Hiển thị các bài đăng có nhãn châu Âu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn châu Âu. Hiển thị tất cả bài đăng

DI SẢN ĐÔ THỊ - CHUYỆN VỀ CÁC VÒI NƯỚC CỔ

 Nguyễn Thị Hậu

Trong các thành phố châu Âu ta thường bắt gặp những vòi nước cổ trên đường phố.

Từ thời trung cổ đến sau này các vua chúa châu Âu đã nghĩ tới việc xây những vòi nước công cộng, hệ thống dẫn nước sạch tới đó cho người dân ở các khu dân cư, cũng như người qua đường. Có khi bên vòi nước công cộng còn có cả bồn nước lớn có mái che dành cho các bà nội trợ mang quần áo đến giặt, cũng là nơi gặp gỡ chuyện trò. Bây giờ chỉ còn lại những vòi nước trên hè phố, nhiều người lơ đãng không biết rằng mình vừa đi qua một chứng tích của cuộc sống từ vài trăm năm trước.

Vòi nước cổ thường được đúc bằng gang, dựng thành trụ trên vỉa hè hay gắn vào tường ngôi nhà ven đường. Nhiều miệng vòi đúc thành hình miệng thú. Vòi nước dùng cần bơm tay hay tự chảy (do áp lực từ tháp nước) nhưng đều là nước sạch có thể uống được ngay. Dòng nước chảy thẳng xuống cống thóat nước phía dưới, phía trên là vỉ nắp đậy cũng đúc bằng gang. Hầu hết các vòi nước cổ được bảo tồn khá tốt: luôn được sơn chống rỉ, quét dọn sạch sẽ, nắp cống phía dưới không có rác làm nghẹt cống. Quan trọng là nguồn nước dẫn đến những vòi này luôn đảm bảo vệ sinh nên những người đi đường vẫn thường ghé miệng uống nước từ vòi một cách tự nhiên và thích thú. Uống nước từ vòi nước mà mạch nước có từ hàng trăm năm trước không chỉ là giải khát mà còn mang lại cảm giác dường như đang sống ở thời xa xưa.

Hệ thống cấp nước cổ ở những thành phố này thời xưa gần như có chung một nguyên tắc: các “cầu dẫn nước” từ nguồn trên núi, từ sông hay suối… đều được dẫn đến một hay nhiều tháp nước chung của một thành phố. Một số thành phố có “bể chứa nước” khổng lồ như một cung điện dưới lòng đất, như ở Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ). Tại đó nước được lọc sạch và theo các ống dẫn về từng khu vực mà đầu tiên là đến các vòi nước công cộng. Sau này hệ thống nước vào từng ngôi nhà nhưng những vòi nước trên đường phố vẫn được duy trì để sử dụng. Sinh họat từ một nguồn nước nên cư dân có thói quen bảo vệ nguồn nước chung, giữ vệ sinh để hạn chế dịch bệnh thường xảy ra vào thời đó. Vào thời đó nguồn nước chung còn liên quan đến một sinh hoạt cộng đồng: nhà tắm và nhà vệ sinh công cộng. Tại đó có vòi nước sạch, những rãnh nước bằng đá được nước chảy qua suốt ngày đêm nên luôn sạch sẽ. Các di tích này vẫn còn hiện diện ở nhiều thành phố cổ.

Đi qua nhiều nơi ở châu Âu ta có thể nhìn thấy những “cây cầu máng” dài hàng chục, có khi hàng trăm cây số dẫn nước từ trên núi cao về thành phố. Điển hình là những cầu dẫn nước cổ thời văn minh La Mã. Đó là những cây cầu máng khổng lồ bằng đá có khi có hai tầng để đảm bảo độ cao, sừng sững như những con rắn khổng lồ chạy dài hàng trăm km vắt ngang qua nhiều vùng địa hình, làm ta luôn choáng ngợp về vẻ đẹp hoành tráng mà rất nhẹ nhõm, duyên dáng cũa nó. Một ví dụ cho thấy trình độ của các kỹ sư La Mã, ở thế kỷ thứ nhất là cầu dẫn nước ở Nimes - Pont du Gard (miền Nam nước Pháp), bằng đá, dài gần 50km, chênh lệch chiều cao từ đầu tới cuối cầu ở mức độ chính xác mà các kỹ sư cầu đường ngày nay phải thán phục. Hay cầu máng ở khu Amoreiras (Lisbon), thoạt đầu mới nhìn tưởng đấy là một thành trì cổ khổng lồ, như một con khủng long còn sót lại từ thời tiền sử...  

Các thành phố này còn có nhiều Đài phun nước ở quảng trường, có khi trong khu vườn, trong công viên… Tại những quảng trường – mở rộng từ giao lộ của những con đường chính trong thành phố, đài phun nước thường có các nhóm tượng nổi chìm mờ trong làn hơi nước phun ra từ chính những bức tượng ấy. Các tia nước được phun ra theo nhiều hình dạng khác nhau. Nước ở đây như chưa bao giờ ngừng chảy và du khách hầu như ai cũng dừng chân ghé lại, ngồi chơi trên bệ đá, khỏa bàn tay mình vào bể nước trong biếc, có thể hứng từ những tia nước ấy để uống hay để xoa lên mặt lấy phước, lấy may. Họ chụp hình, đôi khi những bức hình rất đẹp bởi phía sau màn nuớc bỗng ánh lên ngũ sắc cầu vồng… Những đài phun nước ở trung tâm thành phố, nhiều người cầm đồng tiền nhỏ, đứng quay lưng vung tay ném qua đầu mình xuống bể nước trước khi tạm biệt, để mong ước có ngày được trở lại nơi đây.

 Các cầu máng dẫn nước, vòi nước cổ, đài phun nước hay những nhà tắm, nhà vệ sinh chung thời xưa... đều là những không gian cộng cộng, nơi con người gặp gỡ và sinh hoạt chung. Bên cạnh đó còn có những quảng trường, nhà hát hay đấu trường... dành cho các sự kiện lớn. Chỉ từ câu chuyện vòi nước cổ hay những đài phun nước cũng cho ta biết về “quy họach đô thị” của những thành phố châu Âu từ hàng trăm năm trước. Nó được tính tóan đến từng chi tiết nhưng lại hữu hiệu lâu dài bởi vì không chỉ là việc xây dựng các công trình, nhà cửa, đường xá, quảng trường, đài phun nước, công viên cho cộng đồng, mà còn là những vòi nước trên đường cho từng khách bộ hành từng gia đình… Bài học giản đơn cho một “không gian đô thị bền vững”: luôn có các không gian công cộng dù lớn hay nhỏ, dành cho cộng đồng cũng đáp ứng nhu cầu của từng con người thì mỗi con người sẽ có ý thức gìn giữ và bảo vệ lợi ích cho cả cộng đồng.

 Từ câu chuyện các vòi nước cổ ở châu Âu ta có thể nhình thấy nhiều câu hỏi lịch sử lý thú có thể đặt ra chung quanh chủ đề "nguồn nước" và sinh hoạt cộng đồng liên quan đến nước ở nước ta. Miền Nam có “văn minh sông nước” mà sông, kênh rạch là nguồn nước chung sử dụng với nhiều mục đích từ sinh hoạt hàng ngày đến trồng trọt, nuôi trồng và khai thác thủy sản... Miền Bắc xưa là “văn minh ao hồ”, mỗi nhà có ao hoặc nhiều nhà dùng chung ao với nhiều chức năng, có “giếng làng” phần nhiều từ ao, hồ sửa sang mà thành, giữ gìn làm “nước ăn” chung cho cả làng, về sau nhiều nhà cũng đào giếng, Người Chăm cổ có “giếng Chăm” sửa sang nguồn nước tự nhiên hoặc đào “giếng vuông”. Như vậy, ở nước ta nguồn nước sạch được sử dụng trong phạm vi hẹp: từng làng hay từng gia đình, các công trình nhân tạo như kênh đào, sông đào phần lớn là các công trình thủy lợi. Điều này phản ánh đời sống cộng đồng gắn liền với sân đình, phố chợ, hồ nước hay bến sông – những không gian mang dấu ấn làng xã và văn hóa nông nghiệp.

Tại các đô thị Việt Nam, các quảng trưởng hình thành từ các giao lộ hay phía trước công trình cộng cộng, quy mô nhỏ, có đài phun nước hay tượng đài chỉ xuất hiện từ khoảng đầu thế kỷ 20, “máy nước công cộng” trên đường phố cững vậy, được duy trì miền Nam đến khoảng cuối những năm 1950, ở miền Bắc đến hết thời bao cấp khoảng 1990. Đây là một hiện tượng kiến trúc – quy hoạch phản ánh sự thay đổi trong đời sống và sinh hoạt đô thị Việt Nam.

Hình ảnh: Mai Nguyễn



 

BẢO TÀNG VÀ SỰ THẬT


Do thói quen nghề nghiệp (trước đây) nên đi đâu tôi cũng chú ý đến bảo tàng. Nhiều lần tham quan các bảo tàng lịch sử, văn hóa, mỹ thuật… về thời quá khứ xa xưa nhưng “nghệ thuật trưng bày” các chủ đề thì khác nhau, tạo nên sự hấp dẫn riêng của mỗi bảo tàng. Tất nhiên lịch sử văn hóa mỗi nước đều có đặc trưng riêng, nhưng ngay cả những sự kiện, hiện tượng mang tính toàn cầu thì vẫn được trưng bày khác nhau tạo nên những góc nhìn đa chiều, phong phú, qua đó lịch sử được phản ánh toàn diện hơn.
Sự khác biệt rõ nhất về “góc nhìn” chính là các bảo tàng về thời hiện đại. Ví dụ: loại hình bảo tàng quân đội (hay bảo tàng về chiến tranh, bảo tàng lịch sử hoặc nghệ thuật quân sự, bảo tàng sự kiện chiến tranh…), tại một số bảo tàng thường trưng bày toàn vũ khí nhất là vũ khí hiện đại: xe tăng máy bay súng ống tối tân đủ loại đủ kiểu; các sự kiện chiến thắng quân sự và những lời ngợi ca quân mình, công khai những tổn thất của quân địch…
Nhưng nhiều bảo tàng khác lại trưng bày về tác động của chiến tranh đến đời sống xã hội và những con người cụ thể, dường như không lên án tố cáo điều gì, sự thắng thua lại càng không quan trọng mà hậu quả của chiến tranh mới là quan trọng: đó là sự thiệt hại về con người, về vật chất, những chấn thương tâm lý xã hội lâu dài, những biến động xã hội… Điều đó tác động rất mạnh đến người xem vì đó chính là câu chuyện của bản thân, của gia đình mình. Khi chiến tranh trở thành nỗi ghê sợ của mỗi người thì việc gìn giữ sự ổn định, bảo vệ hòa bình cho chính mình, gia đình mình và rộng hơn là tổ quốc mình đồng nghĩa với chống chiến tranh.
Có một bảo tàng (1) về “Thời vừa qua”. Suốt 6 tầng lầu với những căn phòng hẹp, u ám, âm thanh, hình ảnh, tài liệu hiện vật trưng bày bằng thủ pháp mang tính nghệ thuật cao với sự hỗ trợ của phương tiện, kỹ thuật đa truyền thông hiện đại, “ngôn ngữ” trưng bày hiện vật chuẩn xác… khiến người xem không thể nghi ngờ về những gì đang được công khai sau nhiều năm trong vòng bí mật. Thủ pháp trưng bày cùng những bằng chứng làm người xem ám ảnh rất lâu, nhất là với thế hệ không trải qua thời kỳ lịch sử đó.
Có thể tự hỏi, vì sao những sự kiện như thế lại có thể xảy ra, có thể giật mình vì hóa ra lâu nay ta chỉ biết một phần rất nhỏ của sự thật, thậm chí có thể bị sốc vì hóa ra ta cũng từng sống trong một thời “khủng bố”… Nhưng sau khi xem còn lại điều gì? Với riêng tôi gờn gợn một băn khoăn, kiểu trưng bày “sự thật” như thế này chỉ mang lại và khoét sâu hơn sự hận thù một thời đã qua, hận thù những con người cụ thể của một chính thể đã mất.
Bảo tàng trưng bày sự thật lịch sử sao cho con người hiểu hoàn cảnh và nguyên nhân những sai lầm của quá khứ để tránh không lặp lại những sai lầm ấy. Nếu trưng bày “sự thật” mà không vạch ra nguyên nhân của sự thật ấy thì mới là "một nửa sự thật". Điều đó mang lại sự hận thù quá khứ nhưng cũng chứa đựng nguy cơ đưa đến sự thù hận trong tương lai.

Trong hình ảnh có thể có: bầu trời
(1) bt “Nhà khủng bố” ở đại lộ Ondratsy, Budapest (Hungary).

NGHĨ NGỢI ĐƯỜNG XA


Tùy bút, Nguyễn Thị Hậu

1. Vài năm gần đây vào mùa hè tôi thường đến Pháp, Đức và một vài nơi khác ở châu Âu. Lần nào cũng là những thành phố cổ hoặc những ngôi làng “đẹp nhất” ở một vùng nào đó… đi hoài không biết chán, càng đi càng hiểu thêm và học hỏi được nhiều điều, không chỉ từ những di sản văn hóa mà ngay từ cuộc sống hàng ngày.
Mùa hè. Nơi nào cũng ngút ngát màu xanh của cây của lá. Nắng chói chang và gay gắt không thua mùa hè nhiệt đới. Ở nhà mỗi khi ra đường phải che kín mít cả người, qua đây phơi mặt mũi chân tay ra nắng vậy mà cũng không thấy nóng rát, chắc vì không khí sạch hơn, bóng mát cây xanh nhiều hơn. Gần hai mươi ngày, trừ vài ngày nghỉ lại nơi nào đó, còn lại thời gian miệt mài trên xe hơi là miệt mài đi giữa màu xanh. Bất cứ con đường nào cũ hay mới rộng hay hẹp, cao tốc hay đường làng hai bên cũng là cây xanh. Và hoa, bước vào thành phố, vào làng, vào vườn nhà là thấy hoa. Những bụi hoa hồng muộn màng nở bung, lavender khiêm nhường, hoa cúc tươi tắn, và bao nhiêu loại hoa khác thi nhau khoe sắc. Cả cây cả hoa như đang gom hết nắng hè rực rỡ và ấm áp vì mùa thu đang đến gần, báo hiệu bằng vài cơn mưa dầm và ngọn gió se lạnh cuối ngày. Táo, nho, lê, mận căng mọng trĩu cành, chỉ nhìn thôi đã thấy vị ngon ngọt thấm vào tận… bao tử. Nhưng ngon hơn cả là giàn bầu bí xanh non, những ngọn mùng tơi, rau muống, đậu đũa, khổ qua xanh mướt trong khu vườn nhỏ ở nhà các anh chị người Việt qua đây sinh sống từ nhiều năm trước. Tôi nói đùa: tranh luận về “nguồn gốc dân tộc” làm gì cho mệt, cứ nhìn cái vườn, nhìn bữa ăn thì biết ngay là người Việt gốc… rau: thiếu rau xanh thì không thành bữa cơm Việt.

Di tích lịch sử văn hóa có ở khắp nơi, chắc đi cả đời không hết. Nào làng cổ, đô thị xưa, thành quách lâu đài, cung điện, nhà thờ hàng trăm năm tuổi, phố xá nhà cửa kiến trúc và vật liệu xây dựng truyền thống, quán ăn thấm đẫm hương vị thời gian… có khi là những di tích đơn lẻ nhưng phần nhiều tập hợp thành một quần thể được bảo tồn đồng bộ tạo thành không gian di sản văn hóa. Điều khiến tôi yêu thích nhất ở những thành phố du lịch là dù lớn hay nhỏ, có từ thời cổ xưa hay mới hình thành vài chục năm… tất cả đều lấy ngôi làng, khu vực trung tâm, thị trấn nhỏ có niên đại sớm nhất ở đó để làm “điểm tựa” cho sự phát triển của thành phố. Quy hoạch này nhất quán qua nhiều thời đại, thể hiện truyền thống tôn trọng lịch sử. Ngày nay đến đó du khách không chỉ được ngắm nhìn mà còn được cảm nhận, trải nghiệm qua tham quan, mua sắm, ẩm thực, lễ hội… những sinh hoạt “đậm đà bản sắc” của từng thành phố, vùng miền. Bảo tồn và phát triển từ di sản văn hóa và kinh tế như thế đâu cần phải “hô hào quyết sách” hay “phát động phong trào” này khác!

Cách thức bảo tồn, quản lý, khai thác di sản còn cho thấy di sản tham gia và “phục vụ” cuộc sống đương đại trước hết là vì cộng đồng – chủ nhân của di sản. Ngay trong một làng nhỏ hay thị trấn bình thường dấu tích quá khứ hiện diện mỗi ngày và được trân trọng như là báu vật. Đó là ngôi nhà thờ trong đó còn lưu giữ những bức bích họa trên vòm trần hay bức tranh kính trên khung cửa cao. Là quảng trường trung tâm có Trụ sở của làng/trấn, xung quanh là vài tiệm cà phê, tiệm ăn lâu đời của người địa phương, “cha truyền con nối” phục vụ du khách những món ăn truyền thống với phong cách chuyên nghiệp không thua tiệm ăn ở thành phố lớn mà vẫn ấm áp ân cần như người cùng làng. Mấy vòi nước công cộng đúc bằng gang sơn màu xanh lá cây, cái cần vẫn nhẹ nhàng khi ấn xuống để phun ra giòng nước mát mà khách qua đường thường ghé miệng uống hay rửa mặt. Một khuôn viên nhỏ có bức tượng người khởi lập hay có công với địa phương luôn được giữ sạch sẽ và hoa nở quanh năm. Đó là hồ nhỏ nước trong veo, cỏ mọc xanh rợp ven hồ, đàn vịt tự do bơi lội rồi lạch bạch trèo lên bờ rỉa lông tắm nắng, đôi thiên nga quấn quýt bên nhau. Mỗi chiều người già thong thả đi dạo quanh hồ, trẻ em đùa vui, thanh niên trò chuyện… Không gian công cộng trở thành “tài sản chung” bởi nó là ký ức của bao thế hệ dân làng, rồi lại được thế hệ sau tiếp tục gìn giữ và làm đẹp hơn. Di sản hình thành từ đó.

Không thể không nhắc đến những bảo tàng nho nhỏ ở khắp nơi, trưng bày nhiều chủ đề khác nhau nhưng phổ biến nhất là về lịch sử địa phương. Có thể là một địa điểm khai quật khảo cổ, một tu viện cổ, ngôi nhà của một nhân vật, hay đơn giản là một tiệm ăn có sản xuất bia từ lâu đời… Tất cả đều trở thành bảo tàng chân thực, khoa học và hấp dẫn. Những sự kiện, nhân vật lịch sử hiện ra gần gũi, dễ hiểu, cụ thể qua hiện vật, tư liệu, hình ảnh “có sao thấy vậy” chứ không “đánh giá” dài dòng khen chê thay người xem. Bảo tàng thường vắng vẻ, không có người thuyết minh nhưng ai đã vào xem thì chăm chú và xem đến hết. Không phải bảo tàng nào cũng “hiện đại” với phương tiện multimedia mà phần lớn chỉ có hiện vật – bằng chứng của sự thật, sự thật dù nhỏ vẫn mang lại cho người xem hiểu biết hữu ích thậm chí là một khám phá. Chỉ có sự trung thực đối với lịch sử mới có thể làm được điều đó.

 2. Tháng bảy tháng tám còn là mùa du lịch cao điểm trong năm. Ở đâu cũng đông du khách. Khách nội địa đã đông mà khách nước ngoài càng đông hơn. Nếu như trước đây du khách châu Á thường là người Nhật, người Hàn thì vài năm nay khách Trung Quốc “tràn ngập”, từng đoàn đông đảo và ồn ào, quần áo sặc sỡ, lăm lăm cây gậy “tự sướng” và chụp hình bất cứ chỗ nào, cản trở tầm nhìn của tất cả những ai đứng gần họ. Đúng là “Trung quốc đông dân” nên mỗi đoàn có đến 30, 40 người, vừa già  vừa trẻ và cả trẻ con nữa, tất cả đều ồn ào nên hướng dẫn đoàn là người Hoa luôn phải nói rất to để nhắc khách. Họ mê mải chụp hình, trả giá mua hàng nên đoàn khách kéo thành hàng dài trên đường phố. Tuy nhiên khách Trung quốc thường tham quan di tích ngoài đường phố và đến các trung tâm thương mại lớn để mua sắm mà ít đến bảo tàng hay những nơi yên tĩnh. Phần lớn họ đến ăn ở nhà hàng Tàu hoặc dùng thức ăn nhanh. Thật khó mà biết họ có được thêm gì, ngoài vài món đồ hàng hiệu và những tấm hình “tự sướng”, sau mỗi chuyến du lịch?

Các đoàn khách châu Âu hay khách Nhật thường trên dưới 20 người, hầu hết là người lớn tuổi, họ chăm chú khi hướng dẫn viên trao đổi, thuyết minh. Khi vào bảo tàng hay nhà thờ họ chỉ dùng headphone để nghe thuyết minh, trò chuyện nhỏ vừa đủ nghe, luôn có “ý thức kỷ luật” không làm phiền ai… Những người trẻ ít đi du lịch theo đoàn mà đi riêng từng gia đình hay từng nhóm, tự lái xe hay đi “bụi” bằng xe lửa, xe bus. Có thể nhìn thấy trên đường nhiều chiếc xe hơi chở theo xe đạp  trên mui. Đến nơi cả gia đình mỗi người một xe, kể cả trẻ em 7,8 tuổi, họ đạp xe vòng quanh thành phố, vào rừng, lên núi… Những thành phố du lịch đều có nhiều điểm cho thuê xe đạp, có đường dành riêng cho xe đạp. Vì vậy hiện nay ở nhiều thành phố châu Âu, việc đi lại bằng xe đạp khá phổ biến, vừa tốt cho sức khỏe lại bảo vệ môi trường. Tất nhiên, để khuyến khích sự phát triển của xe đạp như hiện nay thì từ hàng chục năm trước hệ thống giao thông công cộng đã trở thành phương tiện chủ yếu ở đô thị. Xe đạp có thể được mang lên xe lửa, tại bến tàu, bến xe bus tổ chức tốt nơi để xe đạp an toàn… Tất cả tạo sự thuận lợi  và khuyến khích người dân đi xe đạp.

Không chỉ đạp xe mà người thành phố còn thường xuyên đi bộ. Đi bộ từ nhà đến bến xe bus, metro, từ công sở đến nơi ăn trưa, ra siêu thị ra chợ, trẻ em đi học…  Việc xây dựng trường học, siêu thị, bến tàu xe… dựa vào mật độ dân số và khoảng cách giữa những nơi này là sự tính toán khoa học, nhằm phục vụ tốt nhất cho cộng đồng dân cư trong khu vực. Vậy là con người loay hoay từ đi bộ, xe đạp, xe hơi, tàu cao tốc… rồi lại quay về đi bộ và xe đạp… như một vòng “xoắn ốc” nhưng nhu cầu và mục đích của đi bộ và xe đạp giờ khác xa thời xưa.

Nhưng nơi tôi từng qua dường như những chiếc xe đạp vẫn còn quá vội vàng “lao đến đích” mà thiếu đi cái thong thả của vòng bánh xe quay đều quay đều chậm rãi dưới cơn mưa, mỗi sáng chiều thong thả ngắm bình minh hay hoàng hôn, không có vẻ lãng mạn của “những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng”, tà áo dài e ấp bay phía trước như thầm gọi, của hai chiếc xe đi gần bên nhau thi thoảng một bàn tay ai nắm nhẹ tay ai… Mà bây giờ nơi in dấu kỷ niệm xưa chẳng còn mấy ai đi xe đạp, nếu có là hội nhóm tập thể dục đi trên những chiếc xe khá đắt tiền, đồng bộ cùng quần áo mũ giày, mỗi sáng sau khi đạp vài vòng thì rủ nhau vào quán cà phê quán phở điểm tâm, thật đúng là “tinh thần thể dục”; Bây giờ tại những khu chế xuất – khu công nghiệp, đi xe đạp phần nhiều là nữ công nhân. Sáng vào ca tối tan ca, trên những chiếc giỏ xe của các chị em không phải là chùm hoa phượng mà là gói thức ăn đơn sơ rẻ tiền, rồi vội vã chen chúc giữa dòng xe máy xe hơi, bóng họ nhỏ nhoi và lạc lõng trên đường thành phố…

3. Trở về thành phố của tôi với bộn bề công việc, với những chiều mưa lớn như đổ hết nước của cả thế gian, những con đường ngập mênh mông như muốn tranh đua với sông Sài Gòn… Tôi lại nhớ mỗi ngày rong ruổi trên xe qua vài trăm km, nhớ những trạm nghỉ ven đường với ly cà phê nhỏ xíu thơm lừng, những quán bia ở Đức, Séc, ở Bỉ… là sự may mắn của một chuyến đi qua ba nước sản xuất bia ngon nổi tiếng. Nhớ các anh chị, bạn bè hàng chục năm qua lưu giữ từng mảnh quê hương ở nơi xa: chỉ là bữa bánh xèo, đĩa rau luộc chấm nước mắm dầm trứng, tô phở gà đậm đà mùi vị, bình gốm Bát Tràng hay đĩa sơn mài mua từ phố cổ Hà Nội, những cuốn sách mới xuất bản ở trong nước, giọng nói Sài Gòn hay Hà Nội thuần khiết của một thời chưa xa, sự tinh tế trong giao tiếp… Tất cả mang lại cho tôi cơ hội chiêm nghiệm một quy luật “văn hóa càng đi xa càng được bảo tồn nguyên vẹn”.
Những “làn sóng” người Việt ra đi từ bốn mươi năm trước “tỵ nạn chính trị”, hai mươi năm trước “tỵ nạn giáo dục” và vài năm nay là “tỵ nạn môi trường” (và sẽ còn tỵ nạn những gì nữa?) đã mang theo một phần văn hóa truyền thống. Lẽ nào những gì tinh túy nhất của văn hóa lại được bảo tồn bởi những người xa xứ?

Trong những ngày này thương xá TAX ở trung tâm Sài Gòn chính thức bị phá dỡ toàn bộ để xây công trình mới. Việc “bảo tồn” một số bộ phận kiến trúc cổ như thảm gạch mosaic, thanh tay vịn cầu thang trang trí con gà bằng đồng đã xong công đoạn đầu tiên là “tháo dỡ và cất giữ”. Những lời hứa phục dựng lại hình dáng của một Tax xưa cũng đã được nhắc lại. Giờ chỉ còn hy vọng bảo quản tốt những gì đã mang đi và sau những năm xây dựng một tòa nhà mấy chục tầng, “ châu (lại) về Hợp phố” được phục dựng đầy đủ, chính xác và đẹp hơn. Tax mới là công trình của thế kỷ 21. Cũng như nhiều công trình khác đang mọc lên như nấm sau mưa ở thành phố này, Tax có trở thành di sản và ký ức của công dân thế kỷ 21 hay không còn là tùy thuộc vào nhiều điều. Nhưng có một điều chắc chắn, khi chúng ta không quý trọng di sản của thế hệ mình thì không thể dạy bảo con cháu phải quý trọng những gì chúng có.

Rất nhiều người Việt Nam khi ra nước ngoài thì trầm trồ thán phục việc bảo tồn di tích của người ta, nhưng ở trong nước thì lại dửng dưng trước việc phá bỏ những di tích lịch sử vì “nhu cầu hiện đại hóa”, nhất là khi đó không phải là một thành phố có nhiều gắn bó với mình. Cứ vậy, người nơi này “phá” nơi khác… rồi cả đất nước này sẽ đi về đâu khi “thời đã qua” chỉ còn những mảnh vụn tan hoang, để rồi tàn tích của cuộc chiến và sau cuộc chiến hằn sâu cả trong lòng người.

Những người bạn ở xa… thời gian các anh chị gắn bó với Sài Gòn có thể nhiều hay ít hơn tôi, nhưng những gì họ mang theo đã trở thành ký ức bền vững được nuôi dưỡng bằng tình yêu quê hương. Còn tôi, tôi chỉ có bốn mươi mốt năm gắn bó với Tax và bùng binh cây liễu, cà phê Givral, Eden, Ba Son, hàng cây sao cao vút đầu đường Lê Lợi, hàng cây xà cừ trăm năm trên đường Tôn Đức Thắng… phải chứng kiến tất cả lần lượt ra đi tôi mới hiểu vì sao nhiều người mãi nhớ (mà không muốn về vì) một Sài Gòn xưa đã mất…
Khi ký ức không còn chỗ để bám víu thì quê hương có còn là tổ quốc?

 IN TRONG TẬP TÙY BÚT NÀY, 2016






NHỮNG THÀNH PHỐ VÌ CON NGƯỜI

https://nguoidothi.net.vn/nhung-thanh-pho-vi-con-nguoi-15280.html

 Nguyễn Thị Hậu

Mùa hè vài năm gần đây tôi thường tham dự những cuộc hội thảo thú vị, được tổ chức ở một số thành phố lớn như Toulouse “thành phố hồng”, Berlin, qua Prague “thành phố tình yêu” Budapest “Hòn ngọc bên sông Danube”, rồi đến Warsaw – thành phố hồi sinh từ đổ nát sau chiến tranh thế giới thứ hai. Và trong những chuyến đi ấy điểm dừng lâu nhất của tôi bao giờ cũng là Paris – thành phố tôi yêu từ thời thơ ấu và ở đó tôi có những người bạn thân quý.
Mỗi nơi tôi chỉ lưu lại có vài ngày để tham quan một cách vội vã nhưng những “thành phố di sản văn hóa” đã để lại cho tôi ấn tượng khó quên, bởi sự hòa hợp kỳ lạ giữa cuộc sống hiện đại và sức sống “cổ tích” từ di tích và bảo tàng hiện diện mỗi ngày.

Những thành phố này là thủ đô hoặc đô thị lớn từ thời trung cổ, vì vậy hệ thống thành cổ, cung điện lâu đài, công trình công cộng được xây dựng trong thời gian dài vài thế kỷ đã được bảo tồn khá nguyên vẹn. Khu vực thành cổ (hay những lâu đài lớn của một dòng họ quý tộc) thường xây dựng trên đồi hay sườn núi để bao quát toàn bộ khu vực và phòng vệ quân sự. Cấu trúc gồm tường thành cao, dày, xây bằng đá hoặc gạch, bên trong là quần thể cung điện, lâu đài, nhà thờ lớn ở trung tâm… xung quanh là khu phố buôn bán và những dịch vụ cho sinh hoạt. Bên ngoài thành có một dòng sông, là đường giao thông và “tuyến phòng ngự” khi có sự cố, nhưng nhờ vậy mà phong cảnh bốn mùa đều nên thơ.

Trải qua hàng trăm năm nên trong nhiều tòa thành cổ có di tích đã hoặc đang được khảo cổ học khai quật. Thành cổ Buda ở Budapest khu vực khai quật liền kề với những công trình còn nguyên vẹn, du khách có thể nhìn thấy nền móng của các kiến trúc đã sụp đổ, hầm ngầm, đường bí mật sâu dưới lòng đất… Công trường đang khai quật thì có mái che bên trên bảo vệ hiện trạng, di tích khai quật xong hầu hết được bảo tồn tất cả các lớp kiến trúc làm bằng chứng cho từng giai đoạn xây dựng vào những niên đại khác nhau. Bảo tồn được như vậy vì vật liệu xây dựng hầu hết bằng gạch, đá, trải qua vài trăm năm trong điều kiện khí hậu không ẩm ướt nên vẫn còn chắc chắn. Hiện vật tìm thấy trưng bày trong bảo tàng nhỏ ngay tại tòa thành hay lâu đài. Khu di tích nào cũng có một mô hình đúc bằng đồng đặt gần lối ra vào, thể hiện toàn bộ khu lâu đài, thành cổ, giúp khách tham quan nhận biết tổng thể qua các công trình kiến trúc còn nguyên và phế tích do khảo cổ học khai quật.

Hầu như không có công trình nào xây lại mới hoàn toàn trên nền móng cũ, mặc dù có thể làm được điều đó vì tài liệu, hình ảnh và tư liệu khoa học còn lưu lại đầy đủ. Riêng thành cổ Warsaw là một trường hợp đặc biệt: chiến tranh thế giới lần thứ hai đã biến cả thành phố thành đống đổ nát hoang tàn trong đó có tòa thành cổ xây dựng từ thế kỷ 12 và tồn tại đến thế kỷ 20. Sau năm 1945 Ba Lan đã phục dựng lại thành phố Warsaw – khu phố cổ và tòa thành cổ - như tình trạng trước chiến tranh. Các công trình đều xây bằng gạch – vật liệu đặc trưng của kiến trúc cổ của ba Lan, gạch mới được nghiên cứu phục chế gần như không khác biệt với gạch cũ, có lẽ nhờ thời tiết không nóng ẩm nên ít bị rêu mốc và các loài thực vật gây hại.

Trong các thành phố, tại khu phố cổ hay ở trung tâm, trên đường phố hẹp hay quảng trường rộng lớn, cả những “rãnh thoát nước” hình lòng máng xưa cũ vẫn giữ nguyên vật liệu lát đường là những viên đá nhỏ, đan xen thành hoa văn hình vỏ sò, hình xoáy ốc… vừa đẹp vừa dễ rút nước khi mưa và mùa tuyết tan, giảm trơn trượt khi băng giá. Nếu làm lại những con đường quảng trường này bằng vật liệu mới thì ngoài chuyện rất tốn kém, nó còn làm giảm giá trị của cảnh quan cổ xưa – chính là giá trị cần gìn giữ và được du khách tìm đến chiêm ngưỡng.

Mùa hè là mùa du lịch cao điểm ở châu Âu, những thành phố tôi đến lúc nào cũng đông đúc nhưng không lộn xộn hay gây cảm giác bất an. Cũng là quần thể di tích thành cổ, phố cổ nhưng mỗi nơi có những hình thức tham quan khác nhau nhằm đáp ứng nhiều nhu cầu, điều kiện của du khách: Tham quan tòan bộ lâu đài, cung điện hay chỉ một phần, tham quan hầm mộ trong lâu đài hay nơi có liên quan đến một nhân vật nổi tiếng, hay tổ chức sinh hoạt đặc biệt như Nhà thờ “con gà” quảng trường trung tâm thủ đô Prague chẳng hạn, cứ mỗi giờ là du khách tập trung rất đông, ngước nhìn lên tháp đồng hồ để ngắm chú Gà bằng vàng và những vị Thánh xuất hiện lần lượt sau ô cửa nhỏ, rồi tiếng kèn báo hiệu thời khắc vang lên…

Thú vị nhất là Dinh Tổng thống trong các tòa thành cổ cũng là điểm tham quan của du khách. Tôi được chứng kiến lễ đón khách của Tổng thống Hungary, có Đội danh dự duyệt binh. Du khách vẫn đứng trong sân của Dinh Tổng thống, chỉ có vài cảnh sát làm nhiệm vụ giữ trật tự. Dinh Tổng thống Cộng hòa Sec cũng vậy, ngày vài lần du khách tụ tập vào thời điểm đổi phiên gác để chiêm ngưỡng đội danh dự bước đi trong trang phục rất đẹp mắt. Hay Tòa thị chính Paris trở thành “bảo tàng” đón du khách vào một số ngày trong mùa hè... Có rất nhiều di tích được tham quan miễn phí, nhất là nhà thờ cổ, nơi ở của các nhân vật lịch sử và danh nhân văn hóa, nhà hát, kể cả những tòa nhà là công sở còn đang hoạt động.

Không chỉ di tích thời trung cổ được trân trọng gìn giữ mà cả những tượng đài và di tích chiến tranh thế giới thứ hai, một số bảo tàng về “thời kỳ quốc xã” hay “thời kỳ cộng sản” được xây dựng. Tại Berlin có khu tưởng niệm người Do Thái, trên nhiều đường phố có những tấm biển đồng nho nhỏ đóng ở vỉa hè trước những ngôi nhà đã có người bị bắt và chết trong trại tập trung thời Hitler... Tại Warsaw có Bảo tàng về người Do Thái, Bảo tàng sự kiện Katyn... Budapest có bảo tàng “Nhà khủng bố”... Con người được “can dự” vào lịch sử bằng sự thật chứ không phải là những huyền thoại, vì thế nhận thức và hiểu biết quá khứ không chỉ là những ý nghĩa to lớn mà còn là những câu chuyện đời thường, đau thương và mất mát của từng số phận. Tất cả, dù ghi dấu ấn chiến thắng hay gợi nhớ tội ác của một chính thể đều thuộc về Lịch sử.

Quan sát “cuộc sống” của hệ thống di sản văn hóa tại các thành phố này, có thể nhận thấy giữa bảo tồn và bảo tàng không hề tách rời: bảo tồn di tích cổ là làm cho chúng trở thành những “bảo tàng mở”, những “bảo tàng mở’ mang lại sức sống cho di tích được bảo tồn. Điều đó tạo điều kiện cho công chúng có thể tiếp cận di sản văn hóa một cách dễ dàng nhất, tiếp nhận những giá trị lịch sử - văn hóa một cách phong phú hấp dẫn nhất. Bảo tồn di sản văn hóa không chỉ giới hạn trong phạm vi di tích, mà đã trở thành một bộ phận quan trọng của quy hoạch đô thị và được ưu tiên hàng đầu trong quá trình phát triển đô thị.

Cũng cần nói thêm, việc trùng tu di tích thường xuyên được tiến hành nhất là vào mùa hè thời tiết thuận lợi. Nơi nào cũng có di tích đang được trùng tu một cách khoa học, cẩn trọng nhưng vẫn có thể phục vụ du khách. Có những di tích trùng tu kéo dài nhiều năm do quy mô lớn và thực hiện nhiều công đoạn rất tỉ mỉ.
Tôi đã nhận được nhiều kinh nghiệm từ việc bảo tồn và “phát huy giá trị” di sản văn hóa của những thành phố này. Họ cũng đã qua “một thời đạn bom, một thời hòa bình”, cũng từng chịu sức ép của “đô thị hóa, hiện đại hóa” sau chiến tranh và trong quá trình phát triển kinh tế, nhưng họ gìn giữ trân trọng di sản văn hóa trước hết là cho đất nước mình, và sau đó “hữu xạ tự nhiên hương”, di sản trở thành của thế giới. Họ đã thành công từ một điều giản dị: di sản văn hóa phải có một đời sống của chính nó, nhờ con người và vì con người.

Bạn bè hỏi tôi có cảm nhận thế nào khi ngắm nhìn những công trình di sản văn hóa hiện hữu trong thành phố đang phát triển? Và tôi, không tránh khỏi tâm trạng ngậm ngùi khi luôn phải đặt ra một câu hỏi day dứt: vì sao người ta gìn giữ và làm giàu được từ di sản văn hóa, còn chúng ta thì để tình trạng phá hoại di sản diễn ra triền miên và ngày một trầm trọng? Vì sao?

Sài Gòn 9.8.2018

 Trong hình ảnh có thể có: bầu trời, đám mây, ngoài trời, thiên nhiên và nước

BẢO TÀNG VÀ SỰ THẬT


Do thói quen nghề nghiệp (trước đây) nên đi đâu tôi cũng chú ý đến bảo tàng. Nhiều lần tham quan các bảo tàng lịch sử, văn hóa, mỹ thuật… về thời quá khứ xa xưa nhưng “nghệ thuật trưng bày” các chủ đề thì khác nhau, tạo nên sự hấp dẫn riêng của mỗi bảo tàng. Tất nhiên lịch sử văn hóa mỗi nước đều có đặc trưng riêng, nhưng ngay cả những sự kiện, hiện tượng mang tính toàn cầu thì vẫn được trưng bày khác nhau tạo nên những góc nhìn đa chiều, phong phú, qua đó lịch sử được phản ánh toàn diện hơn.
Sự khác biệt rõ nhất về “góc nhìn” chính là các bảo tàng về thời hiện đại. Ví dụ: loại hình bảo tàng quân đội (hay bảo tàng về chiến tranh, bảo tàng lịch sử hoặc nghệ thuật quân sự, bảo tàng sự kiện chiến tranh…), tại một số bảo tàng thường trưng bày toàn vũ khí nhất là vũ khí hiện đại: xe tăng máy bay súng ống tối tân đủ loại đủ kiểu; các sự kiện chiến thắng quân sự và những lời ngợi ca quân mình, công khai những tổn thất của quân địch…
Nhưng nhiều bảo tàng khác lại trưng bày về tác động của chiến tranh đến đời sống xã hội và những con người cụ thể, dường như không lên án tố cáo điều gì, sự thắng thua lại càng không quan trọng mà hậu quả của chiến tranh mới là quan trọng: đó là sự thiệt hại về con người, về vật chất, những chấn thương tâm lý xã hội lâu dài, những biến động xã hội… Điều đó tác động rất mạnh đến người xem vì đó chính là câu chuyện của bản thân, của gia đình mình. Khi chiến tranh trở thành nỗi ghê sợ của mỗi người thì việc gìn giữ sự ổn định, bảo vệ hòa bình cho chính mình, gia đình mình và rộng hơn là tổ quốc mình đồng nghĩa với chống chiến tranh.
Có một bảo tàng (1) về “Thời vừa qua”. Suốt 6 tầng lầu với những căn phòng hẹp, u ám, âm thanh, hình ảnh, tài liệu hiện vật trưng bày bằng thủ pháp mang tính nghệ thuật cao với sự hỗ trợ của phương tiện, kỹ thuật đa truyền thông hiện đại, “ngôn ngữ” trưng bày hiện vật chuẩn xác… khiến người xem không thể nghi ngờ về những gì đang được công khai sau nhiều năm trong vòng bí mật. Thủ pháp trưng bày cùng những bằng chứng làm người xem ám ảnh rất lâu, nhất là với thế hệ không trải qua thời kỳ lịch sử đó.
Có thể tự hỏi, vì sao những sự kiện như thế lại có thể xảy ra, có thể giật mình vì hóa ra lâu nay ta chỉ biết một phần rất nhỏ của sự thật, thậm chí có thể bị sốc vì hóa ra ta cũng từng sống trong một thời “khủng bố”… Nhưng sau khi xem còn lại điều gì? Với riêng tôi gờn gợn một băn khoăn, kiểu trưng bày “sự thật” như thế này chỉ mang lại và khoét sâu hơn sự hận thù một thời đã qua, hận thù những con người cụ thể của một chính thể đã mất.
Bảo tàng trưng bày sự thật lịch sử sao cho con người hiểu hoàn cảnh và nguyên nhân những sai lầm của quá khứ để tránh không lặp lại những sai lầm ấy. Nếu trưng bày “sự thật” mà không vạch ra nguyên nhân của sự thật ấy thì mới là "một nửa sự thật". Điều đó mang lại sự hận thù quá khứ nhưng cũng chứa đựng nguy cơ đưa đến sự thù hận trong tương lai.
(1) bt “Nhà khủng bố” ở đại lộ Ondratsy, Budapest (Hungary).

Trong hình ảnh có thể có: bầu trời

CÀ PHÊ PARIS


 Khi đến bất cứ thành phố nào tôi cũng thường chú ý đến những quán cà phê.
Không phải là một tín đồ trung thành của lọai nước uống màu nâu thơm phức này nhưng cà phê luôn “quyến rũ” tôi, trước hết là vì nó giúp cho tôi tỉnh táo sau chặng đường dài hay chuẩn bị cho một ngày quay cuồng vì công việc. Và, điều này quan trọng hơn, quán cà phê là nơi tôi thường gặp gỡ bạn bè, đồng nghiệp, và những người bạn mới quen. 
Có thể đó là một tiệm cà phê sang trọng danh tiếng khắp thế giới, có thể là một tiệm nhỏ bên đường có bán cả bánh ngọt và thức ăn nhanh, mà cũng có khi là quán hàng bàn ghế bày ngòai lề đường dưới những cây dù màu sắc nhã nhặn hay sặc sỡ. Sự khác nhau giữa nơi này và nơi khác có lẽ là ở hương và vị ly cà phê, là phong cách phục vụ, là cách trưng bày trang trí, là những người cùng ngồi với tôi ở đó. Sự khác nhau còn ở thời gian tôi đến đó ngắn hay dài ngày, vào mùa nào trong năm. Và bạn có tin không, hương vị cà phê mỗi mùa mỗi khác đấy, nhất là ở những nơi có đủ bốn tiết Xuân, Hạ, Thu, Đông như những thành phố ở châu Âu.

Một ngày thu tôi trở lại Paris. Chuyến tàu từ Rotxterdam đến Paris băng qua màn mưa, ánh nắng thi thỏang hiện ra rồi nhanh chóng trốn sau đám mây xám âm u. Giang nói với tôi: phía trời hửng sáng kia là Paris đấy, hy vọng Paris đẹp trời vì thời tiết ở Pháp không thất thường như ở Hà Lan hay Bỉ. Khi tôi đến Paris không mưa tầm tã nhưng gió lạnh đã tràn về. Trưa chủ nhật, khu trung tâm Paris tìm không ra nơi đậu xe, anh chị T. phải chạy xe vòng vòng gần một tiếng mới tìm ra một chỗ hiếm hoi trước quán ăn đối diện Notre Dame. Thật may mắn vì đứng nơi đây có thể nhìn thấy tòan cảnh Nhà thờ Đức bà Paris
Gió hun hút đôi bờ sông Seine bứt tung những chiếc là vàng rải dọc vỉa hè. Những kiốt sách cũ vẫn thế, nhưng hình như những người chủ quán không còn nét hồn hậu như xưa. Vài năm trước tôi qua Paris cũng đến đây tìm mua sách cũ, khi ấy nhiều người bán rất say mê chính những gì họ bán, một cuốn sách bán đi, một tấm bưu thiếp có người mua, một bức tranh có ngừơi chủ mới… người bán dường như phải chia tay với người bạn thân thiết, họ gửi gắm cho người mua cả tình yêu của mình đối với Paris, với nước Pháp. Vẫn đông khách ngắm nghía những tấm bưu thiếp, bức tranh, những cuốn sách cũ. Một Paris cổ xưa hiện lên cụ thể và đa dạng trên từng quầy sách. Tôi và G. trầm trồ trước những bức ảnh đen trắng, những bức ký họa chì chân dung những quý cô quý bà Paris duyên dáng. Cái duyên của những người phụ nữ thấm đẫm sự tinh tế và sang trọng của một Paris cổ xưa…

Quán cà phê nhỏ phía sau Notre Dame. Anh chị T. chọn bàn ngòai vỉa hè dưới cây dù nhỏ vì biết tôi thích như thế. Ngồi cà phê ở Paris thì ngồi ngòai vỉa hè mới cảm nhận hết không khí đặc trưng của Paris : dòng người nối nhau trên đường, những cặp tình nhân thong thả tay trong tay, những cửa hàng đồ lưu niệm tấp nập người ra vào. Bạn sẽ bảo : Ừ thì nơi nào chả thế, bất cứ thành phố du lịch nào mà không có những quán cà phê như vậy ? Nhưng với tôi gió trên những con phố này, những hàng cây lá vàng xào xạc nơi đây, dòng sông Seine lăn tăn sóng dưới kia, ly cà phê nhỏ thơm thơm, những người bạn thân quý ngồi bên tôi… tất cả làm cho ly cà phê không đường càng ngọt ngào hơn, ấm áp hơn…

Một vòng đồi Montmartre, mưa như rây trên những mái nhà ngói cũ, trên những bức tường dây leo xanh lá đỏ, trên những con đường dốc lát đá nhỏ vuông vắn từng viên. Khung cửa nhỏ ấm áp, tiếng nhạc nhè nhẹ, tiệm đồ gốm xinh xắn, ngày cuối tuần du khách rất đông … Từ nhà thờ trung tâm nhìn xuống Paris lô nhô ngút mắt.. Nghỉ chân trong quán cà phê nhỏ. Mưa đã tạnh mà Paris dưới kia sao vẫn mờ như sương… 
 
Mỗi lần cà phê ở Paris luôn mang lại cảm giác lạ mà quen. Cám xúc là lạ khi trở lại bởi tôi luôn giữ trong mình ấn tượng một Paris của những bài thơ những trang tiểu thuyết đã đọc từ thời thơ ấu. Nhưng sự thấp thỏm vì giờ chia tay đang đến gần thì quen lắm, Paris như muốn niu giữ người ra đi khi chiều nay mưa mùa thu đến sớm…

Ly cà phê chợt đắng…

Trong hình ảnh có thể có: thực vật và ngoài trời
Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và ngoài trời

DI SẢN VĂN HÓA “SỐNG” CÙNG THÀNH PHỐ


Hình như tôi “có duyên” với mùa thu châu Âu nên những ngày cuối tháng Chín vừa qua tôi lại được đến đây để tham dự một cuộc hội thảo về di sản văn hóa tổ chức tại Krakow – Ba Lan vào giữa những ngày thu đẹp nhất. Sau đó, “hành trình” nho nhỏ của tôi bắt đầu từ Warsaw – thành phố hồi sinh từ đổ nát sau chiến tranh thế giới thứ hai, rồi đến Krakow kinh đô cổ xưa của Cộng hòa Ba Lan, sang Budapest –  “Hòn ngọc bên sông Danube” của Cộng hòa Hungary, qua Prague - Cộng hòa Sec, “thành phố tình yêu”; và Wien - Cộng hòa Áo, “kinh đô âm nhạc Châu Âu”. Chỉ là “đi qua” thôi, nhưng những “thủ đô di sản văn hóa” đã để lại cho tôi ấn tượng khó quên, bởi sự hòa hợp kỳ lạ giữa cuộc sống hiện đại và sức sống “cổ tích” từ di sản văn hóa hiện diện mỗi ngày trong thành phố.

Những thành phố này đều là thủ đô  từ thời trung cổ, vì vậy hệ thống thành cổ, cung điện lâu đài, công trình công cộng được xây dựng trong một thời gian dài vài thế kỷ nay được bảo tồn khá nguyên vẹn. Khu vực thành cổ (hay những lâu đài lớn của một dòng họ quý tộc) thường ở trên đồi hay sườn núi, cấu trúc gồm tường thành cao, dày, xây bằng đá hoặc gạch, bên trong là quần thể cung điện, lâu đài, nhà thờ lớn ở trung tâm… xung quanh là khu phố buôn bán và những dịch vụ cho sinh hoạt. Bên ngoài thành có một dòng sông, là đường giao thông và “tuyến phòng ngự” khi có sự cố, nhưng nhờ vậy mà phong cảnh rất nên thơ.

Trong nhiều tòa thành cổ có di tích khảo cổ học. Như trong thành cổ Buda ở Budapest: Khu vực khai quật liền kề với những công trình còn nguyên vẹn, du khách có thể nhìn thấy nền móng của các kiến trúc đã bị sụp đổ, hầm ngầm, đường bí mật sâu dưới lòng đất…Có hố khai quật xong đã lấp cát và trồng cỏ lên trên tạo thành vườn hoa nho nhỏ, có hố được giữ lại, bên ngoài có hàng rào thấp để khách có thể quan sát các tầng văn hóa của di tích. Hiện vật tìm thấy trưng bày trong bảo tàng nhỏ ngay tại tòa thành hay lâu đài ấy. Công trường đang khai quật thì có mái che bên trên bảo vệ hiện trạng, di tích khai quật xong hầu hết được bảo tồn tất cả các lớp kiến trúc làm bằng chứng cho từng giai đoạn, có thể xây dựng vào những niên đại khác nhau. Làm được như vậy vì vật liệu xây dựng hầu hết bằng gạch, đá, trải qua vài trăm năm trong điều kiện khí hậu không ẩm ướt nên vẫn còn chắc chắn. Khu di tích nào cũng có một mô hình đúc bằng đồng đặt gần lối ra vào, thể hiện toàn bộ khu lâu đài, thành cổ, giúp khách tham quan nhận biết tổng thể khu di tích qua các công trình kiến trúc còn nguyên và những phế tích do khảo cổ học khai quật.

Hầu như không có công trình nào xây lại mới hoàn toàn trên nền móng cũ, mặc dù có thể làm được điều đó vì tài liệu, hình ảnh và những căn cứ khoa học còn lưu lại khá đầy đủ. Riêng thành cổ Warsaw là một trường hợp đặc biệt vì chiến tranh thế giới lần thứ hai đã biến Warsaw thành những đống đổ nát hoang tàn trong đó có tòa thành cổ xây dựng từ thế kỷ XII, XIII và tồn tại đến thế kỷ XX. Sau năm 1945 Ba Lan đã xây dựng lại thành phố Warsaw và tòa thành cổ như trước chiến tranh chứ không xây dựng mới hoàn toàn. Các công trình trong thành và cả tường thành đều xây bằng gạch (được nghiên cứu phục chế gần như không khác biệt với gạch cũ, có lẽ nhờ thời tiết không nóng ẩm nên ít bị rêu mốc và các loài thực vật gây hại). Trong thành, đường phố hẹp hay quảng trường rộng còn giữ nguyên những viên đá nhỏ lát thành hoa văn hình vỏ sò, hình xoáy ốc… nhìn vừa đẹp, vừa dễ rút nước khi mưa và mùa tuyết tan, giảm trơn trượt khi băng giá. Tôi đã nhìn thấy một người công nhân với xô hồ và chiếc búa nhỏ trong tay, tỉ mỷ cẩn thận gắn lại vài viên đá bị bật lên. Mọi người qua lại đi chậm và nhẹ chân hơn. Những chiếc xe ngựa lăn bánh lốp cốp trong phố cổ rất hấp dẫn du khách vì tiết kiệm thời gian và cho đôi chân nghỉ ngơi. Dạo chơi trên đường phố lát đá như thế này cũng khá mỏi chân, nhất là nếu bạn không quen đi bộ. Hơn nữa người đánh xe trong bộ trang phục xưa còn là hướng dẫn viên nhiệt tình và thú vị, những câu chuyện xưa về thành cổ, về từng địa điểm từng nhân vật lịch sử… sống động hơn qua từng tour ngắn như thế. Bao thế hệ đã đi trên những đường phố khấp khểnh này và sẽ còn nhiều thế hệ nữa…vì sự tôn trọng lịch sử và ý thức bảo tồn quá khứ trở thành thói quen bình thường của cộng đồng.

Hai bên đường là những tòa nhà xưa, tiệm ăn, cửa hàng, công sở, nhà hát… hầu như không có kiến trúc mới, càng không có công trình nào cao như nhà thờ. Nhìn từ trên cao những tháp nhà thờ vươn lên in trên nền trời xanh thăm thẳm là điểm nhấn quan trọng nhất của từng khu vực. Nhà thờ trung tâm ở giữa quảng trường rộng, nơi mỗi ngày diễn ra nhiều sinh họat cộng đồng. Trên quảng trường và vỉa hè có nhiều quán cà phê ngăn cách với đường phố bằng hàng rào gỗ thấp treo những chậu hoa tươi tắn. Thành cổ lúc nào cũng nhộn nhịp khách du lịch nhưng không tiếng động cơ không mùi khói xăng, thậm chí cũng không có âm thanh ồn ào. Nhịp sống nơi thành cổ bình thản êm đềm như không có cuộc sống hiện đại sôi động đang diễn ra bên ngoài bức tường thành.

Tháng Mười, mùa du lịch cao điểm ở châu Âu đã qua, vậy mà những thành phố tôi đến không hề vắng du khách. Qua mùa hè nóng nực đông đúc, vào mùa thu thời tiết ôn hòa nên có nhiều đoàn du lịch của người cao tuổi và khách từ châu Á. Cũng là quần thể di tích thành cổ, phố cổ nhưng có nhiều hình thức tham quan nhằm đáp ứng nhu cầu, điều kiện khác nhau của du khách: Tham quan tòan bộ lâu đài, cung điện hay chỉ một phần, tham quan hầm mộ trong lâu đài hay nơi có liên quan đến một nhân vật nổi tiếng (ví dụ tour tham quan các gian phòng hòang hậu Sisi từng sống trong cung điện Mùa hè ở Vienna)…Hay một sinh hoạt đặc biệt như Nhà thờ “con gà” ở quảng trường trung tâm thủ đô Praha chẳng hạn, cứ mỗi giờ là du khách tập trung rất đông, ngước nhìn lên tháp đồng hồ để ngắm chú Gà bằng vàng và những vị Thánh xuất hiện lần lượt sau ô cửa nhỏ, rồi tiếng kèn báo hiệu thời khắc vang lên…
Có rất nhiều di tích tham quan miễn phí, nhất là những nhà thờ cổ, nơi ở của các nhân vật lịch sử và danh nhân văn hóa, nhà hát, kể cả những tòa nhà là công sở còn đang hoạt động. Thú vị nhất với tôi là Dinh Tổng thống trong các tòa thành cổ cũng là điểm tham quan của du khách. Tôi được chứng kiến lễ đón khách của Tổng thống Hungary, có Đội danh dự duyệt binh. Du khách vẫn đứng trong sân của Dinh Tổng thống, chỉ có vài cảnh sát làm nhiệm vụ giữ trật tự. Dinh Tổng thống Cộng hòa Sec cũng vậy, ngày vài lần du khách tụ tập vào những thời điểm đổi phiên gác để chiêm ngưỡng đội danh dự bước đi trong trang phục rất đẹp mắt.

Xen giữa đường phố và quần thể công trình kiến trúc là những vườn hoa nho nhỏ, luôn có tượng đài nhân vật, sự kiện lịch sử, danh nhân văn hóa, không hoành tráng phô trương mà hòa hợp với công viên hay quảng trường xung quanh. Những công viên lớn vốn là khu rừng ở trong và ven thành phố cũng được coi là “di sản cảnh quan đô thị” không chỉ vì nó “có tuổi” mà còn vì nơi đây bảo tồn tự nhiên nhiều loại thực vật, động vật nhỏ. Trong công viên Chopin ở Warsaw những chú sóc những chú chim công mạnh dạn đến gần để nhận những mẩu bánh mỳ vụn từ tay người đi dạo. Mùa hè, mùa thu khu rừng ngoại ô thành phố là nơi người dân đến hái nấm, hái quả dại, nghỉ ngơi cùng gia đình, bạn bè trên thảm cỏ xanh thảm lá vàng…

Quan sát “cuộc sống” của những di sản văn hóa có thể nhận thấy giữa bảo tồn và bảo tàng không hề tách rời, bảo tồn di tích cổ là làm cho chúng trở thành những “bảo tàng mở”, những “bảo tàng mở’ mang lại sức sống cho di tích được bảo tồn. Điều đó tạo điều kiện cho công chúng có thể tiếp cận di sản văn hóa một cách dễ dàng nhất, tiếp nhận những giá trị lịch sử - văn hóa một cách phong phú hấp dẫn nhất. Bảo tồn di sản văn hóa cũng không chỉ giới hạn trong phạm vi di tích, mà đã trở thành một bộ phận quan trọng của quy hoạch đô thị và được ưu tiên hàng đầu trong quá trình phát triển đô thị. Một đô thị mà lịch sử luôn hiện diện trên đường phố bằng từng viên gạch, từng ngôi nhà bằng những tượng đài tuyệt đẹp. Một đô thị được lưu giữ ký ức bằng những công trình cổ xưa, bằng âm nhạc cổ điển bằng những bức danh họa… trong từng ngôi nhà từng quán hàng từng tiệm cà phê… Lịch sử và ký ức đô thị hiện lên thật đẹp, vẻ đẹp của quá khứ dành tặng tương lai. Di sản văn hóa được lưu truyền như một vẻ đẹp vĩnh cửu.

Mặc dù tự “cảnh giác” với hội chứng “đi Tây về chỉ ngợi khen Tây” nhưng quả thật, tôi đã nhận được nhiều kinh nghiệm từ việc bảo tồn và “phát huy giá trị” di sản văn hóa của những thành phố này. Họ cũng đã qua “một thời đạn bom, một thời hòa bình”, cũng từng chịu sức ép của “đô thị hóa, hiện đại hóa” sau chiến tranh và trong quá trình phát triển kinh tế, nhưng họ gìn giữ trân trọng di sản văn hóa trước hết là cho đất nước mình, và sau đó “hữu xạ tự nhiên hương”, di sản trở thành của thế giới. Họ đã thành công từ một điều giản dị: di sản văn hóa phải có một đời sống của chính nó, nhờ con người và vì con người.

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang cười, bầu trời, ngoài trời và cận cảnh

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, mọi người đang đứng, bầu trời, cây, ngoài trời và thiên nhiên

Kiến tạo siêu đô thị giàu bản sắc và ký ức

  Dự thảo Luật Phát triển đô thị thể hiện tư duy đổi mới mạnh mẽ về phân quyền, tự chủ và tạo động lực phát triển; đồng thời bước đầu đề cập...