Ý KIẾN TẠI TỌA ĐÀM VỀ HẠ TẦNG XANH (tại xã Bình Mỹ, 18.8.2026)

 Nguyễn thị Hậu, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM

Tham dự workshop hôm nay với chủ đề “Giá trị hạ tầng xanh trong quản lý phát triển vùng ven đô thị lớn” tôi muốn bắt đầu từ một câu hỏi đơn giản:

Khi nói đến phát triển vùng ven đô thị, cụ thể là tại Bình Mỹ, chúng ta đang phát triển cái gì? Là đất đai? Là hạ tầng? Là những khu đô thị mới? Hay rộng hơn, là một không gian sống mới cho con người? Tôi cho rằng câu hỏi này rất quan trọng, bởi nếu chúng ta chỉ nhìn vùng ven như một “quỹ đất” để đô thị mở rộng, thì hạ tầng xanh có thể sẽ chỉ được hiểu như một thành phần kỹ thuật của quy hoạch: thêm cây xanh, thêm mặt nước, thêm công viên, thêm hành lang sinh thái. Nhưng nếu nhìn vùng ven như một không gian sống, thì câu chuyện sẽ khác.

1. Đặt vấn đề: Vùng ven không phải là nơi “chưa trở thành đô thị”

Trong chương trình hôm nay, các nhà tổ chức đặt vấn đề về việc dung hòa giữa chiến lược phát triển đô thị và bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên, hướng tới một “không gian cộng sinh bền vững”. Tôi rất chú ý đến chữ “cộng sinh”, bởi nó gợi cho chúng ta một cách nhìn khác về vùng ven.

Thông thường, chúng ta gọi vùng ven là vùng chuyển tiếp: từ nông thôn sang đô thị, từ đất nông nghiệp sang đất xây dựng, từ không gian tự nhiên sang không gian nhân tạo. Nhưng có lẽ cần đảo ngược cách nhìn ấy.

Vùng ven không phải là nơi đô thị chưa hoàn chỉnh. Nó có thể là nơi đang tồn tại một hệ thống sống hoàn chỉnh theo một cách khác. Một sự so sáng tương tự: huyện Châu Thành của các tỉnh Nam bộ: không gian cộng sinh giữa đô thị hóa và vùng ven. Ở đó có sông, rạch, ao hồ, ruộng vườn, cây cối; có nhà cửa, đường làng, nơi sản xuất; có cộng đồng dân cư, tập quán, ký ức và những mối quan hệ xã hội đã được hình thành qua nhiều thế hệ. Nói cách khác, đô thị đến sau không có nghĩa là không gian sống bắt đầu được kiến tạo từ khi đô thị đến. Và đây chính là điều tôi nghĩ chúng ta cần lưu ý khi quản lý phát triển vùng ven.

2. Hạ tầng xanh và Không gian “sống cộng sinh”

2.1 Hạ tầng xanh không chỉ là “màu xanh” trên bản đồ quy hoạch

Từ góc nhìn đó, tôi muốn đề nghị chúng ta mở rộng khái niệm hạ tầng xanh.

Một con rạch có thể vừa điều tiết nước, vừa tạo sinh cảnh, vừa là không gian giao tiếp của cộng đồng. Một khu vườn có thể vừa sản xuất, vừa tạo cảnh quan, vừa lưu giữ một phương thức cư trú. Một con đường làng có thể vừa là giao thông, vừa là ký ức về một cấu trúc cư trú đã tồn tại trước đô thị hóa.

Bởi mỗi thành phần ấy có thể đồng thời mang nhiều chức năng: sinh thái – kinh tế – xã hội – văn hóa – cảnh quan – ký ức. Vì thế, tôi nghĩ điều chúng ta cần bảo vệ không chỉ là “hạ tầng xanh”, mà sâu hơn là hệ thống các quan hệ làm nên không gian sống.

2.2 Có thể gọi Hạ tầng xanh là “địa tầng của không gian sống”

Tôi xin mượn một cách tiếp cận mà tôi thường quan tâm trong nghiên cứu về đô thị và di sản: đọc không gian như những địa tầng.

Một vùng đất không chỉ có một lớp hiện tại. Nó có lớp tự nhiên, trên đó hình thành lớp cư trú, Rồi đến lớp sản xuất. Tiếp theo là lớp văn hóa, ký ức và các quan hệ cộng đồng. Sau đó đô thị hóa xuất hiện và tạo thêm một lớp mới. Nhưng đô thị hóa không nhất thiết phải xóa bỏ hoàn toàn những lớp trước đó. Nếu biết tổ chức tốt, những lớp ấy có thể chồng lên nhau và tiếp tục cùng tồn tại.

Tôi gọi đó là: địa tầng của không gian sống. Đây là một cách rất hữu ích để chúng ta nhìn vùng ven TP.HCM.

2.3 Từ hạ tầng xanh đến không gian cộng sinh

Nếu tiếp tục suy nghĩ như vậy, tôi muốn đề xuất một công thức rất đơn giản:

Không gian sống = tự nhiên + con người + văn hóa + kinh tế.

Bốn yếu tố này không tồn tại riêng rẽ:

Con người sống nhờ tự nhiên èKinh tế hình thành trên nền tảng của tự nhiên và xã hội èVăn hóa được hình thành từ cách con người thích nghi với môi trường và tổ chức đời sống è Tất cả những điều ấy được biểu hiện trong không gian.

Vì vậy, hạ tầng xanh có thể được nhìn như hạ tầng của sự cộng sinh. Không phải con người đứng một bên và thiên nhiên đứng một bên. Mà là: con người sống cùng tự nhiên, kinh tế phát triển cùng sinh thái, đô thị phát triển cùng cộng đồng, và hiện tại phát triển trên nền tảng của ký ức và di sản. Đó có lẽ là một cách hiểu sâu hơn về phát triển bền vững.

2.4 Hạ tầng xanh và di sản tự nhiên và văn hóa

Có thể nhiều người sẽ hỏi: Hạ tầng xanh thì liên quan gì đến di sản? Theo tôi, mối quan hệ này rất gần. Bởi chúng ta thường quen hiểu di sản là một ngôi đình, một ngôi chùa, một căn nhà cổ, một công trình kiến trúc, một hiện vật. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, di sản còn có thể là một cảnh quan, một dòng sông, một bến nước, một con đường, một khu vườn, một không gian cư trú, một phương thức sản xuất và cả ký ức của cộng đồng về nơi chốn ấy. Như vậy, không gian sống hôm nay chính là một phần của di sản ngày mai.

Nếu quá trình đô thị hóa chỉ quan tâm đến việc xây dựng cái mới mà không nhận diện những giá trị đang tồn tại, thì chúng ta có thể tạo ra một thành phố rất hiện đại nhưng ngày càng ít khả năng nhận diện chính mình. Đây là điều tôi nghĩ TP.HCM cần đặc biệt suy nghĩ khi mở rộng không gian đô thị.

3. Vùng ven có thể là nơi thử nghiệm một mô hình đô thị khác

Tôi cho rằng vùng ven không nhất thiết phải đi theo một con đường duy nhất:

nông thôn → đô thị → đô thị hóa hoàn toàn.

Chúng ta có thể nghĩ đến một mô hình khác:

nông nghiệp + sinh thái + cư trú + văn hóa + dịch vụ + đô thị.

Trong mô hình đó, phát triển không nhất thiết đồng nghĩa với san lấp, hạ tầng không chỉ là đường và cống... Cây xanh không chỉ là phần diện tích phải đạt trong một đồ án. Di sản không chỉ là những công trình cần “bảo tồn”. Và cộng đồng không chỉ là đối tượng được lấy ý kiến. Tất cả có thể trở thành thành phần chủ động của quá trình kiến tạo không gian sống.

Vì vậy, câu hỏi quan trọng không phải là “đô thị hóa Bình Mỹ sẽ đi đến đâu?” Tôi nghĩ chúng ta nên đặt một câu hỏi khác: Khi đô thị mở rộng, chúng ta muốn Bình Mỹ tăng diện tích đô thị hóa hay mở rộng không gian sống? Hai điều đó không hoàn toàn giống nhau: Một khu đô thị có thể rất lớn nhưng không nhất thiết tạo ra một không gian sống tốt. Ngược lại, một vùng ven có thể không quá “đô thị hóa” nhưng lại có những giá trị rất lớn về sinh thái, văn hóa, cộng đồng và chất lượng sống.

Do đó, bài toán hiện nay không phải chỉ là làm thế nào để vùng ven Bình Mỹ trở thành đô thị nhanh hơn, mà là: làm thế nào để Bình Mỹ có thể chuyển hóa mà không đánh mất khả năng sống của chính nó. Khi đó, hạ tầng xanh không còn là một phần bổ sung cho quy hoạch. Nó trở thành một trong những nền tảng của quy hoạch không gian sống mới của Bình Mỹ.

4. Kết luận

Thứ nhất, cần nhìn vùng ven Bình Mỹ như một không gian sống đang tồn tại, chứ không phải một khoảng trống chờ đô thị hóa (hạ tầng cứng).

Thứ hai, cần nhìn hạ tầng xanh ở Bình Mỹ như một hệ thống sống, chứ không chỉ như hệ thống kỹ thuật hay cảnh quan.

Thứ ba, cần nhìn phát triển đô thị ở Bình Mỹ như quá trình tái cấu trúc không gian sống, trong đó tự nhiên, con người, kinh tế, văn hóa và ký ức phải được đặt trong cùng một bài toán.

Nếu làm được như vậy, chúng ta không chỉ tạo ra đô thị vùng ven “xanh” hơn, mà có cơ hội tạo ra một xã/phường Bình Mỹ có khả năng sống tốt hơn, có bản sắc hơn và có khả năng thích ứng lâu dài hơn. Và có lẽ, đó mới là ý nghĩa sâu xa nhất của khái niệm “không gian cộng sinh bền vững” mà workshop hôm nay đặt ra.

Xin trân trọng cảm ơn quý vị!

 



 

Kiến tạo siêu đô thị giàu bản sắc và ký ức

 Dự thảo Luật Phát triển đô thị thể hiện tư duy đổi mới mạnh mẽ về phân quyền, tự chủ và tạo động lực phát triển; đồng thời bước đầu đề cập đến việc giữ gìn bản sắc văn hóa, công nghiệp văn hóa, kinh tế đêm, du lịch đô thị và các khu phát triển thương mại - văn hóa. Đây là những hướng tiếp cận rất cần thiết, kịp thời.

Tuy nhiên, văn hóa và di sản nên được đặt ở vị trí sâu hơn trong tư duy phát triển đô thị. Bởi một đô thị đặc biệt không chỉ đặc biệt bởi quy mô kinh tế hay hệ thống hạ tầng, mà còn bởi lịch sử, ký ức đô thị, sự đa dạng văn hóa, năng lực sáng tạo và gắn kết cộng đồng. Đó chính là “nguồn vốn mềm”, tạo nên sức hấp dẫn và năng lực cạnh tranh của thành phố trong dài hạn.

Phát triển kinh tế gắn liền ký ức đô thị

Trong quá trình phát triển, nếu văn hóa chỉ được nhìn như một ngành kinh tế để khai thác thông qua du lịch, kinh tế đêm hay công nghiệp văn hóa thì chúng ta mới nhìn thấy một phần giá trị của văn hóa. Văn hóa còn có vai trò là nền móng tinh thần của đô thị. Một con đường cũ, ngôi biệt thự, khu chợ, bến sông, đình làng, khu phố có lịch sử hàng trăm năm; một nghề thủ công, lễ hội, món ăn hay ký ức của cộng đồng cư dân... đều là những lớp trầm tích tạo nên diện mạo và tâm hồn thành phố.

Trong dự thảo mới nhất Luật Phát triển đô thị, những nội dung liên quan văn hóa chủ yếu tập trung ở Chương II (về cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt), Mục 4 (về phát triển văn hóa, thể thao, du lịch, giáo dục, đào tạo, y tế, an sinh xã hội), Điều 25 đã mở ra cơ sở cho phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế ban đêm và các khu thương mại - văn hóa. Dự thảo cũng có những quy định liên quan đến bảo tồn không gian văn hóa, cảnh quan môi trường, di tích lịch sử - văn hóa trong quản lý không gian đô thị. Tuy nhiên, điều còn thiếu là cơ chế bảo vệ những giá trị văn hóa chưa được “xếp hạng” nhưng đang sống trong đời sống đô thị: ký ức đô thị, cảnh quan lịch sử, không gian văn hóa cộng đồng, những khu dân cư lâu đời và cộng đồng cư dân gốc. Đây là khoảng trống nên được xem xét luật hóa.

Một trong những thách thức lớn nhất của siêu đô thị là áp lực “đập cũ xây mới”. Khi giá trị đất tăng lên, những công trình cũ dễ bị xem là vật cản của phát triển. Nhưng nếu tất cả những gì cũ đều được thay thế bằng những công trình mới, diện mạo đô thị có thể trở nên hiện đại mà giống nhau; giàu có hơn nhưng nghèo ký ức hơn.

Vì thế trong dự thảo luật, nên xem xét bổ sung một điều riêng về bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, kiến trúc và cảnh quan đô thị đặc biệt, thay vì chỉ gộp di sản trong các điều khoản phát triển kinh tế - xã hội. Điều này sẽ tạo cơ sở để TPHCM nói riêng và các đô thị lớn, đô thị đặc biệt nói chung xây dựng danh mục những công trình, không gian kiến trúc có giá trị lịch sử, văn hóa, ký ức đô thị, kể cả những công trình chưa được xếp hạng di tích. Quan trọng hơn, bảo tồn không nên chỉ là “giữ lại một công trình”, mà phải bảo vệ cả không gian, cảnh quan và cộng đồng làm nên giá trị của công trình ấy. Đặc biệt, đối với các dự án TOD (mô hình quy hoạch và phát triển đô thị lấy hệ thống giao thông công cộng làm trung tâm), chỉnh trang trung tâm, tái thiết đô thị hay phát triển đô thị nén, cần có đánh giá tác động văn hóa - xã hội và đánh giá tác động di sản trước khi quyết định. Với những dự án hạ tầng lớn đi qua khu vực đô thị lịch sử, nên bắt buộc thực hiện đánh giá tác động di sản (HIA), để hạ tầng hiện đại không làm tổn hại những di sản vật thể hiện hữu.

Di sản phải trở thành nguồn lực của phát triển

Ngày nay, bảo tồn và phát triển không phải là hai cực đối lập nhau. Nếu có cơ chế phù hợp, di sản có thể trở thành nguồn lực kinh tế, tạo việc làm, thu hút du lịch, thúc đẩy công nghiệp sáng tạo và nâng cao giá trị không gian đô thị. Do đó, trong quá trình xây dựng luật nên chú ý thiết kế các công cụ kinh tế đủ mạnh. Trước hết, có thể nghiên cứu thành lập Quỹ bảo tồn di sản đô thị, được hình thành từ một phần nguồn thu qua khai thác giá trị đất, đấu giá đất, các hoạt động du lịch và những nguồn hợp pháp khác. Bên cạnh đó, thiết kế chính sách hỗ trợ tài chính, ưu đãi thuế đối với những cá nhân, tổ chức đang sở hữu và gìn giữ các công trình có giá trị di sản. Đồng thời nghiên cứu thêm cơ chế chuyển nhượng quyền phát triển (TDR): nơi nào phải hạn chế chiều cao để bảo vệ di sản thì phần quyền phát triển bị hạn chế có thể được chuyển nhượng cho khu vực khác, tạo nguồn lực tài chính quay trở lại phục vụ bảo tồn. Đây là cách để biến “chi phí bảo tồn” thành một phần của cơ chế thị trường, thay vì chỉ trông chờ ngân sách. Như vậy, người dân giữ một căn nhà cổ không còn cảm thấy di sản là gánh nặng; doanh nghiệp đầu tư vào bảo tồn không chỉ làm việc thiện; và Nhà nước có thêm công cụ để điều tiết lợi ích giữa bảo tồn và phát triển.

Phát triển siêu đô thị không phải là cuộc chạy đua xem thành phố nào có nhiều tòa nhà cao hơn, đường rộng hơn hay dự án lớn hơn. Một đô thị đáng sống và có sức cạnh tranh lâu dài phải là nơi cái mới có thể lớn lên mà cái cũ không bị lãng quên. TPHCM thúc đẩy những tuyến metro hiện đại nhưng vẫn gắn với những con phố có ký ức; cần những trung tâm tài chính quốc tế nhưng cũng song hành những không gian văn hóa cộng đồng; cần những khu đô thị mới nhưng không nên để những cộng đồng cư dân lâu đời biến mất khỏi bản đồ ký ức. Bởi sau cùng, hạ tầng tạo nên hình hài của đô thị, kinh tế tạo nên sức mạnh của đô thị, nhưng văn hóa và di sản mới góp phần tạo nên linh hồn của đô thị.

4 nhóm giải pháp cốt lõi

Dự thảo Luật Phát triển Đô thị đang tạo ra một “chiếc áo pháp lý” mới để TPHCM vận động mạnh mẽ hơn trong nền kinh tế thị trường. Dự thảo luật có thể tập trung vào 4 nhóm giải pháp cốt lõi: một là, định danh và bảo vệ di sản, ký ức, cảnh quan và không gian văn hóa đô thị; hai là, tích hợp đánh giá văn hóa - di sản vào quy hoạch, hạ tầng và các dự án tái thiết lớn; ba là, hình thành các công cụ tài chính, ưu đãi và cơ chế thị trường để biến bảo tồn thành một nguồn lực phát triển; bốn là, phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch và kinh tế đêm trên nền tảng bản sắc địa phương, tránh thương mại hóa và sân khấu hóa văn hóa.

TPHCM và nhiều đô thị lớn khác có đủ điều kiện để phát triển kinh tế ban đêm. Nhưng kinh tế đêm không nên được hiểu đơn giản là những khu phố ăn uống, bar, pub hay mua sắm. Đó phải là những không gian kết hợp thương mại với văn hóa bản địa: nghệ thuật đường phố, trình diễn di sản phi vật thể, bảo tàng mở về đêm, không gian sáng tạo, chợ truyền thống, biểu diễn nghệ thuật và các tuyến phố di sản. Khi đó, du khách đến TPHCM không chỉ để mua sắm hay ăn uống, mà còn để nghe câu chuyện của thành phố, nhìn thấy lịch sử trong đời sống hiện tại, cảm nhận sự thân thiện phóng khoáng của người dân, và khi mang một phần ký ức ấy trở về họ luôn mong sẽ có ngày quay lại.

https://www.sggp.org.vn/kien-tao-sieu-do-thi-giau-ban-sac-va-ky-uc-post866152.html



THÀNH PHỐ VÀ TẦM NHÌN

 

Nguyễn Thị Hậu

1.

Tôi vừa kết thúc chuyến du lịch Nam Kinh – Hàng Châu – Thượng Hải. Đây không phải lần đầu tôi đến Trung quốc, nhưng điều luôn gây ấn tượng với tôi không phải là những tòa nhà chọc trời hay tàu cao tốc hiện đại, mà là cảm giác những thành phố này được xây dựng theo một tầm nhìn rất dài hạn. Tại các thành phố tôi qua, cảnh quan kiến trúc hài hoà xưa và nay, nhìn qua tưởng rất bình thường và ổn định từ lâu. Nhưng thực tế để làm được điều đó lại cần hàng chục năm kiên trì, thậm chí đã từng sai lầm và phải kiên quyết sửa sai.

Ở Nam Kinh, những hàng cây ngô đồng cao lớn xanh mướt phủ kín nhiều tuyến đường. Ngay tại Trường thành (xây dựng vào đầu thời Minh) ngoài việc bảo tồn và trùng tu rất tốt, các cổng vòm là lối ra vào thành được sử dụng làm không gian trưng bày tư liệu về toà thành, hình ảnh khai quật khảo cổ học, thú vị nhất là trưng bày các loại hình gạch ngói xây thành và sử liệu về những đội quân từ các địa phương đã sản xuất ra những viên gạch nhiều kích cỡ đó. Thành cổ, cũng như nhiều di tích, được giữ như một phần của đời sống. Người dân chạy bộ trên thành, du khách ngồi nghỉ dưới bóng cây, trẻ em đạp xe qua những khoảng không gian đã chứng kiến bao biến động lịch sử. Di sản không đứng ngoài cuộc sống mà di sản chính là cuộc sống. Nam kinh vẫn phát triển hiện đại nhưng không phải bằng cách xóa đi ký ức của mình.

Hàng Châu lại cho tôi một cảm nhận khác. Cả thành phố dường như biết lùi lại một bước để thiên nhiên và di sản được lên tiếng. Công viên và cây xanh phủ kín thành phố. Những tuyến đường rợp mát dành cho người đi bộ và xe đạp được tổ chức như những mạch nối nhẹ nhàng giữa con người với cảnh quan. Ở Hàng Châu, Tây Hồ nổi tiếng bới phong cảnh và có nhiều di tích lịch sử. Không gian di sản văn hoá này không bị bao quanh bởi những dự án bất động sản cao tầng. Thay vào đó là không gian mở, công viên, đường đi bộ, cây xanh và những di tích được gìn giữ cẩn thận. Giá trị của Tây Hồ không chỉ nằm ở cảnh đẹp mà ở việc mọi người đều có thể tiếp cận và tận hưởng nó, là những truyền thuyết lịch sử vẫn được lưu truyền và minh chứng bằng hệ thống di tích gồm miếu, đền, cầu, làng, vườn... Hàng Châu không chỉ quy hoạch hiện đại cho thành phố mà còn quy hoạch cả những khoảng lặng cho con người có thể sống chậm hơn.

Thượng Hải là một ví dụ điển hình của bảo tồn và phát triển. Đó là thành phố của những tòa nhà chọc trời, của tài chính toàn cầu, của công nghệ và ánh sáng. Nhưng cũng chính ở nơi ấy, phố cũ, nhà kho, bến cảng, khu tô giới... không bị xóa đi để nhường chỗ cho những biểu tượng mới mà chúng được kể lại bằng một ngôn ngữ mới, trở thành di sản sống động trong thành phố hiện đại. Tuổi đời của khu phố lịch sử ở Thượng Hải cũng chỉ một vài trăm năm, nhưng không vì thế mà không được coi trọng về giá trị văn hoá. Những toà nhà thời “thuộc địa” trở thành điểm check-in đông đúc như Bến Thượng Hải hay khu vực những toà tháp của Trung tâm tài chính. Hai thế giới cùng tồn tại, bổ sung cho nhau thay vì loại trừ nhau. Từ đó, di sản đô thị trở thành nguồn lực của phát triển, ký ức lịch sử trở thành chất keo kết dính các thế hệ thị dân.

Thượng Hải – Phố Đông trở thành hình mẫu phát triển của nhiều thành phố Trung quốc, không chỉ hình mẫu của sự hiện đại mà còn là bài học kinh nghiệm của nhiều sai lầm trong quá trình xây dựng đô thị mới từ vùng ven ngoại ô hay chỉnh trang các khu phố cũ. Đó là bài học cần được học đầy đủ như một cuốn sách lịch sử cần được đọc từ trang đầu đến trang cuối.

2.

Di sản lịch sử văn hoá ở các thành phố Nam Kinh – Hàng Châu – Thượng Hải và hệ thống di sản vùng phụ cận đã khéo léo được sử dụng trong kinh tế du lịch, mang lại cảm giác về một sự hài hòa hiếm có giữa quá khứ và tương lai, giữa tốc độ phát triển và sự trân trọng ký ức. Điều này có tác dụng tích cực đến đời sống tinh thần của cộng đồng dân cư luôn biến động nhanh tại các thành phố lớn ở Trung quốc.

Di chuyển suốt 5 ngày giữa các thành phố, dừng lại tại nhiều điểm du lịch nhưng hành trình khá thuận lợi, nhanh chóng. Đó là do những thành phố này không chỉ đầu tư vào hạ tầng giao thông như đại lộ, cầu vượt hay tàu cao tốc, metro... mà còn là đầu tư vào chất lượng không gian đô thị. Có thể nhìn thấy khắp nơi là mảng xanh của nhiều công viên lớn nhỏ, cây xanh bên đường, là mặt nước hồ trong xanh, sông và kênh sạch sẽ… Tất cả không chỉ quy hoạch như cảnh quan đô thị mà còn giúp điều tiết khí hậu, là hệ thống tích nước và thoát nước.

 Một con đường không chỉ để xe chạy nhanh hơn mà còn phải có bóng mát để đi bộ, khu thương mại có vỉa hè rộng rãi để tiện cho đông người mua bán, nhiều khu phố cũ còn giữ nguyên những hành lang đi bộ dài có mái che từ thời thuộc địa. Một dòng sông không chỉ là nơi thoát nước mà là tài sản cảnh quan, không một nhà đầu tư nào được chiếm dụng hai bên sông thành của riêng để xây nhà cao tầng. Một khu đất đẹp không mặc định phải trở thành khu biệt thự sang trọng hay trung tâm thương mại cao cấp, nhưng nếu được quy hoạch thành những cao ốc thì mật độ xây dựng thông thoáng, mang lại “không gian để thở” cho những gia đình sống trong những căn hộ trên đó. Một công trình cũ không mặc định phải phá đi để xây cái mới, mà luôn có phương án cải tạo chỉnh trang cho những công năng mới, một đời sống mới để có thể phục vụ nhu cầu dân cư thế kỷ 21.

Những gì ta nhìn thấy hiện nay chính là kết quả của tư duy và chính sách quy hoạch đô thị thống nhất và thực hiện đồng bộ từ cấp quốc gia đến các địa phương từ nhiều chục năm trước. Vì vậy dễ dàng nhận thấy sự liên kết chặt chẽ từ hệ thống giao thông đến việc ứng dụng nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật trong xây dựng hạ tầng, tính chất phát triển các siêu đô thị nhưng mở rộng kết nối với vùng xung quanh. Từ góc độ văn hoá, có thể nhìn thấy triết lý “quy hoạch đô thị là một cách đối thoại với thời gian”. Quy hoạch không chỉ quyết định diện mạo thành phố hôm nay và tương lai, mà còn âm thầm định hình ký ức và chất lượng sống của nhiều thế hệ mai sau.

Mỗi chuyến đi đều để lại những tấm ảnh đẹp. Nhưng điều đáng giá hơn là mang về một góc nhìn mới. Điều tôi nhìn thấy sự khác biệt ở Nam Kinh, Hàng Châu hay Thượng Hải không phải vì họ giàu hơn, mà vì nhiều quyết định quy hoạch của họ dường như đã được đưa ra với tầm nhìn 30 –50 năm, chấp nhận hy sinh một phần lợi ích ngắn hạn để giữ lại những giá trị mà thế hệ sau vẫn được thụ hưởng. Đó là điều làm cho du khách nhớ đến thành phố vì bản sắc riêng chứ không phải vì những tòa nhà hiện đại giống nhau ở khắp nơi.

3.

Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố sông nước, thành phố của những bến cảng nổi tiếng. Sông Sài Gòn, hệ thống kênh rạch dày đặc, khí hậu nhiệt đới thuận lợi để phát triển đô thị xanh. Tuy vậy hiện nay nhiều đoạn bờ sông vẫn khó tiếp cận, nhiều tuyến kênh còn thiếu không gian công cộng, diện tích cây xanh trên đầu người vẫn ở mức khá thấp so với nhiều đô thị phát triển trong khu vực. Thành phố cũng có rất nhiều di sản kiến trúc đẹp: Bưu điện Thành phố, Nhà thờ Đức Bà, trụ sở UBND, chợ Bến Thành, các biệt thự cổ, Chợ Lớn hình thành từ hàng trăm năm trước... Nhưng không ít công trình cũ ở khu trung tâm “vùng lõi di sản’ đã biến mất để nhường chỗ cho những dự án mới mà giá trị kiến trúc chưa chắc tương xứng.

Đô thị Sài Gòn xưa có lớp trầm tích văn hóa dày hơn nhiều người vẫn nghĩ. Nhưng chính thành phố ấy đang thay đổi từng ngày với một tốc độ rất “nóng”. Mỗi công trình mới mọc lên đều mang theo kỳ vọng về tăng trưởng, mỗi tuyến đường mở rộng đều hứa hẹn những kết nối mới. Điều đó là cần thiết vì một đô thị hơn mười triệu dân không thể phát triển nếu chỉ sống bằng hoài niệm. Song, như bài học của nhiều quốc gia đã cho thấy, phát triển chưa bao giờ đồng nghĩa với việc xóa sạch những gì thuộc về quá khứ. TP. HCM đang bước vào giai đoạn đầu tư rất mạnh về hạ tầng: metro, đường vành đai, các tuyến cao tốc, cải tạo kênh rạch, các đô thị vệ tinh... Nhưng nếu chỉ đầu tư vào giao thông và hàng loạt chung cư mà chậm đầu tư tương xứng cho cây xanh, không gian công cộng, mặt nước và bảo tồn di sản, thì chắc chắn không thể trở thành một “thành phố sống tốt”.

Một đồ án quy hoạch có thể quyết định giá trị bất động sản trong vài năm, nhưng cũng có thể quyết định chất lượng sống của hàng triệu con người trong cả thế kỷ. Nó quyết định người dân có được đi bộ dưới bóng cây hay chỉ đi giữa bê tông kính thép. Có còn nhìn thấy dòng sông hay chỉ thấy những bức tường cao vút che khuất trời xanh. Có còn nghe được những câu chuyện của thành phố hay chỉ sống giữa những khối nhà im lìm vô danh. Nó quyết định người dân sẽ lưu giữ cái gì trong tâm tưởng, về thành phố nơi mình sinh sống. Quy hoạch không chỉ giải quyết nhu cầu của hiện tại mà còn gìn giữ khả năng nhận diện của thành phố trong nhiều thế kỷ sau.

Thành phố Hồ Chí Minh đang đứng trước một thời điểm đặc biệt. Không gian đô thị đang mở rộng sau những thay đổi về địa giới hành chính. Cơ hội kiến tạo một siêu đô thị hiện đại chưa bao giờ lớn như lúc này. Có lẽ cũng chưa bao giờ trách nhiệm gìn giữ ký ức đô thị lại trở nên quan trọng đến vậy. Bởi nếu quy hoạch chỉ nhìn đến nhiệm kỳ, chúng ta sẽ có thêm nhiều công trình. Nhưng nếu quy hoạch nhìn đến nhiều thế hệ, chúng ta sẽ có một thành phố đáng sống. Một thành phố mà con cháu mai sau không chỉ tự hào vì sự giàu có, mà còn nhận ra nơi mình đang sống được xây dựng trên nền tảng của ký ức, của văn hóa và của lòng trân trọng quá khứ. Và khi ấy, người ta sẽ hiểu rằng quy hoạch đô thị không chỉ là kỹ thuật mà đó là đạo đức của phát triển.

Tôi mong một ngày nào đó, khi nhắc đến TP.HCM người ta không chỉ nói đây là đầu tàu kinh tế, mà còn là một đô thị xanh, có bản sắc văn hoá độc đáo, một thành phố đáng sống và biết nuôi dưỡng những gì làm nên linh hồn của chính mình. 

TP. Hồ Chí Minh 7.7.2026

Bài trên Báo Tiền Phong ngày 1-2/8/2026


 

MỈM CƯỜI, VẪY CHÀO LẦN CUỐI...

Trong cuốn sách này ra mắt ngày 17.7.2026 tại HN, gia đình thực hiện nhân một năm ngày bạn đi xa


Có những người bước vào đời mình không ồn ào, không phải từ những cuộc gặp gỡ được sắp đặt trước, mà như một dòng chảy rất tự nhiên của nhân duyên. Bọn mình biết nhau cũng theo cách như thế, cậu nhỉ. Thật ra cũng chưa lâu lắm đâu – chừng mười lăm năm thôi. Nhưng có những mối quen biết, dù chỉ một khoảng thời gian ngắn trong đời, vẫn để lại cảm giác như đã thân thuộc từ rất lâu.

Hồi đó mình vừa xuất bản cuốn Khảo cổ học bình dân Nam Bộ. Trong sách có vài bài viết về đồ gốm – những mảnh gốm nhỏ bé nhưng chứa cả lịch sử của đất và người. Cậu đã mua cuốn sách ấy. Nhưng cậu không đọc theo kiểu đọc cho biết, cậu đọc rất kỹ. Và như một người vốn quen suy nghĩ đến tận cùng của sự vật, cậu “găm” lại vài câu hỏi cho tác giả. Sau này mình mới biết cậu rất yêu gốm, loại chất liệu thô mộc thấm đẫm tính cách con người từng vùng đất.

Một dịp nào đó, Hà Phạm rủ mình đến nhà cậu. Đó là lần đầu tiên mình bước vào không gian riêng của cậu, nơi cậu trưng bày những đồ gốm do chính bàn tay cậu nặn, nung và vẽ trên từng sản phẩm. Mình vẫn nhớ cảm giác hôm ấy: vừa tò mò, vừa có chút dè dặt, vì trước đó mình đã biết cậu là một họa sĩ nổi tiếng, lại có tiếng là người khá kỹ tính. Nhưng hóa ra mọi thứ lại khác hẳn. Chúng ta ngồi xuống nói chuyện, và câu chuyện bắt đầu như thể hai người bạn cũ lâu ngày gặp lại. Không cần khởi động, không cần thăm dò. Chỉ cần một câu về gốm thôi thế là dòng đối thoại mở ra, và cứ thế kéo dài. Chúng ta tranh luận về gốm xưa, gốm nay. Về đất, về men, về lửa. Về những chiếc bình cổ vô danh của những người thợ đã mất từ hàng trăm năm trước. Và về những hình khối rất mới mà cậu đang thử nghiệm.

Có lẽ điều khiến hai đứa mình dễ nói chuyện với nhau là vì cùng mê gốm đất nung. Cái chất thô mộc của đất, cái dấu tay của người thợ, cái vẻ giản dị mà bền bỉ của vật liệu ấy, cả hai đứa đều bị nó cuốn hút. Nhưng không chỉ thế vì cả hai chúng ta đều không khép mình trong quá khứ. Cậu làm nghệ thuật đương đại, nhưng không quay lưng với truyền thống. Mình làm khảo cổ, nhưng cũng không muốn biến di sản thành thứ bất động trong tủ kính. Có lẽ vì vậy mà dù tranh luận khá nhiều, chúng ta vẫn luôn tìm được tiếng nói chung. Mà nếu có lúc nào không tìm được thì… mình thường là người “chịu thua”, vì cãi với cậu đâu có dễ, nhất là khi cậu lại tuổi Dần nữa chứ.

Có lần anh Trịnh Túi câu này: Cương có sự khe khắt của một nhà khoa học, còn Hậu lại có sự phóng khoáng của dân nghệ sĩ. Nhưng hai người làm gì cũng đều nghiêm túc, nên hợp nhau là phải. Mình nghĩ anh nói đúng vì anh rất hiểu và cũng rất yêu quý bọn mình nữa, cậu nhỉ?

Ở cậu luôn có một sự nghiêm ngặt đặc biệt. Không phải kiểu khắt khe để tỏ ra khó tính, mà là sự chính xác của một người muốn đi đến tận cùng của điều mình làm. Một nét vẽ cũng phải đúng, một hình khối cũng phải có lý do tồn tại của nó. Đến một nét rạn như sợi tóc trên men gốm, một vết sứt nhỏ ở miệng chiếc lọ sành mà phải tinh mắt mới nhìn thấy... với cậu cũng phải có lý do, cũng phải vì cái Đẹp.

Có lẽ vì thế mà những cuộc trò chuyện của bọn mình thường kéo dài. Trong phòng khách nhà cậu, một căn phòng mà mình vẫn nhớ rõ. Ở đó có một ngọn đèn vàng. Ánh sáng không quá sáng, chỉ vừa đủ để tạo nên một thứ không khí ấm áp, thân mật. Ánh đèn ấy luôn phản chiếu lên những món gốm nhỏ nhỏ đặt quanh phòng. Những bức tượng cũng nhỏ. Và trên bàn là những ly rượu lúc nào cũng ánh lên một thứ màu hổ phách rất đẹp. Trong không gian ấy, thỉnh thoảng mình được ngồi cùng anh Trịnh Tú và nhiều bạn bè của cậu, toàn những người nổi tiếng, những người làm nghệ thuật, những người có tiếng trong giới mỹ thuật.

So với họ, mình chẳng là ai cả. Một người làm khảo cổ, quen với đất, với những hố khai quật, với những mảnh gốm vỡ. Thế nhưng cậu luôn dành cho mình một sự ấm áp rất chân thành. Cậu tặng mình những tập tranh của cậu. Cậu vẽ minh họa cho nhiều tản văn của mình đăng báo. Rồi có lần cậu còn vẽ bìa cho cuốn truyện “tự sự” của mình, cuốn sách nhỏ Vẫn còn nhớ nhau. Mỗi lần nhìn cuốn sách ấy, mình vẫn thấy ở đó nét vẽ quen thuộc của cậu: giản dị, tiết chế, nhưng có một chiều sâu rất lặng.

Và mỗi khi biết mình ra Hà Nội, cậu luôn nhắn một câu rất ngắn đến uống rượu nhé.” Chỉ thế thôi. Nhưng trong câu nói ấy luôn có một lời mời thân tình, không cần nghi thức. Ở phòng khách nhà cậu hay ở một quán nhỏ nào đó, thường chỉ có vài người bạn thân quen, không ồn ào. Những câu chuyện về Hà Nội thời của chúng mình, về Sài Gòn như chúng ta vẫn biết...  Thỉnh thoảng bọn mình vẫn nói với nhau về di sản, không phải theo cách của nhà nghiên cứu mà chỉ là câu chuyện giữa hai người bạn: làm sao để di sản còn sống trong đời sống hôm nay. Làm sao để truyền thống không bị biến thành thứ trang trí. Và làm sao để cái mới không bị cắt đứt với cội nguồn?

Cậu đặc biệt yêu gốm Nam Bộ, là gốm Cây Mai hay Lái Thiêu, gốm Biên Hòa hay gốm Vĩnh Long, Sa Đéc. Có một câu của cậu mà mình luôn nhớ: “Đất nào, nước nào thì người đó. Mà con người nào thì sản phẩm đó. Người Nam Bộ làm ra gốm Nam Bộ – cởi mở đón nhận nhưng vẫn giữ được nét đặc sắc vốn có của mình”. Câu nói ấy rất giản dị nhưng nó chứa cả một triết lý về văn hóa. Đất, nước, con người và sản phẩm không có gì tách rời nhau trong mỗi sản phẩm gốm. Vì thế mà bọn mình từng nghĩ đến một cuốn sách chung, tên sách cũng đã có rồi: Đối thoại gốm. Nghe như một cuộc trò chuyện dài giữa hai người – một người làm nghệ thuật, một người làm khảo cổ – cùng nhìn vào đất và lửa. Chúng ta đã nói với nhau về ý tưởng ấy nhiều lần nhưng rồi cuốn sách vẫn chưa thành.

Vì cậu còn quá nhiều việc: Triển lãm. Sách. Những dự án nghệ thuật. Của cậu, và nhiều hơn là của bạn bè, người ơn. Rồi những cuộc gặp gỡ với bạn bè, với học trò, với những người đi trước. Mình vẫn nghĩ cậu chưa thật thanh thản cho một cuộc chơi cần nhiều suy tưởng và nhiều khoảng lặng như thế, vì một cuốn sách kiểu đó cần thời gian để ngồi xuống, để nghĩ, để tranh luận, để viết. Mà thời gian của cậu lúc nào cũng như bị chia nhỏ ra cho rất nhiều điều khác. Cậu sống rất hết lòng với bạn bè, với các bậc tiền bối, với những người xung quanh. Không chỉ bằng ý tưởng, bằng lời nói mà bằng cả sức lực, thời gian cả vật chất nữa. Cậu làm mọi thứ với một sự tận tâm hiếm thấy. Chính vì thế mà nhiều người quý cậu. Và cũng có lẽ vì thế mà cậu luôn bận. Đôi khi mình nghĩ: rồi có lúc chúng ta sẽ bắt đầu làm cuốn sách ấy.

Nhưng cuộc đời đâu phải lúc nào cũng chờ mình. Đến một lúc nào đó, mọi thứ dừng lại đột ngột. Như một cánh cửa khép lại mà mình chưa kịp nói hết câu. Đành thôi vậy. Buông tay là nhẹ nhàng, cậu nhé. Mình vẫn nghĩ cậu hiểu điều đó. Vì trong nghệ thuật của cậu luôn có một tinh thần rất đặc biệt: sự tiết chế. Không thừa. Không ồn ào. Chỉ giữ lại những gì thật cần thiết. Giống như một nét vẽ tối giản nhưng chứa cả không gian...

Nếu ở nơi xa ấy cậu gặp lại anh Trịnh Tú, thì nhớ nói với anh giúp mình một câu nhé. Rằng cái Hậu nó buồn hai anh em lắm, vì đã rủ nhau bỏ đi trước, sớm quá... Để những người ở lại như mình, như Hà Phạm với rất nhiều kỷ niệm về hai anh em. Những buổi rượu dưới ánh đèn vàng. Những câu chuyện về gốm. Những dự định còn dang dở. Nhưng cuộc đời vốn vậy. Có những cuộc gặp gỡ chỉ kéo dài một đoạn đường nhưng vẫn đủ để mình biết rằng mình đã gặp đúng người, đã có một tình bạn đẹp. Và như mọi lần chào cậu để quay về Sài Gòn, mình luôn nghĩ lần sau gặp cậu sẽ lại tiếp tục câu chuyện về gốm.

Lần này cũng vậy, chào cậu nhé, Lê Thiết Cương. Mỉm cười. Vẫy chào lần cuối.

 

Sài Gòn, tháng 7/2025 – 3/2026

Nguyễn thị Hậu








 

Ý KIẾN TẠI TỌA ĐÀM VỀ HẠ TẦNG XANH (tại xã Bình Mỹ, 18.8.2026)

  Nguyễn thị Hậu, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM T ham dự workshop hôm nay với chủ đề “Giá trị hạ tầng xanh trong...