Hiển thị các bài đăng có nhãn . Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn . Hiển thị tất cả bài đăng

LỜI CHA DẶN

 Ngày 27.1.1973, Hiệp định Paris được ký kết, hòa bình lập lại. Tết năm đó, trong không khí náo nức chung, tôi cũng có một niềm vui nhỏ dành tặng ba nhân ngày đầu Xuân. Đó là việc tôi đã thi đậu vào trường Nghệ thuật Sân khấu. Khi tôi hồi hộp báo tin đó, ba ngồi lặng đi, lộ vẻ băn khoăn lo lắng. Cuối cùng ba nói với tôi, trang nghiêm mà trìu mến:

- Ba rất vui khi có một đứa con muốn nối nghiệp ba. Trước khi con tự quyết định tương lai của mình, ba muốn nói với con điều này. Mọi nghề nghiệp đều đẹp và đều sẽ thành công nếu ta lao động kiên nhẫn và trung thực. Nhưng trong nghệ thuật thì còn phải có một điều kiện quan trọng, đó là tài năng. Đã là diễn viên, phải là một diễn viên giỏi. Đây không phải là chuyện danh tiếng, mà là chuyện làm gì để cống hiến cho Tổ quốc được nhiều hơn. Còn nếu chỉ là một diễn viên “cầm cờ, chạy hiệu” thì thà làm nghề khác còn có ích hơn.

Suy nghĩ một lát ba tôi nói thêm: Phụ nữ, nếu theo một nghề mà không làm được thì cơ hội đổi nghề khó khăn hơn nam giới. Là phụ nữ con cần làm tốt một nghề. Khi có đồng tiền do mình làm ra thì con không phải phụ thuộc vào ai.

Lần đầu tiên ba tôi tâm sự với tôi về nghề nghiệp của mình cũng như những vui buồn của nó. Cũng từ khi ấy, khi tròn 15 tuổi tôi đã thực sự trở thành người bạn nhỏ của ba.

Cho đến ngày tôi tốt nghiệp đại học, được trường giữ lại làm cán bộ giảng dạy, ba tôi đã chúc mừng tôi và nói:

- Người thầy giáo cũng phải có một tâm hồn nghệ sĩ, bởi đều là những “kỹ sư tâm hồn”. Phải yêu nghề, yêu người thật sâu sắc thì mới có thể đứng trên bục giảng hay trên sân khấu mà truyền đạt mọi mặt cuộc sống đến với người nghe, người xem. Hơn nữa, thầy giáo hay nghệ sĩ cũng đều phải sống trung thực, có sống trung thực thì mới không mắc cỡ, không ngượng mồm khi giáo dục người khác về cái đẹp, về cái tốt.

 Nhưng ba tôi cười buồn – Tiếc rằng ngày nay giữa hai nghề này còn có một khoảng cách khá xa. Người thầy giáo thì thiếu tâm hồn nghệ sĩ. Còn người nghệ sĩ lại thiếu đạo đức của người thầy!

(Trích trong cuốn sách “Nguyễn Ngọc Bạch – một đời sân khấu”)

P/S. Đó là những lời ba dặn tôi từ 50 năm trước! Giới nghệ thuật, nghệ sĩ không xa lạ đối với tôi bởi đó là một phần cuộc sống của gia đình tôi trong gần nửa thế kỷ. Mỗi khi xảy ra những “tai tiếng” của giới này tôi lại nhớ đến ba tôi và thế hệ của ông: Đó là những nghệ sĩ tài năng, nhiều người trong họ cũng có vài “tật” khó tránh của “trai tài gái sắc”. Nhưng đó là thế hệ nghệ sĩ luôn tôn trọng, yêu quý khán giả, có trách nhiệm với khán giả trong từng vai diễn, luôn hướng khán giả đến thẩm mỹ tốt đẹp qua ngôn từ, ứng xử của những vai diễn trong chính kịch và cả hài kịch. Bởi họ hiểu, sân khấu là cuộc đời được phóng chiếu lên cả điều xấu xa và tốt đẹp!

#vunvatdoithuong

27.1.2023

Hình tư liệu gia đình: Năm 1969. Ông Xuân Thủy - Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris - và cán bộ Sứ quán VNDCCH tại Paris chụp chung Đoàn nghệ thuật Việt Nam DCCH trong dịp đoàn qua Paris biểu diễn (ba tôi làm Trưởng đoàn, ông đeo kính, đứng bên trái, phía sau).



Nhân HẾT TẾT CON MÃO 2023

Thật ra với tôi Tết bắt đầu từ khoảng tháng 11 âm lịch, khi vài tờ báo đặt bài báo tết. Từ đó lu bu bận rộn đến hết ngày mùng Một là hết tết. Nhưng mấy năm nay từ khi có cháu ngoại về ăn Tết thì không khí Tết dài thêm vài ngày, kéo dài thêm sự bận rộn và vui vẻ trong gia đình như những ngày cuối tuần. Nay mùng 4 rảnh rỗi ghi lại vài dòng để đánh dấu cái tết năm con Mão.
1.
Từ nhiều năm nay, Tết năm nào cũng dấy lên làn sóng bình phẩm những con giáp trở thành “linh vật” của năm, được dựng thành tượng ở các thành phố. Có lẽ bắt đầu từ năm 2012 Nhâm Thìn với sự xuất hiện của “con rồng Picachu” ở Hải Phòng bị bà con chê quá trời, từ đó lây lan ra những nơi khác và những năm sau đó…
Của đáng tội nhiều con “linh vật” trông cũng đáng bị chê thật. Tuy nhiên, sau những bình phẩm “cực đình” của cư dân mạng thì nhìn thấy chúng tôi chỉ thấy buồn cười 😊. Kệ, vui mà, với lại đã là “linh vật” thì đâu nhất thiết phải “tả thực”, chưa kể là có năm bao việc làm người còn buồn thì sao các con vật lại phải vui?
Năm nay nhìn chung con Mão không bị chê nhiều, vài con còn được khen vì giống như Mèo thật! Nhưng sao không nơi nào dựng tượng Mèo đang rình chuột nhỉ - ấy là một “thiên chức” của mèo mà có lẽ nhờ đó, mèo đã trở thành con vật nuôi trong nhà phổ biến khắp thế giới.
Nhưng mà, vì sao con giáp nào khi trở thành “tượng” cũng đều trông quái dị như thế? Có lẽ vì chúng vốn “nhỏ xinh vừa đẹp”, khi bị thổi phồng lên, lại do người thợ vụng nữa… nên mới thành kỳ quái vô hồn như thế chăng 😊
2.
Mỗi cái tết bắt đầu từ khoảng 23 đưa ông Táo, rồi bận rộn cả ngày 30 cúng cơm đón ông bà. Đến tối thì nhiều người có thói quen đón xem Táo quân ở VTV, và sau đó là bình luận mà năm nào cũng chê nhiều hơn khen… Nhưng VTV vẫn phát và nhiều người vẫn xem và vẫn chê. Cứ “quẩn quanh trong tổ” như thế không biết bao giờ mới hết 😊
Về chương trình Táo Quân từ vài năm trước tôi đã có vài nhận xét, sau đó thì thôi luôn không xem nữa. Bởi vì xem Gặp nhau cuói năm hay Táo quân không thể không liên tưởng đến một cái làng to hơn về không gian nhưng vẫn đậm nét “truyền thống” như làng Vũ Đại xưa, vẫn những con người không khác gì ngày ấy!
Năm nay trước tết thiên hạ xôn xao nhiều chuyện… Nhưng cuối cùng cũng giống như chương trình Táo quân kéo dài đến tận giao thừa! Dù mỗi năm “nội dung” có vẻ mới thì trò diễn Táo quân cũng vẫn là những nghệ sĩ cũ, “mảng miếng” có bấy nhiêu, làm gì cũng chỉ cho thấy đó là “Táo quân giai đoạn cuối” mà thôi.
P/s. Nghe nói có anh NSND nào đó mắng người xem vì dám chê táo quân, đại loại anh mắng là “không biết gói bánh, cứ ăn bánh MẸ GÓI mà lại cứ chê”. Tôi buồn cười quá! Ơ kìa, khán giả chính là những người “mang tiền về cho MẸ” đấy anh ợ! Đồng thời Ttôi lại cười buồn vì một lần nữa nhận thấy, nghệ sĩ trong chương trình Táo quân “không thể là những nhân vật hề chèo thông minh, hài hước nhưng sắc sảo và chính trực của sân khấu truyền thống” – như tôi từng nhận xét nhiều năm trước!

 

KÝ ỨC THỜI SƠ TÁN

 (Những ngày này 50 năm trước. Ngày 18.12.1972 bắt đầu chiến dịch B52 của Mỹ đánh phá Hà Nội và nhiều thành phố khác trong 12 ngày đêm)

Nguyễn Thị Hậu

Năm 1972. Từ mùa hè ở Hà Nội một số cơ quan và nhiều gia đình đã lục tục sơ tán về nông thôn. Đến tháng 10 và nhất là mấy ngày đầu tháng 12 thì có lệnh sơ tán khẩn cấp. Trên các nẻo đường từng dòng người đi bộ, đạp xe ùn ùn kéo đi, tàu xe chen chúc

Đoàn kịch nói Nam bộ - lúc này ba tôi làm Trưởng đoàn - sơ tán về Lạc Đạo, một xã ở ven đường quốc lộ số 5, gần ga Như Quỳnh trên con đường huyết mạch Hà Nội – Hải Phòng. Lãnh đạo đoàn đã đưa gia đình của diễn viên, nhân viên về đây từ hè để kịp cho các con vào năm học mới. Cmỗi cuối tuần tôi lại đạp xe về Hà Nội để mang gạo mì mắm mỡ lên nơi sơ tán. Chiều chủ nhật ba má đưa tôi đi, đến cầu phao Chương Dương ba dẫn xe đạp cho tôi qua cầu, má đứng lại đầu cầu nhìn theo với đôi mắt đỏ hoe… Tôi đạp xe đi, có khi một mình, có khi cùng với hai anh em Minh Yến, là con của nghệ sĩ Tường Vân. Mỗi đứa một xe đằng sau có hai cái túi làm bằng lốp xe đạp, trong đó có thức ăn cho một tuần mười ngày, có mấy cái bánh mì hay gói bánh ngọt má tôi gửi biếu nhà bác chủ nhà nơi sơ tán, khi là gói đường hay ít mì chính (bột ngọt) gửi bác gái, khi là mấy mét vải màn gửi cho các con gái bác chủ nhà

Đường 5 chạy song song với đường xe lửa Hà Nội – Hải Phòng, ban ngày vắng xe ô tô qua lại, chỉ có người đi xe đạp, lỡ có máy bay thì lao ngay vào vệ đường hay gốc cây, vứt xe đấy mà nhảy xuống hào giao thông. Thỉnh thoảng có chuyến tàu vội vàng trên đường ray, nhưng khi có máy bay thì cũng ngừng lại, người trên tàu túa xuống tìm nơi ẩn nấp. Khi máy bay đi rồi, tàu hú vài tiếng lại tiếp tục lăn bánh. Đi qua Trâu Quỳ - nơi có bệnh viện tâm thần – vẫn thấy thấp thoáng sau bức tường sơn loang lổ màu phòng không là những bệnh nhân đi lại, nhảy nhót, có khi trồng cây, quét sân, có khi là một đám đánh nhau… Nhưng lạ, hễ nghe tiếng loa của bệnh viện, bất cứ nói gì, là bệnh nhân ngoan ngoãn ngay lập tức.

***

Khoảng tháng 10.1972 thì tất cả diễn viên của đoàn kịch cũng đi sơ tán. Tại Lạc Đạo đoàn bắt đầu dựng vở kịch “Hòn đảo thần vệ nữ”, kịch bản của Hy Lạp do đạo diễn Vũ Đình Phòng dàn dựng. Tôi còn nhớ, vở kịch nói về cuộc chiến tranh du kích của nhân dân đảo Sip chống lại quân xâm lược Anh hồi cuối thế kỷ 19. Nội dung rất gần gũi với cuộc chiến tranh ở Việt Nam, nhiều tình tiết bất ngờ và hấp dẫn. Lại có dàn diễn viên “gạo cội” như các nghệ sĩ Can Trường, Tú Lệ, Văn Thành, Hữu Hạnh… sắm vai, vì vậy vở kịch này đã trở thành một “hiện tượng” trong đời sống nghệ thuật lúc đó ở Hà Nội và cả miền Bắc, trong suốt các năm sau đó.

            Hàng ngày các diễn viên tập trung lại để “thoại lời”, “vỡ hoang” vở kịch (ngồi đọc đối thoại kịch, phân tích lời kịch, tâm lý và tình huống kịch, trước khi tập trên sàn diễn). Bọn trẻ con em diễn viên thì ngay từ những ngày tập đầu tiên đã thuộc câu thoại nổi tiếng “hết ngày dài lại đêm thâu, chúng tôi đi trên đất Phi châu” của một nhân vật trong vở kịch do nghệ sĩ Can Trường thủ vai.

Thời gian này má tôi không đi sơ tán, ngân hàng nơi bà làm việc vẫn ở Hà Nội; chị Ba tôi đã đi học nước ngoài từ cuối năm 1969, còn anh Hai đi bộ đội vào chiến trường B từ năm 1968. Năm 1971 ba tôi cũng đưa đoàn kịch đi Trường Sơn gần nửa năm, tưởng đã đi thẳng vào đến B2 (Nam bộ) nhưng rồi lại phải quay ra. Ba tôi buồn lắm, nhiều lần đi B mà không lần nào về được quê hương…

Giữa tháng 12, trong lúc Hà Nội gần như trong tình trạng “thiết quân luật” thì đoàn kịch nói Nam bộ lại về Hà Nội để diễn tập giai đoạn cuối vở “Hòn đảo thần vệ nữ”. Đúng vào đêm 18/12 là đêm tổng duyệt ở Nhà hát lớn, mới mở màn được khoảng 30 phút thì còi báo động, rồi tiếng bom rền, tiếng súng cao xạ, tiếng rít dài của tên lửa phóng lên bầu trời… Buổi tổng duyệt phải hoãn lại và cả đoàn đi ngay về nơi sơ tán. Ba tôi quả quyết: Mỹ đã đưa B52 ném bom Hà Nội! Kinh nghiệm đi chiến trường nhiều lần đã cho ông biết điều này trước khi có thông báo từ Đài phát thanh.

Những ngày sau đó tối nào cha con tôi cũng đứng ở cánh đồng nhìn về Hà Nội, nơi có quầng sáng mờ mờ và tiếng bom rền, nơi những loạt đạn đỏ lừ vọt tên trời cao, và thỉnh thoảng một chiếc tên lửa rít lên lao vào không trung… Để rồi sáng hôm sau chăm chú nghe đài Tiếng nói Việt Nam thông báo khu nào, phố nào bị bom, thương vong hy sinh bao nhiêu, và bao nhiêu B52 bị bắn rơi…

***

Ở Lạc Đạo cha con tôi sống cùng gia đình bác Mai, bác cũng là cán bộ xã, hai bác có bốn cô con gái, chị lớn đã lấy chồng có con, ở nhà còn 3 chị em trong đó có cái Chỉ bằng tuổi tôi, hai đứa học cùng lớp 6 ở trường cấp II của xã. Trong trường có một số thầy cô và nhiều bạn bè cũng từ Hà Nội sơ tán về, vậy sơ tán lần này không làm cho tôi bỡ ngỡ như những lần trước khi tôi còn quá nhỏ. Và cũng vì “lớn rồi” nên việc học hành phải tự lo, lại còn phải biết nấu cơm cho ba, thỉnh thoảng làm vài món nhậu cho ba và các chú nữa.

Khi sơ tán về Lạc Đạo tôi bước vào tuổi thiếu nữ, bắt đầu biết để ý vẻ ngoài, biết chăm chút đến mái tóc, bộ quần áo. Tóc tôi dài quá gấu áo và rất dày, thường tết thành hai bím tóc, đằng trước những sợi tóc quăn tự nhiên cứ xòa xuống má. Mấy cô ở đoàn kịch cứ ghẹo tôi là “Mai Liên” – tức là Miên lai vì nước da ngăm đen mái tóc quăn.

Chiến tranh nên quần áo đều nhuộm xanh hoặc nâu, đen. Con gái thường mặc áo cổ lá sen với quần đen, thường là quần “phíp” (gần giống như vải lanh) hoặc quần vải. Tôi có một cái quần lụa đen đã ngả màu, từ má tôi rồi đến chị gái rồi mới đến lượt tôi mặc nên nay rách mai sờn… Trong ba lô mang đi sơ tán tôi có 4 cái áo và 3 cái quần, thật là một gia tài lớn! Đi học cùng lớp với con gái út của bác chủ nhà nên tôi thích mặc cái áo màu nâu giống cái Chỉ. Đến lớp nếu không nói ra thì thầy cô không biết tôi người Hà Nội vì các bạn gái Hà Nội vẫn mặc áo hoa áo màu…

 Ngoài giờ đi học tôi cùng các chị trong nhà đi gánh phân, làm đất trồng rau, đi bón kali cho ruộng khoai tây, rồi thu hoạch rau vụ đông… Nhà bác chủ làm gì thì tôi làm việc ấy, lúc đầu vụng về rồi sau cũng quen tay. Ba tôi không nói gì nhưng tỏ ý bằng lòng. Còn má thì luôn nhắc “con gái ở nhà người ta phải ý tứ”. những ngày “đau bụng”, tối mịt tôi cầm đèn dầu một mình đi ra con mương cuối làng giặt giũ, (vì đàn bà con gái không được giặt “đồ bẩn” ở giếng nhà, phơi phóng cũng phải che chắn cho khuất mắt). Một lần đèn hết dầu mà tôi không để ý, ra tới mương đèn tắt, tôi đành mò mẫm giặt rồi mò mẫm đi về. Đến cổng thấy ba tôi như đang đứng chờ, trong ánh đèn từ nhà hắt ra cặp mắt kiếng của ba hình như loáng ướt…
***

Một phiên chợ bác gái chủ nhà đi bán gánh khoai tây, lúc về mua một con chó con rất xinh. Được hai, ba ngày con chó uể oải bỏ ăn, bác gái đút cơm cho nó bị nó cắn xước một chút ở tay. Ai dè khoảng một tuần sau bác gái lên cơn dại. Lúc đầu bác nóng sốt cao, rồi sợ gió sợ ánh sáng, bác nằm trong buồng tối và bắt cả nhà che chắn hết các khe cửa… rồi chiều tối thì bắt đầu tru lên từng hồi. Đến lúc này mọi người mới biết bác bị lên cơn dại, hùa nhau đi tìm đập chết con chó con. Tôi nhớ mãi cảnh con chó nằm bẹp dưới cối xay lúa, xung quanh cơm vãi kiến bu đầy, khi bị lôi ra con chó đã yếu lắm rồi, vậy mà nó biết, nó chảy nước mắt…

Hôm đó là thứ bảy, tình cờ chiều tối má tôi lên thăm, gặp lúc bác gái ốm má tôi là người duy nhất vào buồng xoa bóp cho bác gái khi bác tỉnh lại. Bị bệnh dại lạ lắm, khi lên cơn thì tru tréo không ai dám đến gần, nhưng qua cơn rồi thì người rất đau nhức nhưng tnh táo. Mỗi lần má tôi vào xoa bóp là bác gái lại dặn dò cẩn thận: ai nợ bác cái gì, nhà còn nợ ai bao nhiêu, bác để dành cho các con gái những gì, chuẩn bị đám cưới chị thứ hai thế nào… Cứ thế, vật vã đến trưa hôm sau thì bác gái mất. Má tôi thay cho bác bộ quần đen và chiếc áo bà ba màu xanh mới tinh mà tôi cẩn thận mang đi sơ tán cất để dành cho má. Bác trai nức lên “cả đời bà bây giờ mới được mặc quần áo mới, bà ơi…”.

Đó là một cú sốc rất lớn với tôi, sau cú sốc hồi học lớp Hai một đứa bạn thân của tôi bị chết vì bom Mỹ. Từ đó, tất cả mọi thứ với tôi đều nhạt nhòa, hình như không còn gì đáng nhớ.

Sau đợt B52 của Mỹ ném bom Hà Nội, Hải Phòng vào cuối tháng 12/1972, đầu tháng 1/1973 Đoàn kịch lại về Hà Nội nhưng tất cả gia đình con cái vẫn ở Lạc Đạo, cho đến sau ngày ký kết Hiệp định Paris mới trở về Hà Nội kịp đón cái “Tết hòa bình”.

***

Năm 1975 cả nhà tôi về Sài Gòn. Khoảng năm 1978 ba tôi cùng Đoàn kịch nói Nam bộ ra Bắc biểu diễn “đền ơn đáp nghĩa” ở những nơi đoàn từng sơ tán. Về Lạc Đạo ba tôi gặp lại bác trai, nhưng bác đã yếu nhiều. Lúc này Lạc Đạo nổi tiếng vì một “đặc sản” lâu đời mà lúc trước luôn phải giấu giếm: rượu cuốc lủi.

Bây giờ Lạc Đạo còn là nơi làm cơm nắm muối vừng mang bán khắp Hà Nội. Cứ ra Hà Nội là tôi luôn tìm mua cơm nắm của các chị gánh bán rong, lần nào tôi cũng nghĩ, biết đâu sẽ gặp lại bạn tôi,  cái Chỉ…


Hình ba má tôi và tôi, năm 1972.






 

VẪN CÒN NHỚ NHAU (chuyện trẻ sơ tán). Tiếp theo và hết.


 LẠC ĐẠO

11.
Mùa đông 1972. Từ tháng 10 ở Hà Nội có nhiều cơ quan, gia đình đã lục tục sơ tán về nông thôn. Đến đầu tháng 12 thì có lệnh sơ tán khẩn cấp. Trên các nẻo đường người, xe đạp ùn ùn kéo đi…

Đoàn kịch nói Nam bộ - lúc này ba tôi chuyển qua làm Trưởng đoàn kịch nói Nam bộ - lần này sơ tán về Lạc Đạo, một xã ở ven đường quốc lộ số 5, gần ga Như Quỳnh trên con đường huyết mạch Hà Nội – Hải Phòng. Đoàn về đây từ tháng 10, ở đó đoàn bắt đầu dựng vở kịch “Hòn đảo thần vệ nữ” – vở kịch đã trở thành một “hiện tượng” trong đời sống nghệ thuật lúc đó ở Hà Nội và cả miền Bắc. Hàng ngày các nghệ sĩ tập trung ở nhà ai đó, “thoại lời”, “vỡ hoang” (ngồi đọc đối thoại kịch, phân tích lời kịch, tâm lý và tình huống kịch, trước khi tập trên sàn diễn). Bọn trẻ con em của đoàn kịch ngay từ những ngày tập đầu tiên đã thuộc câu thoại nổi tiếng “hết ngày dài lại đêm thâu, chúng tôi đi trên đất Phi châu” của một nhân vật trong vở kịch do nghệ sĩ Can Trường thủ vai.
Chú Can Trường có hai con trai sàn sàn tuổi nhau, chúng nghịch không thể tả. Chiều chiều mọi người trong khu tập thể hay thấy cảnh hai thằng con gầy nhom cởi trần mặc quần đùi chạy trước, ông bố già tay cầm roi tập tễnh chạy sau, miệng la "Long, Giang!" - hai thằng đồng thanh Dạ. - Dạ sao tụi bay không dừng lại?! - Dừng lại ba oánh tụi con sao!
Thật ra chú Can Trường rất hiền nên cảnh cha con dọa nhau chỉ làm mọi người cười vui vẻ.

Thời gian này má tôi không đi sơ tán, ngân hàng nơi bà làm việc vẫn ở Hà Nội; chị Hiền đã đi học nước ngoài từ cuối năm 1969, còn anh Hai đi bộ đội vào chiến trường B từ năm 1968. Năm 1971 ba tôi cũng đưa đoàn kịch đi Trường Sơn gần nửa năm, tưởng đã đi thẳng vào đến B2 (Nam bộ) nhưng rồi lại phải quay ra. Ba tôi buồn lắm, nhiều lần đi B mà không lần nào về được quê hương…

Đầu tháng 12, đúng lúc Hà Nội có lệnh sơ tán khẩn cấp thì đoàn kịch lại về Hà Nội để tập giai đoạn cuối vở “Hòn đảo thần vệ nữ”. Đúng đêm 18/12 là đêm tổng duyệt ở Nhà hát lớn, mới mở màn được khoảng 30 phút thì còi báo động, rồi tiếng bom rền, tiếng súng cao xạ, tiếng rít dài của tên lửa phóng lên bầu trời… Sáng hôm sau ba tôi và các cô chú lên đến nơi sơ tán, ông nói ngay: Mỹ đưa B52 ném bom Hà Nội! Kinh nghiệm đi chiến trường nhiều lần đã cho ông biết điều này trước khi có thông báo từ Đài phát thanh.
Ở Lạc Đạo cha con tôi sống cùng gia đình bác Mai, bác cũng là cán bộ xã, hai bác có bốn cô con gái, chị lớn đã lấy chồng có con, ở nhà còn 3 chị em trong đó có cái Chỉ bằng tuổi tôi nên hai đứa học cùng lớp 6 ở trường cấp II của xã. Trong lớp cũng có nhiều bạn là người sơ tán, có cả thầy cô từ Hà Nội về dạy ở trường nữa. Vì vậy sơ tán lần này không làm cho tôi bỡ ngỡ như những lần trước, và cũng vì “lớn rồi” nên việc học hành phải tự lo, lại còn phải biết nấu cơm cho ba, thỉnh thoảng làm vài món nhậu cho ba và các chú nữa.

Sau đợt B52 của Mỹ ném bom Hà Nội, Hải Phòng vào cuối tháng 12/1972, cuối tháng 1/1973 Đoàn kịch lại về Hà Nội nhưng tất cả gia đình con cái vẫn ở Lạc Đạo. Cứ cuối tuần tôi lại đạp xe về Hà Nội để mang gạo mì mắm mỡ lên nơi sơ tán, giống như má tôi trước kia. Chiều chủ nhật ba má đưa tôi đi, đến cầu phao Chương Dương ba dẫn xe đạp cho tôi qua cầu, má đứng lại đầu cầu nhìn theo với đôi mắt đỏ hoe… Tôi đạp xe đi, có khi một mình, có khi cùng với hai anh em Minh – Yến, mỗi đứa một xe đằng sau có hai cái túi làm bằng lốp xe, trong đó có thức ăn cho một tuần mười ngày, có mấy cái bánh mì hay gói bánh ngọt má tôi gửi biếu nhà bác Mai, khi là gói đường hay lọ mì chính (bột ngọt) gửi bác Mai gái, khi là mấy mét vải màn gửi cho các chị…

Đường 5 chạy song song với đường xe lửa Hà Nội – Hải Phòng, ban ngày vắng xe ô tô qua lại, chỉ có người đi xe đạp, lỡ có máy bay thì lao ngay vào vệ đường hay gốc cây, vứt xe đấy mà nhảy xuống hào giao thông. Thỉnh thoảng có chuyến tàu vội vàng trên đường ray, nhưng nếu có máy bay thì cũng ngừng lại, người trên tàu túa xuống tìm nơi ẩn nấp. Khi máy bay đi rồi, tàu hú vài tiếng lại tiếp tục lăn bánh. Đi qua Trâu Quỳ - nơi có bệnh viện tâm thần – vẫn thấy thấp thoáng sau bức tường sơn loang lổ màu phòng không là những bệnh nhân đi lại, nhảy nhót, có khi trồng cây, quét sân, có khi là một đám đánh nhau… Nhưng lạ, hễ nghe tiếng loa của bệnh viện, bất cứ nói gì, là bệnh nhân ngoan ngoãn ngay lập tức.
12.
Khi sơ tán về Lạc Đạo nó bước vào tuổi thiếu nữ, bắt đầu biết để ý vẻ ngoài, biết chăm chút đến mái tóc, bộ quần áo. Tóc nó dài quá gấu áo và rất dày, khi tết hai bím tóc trông đằng sau nó giống hệt chị Hiền, đằng trước thì khác vì có những sợi tóc quăn tự nhiên cứ xòa xuống má. Mấy cô ở đoàn kịch chọc nó là “Mai Liên” – tức là Miên lai vì nước da ngăm đen, mái tóc quăn và cặp mắt to mi dài. Lúc đó nó không thích bị trêu như vậy, vì đó là những gì làm cho nó khác các bạn gái cùng lứa. Sau này lớn rồi nó lại nghĩ: không chừng trong dòng máu của mình có lai Miên thật, vì quê nội của nó ở An Giang, một nơi có nhiều người Khmer sinh sống từ lâu đời.
(Mới năm ngoái năm kia, một lần ở tiệm uốn tóc, cô nhỏ gội đầu hỏi nó: cô là người miền Bắc à? Nó trả lời: quê cô ở miền Tây nhưng cô sinh ra ở Hà Nội. – Miền Tây cô ở tỉnh nào vậy? – Cô ở An Giang. – con cũng An Giang nè, chắc cô là người Miên phải hôn, thấy cô đen đen giống con! Người miền Tây thiệt thà thấy thương luôn vậy đó!)

Chiến tranh nên quần áo đều nhuộm xanh hoặc nâu, đen. Con gái thường mặc áo cổ lá sen với quần đen, thường là quần “phíp” (gần giống như vải lanh) hoặc quần vải, may mắn thì có cái quần lụa của chị hay mẹ cho. Nó cũng có một cái quần lụa đen đã ngả màu, thỉnh thoảng má nó lại rền rĩ “tôi mặc mãi không sao tới lượt nó mặc thì nay rách mai sờn…”. Ba bênh con gái “bà mặc mãi thì tới nó mặc rách là phải rồi”. Trong ba lô mang đi sơ tán nó có 4 cái áo và 3 cái quần, thật là một gia tài lớn! Hai cái áo ngắn tay là từ cái váy hoa của chị nó được phát mang đi nước ngoài, thương em chị để lại cho em may áo. Một cái áo màu nâu nhuộm từ chiếc áo trắng vải pô – pơ – lin đẹp nhất của nó, và cái còn lại màu “mận chín” – cái áo “điệu” nhất, nó ước ao mãi má nó mới may cho để dành mặc Tết.
Đi học cùng lớp với con gái út của bác chủ nhà, nó thích mặc cái áo màu nâu giống như cái Chỉ. Đến lớp nếu nó không nói ra thì thầy cô không biết nó người Hà Nội vì các bạn gái Hà Nội vẫn mặc áo hoa áo màu… Ngoài giờ đi học nó cùng cái Chỉ đi gánh phân, làm đất trồng rau, đi bón kali cho ruộng khoai tây, rồi thu hoạch rau vụ đông… Nhà bác chủ làm gì nó làm việc ấy, lúc đầu vụng về rồi sau cũng quen tay. Ba nó không nói gì nhưng tỏ ý bằng lòng. Còn má nó luôn nhắc “con gái ở nhà người ta phải ý tứ”. Vậy nên vào những ngày “đau bụng”, nó len lén đi thay, rồi tối mịt mới cầm đèn dầu một mình đi ra con mương cuối làng giặt giũ, đàn bà con gái không được giặt “đồ bẩn” ở giếng nhà. Phơi phóng cũng phải khuất mắt, che chắn bằng 2,3 lớp áo. Một lần đèn hết dầu mà nó không để ý, ra tới mương đèn tắt, nó mò mẫm giặt rồi mò mẫm đi về. Đến cổng thấy ba nó như đang đứng chờ, trong ánh đèn từ nhà hắt ra cặp mắt kiếng của ba hình như loáng ướt…

Một phiên chợ bác gái chủ nhà đi bán gánh khoai tây, lúc về mua một con chó con rất xinh. Được hai, ba ngày con chó uể oải bỏ ăn, bác gái đút cơm cho nó bị nó cắn xước một chút ở tay. Ai dè khoảng một tuần sau bác gái lên cơn dại. Lúc đầu bác nóng sốt cao, rồi sợ gió sợ ánh sáng, bác nằm trong buồng tối và bắt cả nhà che chắn hết các khe cửa… rồi chiều tối thì bắt đầu tru lên từng hồi. Đến lúc này mọi người mới biết bác bị lên cơn dại, hùa nhau đi tìm đập chết con chó con. Nó nhớ mãi cảnh con chó nằm bẹp dưới cối xay lúa, xung quanh cơm vãi kiến bu đầy, khi bị lôi ra con chó đã yếu lắm rồi, vậy mà nó biết, nó chảy nước mắt…
Hôm đó là thứ bảy, tình cờ chiều tối má nó lên thăm, gặp lúc bác gái ốm má nó là người duy nhất vào buồng xoa bóp cho bác gái khi bác tỉnh lại. Bị bệnh dại lạ lắm, khi lên cơn thì tru tréo không ai dám đến gần, nhưng qua cơn rồi thì người rất đau nhức nhưng tình táo. Mỗi lần má nó vào xoa bóp là bác gái lại dặn dò cẩn thận: ai nợ bác cái gì, nhà còn nợ ai bao nhiêu, bác để dành cho các con gái những gì, chuẩn bị đám cưới chị thứ hai thế nào… Cứ thế, vật vã đến trưa hôm sau thì bác gái mất. Má nó thay cho bác bộ quần đen và chiếc áo bà ba màu xanh mới tinh mà nó cẩn thận mang đi sơ tán cất để dành cho má. Bác trai nức lên “cả đời bà bây giờ mới được mặc quần áo mới, bà ơi…”.
Đó là một cú sốc rất lớn với nó, sau cú sốc hồi nó học lớp Hai một đứa bạn thân của nó bị chết vì bom Mỹ, đứa bạn ấy cũng tên là Hiền.
Từ đó, tất cả mọi thứ với nó đều nhạt nhòa, hình như không còn gì đáng nhớ.

Gần hai năm sau, chưa mãn tang bác gái thì bác trai lấy vợ mới rồi đẻ được một thằng con trai. Chị thứ hai – chị Xoan - chờ ba năm đoạn tang mẹ mới lấy chồng. Chồng chị là thương binh. Một lần chị lên Hà Nội đến nhà nó chơi, nó đi học về không nhận ra chị: cô gái có nước da trắng hồng, mặt tròn má lúm đồng tiền, lúc nào cũng tươi tắn… nay thành một người phụ nữ gầy gò, da sạm lại, và cái nhìn chỉ ánh lên một chút khi thấy nó. Chị thứ ba – chị Lan – “thoát ly” đi làm công nhân khi bác trai lấy vợ khác. Còn cái Chỉ: “nó khổ lắm, bố chị giờ nát rượu suốt ngày đánh chửi nó…”, chị Xoan khẽ kể như thế…
Năm 1975 cả nhà nó về Sài Gòn. Khoảng năm 1978 ba nó đưa Đoàn kịch Nam bộ ra Bắc biểu diễn “đền ơn đáp nghĩa” ở những nơi đoàn từng sơ tán. Về Lạc Đạo ba nó gặp lại bác trai, nhưng hỏi thăm các chị thì bác chẳng nhớ gì, “ổng không uống được nữa, chắc không còn lâu…”. Lúc này Lạc Đạo nổi tiếng vì một “đặc sản” lâu đời mà lúc trước luôn phải giấu giếm: rượu cuốc lủi.
Bây giờ Lạc Đạo còn là nơi làm cơm nắm muối vừng mang bán khắp Hà Nội. Cứ ra Hà Nội là nó luôn tìm mua cơm nắm của các chị gánh bán rong, lần nào nó cũng nghĩ, biết đâu sẽ gặp lại cái Chỉ…
***
Thời sơ tán cách đây đã hơn năm mươi năm, con bé, nó hồi đó giờ đã là một người đàn bà U60, nghỉ hưu rồi, “rảnh rỗi sinh nông nổi” bèn nhớ lại và ghi chép ra đây, nếu có gì chưa thật chính xác thì mong những người liên quan lượng thứ.
Sài Gòn, 8/11/2015

 
IN TRONG TẬP NÀY, 2017

VẪN CÒN NHỚ NHAU (chuyện trẻ sơ tán) tiếp p 7,8


CHU MINH 
7.
Khi quen với nhiều bạn rồi nó càng lang thang nhiều hơn, dưới đồng trên bãi, ngoài sông trong đê, chỗ nào bọn trẻ nông thôn đến thì nó cũng đi theo. Đi theo trâu trên những triền đê, ven rặng điền thanh muồng muỗng thấp thoáng bướm vàng, chuồn chuồn kim… Đi hái rau muối trong ruộng ngô bãi ven sông vào những buổi sáng sớm còn mù sương, lạnh giá. Rau muối nhỏ xíu cánh lấm tấm trắng như những hạt muối tinh, phải hái sớm vậy mới ngon, nấu canh ngọt lừ không cần mì chính. Chị Hiền nó và chị Vân – bạn thân của chị Hiền, đi sơ tán một mình nên má nó bảo về ở chung nhà, rồi thành con cái trong gia đình nó – vẫn nói với nhau: cái Hậu trông nhõng nhẽo thế mà gì cũng biết, chả sợ gì cả.

Những buổi tối trời, nhất là sau trận mưa rào nó còn trốn má đi theo các chú (làm chung cơ quan với má nó) đi bắt cóc ếch nhái về cải thiện. Chú Hài (thương binh, đi tập tễnh) và chú Thái là hai người bắt ếch cóc giỏi nhất, chỉ một lát là đầy cái thùng gánh nước mang theo. Hai chú đổ vào hầm tăng – xê để ăn dần. Ban ngày mới làm thịt cóc ếch vì phải cẩn thận: lột da, bóc sạch trứng và rút hết gân. Sau đó thịt ếch thì xào mặn ăn dần, còn thịt cóc thì bằm nát rồi xào để nấu cháo hay nấu bánh canh. Bánh canh làm từ bột mì, má nhồi bột, cán mỏng và xắt sợi, làm một nồi thật to, hai ba nhà ăn chung. Đến giờ nó vẫn nhớ hương vị nồi bánh canh bột mì sợi bánh bở bở, nước dùng sền sệt nhưng ngọt lắm. Đấy là thức ăn tươi hầu như duy nhất trong hơn hai năm sơ tán ở Chu Minh. Có lẽ được ăn thịt cóc ếch nhiều nên hồi nhỏ nó không hay ốm vặt, người tròn cui chắc nịch và… đen thui.

Hàng tháng má nó đạp xe về Hà Nội mua gạo mì mắm mỡ. Chiều thứ bảy về tối chủ nhật mới lên, đi cùng chú Hài chú Thái để lỡ dọc đường có máy bay hay việc gì bất trắc. Đạp xe ban đêm không đèn đường, đường quốc lộ xe ô tô không đèn kín lá ngụy trang chạy rầm rập nối đuôi nhau… Về đến Hà Nội khoảng 1,2 giờ sáng thì 4,5 giờ đã phải ra xếp hàng mua gạo mì, mua thịt mỡ… về nhà thắng mỡ cho vào chai, rồi ba nó buộc bao gạo mì lên xe đạp, chiều chủ nhật má lại đạp xe đi. Lần nào trở về nơi sơ tán má cũng nói: tưởng không về được đến nơi!

Đi sơ tán nhưng nó vẫn được má và các chị cưng chiều vì là con út. Bởi vậy nó cũng hay đành hanh cãi lại các chị. Một lần biết má sắp về Hà Nội, đêm đó nó ôm má thủ thỉ “má, mai má đừng về Hà Nội nhé!” – Má không về lấy gì ăn, phải về mua gạo mì chứ? – Má về, chị Hiền chị Vân bảo sẽ tẩn cho con một trận! Trời trời, nửa đêm má lôi hai chị dậy la: sao dọa em để nó sợ? Hai bà chị ngái ngủ càu nhàu: dọa thế cho nó sợ chứ ai đánh nó, rồi lăn ra ngủ tiếp. Nó ôm má ngủ mà vẫn phập phồng lo cho ngày mai không có “ô dù” che chắn.

Hai chị hay mắng nhưng yêu nó lắm, nhường nó tất cả giấy ngà ngà trơn nhẵn, lại dùng thước với bút chì kẻ dòng cho nó tập viết, còn các chị viết trên giấy đen thui đầy cọng rơm trên mặt giấy nhám. Chị Hiền học rất giỏi tất cả các môn nên rèn chữ đẹp cho nó, dạy nó làm toán. Một lần hai chị đọc vở của nó, thì thầm với nhau: cái Hậu tập làm văn hay ghê! Nó ham chơi học không chăm nhưng được cái sáng dạ, năm nào cũng là học sinh giỏi.

Có một chuyện nó luôn biết ơn chị Hiền. Đó là chuyện chị không cho nó nói “giọng nhà quê” vì “chửi cha không bằng pha tiếng”, chị bảo vậy! Ở đâu chỉ vài hôm là nó nói đặc giọng ở đấy, chị nghe thấy chỉ cần trừng mắt là nó khiếp vía… Nhờ vậy nó giữ giọng Hà Nội rất lâu. Lâu đến nỗi năm 1975 về Sài Gòn lúc 17 tuổi mà đến nay đã 40 năm ở Sài Gòn nó vẫn một giọng “Hà Nội chuẩn”, dù nó chẳng coi là “chuẩn” và nếu có thì cái “chuẩn” ấy cũng bình thường thôi, nó nghĩ thế!
8.
Ở Chu Minh lúc đầu nhà nó ở nhờ nhà bác Hùng có con là cái Hoan bằng tuổi nó, nhưng nhà bác đông quá nên ít lâu sau mấy má con nó qua ở nhà chị Rau. Nhà chị ở phía sau nhà bác Hùng, cùng chung ngõ nhỏ chạy giữa một bên là hàng rào râm bụt thấp bên kia là cái ao nhỏ vuông vắn thường cạn nước.

Chị Rau khoảng 30 tuổi, ở một mình, thỉnh thoảng có bà vãi (mẹ chị) ở làng bên qua chơi vài ngày. Chồng chị là anh Trác đi bộ đội, anh chị cưới nhau vài năm rồi nhưng không có con. Chiến tranh, anh Trác nhập ngũ, chị ở nhà làm hợp tác. Má con nó ở nhà chị Rau gần một tháng thì về Hà Nội ăn tết, quay lên đã thấy chị xin được một đứa con nuôi còn đỏ hỏn, đặt tên là cái Nhàn. Con bé dễ như củ khoai, không có sữa toàn uống nước cơm, được vài tháng thì ăn “cơm mớm”, càng lớn càng tròn quay và đen thui giống y như nó. Ai chê nó xấu thì chị Rau đều nói “xấu mà học giỏi như cô Hiền cô Hậu”. Chị Hiền còn dạy cái Nhàn nói câu “đen mà có duyên” khi nó bập bẹ học nói. Chị Rau đi làm cả ngày, nó tha cái Nhàn đi khắp nơi như chó mẹ tha chó con, trong nhà ngoài sân, ra vườn, ra cả sân kho hợp tác… Trưa nắng nóng chị Hiền chặt mấy tàu lá chuối trải trên nền nhà, hai đứa lăn lóc trên đó cho mát. Khi cái Nhàn biết bò rồi biết đi, nhanh như chớp đã lần ra đến bờ ao thành giếng, thế là nó liền lấy sợi dây buộc một chân cái Nhàn vào cột nhà, hai đứa ngồi chơi với nhau, nó cầm sách đọc như cuốc kêu còn cái Nhàn thì ê a đọc theo. Lúc đầu cái Nhàn còn thích thú, sau đó khóc ré lên, khóc chán lăn ra ngủ ngay cạnh cây cột.

Chiều mát, nó ra giếng kéo mãi mới đầy một chậu nước tắm. Vào nhà lấy quần áo quay ra đã thấy cái Nhàn mặt mũi người ngợm nhem nhuốc ngồi gọn trong chậu vùng vẫy tung tóe. Nó mếu máo: bắt đền chị Rau lấy cho em chậu nước khác đi. Chị Rau kéo nước lên tắm cho cả nó và cái Nhàn, hai đứa tha hồ nghịch nước giếng mát lạnh đến tím môi và các ngón tay nhăn nheo mới chịu thôi.

Lần nào bà vãi (ở vùng này gọi bà ngoại là bà vãi) qua nhà cũng có quà cho nó. Khi là cái bánh đa khi khúc mía bắp ngô. Bà vãi hay ra sau nhà đào lấy củ rong riềng, được cả rổ đem luộc lên. Nó thích củ rong riềng lắm, củ màu xám trắng, thơm, ngọt, ăn mãi không chán. Bà vãi vẫn hay mặc váy đụp, quấn khăn mỏ quạ dù bà cạo trọc đầu, bà đã già lưng còng như trông vẫn dong dỏng, khác hẳn chị Rau người thấp đậm, mà cái Nhàn càng lớn càng giống chị Rau, chẳng ai biết nó là con nuôi. Mùa đông bà vãi cấy rau cần ở cái áo nhỏ cạnh nhà, khi rau ăn được thì phần mang ra chợ bán phần cho hàng xóm, phần muối dưa ăn dần. Rau cần mới cắt đem xào tái với chút mỡ tỏi, cọng rau ngọt lừ, thêm quả cà chua hồng vào nữa thì ăn với cơm nóng quên no. Nó rất thích lội xuống ruộng rau cần với bà vãi, nhưng hai chị nó thì không dám, vì sợ đỉa.

Một lần chồng chị Rau được về phép, hàng ngày anh bế cái Nhàn đi chơi khắp các nhà hàng xóm. Một buổi chiều đi làm về má nó thấy hai cha con ngồi trước bếp lửa, cái Nhàn không mặc quần áo, lạnh tím tái. Má nó hốt hoảng hỏi “sao anh không mặc quần áo cho con Nhàn để nó lạnh thế kia?”, anh Trác hồn nhiên bảo: nó ị hết ra người nên vừa tắm cho nó, hơ lửa cho khô. Đến đêm cái Nhàn cảm lạnh một trận tưởng chết, sốt cao co giật, mấy chị nó cùng chị Rau phải thay nhau bế nó chạy lên bệnh viện huyện trên phố Lả để cấp cứu. Một tuần sau cái Nhàn mới qua khỏi, gầy tọp. Ngày đón cái Nhàn về nó ôm chặt cái Nhàn đòi mang theo… ngày mai nó về Hà Nội, hết phải đi sơ tán rồi. Má nó mắt đỏ hoe, phải hứa sẽ đón em Nhàn về sau nó mới chịu. Từ đó nó không gặp lại cái Nhàn…

Bà vãi mất sau đó vài năm. Khoảng năm 1990 nghe nói anh Trác chị Rau cũng đã mất. Cái Nhàn kém nó 6 tuổi, bây giờ cũng ngoài 50, nếu còn ở Chu Minh chắc đã là bà nội bà ngoại rồi. Không biết nó còn nhớ đến “cô Hậu” vẫn bế nó ngày còn bé không…

(CÒN TIẾP) 

VẪN CÒN NHỚ NHAU (chuyện trẻ sơ tán) tiếp p.5,6



CHU MINH
5.
Khi đó nó 6 tuổi, sơ tán về làng Chu Minh, nơi có đình Chu Quyến to lớn, qua chín năm kháng chiến mà vẫn còn nguyên vẹn, bây giờ là Di tích lịch sử quốc gia, nổi tiếng là một trong vài ngôi đình đẹp nhất miền Bắc. Đi theo má và chị, nhưng lúc mới đến đó má nó bị sốt thương hàn phải về Hà Nội nằm bệnh viện, chị Hiền còn đang ở tạm nhà trọ của trường cấp ba bên xã Tiên Phong cách đó khoảng chục cây số. Vậy là má gửi nó lại cho một người bạn, nó gọi là cô Lý.
Cô Lý cũng gần bằng tuổi má, khoảng trên dưới 40 nhưng không có chồng, vì vậy trông cô nghiêm lắm. Ban ngày cô đi làm, nó đi học hoặc lang thang với bạn ở ngoài đồng, trên đê. Tối về nó ngủ với cô trên một tấm phản hẹp khoảng 80cm. Mùa đông cô lót một tấm chăn mỏng làm nệm, chừa chỗ nó nằm bề ngang khoảng hơn gang tay trải chiếu lạnh ngắt. Gần 8g tối là cô tắt đèn đi ngủ. Nó không ngủ thì cũng nằm im đấy, không dám nhúc nhích cục cựa vì cô khó ngủ. Nhiều đêm nó nhớ má cứ nằm im quay mặt vào vách để mặc nước mắt tràn trề không dám nấc tiếng nào…
Nhờ vậy sau này nó được nết ngủ ngoan, dù mất ngủ cũng không làm phiền ai.

Khi má nó khỏi bệnh trở lên nơi sơ tán, má con nó được gia đình bác Hùng trong làng cho ở cùng. Nhà bác có ổ chó con mới sinh, mẹ là một con Mực nhưng đàn chó 5 con đủ màu vàng trắng vện… Nó yêu bầy chó lắm, suốt ngày bồng bế trên tay. Bấy giờ là mùa hè, làng bị dịch chó dại. Tối hôm trước người ta vác loa đi thông báo từ đầu làng đến cuối thôn, rằng ngày mai nhà ai không đập chết hay thịt chó thì xã sẽ đến bắt đi “tiêu hủy”.
Sáng sớm hôm sau nó lặng lặng ôm bầy chó con, gọi con chó mẹ đi theo rồi trốn vào hầm tăng – xê, lại còn cẩn thận đậy nắp hầm lại. Trong bóng tối nó cố vượt qua sự sợ hãi những con rắn, con chuột, thằn lằn… trong tưởng tượng, chịu đựng lũ muối, kiến lao vào đốt như điên. Bầy chó như hiểu tình cảnh của chúng, không kêu la gì. Chó con nằm im không đòi bú mà chó mẹ cũng im, không dám liếm láp con.
Đến tận chiều, bác chủ nhà sốt ruột quá đi tìm ổ chó, còn má nó thì đi tìm nó. Thấy tiếng gọi ời ời nó mới chui ra khỏi hầm, mặt mũi tay chân sưng vù, đói lả. Lúc bấy giờ bầy chó mới kêu nhặng lên đòi ăn. Khôn thế chứ.
Sau này nhà nó ai mà ăn thịt chó thì bao giờ cũng có chuyện không may. Chắc vì tuổi nó cầm tinh con gâu gâu.

Chị nó học cấp ba, “con gái không ở một mình” nên chị không ở nhà trọ mà về ở với má con nó, dù hàng ngày phải đi bộ hơn 10 km. Một lần hai chị em nó từ nơi sơ tán đi về Hà Nội. Hai chị em ra phố huyện - gọi là phố Lả, đón xe khách nhưng đã lỡ chuyến, chỉ còn cách đi bộ lên bến xe thị xã Sơn Tây, cách đó hơn 30 km thì có thể mua được vé xe về Hà Nội. Trưa nắng chang chang hai chị em cứ đi, đi mãi… Một chú bộ đội đi xe đạp qua, hỏi: hai chị em đi đâu? Chị nó trả lời: chúng cháu về bến xe, chú cho em cháu đi nhờ với. Ừ lên đây chú đèo cho một đoạn. Nó sợ không dám ngồi sau xe đạp người lạ, chị nó phải gắt lên sợ gì mà sợ… Thế là chú bộ đội đèo nó đi trước, chị nó vẫn đi bộ, sau đi nhờ một chiếc xe bò chở mía lên thị xã, bị lá mía cứa xước hết cả người.
Chú bộ đội đèo nó gần đến bến xe thì rẽ đường khác, chú thả nó xuống và bảo: cứ đi thẳng nhé, một tí là đến bến xe thôi. Nó đi và cuối cùng cũng đến. Không biết bao lâu thì nó nhìn thấy chị, vừa mừng vừa tủi mà không dám khóc, sợ chị mắng (trong nhà nó sợ chị nhất, sợ hơn sợ ba má).
Tối mịt chị em mới về đến Hà Nội. Bước vào nhà nhìn thấy má, nó òa lên khóc. Hình như đấy là lần cuối cùng nó khóc òa lên như thế…

6.
Ở Chu Minh nó bắt đầu vào lớp 1. Trường cách nhà không xa, nó học buổi chiều nhưng hôm nào ăn cơm trưa xong là nó cũng tấp tểnh đi ngay. Chị nó mắng: đi sớm làm gì, dang nắng về bệnh bây giờ! Nó lại giơ tay ra đếm lẩm nhẩm: à, hôm nay em trực nhật. Thế là tót đi học sớm.
Nó chưa đến trường vội, tất nhiên. Nó đi tắt qua ruộng rau trước nhà để tránh bầy ngỗng lúc nào cũng nằm phục trước ngõ, ai đến gần không sao nhưng hễ nó đi qua là thế nào cả bầy cũng đứng lên kêu kíu kíu, vừa vươn cái cổ dài dứ dứ muốn cắn, nó sợ lắm, mấy lần nó bị ngỗng đui chạy ngã rách quần u đầu. Mấy đứa trẻ nhà quê nhìn thấy nhưng nhất định không đuổi ngỗng giùm mà cứ đứng cười “con bé sơ tán”, con bé không có mái tóc dài như chúng nó mà cắt ngắn “như liền ông”.

Men theo bờ đê nó lang thang ra đình Chu Quyến. Ngày nào cũng đi qua, nhìn ngôi đình còn nguyên vẹn hàng cột gỗ lim to mấy vòng tay ôm, chân tảng bằng đá xanh bóng loáng, sàn đình bằng gỗ nhẵn bóng mát rượi, nó đã hiểu vì sao người ta nói “to như cái đình”. Cả làng đúng là không có nhà nào to như thế, cả ngôi chùa (đã bị biến thành kho để phân đạm) cũng chỉ nhỏ nhắn dưới bóng mấy cây hoa đại hoa trắng quanh năm. Không hiểu sao giữa những ngày chiến tranh mà ngôi đình to lớn này không bị biến thành nhà kho hay là nơi bộ đội đóng quân? Buổi trưa quanh đình vẫn vắng vẻ, cây đa cổ thụ rợp mát một góc sân đình, mấy chú trâu bò thơ thẩn gặm cỏ, có thằng bé con trạc tuổi nó nằm trên lưng trâu ngủ khì, có lần bị ngã lộn cổ xuống đất, nó xoa tay lên cái đầu trọc rồi càu nhàu gì đó, hình như mắng con trâu sao để nó ngã.
Nó hay thơ thẩn ra đình, ngồi dựa lưng vào cột đình ngắm mãi mái đao cao cao cong vút và những hình chạm khắc, thỉnh thoảng được ông từ cho đi theo vào hậu cung, thành kính nhìn những bức tượng thờ được “giấu kín” ở đó, đâu biết rằng sau này sẽ đi học cái nghề khảo về đình chùa.

Mùa đông bước vào trong đình thấy ấm áp hẳn dù xung quanh vẫn trống trải, nhờ mái đình sà xuống thấp nên che bớt cơn gió mùa đông bắc ngoài kia. Mùa nước lũ, từ bờ đê phía ngoài đình nó nhìn thấy những chiếc thuyền đi vớt “củi rều” từ thượng nguồn trôi về. Đàn ông đàn bà đều lái thuyền chèo thuyền bằng hai chân, hai tay thoắn thoắt với những cành cây nhỏ, họ còn khéo léo tránh những cây gỗ, bè tre trôi trên sông. Thỉnh thoảng có những thuyền ghé vào bến bán cá mòi. Lên bờ họ quạt than nướng cá mòi, đàn ông mua ăn ngay, chấm muối ớt và uống rượu, đàn bà mua về kho khô với nghệ, cá mòi kho khô ăn cơm với rau muống luộc nước vắt chanh thì ngon thôi rồi…

Ngày hè, thỉnh thoảng có đoàn người ào vào đình ngồi nghỉ, bỏ nón quạt lấy quạt để, gương mặt nóng bừng lấm tấm mồ hôi… Phần lớn là phụ nữ gánh những bó “ráng” to che lấp cả người. Ráng là một loại cây dương xỉ mọc thành rừng trên những ngọn đồi bên xã Tiên Phong cách đây chừng mươi cây số, người xã Chu Minh vẫn sang đấy cắt về phơi khô để đun nấu thay củi. Cắt ráng bằng liềm, bó lại và dùng đòn xóc hai đầu gánh như gánh rơm rạ. Họ đi từ sáng sớm, cắt ráng đến quá trưa rồi đi một mạch từ những ngọn đồi đá ong nóng bỏng chân về đến đình làng mới hạ gánh nghỉ ngơi, ra hồ nước rửa mặt mũi chân tay rồi thong thả gánh ráng về nhà.

Trời đã về chiều, khói lan lên từ những ngôi nhà. Tiếng trâu khua móng về chuồng, tiếng í ới gọi con về tắm rửa ăn cơm… Nó đi học về lại ngồi ở bậc đá thềm đình, cảm thấy buồn buồn, chưa hiểu đấy là cảm giác cô đơn, cái cảm giác sẽ đi theo nó suốt đời.

(Còn tiếp)


Càng thay đổi nhanh, nhu cầu tìm lại cái đã mất càng lớn

  TS Nguyễn Thị Hậu (bên trái) tham gia ban cố vấn Dự án Heritage Ho Chi Minh City của Hội Di sản Văn hóa TP Hồ Chí Minh. - Theo bà, n hững ...