Hiển thị các bài đăng có nhãn di sản văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn di sản văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng

HỒI HƯƠNG DI SẢN: ĐƯA HIỆN VẬT VỀ NƯỚC HAY ĐƯA TRI THỨC TRỞ LẠI?

 Nguyễn Thị Hậu

1.     Một bước chuyển trong tư duy về di sản

Hồi hương cổ vật là việc làm có ý nghĩa lớn, nhất là ở những quốc gia từng bị thực dân đô hộ như Việt Nam. Nếu ở những năm cuối của thế kỷ 20 dường như chỉ có một mong muốn, một lựa chọn là “đưa trả cổ vật về đúng nơi nó từng được sinh ra”, thì hiện nay trong bối cảnh “số hóa di sản toàn cầu”, một câu hỏi đơn giản nhưng quan trọng cần được đặt ra: Hồi hương di sản thật sự là đưa hiện vật về nước, hay đưa tri thức về hiện vật trở lại với cộng đồng? Vì thế câu chuyện hồi hương di sản cần được nhìn rộng hơn, không chỉ là bản thân hiện vật mà còn là những giá trị phi vật thể: tri thức, ký ức và những câu chuyện về hiện vật trở lại với cộng đồng.

Chủ trương đưa các tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, di sản văn hóa đáp ứng tiêu chí bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm và hiện vật có giá trị đặc biệt của Việt Nam đang ở nước ngoài trở về nước cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản lý di sản. Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là bảo vệ những gì đang có trong lãnh thổ, chống buôn bán trái phép và ngăn chặn cổ vật tiếp tục ra nước ngoài, thì nay Việt Nam bắt đầu đặt vấn đề chủ động tìm lại và hồi hương những phần quan trọng của di sản dân tộc đang phân tán trên thế giới.

Cơ chế được đặt ra có thể bao gồm những ưu đãi về thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng và một số chi phí liên quan đối với các trường hợp đưa hiện vật về Việt Nam không vì mục đích lợi nhuận để trưng bày, hiến tặng hoặc chuyển giao cho Nhà nước. Đây là một hướng đi đáng chú ý, bởi nó mở ra khả năng huy động nguồn lực xã hội thay vì chỉ trông chờ vào ngân sách nhà nước.

2.     Xác định cổ vật nào cần được trở về

Một chính sách hồi hương ở quy mô quốc gia không thể chỉ dựa trên cảm xúc “đó là của mình, phải mang về”. Trước hết cần xác định thế nào là “tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao”, thế nào là hiện vật có ý nghĩa đặc biệt, ai có thẩm quyền xác định và dựa trên những tiêu chí học thuật, pháp lý nào. Bên cạnh đó cũng cần có những danh mục ưu tiên: hiện vật khảo cổ độc bản, bảo vật quốc gia, hiện vật cung đình, những tác phẩm có ý nghĩa đặc biệt đối với lịch sử và bản sắc dân tộc, hay những tư liệu lưu trữ, bản đồ, ảnh, phim có giá trị không thể thay thế. Trên thực tế không phải mọi hiện vật Việt Nam đang ở nước ngoài đều có giá trị như nhau. Và quan trọng hơn, không phải hiện vật nào cũng nhất thiết phải được đưa về bằng mọi giá.

Có lẽ không cần tìm đâu xa một ví dụ cho câu chuyện này. Lịch sử gốm Chu Đậu của Việt Nam đã cho thấy một hiện vật ở nước ngoài đôi khi có thể “trở về” theo một cách khác. Môt chiếc bình gốm hoa lam từng là một manh mối quan trọng giúp giới nghiên cứu nhận diện lại một dòng gốm Việt Nam từng rất phát triển nhưng đã thất truyền trong nhiều thế kỷ. Điều thú vị là câu chuyện về chiếc bình không bắt đầu bằng việc nó được đưa trở lại Việt Nam. Từ dấu tích của một hiện vật đang ở Istanbul, câu chuyện về làng gốm Chu Đậu ở Hải Dương bắt đầu được lần lại. Nói cách khác, chiếc bình không trở về Việt Nam, nhưng tri thức về chiếc bình đã trở về. Và sự trở về ấy có ý nghĩa đặc biệt. Tri thức về kỹ thuật gốm có thể trở về với các nhà khảo cổ học, ký ức về làng nghề có thể trở về với cộng đồng Chu Đậu...

Nếu khi ấy chỉ đặt câu hỏi “Chiếc bình này đang ở Istanbul, làm thế nào để đưa nó về Việt Nam?” thì chúng ta sẽ bỏ qua một câu chuyện lớn hơn. Trong trường hợp này giá trị của chiếc bình không chỉ nằm ở bản thân chiếc bình, mà còn nằm ở khả năng nó dẫn chúng ta trở lại một phần lịch sử đã bị đứt đoạn. Hiện nay cổ vật này được bảo quản tốt, được nghiên cứu nghiêm túc và được giới thiệu đúng bối cảnh, nó vẫn đang làm một công việc quan trọng: đại diện cho văn hóa Việt Nam ở bên ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Trong trường hợp này, câu hỏi không còn đơn giản là “có đưa về hay không?”, mà nếu đưa về thì chúng ta có thể tạo ra giá trị gì lớn hơn không? để lại thì làm thế nào để giá trị Việt Nam của hiện vật được nhận diện, nghiên cứu và kể đúng câu chuyện? Đó là một cách nhìn khó hơn, nhưng trưởng thành hơn.

3.     Một hiện vật trở về chưa phải là một di sản trở về

Di sản là một mạng lưới quan hệ giữa vật thể với con người, ký ức, tri thức, môi trường và đời sống văn hóa. Vì vậy, nếu một hiện vật trở về nhưng không được nghiên cứu, không được số hóa, không được giải thích và không đi vào đời sống cộng đồng, thì chúng ta mới chỉ đưa được vật thể trở về, chưa làm sống lại tinh thần và đời sống của hiện vật.

Từ góc nhìn này, có thể hình dung quá trình hồi hương theo ba tầng:

Hồi hương vật thể → Hồi hương tri thức → Hồi hương và tái tạo ký ức văn hóa.

Tầng thứ nhất là đưa hiện vật về.

Tầng thứ hai là đưa hồ sơ, dữ liệu, nghiên cứu, hình ảnh, bản quét 3D và những tri thức liên quan về với cộng đồng nghiên cứu và công chúng.

Tầng thứ ba mới là khó nhất: làm cho hiện vật trở thành một phần của đời sống hôm nay.

Một bảo vật trở về không chỉ nằm trong tủ kính, mà đi vào trường học, bảo tàng, sách, phim tài liệu, triển lãm, nền tảng số, trò chơi và các sản phẩm sáng tạo. Người dân biết câu chuyện của nó, hiểu vì sao nó quan trọng và nhận ra nó như một phần của ký ức chung. Khi ấy, hồi hương không chỉ là đưa một đồ cổ, một bức tranh, tượng nổi tiếng về là đưa một câu chuyện văn hóa trở về. Từ đây có thể nghĩ tới một khái niệm rộng hơn: hồi hương hệ sinh thái di sản. Hệ sinh thái ấy bao gồm hiện vật, nhưng không dừng ở hiện vật. Nó còn bao gồm tri thức, dữ liệu, ký ức, câu chuyện, công nghệ, cộng đồng và những thiết chế văn hóa làm cho di sản tiếp tục sống. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong thời đại số, bởi vì những tri thức được lưu giữ chuẩn xác sẽ được các thế hệ sau sử dụng và sáng tạo bằng tư duy mới, khoa học kỹ thuật mới, sản phẩm mới và tăng thêm những giá trị mới, kể cả giá trị kinh tế. Đó là “phát triển bền vững” từ di sản văn hóa.

Việt Nam có thể xây dựng một cơ sở dữ liệu quốc gia về các hiện vật Việt Nam đang ở nước ngoài; số hóa hồ sơ; quét 3D; chụp ảnh chất lượng cao; tập hợp và dịch các công trình nghiên cứu; kết nối với các bảo tàng, trường đại học, nhà sưu tập và các tổ chức nghiên cứu quốc tế. Khi đó, ngay cả những hiện vật chưa thể hồi hương về mặt vật chất cũng đã có một phần “trở về”. Tri thức có thể trở thành triển lãm. Dữ liệu có thể trở thành học liệu. Hình ảnh và bản quét có thể trở thành nền tảng số. Những câu chuyện về hiện vật có thể trở thành phim, sách, sản phẩm sáng tạo và trải nghiệm du lịch văn hóa.

Mặt khác đừng để hồi hương trở thành một cuộc chạy đua mua cổ vật. Vì vậy chính sách hồi hương cổ vật cần được thiết kế rất thận trọng để có thể thực thi đúng trong thực tế. Nếu mục tiêu chỉ là “đưa càng nhiều hiện vật về càng tốt”, một số hệ quả ngoài mong muốn có thể xuất hiện: Hiệu ứng truyền thông có thể khiến giá trị biểu tượng lấn át giá trị học thuật. Một hiện vật nổi tiếng có thể được mua với giá rất cao trong khi những bộ sưu tập ít được chú ý hơn nhưng có giá trị nghiên cứu lớn lại bị bỏ qua. Thị trường quốc tế cũng có thể phản ứng bằng cách đẩy giá các hiện vật có nguồn gốc Việt Nam lên cao. Nghiêm trọng hơn, nếu cơ chế kiểm soát không đủ chặt chẽ, chính sách hồi hương có thể vô tình tạo động lực cho việc đưa hiện vật ra nước ngoài rồi tìm cách đưa trở lại dưới danh nghĩa “hồi hương”.

4.     Từ chủ quyền hiện vật đến chủ quyền tri thức

Có lẽ đây là điểm quan trọng nhất cần được suy nghĩ khi xây dựng chính sách hồi hương. Chúng ta thường nói: “Đó là di sản của mình, phải đưa về”. Nhưng trong thế giới ngày nay, có một câu hỏi khác cũng quan trọng không kém: Tri thức về di sản của mình đang ở đâu? Ai đang nghiên cứu nó? Ai đang kể câu chuyện về nó? Và cộng đồng Việt Nam có thể tiếp cận những tri thức ấy đến đâu?

Một hiện vật Việt Nam ở Paris, London hay New York vẫn có thể là một phần của di sản Việt Nam. Vấn đề là Việt Nam có hiện diện trong câu chuyện được kể về hiện vật ấy hay không. Đây chính là sự khác biệt giữa chủ quyền đối với hiện vật chủ quyền đối với tri thức. Không phải mọi hiện vật Việt Nam ở nước ngoài đều cần hồi hương. Nhưng mọi hiện vật Việt Nam ở bất cứ đâu cũng cần được kết nối với hệ tri thức và cộng đồng Việt Nam.

Từ đó, thay vì chỉ xây dựng Đề án hồi hương di sản, có thể xây dựng một Chiến lược hiện diện di sản Việt Nam trên thế giới, với ba trụ cột:

Hồi hương những hiện vật có ý nghĩa đặc biệt về lịch sử, bản sắc và pháp lý.

Hiện diện thông qua hợp tác với các bảo tàng quốc tế để hiện vật Việt Nam được trưng bày, nghiên cứu và kể đúng câu chuyện của mình.

Kết nối bằng một cơ sở dữ liệu quốc gia liên thông với các bảo tàng, trường đại học và tổ chức nghiên cứu trong và ngoài nước.

Trong tranh luận về hồi hương cổ vật, chúng ta thường đặt hai lựa chọn đối lập: hoặc đưa hiện vật về nước, hoặc để nguyên ở nước ngoài. Nhưng còn một cách thứ ba: quản trị một “quốc gia di sản phân tán. Đó là thừa nhận một thực tế lịch sử di sản Việt Nam hiện diện ở nhiều quốc gia, trong nhiều bảo tàng, bộ sưu tập và kho lưu trữ khác nhau. Điều cần thiết là Việt Nam phải có năng lực để biết chúng đang ở đâu; có tiếng nói học thuật về chúng; kết nối dữ liệu và nghiên cứu; lựa chọn trường hợp nào thực sự cần hồi hương; đồng thời kể được câu chuyện Việt Nam thông qua chính những hiện vật ấy. Đây có thể là một hướng đi mới trong chính sách văn hóa phù hợp với thời đại Công nghệ số.

Trong tương lai, sức mạnh di sản không chỉ nằm ở số hiện vật chúng ta sở hữu, mà còn nằm ở khả năng tạo ra, kết nối và lan tỏa tri thức về những hiện vật ấy. Cuối cùng, hồi hương di sản không nên chỉ được hiểu là một hành động “đưa quá khứ trở về”. Mục tiêu sâu xa hơn phải là làm hồi sinh ký ức, để quá khứ tiếp tục có ích cho hiện tại và tương lai, là một hạt nhân tạo ra giá trị mới.

Vì thế, có lẽ điều đáng mong đợi nhất từ một chính sách hồi hương di sản không phải là một ngày nào đó chúng ta có thể thống kê được bao nhiêu cổ vật đã được đưa về Việt Nam. Điều đáng mong đợi hơn là từ mỗi hiện vật trở về, chúng ta có thêm một câu chuyện được kể, một ký ức được đánh thức, một công trình nghiên cứu được mở ra, một thế hệ trẻ hiểu hơn về lịch sử của mình và một cơ hội mới để văn hóa Việt Nam hiện diện trong thế giới.

Đưa một bảo vật trở về nước là đáng quý. Nhưng làm cho cả hệ sinh thái tri thức, ký ức và con người quanh bảo vật ấy được hồi sinh còn đáng quý hơn. Bởi suy cho cùng, hồi hương di sản không phải chỉ là đưa quá khứ trở về nơi nó từng thuộc về, mà là trao cho quá khứ một đời sống mới trong một tương lai “toàn cầu hóa”.

TP Hồ Chí Minh ngày 12/8/2026




Kiến tạo siêu đô thị giàu bản sắc và ký ức

 Dự thảo Luật Phát triển đô thị thể hiện tư duy đổi mới mạnh mẽ về phân quyền, tự chủ và tạo động lực phát triển; đồng thời bước đầu đề cập đến việc giữ gìn bản sắc văn hóa, công nghiệp văn hóa, kinh tế đêm, du lịch đô thị và các khu phát triển thương mại - văn hóa. Đây là những hướng tiếp cận rất cần thiết, kịp thời.

Tuy nhiên, văn hóa và di sản nên được đặt ở vị trí sâu hơn trong tư duy phát triển đô thị. Bởi một đô thị đặc biệt không chỉ đặc biệt bởi quy mô kinh tế hay hệ thống hạ tầng, mà còn bởi lịch sử, ký ức đô thị, sự đa dạng văn hóa, năng lực sáng tạo và gắn kết cộng đồng. Đó chính là “nguồn vốn mềm”, tạo nên sức hấp dẫn và năng lực cạnh tranh của thành phố trong dài hạn.

Phát triển kinh tế gắn liền ký ức đô thị

Trong quá trình phát triển, nếu văn hóa chỉ được nhìn như một ngành kinh tế để khai thác thông qua du lịch, kinh tế đêm hay công nghiệp văn hóa thì chúng ta mới nhìn thấy một phần giá trị của văn hóa. Văn hóa còn có vai trò là nền móng tinh thần của đô thị. Một con đường cũ, ngôi biệt thự, khu chợ, bến sông, đình làng, khu phố có lịch sử hàng trăm năm; một nghề thủ công, lễ hội, món ăn hay ký ức của cộng đồng cư dân... đều là những lớp trầm tích tạo nên diện mạo và tâm hồn thành phố.

Trong dự thảo mới nhất Luật Phát triển đô thị, những nội dung liên quan văn hóa chủ yếu tập trung ở Chương II (về cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt), Mục 4 (về phát triển văn hóa, thể thao, du lịch, giáo dục, đào tạo, y tế, an sinh xã hội), Điều 25 đã mở ra cơ sở cho phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế ban đêm và các khu thương mại - văn hóa. Dự thảo cũng có những quy định liên quan đến bảo tồn không gian văn hóa, cảnh quan môi trường, di tích lịch sử - văn hóa trong quản lý không gian đô thị. Tuy nhiên, điều còn thiếu là cơ chế bảo vệ những giá trị văn hóa chưa được “xếp hạng” nhưng đang sống trong đời sống đô thị: ký ức đô thị, cảnh quan lịch sử, không gian văn hóa cộng đồng, những khu dân cư lâu đời và cộng đồng cư dân gốc. Đây là khoảng trống nên được xem xét luật hóa.

Một trong những thách thức lớn nhất của siêu đô thị là áp lực “đập cũ xây mới”. Khi giá trị đất tăng lên, những công trình cũ dễ bị xem là vật cản của phát triển. Nhưng nếu tất cả những gì cũ đều được thay thế bằng những công trình mới, diện mạo đô thị có thể trở nên hiện đại mà giống nhau; giàu có hơn nhưng nghèo ký ức hơn.

Vì thế trong dự thảo luật, nên xem xét bổ sung một điều riêng về bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, kiến trúc và cảnh quan đô thị đặc biệt, thay vì chỉ gộp di sản trong các điều khoản phát triển kinh tế - xã hội. Điều này sẽ tạo cơ sở để TPHCM nói riêng và các đô thị lớn, đô thị đặc biệt nói chung xây dựng danh mục những công trình, không gian kiến trúc có giá trị lịch sử, văn hóa, ký ức đô thị, kể cả những công trình chưa được xếp hạng di tích. Quan trọng hơn, bảo tồn không nên chỉ là “giữ lại một công trình”, mà phải bảo vệ cả không gian, cảnh quan và cộng đồng làm nên giá trị của công trình ấy. Đặc biệt, đối với các dự án TOD (mô hình quy hoạch và phát triển đô thị lấy hệ thống giao thông công cộng làm trung tâm), chỉnh trang trung tâm, tái thiết đô thị hay phát triển đô thị nén, cần có đánh giá tác động văn hóa - xã hội và đánh giá tác động di sản trước khi quyết định. Với những dự án hạ tầng lớn đi qua khu vực đô thị lịch sử, nên bắt buộc thực hiện đánh giá tác động di sản (HIA), để hạ tầng hiện đại không làm tổn hại những di sản vật thể hiện hữu.

Di sản phải trở thành nguồn lực của phát triển

Ngày nay, bảo tồn và phát triển không phải là hai cực đối lập nhau. Nếu có cơ chế phù hợp, di sản có thể trở thành nguồn lực kinh tế, tạo việc làm, thu hút du lịch, thúc đẩy công nghiệp sáng tạo và nâng cao giá trị không gian đô thị. Do đó, trong quá trình xây dựng luật nên chú ý thiết kế các công cụ kinh tế đủ mạnh. Trước hết, có thể nghiên cứu thành lập Quỹ bảo tồn di sản đô thị, được hình thành từ một phần nguồn thu qua khai thác giá trị đất, đấu giá đất, các hoạt động du lịch và những nguồn hợp pháp khác. Bên cạnh đó, thiết kế chính sách hỗ trợ tài chính, ưu đãi thuế đối với những cá nhân, tổ chức đang sở hữu và gìn giữ các công trình có giá trị di sản. Đồng thời nghiên cứu thêm cơ chế chuyển nhượng quyền phát triển (TDR): nơi nào phải hạn chế chiều cao để bảo vệ di sản thì phần quyền phát triển bị hạn chế có thể được chuyển nhượng cho khu vực khác, tạo nguồn lực tài chính quay trở lại phục vụ bảo tồn. Đây là cách để biến “chi phí bảo tồn” thành một phần của cơ chế thị trường, thay vì chỉ trông chờ ngân sách. Như vậy, người dân giữ một căn nhà cổ không còn cảm thấy di sản là gánh nặng; doanh nghiệp đầu tư vào bảo tồn không chỉ làm việc thiện; và Nhà nước có thêm công cụ để điều tiết lợi ích giữa bảo tồn và phát triển.

Phát triển siêu đô thị không phải là cuộc chạy đua xem thành phố nào có nhiều tòa nhà cao hơn, đường rộng hơn hay dự án lớn hơn. Một đô thị đáng sống và có sức cạnh tranh lâu dài phải là nơi cái mới có thể lớn lên mà cái cũ không bị lãng quên. TPHCM thúc đẩy những tuyến metro hiện đại nhưng vẫn gắn với những con phố có ký ức; cần những trung tâm tài chính quốc tế nhưng cũng song hành những không gian văn hóa cộng đồng; cần những khu đô thị mới nhưng không nên để những cộng đồng cư dân lâu đời biến mất khỏi bản đồ ký ức. Bởi sau cùng, hạ tầng tạo nên hình hài của đô thị, kinh tế tạo nên sức mạnh của đô thị, nhưng văn hóa và di sản mới góp phần tạo nên linh hồn của đô thị.

4 nhóm giải pháp cốt lõi

Dự thảo Luật Phát triển Đô thị đang tạo ra một “chiếc áo pháp lý” mới để TPHCM vận động mạnh mẽ hơn trong nền kinh tế thị trường. Dự thảo luật có thể tập trung vào 4 nhóm giải pháp cốt lõi: một là, định danh và bảo vệ di sản, ký ức, cảnh quan và không gian văn hóa đô thị; hai là, tích hợp đánh giá văn hóa - di sản vào quy hoạch, hạ tầng và các dự án tái thiết lớn; ba là, hình thành các công cụ tài chính, ưu đãi và cơ chế thị trường để biến bảo tồn thành một nguồn lực phát triển; bốn là, phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch và kinh tế đêm trên nền tảng bản sắc địa phương, tránh thương mại hóa và sân khấu hóa văn hóa.

TPHCM và nhiều đô thị lớn khác có đủ điều kiện để phát triển kinh tế ban đêm. Nhưng kinh tế đêm không nên được hiểu đơn giản là những khu phố ăn uống, bar, pub hay mua sắm. Đó phải là những không gian kết hợp thương mại với văn hóa bản địa: nghệ thuật đường phố, trình diễn di sản phi vật thể, bảo tàng mở về đêm, không gian sáng tạo, chợ truyền thống, biểu diễn nghệ thuật và các tuyến phố di sản. Khi đó, du khách đến TPHCM không chỉ để mua sắm hay ăn uống, mà còn để nghe câu chuyện của thành phố, nhìn thấy lịch sử trong đời sống hiện tại, cảm nhận sự thân thiện phóng khoáng của người dân, và khi mang một phần ký ức ấy trở về họ luôn mong sẽ có ngày quay lại.

https://www.sggp.org.vn/kien-tao-sieu-do-thi-giau-ban-sac-va-ky-uc-post866152.html



THÀNH PHỐ VÀ TẦM NHÌN

 

Nguyễn Thị Hậu

1.

Tôi vừa kết thúc chuyến du lịch Nam Kinh – Hàng Châu – Thượng Hải. Đây không phải lần đầu tôi đến Trung quốc, nhưng điều luôn gây ấn tượng với tôi không phải là những tòa nhà chọc trời hay tàu cao tốc hiện đại, mà là cảm giác những thành phố này được xây dựng theo một tầm nhìn rất dài hạn. Tại các thành phố tôi qua, cảnh quan kiến trúc hài hoà xưa và nay, nhìn qua tưởng rất bình thường và ổn định từ lâu. Nhưng thực tế để làm được điều đó lại cần hàng chục năm kiên trì, thậm chí đã từng sai lầm và phải kiên quyết sửa sai.

Ở Nam Kinh, những hàng cây ngô đồng cao lớn xanh mướt phủ kín nhiều tuyến đường. Ngay tại Trường thành (xây dựng vào đầu thời Minh) ngoài việc bảo tồn và trùng tu rất tốt, các cổng vòm là lối ra vào thành được sử dụng làm không gian trưng bày tư liệu về toà thành, hình ảnh khai quật khảo cổ học, thú vị nhất là trưng bày các loại hình gạch ngói xây thành và sử liệu về những đội quân từ các địa phương đã sản xuất ra những viên gạch nhiều kích cỡ đó. Thành cổ, cũng như nhiều di tích, được giữ như một phần của đời sống. Người dân chạy bộ trên thành, du khách ngồi nghỉ dưới bóng cây, trẻ em đạp xe qua những khoảng không gian đã chứng kiến bao biến động lịch sử. Di sản không đứng ngoài cuộc sống mà di sản chính là cuộc sống. Nam kinh vẫn phát triển hiện đại nhưng không phải bằng cách xóa đi ký ức của mình.

Hàng Châu lại cho tôi một cảm nhận khác. Cả thành phố dường như biết lùi lại một bước để thiên nhiên và di sản được lên tiếng. Công viên và cây xanh phủ kín thành phố. Những tuyến đường rợp mát dành cho người đi bộ và xe đạp được tổ chức như những mạch nối nhẹ nhàng giữa con người với cảnh quan. Ở Hàng Châu, Tây Hồ nổi tiếng bới phong cảnh và có nhiều di tích lịch sử. Không gian di sản văn hoá này không bị bao quanh bởi những dự án bất động sản cao tầng. Thay vào đó là không gian mở, công viên, đường đi bộ, cây xanh và những di tích được gìn giữ cẩn thận. Giá trị của Tây Hồ không chỉ nằm ở cảnh đẹp mà ở việc mọi người đều có thể tiếp cận và tận hưởng nó, là những truyền thuyết lịch sử vẫn được lưu truyền và minh chứng bằng hệ thống di tích gồm miếu, đền, cầu, làng, vườn... Hàng Châu không chỉ quy hoạch hiện đại cho thành phố mà còn quy hoạch cả những khoảng lặng cho con người có thể sống chậm hơn.

Thượng Hải là một ví dụ điển hình của bảo tồn và phát triển. Đó là thành phố của những tòa nhà chọc trời, của tài chính toàn cầu, của công nghệ và ánh sáng. Nhưng cũng chính ở nơi ấy, phố cũ, nhà kho, bến cảng, khu tô giới... không bị xóa đi để nhường chỗ cho những biểu tượng mới mà chúng được kể lại bằng một ngôn ngữ mới, trở thành di sản sống động trong thành phố hiện đại. Tuổi đời của khu phố lịch sử ở Thượng Hải cũng chỉ một vài trăm năm, nhưng không vì thế mà không được coi trọng về giá trị văn hoá. Những toà nhà thời “thuộc địa” trở thành điểm check-in đông đúc như Bến Thượng Hải hay khu vực những toà tháp của Trung tâm tài chính. Hai thế giới cùng tồn tại, bổ sung cho nhau thay vì loại trừ nhau. Từ đó, di sản đô thị trở thành nguồn lực của phát triển, ký ức lịch sử trở thành chất keo kết dính các thế hệ thị dân.

Thượng Hải – Phố Đông trở thành hình mẫu phát triển của nhiều thành phố Trung quốc, không chỉ hình mẫu của sự hiện đại mà còn là bài học kinh nghiệm của nhiều sai lầm trong quá trình xây dựng đô thị mới từ vùng ven ngoại ô hay chỉnh trang các khu phố cũ. Đó là bài học cần được học đầy đủ như một cuốn sách lịch sử cần được đọc từ trang đầu đến trang cuối.

2.

Di sản lịch sử văn hoá ở các thành phố Nam Kinh – Hàng Châu – Thượng Hải và hệ thống di sản vùng phụ cận đã khéo léo được sử dụng trong kinh tế du lịch, mang lại cảm giác về một sự hài hòa hiếm có giữa quá khứ và tương lai, giữa tốc độ phát triển và sự trân trọng ký ức. Điều này có tác dụng tích cực đến đời sống tinh thần của cộng đồng dân cư luôn biến động nhanh tại các thành phố lớn ở Trung quốc.

Di chuyển suốt 5 ngày giữa các thành phố, dừng lại tại nhiều điểm du lịch nhưng hành trình khá thuận lợi, nhanh chóng. Đó là do những thành phố này không chỉ đầu tư vào hạ tầng giao thông như đại lộ, cầu vượt hay tàu cao tốc, metro... mà còn là đầu tư vào chất lượng không gian đô thị. Có thể nhìn thấy khắp nơi là mảng xanh của nhiều công viên lớn nhỏ, cây xanh bên đường, là mặt nước hồ trong xanh, sông và kênh sạch sẽ… Tất cả không chỉ quy hoạch như cảnh quan đô thị mà còn giúp điều tiết khí hậu, là hệ thống tích nước và thoát nước.

 Một con đường không chỉ để xe chạy nhanh hơn mà còn phải có bóng mát để đi bộ, khu thương mại có vỉa hè rộng rãi để tiện cho đông người mua bán, nhiều khu phố cũ còn giữ nguyên những hành lang đi bộ dài có mái che từ thời thuộc địa. Một dòng sông không chỉ là nơi thoát nước mà là tài sản cảnh quan, không một nhà đầu tư nào được chiếm dụng hai bên sông thành của riêng để xây nhà cao tầng. Một khu đất đẹp không mặc định phải trở thành khu biệt thự sang trọng hay trung tâm thương mại cao cấp, nhưng nếu được quy hoạch thành những cao ốc thì mật độ xây dựng thông thoáng, mang lại “không gian để thở” cho những gia đình sống trong những căn hộ trên đó. Một công trình cũ không mặc định phải phá đi để xây cái mới, mà luôn có phương án cải tạo chỉnh trang cho những công năng mới, một đời sống mới để có thể phục vụ nhu cầu dân cư thế kỷ 21.

Những gì ta nhìn thấy hiện nay chính là kết quả của tư duy và chính sách quy hoạch đô thị thống nhất và thực hiện đồng bộ từ cấp quốc gia đến các địa phương từ nhiều chục năm trước. Vì vậy dễ dàng nhận thấy sự liên kết chặt chẽ từ hệ thống giao thông đến việc ứng dụng nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật trong xây dựng hạ tầng, tính chất phát triển các siêu đô thị nhưng mở rộng kết nối với vùng xung quanh. Từ góc độ văn hoá, có thể nhìn thấy triết lý “quy hoạch đô thị là một cách đối thoại với thời gian”. Quy hoạch không chỉ quyết định diện mạo thành phố hôm nay và tương lai, mà còn âm thầm định hình ký ức và chất lượng sống của nhiều thế hệ mai sau.

Mỗi chuyến đi đều để lại những tấm ảnh đẹp. Nhưng điều đáng giá hơn là mang về một góc nhìn mới. Điều tôi nhìn thấy sự khác biệt ở Nam Kinh, Hàng Châu hay Thượng Hải không phải vì họ giàu hơn, mà vì nhiều quyết định quy hoạch của họ dường như đã được đưa ra với tầm nhìn 30 –50 năm, chấp nhận hy sinh một phần lợi ích ngắn hạn để giữ lại những giá trị mà thế hệ sau vẫn được thụ hưởng. Đó là điều làm cho du khách nhớ đến thành phố vì bản sắc riêng chứ không phải vì những tòa nhà hiện đại giống nhau ở khắp nơi.

3.

Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố sông nước, thành phố của những bến cảng nổi tiếng. Sông Sài Gòn, hệ thống kênh rạch dày đặc, khí hậu nhiệt đới thuận lợi để phát triển đô thị xanh. Tuy vậy hiện nay nhiều đoạn bờ sông vẫn khó tiếp cận, nhiều tuyến kênh còn thiếu không gian công cộng, diện tích cây xanh trên đầu người vẫn ở mức khá thấp so với nhiều đô thị phát triển trong khu vực. Thành phố cũng có rất nhiều di sản kiến trúc đẹp: Bưu điện Thành phố, Nhà thờ Đức Bà, trụ sở UBND, chợ Bến Thành, các biệt thự cổ, Chợ Lớn hình thành từ hàng trăm năm trước... Nhưng không ít công trình cũ ở khu trung tâm “vùng lõi di sản’ đã biến mất để nhường chỗ cho những dự án mới mà giá trị kiến trúc chưa chắc tương xứng.

Đô thị Sài Gòn xưa có lớp trầm tích văn hóa dày hơn nhiều người vẫn nghĩ. Nhưng chính thành phố ấy đang thay đổi từng ngày với một tốc độ rất “nóng”. Mỗi công trình mới mọc lên đều mang theo kỳ vọng về tăng trưởng, mỗi tuyến đường mở rộng đều hứa hẹn những kết nối mới. Điều đó là cần thiết vì một đô thị hơn mười triệu dân không thể phát triển nếu chỉ sống bằng hoài niệm. Song, như bài học của nhiều quốc gia đã cho thấy, phát triển chưa bao giờ đồng nghĩa với việc xóa sạch những gì thuộc về quá khứ. TP. HCM đang bước vào giai đoạn đầu tư rất mạnh về hạ tầng: metro, đường vành đai, các tuyến cao tốc, cải tạo kênh rạch, các đô thị vệ tinh... Nhưng nếu chỉ đầu tư vào giao thông và hàng loạt chung cư mà chậm đầu tư tương xứng cho cây xanh, không gian công cộng, mặt nước và bảo tồn di sản, thì chắc chắn không thể trở thành một “thành phố sống tốt”.

Một đồ án quy hoạch có thể quyết định giá trị bất động sản trong vài năm, nhưng cũng có thể quyết định chất lượng sống của hàng triệu con người trong cả thế kỷ. Nó quyết định người dân có được đi bộ dưới bóng cây hay chỉ đi giữa bê tông kính thép. Có còn nhìn thấy dòng sông hay chỉ thấy những bức tường cao vút che khuất trời xanh. Có còn nghe được những câu chuyện của thành phố hay chỉ sống giữa những khối nhà im lìm vô danh. Nó quyết định người dân sẽ lưu giữ cái gì trong tâm tưởng, về thành phố nơi mình sinh sống. Quy hoạch không chỉ giải quyết nhu cầu của hiện tại mà còn gìn giữ khả năng nhận diện của thành phố trong nhiều thế kỷ sau.

Thành phố Hồ Chí Minh đang đứng trước một thời điểm đặc biệt. Không gian đô thị đang mở rộng sau những thay đổi về địa giới hành chính. Cơ hội kiến tạo một siêu đô thị hiện đại chưa bao giờ lớn như lúc này. Có lẽ cũng chưa bao giờ trách nhiệm gìn giữ ký ức đô thị lại trở nên quan trọng đến vậy. Bởi nếu quy hoạch chỉ nhìn đến nhiệm kỳ, chúng ta sẽ có thêm nhiều công trình. Nhưng nếu quy hoạch nhìn đến nhiều thế hệ, chúng ta sẽ có một thành phố đáng sống. Một thành phố mà con cháu mai sau không chỉ tự hào vì sự giàu có, mà còn nhận ra nơi mình đang sống được xây dựng trên nền tảng của ký ức, của văn hóa và của lòng trân trọng quá khứ. Và khi ấy, người ta sẽ hiểu rằng quy hoạch đô thị không chỉ là kỹ thuật mà đó là đạo đức của phát triển.

Tôi mong một ngày nào đó, khi nhắc đến TP.HCM người ta không chỉ nói đây là đầu tàu kinh tế, mà còn là một đô thị xanh, có bản sắc văn hoá độc đáo, một thành phố đáng sống và biết nuôi dưỡng những gì làm nên linh hồn của chính mình. 

TP. Hồ Chí Minh 7.7.2026

Bài trên Báo Tiền Phong ngày 1-2/8/2026


 

ĐI THEO DÒNG SÔNG ĐỂ HIỂU THÊM THÀNH PHỐ

 Nguyễn Thị Hậu

1.

Một buổi sáng, khi thành phố còn chưa thực sự thức giấc, chúng tôi – những người nghiên cứu lịch sử, di sản văn hóa và quy hoạch đô thị đã có mặt ở bến cảng bên sông Sài Gòn. Ngay từ đầu tôi biết chuyến đi này không phải là một cuộc khảo sát thông thường. Bởi đối tượng của chúng tôi không phải một ngôi đình, một khu phố cổ hay một công trình kiến trúc cụ thể. Di sản hôm nay là cả một dòng sông. Dòng sông ấy vẫn hiện hữu mỗi ngày trong đời sống thành phố, nhưng cũng là một thực thể kỳ lạ: quen thuộc mà hay bị lãng quên, vẫn hiện hữu đó mà dưới mắt nhiều người dường như dòng sông chỉ tồn tại nhờ những cây cầu.

Người đồng hành với chúng tôi là những hoa tiêu hàng hải đã có hàng chục năm gắn bó với luồng tàu Đồng Nai - Sài Gòn – Nhà Bè – Lòng Tàu – Ngã Bảy – Vịnh Gành Rái. Công việc của họ là dẫn tàu an toàn qua những khúc quanh, những con nước, những luồng lạch luôn biến đổi. Nhưng suốt hành trình, tôi nhận ra rằng ít ai hiểu dòng sông này sâu sắc hơn họ. Đi theo họ, những địa danh tưởng chỉ tồn tại trên bản đồ bỗng hiện lên sinh động, thân thuộc và mang lại cho tôi bao cảm xúc.

Con tàu từ từ rời bến. Thành phố lùi dần phía sau. Một cách tự nhiên, tôi cảm thấy mình đang đi ngược thời gian.

Có lẽ phần lớn cư dân thành phố hôm nay quen nhìn Sài Gòn từ mặt đất. Từ những đại lộ, những khu dân cư. Từ các tuyến metro đang hình thành và từ các cao ốc liên tục mọc lên. Con người thành phố đã quen với tư duy đường bộ, nhưng trong phần lớn lịch sử của vùng đất này, con người lại tiếp cận nó từ mặt nước. Bởi vì trên đất nước ta, trước khi có quốc lộ, trước khi có đường sắt, trước khi có những cây cầu nối đôi bờ, dòng sông luôn là con đường xuôi ngược Đông – Tây , là nối liền đôi bờ Nam - Bắc, là bản đồ hiện hữu một vùng miền, một quốc gia.  Hơn thế nữa, dòng sống còn là nguồn sống ngàn đời của một nền nông nghiệp trồng trọt.

Người hoa tiêu đứng cạnh tôi chỉ tay về phía dòng nước đang mở rộng trước mũi tàu. “Nhìn vậy thôi chứ dưới đó là cả một hệ thống luồng lạch phức tạp. Đi trên sông không phải cứ thấy nước là đi được.” Anh kể về độ sâu luồng tàu, về vài bãi đá ngầm, về thủy triều, về những bãi bồi dịch chuyển theo mùa. Những câu chuyện nghe tưởng như thuần túy kỹ thuật nhưng lại khiến tôi nghĩ đến những lớp tri thức tích tụ qua nhiều thế hệ.

Trong nghiên cứu di sản, người ta thường nói đến di sản vật thể và phi vật thể. Chúng ta dễ nhận diện một ngôi chùa cổ hay một ngôi nhà trăm tuổi. Nhưng tri thức về dòng nước, về con nước lớn ròng, về cách đọc màu nước để nhận biết độ sâu hay hướng chảy cũng là một dạng di sản. Di sản này không hiện hữu bằng gạch đá mà nó được tích lũy bằng trải nghiệm. Rồi được truyền từ người này sang người khác, được kiểm chứng bằng hàng nghìn chuyến đi. Có lẽ vì thế mà những người hoa tiêu khiến tôi liên tưởng đến những "người lưu giữ ký ức" của dòng sông.

2.

Con tàu tiếp tục xuôi về phía Nhà Bè, hai bên bờ, cảnh quan thay đổi dần. Những cụm cao tầng thưa hơn. Những kho bãi, bến cảng xuất hiện nhiều hơn. Những khoảng xanh mở rộng. Dòng sông bắt đầu cho thấy một gương mặt khác, không còn là dòng sông của cảnh quan đô thịlà dòng sông của lao động và giao thương.

Theo những ghi chép của các nhà nghiên cứu lịch sử Nam Bộ, hơn ba trăm năm trước, khi những lớp lưu dân người Việt tiến vào vùng đất phương Nam, họ đi theo các tuyến sông. Trước họ là những cộng đồng cư dân bản địa đã sinh sống tại đây từ nhiều thế hệ. Sau họ là những thương nhân người Hoa, người Nhật, người phương Tây. Từ cửa biển Cần Giờ ngược vào họ gặp ngã ba Nhà Bè. Giữa vùng trời nước mênh mang, giữa phút nghỉ ngơi chờ con nước lớn để tiếp tục hành trình, những lưu dân ấy phân vân trước đôi ngả “Nhà Bè nước chảy chia hai. Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”. Cũng từ đây dòng sông đã kết nối các cộng đồng ấy lại với nhau tại vùng đất mới.

Nếu nhìn trên bản đồ hiện đại, hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai – Nhà Bè giống như mạng lưới giao thông thủy. Nhưng nếu nhìn bằng con mắt của lịch sử, đó còn là những hành lang văn hóa: Con người. Hàng hóa. Ngôn ngữ. Tín ngưỡng. Kỹ thuật... Tất cả đều từng theo dòng nước mà dịch chuyển. Vì thế không phải ngẫu nhiên mà những đô thị lớn nhất của nhân loại thường sinh ra bên sông. Với Sài Gòn điều đó dường như còn rõ ràng hơn: Thành phố không chỉ phát triển bên dòng sông mà chính xác là được hình thành từ dòng sông. Có thể cho rằng, địa danh mang tính cột mốc của thành phố là “mũi đèn đỏ - ngã ba Nhà Bè”.

Hàng trăm năm qua những chiếc ghe bầu chở lúa từ miền tây lên, những thuyền buôn từ miền Trung vào, những tàu hơi nước thời thuộc địa “ống khói đen sì” mờ đầu thời kỳ mất nước vào tay thực dân, đế quốc. Cho đến những tàu hàng hiện đại hôm nay: Phương tiện thay đổi, công nghệ phát triển. Nhưng dòng sông luôn là nơi kết nối, trao đổi và mở cửa ra thế giới. Và do đó, logic phát triển của đô thị thì vẫn vậy.

Trong nghiên cứu di sản đô thị, người ta thường nhấn mạnh rằng thành phố không phải là tập hợp của các công trình riêng lẻ. Thành phố là một quá trình. Một quá trình tích lũy liên tục. Một lớp phủ chồng lên lớp phủ. Một cuộc đối thoại không ngừng giữa quá khứ và hiện tại. Nhìn từ góc độ ấy, dòng sông chính là một trong những yếu tố ổn định nhất của lịch sử thành phố. Các công trình có thể thay đổi. Đường phố có thể thay đổi. Thậm chí đường chân trời của đô thị cũng thay đổi. Nhưng dòng sông vẫn là trục không gian cơ bản mà nhiều thế hệ cư dân đã dựa vào để định vị cuộc sống của mình.

3.

Đứng cạnh người hoa tiêu trên buồng lái, bất chợt tôi nhận ra nghề của anh và nghề của mình có một điểm gì đó rất gần nhau. Chúng tôi đều làm việc với những thứ không dễ nhìn thấy. Anh đọc những dòng chảy ẩn dưới mặt nước; tôi cố đọc những lớp ký ức ẩn dưới bề mặt của thành phố. Anh thuộc lòng những khúc sông quanh co để dẫn tàu đi đúng hướng; tôi lần theo những dấu vết của quá khứ để hiểu vì sao đô thị hôm nay có hình hài như vậy. Và có lẽ, ở một nghĩa nào đó, cả người hoa tiêu lẫn người làm di sản đều là những người dẫn đường. Chúng tôi không cầm lái con tàu của tương lai, nhưng đều tin rằng muốn đi xa hơn thì cần hiểu rõ dòng chảy đã đưa mình đến hiện tại.

Cả hai nghề đều làm việc với những thứ không phải ai cũng nhìn thấy. Người đi tàu chỉ thấy mặt nước. Nhưng người hoa tiêu phải nhìn thấy những dòng chảy bên dưới, những bãi cạn, những luồng lạch, những biến động của thủy triều. Họ đọc được những dấu hiệu vô hình đối với người bình thường. Người làm di sản cũng vậy. Du khách nhìn thấy một ngôi đình, một khu phố hay một công trình cũ. Nhưng đằng sau những gì hiện hữu là những lớp ký ức, những mối quan hệ xã hội, những quá trình lịch sử kéo dài hàng trăm năm. Công việc của người nghiên cứu là nhận ra những lớp nghĩa ẩn sâu dưới bề mặt ấy. Nói cách khác, cả hai đều là những người "đọc tầng sâu".

Hoa tiêu và người nghiên cứu di sản đều làm việc với sự liên tục. Dòng sông không bao giờ đứng yên. Mỗi ngày nước lại khác, phù sa lại khác, luồng lạch lại dịch chuyển. Nhưng trong sự thay đổi ấy vẫn có những quy luật dài hạn mà người hoa tiêu phải nắm bắt. Di sản cũng không phải là một vật thể bất động được đóng khung trong quá khứ. Thành phố thay đổi từng ngày, cộng đồng thay đổi từng ngày, cách người ta hiểu về lịch sử cũng thay đổi từng ngày. Người làm di sản không phải để ngăn sự thay đổi, mà để nhận ra đâu là những giá trị cốt lõi cần được giữ lại trong dòng chảy ấy. Cả hai nghề ấy đều đòi hỏi khả năng phân biệt giữa cái cần thích nghi và cái cần bảo tồn.

Là người dẫn đường, hoa tiêu không điều khiển con tàu theo ý mình. Ông chỉ giúp con tàu đi đúng luồng, tránh những rủi ro mà thuyền trưởng có thể chưa biết. Người làm di sản cũng không quyết định tương lai của thành phố. Vai trò của họ không phải là cầm lái. Họ chỉ góp phần chỉ ra những kinh nghiệm, những bài học, những giá trị đã được tích lũy từ quá khứ để cộng đồng và nhà quản lý có thêm cơ sở khi lựa chọn hướng đi. Hoa tiêu dẫn tàu qua những vùng nước phức tạp bằng hiểu biết tích lũy từ quá khứ của dòng sông. Người làm di sản cũng giúp xã hội đi về phía tương lai bằng hiểu biết tích lũy từ quá khứ của cộng đồng. Cả hai đều dùng quá khứ để phục vụ cho hiện tại và tương lai.

Nhưng có lẽ điểm tương đồng sâu sắc nhất nằm ở chỗ: cả hai đều phải khiêm tốn trước đối tượng của mình. Không một hoa tiêu nào dám nghĩ mình đã hiểu hết dòng sông. Dòng nước luôn có thể đổi khác. Thiên nhiên luôn lớn hơn tri thức của con người. Người làm di sản cũng vậy. Mỗi lần nghiên cứu một di tích, một khu phố hay một vùng đất, ta đều nhận ra lịch sử luôn phức tạp hơn những gì mình biết. Những lớp nghĩa mới vẫn có thể xuất hiện. Những cách diễn giải mới vẫn có thể được khám phá.

Cả hai nghề đều bắt đầu từ sự lắng nghe. Lắng nghe dòng sông. Lắng nghe quá khứ. Ngưới hoa tiêu có ích cho những con tàu đi lại trên sông như thế nào thì người làm di sảncũng  có ích gì cho một thành phố đang phát triển như vậy! Người hoa tiêu không làm thay công việc của thuyền trưởng nhưng không thể thiếu trên những tuyến hàng hải phức tạp, người làm di sản cũng không quyết định con đường phát triển, nhưng có thể giúp thành phố tránh những "bãi cạn ký ức" và những "vùng nước lịch sử" mà nếu không hiểu, cái giá phải trả sẽ rất lớn.

Buổi chiều, con tàu quay trở lại trung tâm. Thành phố hiện ra từ xa. Những tòa nhà cao tầng lại xuất hiện nơi đường chân trời. Nhưng đó không còn là thành phố mà tôi nhìn thấy vào buổi sáng. Hay đúng hơn, thành phố vẫn vậy, chỉ có cách nhìn của tôi đã khác. Bởi vì tôi đã hiểu rõ hơn vì sao câu chuyện phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh không thể tách rời câu chuyện của những dòng sông.

TP. Hồ Chí Minh, 14.6.2026

https://www.sggp.org.vn/di-theo-dong-song-de-hieu-them-thanh-pho-post859535.html

Album chuyến đi:https://www.facebook.com/media/set/?vanity=haukhaoco&set=a.28256176040637882





PHẬT VIỆN ĐỒNG DƯƠNG: BẢO TỒN MỘT DI SẢN ĐÃ THAY ĐỔI HỆ QUY CHIẾU

Nguyễn Thị Hậu

1.
Phật viện Đồng Dương không chỉ là một phế tích khảo cổ của vương quốc Champa. Trong bối cảnh hiện nay, đó còn là một trường hợp đặc biệt đặt ra nhiều câu hỏi căn bản về lý thuyết và thực hành bảo tồn di sản ở Việt Nam. Bởi vấn đề của Đồng Dương không đơn thuần là “trùng tu thế nào”, mà sâu xa hơn là: bảo tồn cái gì, cho ai, và dựa trên hệ giá trị nào?
Trong nhiều năm qua, các thảo luận về Đồng Dương thường tập trung vào việc phục dựng kiến trúc, gia cố nền móng hay khai quật khảo cổ học. Tuy nhiên, với một di sản đã trải qua hơn một nghìn năm biến động, các giải pháp kỹ thuật tự thân không đủ để trả lời bài toán bảo tồn. Đồng Dương cần được nhìn như một di sản đa chiều, nơi kỹ thuật bảo tồn phải gắn với nhận thức lịch sử, văn hóa và cộng đồng đương đại. Trước hết, việc bảo tồn Đồng Dương đòi hỏi cách tiếp cận liên ngành. Khảo cổ học không thể đứng riêng lẻ. Các lĩnh vực lý, hóa, sinh học, vật liệu học, khí hậu học hay công nghệ bảo tồn đều cần tham gia để xử lý những vấn đề như độ bền vật liệu, phong hóa gạch, vi sinh vật hay tác động môi trường nhiệt đới. Điều này đặc biệt quan trọng với một di tích chỉ còn lại nền móng và các cấu trúc mong manh sau thời gian dài bị chiến tranh và khí hậu tàn phá.
Tuy nhiên, thách thức lớn hơn lại nằm ngoài kỹ thuật.
Một câu hỏi thực tế luôn được đặt ra: nguồn lực bảo tồn sẽ đến từ đâu? Nhà nước khó có thể đủ ngân sách cho một quá trình nghiên cứu – bảo tồn kéo dài và phức tạp như Đồng Dương. Vì vậy, xu hướng xã hội hóa là điều gần như tất yếu. Trong các nguồn lực xã hội, sự tham gia của Giáo hội Phật giáo có thể là khả thi nhất, bởi Đồng Dương vốn là một trung tâm Phật giáo lớn của Champa. Nhưng chính ở đây lại cần cảnh giác một nguy cơ: di sản có thể bị tái diễn giải theo nhu cầu tín ngưỡng và tâm thức hiện tại, dẫn đến sai lệch cả hình thức lẫn ý nghĩa lịch sử của Đồng Dương. Một “ngôi chùa mới” mang dáng vẻ hiện đại, những sinh hoạt mới phục vụ nhu cầu tâm linh đương thời, có thể được phục dựng trên nền di tích cổ. Khi đó, phần “di sản Champa” rất dễ bị lu mờ hoặc bị hấp thu vào một hệ diễn giải văn hóa khác.

2.
Đồng Dương vì vậy không chỉ đối diện nguy cơ hư hại vật chất, mà còn đứng trước khả năng bị thay đổi bản chất lịch sử. Có thể hình dung Đồng Dương hiện tồn trong một “hệ quy chiếu bốn chiều”, với các biến số luôn vận động:
• Không gian: về cơ bản vẫn là vùng đất cũ của di sản.
• Thời gian: đã trải qua hơn một nghìn năm biến đổi lịch sử.
• Chủ nhân: cộng đồng cư dân hiện nay phần lớn không còn là cộng đồng chủ thể văn hóa tạo dựng di sản.
• Ý nghĩa: Phật giáo Champa – nền tảng tinh thần của Đồng Dương – không còn hiện diện như một thực thể sống trong cộng đồng địa phương hiện nay.
Trong bốn biến số ấy, hai yếu tố quan trọng nhất quyết định cách bảo tồn di sản chính là chủ nhân và ý nghĩa của di sản. Một di sản còn cộng đồng chủ thể và còn chức năng văn hóa sống sẽ có khả năng “bảo tồn tiếp nối”. Nhưng Đồng Dương thuộc về một trường hợp khác: cộng đồng sáng tạo ra nó đã biến đổi sâu sắc trong dòng lịch sử, còn hệ ý nghĩa nguyên thủy cũng không còn tồn tại nguyên vẹn. Vì vậy, nếu phục dựng hay “hồi sinh” di sản bằng những ý nghĩa hiện đại, nguy cơ tạo ra một phiên bản mới thay vì bảo tồn lịch sử là điều rất dễ xảy ra.
Do đó, với Đồng Dương, điều cần ưu tiên có lẽ không phải là phục dựng hoành tráng, mà là bảo tồn tính xác thực lịch sử của di sản.
Sự đổ nát của Đồng Dương, ở một góc nhìn khác, cũng chính là một phần lịch sử của di sản này. Những lớp nền gạch, dấu tích kiến trúc, hiện vật phân tán hay khoảng trống khảo cổ học đều kể lại câu chuyện về sự hưng thịnh, suy tàn và biến động văn hóa của Champa trong lịch sử miền Trung Việt Nam. Nếu nóng vội tái tạo một “hình ảnh hoàn chỉnh”, người ta có thể vô tình xóa đi những lớp ký ức quan trọng ấy. Điều Đồng Dương cần trước tiên có thể là một chiến lược bảo tồn thận trọng: tiếp tục nghiên cứu khảo cổ học, bảo tồn nền móng và dấu tích gốc, xây dựng hệ thống diễn giải lịch sử khách quan, đồng thời giúp cộng đồng hiện nay hiểu được giá trị của một di sản khác biệt với đời sống văn hóa quen thuộc của họ.
Phát huy giá trị Đồng Dương, vì vậy, không nên chỉ hướng tới tín ngưỡng hay du lịch tâm linh. Giá trị lớn nhất của di sản này nằm ở khả năng kể lại lịch sử giao lưu văn hóa Đông Nam Á, lịch sử Phật giáo Champa và ký ức đa văn hóa của miền Trung Việt Nam. Bảo tồn Đồng Dương, xét cho cùng, không chỉ là giữ lại một phế tích cổ. Đó còn là cách xã hội hôm nay ứng xử với lịch sử khác biệt của mình: tôn trọng nó như một phần ký ức thật sự của quá khứ, hay biến nó thành một hình ảnh mới phù hợp với nhu cầu hiện tại.
Với thực trạng của Đồng Dương, vấn đề không nằm ở khả năng “dựng lại hình ảnh”, mà ở chỗ hình ảnh ấy được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học nào và được diễn giải ra sao. Một mô hình 3D, dù hiện đại đến đâu, vẫn chỉ là một giả định khoa học ở mức độ nhất định. Trong khi tư liệu khảo cổ về Đồng Dương hiện nay còn rất thiếu hụt, nhiều cấu trúc kiến trúc chưa được xác định đầy đủ, nhiều chi tiết chỉ có thể suy đoán từ các phế tích và so sánh loại hình. Nếu các mô hình phục dựng được trình bày như một “sự thật hoàn chỉnh”, công chúng rất dễ ngộ nhận rằng đó chính là diện mạo lịch sử xác thực của Đồng Dương.

3.
Hiện nay xu hướng “công nghệ hóa di sản” đang được xem như giải pháp hấp dẫn cho nhiều di tích khó phục dựng. Nhưng với Đồng Dương, nếu công nghệ đi trước nhận thức lịch sử thì nguy cơ tạo ra một “di sản giả định” là rất lớn. Trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh, nhiều ý tưởng phục dựng Đồng Dương bằng mô hình 3D, thực tế ảo hay tái tạo kỹ thuật số thường được xem là giải pháp dung hòa giữa bảo tồn và phát huy giá trị. Về mặt kỹ thuật, đây là hướng tiếp cận cần thiết, bởi nó giúp công chúng hình dung quy mô và diện mạo của một quần thể kiến trúc gần như đã biến mất.
Tuy nhiên, công nghệ hiện đại thường tạo ra cảm giác “chân thực thị giác”, khiến người xem tin vào hình ảnh nhiều hơn là vào các giới hạn khoa học phía sau nó. Khi ấy, di sản không còn được tiếp cận như một không gian lịch sử cần suy ngẫm và đặt câu hỏi, mà trở thành một sản phẩm trực quan dễ tiêu thụ. Những khoảng trống khảo cổ học, những phần chưa biết, những tranh luận học thuật — vốn là bản chất của nghiên cứu lịch sử — có nguy cơ bị che lấp bởi các hình ảnh “đẹp” và hoàn chỉnh. Nếu thiếu hệ thống diễn giải đi kèm, phục dựng kỹ thuật số còn có thể dẫn tới sai lệch sâu hơn về bản chất văn hóa của di sản. Đồng Dương rất dễ bị hiểu đơn giản như một “ngôi chùa cổ”, trong khi giá trị đặc biệt của nó nằm ở vị thế một trung tâm Phật giáo hoàng gia của Champa, phản ánh mạng lưới giao lưu văn hóa – tôn giáo rộng lớn của Đông Nam Á thời trung đại. Khi chiều sâu lịch sử ấy không được giải thích đầy đủ, công nghệ phục dựng có thể vô tình làm nghèo đi nhận thức về di sản.
Hệ quả là việc phát huy giá trị cũng sẽ rơi vào nghịch lý: di sản có thể thu hút đông người tham quan, nhưng sự tiếp nhận chủ yếu chỉ dừng ở trải nghiệm thị giác hoặc nhu cầu tâm linh hiện đại, thay vì hiểu biết lịch sử và văn hóa. Một “Đồng Dương được dựng lại” có thể trở nên nổi tiếng, nhưng Đồng Dương lịch sử thì lại tiếp tục bị hiểu sai hoặc bị lãng quên.
Vì vậy, với các di sản như Đồng Dương, công nghệ không nên đóng vai trò “thay thế lịch sử”, mà phải là công cụ hỗ trợ diễn giải lịch sử. Mọi mô hình phục dựng cần minh bạch về mức độ giả định khoa học, cần chỉ ra đâu là phần có chứng cứ khảo cổ, đâu là phần suy đoán, đồng thời phải đặt người xem vào quá trình nhận thức lịch sử thay vì chỉ cung cấp một hình ảnh hoàn chỉnh để chiêm ngưỡng. Ở một nghĩa nào đó, điều Đồng Dương cần không phải là một “ảo ảnh quá khứ” được dựng lại bằng công nghệ, mà là khả năng giúp xã hội hôm nay hiểu đúng về sự phức tạp và đứt gãy của chính quá khứ ấy.




Càng thay đổi nhanh, nhu cầu tìm lại cái đã mất càng lớn

  TS Nguyễn Thị Hậu (bên trái) tham gia ban cố vấn Dự án Heritage Ho Chi Minh City của Hội Di sản Văn hóa TP Hồ Chí Minh. - Theo bà, n hững ...