Hiển thị các bài đăng có nhãn midnight talks. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn midnight talks. Hiển thị tất cả bài đăng

Note nhân Talk của GS. Pascal Bourdeaux (5.1.2024)

 

[Nhìn lại hai thập kỷ nghiên cứu ĐBSCL từ lịch sử - văn hóa đến các nghiên cứu về môi trường và triển vọng mới trong ngành Nhân học số]

1. Vài suy nghĩ.

Nghiên cứu lịch sử (chung/các lĩnh vực văn hóa, tôn giáo...) ĐBSCL cần thiết phải liên ngành, đa ngành, xuyên ngành. Lịch sử kể/lịch sử gia đình, dòng họ vô cùng quan trọng vì vẫn còn ký ức hồi cố lịch sử khoảng hơn 200 năm.

Từ góc tiếp cận “nhà sử học” thì lịch sử các thành tố văn hóa như tôn giáo, tín ngưỡng, kinh tế... các hiện tượng “văn hóa sông nước, văn minh miệt vườn”... có gì khác góc tiếp cận của nhà nhân học, nhà văn hóa học? Sử liệu thành văn có vai trò như thế nào khi nghiên cứu “thời thuộc địa”? [Tư liệu từ chính quyền thuộc địa, báo chí, tác phẩm khảo cứu, văn học, gia phả, giấy tờ hành chính thể hiện hoạt động trong xã hội...]

Nhà sử học luôn cần đi thực địa và tiếp cận, tiếp xúc trực tiếp với đời sống xã hội, tìm hiểu quá khứ thông qua chiêm nghiệm thực tại, qua con người hiện đại. Ở giai đoạn này nhà sử học như một nhà nhân học: quan sát, tiếp xúc, trải nghiệm, trao đổi... vừa như “người ngoài” để khách quan vừa như “người thuộc cộng đồng” để hiểu nội tại. [Trường hợp của tôi cũng vậy, khi tiếp nhận và được tiếp nhận vào không gian văn hóa Nam bộ của gia đình, tôi vừa là chủ thể vừa là khách thể, trong tôi có sự biến đổi nhất định” trong gien văn hóa Nam bộ được di truyền và qua trải nghiệm]

2. Nghiên cứu về ĐBSCL đến nay có một số “nút thắt”:

- Nhìn ĐBSCL trong thiên kiến: vùng đất mới, thiên nhiên ưu đãi, làm chơi ăn thiệt! Không có “truyền thống 4000 năm” nên chưa có di sản văn hóa quý giá để /phải lưu giữ.

- Lịch sử vùng đất Nam bộ gắn liền với thời chúa Nguyễn và Triều Nguyễn; vai trò của người Hoa bên cạnh lưu dân người Việt. Định kiến về vị trí vai trò nhà Nguyễn trong lịch sử cận hiện đại VN; “ác cảm” với người Hoa do lịch sử chiến tranh trong quá khứ và tình hình hiện nay.

- Kinh tế ĐBSCL với các hiện tượng văn hóa như chợ nổi, văn minh miệt vườn, tập trung ruộng đất... mang yếu tố kinh tế thị trường rất sớm: sản xuất lớn, thông thương giữa các “miệt”, hình thành chợ đầu mối và thị tứ. Phương thức kinh tế thị trường thay đổi sẽ làm ảnh hưởng đến các hình thái kinh tế ở Nam bộ.

- Biến đổi khí hậu có tác động lớn đến ĐBSCL, trong quá khứ đã từng có hiện tượng “nước biển dâng”. “Thuận thiên” và sống chung với BĐKH là tất yếu hiện nay, đòi hỏi cần có những cơ sở vật chất để đáp ứng nhu cầu mới, theo điều kiện và hoàn cảnh đặc thù của vùng này.

- Quan tâm đến BĐKH ở ĐBSCL đừng chỉ vì đây là vựa lúa của cả nước, vì “an ninh lương thực”, mà trước hết phải vì hàng chục triệu người dân ở đây, những người sẽ tiếp tục làm ra của cải trong điều kiện mới nếu họ thực sự được tôn trọng, quan tâm, được đối xử bình đẳng và có cơ chế chính sách “để [yên] cho họ [được] làm!”

- Vị thế chính trị của miền Nam/ĐBSCL sau 1975 không còn như trước, đây là yếu tố quan trọng tác động vào mọi mặt đời sống.Vai trò quan trọng của kinh tế ngày càng lớn nhưng vị thế chính trị và giá trị văn hóa Nam bộ chưa được coi trọng tương xứng với vai trò kinh tế.





Giới tinh hoa Việt Nam giai đoạn Pháp thuộc (vài nhận thức)

NỘI DUNG CỦA BUỔI TRÒ CHUYỆN

Nền giáo dục của Pháp ở xứ thuộc địa dù muốn hay không vẫn phải truyền bá những tri thức và sự nhân văn của nhân loại, trong đó có một số giá trị cơ bản của con người và dân tộc/quốc gia như Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Chưa kể trong giới giáo chức Pháp (và những người Pháp) ở VN nói chung không phải tất cả đều mang đầu óc thực dân. Điều đó góp phần tạo nên một tầng lớp tinh hoa người bản xứ. Một mức độ nào đó thì nền giáo dục thực dân ở VN đã đóng vai trò phản biện.
Từ thực tiễn gia đình và quan sát cá nhân một số trường hợp tri thức Nam bộ, thì nhiều trí thức Nam bộ khi tiếp nhận nền giáo dục thuộc địa, nhất là những người du học tại Pháp có được sự tiếp xúc rộng rãi với nhiều người Pháp trong một xã hội tự do và dân chủ hơn ở trong nước. Vì vậy họ vận dụng, sử dụng những tri thức được tiếp nhận để tìm hiểu về thực trạng xã hội, nhận biết được sự mất độc lập, bất bình đẳng, bất công giữa chính quốc và thuộc địa ... Từ đó họ phản đối thậm chí chống lại chính quyền thuộc địa vì hiểu được một giá trị nhân loại là Độc lập dân tộc. Đối với VN lúc ấy giá trị quan trọng nhất cũng là nhu cầu cấp thiết nhất là đấu tranh giành độc lập dân tộc.
Trong thời Pháp thuộc người thuộc tầng lớp tinh hoa là người luôn xác định giá trị của cá nhân mình phù hợp với giá trị của quốc gia. Những người hướng đến và hành động bằng những cách khác nhau để thực hiện hệ giá trị đó thì đó là tinh hoa. Tinh hoa luôn là “đỉnh của chóp” trong tầng lớp tri thức, thượng lưu của xã hội.
Tinh hoa không ở địa vị, bằng cấp hay tiền tài. Tinh hoa không chỉ là phẩm chất cá nhân tốt đẹp mà còn là sự phù hợp của phẩm chất cá nhân với giá trị cốt lõi của dân tộc và không đi ngược giá trị nhân văn của nhân loại. Tầng lớp tinh hoa luôn có trách nhiệm và nghĩa vụ khai mở, thực hành và dẫn dắt dân tộc đi theo những giá trị nhân văn của nhân loại như độc lập, tự do, dân chủ, bình đẳng, hòa bình... Nếu không làm được điều đó thì không thể được coi là tinh hoa.
***

VÀI SUY NGHĨ VỤN

Về lý thuyết, nhìn chung, hệ thống giá trị cơ bản được cấu thành bởi 3 loại giá trị: (1) Giá trị phổ biến; (2) Giá trị nhóm; (3) Giá trị cá nhân [1].

Giá trị phổ biến (hay giá trị nhân loại) là những giá trị được sản sinh qua quá trình phát triển lâu dài của nhân loại, là kết tinh của những phẩm chất về đạo đức, văn hoá, lẽ sống, ứng xử... và được cả nhân loại thừa nhận bất kể dựa trên lập trường nào. Đó là tự do, bình đẳng, bác ái, hòa bình, độc lập, dân chủ, trung thực, trách nhiệm, khoan dung, yêu thương… Luôn hướng đến, thừa nhận và thực hành những giá trị nhân loại thể hiện một lí trí lành mạnh, không đi ngược với xu thế phát triển tất yếu của nhân loại.

Giá trị nhóm. Mỗi người đồng thời thuộc về nhiều nhóm xã hội khác nhau. Các nhóm xã hội có thể được hình thành từ địa vị xã hội, nghề nghiệp, hoàn cảnh sống, lứa tuổi, quyền lợichung... Trong quá trình tồn tại, các nhóm xã hội sản sinh ra những giá trị riêng của nhóm. Nhóm còn là những giai cấp trong xã hội. Nếu giai cấp nào xác lập giá trị phù hợp giá trị chung, thể hiện vai trò trách nhiệm của nhóm đối với xã hội, các thành viên của nhóm hướng đến và tuân theo giá trị nhóm mình, thì nhiều khả năng trở thành nhóm tiên tiến đóng góp vào vai trò dẫn dắt xã hội phát triển.

Nhóm nhỏ “hạt nhân” của xã hội là gia đình có những giá trị chung như yêu thương, hiếu thuận, gắn bó, đùm bọc giúp nhau… Từ gia đình hình thành dòng họ, làng xã là những nhóm cộng đồng có nét văn hóa riêng và chung… tất cả hợp thành và tạo nên bản sắc dân tộc, quốc gia,.

Giá trị cá nhân. Mỗi người từ sự hiểu biết riêng của mình và từ tâm lí cá nhân mà có những đánh giá riêng, sở thích riêng, mô hình riêng... Từ đó hình thành những phẩm chất/giá trị riêng. Dù giá trị cá nhân hay tâm lý cá nhân có khác nhau nhưng những phẩm chất/giá trị cơ bản phù hợp với giá trị nhóm và giá trị phổ biến sẽ giúp cá nhân luôn hướng thiện và hoàn thiện bản thân. Tuy nhiên trong thực tế mỗi cá nhân là một thực thể, vì vậy chịu ảnh hưởng từ gia đình, môi trường xã hội, những giá trị nhóm hay giá trị phổ biến được các cá nhân coi trọng, hướng đến với mức độ khác nhau.

Ví dụ, nhóm nghề nghiệp viết sử xác lập giá trị/phẩm chất là sự trung thực, sự tường minh, thông tin lịch sử chính xác, khách quan, khoa học. Đấy là những phẩm chất riêng của từng cá nhân đồng thời cũng là giá trị chung của một nghề nghiệp, cũng là những phẩm chất tốt đẹp của con người, của nhiều nghề nghiệp mà xã hội thừa nhận.

Ba loại giá trị trên đây hợp thành một hệ thống giá trị thể hiện trong mỗi con người, mỗi nhóm, mỗi quốc gia. Cũng từ hệ thống này mà con người xem xét, đánh giá, nhận thức… mọi hiện tượng xã hội. Từ đó đưa đến những ứng xử giữa cá nhân với nhau và với cộng đồng, hay ngược lại, cộng đồng ứng xử với cá nhân/nhóm.

Do vậy, hệ giá trị quốc gia, văn hóa hay gia đình đều dựa trên nền tảng hệ giá trị cá nhân – con người luôn là nhân tố quyết định! Hệ giá trị cá nhân lại được xây dựng thông qua “di truyền văn hóa” ở gia đình, qua xã hội từ hệ thống giáo dục, hệ thống luật pháp. Kinh nghiệm và bài học của nhiều quốc gia đã cho thấy, gìn giữ và bảo vệ truyền thống tốt đẹp của lịch sử - văn hóa dân tộc là một trong những cơ sở, nền tảng quan trọng nhất cho quốc gia phát triển bền vững. Bởi vì đó là những thành tố quan trọng góp phần hình thành và xây dựng hệ giá trị chuẩn mực của từng quốc gia.

Chỉ khi nào hệ giá trị xuất phát từ bản sắc văn hóa dân tộc trong hoàn cảnh xã hội mới, tích hợp giá trị của thời đại, hướng đến khát vọng của dân tộc và nhân dân thì khi ấy, những giá trị tốt đẹp sẽ “thẩm thấu”  vào cuộc sống, những “giá trị” lý luận cao siêu mới mang tính thực tiễn, trở thành đạo đức, lối sống hàng ngày trong xã hội. Khi ấy đất nước sẽ thực sự thay đổi vì mỗi con người có đầy đủ phẩm chất và phẩm giá con người.

Không có tầng lớp tinh hoa thì việc xây dựng các "hệ giá trị mang tính nhân văn, toàn cầu" là không tưởng.

[1] http://lichsu.tnus.edu.vn/chi-tiet/519---NHAN-THUC-KHACH-QUAN-TRONG-SU-HOC

Cám ơn ba diễn giả của midnight talks đã mang lại nhiều kiến thức và sự đồng cảm.
À, Tinh hoa rất khác tinh bông và đương nhiên không thể như tinh tinh
🙂






ÁO DÀI - "BẢO TỒN" TRONG XÃ HỘI NHƯ THẾ NÀO?


Áo dài – nhất là áo ngũ thân của nam giới, như nhiều sản phẩm văn hóa truyền thống khác, được coi là chứa đựng nhiều ý nghĩa về đạo đức, triết lý... Nhưng từ góc độ kỹ thuật sản xuất thì hình thức hay các chi tiết của sản phẩm văn hóa ấy trước khi mang ý nghĩa hay triết lý thì đều bắt đầu từ tính chất của nguyên liệu chính, phụ, tính chất hay những thuộc tính của nguyên liệu sẽ “quy định” kỹ thuật làm ra sản phẩm.
Như áo dài của phụ nữ Việt đã trải qua nhiều lần cách tân và chắc sẽ còn tiếp tục thay đổi. Sự “cải tiến” của áo dài không thể tách rời sự phát triển của kỹ thuật dệt vải, may mặc và những phụ kiện, chất liệu mới. Từ khổ vải hẹp dệt tay khung “ngang người” đến khung rời, rồi dệt máy... Chất liệu phong phú đa dạng phù hợp thời tiết, vệ sinh... Nhiều phụ kiện “kỹ thuật” khác... Vì vậy đã có những “biến tấu” ở cổ áo, tay áo, hiện nay là dây kéo sau thay hàng nút bấm… đó là những thay đổi theo chiều hướng tích cực mang lại vẻ hiện đại cho áo dài. Tuy nhiên, những yếu tố chính tạo nên sự đặc sắc của áo dài của nữ giới như độ dài vạt áo khoảng trên/ngang gấu quần, độ ôm ở vai, eo, kết hợp với quần lụa mềm mại… cần phải bảo tồn và đến nay được bảo tồn khá tốt.
Áo ngũ thân của Nam giới không được bảo tồn và phổ biến đến nay như áo dài nữ, theo tôi vì một vài lý do, trong đó có việc nam giới tham gia cộng việc và giao tiếp xã hội nhiều hơn trong thời gian Pháp xâm lược VN, vì vậy chịu ảnh hưởng về trang phục và nhiều yếu tố văn hóa khác nhiều qua tiếp xúc xã hội. Trang phục nữ bao giờ cũng được bảo tồn tốt hơn theo nguyên lý “văn hóa mẹ”. Nếu coi áo dài truyền thống của nữ là một loại “quốc phục” thì áo dài ngũ thân cài khuy của nam giới cũng có giá trị như vậy. Tuy nhiên, phục cổ nhưng nếu đừng quá nệ cổ thì chiếc áo ngũ thân có lẽ vẫn cần sự cải tiến – trên cơ sở bảo tồn một số yếu tố cơ bản như hình dáng, đơn sắc, khuy áo - cho phù hợp với thời này.
Chiếc áo dài của phụ nữ Việt nhờ sự cải tiến vậy mà đã tồn tại qua nhiều thời kỳ lịch sử. Hay nói cách khác, chiếc áo dài phụ nữ không phải gánh vác tránh nhiệm nặng nề về “ý nghĩa, triết lý” nên nó tự “giải phóng” để thích nghi với thời gian mà vẫn giữ được tính chất “biểu tượng văn hóa” của phụ nữ Việt. Áo dài nữ xưa hay áo ngũ thân là lớp trầm thích văn hóa sẽ được gìn giữ "nguyên bản" cho đời sau chiêm ngưỡng bằng các phương thức bảo tồn như bảo tàng và phương tiện kỹ thuật, truyền thông đa phương tiện khác.
Muốn gìn giữ “tâm hồn Việt”, dung hòa giữa truyền thống và hiện đại thì cần có sự hiểu biết đến nơi đến chốn về văn hóa nói chung và từng thành tố nói riêng, như trường hợp chiếc áo dài của phụ nữ Việt Nam. Đồng thời tránh tâm lý “so sánh” với những trang phục cổ các quốc gia khác, so sánh với xu hướng thời trang của thế giới rồi mặc cảm tự ti hoặc tự tôn quá đáng. Ung dung tự tại khi hiểu rõ “ta là ai, ta như thế nào” thì sẽ vừa giữ gìn vừa phát triển văn hóa truyền thống phù hợp thời đại mới.
@ Note nhân #midnighttakls 26 về Cổ phục việt qua áo ngũ thân truyền thống.
Hình: trình diễn áo dài ngũ thân truyền thống.



MIDNIGHT TALKS SỐ 23: DI SẢN ĐÔ THỊ SÀI GÒN - CÒN HAY MẤT?

 MIGNIGHT TALKS tối qua về DI SẢN SÀI GÒN CÒN HAY MẤT

@ Nội dung trao đổi dù rất sôi nổi thậm chí "gay cấn" nhưng chỉ mới được một phần những gì chúng tôi muốn đặt ra:
- Di sản đô thị SG có hay không?
- Nếu có, đó là những gì?
- Di sản đô thị Sài Gòn đang trong tinh trạng nào?
Do hết thời gian, thậm chí đã quá hơn 1 tiếng (kết thúc lúc 12g đêm), nên những vấn đề khác cũng rất cần thiết thì chưa trao đổi được nhiều. Như, Vì sao cần bảo tồn di sản đô thị? Làm thế nào để bảo tồn, gìn giữ di sản đô thị Sài Gòn?
Thiếu những nội dung này thì cũng chỉ dừng lại ở việc phản ánh thực trạng, kêu ca, và như nhiều vấn đề khác, lại chỉ nhìn thấy nguyên nhân chính quyền đã không làm được vai trò của mình trong vấn đề bảo tồn di sản.
Tất nhiên, nguyên nhân này không sai, nhưng nếu chỉ thấy vậy thì như mọi hiện tượng xã hội khác, việc thay đổi tốt hơn sẽ còn xa vời. Điều cần thiết là bắt đầu từ sự thay đổi của mỗi người về nhận thức và hành động! Sâu xa hơn là sự thay đổi về tâm thức văn hóa/nhìn nhận lại quá khứ một cách khách quan hơn về một vùng đất mà nó không MỚI như người ta vẫn tưởng!
@ Di sản văn hóa nói chung, di sản đô thị nói riêng, cần được coi là tài sản, nguồn vốn xã hội quan trọng và lâu dài, chứ không phải là một “gánh nặng” của việc bảo tồn, trùng tu hay là sự cản trở quá trình “hiện đại hóa”. Do vậy, di sản cần được bảo vệ, thậm chí phải nằm ngoài sự “tranh cãi” giữa “bảo tồn và phát triển”, để có thể chính danh tham gia vào những quy hoạch chiến lược phát triển của đô thị, của quốc gia.
Ứng xử với di sản văn hóa thể hiện trình độ văn minh của một xã hội.
Chủ thể của văn hóa đô thị không phải là con người nói chung, mà đó là con người làm gạch nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, tức là con người có ký ức về dĩ vãng, hiểu biết và quý trọng di sản. Di sản còn được coi là “ký ức tập thể” có vị trí quan trọng ở thành thị, nơi mà mối liên hệ và tính gắn kết của cộng đồng chưa sâu bền bằng ở nông thôn.
Di sản đô thị còn giúp cho các cộng đồng dân cư hiểu biết và hòa hợp với nhau, vì đô thị là nơi luôn thu hút người nhập cư, nhất là Sài Gòn/Nam bộ được hình thành và phát triển không thể thiếusự đóng góp của cộng đồng dân cư từ miền Trung, miền Bắc trong nhiều thời kỳ lịch sử…
Một vấn đề luôn được đề cập đến trong quy hoạch đô thị lâu nay, đó chính là bài toán giữa bảo tồn di sản và phát triển đô thị: lựa chọn lợi ích về kinh tế hay văn hoá lịch sử? lợi ích đường dài hay chỉ là trước mắt? lợi ích của cộng đồng hay lợi ích nhóm?
Vai trò của chính quyền Thành phố quyết định “số phận” của di sản đô thị. Cùng với đó là vai trò quan trọng của cộng đồng, bao gồm các nhà nghiên cứu, dân cư... Hiện nay hà đầu tư địa ốc có tác động trực tiếp và gián tiếp vào sự tồn tại di sản của thành phố.
Hy vọng việc bảo tồn di sản văn hóa đô thị sẽ có những thay đổi tích cực, bắt đầu từ nhận thức của mỗi người và sự tham góp tích cực của cộng đồng.
Có thể là hình ảnh về 3 người và văn bản

MIDNIGHT TALKS SỐ 23: DI SẢN ĐÔ THỊ SÀI GÒN - CÒN HAY MẤT?

⏰Thời gian: 21 - 23h, thứ 7 ngày 22/01/2022
Từ sau 1975, Việt Nam chấm dứt thời kỳ chiến tranh bước vào một thời đại mới, thời đại hòa bình, độc lập và thống nhất. So với nhiều nơi khác ở Việt Nam và trên thế giới, Sài Gòn có một điều cực kỳ may mắn là bước vào hòa bình với một đô thị mà cơ sở vật chất còn gần như nguyên vẹn, đặc biệt là các công trình có giá trị di sản ở khu vực trung tâm vẫn nguyên vẹn!
Điều này có ý nghĩa rất lớn với một thành phố trẻ như Sài Gòn, mới hình thành được khoảng 300 năm và xây dựng đô thị chỉ khoảng trăm năm. Những công trình còn sót lại ấy đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau của lịch sử thành phố và cùng nhau tạo thành một hệ thống di sản, những dấu ấn riêng của Sài Gòn.
Gần 50 năm qua, thành phố phát triển nhanh chóng theo xu hướng hiện đại hóa, diện mạo thành phố hay đổi nhanh chóng, đặc biệt là vùng ngoại thành. Ở khu trung tâm, hạ tầng giao thông và cảnh quan đường phố cũng thay đổi chóng mặt. Khu trung tâm (ngày trước là thành Gia Định), là vùng lõi phát triển lâu đời, là nơi từng con đường, góc phố đều chứa đựng các giá trị lịch sử, văn hóa và ký ức đô thị Sài Gòn
Có thể kể đến một số công trình kiến trúc tiêu biểu như: Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Thành phố, Bảo tàng Mỹ thuật (nhà chú Hỏa), Nhà hát Thành phố, Chợ Bến Thành, Ủy ban nhân dân TP (Dinh Xã Tây, Tòa đô chánh), Thương xá Tax, Dinh Độc Lập, Khám Chí Hòa, Dinh Thượng thơ, Nhà thờ Huyện Sĩ, Nhà thờ Tân Định, Nhà thờ Thánh Jeanne d'Arc, Sở Giao dịch Chứng khoán, Khách sạn Majestic Saigon, Khách sạn Continental….
Nhiều công trình di sản đã bị hư hỏng, bị phá bỏ (như Thương xá Tax), bị lên kế hoạch phá bỏ (như Dinh Thượng thơ). Các công trình hiện đại xuất hiện ngày càng nhiều và trở thành những biểu tượng mới của Sài Gòn như Bitexco, Hầm Thủ Thiêm, Landmark 81…
Nhưng vẫn còn đó rất nhiều công trình với phong cách kiến trúc khác nhau, chức năng khác nhau, tuổi đời khác nhau, giá trị văn hóa - lịch sử khác nhau…và cùng nhau tạo nên cái hồn cho đô thị Sài Gòn hơn 300 năm tuổi.
👉 Diễn giả tham dự chương trình:
- Host: PGS. TS Nguyễn Đức Thành, Chuyên gia kinh tế, người sáng lập, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chiến lược (VESS).
Diễn giả:
- TS. Nguyễn Thị Hậu, Nhà nghiên cứu khảo cổ học, văn hóa học và còn được biết đến với bút danh Hậu khảo cổ. Chị là tác giả nhiều đầu sách về văn hóa, lịch sử, di sản vùng Nam Bộ và Sài Gòn
- Nhà báo Trần Hữu Phúc Tiến, Cựu nhà báo của báo Tuổi trẻ và Thời báo Kinh tế Sài Gòn, tu nghiệp báo chí tại Đại học Oxford. Anh hiện là giám đốc công ty Hợp điểm chuyên về Anh văn và du học. Là một người nghiên cứu nhiều về Sài Gòn, anh thường viết các bài viết về di sản Sài Gòn cho Tạp chí Người Đô Thị và viết các đầu sách về Sài Gòn.
👉 Quý khán giả quan tâm, xin kính mời đặt câu hỏi cho diễn giả tại: https://forms.gle/kzqYbP5cLwJJJLGR8
Chương trình được phát trực tiếp trên kênh Facebook Fanpage và Youtube Channel của Midnight Talks.
____________________
Midnight Talks là chuỗi hoạt động được diễn ra tối thứ 7 hàng tuần, với mong muốn tạo ra không gian để cùng bàn luận, chia sẻ về những câu chuyện lịch sử, chính trị xã hội, những vấn đề "cực nóng" đã và đang diễn ra trong và ngoài nước. Chuỗi sự kiện do anh Nguyễn Cảnh Bình, Chủ tịch Công ty CP Sách Alpha, Chủ tịch Công ty Omega+ và là Viện trưởng Viện lãnh đạo ABG khởi xướng.
____________________
Theo dõi và xem lại chương trình qua:
📷Youtube và Facebook: Midnight Talks
Liên hệ chúng mình qua:
📩Email: midnighttalks.t7@gmail.com
Tham gia cộng đồng của chúng tôi: https://www.facebook.com/groups/metamindsnetwork




“NHỮNG CỘNG ĐỒNG TƯỞNG TƯỢNG” – VÀI SUY NGHĨ RỜI

Talks về công trình NHỮNG CỘNG ĐỒNG TƯỞNG TƯỢNG - suy nghĩ về nguồn gốc và sự lan truyền của chủ nghĩa dân tộc

VÀI SUY NGHĨ RỜI 

1/ Nhiều năm trước, tôi nhớ có đọc bản dịch “Cộng đồng tưởng tượng” (không có chữ “những”) ở Thư viện KHTH TPHCM trong một lần tình cờ đến đây đọc tài liệu, nhìn thấy tên sách gây nên sự tò mò. Nhưng thú thật, lúc đó tôi đã cố gắng đọc cuốn sách này nhưng không hiểu gì cả, bởi hệ thống thuật ngữ và lý thuyết khá xa lạ với tôi, và cũng bởi lúc đó tôi chưa nhận thức được gì về “chủ nghĩa dân tộc”. Hay nói đúng hơn, lúc đó, thế hệ chúng tôi chỉ biết đến cái gọi là “tinh thần dân tộc” được phát huy tối đa trong thế hệ chiến tranh (ở miền Bắc) và đầu thời hậu chiến.

Vài năm sau, thuật ngữ “chủ nghĩa dân tộc” đến với tôi từ sự quan tâm những sự kiện chính trị xã hội. Nhưng vẫn hiểu đại khái qua loa, có lẽ biết đến thuật ngữ này nhiều hơn là “CNDT hẹp hòi”, “CNDT cực đoan”, trong những cuộc tranh luận quanh mối quan hệ VN – TQ từ cuộc chiến tranh biên giới và các sự kiện trên biển Đông.

Lần này đọc lại NHỮNG CỘNG ĐỒNG TƯỞNG TƯỢNG – Suy nghĩ về nguồn gốc và sự lan truyền của chủ nghĩa dân tộc”, tôi vỡ vạc ra được vài điều, mặc dù tôi vẫn khá vất vả khi đọc nó, vì nội dung rộng lớn nhưng chuyên sâu – như Lời giới thiệu, vì nhiều lý thuyết tôi chỉ được tiếp cận gián tiếp, hay học lóm qua bạn bè, vì bản thân công trình khá phức tạp về ngôn ngữ và cách trình bày - mà sự hấp dẫn của công trình chính là ở đó - như những người dịch và hiệu đính đã trình bày rất kỹ trong Lời người dịch.

Quá phục các anh chị dịch sách và hiệu đính! Giỏi về chuyên môn, ngôn ngữ Anh – Việt (khen phò mã tốt áo, hihi), và đặc biệt là việc dịch, chú thích, diễn giải, giới thiệu công trình này mang lại cho tôi niềm tin vào một thế hệ các nhà nghiên cứu KHXH sẽ KHÁC CŨ VÀ KHÁC TRƯỚC!

2/ Sau buổi trò chuyện về công trình này do hai người trình bày khúc chiết và sắc sảo, bao quát và chi tiết, hài hước và thông minh, là Nguyễn Thu Giang và Nguyễn Tô Lan, từ những gợi ý của các bạn, từ góc độ hiểu biết của mình và sự trải nghiệm cá nhân, tôi có vài điều suy nghĩ còn rời rạc (và sẽ còn phải nghĩ tiếp).

2.1 Không/chưa có “một dân tộc – quốc gia” thời VH Đông Sơn, VH Sa Huỳnh, VH Đồng Nai. (nhân tiện, xin nhắc vài người nghiên cứu lịch sử/văn hóa vẫn nhầm lẫn, coi ĐS - bắc, SH - trung là tương đương với Óc Eo /Phù Nam ở nam bộ, mà thực ra là tương đương văn hóa Đồng Nai – đông nam bộ).

- Về công cuộc nghiên cứu “Thời đại Hùng vương” như là một lực đẩy rất mạnh cho tinh thần dân tộc Việt (Nam) trong nghiên cứu XHNV và (ứng dụng vào tuyên truyền) chính trị. Lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương là một lễ hội mùa xuân của một địa phương trong chuỗi hội hè mùa xuân ở miền Bắc. Khi nâng cấp thành “Quốc lễ” cũng là một cú đẩy “nâng cấp” tinh thần dân tộc (đoàn kết/đồng bào) trong bối cảnh mới ở VN và thế giới.

- Phát hiện và nghiên cứu KCH ĐNA cũng có thời kỳ “dĩ Âu vi trung” (tk 18 -19), nhưng từ khoảng đầu thế kỷ 20 thì lại nhấn mạnh tính đặc thù, các nền văn minh ở khu vực này gắn liển với các quốc gia cổ đại được coi là “dân tộc” bản địa. Tính bản địa của các nền văn hóa khảo cổ do “môi trường tự nhiên” quyết định được nhấn mạnh như “đối lập/đối trọng” với văn minh châu Âu. Hiện tượng “bảo thủ” của công cụ đồ đá thời đá cũ được giải thích là sự thích ứng với môi trường tự nhiên, và là một con đường riêng của ĐNA. Sự giải thích này đến từ các học giả châu Âu nghiên cứu ĐNA. Lúc này chưa có thế hệ học giả là người ĐNA.

2.2  Hiện tượng người Việt ở Nam bộ: tiếng Nam bộ được coi là tiếng “Việt mình” # tiếng Việt “nước Bắc”. Người Việt nam bộ hồi cố lịch sử chỉ đến thời Chúa Nguyễn và hầu như không có tâm thức “4000 năm, thời Hùng Vương, truyền thống...”. Do tuyên truyền của VN cộng hòa: Bắc tiến, hai quốc gia: quốc gia – nam và cộng sản – bắc. Do Lịch sử cộng đồng lưu dân vào nam bộ chủ yếu từ miền trung – Ngũ Quảng. 

- Ngược với miền Bắc: tâm thức thường trực là thống nhất đất nước, chống đế quốc Mỹ giải phóng miền nam... Nước VN là Một, dân tộc VN là Một - Thống nhất được hiểu như “đồng nhất”. Tất cả bắt đầu từ giáo dục và tuyên truyền trong nửa sau thế kỷ 20. Có lẽ cũng có nguyên nhân sâu xa hơn từ thời Đàng Trong – Đàng Ngoài với sự “cát cứ” ngày càng mạnh của chúa Nguyễn; rồi việc nhà Nguyễn bỏ kinh đô Thăng Long “ngàn năm” của Đại Việt mà lập Huế làm kinh đô của nước Đại Nam.

- Các bảo tàng VN đều có phần trưng bày về “thời nguyên thủy” rồi đến “Thời dựng nước” bao hàm ý nghĩa “thời hình thành dân tộc”. Năm 2004, sau khi cuộc khai quật Hoàng thành Thăng Long có những kết quả rực rỡ, Bảo tàng LSTPHCM đã trưng bày hiện vật cuộc khai quật tại TPHCM. Từ cuộc trưng bày này những người thực hiện (trong đó có tôi) nhận thấy giá trị của các khái niệm “dân tộc VN là Một, cội nguồn bốn nghìn năm”... được khuyếc tán rộng rãi hơn, trên cơ sở bằng chứng vật chất tác động trực tiếp đến cộng đồng, cụ thể hóa những tuyên truyền/giáo dục từ sau 1975 ở phía nam.

2.3 Chủ nghĩa dân tộc VN: khuyến khích, ca ngợi sự hy sinh, coi hy sinh là một phương thức để có/bảo tồn “dân tộc”, thậm chí phát triển khuyến khích sự hy sinh ở... người khác! (bằng những phong tặng, những danh hiệu, ko coi trọng con người cụ thể mà coi trọng “nghĩa vụ” đối với dân tộc...). Hình như đặc điểm này được khuếch tán mạnh mẽ người Việt (kinh) do văn hóa cộng đồng được coi trọng, nhẹ tính cá nhân, cá nhân chỉ được nhìn thấy/xác lập trong một cộng đồng cụ thể (gia đình, dòng họ, làng xã, đồng hương – con ông nào/họ gì/ở đâu/quê đâu)?

- Ở SG báo chí ra đời sớm nhưng hầu như ít thấy khuyến khích hay tuyên truyền về truyền thống hay CNDT với những “biểu hiện” trên. Mà thường phổ biến những giá trị của thế giới phương tây đương đại: dân chủ, bình đẳng, bác ái. Cũng từ giá trị này mà chuyển thành “giá trị dân tộc” – độc lập dân tộc: Đó là nguyên nhân quan trọng thúc đẩy tầng lớp trí thức, tư sản, điền chủ Nam bộ theo Việt Minh chống pháp. 

- Ngôn ngữ cũ – mô hình mới: có thể coi cộng đồng người Việt nam bộ là trường hợp này: đình làng Nam bộ thờ nhân thần, nhiên thần, tiên hiền hậu hiền ko nhấn mạnh “gốc rễ” mà là “công lao”.

- Sau 75: khái niệm “Tư sản dân tộc” thường chỉ nói về tư sản người Việt, còn tư sản người Hoa/Hoa kiều thì bị coi chung là “TS mại bản”! bên cạnh ý nghĩa chính của 2 khái niệm này thì điều này có lẽ liên quan đến quan hệ/phân biệt Việt – Hoa/Việt – Trung trong lịch sử? Mối quan hệ/phân biệt này chưa bao giờ phai nhạt, có thể chìm xuống nhưng ko mất đi mà ngày càng trở nên sâu sắc do quan hệ của hai quốc gia trong thời hiện đại.

3/ Có thể nói ở VN trong nhiều trường hợp, “tinh thần dân tộc” là cụm từ có ý nghĩa như/tương đương “chủ nghĩa dân tộc” nhưng dễ hiểu và gần gũi với số đông người dân, có thể sử dụng trong nhiều hoàn cảnh. Có lẽ VN là một trường hợp (case) điển hình về một cộng đồng tưởng tượng có tên “dân tộc Việt/ Việt Nam”. Động lực của sự tưởng tượng này bắt đầu từ truyền thống chống ngoại xâm, và ngày càng mạnh từ hai cuộc kháng chiến chống pháp – mỹ và nhu cầu được thừa nhận vai trò dẫn đắt quốc gia của đảng CSVN trong thế kỷ 20 và đặc biệt khi bước sang thế kỷ 21.

- Lịch sử là một phần của văn hóa. Tiếp cận từ VH sẽ nhận biết lịch sử toàn diện hơn vì văn hóa là của cộng đồng, còn lịch sử “được làm nên” bởi “một số” trong cộng đồng, nên lịch sử sẽ mang bản sắc cộng đồng cùng bản tính cá nhân. Mối quan hệ cá nhân – cộng đồng là hai chiều và ở một số nhân vật lịch sử, mối quan hệ này có khi nhòa lẫn vào nhau và cá nhân được coi là đại diện cho cộng đồng.




NGUỒN GỐC CỦA NGƯỜI VIỆT - MỘT GÓC NHÌN PHI CHÍNH THỐNG: VÀI GHI CHÚ VỘI (note)

 1. Về nội dung

- Chủ đề rất hay, đang và luôn được nhiều người quan tâm tìm hiểu, không chỉ từ góc độ “lịch sử - nguồn gốc tổ tiên” mà còn từ góc độ chính trị trong bối cảnh quan hệ Việt – Trung thời hiện đại.

- Ba diễn giả đều là những người am tường trong lĩnh vực chuyên môn/quan tâm của mình, thể hiện qua trình bày của ông Phan Quang (cổ sử) và ông Nguyễn Lân Cường (khảo cổ học), cũng như những bình luận hoặc tham góp của ông Trần Trọng Dương. Người tham gia đã tiếp nhận được nhiều thông tin mới và tiếp cận một góc nhìn khác “chính thống” trong các bộ sử hiện đại, nhất là trong SGK là tài liệu lịch sử được nhiều người biết đến nhất.
- Tuy vậy, “kịch bản” của Midnight Talks chưa có sự kết nối giữa 2 diễn giả cũng cũng kết nối với người dẫn chương trình. Nếu ngay từ đầu nên xác định các khái niệm của chủ đề thì giới hạn được nội dung, niên đại của vấn đề được bàn đến.
+ “người Việt”: là người Việt cổ/Kinh hay là người Việt Nam hiện đại nói chung?
+ không gian: miền Bắc trong bối cảnh ĐNA thời cổ, từ phía nam sông Dương tử - vùng Hoa Nam với Bách Việt, xuống đến khu vực ĐNA hải đảo.
+ Niên đại: trong giai đoạn hình thành “người Việt” là từ đầu CN trở về trước (thời tiền sử) hay từ thế kỷ X (lập quốc) trở về trước?
Nếu vậy cũng tập trung được các câu hỏi và vấn đề người tham dự quan tâm để cùng thảo luận với các diễn giả.
2. Nhận thức/ củng cố những nhận thức của cá nhân tôi
2.1 Năm 1980 tôi làm khóa luận tốt nghiệp đại học (lúc đó gọi là khóa luận) do GS Trần Quốc Vượng hướng dẫn, về “Văn hóa Hòa Bình và nông nghiệp trồng trọt ở miền bắc VN vào thời đại đá mới”, đã có một nhận xét: nông nghiệp “bản địa” là trồng trọt nương rẫy, lúa cạn. Văn hóa Đông Sơn và “VM lúa nước” có muộn hơn, cùng với công cụ sản xuất kim loại là một cú huých tạo một “lớp phủ” lên trên “nông nghiệp nương rẫy, lúa nương/lúa cạn”. Cho nên, nói Văn hóa nông nghiệp trồng lúa thì đúng với các tộc người bản địa lâu đời ở khu vực miền Bắc VN (như PGS.TS Nguyễn Lân Cường dẫn chứng bằng hệ thống di cốt người cổ); Còn nói “văn minh lúa nước” là chỉ văn minh của một tộc người ở đồng bằng, mà sau gọi là người Kinh – Việt.
2.2 Như nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra, sự tách rời/tách biệt Việt – Mường cổ thành tộc Việt – Mường vào khoảng thế kỷ X chính là sự phân biệt hai cộng đồng với hai lối canh tách nông nghiệp – truyền thống cơ tầng kinh tế - khác biệt nhau. Tiếc là anh Trần Trọng Dương không trình bày nghiên cứu của anh về thời điểm thế kỷ X để bổ sung thêm cho quan điểm của anh Phan Quang về “người Kinh lộ”.
Sự hình thành “cộng đồng người Kinh/Việt” được (quan niệm chính thống) coi là từ VH Đông Sơn với truyền thuyết Hùng Vương (khoảng 4000 năm). Cứ cho là vậy thì cũng chỉ là nguồn gốc của công đồng người từ đồng bằng cao xuống vùng thấp hơn. Về mặt niên đại, các “truyền thuyết” về cộng đồng Kinh/Việt xuất hiện trong những thời gian khác nhau, sự hệ thống và “chính thức hóa” những truyền thuyết này vào chính sử khá muộn, ở những thời gian có nhu cầu “cố kết quốc gia” thời phong kiến. Rồi Thời đại Hùng vương và văn minh Đông Sơn/lúa nước (bánh chưng bánh dày) lại được “chính thức hóa” thành “quốc tổ” của cả nước có 54 tộc người trong thời hiện đại, không thể không nhận thấy một “ý chí chính trị” nhằm “thống nhất” quốc gia bằng tâm linh: thống nhất lãnh thổ = quốc tổ duy nhất. Hay là THỐNG NHẤT = ĐỒNG NHẤT được diễn ngôn đơn giản hóa “đại đoàn kết dân tộc/đồng bào/người trong một nước...”
2.3 VN hiện nay, ngay cả “người Việt/Kinh” đã luôn là một tập hợp đa dạng. Nhân chủng có thể quy vào chủng tộc hay nhánh/nhóm nhân chủng cụ thể, cả ngôn ngữ cũng vậy. Nhưng hiện vật khảo cổ là hiện thân/phản ánh những nhóm/nhánh cụ thể đó. Có thể xem xét 2 loại hình hiện vật phổ biến và quan trọng vào thời đại kim khí (khoảng 4000 - 2000 năm cách ngày nay – thời kỳ được coi là “hình thành “dân tộc, quốc gia cổ) để thấy được điều đó:
+ Trồng đồng: phổ biến khắp ĐNA với vài trung tâm, lớn nhất là vùng Vân Nam, Quảng Tây. Miền bắc VN cũng là một “trung tâm”, nhưng không thể phủ nhận trống đồng có mặt khắp nơi ở ĐNA, nhưng “văn hóa trống đồng” thì chỉ còn lưu giữ ở vài tộc người, nhưng ko có ở người Kinh/Việt.
+ Táng thức mộ chum: phổ biến ven biển từ Đông Bắc Á xuống ĐNA, cái chung là dùng quan tài bằng chum/vò gốm nhưng cái riêng là táng tục (xử lý thi thể) khác nhau giữa VH Sa Hùynh- miền Trung với VH Cần Giờ, Đông Nam bộ, cũng khác một số địa điểm ở Philippine, Indonesia, Malaysia hay Thái Lan, Lào...
3. Bản sắc: có hay không? Là gì?
Tóm lại, dù nói về nguồn gốc người Việt/Kinh hay người Việt Nam thì cũng cần thừa nhận tính “đa dạng”, bởi vì về gene sinh học có thể được bảo tồn một mức độ nhất định, nhưng quá trình hình thành và xác lập một cộng đồng, tộc người hay “quốc gia” (một khái niệm khá muộn ở VN) thì gene văn hóa cũng lâu dài và quan trọng không kém gene sinh học. Thậm chí có thể khảo sát các “ADN” văn hóa rõ ràng và có sự thuyết phục cao, như qua các nền văn hóa khảo cổ chẳng hạn.
Không thể tuyệt đối hóa yếu tố gene sinh học hay ngôn ngữ hay bất cứ thành tố nào, vì như vậy sẽ không phản ánh được, phản ánh đúng về “nguồn gốc” có tính “hỗn dung” (chữ của GS Trần Quốc Vượng) của người Việt/kinh, văn hóa Việt/Kinh. Và ở mức độ nào đó cũng là của người VN, văn hóa VN nói chung.
Để có thể trả lời câu hỏi “ta là ai?”: Đơn tuyến đơn giản (thuần chủng, bản sắc ngàn đời, “sinh ra” văn hóa nơi khác hay ngược lại, là "bản sao" của nền văn minh khác...) và đa tuyến, phức tạp (có hợp huyết, giao lưu tiếp biến, có lớp phủ mới về tộc người và văn hóa theo thời gian và hoàn cảnh lịch sử) thì tôi cho rằng đa tuyến là hợp lý. Mặc cảm dẫn đến Phủ nhận sự “hỗn dung” và những "cú huých" từ ngoại cảnh trong nguồn gốc và quá trình hình thành cũng là phủ nhận chính TA. Không xác định được TA thì không hiểu TA ĐÃ LÀ AI, và do đó hướng đến TA SẼ LÀ AI càng khó khăn!
(Đêm đầu năm mới 1.1.2022) #midnighttalks




TRÀ VÀ CÀ PHÊ KẾT NỐI GIA ĐÌNH

  Trong gia đình tôi, nếu nhìn vào thói quen uống nước thôi cũng có thể thấy cả một dòng thời gian lặng lẽ trôi qua. Thời ông bà tôi tr...