Nguyễn Thị Hậu (Tham gia Tọa đàm Cảnh quan đô thị, ngày 10.9.2026)
Người thành phố mỗi ngày đi lại trên
những con đường quen thuộc, nhìn thấy toàn cảnh quan quen thuộc nên ít khi nào tự
hỏi: vì sao thành phố lại có hình dáng như vậy? Sao
nhiều con đường chạy theo cùng một hướng? Những ngôi nhà, kiểu chợ, ngôi chùa, hội quán
khác nhau đã tập trung trong một khu vực như thế nào? Ngày xưa dòng kênh, bến sông này rất quan trọng nhưng sao bây giờ như bị đẩy ra khỏi đời sống thành phố?
Và bỗng có lần nào đó một ý nghĩ chợt đến, vì sao nơi ta sống, một hẻm nhỏ bình dị, xung
quanh không còn nhiều công
trình cổ, nhưng với ta
đó luôn là “một phần của Sài
Gòn”?
Bạn biết không, một thành phố không chỉ được tạo nên
bởi những gì chúng ta nhìn thấy hôm nay, mà nó còn được tạo bởi những gì từng tồn tại trước đó. Để
hiểu điều ấy có thể bắt đầu từ ba
khái niệm tưởng như rất gần nhau nhưng thực ra mỗi khái niệm lại cho một cách
nhìn khác về nơi ta sống: cảnh quan đô thị - địa tầng đô thị - không gian di sản.
Cảnh quan là những gì thành phố đang kể với chúng ta hôm nay
Khi
nói đến cảnh quan đô thị, chúng ta thường nghĩ đến những con đường, hàng cây,
dòng sông, những ngôi nhà, quảng trường, công viên, những khu phố, công trình... Nhưng cảnh quan không chỉ là những gì mắt nhìn thấy.
Bạn thử nhớ lại xem, một con đường có người đi lại, trên đó là những cửa hàng, quán ăn, những nghề nghiệp và bao nhiêu câu chuyện hàng ngày... Một khu chợ không chỉ là ngôi nhà lồng và những quầy hàng, mà còn là âm thanh, tiếng nói, mùi thức ăn, cách mua bán,
mối quan hệ giữa người bán và người mua. Một dòng sông không chỉ là mặt nước,
mà còn là giao thông, sinh kế, là ký ức và những câu chuyện của nhiều thế hệ.
Vì
thế có thể hiểu đơn giản, “cảnh quan đô thị” là diện mạo của một thành phố đang sống. Nó luôn thay đổi: Nhà cũ có thể được thay bằng nhà mới, một khu đất trở thành công viên, một bến sông chuyển thành đường ven sông, một khu phố có thể thay đổi thành khu chung cư
hiện đại... Nhưng dù thay đổi đến
đâu thì nơi ấy vẫn còn
những dấu vết của quá khứ. Muốn
nhìn thấy những dấu vết ấy, chúng ta cần một cách nhìn khác. Đó là địa tầng đô thị.
Địa tầng là những lớp thời gian
trong lòng thành phố
Bạn hãy thử hình dung thành phố giống như một cuốn sách dày, chúng ta mở
ra và đọc một trang
là TP.HCM hôm nay. Nhưng
cuốn sách còn rất nhiều trang
đã được viết trước đó, về một Sài Gòn xưa. Một
con đường hôm nay nằm
trên “đường thiên lý” xưa từ Gia Định thành ra kinh đô Huế hay lên miền biên ải
Tây Nam. Một khu phố mới đã được hình thành trên nền một làng cổ hay khu dân cư lâu đời. Một bến cảng hiện đại có thể nằm trong không gian vốn đã có lịch sử giao
thương hàng trăm năm.... Trừ khi bị chiến tranh hay thiên tai tàn phá, thành phố không phải lúc nào cũng phá bỏ
hoàn toàn cái cũ để xây cái mới. Thường xuyên ta bắt gặp cái mới chồng lên cái cũ, có cái cũ vẫn còn nguyên, có cái chỉ còn một phần. Có cái biến mất nhưng để lại dấu vết, có cái không còn nhìn thấy nữa nhưng vẫn
tồn tại trong tên đất, tên đường, trong ký ức của người dân. Đó chính là những điều được gọi là “địa tầng đô thị”.
Nếu
cảnh quan cho chúng ta nhìn thành phố theo chiều ngang của không gian, thì địa
tầng giúp chúng ta nhìn thành phố theo chiều
sâu của thời gian. Nhìn
theo cách ấy, chúng ta sẽ thấy một thành phố rất khác. Như
TP.HCM chẳng hạn, có một lớp sông nước
với sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, các kênh rạch, vùng đất thấp và hệ thống giao
thông thủy từng giữ vai trò quyết định đối với việc con người cư trú và đi lại. Trên đó hình thành lớp cảng thị gồm những bến sông, nơi trao đổi hàng hóa,
kho bãi, làng nghề, chợ và các tuyến giao thương. Rồi xuất hiện lớp đô
thị Gia Định, với thành lũy, đường sá, trung tâm hành chính và cấu trúc
đô thị mới. Sau đó là lớp Sài Gòn thời thuộc địa,
với những đại lộ, công sở, nhà ga, bưu điện, nhà thờ, chợ, công trình công cộng
và một mô hình đô thị mới. Song
song với đó là lớp Chợ Lớn, một đô thị mà thương mại, cư trú, tín ngưỡng hòa trộn vào nhau,
nơi văn hóa của cộng
đồng người Hoa cùng nhiều cộng đồng khác tạo nên một diện mạo rất độc đáo.
Rồi
đến đô thị thế kỷ XX, đó là những khu dân cư, trường học, bệnh
viện, nhà máy, công trình văn hóa và những không gian mới của đời sống đô thị. Và sang thế kỷ XXI hôm nay một lớp mới
đang được hình thành, siêu đô thị TP.HCM với những tuyến giao
thông hiện đại, những cây cầu,
metro, các trung tâm thương mại, không gian ven sông và các vùng đô thị mở rộng
đang tạo nên một diện mạo mới, một cảnh quan mới... Nhưng hình thành lớp mới không có nghĩa là những lớp cũ
hoàn toàn biến mất. Chúng
vẫn ở đâu đó và có
thể nằm sâu trong
cấu trúc thành phố, trong ký ức cộng đồng. Chính từ đây, “địa tầng đô thị” và “không gian di
sản” gặp nhau.
Không gian di
sản là những gì được lưu giữ lại
Tất nhiên, không phải
tất cả cái cũ đều là di sản. Một ngôi nhà cũ có
thể không còn giá trị đặc biệt, nhưng nó trở nên có ý nghĩa nếu gắn với một sự kiện, một nhân vật hoặc một bối cảnh lịch sử đặc biệt. Một con đường có thể không có công
trình nổi tiếng nào, nhưng lại rất quan trọng bởi nó giữ được cấu trúc của một
khu phố cổ. Một khu chợ có thể đã thay đổi gần như
hoàn toàn về kiến trúc, nhưng trở thành không gian di sản nếu cách thức buôn
bán, quan hệ cộng đồng và ký ức về
nơi ấy vẫn còn. Một
dòng sông có thể không có di tích nào bên cạnh, nhưng bản thân dòng sông và
cảnh quan hai bên đã là
một phần rất quan trọng cấu thành diện mạo và lịch sử thành phố.
Vì
thế di sản không
là những gì từ quá khứ để lại. Di sản là
những gì của quá khứ mà
hôm nay chúng ta nhận ra những giá trị và
muốn trao lại cho tương lai. “Không gian di
sản” không chỉ là không gian vật lý mà còn
bao hàm những giá trị và ý nghĩa của nó.
Vậy là chúng ta có một mối quan hệ
không - thời gian trong đô thị: Cảnh quan hiện tại → Địa tầng quá khứ → Không
gian di sản. Ba khái niệm này gần nhau nhưng không đồng nhất. Cảnh quan đô
thị cho chúng ta biết thành phố đang như thế nào? Địa tầng đô
thị giúp trả lời câu hỏi: thành phố đã trở thành như thế này bằng
cách nào? Và không gian di sản đặt ra cho ta câu hỏi: trong hành trình phát triển của đô
thị, điều gì đáng được
giữ lại và trao cho các thế hệ mai sau?
Tuy nhiên, câu chuyện không dừng ở đó. Khi chúng ta bảo tồn một không gian di
sản, không gian ấy lại trở thành một phần của cảnh quan mới. Như
vậy, mối quan hệ ấy thực sự là một vòng tròn xoáy ốc, qua thời
gian ngày càng cao và rộng hơn. Nói cách khác: Di sản không chỉ là quá khứ của
thành phố. Di sản còn tham gia tạo nên cảnh quan của thành phố tương lai. Càng
bảo tồn, thành phố càng rộng về không gian di sản và sâu về địa tầng lịch sử,
cảnh quan đô thị càng dày hơn bởi ký ức và cảm xúc.
Cảnh quan và di sản làm cho TP.HCM không có “diện mạo” duy nhất và đồng nhất. Sài Gòn của chúng ta vừa là thành phố sông nước vừa là cảng
thị; vừa mang dấu ấn vùng đất Gia
Định vừa có những kiến
trúc thuộc địa; vừa có Sài Gòn vừa có Chợ Lớn; vừa có những khu phố cũ vừa có
những đô thị mới. Những điều đó chồng xếp lên nhau mà không
loại trừ nhau. Bản sắc của thành phố nằm trong sự chồng lớp và dung hòa ấy.
Bảo tồn không gian di sản trong cảnh quan đô thị
TP.HCM đang bước vào một cơ hội mới để thành phố trở nên hiện đại hơn, rộng
lớn hơn và mạnh mẽ hơn. Nhưng chính trong thời điểm thay đổi lớn lao như vậy câu hỏi về di sản văn hóa càng trở nên quan trọng: Chúng ta muốn trở thành một thành phố hiện đại như thế nào? Chắc chắn câu trả lời không phải là giữ nguyên như cũ, cũng không phải xóa bỏ hết những gì cổ
xưa để xây dựng một thành
phố hoàn toàn mới. Câu trả lời đúng là làm sao cho cái mới có khả năng tiếp nối cái cũ, cái cũ nâng đỡ cái mới và cái mới tôn vinh cái cũ.
Vậy mới thấy vai
trò quan trọng của
mỗi con người: chúng ta
được sử dụng những tiện ích của
thành phố đồng
thời cũng đang viết thêm một
“lớp mới” vào địa tầng của thành phố. Cảnh quan là
thành phố chúng ta đang sống, địa tầng là
lịch sử đã làm nên thành phố này và di sản là
những giá trị chúng ta lựa chọn giữ lại để thành phố
không quên chính mình.
Từ tư duy “bảo tồn di tích” sang hành động “bảo tồn không gian di sản trong
cảnh quan đô thị”, đối
với TP.HCM hay bất cứ đô thị
nào, đây không chỉ là vấn đề của ngành văn hóa hay bảo tồn, mà là một vấn đề của cả xã hội: từ quy hoạch đô thị và kiến trúc đến môi trường, giao thông, từ kinh tế, du lịch đến giáo dục và an sinh, đặc biệt là chất
lượng sống của cộng đồng.
Một
thành phố hiện đại, một thành
phố đáng sống không phải là một thành phố không còn dấu vết của quá khứ, đó là nơi mà quá khứ vẫn có khả năng hiện diện,
được nhận biết và tiếp tục đối thoại với hiện tại. Bởi vì mục tiêu cuối cùng của bảo tồn di sản
không phải là giữ lại một thành
phố “cổ kính”, mà
là giúp thành phố phát triển nhưng
không đánh mất khả năng nhận biết mình đã trở thành chính mình như thế nào.
Thành phố cũng như con người, khi hiểu mình đã từ đâu đến
mới nhận thức được hiện tại mình đang ở đâu và biết mình muốn đi đến đâu.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 4.9.2026
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét