Hiển thị các bài đăng có nhãn vụn vặt đời thường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn vụn vặt đời thường. Hiển thị tất cả bài đăng

NHÂN QUẢ CỦA MỘT XÃ HỘI KHI KỶ CƯƠNG VÀ NIỀM TIN VÀO CÔNG LÝ BỊ BÀO MÒN

Nguyễn Thị Hậu. Từ FB Hậu khảo cổ

1.

Mới đầu tháng bảy âm lịch mà đã có quá nhiều chuyện buồn! Nhiều người đã lên tiếng vì bức xúc, nhiều người đã vịn vào “nhân quả” để tìm cho mình chút hy vọng vào công lý. Những ngày này mình nghĩ nhiều về “nhân quả”: nếu chỉ hiểu như chuyện một người làm ác rồi một ngày nào đó nhận quả báo thì chưa đủ. Hiện trạng còn có một dạng “nhân quả xã hội” đáng sợ hơn: khi những hành vi sai trái được lặp lại, được dung thứ, được biện minh, hoặc được xử lý bằng một thứ pháp luật méo mó, thì cái giá không còn do riêng người gây ra trả nữa.

Chuyện chiếc xe BMW và gốc cây 55, chuyện cô gái Việt kiều bị xâm hại... những vụ việc khác nhau nhưng đều khiến người ta phẫn nộ vì đều gặp nhau ở một câu hỏi lớn hơn: Điều gì xảy ra khi con người không còn tin rằng đúng – sai sẽ được phân định một cách công bằng? Chúng ta đang chứng kiến những biểu hiện nguy hiểm đang trở thành bình thường:

Người làm sai không còn sợ sai, mà chỉ sợ bị phát hiện. Thậm chí cũng chẳng sợ, vì “mày có biết bố/mẹ/vợ/chồng tao là ai không?”. Người chứng kiến điều sai không còn tin vào việc lên tiếng, vì “có nói cũng chẳng thay đổi được gì”, thậm chí còn bị “gạch đá, dán nhãn” đủ điều... Do đó những người tử tế dần trở nên dè dặt, vì không tin có thể tự bảo vệ mình được. Luật pháp từ một hàng rào bảo vệ công bằng bị biến thành công cụ để người có quyền lực, tiền bạc, quan hệ tùy ý diễn giải theo hướng có lợi cho mình. Và điều đáng sợ nhất đã xảy ra: tội ác được cân đo đong đếm bù trừ bằng tiền bạc!

Đó chính là lúc mình nghĩ đến chữ “nghiệp” theo một nghĩa rộng hơn nghĩa tôn giáo. Một xã hội liên tục dung dưỡng cái sai sẽ tạo ra nghiệp xã hội. Không phải ông trời trừng phạt cả xã hội theo nghĩa thần bí, mà chính xã hội sẽ phải trả giá bằng những hệ quả do mình tạo ra: mất niềm tin, mất cảm giác an toàn, mất sự tử tế, mất lòng tin vào luật pháp và cuối cùng là mất khả năng phân biệt đúng sai, phân biệt điều gì đáng được tôn trọng hay cần phải lên án, loại trừ.

Nhân quả khi ấy rất cụ thể.

Hôm nay chúng ta làm ngơ trước một sự bất công không liên quan đến mình. Ngày mai một người khác sẽ làm ngơ khi bất công xảy đến với mình. Hôm nay chúng ta chấp nhận một sự gian dối “vì nó có lợi”. Ngày mai chính sự gian dối ấy trở thành môi trường sống của chúng ta. Hôm nay chúng ta cười cợt trước một người yếu thế bị xúc phạm. Ngày mai con cái chúng ta có thể lớn lên trong một xã hội mà sự xúc phạm người khác được xem là chuyện bình thường. Và đó mới là thứ “quả báo” đáng sợ nhất: không phải một cá nhân bị trừng phạt, mà cả cộng đồng phải sống trong hậu quả của những điều sai trái mà mình đã từng dung thứ.

Tháng Bảy âm lịch vốn thường khiến người Việt nghĩ nhiều về nhân – quả, về người đã khuất, về sự biết ơn và những điều thiện lành. Nhưng cũng vì thế mà những chuyện xảy ra trong những ngày này khiến mình nghĩ nhiều hơn về người đang sống. Bởi cúng một nén nhang cho người đã khuất thì dễ. Giữ cho xã hội mà họ để lại một xã hội tử tế mới khó.

Và nếu có một điều đáng sợ trong “nghiệp” của một xã hội, thì có lẽ không phải là xã hội ấy có những người xấu. Bởi vì xã hội nào cũng có người xấu. Điều đáng sợ là đến một lúc nào đó, người tốt không còn tin rằng sự tử tế có ý nghĩa; người bị hại không còn tin rằng công lý sẽ bảo vệ mình; còn người làm sai thì tin rằng họ luôn có cách thoát khỏi hậu quả. Khi ấy, kỷ cương không chỉ suy yếu ở trên giấy. Nó bắt đầu sụp đổ trong tâm thức của con người.

2.

Con cháu chúng ta sẽ sống tiếp trong một xã hội như thế nào? Đối với những người làm cha mẹ, ông bà, đó mới là phần đau nhất của những câu chuyện đang diễn ra.

Bởi người lớn có thể nói: Xã hội vốn phức tạp, chuyện gì cũng có. Nhưng người trẻ đang học cách hiểu xã hội thông qua những gì họ nhìn thấy mỗi ngày. Nếu các em chứng kiến quá nhiều lần rằng: người làm đúng chưa chắc được bảo vệ, người làm sai chưa chắc bị xử lý; sự tử tế đôi khi bị xem là ngây thơ, còn quyền lực và quan hệ có thể đứng cao hơn nguyên tắc, thì nguy cơ không chỉ là các em mất niềm tin vào xã hội. Đáng sợ hơn, các em có thể thay đổi chính hệ giá trị của mình để thích nghi với một xã hội mà các em cho rằng không công bằng.

Một đứa trẻ ban đầu có thể nghĩ “Làm điều đúng vì đó là điều đúng”. Nhưng nếu liên tục nhìn thấy điều ngược lại, nó có thể chuyển thành “Làm điều đúng chỉ khi mình không bị thiệt.” Rồi xa hơn “Ai cũng làm thế, tại sao mình phải khác?”. Và cuối cùng là “Miễn mình không bị bắt là được.” Đó chính là sự truyền nhiễm của cái xấu, là logic của một xã hội không còn kỷ cương. Xã hội ấy không cần một người xấu dạy một đứa trẻ trở thành người xấu, mà chỉ cần nhiều lần cho đứa trẻ thấy rằng cái xấu có thể đem lại lợi ích, cái tốt có thể khiến mình chịu thiệt, và luật pháp không phải lúc nào cũng tạo ra công bằng.

Mình còn nghĩ đến một điều khác, liên quan rất nhiều đến giáo dục. Chúng ta thường nói với trẻ: phải trung thực, phải tôn trọng người khác, phải tuân thủ pháp luật, phải có trách nhiệm với cộng đồng, phải bảo vệ người yếu thế... Nhưng bài học lớn nhất không nằm trong sách giáo khoa hay lời dạy sáo rỗng. Nó nằm ở câu hỏi “Con đã nhìn thấy người lớn thực sự sống như thế nào?”. Nếu bài học trong nhà trường nói một đằng nhưng đời sống xã hội diễn ra một nẻo, thì đứa trẻ sẽ tin vào cái nó nhìn thấy hơn cái nó được nghe giảng. Vì vậy, “nghiệp xã hội” có một tầng rất đáng sợ: nó có thể truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng chính cách chúng ta đối xử với công lý, luật pháp và sự tử tế hôm nay.

Mình cũng không muốn nhìn chuyện này hoàn toàn bi quan. Thế hệ trẻ Gen Z hiện nay có một khả năng rất đặc biệt: họ phản ứng rất mạnh với sự giả dối và bất công. Những tiếng nói của người trẻ trên mạng, những nhóm cộng đồng bảo vệ môi trường, di sản, những người làm thiện nguyện, những bạn trẻ dám lên tiếng trước những bất công, những điều sai trái... cho thấy vẫn có một nguồn năng lượng đạo đức rất lớn. Có lẽ vấn đề của thế hệ chúng ta không chỉ là dạy người trẻ “hãy sống tử tế”, mà còn là phải làm cho họ có thể tin rằng, sống tử tế không phải là tự làm cho mình trở thành người thua cuộc.

Một xã hội có thể để lại cho thế hệ sau rất nhiều công trình hoành tráng “kỷ lục thế giới” và những công nghệ hiện đại. Nhưng nếu không để lại thế hệ trẻ niềm tin vào công lý, vào sự tử tế, không còn khả năng tự bảo vệ mình bằng luật pháp, thì xã hội đó sẽ nhanh chóng đổ vỡ do món nợ quá lớn mà thế hệ trước để lại!  Đó chính là “nhân” mà thế hệ hôm nay đang tạo “quả” cho thế hệ ngày mai.

Nhiều người chúng ta đang buồn không chỉ là vài vụ việc cụ thể. Sâu hơn, đó là nỗi lo của những người đã nhìn xã hội đủ lâu để nhận ra rằng sự xuống cấp của kỷ cương hôm nay có thể trở thành cách sống của ngày mai. Nhưng chính việc chúng ta còn bức xúc, còn đau trước những điều ấy cũng có nghĩa là cái cảm thức về đúng – sai, về tử tế và trách nhiệm vẫn còn rất mạnh. Có lẽ đó cũng là một phần quan trọng của việc trao lại giá trị cho thế hệ trẻ.

Tháng Bảy mới bắt đầu. Mong bản thân giữ được chút bình tâm, để không biến nỗi buồn thành tuyệt vọng mà biến nó thành một tiếng nói tử tế góp với những người tử tế.

 https://www.facebook.com/share/p/1JYFrTLLL8/

NGÀY CUỐI - THƠ VÀ NHẠC

https://www.youtube.com/watch?v=zQy2ef9kmgA

Đây là một bài thơ của mình được Đặng Cao Thắng phổ nhạc. Bạn gửi cho mình cùng lời bình thơ của một bạn nghe nhạc. Cám ơn nhiều những đồng cảm của các bạn <3

LỜI GIỚI THIỆU VỀ BÀI THƠ 

NGÀY CUỐI của Nguyễn Thị Hậu (một tiến sĩ ngành khảo cổ) là một bài thơ ngắn nhưng có độ nén cảm xúc rất cao, mang rõ dấu ấn của một người từng quen với việc “khai quật” ký ức. Chỉ khác, ở đây, đối tượng khai quật không phải là di chỉ văn hóa, mà là những lớp trầm tích của một mối tình đã kết thúc.

 Không gian thời gian trong bài thơ là sự tàn lụi được đo bằng những vật thể cụ thể. Ngay từ những câu mở đầu:

“Tháng mười hai

Cuốn lịch chỉ còn vài tờ

Rượu trong chai cũng không còn nữa…”

Nhà thơ không nói trực tiếp về chia ly, nhưng mọi thứ đều đang cạn dần.

•Thời gian: “cuốn lịch chỉ còn vài tờ” → năm sắp hết.

•Cảm xúc: “rượu trong chai cũng không còn nữa” → men say, nồng ấm đã vơi.

•Con người: “người là quá khứ” → mối quan hệ bị đẩy lùi về phía sau.

Cách viết này rất “khảo cổ” theo nghĩa tinh thần: không tuyên bố, mà để hiện vật tự nói lên sự biến mất của một đời sống.

Hình ảnh “ly vang” là một phát hiện thẩm mỹ đắt giá.

“Ly vang hứng từng giọt mặn

Đỏ bầm đôi môi”

Đây là một trong những câu thơ đẹp và đau. “giọt mặn” vừa là nước mắt, vừa là dư vị của ký ức. “ly vang” là thứ văn minh, sang trọng, nhưng lại chứa đựng nỗi buồn rất riêng tư. “đỏ bầm đôi môi” là một chi tiết thị giác mạnh: không còn là màu đỏ của đam mê, mà là vết thâm của cảm xúc đã bị dồn nén quá lâu. (Câu thơ này có thể trở thành trục cảm xúc chính khi phổ nhạc, một điểm rơi rất “đắt” cho cao trào.)

Cấu trúc cảm xúc của bài thơ là: muốn nói, nhưng không thể.

“Em muốn nói với anh

Em nhớ…

Ngay cả trong mơ…”

Dấu ba chấm ở đây cực kỳ quan trọng. Nó không chỉ là ngập ngừng, mà là ở đây lời nói đã bị nuốt vào trong. Đáng chú ý là “muốn nói nhưng không nói, “nhớ” nhưng không được phép nhớ, “trong mơ” nhưng vẫn bị ý thức kiểm soát. Đây là trạng thái của một tình yêu đã qua ngưỡng có thể cứu vãn, nhưng lại chưa qua được ngưỡng có thể quên.

Trong NGÀY CUỐI, có một cú đảo hình ảnh rất tinh tế.

“Trăng vẫn dưới chân mình”

Thông thường, trăng ở trên cao, biểu tượng của cái đẹp, của lý tưởng. Nhưng ở đây, trăng “dưới chân” → mọi giá trị lãng mạn đã bị đảo chiều. Nó gợi cảm giác rằng những điều từng thiêng liêng nay trở nên bình thường hoặc tệ hơn, bị giẫm lên, bị bỏ lại. Một chi tiết nhỏ nhưng rất có chiều sâu triết lý.

Cái kết của bài thơ: ký ức như vàng mã, mong manh mà không chịu cháy.

“Kỷ niệm xưa

Mong manh vàng mã

Mà khó cháy

Thành tro…”

Đây là đoạn kết rất “đắt” về tư duy hình tượng. “vàng mã” → thứ dành cho quá khứ, cho người đã mất. “mong manh” → tưởng dễ tiêu hủy, nhưng “khó cháy” → ký ức không chịu biến mất. Nghĩa là: tình đã chết, nhưng không thể thiêu. Đây chính là nghịch lý lớn nhất của bài thơ: muốn quên → không quên được, muốn dứt → không dứt nổi. Và vì thế, cái đau không nằm ở mất mát, mà nằm ở sự kéo dài của dư âm.

Ngày cuối không nói về chia tay, mà nói về trạng thái sau chia tay, nơi mọi thứ đã kết thúc về mặt thực tại, nhưng vẫn tiếp tục tồn tại trong ký ức. Một bài thơ không ồn ào, không kịch tính, nhưng có chiều sâu và sức ám lâu dài.

 

NGÀY CUỐI

Tháng mười hai

Cuốn lịch chỉ còn vài tờ

Rượu trong chai cũng không còn nữa

Người là quá khứ

Kỷ niệm thành dĩ vãng xa xôi

Ly vang hứng từng giọt mặn

Đỏ bầm đôi môi

 

Em muốn nói với anh

Em nhớ...

Ngay cả trong mơ...

Trăng vẫn dưới chân mình

Qua quán cũ chiều nay

Em không ngoái lại

Ta đã thành người xa lạ

Kỷ niệm xưa

Mong manh vàng mã

Mà khó cháy

Thành tro...


Photo by Minh Hòa




MỘT NIỀM VUI GIỮA NHỮNG NỖI BUỒN...


Hôm qua trong cuộc gặp mặt của một tạp chí bị giải thể trong đợt này, tất cả chúng tôi đều ngậm ngùi... đã có những giọt nước mắt, đã có những nghẹn ngào, đã có những tiếng thở dài và những ánh mắt tránh nhìn nhau...vì sợ cảm xúc sẽ vỡ ra...
Tuy vậy, mọi chia sẻ, động viên, an ủi nhau của các nhà báo, phóng viên, nhân viên, cộng tác viên... đều kết thúc bằng một “tinh thần lạc quan”: Cánh cửa này đóng lại sẽ có cánh cửa khác mở ra! Và cái gì đã là quy luật thì sẽ trở về đúng theo quy luật. Bình tâm, giữ sức khỏe và tìm những niềm vui để tiếp tục chặng đường mới có nhiều khó khăn!
Giữa không khí ấy, một bạn luật sư trẻ xinh đẹp nhắc lại, bạn từng là sinh viên của tôi. Tôi gặp bạn lần đầu tại cuộc trao giải một cuộc thi của tạp chí này, bạn đã gọi tôi bằng cô và giới thiệu với bạn bè, đây là cô giáo của em. Lúc đó, tôi nghĩ có lẽ bạn học tại trường XHNV, nơi tôi thỉnh thoảng có dạy chuyên đề cho một số khoa. Tôi đã nghĩ, bây giờ mà sinh viên còn nhớ cô giáo chỉ dạy 1 môn ngắn ngủi không liên quan trực tiếp đến ngành học của mình, lại từ mười mấy năm trước, bây giờ lại khá nổi tiếng vì tài năng và xinh đẹp.... thật đáng quý!
Nay gặp lại, em hỏi, cô còn nhớ em không, em là sinh viên của cô. Tôi nói; nhớ chứ, gặp em hôm trao giải mà chưa kịp hỏi, em học khóa nào, khoa nào vậy? Cô không nhớ hết sinh viên của mình 😊 Em nói: em học trường ĐH Luật, khóa ấy... Tôi ngạc nhiên: ô cô chưa dạy ĐH Luật bao giờ em ạ. Không ạ, cô có dạy chứ, em ấn tượng với cô từ khi học và khi gặp lại đã nhận ngay ra cô!
Ôi tôi bắt đầu tự hỏi, không lẽ mình bắt đầu lẫn rồi sao? Một lần nữa trả lời em: thật đấy, cô chưa dạy ĐH Luật bao giờ vì chuyên môn của cô không liên quan, với lại, cô sợ luật sư lắm nên cứ “kính nhi viễn chi”, tôi đùa 😊 Hay là mình là bạn FB nên em thấy quen thuộc?
Cô ơi, cô giáo không nhớ học trò là bình thường, nhưng sinh viên bọn em thì chỉ có ấn tượng với một vài thầy cô thôi, sao em nhầm được ạ?!
Một đồng nghiệp trẻ của tôi ngồi bên đột nhiên hỏi: Cô, hồi covid cô phải tiêm mấy mũi? Bất giác tôi trả lời luôn: 4 mũi! Quay sang hỏi bạn gái kia: còn em, mấy mũi? Dạ 3 ạ. Đấy, 4 mũi nên cô quên hơn 3 mũi là phải rồi! Mọi người cười ồ, tôi cũng cười nhưng vẫn bán tín bán nghi, chả có lẽ...?
Em gái xinh đẹp bèn nói: em phải nhắn tin hỏi bạn cùng lớp ngay, không lẽ em cũng quên như cô? Mà tại sao em luôn nghĩ cô là cô giáo của em, phải có lý do gì chứ nhỉ 😊 Tất nhiên, bạn em xác nhận là chưa từng học tôi! Haiza, tí nữa thì covid bị oan! Thấy chưa, đâu cứ bênh gái đẹp dìm hàng bà già là đúng kkk. Thôi thì, không là cô giáo thì là... chị em, nhiều học trò của tôi sau này cũng gọi tôi là chị cho thân thiết, miễn là trong lòng có chút kỷ niệm về nhau là được.
Nghề giáo, tôi vẫn nghĩ như ông bà xưa đã nói – là nghề đưa đò. Ai qua sông rồi nhớ người lái đò thì thật đáng quý, mà ai không nhớ hay coi thường, thì cũng là bình thường, vì lái đò cũng là một nghề như bao nghề khác. Cứ làm tốt trách nhiệm phận sự thì có niềm vui tự hài lòng với chính mình. Đâu cứ phải cầu sự biết ơn hay ấm ức vì sự lãng quên của người khác với mình?
Nói vậy chứ giữa lúc nhiều người chọn cách quay lưng lại với những nghĩa tình lâu năm, một lời “nhận nhầm” đầy ân nghĩa đã mang lại niềm vui không nhỏ cho tôi và cho mọi người trong buổi gặp gỡ nhiều cảm xúc hôm qua.
Hình thời làm cô giáo - khoảng thời gian mà bạn ấy nhắc 🙂





NHÂN TRƯỜNG HỢP “CHUYỆN VỚI THANH”

 

 (Bắt chước tựa “Nhân trường hợp chị thỏ bông” một tản văn nổi tiếng của Thảo Hảo/ Phan Thị Vàng Anh 😊 )

Đây là một cuốn sách đang gây ra nhiều cuộc tranh luận trên mạng. Được một người chị tặng khi mới xuất bản, tôi đọc ngay vì tò mò với lời giới thiệu cuốn sách và vì thấy sự ngưỡng mộ của nhiều người đối với các “công thần” của FPT. Note này là tôi tự rút ra bài học cho chính mình, từ cuốn sách và từ những gì đang xảy ra với nó.

Tôi tiếp cận văn bản với tư cách là một môn học của đại học, được tác giả/giảng viên viết lại phổ biến rộng rãi ngoài môi trường đại học. Còn sách văn chương thì không nằm trong stt này ạ.

Tôi biết nhiều cuốn sách thực chất có nguồn gốc từ các bài giảng, các cuộc trò chuyện hoặc ghi chép nội bộ. Tuy nhiên, thông thường như kinh nghiệm của nhiều nhà giáo/nhà nghiên cứu thì có thể có 4 cách thức thể hiện cùng chuyển tải một nội dung, đó là Lời giảng/bài giảng, Giáo án, Giáo trình và Sách cho cộng đồng. Nhưng khi chuyển hóa từ loại này sang loại khác, nhất là để trở thành sách dành cho cộng đồng thì bản chất và chức năng của chúng cần phải thay đổi đáng kể. Cơ bản trên hai phương diện là cấu trúc và ngôn ngữ.

I.                  CẤU TRÚC

Có thể hình dung quá trình này như một chuỗi phát triển của tri thức:

Hình thức

Mục đích chính

Đối tượng

Đặc điểm

Lời giảng

Truyền đạt trực tiếp

Người nghe cụ thể

Tính khẩu ngữ, ứng biến, phụ thuộc ngữ cảnh

Giáo án

Hướng dẫn hoạt động dạy học

Giáo viên

Cấu trúc bài học, mục tiêu, phương pháp

Giáo trình

Hệ thống hóa tri thức

Người học

Tính chuẩn hóa, logic, có thể tự học

Sách cho cộng đồng

Chia sẻ tư tưởng, kinh nghiệm, cảm hứng

Công chúng rộng rãi

Tính kể chuyện, tính đối thoại, khả năng đồng cảm

1. Từ lời giảng đến giáo án: từ tri thức sống đến kịch bản sư phạm

Lời giảng là một sự kiện giao tiếp. Người giảng dựa vào đối tượng người nghe, bối cảnh, phản ứng của người học, cảm hứng tại thời điểm nói. Một bài giảng hay thường chứa nhiều yếu tố không thể ghi lại đầy đủ bằng văn bản: ngữ điệu, khoảng dừng, ví dụ ngẫu hứng, tương tác.

Trong khi đó, giáo án là bản thiết kế của bài giảng. Nếu lời giảng là "buổi biểu diễn", thì giáo án là "kịch bản đạo diễn". Giáo án quan tâm đến mục tiêu học tập, trình tự hoạt động, thời lượng, phương pháp đánh giá. Nó không nhằm truyền cảm hứng trực tiếp mà nhằm bảo đảm việc dạy học có thể được tái hiện.

2. Từ giáo án đến giáo trình: từ hoạt động dạy sang hệ thống tri thức

Giáo án trả lời câu hỏi: Hôm nay dạy cái gì và dạy như thế nào?

Giáo trình trả lời câu hỏi: Một lĩnh vực tri thức gồm những gì? Do đó giáo trình phải: có cấu trúc logic, có khái niệm, thuật ngữ, có tính hệ thống, có khả năng sử dụng lâu dài.

 Một giảng viên văn hóa Việt Nam có thể có hàng trăm giờ giảng, hàng chục giáo án, nhưng để viết thành giáo trình cần chọn lọc nội dung, chuẩn hóa khái niệm, xây dựng chương mục, bổ sung tài liệu tham khảo. Nói cách khác, giáo trình là tri thức đã được "đóng khung học thuật".

3. Từ giáo trình đến sách cho cộng đồng: từ tri thức chuẩn hóa đến tri thức có sức sống

Đây là bước chuyển thú vị nhất và cũng khó khăn nhất.

Nhiều người tưởng sách phổ thông là phiên bản đơn giản hóa của giáo trình. Thực ra không hẳn. Một cuốn sách dành cho cộng đồng không chỉ làm cho tri thức dễ hiểu hơn mà còn phải làm cho tri thức đáng quan tâm hơn.

Ví dụ: Giáo trình viết: “Văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra”. Nhưng sách cho cộng đồng có thể viết: “Tại sao người Việt thích ăn cơm chung mâm? Tại sao ngôi làng luôn quan trọng hơn cá nhân? Những điều ấy hé lộ cách người Việt nhìn thế giới”. Tức là Tri thức không mất đi, nhưng được chuyển thành: câu chuyện, trải nghiệm, tình huống, đối thoại...

Nếu giáo trình ưu tiên tính chính xác, thì sách cộng đồng phải cân bằng giữa: tính chính xác, sự hấp dẫn và khả năng lan tỏa.

4. Trường hợp Chuyện với Thanh

Tôi nghĩ cuốn Chuyện với Thanh là một ví dụ đáng suy ngẫm vì nó không phải giáo trình, cũng không hoàn toàn là tập hợp bài giảng. Điều nổi bật là cấu trúc đối thoại thầy – trò.

Ở đó, kinh nghiệm sống và tư duy của tác giả được trình bày như những cuộc trò chuyện với một người trẻ. Điều này làm cho tri thức không mang giọng điệu "giảng dạy", không bị ràng buộc bởi cấu trúc học thuật, tạo cảm giác đồng hành hơn là truyền thụ.

Nếu hình dung theo chuỗi trên: lời giảng → giáo án → giáo trình → sách cộng đồng

thì Chuyện với Thanh gần với một hướng phát triển khác: lời giảng → đối thoại → suy ngẫm → sách cộng đồng.

Chính vì vậy mà dễ sa vào tình trạng “sai một từ suy ngàn ý” 😊 Ở cuốn sách này, theo mình, điều được chuyển tải có lẽ không chủ yếu nhằm vào kiến thức “tư tưởng” mà là cách suy nghĩ, thái độ sống và kinh nghiệm cá nhân, là “Học tập và làm theo”.

5. Một cách nhìn khái quát

Có thể tóm tắt sự khác biệt bằng câu hỏi trung tâm của mỗi loại hình:

  • Lời giảng: Tôi nói gì với người nghe lúc này?
  • Giáo án: Tôi tổ chức việc học như thế nào?
  • Giáo trình: Tri thức của lĩnh vực này được hệ thống ra sao?
  • Sách cho cộng đồng: Làm thế nào để tri thức ấy trở thành một phần của đời sống người đọc?

Theo góc nhìn này, giá trị của một cuốn sách cộng đồng không nằm ở việc nó chứa bao nhiêu kiến thức, mà ở khả năng chuyển hóa kiến thức thành trải nghiệm nhận thức cho người đọc. Nói cách khác, giáo trình giúp người ta HIỂU BIẾT SÂU SẮC, còn sách cho cộng đồng thường giúp người ta NGẪM NGHĨ TỪ ĐÓ. Và những cuốn sách có sức sống lâu dài thường đạt được điều thứ hai.

II.               NGÔN NGỮ THỂ HIỆN

Tuy nhiên, vì sao “Chuyện với Thanh” gây ra phản ứng và các phản ứng thường dựa vào một số trích dẫn bị cho là “có ngôn ngữ không phù hợp”?

Nếu nhìn từ góc độ truyền thông tri thức, thì sự khác nhau cốt lõi giữa lời giảng, giáo án, giáo trình và sách cho cộng đồng không chỉ nằm ở nội dung mà còn nằm ở ngôn ngữ. Cùng một tri thức, nhưng mỗi loại hình đòi hỏi một "chế độ ngôn ngữ" khác nhau vì chúng phục vụ những tình huống giao tiếp khác nhau. Có thể hình dung như sau:

Loại hình

Bối cảnh giao tiếp

Đối tượng tiếp nhận

Đặc trưng ngôn ngữ

Lời giảng

Giao tiếp trực tiếp

Người nghe hiện diện

Khẩu ngữ, linh hoạt, giàu cảm xúc

Giáo án

Công cụ tổ chức dạy học

Giáo viên

Kỹ thuật, chỉ dẫn, ngắn gọn

Giáo trình

Truyền đạt tri thức chuẩn hóa

Người học

Chính xác, khái niệm hóa, hệ thống

Sách cộng đồng

Đối thoại với công chúng

Độc giả đa dạng

Gần gũi, kể chuyện, giàu liên tưởng

Ví dụ, cùng một ý tưởng: "Việc học không chỉ là tiếp nhận tri thức mà còn là quá trình tự kiến tạo năng lực tư duy."

Trong lời giảng người thầy có thể nói: Các em thử nghĩ xem, nếu chỉ học thuộc bài thì sau kỳ thi còn lại điều gì? Điều quan trọng hơn là trong quá trình học, các em học được cách suy nghĩ như thế nào. Túc là Ngôn ngữ mang tính đối thoại và tương tác.

Trong giáo án có thể ghi: Hoạt động: Thảo luận vai trò của tư duy phản biện trong quá trình học tập. Tức là Ngôn ngữ thể hiện tính thao tác và điều hành.

Trong giáo trình có thể viết: Học tập được hiểu là quá trình lĩnh hội tri thức đồng thời hình thành năng lực nhận thức và tư duy độc lập của chủ thể. Tức là Ngôn ngữ mang tính khái niệm và chuẩn mực.

Trong sách cho cộng đồng có thể viết: Nhiều người nghĩ học là chất thêm kiến thức vào đầu. Nhưng thực ra điều còn lại sau khi quên kiến thức mới là thứ quan trọng nhất: cách chúng ta nhìn nhận và giải quyết vấn đề. Như vậy Ngôn ngữ hướng tới sự đồng cảm và suy ngẫm.

Nếu liên hệ với trường hợp Chuyện với Thanh, tôi nghĩ đây chính là điểm đáng chú ý. Những ý tưởng của tác giả có thể đã xuất hiện trong các cuộc trò chuyện, các buổi chia sẻ hoặc thậm chí các bài giảng nội bộ. Nhưng khi trở thành sách, ngôn ngữ không còn là ngôn ngữ của người "dạy" nữa mà là ngôn ngữ của người "trò chuyện". Đó là một chuyển đổi rất quan trọng: từ diễn giải sang gợi mở; từ khẳng định sang đối thoại; từ truyền đạt kiến thức sang chia sẻ trải nghiệm; từ thuyết phục bằng lập luận sang thuyết phục bằng sự đồng cảm.

Nói theo ngôn ngữ học, mỗi loại hình văn bản đều có một cộng đồng diễn ngôn (discourse community) riêng. Giáo trình thuộc diễn ngôn học thuật; giáo án thuộc diễn ngôn sư phạm; lời giảng thuộc diễn ngôn giao tiếp trực tiếp; còn sách cho cộng đồng thuộc diễn ngôn công chúng. Khi chuyển từ diễn ngôn này sang diễn ngôn khác, tác giả không chỉ thay đổi cách viết mà còn phải thay đổi cả cách tổ chức tri thức, cách lựa chọn ví dụ, mức độ thuật ngữ và giọng điệu.

Giữa những ồn ào về cuốn sách, tôi nhớ đến thầy Trần Quốc Vượng, tất nhiên, MỌI SỰ SO SÁNH ĐỀU KHẬP KHIỄNG! Trong sự liên tưởng của tôi ấy là năng lực dịch chuyển tri thức giữa các hệ ngôn ngữ và các cộng đồng tiếp nhận khác nhau. Đây thực ra là một kỹ năng rất khó, và những tác giả làm được điều đó thường có ảnh hưởng rộng hơn phạm vi chuyên môn của mình. Bởi vì, một người giảng rất hay chưa chắc viết được giáo trình tốt, người viết giáo trình xuất sắc chưa chắc viết được sách đại chúng hấp dẫn.

Ai từng nghe Thầy giảng và đọc những gì Thầy viết, chắc sẽ đồng ý với tôi rằng, ở Thầy Trần Quốc Vượng chính là khả năng tuyệt vời đó! Tôi nghĩ đây cũng là một trong những lý do khiến ông có sức ảnh hưởng vượt ra ngoài phạm vi chuyên ngành. Điều đặc biệt ở ông không phải chỉ là khối lượng tri thức đồ sộ hay những phát hiện học thuật quan trọng, mà là khả năng làm cho cùng một hệ tư tưởng nghiên cứu có thể tồn tại trong nhiều hình thức diễn đạt khác nhau.

Chúng tôi học ở Thầy điều quan trọng đầu tiên là cẩn trọng khi viết bởi vì “giấy trắng mực đen, bút sa gà chết” 😊 Chắc chắn không phải lúc nào tôi cũng nhớ và thực hành đúng. Trường hợp Chuyện với Thanh một lần nữa nhắc tôi về bài học này!

 


 

Phản xạ văn hóa các vùng miền Việt Nam

_Nguồn:  https://logbasex.substack.com?utm_source=navbar&utm_medium=web Bản đăng lại từ bài viết trên trang Substack cùng tên của tác gi...