Sự thay đổi đó chỉ có ta mới nhận biết được. May mắn thì người kia cũng nhận ra, đó là hạnh phúc rất hiếm hoi! Còn thường thì người kia chỉ nhìn thấy cái họ muốn thấy mà thôi. Khi đó là bất hạnh. Người kia không xứng đáng với tình yêu của ta, vậy có còn gì phải nuối tiếc?
Bởi vậy, khác với ANNA, hãy lên tàu đi tiếp dù chỉ một mình.

Black Swan – Thiên nga đen. Câu chuyện về tài năng và sự khổ luyện cả thể xác và tinh thần. Bà mẹ trút lên cô con gái khát vọng của mình đồng thời hành hạ con gái bằng lối sống khắc kỷ bệnh hoạn của mình.
Lòng đố kỵ vốn có trong nghệ thuật lại được thể hiện qua phụ nữ - sự đố kỵ được nhân lên bội phần, khuôn mặt xinh đẹp nhưng ánh mắt lóe lên sự độc ác và nhưng hành vi mưu mô bẩn thỉu. Đàn ông, luôn dùng quyền lực để sai khiến và chiếm đoạt người đàn bà vừa ý anh ta, với những lý do tưởng như vô cùng hợp lẽ. Ghen tuông không chỉ là sự ích kỷ của tình yêu, mà còn là sự chống lại cái quyền được lựa chọn đàn bà, của đàn ông.
Tiếc là nhiều người đàn bà đã trao cho đàn ông cái quyền này.


SA PA KHÔNG CÒN LẶNG LẼ…



Tạp bút - Nguyễn Thị Hậu

Vào một ngày Đông lần đầu tôi đến Sapa khi trong trí tưởng tượng của tôi, Sapa bao giờ cũng là một thị trấn nhỏ bé và lặng lẽ như trong một truyện ngắn của Nguyễn Thành Long.
Nhiều năm sau… Chuyến tàu Hà Nội – Lào Cai rời ga Hàng Cỏ chuyển bánh đi về phía Bắc. Những chuyến tàu đêm cuối tuần đông khách du lịch, đi theo nhóm, đi cả đoàn, đi từng đôi,  không hiếm người đi một mình… Sáng sớm tàu đến Lào Cai. Trong chiến tranh biên giới năm 1979 Lào Cai là thành phố và là tỉnh thiệt hại nặng nề nhất. Nay thành phố đã hiện đại lên với nhiều nhà cao tầng, đại lộ thẳng tắp, đường “58” đến Cam Đường rộng thênh thang hai bên là những tòa nhà công sở mới của Tỉnh, tôi tự hỏi: hàng cây lơ thơ bên những ngôi nhà mái ngói cũ, cái thư viện tỉnh vắng vẻ có cô thủ thư mái tóc dài chấm đất, và mối tình thầm lặng của cô với anh công chức Hà Nội sơ tán về… không biết có thật hay chỉ có trong cuốn tiểu thuyết nào đó mà lúc này tôi ko sao nhớ ra được.

Đường lên Sapa  uốn lượn, qua dốc 3 tầng sương sớm không tan mà càng dày, hàng cây samu ven đường ngọn lá hình tháp đọng sương gợi hình ảnh Noel sắp đến.  Sài Gòn đang những ngày nắng nực, Hà Nội đẹp trời giữa Đông, cái lạnh ở Hà Nội bạn nhắc mới nhớ ra cái từ “rét ngọt”.  Còn Sapa, Sapa mù sương không phân biết sáng trưa chiều, không phân biệt đồi cao và thung lũng… Sương đọng như mưa phùn,  tưởng không rét nhưng rồi cái rét cứ thấm dần vào da thịt, càng trưa càng lạnh, ngồi yên cũng lạnh mà đi lại cũng không thấy ấm hơn, cái lạnh vào người rồi ở yên trong đó làm cho toàn thân cứ run lên.

Năm 1979 dù năm sâu trong thung lũng nhưng Sapa cũng không thoát khỏi sự tàn phá nặng nề. Vào thập niên 1990, Sa Pa được xây dựng, tái thiết trở lại. Thị trấn nhiều xe máy hơn, nhiều trạm xe khách chất lượng cao từ Hà Nội và nhiều tỉnh khác đến Sapa. Chợ Sapa vẫn đông khách tây khách ta, quanh nhà thờ quanh “phố cũ” vẫn những người phụ nữ già trẻ lớn bé, lưng địu con nhỏ tay cầm những chiếc vòng bạc, túi thổ cẩm… chào mời khách mua, tiếng Kinh lơ lớ, tiếng Anh  chỉ đủ vài từ mặc cả. Trước cửa các khách sạn những cô gái Mông chào hỏi bằng tiếng Anh khá trôi chảy với khách du lịch ba lô. Váy áo thô cẩm, quấn xà cạp, em nhỏ địu trong tấm chăn hoa sặc sỡ, những người phụ nữ Mông  từ những bản gần bản xa, lặn lội đến Sapa “làm du lịch”. Phải chăng vì phụ nữ, trẻ nhỏ làm người ta dễ động lòng “từ bi” hơn…?  Thật ra phụ nữ ở đâu cũng phải bươn chải và có thể làm tất cả vì gia đình.

Đang ngồi trong quán trước mặt là hồ nước mù sương, ly cà phê nóng ủ giữa  hai tay mà vẫn lạnh run, một bà già người Mông trên tay lủng lẳng vòng bạc, túi thổ cẩm đi qua. Bà dúi vào tay tôi mấy chiếc túi thổ cẩm: “túi bà già khâu tay đây, mua đi, mua cho bà già. Bán cho Tây là 150 nghìn nhưng cháu mua thì 100 nghìn thôi”. Chiếc túi hoa văn kỷ hà xanh nhạt, vải mỏng khá mịn, loại vải dệt máy công nghiệp, đường khâu tay cố ý để lộ sự vụng về. Cầm chiếc Samsung Galaxy của tôi đặt lên túi, bà già cười: vừa với cái này này, mua đi. Vừa nói xong bỗng bà nhớn nhác và lao nhanh ra đường. Ngoài đường mấy anh trật tự viên đang đuổi theo người bán hàng rong tịch thu hàng, túi thổ cẩm, vòng bạc, vòng cườm rơi lung tung…

Mấy người bạn hôm  trước hớn hở khoe  đã kịp trả giá và mua mấy cái vòng bạc và vài túi thổ cẩm về làm quà. Hôm sau đi chợ Sa Pa về, giọng tức tối: ngoài chợ giá mấy cái này chỉ bằng một nửa, mấy ông trật tự bắt người hàng rong là đúng quá!
Trong mắt tôi lại hiện ra gương mặt nhăn nheo của bà già người Mông, gương mặt đỏ hồng vì bị nẻ của các cô gái, những em bé ngủ gật ngật ngưỡng trên lưng mẹ… Giá mà hôm qua mình mua giúp họ vài thứ…

Sapa, 8/12/2012

Linh tinh lang tang (30) Valentine Day




Một ngày mới đang đến... Trên tờ lịch ghi con số 14 – 2. Như mọi năm, tờ lịch ngày này không có gì đặc biệt. Nhưng cũng như nhiều năm gần đây, ngày 14 -2 sẽ là một ngày không như mọi ngày. Có rất nhiều hoa hồng tung tăng trên phố, có rất nhiều những trái tim bằng bông, bằng bong bóng, bằng giấy trang kim màu hồng màu đỏ rực rỡ mọi ngả đường, và hương vị Socola ngọt ngào quấn quýt bên mỗi đôi lứa đang yêu...
một ngày đặc biệt. Có lẽ hôm nay ai đang yêu cũng cầu mong cho chuyện tình của mình sẽ luôn tốt đẹp như những câu chuyện cổ tích... Có lẽ ai đang yêu cũng mong 3 tiếng diệu kỳ mà người ấy nói với mình không bao giờ trở thành quá khứ…
Anh yêu em! Em yêu anh!

Hãy mang đến cho người mình yêu những điều tốt lành mà giản dị – như cổ tích giữa đời thường, trước khi nghĩ đến việc sẽ làm điều gì cao siêu vĩ đại. Và nếu  phải dừng bước không thể đi tiếp cùng nhau được nữa, hãy cám ơn nhau vì những năm tháng bên nhau đã qua dù ngọt ngào hay cay đắng.
Cuộc đời ngắn lắm nhưng rất công bằng... cho đi là nhận lại, mọi điều.

(Viết cho con gái)

THƯƠNG VỀ MỘT MIỀN THƠ ẤU

Tiểu thuyết Miền Thơ Ấu của nhà văn Vũ Thư Hiên đã gặp lại bạn đọc sau 30 năm tác phẩm đoạt Giải A Văn học thiếu nhi của Hội nhà văn VN ...