SỐ BÁO CUỐI CÙNG - viết tặng DOANH NHÂN SÀI GÒN

 Nguyễn thị Hậu

1.

Bạn nhắn, chị viết giúp một bài cho số báo cuối cùng nhé! Tôi không bất ngờ với tin nhắn của bạn nhưng vẫn thấy ngậm ngùi! Ngồi viết cho bạn một bài như suốt bao năm mà bây giờ bỗng trở nên khó khăn quá. Trên màn hình máy tính những con chữ vẫn lặng lẽ nằm đó như bao lần trước. Thế nhưng tôi biết từ nay sẽ không còn những cuộc điện thoại để trao đổi đề tài, không còn những tin nhắn nhắc deadline, không còn cảm giác thấp thỏm chờ số báo mới phát hành để tìm tên mình trong những trang giấy còn thơm mùi mực.

Làm cộng tác viên mảng văn hóa cho một tờ báo về kinh tế từ nhiều năm nay, với tôi là một mối duyên đặc biệt nhưng không khác biệt! Các anh chị ở tòa soạn luôn gợi ý cho tôi những đề tài không chỉ kể một câu chuyện hay phản ánh một sự kiện, mà còn cố gắng làm chiếc cầu nối giữa văn hóa kinh tế. Từ những hiện tượng xã hội, câu chuyện văn hóa hàng ngày đến những công trình nghiên cứu mới thường chỉ nằm trên các tạp chí chuyên ngành, qua trang báo về kinh tế đã trở thành những gần gũi hơn với người đọc, nhất là với tầng lớp doanh nhân mới ngày càng khao khát tri thức, ngày càng mong muốn chuyển tải những giá trị văn hóa dân tộc vào các công trình, sản phẩm của mình.

Tôi vẫn nhớ những lần được gặp gỡ bạn đọc và tòa soạn. Các câu hỏi, các vấn đề được đặt ra cho thấy sự trăn trở về hiện tại và tương lai của đất nước đều có trong suy nghĩ của mọi tầng lớp: từ những nhà nghiên cứu đến doanh nhân, từ người nhà báo nổi tiếng đến độc giả bình thường... Tất cả đều đồng ý với nhau rằng, văn hóa luôn là nền tảng của mọi sự phát triển! Phát triển kinh tế nếu không dựa trên nền tảng văn hóa quốc gia và văn hóa thế giới thì không trở thành một nền kinh tế nhân văn thực sự vì con người!

2.

Một bài viết văn hóa trên một tờ báo chuyên về kinh tế thoạt nhìn có vẻ là “ngoại biên”, nhưng thực ra lại có ý nghĩa rất lớn. Bởi kinh tế và văn hóa chưa bao giờ là hai lĩnh vực tách rời nhau. Mọi hoạt động kinh tế cuối cùng đều hướng tới con người, mà con người lại được hình thành bởi nền tảng văn hóa. Vì vậy, những bài viết của các chuyên gia văn hóa trên báo kinh tế đem lại nhiều điều hữu ích.

Các con số về tăng trưởng, đầu tư, xuất nhập khẩu hay hạ tầng chỉ phản ánh phần nổi của một xã hội. Văn hóa cho thấy phần gốc rễ: cách con người sống, ứng xử, sáng tạo và gìn giữ bản sắc. Một bài viết về bảo tàng, di sản, nghệ thuật công cộng hay đời sống đô thị có thể giúp độc giả hiểu rằng phát triển không chỉ là xây thêm cao ốc mà còn là làm giàu đời sống tinh thần. Như vậy, nó giúp người đọc nhìn thấy chiều sâu của sự phát triển.

Ngày nay, nhiều thành phố thành công không chỉ nhờ vốn đầu tư hay công nghiệp mà còn nhờ tài sản văn hóa. Di sản, bảo tàng, lễ hội, kiến trúc, ký ức đô thị, thương hiệu địa phương đều có thể trở thành nguồn lực cho du lịch, công nghiệp sáng tạo và sức hấp dẫn đầu tư. Một bài viết về văn hóa trên báo kinh tế giúp người đọc nhận ra những giá trị ấy dưới góc nhìn phát triển. Văn hóa đã góp phần mở rộng khái niệm về nguồn lực kinh tế.

Kinh tế có thể tăng trưởng nhanh trong vài năm, nhưng văn hóa là thứ quyết định sức sống của một cộng đồng trong nhiều thế hệ. Khi một tờ báo kinh tế dành không gian cho văn hóa, điều đó cũng là lời nhắc rằng tăng trưởng không thể đánh đổi bằng việc làm mất ký ức, bản sắc hay chất lượng sống. Văn hóa góp phần tạo ra và duy trì tư duy phát triển bền vững – quan điểm và mục tiêu hiện nay của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam.

3.

Một tờ báo kinh tế trước hết là người phản ánh, phân tích và thúc đẩy các chính sách phát triển. Nhưng trong xã hội hiện đại, vai trò ấy không dừng lại ở việc đưa tin về thị trường hay doanh nghiệp. Báo chí kinh tế còn là nơi kết nối giữa giới quản lý, nhà đầu tư, doanh nghiệp và cộng đồng. Thông qua các bài viết, diễn đàn, phản biện chính sách, tờ báo có thể góp phần tạo nên môi trường phát triển minh bạch và hiệu quả hơn.

Đối với văn hóa, vai trò của báo kinh tế có lẽ còn đặc biệt hơn. Bởi những tờ báo này có khả năng chứng minh rằng văn hóa không phải là lĩnh vực “tiêu tiền” mà là một dạng vốn xã hội đặc biệt và gần như vô tận! Một di sản được bảo tồn tốt có thể tạo ra doanh thu du lịch; một không gian sáng tạo có thể thu hút nhân tài; một thương hiệu đô thị giàu bản sắc có thể hấp dẫn nhà đầu tư. Khi báo chí kinh tế kể những câu chuyện ấy, văn hóa được nhìn nhận như một động lực phát triển chứ không chỉ là lĩnh vực cần bảo vệ.

Ở những đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, vai trò này càng quan trọng. Thành phố đang hướng tới các ngành kinh tế tri thức, công nghiệp sáng tạo và dịch vụ chất lượng cao. Muốn vậy, không thể chỉ xây dựng hạ tầng vật chất mà còn phải nuôi dưỡng môi trường văn hóa. Một tờ báo kinh tế có tầm nhìn sẽ góp phần định hình nhận thức xã hội rằng năng lực cạnh tranh của thành phố không chỉ nằm ở vốn, đất đai hay công nghệ, mà còn nằm ở ký ức đô thị, di sản, sự sáng tạo và chất lượng đời sống tinh thần.

Có thể nói, khi một tờ báo kinh tế đăng tải những bài viết văn hóa chất lượng, đó không phải là sự "lấn sân" sang lĩnh vực khác. Ngược lại, đó là biểu hiện của một cách nhìn toàn diện về phát triển. Bởi đích đến của kinh tế không phải là những con số, mà là một xã hội giàu có cả về vật chất lẫn tinh thần. Và trong hành trình ấy, báo chí chính là cây cầu nối giữa tăng trưởng và văn hóa, giữa hiện tại và tương lai.

Một tờ báo có thể khép lại hành trình của mình, nhưng những giá trị mà nó để lại sẽ còn tiếp tục sống trong lòng bạn đọc, trong ký ức của những người cầm bút và trong những hạt giống tri thức đã được gieo đi qua năm tháng. Với riêng tôi, điều đáng nhớ nhất không phải là đã viết được bao nhiêu bài, mà là đã có cơ hội cùng tờ báo góp phần đưa những giá trị văn hóa đi vào cuộc sống.

TP. Hồ Chí Minh tháng 6.2026 



 

TẠM BIỆT BÁO IN HẸN MỖI NGÀY GẶP LẠI TUỔI TRẺ ONLINE

 


Tôi chưa từng nghĩ rằng sẽ có một ngày nào đó mình viết lời tạm biệt với một tờ báo mình quý mến –  báo Tuổi trẻ.

Thông tin về việc TP.HCM tổ chức lại các cơ quan báo chí, những thương hiệu mạnh một thời đứng trước sự thay đổi lớn, đặc biệt là báo in Tuổi Trẻ – một người bạn thân thiết của bao thế hệ độc giả – sẽ dừng bước để nhường chỗ hoàn toàn cho phiên bản Tuổi Trẻ Online. Thông tin này tuy không quá bất ngờ nhưng vẫn khiến lòng tôi chùng xuống một cảm xúc khó gọi tên. Tôi thuộc thế hệ gắn bó với những tờ báo in. Thói quen mỗi sáng được cầm trên tay tờ báo còn thơm mùi mực, lật từng trang giấy, lướt qua những tựa bài, những hình ảnh thời sự... không đơn thuần là đọc tin tức, mà là cảm nhận mình thuộc về đời sống của thành phố này. Giờ đây thói quen này sẽ dần dần chỉ còn lại trong ký ức của nhiều người dân TP. HCM.

Từ rất lâu rồi, với người Sài Gòn báo in không chỉ là phương tiện cập nhật tin tức. Đó là một thói quen, một lối sống và là một cách lưu giữ ký ức đô thị. Lùi lại những năm tháng cũ, ai mà không nhớ hình ảnh những sạp báo tràn ra vỉa hè, tiếng rao lảnh lót của những đứa trẻ bán báo dạo trong mưa nắng Sài Gòn. Thời ấy người bán báo nhiều hơn người bán vé số, bởi vì ở đâu cũng có những người chờ đợi tờ báo mỗi sáng như chờ một người bạn tâm giao. Thời ấy, đọc Tuổi Trẻ, người ta thấy hơi thở nóng hổi của cuộc chiến Tây Nam, cuộc chiến ở biên giới phía Bắc; thấy sự bức bối của thời kỳ “ngăn sông cấm chợ” và những làn gió từ “khe cửa hẹp” xé rào thời bao cấp ở TP. HCM. Từ tờ báo người ta chứng kiến những công trình đang lớn lên, những con người đang vượt khó, những phận đời mưu sinh vất vả, những vấn đề nóng bỏng của đất nước. Dù bài viết về chủ đề nào, tất cả luôn thấm đẫm tinh thần dấn thân của tuổi trẻ, sự thẳng thắn đậm chất Nam Bộ.

Bao nhiêu năm cầm tờ báo Tuổi trẻ, Tuổi trẻ cười, Tuổi trẻ cuối tuần thân thuộc... người đọc có thể tìm thấy trong đó những bài viết giúp nâng cao tri thức, mở rộng hiểu biết về văn hóa hay giải trí cho đầu óc nhẹ nhõm hơn sau những phút hối hả cùng cuộc sống.

Sự chuyển mình của công nghệ là không thể đảo ngược. Có thể báo chí thành phố rồi sẽ khoác lên mình tấm áo mới, tinh gọn hơn, hiện đại hơn. Khi báo điện tử lên ngôi, thông tin được tính bằng giây bằng phút, việc những trang báo in lùi lại phía sau là một hiện tượng mang tính thời đại. Chúng ta hiểu điều đó. Nhưng khi tất cả thu lại bằng một cái chạm trên màn hình smartphone phẳng lì vô cảm, người ta chợt nhận ra mình vừa đánh mất một trải nghiệm xúc giác đầy hoài niệm. Những tờ báo có thương hiệu mạnh một thời, nay đứng trước làn sóng tinh giản, sáp nhập hay chuyển đổi, giống như những người bạn đi cùng ta một quãng đường dài, đã được coi là hoàn thành nhiệm vụ lịch sửlặng lẽ rẽ sang một lối đi khác.

Riêng với tôi, bài phỏng vấn đầu tiên về di sản văn hóa là trên báo Tuổi trẻ, những truyện ngắn 100 chữ cũng hiện diện trên Tuổi Trẻ đầu tiên, nhiều bài “Thời sự và suy nghĩ” trên trang báo này về các vấn đề xã hội quan tâm. Báo Tuổi trẻ thực sự là một nơi luôn tạo điều kiện để những nhà báo nghiệp dư như tôi được góp một tiếng nói xây dựng thành phố. Điều đó chúng tôi sẽ không quên!

Giờ đây, báo in khép lại một chương cũ nhưng người đọc luôn mong rằng tinh thần TUỔI TRẺ vẫn vẹn nguyên trên báo online. Dẫu cho "hình hài" của tờ báo có thay đổi thế nào thì điều độc giả mong mỏi nhất chính là cái "chất" bên trong không bao giờ mất đi. Đó là sự chân thực, tính phản biện xã hội và tấm lòng luôn hướng về người dân. Tờ báo in có thể “chấm dứt” sứ mệnh của nó, nhưng tinh thần của những người làm báo dấn thân vì cộng đồng thì phải luôn được tiếp nối trên không gian số.

Tạm biệt báo in không phải là lãng quên, mà là cất giữ nó vào một góc nhỏ của miền ký ức. Cảm ơn những tờ báo giấy đã cùng tôi đi qua năm tháng từ thanh xuân đến khi tuổi về chiều. Sáng mai dẫu có đọc tin tức qua màn hình điện thoại, tôi vẫn hy vọng rằng, cuộc sống dù thay đổi thế nào thì luôn còn đó nguyên vẹn những giá trị mà báo chí tử tế đã dày công vun đắp. Bởi vì sau tất cả những dòng chữ điện tử ấy là những con người đang tiếp tục làm nghề báo!

Bài trên báo Tuổi trẻ số in cuối cùng ngày 30.6.2026

https://tuoitre.vn/tam-biet-bao-in-hen-gap-tuoi-tre-online-moi-ngay-100260630060237331.htm

ĐI THEO DÒNG SÔNG ĐỂ HIỂU THÊM THÀNH PHỐ

 Nguyễn Thị Hậu

1.

Một buổi sáng, khi thành phố còn chưa thực sự thức giấc, chúng tôi – những người nghiên cứu lịch sử, di sản văn hóa và quy hoạch đô thị đã có mặt ở bến cảng bên sông Sài Gòn. Ngay từ đầu tôi biết chuyến đi này không phải là một cuộc khảo sát thông thường. Bởi đối tượng của chúng tôi không phải một ngôi đình, một khu phố cổ hay một công trình kiến trúc cụ thể. Di sản hôm nay là cả một dòng sông. Dòng sông ấy vẫn hiện hữu mỗi ngày trong đời sống thành phố, nhưng cũng là một thực thể kỳ lạ: quen thuộc mà hay bị lãng quên, vẫn hiện hữu đó mà dưới mắt nhiều người dường như dòng sông chỉ tồn tại nhờ những cây cầu.

Người đồng hành với chúng tôi là những hoa tiêu hàng hải đã có hàng chục năm gắn bó với luồng tàu Đồng Nai - Sài Gòn – Nhà Bè – Lòng Tàu – Ngã Bảy – Vịnh Gành Rái. Công việc của họ là dẫn tàu an toàn qua những khúc quanh, những con nước, những luồng lạch luôn biến đổi. Nhưng suốt hành trình, tôi nhận ra rằng ít ai hiểu dòng sông này sâu sắc hơn họ. Đi theo họ, những địa danh tưởng chỉ tồn tại trên bản đồ bỗng hiện lên sinh động, thân thuộc và mang lại cho tôi bao cảm xúc.

Con tàu từ từ rời bến. Thành phố lùi dần phía sau. Một cách tự nhiên, tôi cảm thấy mình đang đi ngược thời gian.

Có lẽ phần lớn cư dân thành phố hôm nay quen nhìn Sài Gòn từ mặt đất. Từ những đại lộ, những khu dân cư. Từ các tuyến metro đang hình thành và từ các cao ốc liên tục mọc lên. Con người thành phố đã quen với tư duy đường bộ, nhưng trong phần lớn lịch sử của vùng đất này, con người lại tiếp cận nó từ mặt nước. Bởi vì trên đất nước ta, trước khi có quốc lộ, trước khi có đường sắt, trước khi có những cây cầu nối đôi bờ, dòng sông luôn là con đường xuôi ngược Đông – Tây , là nối liền đôi bờ Nam - Bắc, là bản đồ hiện hữu một vùng miền, một quốc gia.  Hơn thế nữa, dòng sống còn là nguồn sống ngàn đời của một nền nông nghiệp trồng trọt.

Người hoa tiêu đứng cạnh tôi chỉ tay về phía dòng nước đang mở rộng trước mũi tàu. “Nhìn vậy thôi chứ dưới đó là cả một hệ thống luồng lạch phức tạp. Đi trên sông không phải cứ thấy nước là đi được.” Anh kể về độ sâu luồng tàu, về vài bãi đá ngầm, về thủy triều, về những bãi bồi dịch chuyển theo mùa. Những câu chuyện nghe tưởng như thuần túy kỹ thuật nhưng lại khiến tôi nghĩ đến những lớp tri thức tích tụ qua nhiều thế hệ.

Trong nghiên cứu di sản, người ta thường nói đến di sản vật thể và phi vật thể. Chúng ta dễ nhận diện một ngôi chùa cổ hay một ngôi nhà trăm tuổi. Nhưng tri thức về dòng nước, về con nước lớn ròng, về cách đọc màu nước để nhận biết độ sâu hay hướng chảy cũng là một dạng di sản. Di sản này không hiện hữu bằng gạch đá mà nó được tích lũy bằng trải nghiệm. Rồi được truyền từ người này sang người khác, được kiểm chứng bằng hàng nghìn chuyến đi. Có lẽ vì thế mà những người hoa tiêu khiến tôi liên tưởng đến những "người lưu giữ ký ức" của dòng sông.

2.

Con tàu tiếp tục xuôi về phía Nhà Bè, hai bên bờ, cảnh quan thay đổi dần. Những cụm cao tầng thưa hơn. Những kho bãi, bến cảng xuất hiện nhiều hơn. Những khoảng xanh mở rộng. Dòng sông bắt đầu cho thấy một gương mặt khác, không còn là dòng sông của cảnh quan đô thịlà dòng sông của lao động và giao thương.

Theo những ghi chép của các nhà nghiên cứu lịch sử Nam Bộ, hơn ba trăm năm trước, khi những lớp lưu dân người Việt tiến vào vùng đất phương Nam, họ đi theo các tuyến sông. Trước họ là những cộng đồng cư dân bản địa đã sinh sống tại đây từ nhiều thế hệ. Sau họ là những thương nhân người Hoa, người Nhật, người phương Tây. Từ cửa biển Cần Giờ ngược vào họ gặp ngã ba Nhà Bè. Giữa vùng trời nước mênh mang, giữa phút nghỉ ngơi chờ con nước lớn để tiếp tục hành trình, những lưu dân ấy phân vân trước đôi ngả “Nhà Bè nước chảy chia hai. Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”. Cũng từ đây dòng sông đã kết nối các cộng đồng ấy lại với nhau tại vùng đất mới.

Nếu nhìn trên bản đồ hiện đại, hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai – Nhà Bè giống như mạng lưới giao thông thủy. Nhưng nếu nhìn bằng con mắt của lịch sử, đó còn là những hành lang văn hóa: Con người. Hàng hóa. Ngôn ngữ. Tín ngưỡng. Kỹ thuật... Tất cả đều từng theo dòng nước mà dịch chuyển. Vì thế không phải ngẫu nhiên mà những đô thị lớn nhất của nhân loại thường sinh ra bên sông. Với Sài Gòn điều đó dường như còn rõ ràng hơn: Thành phố không chỉ phát triển bên dòng sông mà chính xác là được hình thành từ dòng sông. Có thể cho rằng, địa danh mang tính cột mốc của thành phố là “mũi đèn đỏ - ngã ba Nhà Bè”.

Hàng trăm năm qua những chiếc ghe bầu chở lúa từ miền tây lên, những thuyền buôn từ miền Trung vào, những tàu hơi nước thời thuộc địa “ống khói đen sì” mờ đầu thời kỳ mất nước vào tay thực dân, đế quốc. Cho đến những tàu hàng hiện đại hôm nay: Phương tiện thay đổi, công nghệ phát triển. Nhưng dòng sông luôn là nơi kết nối, trao đổi và mở cửa ra thế giới. Và do đó, logic phát triển của đô thị thì vẫn vậy.

Trong nghiên cứu di sản đô thị, người ta thường nhấn mạnh rằng thành phố không phải là tập hợp của các công trình riêng lẻ. Thành phố là một quá trình. Một quá trình tích lũy liên tục. Một lớp phủ chồng lên lớp phủ. Một cuộc đối thoại không ngừng giữa quá khứ và hiện tại. Nhìn từ góc độ ấy, dòng sông chính là một trong những yếu tố ổn định nhất của lịch sử thành phố. Các công trình có thể thay đổi. Đường phố có thể thay đổi. Thậm chí đường chân trời của đô thị cũng thay đổi. Nhưng dòng sông vẫn là trục không gian cơ bản mà nhiều thế hệ cư dân đã dựa vào để định vị cuộc sống của mình.

3.

Đứng cạnh người hoa tiêu trên buồng lái, bất chợt tôi nhận ra nghề của anh và nghề của mình có một điểm gì đó rất gần nhau. Chúng tôi đều làm việc với những thứ không dễ nhìn thấy. Anh đọc những dòng chảy ẩn dưới mặt nước; tôi cố đọc những lớp ký ức ẩn dưới bề mặt của thành phố. Anh thuộc lòng những khúc sông quanh co để dẫn tàu đi đúng hướng; tôi lần theo những dấu vết của quá khứ để hiểu vì sao đô thị hôm nay có hình hài như vậy. Và có lẽ, ở một nghĩa nào đó, cả người hoa tiêu lẫn người làm di sản đều là những người dẫn đường. Chúng tôi không cầm lái con tàu của tương lai, nhưng đều tin rằng muốn đi xa hơn thì cần hiểu rõ dòng chảy đã đưa mình đến hiện tại.

Cả hai nghề đều làm việc với những thứ không phải ai cũng nhìn thấy. Người đi tàu chỉ thấy mặt nước. Nhưng người hoa tiêu phải nhìn thấy những dòng chảy bên dưới, những bãi cạn, những luồng lạch, những biến động của thủy triều. Họ đọc được những dấu hiệu vô hình đối với người bình thường. Người làm di sản cũng vậy. Du khách nhìn thấy một ngôi đình, một khu phố hay một công trình cũ. Nhưng đằng sau những gì hiện hữu là những lớp ký ức, những mối quan hệ xã hội, những quá trình lịch sử kéo dài hàng trăm năm. Công việc của người nghiên cứu là nhận ra những lớp nghĩa ẩn sâu dưới bề mặt ấy. Nói cách khác, cả hai đều là những người "đọc tầng sâu".

Hoa tiêu và người nghiên cứu di sản đều làm việc với sự liên tục. Dòng sông không bao giờ đứng yên. Mỗi ngày nước lại khác, phù sa lại khác, luồng lạch lại dịch chuyển. Nhưng trong sự thay đổi ấy vẫn có những quy luật dài hạn mà người hoa tiêu phải nắm bắt. Di sản cũng không phải là một vật thể bất động được đóng khung trong quá khứ. Thành phố thay đổi từng ngày, cộng đồng thay đổi từng ngày, cách người ta hiểu về lịch sử cũng thay đổi từng ngày. Người làm di sản không phải để ngăn sự thay đổi, mà để nhận ra đâu là những giá trị cốt lõi cần được giữ lại trong dòng chảy ấy. Cả hai nghề ấy đều đòi hỏi khả năng phân biệt giữa cái cần thích nghi và cái cần bảo tồn.

Là người dẫn đường, hoa tiêu không điều khiển con tàu theo ý mình. Ông chỉ giúp con tàu đi đúng luồng, tránh những rủi ro mà thuyền trưởng có thể chưa biết. Người làm di sản cũng không quyết định tương lai của thành phố. Vai trò của họ không phải là cầm lái. Họ chỉ góp phần chỉ ra những kinh nghiệm, những bài học, những giá trị đã được tích lũy từ quá khứ để cộng đồng và nhà quản lý có thêm cơ sở khi lựa chọn hướng đi. Hoa tiêu dẫn tàu qua những vùng nước phức tạp bằng hiểu biết tích lũy từ quá khứ của dòng sông. Người làm di sản cũng giúp xã hội đi về phía tương lai bằng hiểu biết tích lũy từ quá khứ của cộng đồng. Cả hai đều dùng quá khứ để phục vụ cho hiện tại và tương lai.

Nhưng có lẽ điểm tương đồng sâu sắc nhất nằm ở chỗ: cả hai đều phải khiêm tốn trước đối tượng của mình. Không một hoa tiêu nào dám nghĩ mình đã hiểu hết dòng sông. Dòng nước luôn có thể đổi khác. Thiên nhiên luôn lớn hơn tri thức của con người. Người làm di sản cũng vậy. Mỗi lần nghiên cứu một di tích, một khu phố hay một vùng đất, ta đều nhận ra lịch sử luôn phức tạp hơn những gì mình biết. Những lớp nghĩa mới vẫn có thể xuất hiện. Những cách diễn giải mới vẫn có thể được khám phá.

Cả hai nghề đều bắt đầu từ sự lắng nghe. Lắng nghe dòng sông. Lắng nghe quá khứ. Ngưới hoa tiêu có ích cho những con tàu đi lại trên sông như thế nào thì người làm di sảncũng  có ích gì cho một thành phố đang phát triển như vậy! Người hoa tiêu không làm thay công việc của thuyền trưởng nhưng không thể thiếu trên những tuyến hàng hải phức tạp, người làm di sản cũng không quyết định con đường phát triển, nhưng có thể giúp thành phố tránh những "bãi cạn ký ức" và những "vùng nước lịch sử" mà nếu không hiểu, cái giá phải trả sẽ rất lớn.

Buổi chiều, con tàu quay trở lại trung tâm. Thành phố hiện ra từ xa. Những tòa nhà cao tầng lại xuất hiện nơi đường chân trời. Nhưng đó không còn là thành phố mà tôi nhìn thấy vào buổi sáng. Hay đúng hơn, thành phố vẫn vậy, chỉ có cách nhìn của tôi đã khác. Bởi vì tôi đã hiểu rõ hơn vì sao câu chuyện phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh không thể tách rời câu chuyện của những dòng sông.

TP. Hồ Chí Minh, 14.6.2026

https://www.sggp.org.vn/di-theo-dong-song-de-hieu-them-thanh-pho-post859535.html

Album chuyến đi:https://www.facebook.com/media/set/?vanity=haukhaoco&set=a.28256176040637882





GIỮ NGỌN ĐÈN Ở NHỮNG TÒA SOẠN

 

https://baodanang.vn/giu-ngon-den-o-nhung-toa-soan-3341117.html

Nguyễn thị Hậu

 

Mỗi năm cứ đến tháng Sáu, những người gắn bó với nghề báo lại có dịp nhìn lại hành trình của bản thân, của tờ báo nơi mình làm việc. Dù tôi không phải là nhà báo chuyên nghiệp, nhưng với tư cách một người nghiên cứu khoa học và nhiều năm cộng tác với các báo, tạp chí bằng những bài viết về văn hóa và di sản, ngày 21 tháng 6 luôn gợi lên cảm xúc đặc biệt.

Những ngày gần đây thông tin về việc sắp xếp, tinh gọn hệ thống báo chí tiếp tục được triển khai mạnh mẽ. Nhiều cơ quan báo chí, tạp chí chuyên ngành sẽ sáp nhập hoặc chấm dứt hoạt động. Đó là một chủ trương lớn nhằm xây dựng nền báo chí tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại hơn trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu quản trị mới. Nhìn từ góc độ quản lý, đây là một xu thế khó tránh khỏi. Tuy nhiên, bên cạnh những con số về tổ chức, nhân sự hay hiệu quả vận hành, có lẽ cũng cần dành một khoảng lặng để nghĩ về những giá trị khó đo đếm bằng thống kê.

Đối với nhiều người nghiên cứu, mỗi tờ báo, mỗi tạp chí không chỉ là một cơ quan truyền thông. Đó còn là không gian đưa học thuật đến với công chúng, một diễn đàn văn hóa, nơi lưu giữ ký ức của cộng đồng. Không ít công trình nghiên cứu được giới thiệu trên những trang báo địa phương. Không ít giá trị di sản tưởng như bị lãng quên được đánh thức từ những bài viết ngắn đăng trên các chuyên trang văn hóa. Nhiều nhà báo bắt đầu viết vài mục tin nhỏ mà trở nên tâm huyết với di sản văn hóa. Là một trong số nhiều nhà nghiên cứu văn hóa và di sản cộng tác với báo chí, tôi biết rằng có nhiều tri thức về lịch sử địa phương, về kiến trúc, về ký ức đô thị đã được phổ biến trên những trang báo. Có câu chuyện về một ngôi đình, một ngôi chợ, một con hẻm hay một nghề thủ công truyền thống đang bị mất đi sẽ không bao giờ được xã hội quan tâm nếu không có các nhà báo kiên trì theo đuổi.

Tôi vẫn nhớ cảm giác hồi hộp của hai mươi năm trước khi bài tùy bút đầu tiên về sự mất mát di sản đô thị được đăng báo. Nhuận bút không nhiều nhưng lượng báo phát hành rất cao, hơn bây giờ nhiều. Điều quý giá nhất là cảm giác có một nơi để những câu chuyện văn hóa được lắng nghe và nhận được sự đồng cảm từ tòa soạn, từ người đọc. Từ bài viết của nhiều nhà nghiên cứu, độc giả đã biết đến những di sản văn hóa nơi mình đang sống, tìm hiểu giá trị các di tích. Các nhà quản lý cũng chú ý hơn đến việc bảo tồn và phát huy giá trị của những di sản may mắn còn hiện hữu trong quá trình đô thị hóa vội vã.

Bởi vậy, khi một tờ báo hay một tạp chí ngừng xuất bản là mất đi một cơ hội cho nhà nghiên cứu đến gần hơn với công chúng bằng các công trình, ý tưởng khoa học của mình. Đó còn là sự khép lại của một không gian đối thoại đã tồn tại hàng chục năm, nơi tiếng nói của nhà nghiên cứu, của cộng đồng và nhà quản lý có thể gặp nhau, dù có tạo ra sự đồng thuận hay không thì vẫn luôn hữu ích. Vì vậy một tờ báo không chỉ là một cơ quan truyền thông mà còn là một phần của hệ sinh thái tri thức.

Tất nhiên, tôi hiểu rằng không thể níu giữ mọi mô hình cũ trong một thời đại mới. Bởi vì công nghệ số đã thay đổi hoàn toàn cách sản xuất và tiếp nhận thông tin. Độc giả hôm nay không còn chờ báo giấy vào mỗi sáng, những bài viết dài đang phải cạnh tranh với các clip hay video ngắn, trí tuệ nhân tạo đang thay đổi và tạo ra vô số nền tảng truyền thông mới. Sự thay đổi là tất yếu. Nhưng chính trong giai đoạn này vai trò cốt lõi của báo chí lại càng trở nên quan trọng. Khi thông tin tràn ngập đến mức dư thừa thì điều xã hội cần là thông tin phải đáng tin cậy hơn. Khi văn hóa truyền thống đứng trước nguy cơ bị hòa tan trong dòng chảy toàn cầu hóa, điều cần thiết không phải chỉ là tốc độ và hình thức quảng bá về di sản, mà là chiều sâu của giá trị và bản sắc văn hóa một đô thị, một quốc gia.

 Điều khiến tôi băn khoăn nhất là số phận của những lĩnh vực vốn không phải "ngôi sao" trong cuộc cạnh tranh thông tin hiện nay: văn hóa, lịch sử, khảo cổ học, bảo tàng học, di sản, văn học địa phương... Những lĩnh vực ấy vốn đã ít không gian xuất hiện trên truyền thông, nay nếu báo chí nói chung và các chuyên trang nói riêng bị thu hẹp, ai sẽ tiếp tục kể những câu chuyện ấy? Ai sẽ dành nhiều kỳ báo để theo đuổi một vụ việc xâm hại di tích? Ai sẽ kiên nhẫn giới thiệu một phát hiện khảo cổ mới? Ai sẽ ghi lại ký ức của những nhân chứng cuối cùng trước khi họ ra đi?

Thuật toán của mạng xã hội không làm công việc đó. Trí tuệ nhân tạo cũng không làm công việc đó. Chỉ có những con người cụ thể và các tờ báo cụ thể mới làm được điều đó. Bởi vậy, số lượng đầu báo giảm đi bao nhiêu không phải là điều đáng lo nhất, mà là liệu sau quá trình sắp xếp, chúng ta có vô tình làm nghèo đi đời sống tri thức và văn hóa của xã hội hay không. Làm sao để những chuyên trang về văn hóa, di sản, khoa học hay giáo dục không bị thu hẹp chỉ vì áp lực lượt xem. Những cây bút tâm huyết về văn hóa vẫn có không gian để viết những điều không thể đo bằng lượng truy cập. Đó là câu hỏi cần có lời giải đáp.

Trong những ngày tháng sáu này tôi nghĩ nhiều đến hình ảnh những tòa soạn báo từng sáng đèn suốt đêm, nghĩ đến những tạp chí âm thầm đồng hành cùng giới nghiên cứu. Tôi nghĩ đến những cộng tác viên như tôi ở khắp mọi miền đất nước vẫn cố gắng góp phần lưu giữ ký ức văn hóa qua từng bài viết. Có thể một số tờ báo sẽ không còn, có thể nhiều nhà báo quen thuộc sẽ làm công việc khác. Nhưng tôi tin rằng sứ mệnh của báo chí vẫn còn nguyên giá trị. Chừng nào xã hội còn cần sự thật, còn cần tri thức, còn cần những tiếng nói nhân văn để bảo vệ và lan tỏa các giá trị văn hóa, chừng đó báo chí vẫn tiếp tục sống trong những hình thức mới.

với tôi, điều đáng trân trọng nhất ở nhiều nhà báo trong thời điểm chuyển mình hôm nay không phải là sự tiếc nuối dành cho cái cũ, mà là trách nhiệm gìn giữ tinh thần của nghề báo, tinh thần phụng sự công chúng, bảo vệ sự thật và nuôi dưỡng những giá trị tốt đẹp. Nếu không có tinh thần ấy, sẽ có ngày chúng ta nhận ra rằng khi những tòa soạn đã tắt đèn không chỉ có những con người rời đi, mà còn mất cả một phần tri thức văn hóa của đất nước. Mong rằng ngọn đèn đó cần được giữ gìn và tỏa sáng, dù tờ báo có thể đổi thay.

TP. Hồ Chí Minh, tháng sáu 2026

TS. Nguyễn Thị Hậu là cộng tác viên thân thiết của nhiều tờ báo.


 

 

 

SỐ BÁO CUỐI CÙNG - viết tặng DOANH NHÂN SÀI GÒN

  Nguyễn thị Hậu 1. Bạn nhắn, chị viết giúp một bài cho số báo cuối cùng nhé! Tôi không bất ngờ với tin nhắn của bạn nhưng vẫn thấy ngậm...