Hiển thị các bài đăng có nhãn lịch sủ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lịch sủ. Hiển thị tất cả bài đăng

TRUNG THỰC VÀ DŨNG CẢM - LỜI THỀ CHUNG CHO CÁC NHÀ SỬ HỌC

 (Bài phát biểu của Giáo sư Trần Quốc Vượng tại Hội nghị bàn về phương hướng xây dựng giáo trình Lịch sử Việt Nam và Lịch sử Văn hóa Việt Nam, ngày 24 - 25/6/2002, trong khuôn khổ thực hiện Đề tài độc lập cấp Nhà nước về Lịch sử Việt Nam do GS.TS Nguyễn Quang Ngọc - Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Trường ĐHKHXH&NV làm Chủ nhiệm; in trong Khoa Lịch sử, 55 năm ấy, NXB Thế giới, 2011.)

1. Mỗi giáo trình đại học theo đúng nghĩa phải là một công trình nghiên cứu khoa học chất lượng cao. Chất lượng cao là gì? ở những phần sau sẽ nói, nhưng ở đây cần nói ngay rằng toàn bộ và trong từng phần cuốn sách nó phải là một công trình suy tư - nghiên cứu đã nhiều năm đau thiết của một/những giảng viên đại học có nhân cách khoa học (Personnalité) được xã hội trí thức trong ngoài nước thừa nhận, tuy vẫn có thể được tranh cãi. Tất nhiên là nó phải có tính sư phạm với văn phong khá trường quy.

2. Thời đại mà tất cả các trường đại học trong nước chỉ dùng một giáo trình duy nhất đã qua rồi!. Kinh nghiệm giáo trình Lịch sử Việt Nam là vậy, và giáo trình Cơ sở văn hoá Việt Nam cũng là vậy.

Cái ta sẽ viết là giáo trình cho ĐHKHXH&NV - trước hết là cho Khoa Sử của ĐHQGHN.

Thế thì và nhất là ở thời buổi “đổi mới” hiện nay, ta chẳng ngần ngại gì mà không thừa nhận tính trường phái của giáo trình do Khoa Sử biên soạn, thậm chí tính cạnh tranh trong khoa học, dù ai đó có thể phê phán chúng ta là có tính đố kỵ hay thậm chí là tính biệt phái - hay bè phái.

Miễn là từ tâm - óc, chúng ta trung thực và hoàn toàn tự nguyện tuân thủ phương pháp luận sử học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa mácxit sáng tạo và tư tưởng Hồ Chí Minh sáng tạo và hội nhập với trào lưu sử học tiến bộ của Loài người từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc, theo cách ta Học - Hỏi - Hiểu - Hành.

Chẳng hạn như, nếu cấp trên giao cho tôi chủ biên giáo trình Lịch sử Văn hoá Việt Nam dùng cho Khoa Sử trường ĐHKHXH&NV - ĐHQGHN, tôi phải có quyền lựa chọn các cộng tác viên trong ngoài trường cùng “gu sử học” với tôi. Nếu không, tôi xin đứng ngoài, không thắc mắc gì và chỉ làm những cái gì và với ai mà tôi thích. Trong trường hợp đó xin chớ phê phán tôi là cá nhân, tiêu cực. Trước mắt tôi là con đường về hưu, hưởng thú thanh nhàn cho đến khi từ giã cõi đời giả tạm này.

3. Chúng ta sẽ viết giáo trình chất lượng cao, để đời. Đời sống của nó là một vài chục năm, cứ cho rằng tới khoảng 2020 sẽ “lạc hậu”, quá thời. Và sẽ có một thế hệ khác viết lại. “Il a fait son temps” là một thành ngữ Pháp có tính phổ quát cho mỗi nhà khoa học, cho mỗi công trình khoa học.

3.1. Khối tư liệu dùng để biên soạn nên nó phải phong phú - đa dạng, có tính cập nhật cao.

Như thế, đòi hỏi mỗi người viết sách giáo trình phải cập nhật cao, với trong nước và với quốc tế. Thí dụ về trước Công nguyên, tôi phải đưa vào giáo trình bài Việt ca và một bài thơ có nhắc đến Âu Việt - Lạc Việt cùng sự giải mã của học giả Nhật, học giả Trung Hoa và học giả Việt Nam (tuy họ giải mã khác nhau) cũng như tôi phải đưa vào các tài liệu khảo cổ hữu thể sưu tầm được cho đến 2002 (Lung Leng, Eo Bồng, Trà Kiệu, Lý Nhân, Cần Giờ, Domea...).

3.2. Không chỉ hiện đại về tư liệu mà tôi phải xử lý mối quan hệ biện chứng giữa Phá bỏ - Bảo tồn - Sáng tạo.

Đừng mong hòng một cách ảo tưởng rằng Sử học là một khoa học tuyệt đối khách quan, phát hiện ngay được những quy luật khách quan của sự Vận động lịch sử.

Có Histoire-Réalité và tôi không phải là một kẻ làm sử (Faire Histoire) hư vô chủ nghĩa (annihiliste) hay thực chứng (positiviste). Nhưng cái đó nói như Giáo sư Sử học lớn J. Furet - người tổng kết 200 năm lịch sử cách mạng Pháp (1789-1989) - luôn luôn còn ở phía chân trời của mỗi nhà sử học chân chính. Với đầy lòng kính trọng của một kẻ hậu tử với bậc tiền bối, tôi buộc mình không dối lòng khi nói rằng cụ Trường Chinh chưa phải là người tổng kết lịch sử Cách mạng tháng 8/1945 hay nhất, đúng nhất. Cụ Tảo Trang viết tặng tôi đôi câu đối của đức Phan Bội Châu:

“Hậu tử thường đa tân tuế nguyệt

Tiền trình bất thị ác phong vân."

Tôi vô cùng cảm ơn nhưng vẫn để đấy để ngẫm suy.

Trước mắt chúng ta vẫn chỉ có - và chỉ có thể có - cái Historie Conxience. Lịch sử gắn liền với nhà sử học, với nhân cách và nhận thức của họ.

Viện sĩ Mounier, trong công trình De la connaissane Historique bảo: nhà sử học viết sử cũng chỉ như nhà họa sĩ vẽ chân dung (Portraitriste)! Họa sĩ vẽ chân dung tôi - một hiện thực khách quan đối với ông ta - nhưng cũng đồng thời họ vẽ chân dung họ, theo cách họ hiểu về tôi.

Tôi vừa được đọc một tài liệu mới nhất: Học thuyết Tương đối luận của Albert Einstein cũng chỉ là tương đối mà thôi!

Vì vậy mà hơn một chục năm trước, tôi đã viết bài Giải ảo hiện thực Đống Đa và năm nay tôi đã và sẽ viết bài Giải ảo hiện thực Đồng Đậu cùng bài Giải ảo hiện thực núi Đá Bia (Phú Yên). Tôi không muốn là kẻ quấy nhiễu sân cỏ lịch sử như Neuville quấy nhiễu sân cỏ World cup Korea - Japan.

Số phận tôi là vậy và tôi buộc phải: “đảm đương thân phận”- nói kiểu Từ Chi!

Chẳng hạn, tôi mong các nhà sử học - bạn tôi hãy suy nghĩ và viết lại - chí ít dưới khía cạnh Lịch sử văn hoá Việt Nam - về Triệu Đà (Lê Văn Hưu, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh có viết như ta trong các giáo trình thập kỷ 60, 70 không?), về Sĩ Nhiếp, về Cao Biền. Vì sao Việt điện u linh (1329) - và tâm thức dân gian cùng nhiều nhà sử học khác, gọi ngài là “Sĩ vương” và lập đền thờ cúng. Vì sao trong tờ "thủ chiếu" của đức vua khai sáng nhà Lý, lại gọi “Cao Biền” là “Cao vương”? v.v... Dựa trên suy tưởng của tôi đã có nhà sử học viết rằng: Cái gọi là thời Bắc thuộc về hiển thể chính trị chỉ là quyền tự trị địa phương. Giáo trình mới của Khoa Sử nên xem lại những chuyện đó, dù khuôn nó vào lĩnh vực Histoire mentale (lịch sử tâm thức), một phần của lịch sử văn hoá Việt Nam.

Là một đơn vị được phong tặng danh hiệu cao quý - Đơn vị Anh hùng thời đổi mới, dưới sự chèo chống của ông PGS.TS. Chủ nhiệm Khoa “đức xứng kỳ chức”, với các giáo sư tài ba danh vọng vượt bậc Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang..., tôi chỉ mong toàn Khoa Sử, qua bộ giáo trình mới này, “đổi mới mạnh mẽ và kiên quyết” tư duy Sử học để thế hệ trẻ - như đứa cháu ngoại Phan Quang Anh, tức Bờm của tôi, mới bắt đầu học lớp 9 mà kiên quyết học để được tuyển thẳng vào Khoa Sử - được “phận nhờ” (cháu không chỉ đọc sách giáo khoa phổ thông (“ngắn quá”) mà đã dám đọc Tiến trình lịch sử Việt Nam) và người già như tôi, ông Hãn, ông Lâm cũng sẽ được ngậm cười ở... thế giới bên kia!

4. Giáo trình mới không nên viết, chẳng hạn “Văn hoá Đông Sơn là văn hoá Lạc Việt”, “Trống đồng Đông Sơn là trống đồng Lạc Việt” như giáo trình Đại học Văn khoa thời thầy tôi, cố GS. Đào Duy Anh rồi gắn cái văn hoá đó với thời Văn Lang - Âu Lạc.

Tôi có điên không? Có lẽ tôi cũng có máu điên trong người, nhưng... tôi tự cho là... vẫn còn “tỉnh”.

Học giả ngoại quốc biết bao lần đã nói vào cái “bản mặt” tôi rằng: Cái “giọng” của giới sử các ông Việt Nam rất chi là... “Chauvin”, “nationalist”, tuy... ông là đỡ hơn cả đấy! Ở Đại học Tổng hợp Hà Nội, tôi đã nêu luận điểm từ khi thành lập ngành Khảo cổ: Khi anh/chị nghiên cứu những nền văn hoá tiền - sơ sử thì... hãy tạm thời quên đi những biên giới chính trị của các quốc gia hiện nay. Văn hoá Hoà Bình - Bắc Sơn chẳng hạn là của toàn Đông Nam Á, cả lục địa và hải đảo.

Đến khi được cấp trên chỉ thị thành lập ngành Văn hoá học, tôi lại nêu luận điểm: Không gian văn hoá và không gian chính trị là khác nhau. Và rất thường khi Biên giới chính trị cắt “ngang xương” một không gian văn hoá, ở châu Phi là vậy. Ở Đông Nam Á, ở Việt Nam cũng là vậy.

Khi còn sinh thời GS. Phạm Huy Thông, lúc ông làm Viện trưởng Viện Khảo cổ học, tôi đã nài được ông cho thuyết trình ở Viện rằng: Cái không gian trống đồng loại I Heger là nằm trong một “tam giác đồng” (tôi nhái khái niệm “Tam giác Vàng”) mà 3 đỉnh là Vân Nam - Việt Nam - Lưỡng Quảng ngày nay và nhấn mạnh rằng: ở thời đó nó vẫn là một không gian “Phi Hoa - Phi Ấn”, gọi là “Không gian Việt cổ” cũng được, nhưng Việt cổ là một khái niệm khá mơ hồ, chỉ nhìn “cái răng, cái tóc là góc con người” thì cũng đủ biết: “Người Đông Sơn” vừa búi tóc (tư liệu Việt Khê, Hải Phòng), vừa xoã tóc (tư liệu Đào Thịnh, Yên Bái), vừa tết tóc (tư liệu nhiều dao găm cán hình người Đông Sơn), có răng nhuộm đen, có răng để trắng: Bao nhiêu “mộ thuyền” đã chứng tỏ điều đó.

“Sống xen kẽ giữa các tộc người” ở Việt Nam, dù Nam Á, Nam Đảo hay các ngữ hệ Tạng Miến... gì gì đi nữa đã là một quy luật lịch sử lâu đời để nhà khảo cổ học Thụy Điển, GS. Olov Janse rút ra một kết luận bất hủ: “Vietnam, Carrefour des Peuples et des Civilisations”.

Việt Nam hôm nay có sự thống nhất văn hóa và ngôn ngữ, nhưng cũng có sự đa dạng, nếu không muốn nói “huỵch toẹt” ra là có cái “đa văn hóa” (multicultural) và “đa ngôn ngữ” (multilinguistic).

Thì có sao đâu ở trong một cái khuôn thể chế chính trị thống nhất, dân chủ?

Vậy những người anh hùng ở Khoa Sử nên viết “Lịch sử Việt Nam” chứ không phải là “Lịch sử người Việt” cho dù tộc Kinh - Việt hiện nay là chủ thể quốc gia. Mà cái gọi là người Việt như ta hiểu cũng xuất hiện khá muộn mằn trong lịch sử... và cũng đa dạng lắm, từ Bắc - Trung tới miền Nam đất nước.

Từ lâu, người Pháp đã phân biệt Histoire de France và Histoire des Francais. Ta nên tham khảo họ. Người Nhật (và cả người Hoa) cũng đã nhìn thấy nhiều “văn hoá Trung Hoa” rồi đấy (cùng lắm thì họ gọi là “Một văn hoá Trung Hoa có nhiều local cultures”.

5. Cho nên cách viết “Lịch sử Việt Nam” nói chung, “Lịch sử văn hoá Việt Nam” nói riêng rất nên là cách viết một thời không gian liên tục kiểu A.Einstein, hay, nói theo một hướng tiếp cận hiện đại, là kết hợp nghiên cứu Lịch đại (Diachronic Studies) và nghiên cứu Vùng - Tiểu vùng (Area Studies).

Đừng “lờ” một hiện tượng lịch sử quan trọng và kéo dài “Nam tiến” (The March to the South) hay còn gọi là Migration horizontale của người Kinh - Việt trong khi ở các nhóm H’mong - Yao, thì đó lại là migration vertical (Di cư theo chiều dọc).

Đừng dùng các khái niệm đã mòn, thậm chí cái thủ thuật “đánh tráo khái niệm” bằng ngôn từ điêu xảo. Hãy gọi sự vật bằng chính cái tên của nó.

Nếu có một lời thề chung cho các nhà sử học thì, theo tôi, nên là: “Trung thực và dũng cảm”.

Thư bất tận ngôn. Ngôn bất tận ý!

Hà Nội, 23/6/2002




 

BẢN SẮC ĐÔ THỊ SÀI GÒN TRONG BỐI CẢNH NAM BỘ (trích phần đầu và cuối của một bài dài)

Nguyễn thị Hậu

Lời mở
Nam bộ nói chung và vùng đất Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh nói riêng vẫn thường được gọi là “vùng đất mới”, “vùng đất có 300 năm lịch sử”. Không thể phủ nhận vai trò của lưu dân khai khẩn trong giai đoạn từ thế kỷ XVII, XVIII trở đi, tuy nhiên khoa học lịch sử và khảo cổ học cũng đã cho biết, nơi này từng có 1000 năm trước công nguyên với những cộng đồng dân cư thời tiền sử của văn hóa khảo cổ Đồng Nai, rồi từ đầu Công nguyên có nền văn minh Óc Eo của vương quốc Phù Nam từ thế kỷ I đến thế kỷ VII. Do đó Nam bộ là “vùng đất mới” đối với những lớp người đến đây trong các giai đoạn về sau, còn bản thân nơi này có một quá trình lịch sử lâu dài, đa dạng về tộc người và văn hóa.
Cái nhìn về Nam bộ như một “vùng đất mới” tồn tại khá bền chặt trong giới nghiên cứu lịch sử và tư duy quản lý nhà nước, có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội và cũng để lại hệ lụy trong việc cố gắng bảo tồn di sản và bản sắc văn hóa Sài Gòn – Nam bộ. Bởi vì với quan niệm vùng đất Nam bộ - Sài Gòn là “muộn”, là “mới”, lại liên quan khá nhiều đến thời kỳ các chúa Nguyễn và triều Nguyễn – vốn bị định kiến trong lịch sử - nên đã dẫn tới tâm lý không coi trọng những giá trị văn hóa (vật thể và phi vật thể) độc đáo, hình thành và tồn tại lâu bền ở đây. Đến nay, những di tích “Sài Gòn trăm năm” bị phá hủy gần hết do quá trình đô thị hóa qua nhiều thời kỳ, cũng như do nhận thức thiếu sót của chính quyền về giá trị của những di sản này từ sau khi đất nước hòa bình vào năm 1975.
Vì vậy, tìm hiểu những đặc điểm về lịch sử - văn hóa một thành phố, một vùng đất chính là cách thiết thực giữ gìn di sản, trước hết vì đấy là tài sản văn hóa của cộng đồng. Giữ gìn di sản trước hết vì “người sống” chứ không phải chỉ vì bản thân di sản. Việc cố gắng bảo tồn những di tích lịch sử văn hóa của TP. Hồ Chí Minh hay các tỉnh Nam bộ là nhằm xây dựng xã hội hiện đại với không gian sống có chiều sâu ký ức. Sống trong không – thời gian đó con người sẽ giàu có hơn về mặt tinh thần. Bảo vệ di sản văn hóa là để con người sống tốt hơn cho hôm nay chứ không chỉ là bảo vệ một ý niệm nào đó của quá khứ dù đẹp đến đâu.
I. Vị thế địa – kinh tế - văn hóa của các đô thị Nam bộ
1.1 Dưới triều Nguyễn. Năm 1808, vua Gia Long nhà Nguyễn đổi trấn Gia Định thành Gia Định Thành, bao gồm 5 trấn: Phiên An (địa hạt Gia Định), Biên Hòa, Vĩnh Thanh (sau chia ra Vĩnh Long và An Giang), Vĩnh Tường (sau này là Định Tường) và Hà Tiên.
Năm 1834 Vua Minh Mạng đặt ra Nam Kỳ và chia thành 6 tỉnh nên gọi là Nam Kỳ Lục tỉnh. Đó là các tỉnh: Phiên An, năm 1836 đổi thành Gia Định (tỉnh lỵ là tỉnh thành Sài Gòn), Biên Hòa (tỉnh lỵ là tỉnh thành Biên Hòa), Định Tường (tỉnh lỵ là tỉnh thành Mỹ Tho) ở miền Đông; Vĩnh Long (tỉnh lỵ là tỉnh thành Vĩnh Long), An Giang (tỉnh lỵ là tỉnh thành Châu Đốc) và Hà Tiên (tỉnh lỵ là tỉnh thành Hà Tiên) ở miền Tây.
Từ cuối thế kỷ XVII, năm 1698 chúa Nguyễn đã “lập phủ Gia Định, dựng dinh Trấn Biên” thiết lập thôn xã phường ấp, khuyến khích dân cư khai khẩn đất hoang, định tô thuế, lập sổ đinh. Trước đó năm 1679 đã có những nhóm người Hoa “bài Thanh phục Minh” được chúa Nguyễn cho vào cư trú ở vùng đất phương Nam. Với kinh nghiệm và truyền thống buôn bán lâu đời, những người Hoa “tỵ nạn chính trị” này đã lập phố xá buôn bán và hoạt động thủ công nghiệp.
Gia định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức vào khoảng năm 1820 đã cho biết các trấn thời Nguyễn ở Nam bộ vào đầu thế kỷ XIX đã là những trung tâm kinh tế sầm uất, cùng thành trì là trung tâm hành chính thì nhà cửa phố xá bến chợ luôn được nhắc đến như một thành phần quan trọng của một trấn. Sau đây là vài miêu tả trong phần Thành trì chí.
Trấn Phiên An có Chợ phố Bến trước thành, phố chợ, nhà cửa rất trù mật... tụ tập hàng trăn thứ hàng hóa, dọc bến sống thuyền buôn lớn nhỏ đi lại san sát . Phố Sài Gòn (Chợ Lớn) đường phố lớn, thẳng suốt ba đường giáp đến bến sông... đan xuyên nhau như chữ điền, phố xá liền mái, người Việt và người Trung quốc cùng sinh sống... Hai bên nam - bắc bến sông không thứ gì là không có ; Ngoài ra còn có các chợ khác cũng nổi tiếng như Chợ Khung Dong (chợ cây da còm), Chợ Điều Khiển, phố chợ Lịch Tân (chợ Bến Sỏi), chợ Tân Kiểng...
Trấn Biên Hòa có phố lớn Nông Nại – cù lao Đại Phố. mái ngói tường vôi, lầu quán cao ngất, dòng sông rực rỡ, ánh nhật huy hoàng, liền nhau tới 5 dặm, chia làm 3 đường phố, đường phố lớn lát đá trắng, đường phố ngang lót đá ong, đường phố nhỏ lót đá xanh, toàn thể đường bằng phẳng như đá mài, kẻ buôn tụ tập, thuyền đi biển, đi sông đều đến cuốn buồm neo đậu, đầu đuôi thuyền đậu kế tiếp nhau, thật là một chỗ đô hội…
Trấn Định Tường có chợ và phố lớn Mỹ Tho, mái ngói cột chạm phủ, đình cao, nha thự rộng, thuyền bè sông biển ra vào, buồm thuyền trông như mắc cửi, thật là nơi đô hội lớn phồn hoa huyên náo .
Trấn Vĩnh Thanh có chợ Vĩnh Thanh, chợ Long Hồ phố xá liền nhau hàng hóa cả trăm món, dài đến 5 dặm ghe thuyền đầu suốt bến, miếu thần, đình làng mọc lên, đờn ca náo nhiệt, là chợ phố lớn của trấn. Chợ Sa Đéc: phố chợ nằm dọc theo bờ sông, mái nối mái liền nhau đối nhau san sát như vảy cá... trên bờ dưới sông có hàng trăm thứ hàng hóa tốt đẹp, nhìn ngợp mắt thỏa lòng, quả là chốn phồn hoa .
Trấn Hà Tiên: đường xá giao nhau, phố xá nối liền. Người Việt người Hoa người Cao Miên người Chà Và tụ họp chia ở, thuyền biển ghe sông qua lại như mắc cửi, thất là nơi đô hội góc biển vậy .
Giai đoạn Chúa Nguyễn mở mang vùng đất Nam bộ cũng là giai đoạn họat động ngọai thương ở khu vực Đông Nam Á khởi sắc. Ngòai thương cảng Hội An nổi tiếng từ thế kỷ XVI, các trung tâm thương nghiệp mới như Cù Lao Phố (Biên Hòa, Đồng Nai), Mỹ Tho, Hà Tiên... cũng phát triển nhờ lợi thế của hệ thống giao thông đường thủy (cảng biển, sông rạch...). Từ năm 1790 Thành Gia Định từ một trung tâm chính trị mau chóng trở thành thương cảng lớn của Đàng Trong và trong khu vực Đông Nam Á.
Đến thời nhà Nguyễn, Gia Định thành là một đô thị có vai trò sánh ngang Thăng Long và Phú Xuân, nhưng khác với Thăng Long và Phú Xuân vai trò chủ yếu là trung tâm chính trị, Sài Gòn – Gia Định được nhìn nhận vai trò kinh tế quan trọng (thương nghiệp, thủ công nghiệp) bên cạnh vai trò trung tâm chính trị - văn hóa của Đàng Trong: thành phố này đã hình thành theo quy luật của các đô thị tiền tư bản, tức yếu tố “thị” có trước rồi phát triển thành yếu tố “thành” chứ không phải như các đô thị phong kiến ở đó yếu tố “thành” có trước rồi mở rộng thêm yếu tố “thị” .
...
III. Bản sắc Sài Gỏn - Bản sắc Nam bộ
3.1 Trong quan niệm và ngôn ngữ của người dân đồng bằng sông Cửu Long, “thành phố” gần như một danh từ riêng để chỉ Sài Gòn dù miền Tây có nhiều đô thị sầm uất, như Cần Thơ – “Tây đô”, như Long Xuyên – thành phố bên bờ sông Hậu, như Mỹ Tho bên sông Tiền – một “đại phố” từ thủa mới hình thành… Điều đó có hoàn cảnh lịch sử của nó.
Như đã nói ở trên, từ đầu thế kỷ XIX vùng Gia Định gồm 5 trấn là Biên Hòa, Phiên An, Định Tường, Vĩnh Thanh và Hà Tiên. Sự trù phú về tự nhiên và phát đạt về kinh tế của năm trấn này được Gia Định thành thông chí miêu tả và liệt kê đầy đủ. Trấn Phiên An (vùng Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định) là trung tâm của Gia Định và là đơn vị hành chính thống quản 5 trấn. Dù không còn là “kinh đô” như thời chúa Nguyễn nhưng Sài Gòn vẫn giữ vai trò quan trọng trong hệ thống chính quyền triều Nguyễn, là đơn vị hành chính đặc biệt trong buổi đầu thống nhất quốc gia. Đặc biệt là vị trí của Gia Định thành trong mối quan hệ (quân sự - chính trị) với Xiêm và Chân Lạp.
Từ cuối thế kỷ XIX Paul Doumer đã nhận xét về Sài Gòn “Khó mà so sánh Hà Nội với Sài Gòn, hai thành phố này mang những nét khác nhau và sẽ chẳng bao giờ giống nhau được. Nhưng vào năm 1897, ấn tượng về sự khác nhau rõ nét nhất là Sài Gòn là một thành phố đã hình thành, ta chỉ việc hoàn thiện và làm đẹp cho nó, trong khi Hà Nội là một thành phố mới chỉ được phác họa, vẫn còn rất nhiều thứ phải làm” .
Có thể hiểu nguyên nhân của sự khác biệt này là Sài Gòn từ khi khởi lập đã có chức năng và duy trì được chức năng đô thị kinh tế, dù sau đó Thành Gia Định (thành Phụng, thành Quy) bị san bằng, vị trí chính trị mất đi thì vai trò kinh tế đã không mất theo. Ngược lại do tiếp nhận những phương thức và kỹ thuật mới nên Sài Gòn nhanh chóng phát triển theo một mô hình đô thị mới.
Đô thị hóa là quá trình biến đổi về phân bố các lực lượng sản xuất, bố trí dân cư, những vùng không phải đô thị trở thành đô thị. Tiền đề cơ bản của đô thị hóa là sự phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ... thu hút nhiều nhân lực từ nông thôn đến sinh sống và làm việc, làm cho tỉ trọng dân cư ở các đô thị tăng nhanh. Đô thị xuất hiện làm tăng sự phát triển giao thông với các vùng nông nghiệp xung quanh và các đô thị khác; phát triển văn hoá và sự phân công lao động theo lãnh thổ, tăng cường thành phần công nhân, tiểu thủ công, trí thức, thương nhân, kĩ thuật viên... Theo đó thì quá trình đô thị hóa ở Nam bộ khá đồng bộ và trong giai đoạn nào thì Sài Gòn vẫn giữ vị trí và vai trò quan trọng nhất.
3.2 Ở Nam bộ ít có sự phân biệt văn hóa và người Nam bộ nói chung (ngoại vi) với văn hóa và người Sài Gòn (trung tâm) nói riêng. Nếu không quá khắt khe có thể coi người/văn hóa Sài Gòn là đại diện cho người/ văn hóa Nam bộ, từ giọng nói, ngôn ngữ, ẩm thực, tính cách, cách thức làm ăn… Ở Sài Gòn khi thân thiết thì hỏi nhau “quê đâu” mà không hề có ý phân biệt người “tỉnh” hay “thành phố”.
Gia phả nhiều dòng họ, gia đình ở Nam bộ phần lớn được ghi nhận “thời ông cố ông sơ” từ miền Trung đi ghe theo biển vô Nam, đầu tiên định cư trên những giồng đất vùng cửa sông… rồi từ đó ngược các nhánh Cửu Long vào sâu vùng ngập trũng, khai phá đồng bằng và khai thác tự nhiên .
Công cuộc khai phá này chẳng hề dễ dàng thuận lợi chút nào! Do đó tính thực tiễn được đặt lên hàng đầu: tất cả hướng đến thực tế, không lý thuyết suông, không giáo điều, lấy hiệu quả lao động làm mục đích chính. Không hay than vãn, người Nam bộ thường nói “làm chơi ăn thiệt” nhưng đây là thể hiện tư duy giản dị mọi việc, “coi vậy mà hổng phải vậy”, nhìn khó khăn đã qua như một việc chơi chơi, còn kết quả thực sự mới là quan trọng, là đã “có ăn”.
Với hơn ba trăm năm đi xa “gốc gác” từ đồng bằng sông Hồng, sông Mã làm sợi dây “truyền thống” khép kín càng dãn ra. Những tính chất của không gian “nông thôn làng xã” biến đổi theo thời gian, bị/ được đứt gãy do phải thích ứng với không gian địa – xã hội khác. Thay vào đó là sự tự lập và tính linh hoạt ứng phó với hoàn cảnh điều kiện mới và từ đó tạo ra truyền thống mới, dám thay đổi cho phù hợp hoàn cảnh, thích nghi nhanh, chịu đổi mới. Quan trọng là không mặc cảm sợ sai và sửa sai nhanh.
Ở Sài Gòn/ Nam bộ “dư luận xã hội” không nặng nề khe khắt với những điều khác lạ, cái mới. Là bởi người Việt trên bước đường lưu chuyển vào đây đã trải nghiệm qua những vùng đất toàn những điều mới lạ. Cùng với sự nhạt đi của tính chất phong kiến gia trưởng, lại luôn cần đùm bọc nhau trong hoàn cảnh mới, tiếp xúc sớm với các giá trị dân chủ, bình đẳng của văn minh phương Tây làm cho người Sài Gòn khá cởi mở trong các mối quan hệ xã hội, cá nhân ít lệ thuộc, phụ thuộc vào cộng đồng và vì thế vai trò và trách nhiệm cá nhân rõ ràng.
Có thể nói tính cách người Sài Gòn/Nam bộ gắn liền với chữ “LÀM”; “làm ăn”, “Làm chơi ăn thiệt”, “làm đại”, “dám làm dám chịu”… sự liên kết gắn bó, hòa trộn những đặc điểm trên tạo nên tính cách người Sài Gòn/ Nam bộ.
Trong tiến trình lịch sử không thể phủ nhận một điều, với vị thế là thương cảng trung tâm kinh tế – văn hóa, có tầm giao lưu và ảnh hưởng đến khu vực rộng hơn, Sài Gòn luôn được coi là thành phố tiêu biểu và đại diện cho Nam bộ trên tất cả các lĩnh vực. Cũng cần lưu ý rằng, trong một thời gian dài Sài Gòn là thủ phủ của chính quyền thực dân và thủ đô của chính quyền miền Nam trước năm 1975, từng là một trung tâm chính trị. Những yếu tố trên đây hợp thành và tạo nên một đô thị cổ Bến Nghé – Gia Định, một đô thị Sài Gòn – TP.HCM độc đáo khác với Hà Nội hay Huế – hai thành phố cũng là trung tâm của cả nước trong giai đoạn lịch sử khác .
3.3 Thời hiện đại, quá trình dân cư của Sài Gòn cũng khác với nhiều đô thị khác: Thời kỳ chiến tranh Sài Gòn là nơi mà nhiều người từ các tỉnh miền Trung đổ vào, từ miền Tây Nam bộ lên, nhất là khi chiến sự ác liệt. Sau năm 1975 Sài Gòn cũng là nơi có tình trạng thay thế dân cư lớn nhất và kéo dài cho đến nay: Người (thị dân) Sài Gòn ra đi bằng nhiều con đường, lúc ồ ạt khi chẳng mấy ồn ào; người các tỉnh lại liên tục đổ vào Sài Gòn tới nay chưa hề giảm bớt (khác với Hà Nội trong chiến tranh dân cư rời bỏ thành phố đi về tản cư, sơ tán nông thôn, sau chiến tranh mới trở lại thành phố).
Tuy nhiên Hà Nội và Sài Gòn cũng có một số điểm giống nhau: 1/ Sau khi chiến tranh chấm dứt khá nhiều người Hà Nội “gốc” và Sài Gòn “xịn” đã rời thành phố đi nơi khác sinh sống, tạo ra khoảng trống trong cơ cấu dân cư là tầng lớp thị dân lâu đời; 2/ Chính quyền thiết lập sau chiến tranh (Hà Nội 1954 và Sài Gòn 1975) đều do (hầu hết) những người (kháng chiến) ở nông thôn, rừng núi trở về lãnh đạo, một giai đoạn dài tổ chức chính quyền không kịp thích nghi với đô thị lớn nhất nước và 3/ hiện nay hai thành phố này có số lượng người nhập cư nhiều nhất, phức tạp nhất.
Những đặc điểm này làm cho Hà Nội và Sài Gòn khó khăn trong việc xây dựng đô thị văn minh hiện đại. Đặc biệt, tình trạng đột biến dân cư nhanh, ồ ạt, sự đứt gãy ký ức cộng đồng của hai đô thị lớn nhất nước đã để lại nhiều ảnh hưởng tiêu cực trong việc gìn giữ lối sống đô thị, bảo vệ và bảo tồn di sản đô thị.
Nam bộ được nhìn nhận có hai tiểu vùng trên cơ sở hai vùng địa hình: Đông Nam Bộ là lưu vực sông Đồng Nai và Tây Nam Bộ là lưu vực sông Cửu Long. Tuy nhiên về cộng đồng dân cư, về kinh tế và văn hóa giữa hai tiểu vùng khá giống nhau. Đây là điều tương đối khác so với miền Trung và miền Bắc. Trên cơ sở đó, Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh được coi là và luôn là đại diện cho Nam bộ. Chính vì vậy có thể coi những đặc trưng lịch sử - văn hóa của Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh cũng là những đặc trưng của nhiều đô thị ở Nam bộ. Nguồn vốn di sản đô thị ở TP. Hồ Chí Minh có những loại hình và giá trị thế nào thì các đô thị Nam bộ cũng có như vậy, tuy mức độ khác nhau.
Lời tạm kết
Hiện nay tại TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam bộ, ngoài hệ thống di tích Lịch sử văn hóa (phần lớn là cấp tỉnh thành) và các bảo tàng chưa được nhiều người biết đến thì chưa có chiến lược và chương trình cụ thể nhằm làm cho người dân và thế hệ trẻ hiểu biết nhiều hơn, đúng hơn về di sản văn hóa. Một vài chương trình truyền hình, chuyên mục trên một số tờ báo… chưa đủ sức mang lại sự yêu thích và khơi dậy ý thức bảo vệ di sản văn hóa. Mỗi khi có vụ việc phá hoại di sản thì báo chí lên tiếng rồi sau đó lại chìm vào lãng quên. Mặt khác các chương trình “xúc tiến quảng bá du lịch” còn nặng về “khai thác” mà chưa chú ý làm cách nào tăng thêm giá trị cho di sản văn hóa.
Nói về bản sắc đô thị Sài Gòn – Nam bộ là góp phần khẳng định: Nam bộ - Sài Gòn không chỉ có vai trò “cùng cả nước vì cả nước” về kinh tế mà di sản văn hóa của vùng đất này đã đóng góp những giá trị quan trọng đối với lịch sử - văn hóa Việt Nam. Mặt khác, bảo tồn di sản còn là nuôi dưỡng ký ức và tình cảm đối với thành phố, với quê hương, vì vậy, bảo tồn di sản đô thị Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh và các đô thị Nam bộ còn góp phần vào tiến trình hòa hợp hòa giải dân tộc.
[Trích từ một bài viết dài với 10 tài liệu tham khảo, trích dẫn.]


NGÀY MAI ĐANG BẮT ĐẦU TỪ NGÀY HÔM NAY


Đất nước bước vào mùa thu đặc biệt, mùa thu của 80 năm Dân chủ cộng hòa. Trong gia đình tôi ngày 2/9/1945 được gọi là Ngày Độc Lập. Vì đó là ngày cha mẹ chú bác tôi lên đường đi theo “tiếng gọi sơn hà” giành nền độc lập cho tổ quốc.
Nhiều người Việt Nam thời đó học hành rất giỏi, dành được học bổng của chính quyền Pháp, khi trở thành bác sĩ, thầy giáo, kỹ sư, luật sư, công chức cũng được ưu đãi vật chất… Nhưng cũng nhờ có học nên những người trí thức hiểu rằng không ai có quyền áp bức bóc lột ai, họ tiếp nhận văn minh phương Tây để hiểu về Tự do, Bình đẳng, Bác ái giữa các quốc gia. Và họ, bằng nhiều hình thức việc làm khác nhau, đã tham gia vào cuộc đấu tranh chống chính quyền thuộc địa vì mục tiêu Độc lập Dân tộc. Đó là ước nguyện và niềm tin của người Việt Nam trong suốt hai cuộc kháng chiến.
Sau khi hòa bình – thống nhất vào tháng 4/1975, hơn mười năm sau cả nước vật vã trong “cơn bệnh ác tính” thời bao cấp. Đến nay, nếu tính từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới vào năm 1986 thì cũng gần 40 năm trôi qua.
Khi công cuộc Đổi mới được khởi xướng, tôi là một giảng viên trẻ. Cuộc sống quá thiếu thốn vất vả nên chúng tôi cũng lam lũ việc chân tay như mọi người. Ai cũng phải làm thêm việc phụ - nhưng lại là việc chính để mang lại chén cơm tấm áo cho con cái. Thôi thì không thiếu “ngành nghề” gì: nuôi heo trong nhà tắm, nuôi cá trê phi dưới gầm giường, dán bao thơ, túi giấy cho bưu điện, đóng sách bằng tay cho nhà in, bán báo, chở hàng thuê, bỏ mối hàng... khá hơn thì có máy may để may đồ gia công, hay tham gia các “tổ hợp” làm hàng tiêu dùng kiểu “Hồng kông bên hông Chợ Lớn”... Vài ngày lại xếp hàng mua từ cây kim sợi chỉ đến cân gạo, bó củi, mớ rau…
Lúc đó tôi chưa hiểu hết khái niệm “Đổi mới” là thế nào, thể chế cơ chế là gì? Nhưng là một người phụ nữ, tôi nhận ra sự “đổi khác” bắt đầu từ chén cơm của con có thêm miếng thịt miếng cá, ngoài chợ hàng hóa nhiều hơn và dễ mua hơn, không còn phụ thuộc vào thái độ vui buồn của “cô mậu dịch”. Đổi khác từ mảnh ruộng miếng vườn của ông bà ở nhà quê được tự do trồng trọt và tiêu thụ nông sản... Người dân lúc ấy, có lẽ không cần biết đến những khái niệm to tát, nhưng luôn nhìn nhận rất rõ từng đổi thay hàng ngày: có hàng hóa ngoài chợ, có cơ hội làm ăn, cuộc sống “dễ thở” hơn, và nghĩ rằng cứ như vậy thì đời con mình sẽ khá hơn hôm nay. Bao nhiêu sự “đổi khác” nho nhỏ hàng ngày, thiết thực với từng người dân tạo thành sự “Đổi mới” của đất nước, mà sau này hay được nhắc đến bằng cụm từ “chấm dứt bao cấp và mở cửa”. Có lẽ đó là hạnh phúc giản dị cụ thể mà mỗi người dân đều mong đợi một “cơ chế thể chế” mang lại.
***
Có thể nói, “đổi mới” mang lại sự thay đổi đời sống vật chất vô cùng nhanh chóng! Bốn mươi năm ấy thế hệ chúng tôi được trải nghiệm vô vàn những hiện tượng riêng, rất “Việt Nam”. Ra khỏi chiến tranh, từ một đất nước thiếu ăn trở thành quốc gia xuất khẩu lúa gạo, từ đất nước mà hàng tiêu dùng thiếu thốn trầm trọng nay đã có mặt trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Từ tài sản quý nhất của mỗi gia đình là chiếc xe đạp, nay nhiều người có xe hơi, điện thoại thông minh phổ biến và can dự thường xuyên vào cuộc sống mỗi người... Công nghệ của đất nước đang được ứng dụng thành tựu trí tuệ nhân tạo trên thế giới.
Bốn mươi năm trôi qua, kinh tế - xã hội nước ta từ nền “kinh tế bao cấp” đã “đổi khác”, tính chất thị trường ngày càng rõ hơn. Nhưng cũng không thể không nhận thấy, những cái Khác cái Mới thực sự vẫn còn ngập ngừng chưa tới? Đã qua một phần tư thế kỷ 21, cuộc sống bây giờ như con tàu cao tốc hiện đại nhưng vẫn chạy trên tuyến đường ray cũ kỹ, qua những vùng quê nghèo nàn dù hành trình có dừng ở vài nhà ga mới. Những người điều khiển chưa nắm vững thiết bị hiện đại của con tàunên còn xảy ra trục trặc. Hành khách có vẻ vừa thích lại vừa ngại “cái mới”, nhiều người chưa thoát khỏi tâm lý ngàn đời luôn đề phòng bất trắc, trong sự phấn khởi vẫn hiện diện nỗi lo sợ, hoài nghi...
Trong tình trạng đó “đoàn tàu hiện đại” chưa thể chạy hết công suất, vì còn lực cản, vì chưa an toàn, vì chưa đủ tự tin, chưa có sự đồng thuận... Tất nhiên, như vậy không thể không mang lại sự đổi mới thực sự như mong muốn.
Trong tiến trình lịch sử, những công cuộc đổi mới không chỉ là lựa chọn mà là bước phát triển tất yếu của nhiều quốc gia. Sự đổi mới có thể bằng nhiều phương thức (mà chiến tranh là tàn khốc nhất, có thể mang lại sự đổi thay nhưng hậu quả vô cùng lâu dài và nặng nề). Quá trình tiếp nối những đổi thay trên thế giới thể hiện quy luật xã hội. Thế kỷ 21 được vận hành trên cơ sở những thành tựu của công nghệ và dữ liệu Lớn (tính khách quan), tuân thủ pháp quyền và hiệu quả (tính chủ quan). Đó là một quy luật mà mỗi thể chế cũng như mỗi con người ở “thời đại số” – dù tuổi lão như thế hệ tôi – cần nhận biết.
Thực hiện đúng quy luật sẽ mang lại hiệu quả cho bộ máy và sự vận hành của chính quyền, mang lại những lợi ích cho người dân thụ hưởng. Việc tinh giản và phân cấp chính quyền địa phương thể hiện cơ chế hành chính hướng tới mối quan hệ thực chất giữa chính quyền và người dân, hướng đến mục tiêu quản trị nhà nước dần chuyển từ xin – cho sang phục vụ, từ mệnh lệnh hành chính sang đối thoại và tích hợp dữ liệu. Đồng thời, xây dựng hệ thống pháp luật và chính sách phù hợp thực tiễn, minh bạch và được giám sát bởi người dân.
Sự đổi mới không hề dễ dàng. Nếu năm 1986 đổi mới không thể chậm trễ vì tình trạng trì trệ đã dẫn đến những hậu quả nặng nề đối với từng người dân, kéo cả nước “đi lùi hàng thập kỷ”, thì công cuộc đổi mới hiện nay càng không thể chần chừ, khi mà thế giới đã bước vào “kỷ nguyên số” với tốc độ được tính từng phần ngàn giây, đồng thời cũng đặt ra thách thức đối với thế giới hiện đại là sự minh bạch, công khai, nhân văn và công bằng. Việt Nam nếu mãi câu nệ, níu kéo “sự đặc thù” của thế kỷ trước, thì đó là cách nhanh nhất kéo quốc gia mình ra khỏi sự phát triển chung của nhân loại.
***
Thế hệ chúng tôi tự nhận là thế hệ “bản lề”, vì sinh ra trong thời chiến và lớn lên trong thời bình, vất vả từ thời bao cấp sang những khó khăn thời mở cửa đổi mới... Đó là những ký ức không phai, nhưng chắc chắn không ai muốn trở về thời gian đó. Có thể nói chúng tôi chứng kiến, tham gia và góp phần tác động vào công cuộc xoá bỏ thời bao cấp. Cũng như cả nước, mỗi người đã “tự cứu mình trước khi trời cứu” như lời một vị lãnh đạo khi ấy đã nói. Cấp trên chuyển động, cấp dưới chuyển động, từng người chuyển động, cả guồng máy chuyển động. Lúc đầu còn chưa đồng bộ nhưng rồi dần dần như chiếc xe chở nặng, khi có đà rồi bánh xe cứ thế quay đều quay đều và nhanh dần…
Xã hội qua khỏi thời bao cấp giống như chuyển từ xe đạp sang xe máy. Tốc độ nhanh hơn, hiệu quả cao hơn, đi xa hơn. Đó cũng là những mục tiêu mọi cuộc đổi mới hướng đến. Muốn vậy việc lựa chọn phương tiện phù hợp và những điều kiện đi cùng là rất quan trọng. Thời đại hiện nay sự phát triển nếu so với phương tiện giao thông thì ít nhất, cần phải như tàu cao tốc. Tuy nhiên, muốn có metro trong một thành phố hay tàu cao tốc liên vùng thì không chỉ cần đoàn tàu mới. Quan trọng nhất là hệ thống đường ray hợp lý, hiện đại, an toàn, toàn bộ hệ thống phải đồng bộ khi “đấu nối” với nhau. Sự phát triển quốc gia với những kế hoạch, quy hoạch ngắn hay dài hạn, quy mô khu vực hay toàn quốc… có thể được coi như một mạng lưới đường sắt cao tốc như vậy! Hợp lý và khoa học hệ thống nào cũng vận hành trơn tru và mang lại hiệu quả cao.
Với công cuộc đổi mới hiện nay – người dân có thể không mấy quan tâm đến những khẩu hiệu “đao to búa lớn” mà hay nhìn từ những việc cụ thể, đơn giản, thiết thực cho mỗi người. Bởi vì mỗi người là một bộ phận – dù nhỏ xíu như chiếc đinh ốc - của cỗ máy xã hội. Sự vận hành cỗ máy nào cũng phải bắt đầu từ sự chuyển động của từng bộ phận. Không thể kỳ vọng ngay lập tức sẽ giải quyết hết mọi khó khăn cho người dân, bất bình đẳng với các thành phần xã hội, nhất là trong kinh tế. Nhưng tôi có quyền kỳ vọng những “điều mới, điều khác” chính quyền đang và sẽ làm. Đó là thực sự tôn trọng và phục vụ nhân dân, không tạo thêm bất công xã hội, không tạo điều kiện cho tham nhũng lãng phí hoành hành, không đẻ ra “cơ hội” cho những kẻ cơ hội chuyên “làm nghèo đất nước”.
Tám mươi năm qua, những thế hệ người Việt Nam đã dũng cảm hy sinh tính mạng chiến đấu chống ngoại xâm, biết bao con người đã hết mình lao động xây dựng tổ quốc, vì họ hiểu một cách sâu sắc rằng, giá trị của nền độc lập quốc gia chỉ trọn vẹn khi nhân dân được Tự do và Hạnh phúc – những giá trị phổ quát của nhân loại. Bốn mươi năm từ cuộc đổi mới xoá bỏ bao cấp, nếu cuộc cải cách hiện nay được thực hiện với lòng dũng cảm vàkiên nhẫn, hướng đến nhân dân bằng sự chân thành và khoan hòa, sẽ không chỉ mang lại “diện mạo mới, sinh khí mới” cho bộ máy chính quyền, mà còn khơi dậy niềm tin và sự hy vọng của nhân dân vào một xã hội mới: nơi mà điều tử tế trở thành bình thường, mọi người được tôn trọng và đối xử công bằng, cuộc sống vật chất đủ đầy và đời sống tinh thần nhân văn, tự do.
Nguyễn Thị Hậu
Đặc san báo Tuổi trẻ số 2/9/25



DI SẢN LỊCH SỬ - VĂN HÓA CÁC ĐÔ THỊ NAM BỘ NHÌN TỪ GIA ĐỊNH THÀNH THÔNG CHÍ CỦA TRỊNH HOÀI ĐỨC

Vài nét về công trình Gia Định thành thông chí

Gia Định thành thông chí (嘉定城通志) còn có tên Gia Định thông chí (嘉定通志), là một quyển địa chí do Trịnh Hoài Đức (1765-1825) biên soạn, viết về địa lý-lịch sử-văn hóa của miền đất Gia Định (Nam Bộ ngày nay).

           Công trình Gia Định thành thông chí là cơ sở của nhiều bộ thông sử của triều Nguyễn, là tài liệu cơ bản và quan trọng để nghiên cứu lịch sử Nam bộ, Việt Nam thời cận đại và nhất là nghiên cứu các vấn đề về triều Nguyễn. Nội dung của công trình đề cập một cách toàn diện, chi tiết các lĩnh vực địa lý, lịch sử, văn hóa, con người… của vùng đất Gia Định xưa thời nhà Nguyễn (lúc đó gồm 5 trấn Biên Hòa, Phiên An, Định Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên).  Các thị tứ, các trấn được khảo tả chi tiết và sinh động, toàn diện các lĩnh vực như kinh tế - xã hội – văn hóa – con người – xây dựng đô thị... Đặc biệt hệ thống địa danh dân gian và hành chính ghi chép trong Gia Định Thành thông chí là vốn tư liệu quý giá về ngôn ngữ, về đời sống cộng đồng, về quá trình hành chánh hóa vùng đất Gia Định.

     Đây là công trình khoa học mẫu mực của thể CHÍ. Đặc biệt cách tiếp cận và tâm thức của Trịnh Hoài Đức thể hiện trong công trình vừa từ góc độ “bên ngoài” – ông gốc người Minh hương, có khác biệt nhất định về văn hóa lối sống để có những nhận biết rất tinh tế và khách quan; vừa từ góc độ “bên trong” – ông với tư cách một đại thần triều Nguyễn - để phân tích, đánh giá, nhận xét một cách sâu sắc.

     Đã có nhiều bản dịch và giới thiệu về công trình này. Năm 2019 Nhà xuất bản Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh xuất bản bản dịch mới của Phạm Hoàng Quân. Bản dịch này phân tích kỹ văn bản gốc, chú giải và khảo chứng, qua đó đính chính được rất nhiều chỗ sai lầm hoặc giải thích chưa rõ của các bản dịch trước. Bản dịch của Phạm Hoàng Quân đưa công trình đến gần độc giả hiện nay hơn, vì giúp độc giả hiểu rõ về địa lý – lịch sử Nam bộ nói chung và từng địa điểm, địa danh dược ghi chép trong công trình Gia Định thành thông chí nói riêng.

Chúa Nguyễn mở mang vùng đất Gia Định

     Giai đoạn Chúa Nguyễn mở mang vùng đất Nam bộ cũng là giai đoạn họat động ngọai thương ở khu vực Đông Nam Á khởi sắc. Ngòai thương cảng Hội An nổi tiếng từ thế kỷ XVI, các trung tâm thương nghiệp mới như Cù Lao Phố (Biên Hòa, Đồng Nai), Mỹ Tho, Hà Tiên... cũng phát triển nhờ lợi thế của hệ thống giao thông đường thủy (cảng biển, sông rạch...).

      Mùa xuân Mậu Dần 1698, năm thứ 8 của chúa Nguyễn Phúc Chu, triều đình sai Thống suất Chưởng cơ lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, “ông lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, đặt xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, xứ Sài Gòn đặt là huyện Tân Bình, dựng dinh phiên Trấn…”. Phủ Gia Định lúc này bao gồm khắp miền Đông Nam Bộ, có một phủ, hai huyện, hai dinh. Mỗi dinh đều đặt các chức lưu thủ, cai bạ, ký lục để quản lý, các cơ độ thuyền thủy bộ tinh binh và thuộc binh. Mở rộng đất đai hơn nghìn dặm, dân hơn 4 vạn hộ, chiêu mộ lưu dân từ châu Bố Chánh đến lập nghiệp, lập ra xã thôn phường ấp, phân định địa giới, trưng thu ruộng đất, định mức tô thuế, lập sổ đinh sổ điền[1]. Kể từ thời điểm này nền hành chính tại Gia Định được thiết lập, tính pháp lý về chủ quyền quốc gia được xác lập trên vùng đất này.

     Từ đầu thế kỷ 18, chính quyền chúa Nguyễn đã chiêu mộ thêm dân để đẩy mạnh tiến trình khai hoang, mặt khác khuyến khích những người giàu có tại các vùng ở Đàng Trong di cư vào đất Gia Định. Mặt khác, chúa Nguyễn tạo điều kiện dễ dàng cho việc khai khẩn bằng chính sách thả nổi cho lưu dân tự chiếm đất hoang để trồng lúa, trồng cau, lập vườn, xây nhà mà không phải qua một thủ tục hành chính nào cả. “Đất Nông Nại xưa vốn nhiều đầm ao rừng rú, buổi đầu mới lập ra ba dinh, mộ dân đến lập nghiệp, phép tắc hãy còn khoan dung giản dị... không hề ràng buộc, cốt sao khiến cho dân khai hoang mở đất cho thành ruộng, lập nên thôn xã mà thôi”.[2]

Từ năm 1790 Thành Gia Định từ một trung tâm chính trị mau chóng trở thành thương cảng lớn của Đàng Trong và trong khu vực Đông Nam Á. Đến thời nhà Nguyễn, Gia Định thành là một đô thị có vai trò sánh ngang Thăng Long và Phú Xuân, nhưng khác với Thăng Long và Phú Xuân vai trò chủ yếu là trung tâm chính trị, Sài Gòn – Gia Định được nhìn nhận vai trò kinh tế quan trọng (nông sản, thương nghiệp, thủ công nghiệp) bên cạnh vai trò trung tâm chính trị - văn hóa của Đàng Trong.

Diện mạo các đô thị ở Nam bộ khoảng đầu thế kỷ 19

Năm 1808, vua Gia Long đổi trấn Gia Định thành Gia Định Thành, bao gồm 5 trấn: Phiên An (địa hạt Gia Định), Biên Hòa, Vĩnh Thanh (sau chia ra Vĩnh Long và An Giang), Vĩnh Tường (sau này là Định Tường) và Hà Tiên.      

Gia định thành thông chí đã cho biết các trấn thời Nguyễn ở Nam bộ vào đầu thế kỷ XIX đã là những trung tâm kinh tế sầm uất, cùng thành trì là trung tâm hành chính thì nhà cửa phố xá bến chợ luôn được nhắc đến như một thành phần quan trọng của một trấn. Sau đây là vài miêu tả trong phần Thành trì chí.

Trấn Phiên An có Chợ phố Bến trước thành, phố chợ, nhà cửa rất trù mật... tụ tập hàng trăn thứ hàng hóa, dọc bến sống thuyền buôn lớn nhỏ đi lại sn sát (tr.553). Phố Sài Gòn (Chợ Lớn) đường phố lớn, thẳng suốt ba đường giáp đến bến sông... đan xuyên nhau như chữ điền, phố xá liền mái, người Việt và người Trung quốc cùng sinh sống... Hai bên nam - bắc bến sông không thứ gì là không có (tr.559); Ngoài ra còn có các chợ khác cũng nổi tiếng như Chợ Khung Dong (chợ cây da còm), Chợ Điều Khiển, phố chợ Lịch Tân (chợ Bến Sỏi), chợ Tân Kiểng...

Trấn Biên Hòa có phố lớn Nông Nại – cù lao Đại Phố. mái ngói tường vôi, lầu quán cao ngất, dòng sông rực rỡ, ánh nhật huy hoàng, liền nhau tới 5 dặm, chia làm 3 đường phố, đường phố lớn lát đá trắng, đường phố ngang lót đá ong, đường phố nhỏ lót đá xanh, toàn thể đường bằng phẳng như đá mài, kẻ buôn tụ tập, thuyền đi biển, đi sông đều đến cuốn buồm neo đậu, đầu đuôi thuyền đậu kế tiếp nhau, thật là một chỗ đô hội… (tr.568)

Trấn Định Tường có chợ và phố lớn Mỹ Tho, mái ngói cột chạm phủ, đình cao, nha thự rộng, thuyền bè sông biển ra vào, buồm thuyền trông như mắc cửi, thật là nơi đô hội lớn phồn hoa huyên náo. (tr.571)

Trấn Vĩnh Thanh có chợ Vĩnh Thanh, chợ Long Hồ phố xá liền nhau hàng hóa cả trăm món, dài đến 5 dặm ghe thuyền đầu suốt bến, miếu thần, đình làng mọc lên, đờn ca náo nhiệt, là chợ phố lớn của trấn. Chợ Sa Đéc: phố chợ nằm dọc theo bờ sông, mái nối mái liền nhau đối nhau san sát như vảy cá... trên bờ dưới sông có hàng trăm thứ hàng hóa tốt đẹp, nhìn ngợp mắt thỏa lòng, quả là chốn phồn hoa. (tr.576)

Trấn Hà Tiên: đường xá giao nhau, phố xá nối liền. Người Việt người Hoa người Cao Miên người Chà Và tụ họp chia ở, thuyền biển ghe sông qua lại như mắc cửi, thất là nơi đô hội góc biển vậy. (tr.576)

Như vậy, từ những ghi chép, khảo tả của Gia Định Thành thông chí, có thể nhận biết ngay từ khi khởi lập, các đô thị Nam bộ luôn ở trung tâm của mạng lưới giao thông đường thủy từng khu vực, tận dụng sự thuận tiện của hệ thống sông, kênh rạch, đường biển và chế độ thủy triều… Từ những bến – chợ đã hình thành các cảng thị như Sài Gòn, Cù Lao Phố, Mỹ Tho, Ba Vát (Bến Tre), Hà Tiên…sau này có Cần Thơ, Long Xuyên, Sa Đéc… Giữa các tỉnh hầu như đều có ranh giới tự nhiên là những giòng sông lớn nhỏ, trên trục lộ chính cứ qua một bến phà (nay là một cây cầu) là vào địa phận một thành phố lớn/trung tâm một tỉnh.

Có thể nói tính chất của đô thị Nam bộ là “đô thị sông nước”, người ta biết đến đô thị không chỉ là những thành trì, các công trình hành chính hay tôn giáo mà còn được biết đến vì cảnh quan “trên bến dưới thuyền”. Nếu ở vùng nông thôn “dưới thuyền” quan trọng vì hàng hóa nông sản nhờ ghe thương hồ chuyên chở, lưu thông thì tại các thị tứ, “trên bến” dần hình thành những cảng thị (sông, biển) nổi tiếng với sự phong phú của hàng hóa, sự giao lưu trao đổi buôn bán trù mật, sự đông đúc đa dạng của cư dân.  

Từ thị tứ trở thành các Trấn khi được bổ sung thêm chức năng hành chính, chính trị và quân sự. Trung tâm hành chính của các Trấn ở Nam bộ thời Nguyễn đã là những đô thị sầm uất phát triển thương mại, gắn liền với đường sông và đường biển. Do vậy các đô thị ở Nam bộ hình thành có phần khác biệt so với Thăng Long/Hà Nội, Huế hay Phố Hiến, Hội An… Tuy bước đầu hình thành các đô thị này mang tính chất là trung tâm hành chính – quân sự nhưng không thể thiếu cơ sở quan trọng là kinh tế - yếu tố này trong quá trình phát triển ngày càng nổi bật.

Tính chất đô thị rõ nét qua đường phố, nhà cửa, chợ búa, phố nghề/phố chuyên doanh… Gắn bó chặt chẽ với vùng nông thôn xung quanh nhưng không làm “nông thôn hóa” mà ngược lại luôn có xu hướng “đô thị hóa” cho vùng xung quanh. Tính chất kết nối với các đô thị khác rất cao theo sông nước, do là những trung tâm kinh tế và tính chất thị trường.

Dân cư – con người vùng đất Gia Định

Đến cuối thế kỷ 17 ở Gia Định, “con cháu người Hoa ở Trấn Biên thì lập thành xã Thanh Hà, ở Phiên Trấn thì lập thành xã Minh Hương, đều biên vào hộ tịch”, đây là bộ phận người Hoa đã sớm có mặt cùng người Việt, người Khmer, người Chăm và các tộc người bản địa khác chung sống và xây dựng vùng đất Sài Gòn nói riêng và vùng Nam Bộ nói chung. Chính quyền của chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã xem người Hoa như thần dân của mình và họ đã trở thành một bộ phận hữu cơ của cư dân Nam Bộ, góp phần tạo dựng và phát triển kinh tế thương nghiệp và thủ công nghiệp.

Từ khi Gia Định trở thành trung tâm của Đàng Trong thời Chúa Nguyễn, nơi đây đã là nơi dân tứ xứ thường xuyên đổ về. Trong Gia Định thành thông chí, mục Phong tục chí ghi chép như sau: “Vùng Gia Định nước Việt đất rộng lương nhiều, không lo nạn đói lạnh, nên ít dự trữ, dân quen thói xa hoa, sĩ phu phong khí phấn phát. Do người bốn phương tự cư nên mỗi nhà đều có tục lệ riêng”. “Gia Định là cõi Nam nước Việt, lúc mới khai thác, lưu dân nước ta cùng người Đường (...), người Tây dương (...) Cao Miên, Đồ Bà (...) đến ngụ cư đông đúc xen lẫn, mà người các nước ấy thì y phục đồ dùng đều theo kiểu của dân tộc họ”[3]. 

 “Gia Định ở về phương Nam, gần ánh sáng mặt trời, người phần đông có tánh trung dũng khí tiết, coi nặng việc nghĩa coi nhẹ tiền tài, cho dù phụ nữ cũng vậy”, “Ở Gia Định khi có khách đến nhà, đầu tiên gia chủ bày trầu cau, sau đó dọn cơm bánh, tiếp đãi chu đáo đầy đủ. Bất kể là người thân hay sơ, quen hay lạ, tông tích ở đâu, đã đến thì phải đón tiếp đãi đằng. Nên nhiều người đi chơi không cần mang theo lương thực, nhưng lại khiến người né xâu trốn thuế đến xứ này nhiều, bởi có chỗ ăn chỗ ở”.[4]

Trải qua hai trăm năm với bao biến cố xã hội nhưng tính cách, lối sống đặc trưng của người Gia Định vẫn không thay đổi mà ngày càng được duy trì đậm nét. Cho đến nay, người nhập cư vẫn là thành phần hữu cơ của TP. Hồ Chí Minh. Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh luôn là nơi được nhắc đến bởi những việc làm thiện nguyện của các tổ chức xã hội, các cá nhân, là nơi luôn đi đầu trong những đợt cứu trợ “nhường cơm xẻ áo” cho các địa phương khác khi gặp thiên tai, cũng là nơi đùm bọc sẻ chia mọi cơ hội việc làm cho “người tứ xứ”. Sự hội tụ nhân lực từ mọi miền, mọi nguồn gốc, cùng với nhiều thế hệ dân cư ở Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh đã duy trì, phát triển sức sống trẻ trung, phát huy những phẩm chất, truyền thống tốt đẹp của thành phố.

Truyền thống cần lưu giữ và lan tỏa

Truyền thống của một vùng đất, một cộng đồng là những gì được lắng đọng và lưu truyền qua quá trình lịch sử dài lâu, hình thành từ sự thích ứng với thiên nhiên và tính cách văn hóa của cộng đồng. Cũng có thể coi những đặc điểm trên đây của các đô thị và con người Gia Định hồi đầu thế kỷ 19, qua công trình của Trịnh Hoài Đức, là một truyền thống quý giá và đặc sắc của vùng đất Nam bộ.

Trong quá trình đô thị hóa – hiện đại hóa, quá trình quy hoạch phát triển các đô thị ở Nam bộ cần chú ý những đặc điểm của “thị tứ, trấn” của vùng Gia Định đã được chỉ ra trong Gia Định Thành thông chí. Đó là sự thích ứng, thích nghi với Phong, Thủy, Thổ của vùng đất, là sự chủ động, sáng tạo của con người vùng đất này. Bên cạnh đó cần thiết phải nhận diện những đặc trưng văn hóa, lối sống, tính cách của con người vùng Gia Định để lưu giữ, lưu truyền và lan tỏa cho những thế hệ dân cư đến sau đang sinh sống trên vùng đất Nam bộ.

Đặc biệt cần sưu tầm, lưu giữ các địa danh dân gian và địa danh hành chánh đã được ghi chép trong Gia Định thành thông chí. Nên bảo tồn và trong nhiều trường hợp cần khôi phục địa danh cổ, ví như ở Đồng Nai – Biên Hòa (nơi có khu mộ Trịnh Hoài Đức – một di tích lịch sử quốc gia) có các địa danh đã đi vào lịch sử và tâm thức cộng đồng một cách bền vững và thân thương như Cù Lao Phố (nay là phường Hiệp Hòa), Cầu Gành (nay gọi là Cầu Ghềnh)... Hệ thống địa danh là di sản văn hóa vì phản ánh và tích hợp giá trị lịch sử - văn hóa, nguồn gốc và quá trình dân cư… Hệ thống di sản qua địa danh cho biết vùng đất Gia Định, Nam bộ có quá trình lịch sử lâu dài, có nền văn hóa độc đáo và nhân văn. Vì vậy cần có những nhận thức, quan điểm và ứng xử phù hợp với con người và vùng đất Nam bộ.

Trước mắt, cần đưa công trình Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức vào giảng dạy trong phần “lịch sử địa phương” ở tất cả các tỉnh Nam bộ, bằng hình thức giới thiệu nội dung và giá trị của công trình này. Từ đó lớp trẻ được tiếp nhận kiến thức, tri thức lịch sử - văn hóa của quê hương ngay từ sử liệu gốc. Truyền thống lịch sử - văn hóa mang tính bền vững, được truyền lại và bổ sung qua từng giai đoạn, trở thành “sợi chỉ đỏ xuyên” suốt từ quá khứ đến hiện tại và tương lai của một cộng đồng, một vùng đất.  

 

TP. Hồ Chí Minh, tháng 4.2024

 Nguyễn Thị Hậu


[1] Trịnh Hoài Đức, 2019, Gia Định thành thông chí. Phạm Hoàng Quân dịch, chú và khảo chứng. NXB Tổng hợp TPHCM và Saigonbooks. Tr.289

[2] Trịnh Hoài Đức, 2019, sđd, tr.292

[4] Gia định thành thông chí, sđd, tr.495








Phản xạ văn hóa các vùng miền Việt Nam

_Nguồn:  https://logbasex.substack.com?utm_source=navbar&utm_medium=web Bản đăng lại từ bài viết trên trang Substack cùng tên của tác gi...