Hiển thị các bài đăng có nhãn môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng

Xanh hóa giao thông không thể chỉ dựa vào ‘trụ cột’ xe điện (Mục Nhĩ - Thời báo kinh tế Sài Gòn)

 (KTSG Online) - Thay vì quy hoạch khu vực cấm xe xăng dầu và xem xe điện như là giải pháp xanh hóa giao thông chính, chính quyền cần xây dựng phương án tổng thể, tính đến các loại xe phát thải thấp sắp phổ biến. Cần hiểu đúng bản chất của giao thông xanh là giảm lượng khí phát thải từ động cơ đốt trong để kế hoạch xanh hóa không bị "cột" với xe điện.


Xanh hóa giao thông là xu thế tất yếu mà toàn thế giới đang hướng tới. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế tiến bộ này, do đó năm 2021 tại COP 26 (1) Chính phủ đã cam kết mục tiêu giảm phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050.

Tuy nhiên, xanh hóa giao thông bằng cách quy hoạch khu vực cấm xe xăng dầu trong nội đô và bắt buộc chuyển sang xe điện như các phương án đang được bàn đến tại các đô thị lớn như Hà Nội (2), TPHCM (3) mới là "điều kiện cần".

Còn hàng loạt "điều kiện đủ" phải tính đến trước: ngắn hạn thì có nguồn điện xanh để sạc, hạ tầng trạm sạc, an toàn cháy nổ và dài hạn thì phải tính đến phương án xử lý lượng pin xe điện khổng lồ sẽ bị thải ra sau vòng đời 10-15 năm sử dụng.

Với khu vực quy hoạch cấm xe xăng dầu dự kiến nói trên thì lượng xe điện sẽ tăng vọt rất nhanh vì không chỉ người dân trong khu vực mà rất nhiều người dân sống bên ngoài khu vực cũng cần đi vào hàng ngày, tất nhiên họ bắt buộc phải chuyển sang dùng xe điện mới đi vào được.

Việc quy hoạch hẳn một vành đai nội đô cấm xe xăng dầu, chỉ cho phép xe điện lưu thông đặt ra hàng loạt bài toán khó không dễ giải quyết. Nếu muốn kế hoạch này thành công, hạ tầng cung cấp điện, trạm sạc, phòng chống cháy nổ pin và tái chế pin phải được tính trước rồi mới tính đến triển khai đại trà xe điện.

Đầu tiên là hạ tầng trạm sạc, thiết bị sạc tại nhà và nguồn điện cung cấp để sạc xe sẽ tăng thêm bao nhiêu? Với mức dung lượng bình quân pin xe ô tô là 50 kWh và xe máy là 3 kWh thì lượng điện tăng thêm mỗi tháng là một gánh nặng hàng triệu kWh cho lưới điện. Khi nguồn tiêu thụ điện tăng vọt do hàng trăm ngàn xe điện cùng sạc thì liệu hạ tầng cấp điện gồm trạm biến áp và đường dây cấp điện sẽ quá tải nhanh chóng nếu không được nâng cấp trước.

Đó là chưa kể về "thực chất xanh" sẽ không đạt được nếu sạc pin từ nguồn điện tạo ra từ than và dầu vốn đang rất phổ biến ở Việt Nam. Muốn "xanh thật" thì xe điện phải được sạc bằng điện xanh, tức điện từ thủy điện, điện gió, điện mặt trời.

An toàn cháy nổ là vấn đề hàng đầu không thể bỏ qua. Pin xe điện phổ biến là loại lithium khi cháy sẽ là thảm họa khủng khiếp vì đây là phản ứng hóa học cháy không cần oxy, tạo ra khói độc dày đặc và nhiệt độ lên đến 700 độ C. Không thể dập tắt đám cháy pin lithium bằng bình chữa cháy thông thường dùng CO2 hay bình bột như đám cháy xăng dầu mà phải dùng loại bình chữa cháy đặc dụng giá từ 2 triệu đồng trở lên, cao gấp hàng chục lần bình chữa cháy thông thường.

Thói quen đậu xe máy trong nhà của người dân sẽ khó thay đổi khi chuyển sang dùng xe điện. Đó là chưa kể dù không muốn đậu trong nhà thì họ không dễ đem xe đi gởi vì hai lý do: không dễ tìm chỗ nhận giữ xe điện và người dân không muốn phải tốn kém thêm một khoản tiền gởi xe hàng tháng.

Đậu xe máy điện trong nhà nhưng không phải nhà người dân nào cũng có đủ chỗ để thiết kế chỗ sạc an toàn. Thử hình dung, làm sao quản lý an toàn cháy nổ xe điện khi có hàng trăm ngàn xe máy điện cắm sạc trên một vùng rộng lớn của thành phố. Đó là chưa kể rất nhiều khu vực hẻm nhỏ, chật chội không có đường cho xe chữa cháy vào nếu chẳng may xảy ra hỏa hoạn.

Một vấn đề cũng phải đặt ra ngay từ bây giờ: tái chế pin xe điện. Bài học từ nước láng giềng Trung Quốc cho thấy, sau chu kỳ 10-15 năm, núi pin phế thải từ hàng triệu xe điện là nguồn ô nhiễm không dễ giải quyết nếu không có kế hoạch ngay từ bây giờ.

Quay lại với bản chất cốt lõi là giảm lượng khí phát thải từ động cơ đốt trong thì xanh hóa giao thông có nhiều cách, miễn là sử dụng các loại xe có mức phát thải thấp hay bằng 0. Cách tiếp cận này sẽ giúp có một lộ trình hợp lý, đón đầu các loại xe công nghệ mới trong tương lai gần. Đây là nền tảng tiếp cận trên cơ sở khoa học để chính quyền và doanh nghiệp cùng đồng hành xây dựng giao thông xanh với sự tham gia tự nguyện của người dân.

https://thesaigontimes.vn/xanh-hoa-giao-thong-khong-the-chi-dua-vao-tru-cot-xe-dien/?fbclid=IwY2xjawLkRAFleHRuA2FlbQIxMQABHjx4qxL6tYBGebrkSS_DL3JqwRGH5vFAseRMf86kHvR5ErmYGbvoiVlrGD9x_aem_8_YhC8LWxSd3qBkxvBNR2A

Nhật Bản giảm phát thải thành công dù không "xe điện hóa"

Nói về chống ô nhiễm không khí, đặc biệt là giảm khí thải nhà kính từ xe hơi, xe máy dùng nhiên liệu xăng dầu, cách giải bài toán ô nhiễm của người Nhật rất đáng để Việt Nam tham khảo vì họ đã làm đúng bản chất cốt lõi của Net Zero: kéo giảm khí thải từ động cơ đốt trong. Cho đến nay, Nhật Bản vẫn là quốc gia hàng đầu thế giới về kiểm soát tốt ô nhiễm khí thải động cơ.

Gần 30 năm trước, năm 1997 người Nhật đã đi tiên phong trong giao thông xanh khi đưa ra mẫu xe Toyota Prius lai xăng - điện (hybrid). Thế nhưng, ngay trong làn sóng xe điện toàn cầu dâng cao kỷ lục ở giai đoạn 2020-2023 thì các hãng xe Nhật vẫn trung thành với mục tiêu kéo giảm phát thải bằng động cơ đốt trong thế hệ mới, động cơ hybrid, nhiên liệu sinh học và đang theo đuổi mục tiêu lớn hơn như pin nhiên liệu, động cơ hydro.

Nhật Bản là quốc gia đứng thứ 6 thế giới về số lượng xe trên đầu người với 659 xe/1.000 người dân, cao gấp 10 lần so với Việt Nam nhưng người Nhật không xanh hóa giao thông dựa vào xe điện. Dù thận trọng nhưng cách tiếp cận giao thông xanh của Nhật Bản vẫn đạt kết quả tốt: tổng phát thải từ ngành giao thông đường bộ Nhật năm 2015 khoảng 188 triệu tấn CO2 thì đến năm 2022 giảm còn 165 triệu tấn (4).

Thương nhớ những hàng cây

https://tuoitre.vn/thuong-nho-nhung-hang-cay-20240512091631695.htm 

Nguyễn Thị Hậu

Những ngày này ở TP.HCM và nhiều nơi khác, có những con đường với hàng cây cao lớn bị tỉa cành chặt nhánh vì sắp vào mùa mưa, một số đường có cây xanh bị chặt từ lâu để làm hạ tầng nhưng đến nay vẫn chưa trồng lại, hoặc cây mới trồng còn quá nhỏ đang héo hắt trong mùa nắng. Giữa những ngày nắng nóng này, những tin tức về chặt tỉa nhưng làm cây xanh trụi lủi hay hàng trăm cây xanh sắp bị chặt hạ để làm hạ tầng khiến tôi và nhiều người khác vô cùng tiếc nuối.

Ở đô thị, cây xanh gắn liền với các tuyến đường tạo ra mảng xanh để cân bằng cảnh quan với những khối gạch đá bê tông kính thép, điều hòa không khí tạo sự trong lành và tươi mát cho không gian hạn hẹp của đô thị. Sự sinh động muôn màu sắc hình dáng của cây xanh tạo nên vẻ đẹp tự nhiên mà không bàn tay con người nào có thể làm được. Một đô thị không thể thiếu cây xanh, công viên, thiếu những hàng cây cổ thụ với mùa đâm chồi nảy lộc, mùa lá bay như níu bước chân người.

Tôi cứ hay lần dở những tài liệu về cây xanh theo chiều dài lịch sử đô thị. Hơn trăm năm trước Sài Gòn rất đẹp vì “đường phố rợp bóng cây, tất cả như chìm ngập trong một đại dương xanh. Nhìn từ trên cao xuống, từ chòi quan sát trên nóc một con tàu hoặc từ các tháp của nhà thờ, Sài Gòn hiện ra như một công viên rộng lớn”. Trong thời kỳ đầu tiên quy hoạch và xây dựng đô thị thì “phần lớn cây trồng đều được Sở Cầu đường lấy từ vườn ươm trong vườn Bách thảo” tạo nên  hệ thống cây xanh đường phố mà đến nay vài con đường còn những hàng cây cổ thụ cao vút. 

Thành phố càng phát triển, dân số càng tăng lên thì đúng ra diện tích cây xanh càng phải tăng gấp nhiều lần. Tuy nhiên số lượng mảng xanh và không gian chung đang dần bị thu hẹp trước sự “bành trướng” của các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và đô thị mới. Chỉ xét riêng về mật độ cây xanh, trung bình người dân ở các thành phố lớn như TP.HCM hay Hà Nội được thụ hưởng diện tích mảng xanh còn thấp hơn so với chỉ tiêu quy hoạch và với tiêu chí 9m2 cây xanh/người mà theo WHO là cần thiết để được sống khoẻ mạnh và cân bằng.

Và cứ trước mùa mưa là cây bị chặt cành mé nhánh đế trơ trụi, dù qua mùa nắng gắt cây chưa kịp phát triển tán lá, tầng nước ngầm chưa đủ cung cấp cho bộ rễ hồi phục. Trong khi đó việc trồng cây xanh không đủ đền bù cho nhiều cây xanh lâu năm bị chặt hạ để xây dựng hạ tầng giao thông. Tôi cứ tiếc ngẩn ngơ những hàng cổ thụ ở đường Tôn Đức Thắng cao vút và xanh um trước đây. Khi hàng cây bị chặt để nhường chỗ làm đường kết nối cầu Ba Son, đã có những lời hứa về việc trồng lại cây xanh. Nhưng cho đến nay, cây trồng lại thưa thớt và không lớn nổi, con đường vẫn nắng chang chang…

Tại các thành phố, hàng ngày cây xanh cần được chăm sóc theo đặc điểm của từng loại, khi cây “bị bệnh” thì chữa trị ngay. Cũng như các di tích kiến trúc cần được kiểm tra theo dõi, sửa chữa thường xuyên, phải trùng tu ngay nếu hư hỏng... Ngay cả việc xây dựng một công trình mới nếu liên quan đến số phận của nhiều cây xanh cũng cần cân nhắc, một mức độ nào đó phải được xem xét như phải di dời một tòa nhà cổ nhường chỗ cho công trình hiện đại, vì hiện nay cây xanh ở đô thị cũng được coi là một loại “cổ tích”. Một đô thị hiện đại văn minh không thể vắng thiên nhiên và di sản mà cây xanh lại đồng thời có cả hai đặc tính đó.

Thời gian sắp tới ở TP.HCM và nhiều đô thị khác sẽ xây dựng nhiều trục giao thông mới. Bộ mặt giao thông đô thị cần phải khởi sắc và phát triển, nhưng điều đó không có nghĩa là đi liền với việc đốn đi những hàng cây xanh. Những con đường và công trình hạ tầng luôn có tuổi vì không tồn tại lâu dài, nhưng những hàng cổ thụ thì không có tuổi, vẫn tồn tại mãi. Aai ai cũng tiếc khi đốn hạ cây xanh thì hãy tìm những giải pháp thay thế để duy trì những hàng cây, góp phần tạo ra TP xanh có môi trường sống xanh và sạch cho con người.

 


 

MỘT DÒNG XANH TUYỆT VỜI CỦA HUẾ


Mỗi khi đến Huế tôi thường được đi thuyền trên sông Hương. Từ thành phố với cảnh quan đôi bờ là đường phố, nhà cửa... rồi phố xá thưa dần, vườn xanh đồi cây hiện ra. Gần đến Phá Tam Giang là một vùng trời mây sông nước mênh mang... Lần nào sông Hương cũng mang lại cho tôi cảm giác bồi hồi như được trở về xa xưa, thủa các chúa Nguyễn đi tìm nơi xây dinh rồi lập phủ. Tôi cũng như nhiều người khác, quen thuộc với sông Hương và cung điện lăng tẩm nhưng lại không biết rằng, còn có một số dòng sông khác cùng với Hương Giang góp phần tạo nên hình hài kinh thành Huế.

May thay, vào một ngày thu nắng vàng rực rỡ, người bạn Huế đã đưa tôi đi thuyền trên một dòng sông nổi tiếng khác: Ngự Hà. Lần đầu tiên đi thuyền dọc theo những xóm làng xưa của kinh thành cùng với những câu chuyện hấp dẫn của bạn, tôi nhận ra nhiều điều thú vị của sông nước vùng đất cố đô.
Bắt đầu từ một bến thuyền bên bờ sông Hương, con thuyến đưa tôi đi vào dòng Ngự Hà. Chảy vòng từ Tây sang Đông của Kinh thành Huế, dòng Ngự Hà (dân gian còn gọi là sông Vua) có vai trò quan trọng. Bạn kể rằng, “khi xây đắp Kinh Thành, sông Kim Long bị lấp đoạn phía trên, còn đoạn ở hạ lưu được cải tạo thành Ngự Hà và một đoạn khác của sông này được biến cải thành hồ Tịnh Tâm và hồ Học Hải ở trong Kinh Thành. Hạ lưu sông Bạch Yến được chỉnh dòng, trở thành sông hộ thành ở phía Bắc của Kinh Thành. Vua Gia Long cho đào thêm sông Đông Ba và sông Kẻ Vạn, làm hai con sông hộ thành ở hai mặt đông và tây của tòa thành. Hai sông này kết hợp với sông Hương ở phía Nam và sông Bạch Yến ở phía Bắc, tạo thành một “tứ giác nước” bao quanh Kinh Thành. Ngự Hà là dòng sông nhân tạo chảy giữa lòng kinh thành theo hình thước thợ, nối thông với “tứ giác nước” thông qua hai thủy khẩu là Tây thành thủy quan và Đông thành thủy quan, hợp thành hệ thống thủy đạo hoàn hảo, thông suốt từ ngoài vào trong, phục vụ đi lại và chuyên chở hàng hóa ra vào Kinh thành”.
Ngày nay sông Ngự Hà còn dài gần 4 km, chia Kinh thành Huế ra thành hai phần Nam và Bắc. Dòng sông chảy giữa màu xanh êm đềm, hai bờ sông kè đá chắc chắn, gần đây sông thường được nạo vét chỉnh trang nên nước trở lại trong xanh... Nếu đi trên sông Hương ta quen với những cồn Hến, cồn Dã Viên, Điện Hòn Chén, cầu Tràng Tiền, Kỳ đài, Ngọ Môn và những công trình kiến trúc tây phương khác... Thì theo dòng Ngự Hà ta sẽ được chiêm ngưỡng nhiều cầu xưa cống cổ, biết thêm những xóm làng lâu đời của kinh đô vàng son một thủa, khung cảnh làng quê thanh bình hiện ra như những bức tranh thủy mạc...
Dân gian vẫn truyền rằng, vào những chiều hè mát mẻ hay những ngày xuân đẹp trời, các vua Nguyễn thường dạo chơi trên thuyền rồng trên sông Ngự Hà, chắc hẳn không chỉ vì sự tiện lợi nhờ dòng sông trong “nội thành” mà còn vì phong cảnh hữu tình hai bên bờ sông. Mấy trăm năm đã qua mà cảnh quan nơi đây vẫn đủ sức quyến rũ du khách: thuyền đi qua đoạn nhà phố bảng hiệu quảng cáo chữ xanh đỏ nhưng cạnh đó là bến sông với những bậc thềm dài xây bằng gạch, sát bờ sông một cây cổ thụ cành lá sum sê ngả bóng rợp mặt nước... rồi những hàng phượng hàng me nối nhau trên bờ kè trông không khác một phố cổ nào đó ở miền Tây Nam bộ. Những ngôi nhà mái ngói rêu phong có hàng cau cao vút, lại có ngôi nhà lầu tím rực hàng bông giấy ngoài sân... Nhiều đoạn hai bên bờ sông là vườn tược và rặng tre la đà, trên vài cành tre còn vương mấy chiếc túi xốp, mảnh hộp bằng bìa, có lẽ là “bằng chứng” của một lần nước sông dâng cao. Thấp thoáng trên mặt sông in bóng khi thì ngọn tháp khi lại là cổng tam quan một ngôi chùa hiện lên giữa vườn cây tươi tốt. Không hiếm những đoạn sông hoàn toàn vắng lặng, dường như nước cũng ngừng chảy cho những bông lục bình dừng chân... Bỗng hiện ra cái vó bè buông chùng trên mặt nước, vài chiếc thuyền nho nhỏ neo lại, trên bờ một người đi câu ngồi dưới cái dù cắm sát mép, nước nét mặt trầm ngâm, dường như ông không quan tâm tới chiếc phao đang dập dềnh trên mặt nước... Rồi đến đoạn sông sát bên tường thành xây bằng gạch bên trên còn tháp canh nho nhỏ, hay một đoạn mặt nước lặng như hồ vươn lên những bông súng hồng tím duyên dáng...
Tôi chưa bao giờ hình dung Huế lại có cảnh sông nước giống miền Tây quê tôi như vậy, chỉ còn thiếu mấy chiếc cầu khỉ nữa thôi... Nhưng đấy lại là một khám phá thú vị của tôi. Theo dòng Ngự Hà cứ vài trăm met lại gặp một chiếc cầu ngang sông, phần lớn được xây dựng trong thời Nguyễn. Những chiếc cầu này hình thức cổ điển, hai bên xây lan can bằng gạch vữa, phía dưới có cửa cống đủ để cho thuyền bè qua lại. Mỗt chiếc cầu – cống đều có một dấu tích, một câu chuyện đặc biệt, nhưng tất cả đều khá rộng, nay đã được trải nhựa bằng phẳng, xe cộ qua lại đêm ngày mà vẫn vững vàng. Phía dưới vòm cống còn nguyên vật liệu xây dựng lúc đầu bằng đá hay gạch, nhìn từ xa những chiếc cầu dáng cong cong như chiếc lược gài trên dòng tóc xanh Ngự Hà.
Khi thuyền đi qua cây cầu cuối cùng trên sông Ngự Hà là Cầu Thủy quan, còn gọi là cống Tây Thành Thủy Quan, ngắm bờ kè gồm những viên đá xếp chồng lên nhau, rễ cây xuyên qua len lỏi bám chắc, chui vào đoạn cống dài âm u rêu xanh, hơi nước phả lên mát lạnh, nhìn ra đoạn “sông cụt” dày bèo và rau muống, mới có cảm nhận thực sự về một thời đã vĩnh viễn đi qua... Từ một phần của tự nhiên lại được bàn tay con người đào đắp, sông Ngự Hà và hệ thống cầu cống đã trở thành một thành tố gắn kết chặt chẽ với quần thể di sản kiến trúc đặc sắc của kiến trúc Kinh thành Huế, góp phần tạo nên vẻ đẹp tự nhiên cho tổng thể cảnh quan Cố đô.
Nhưng đáng quý hơn cả là cảnh quan thiên nhiên của dòng sông và những làng xóm cổ xưa, nay đã là phường nội thành nhưng chưa bị lấn át bởi beton kính thép của hiện tượng “đô thị hóa”. Từ lâu rồi tôi có đọc ở đâu đó một câu mà bây giờ mới “nghiêm sinh”: Huế đẹp vì Huế xanh! Không chỉ xanh ở những ngôi nhà vườn – một di sản về kiến trúc và lối sống Huế, mà Huế còn có những dòng xanh nguyên vẹn nét đẹp tinh tế dù đã gần trăm năm mất vị thế kinh thành, dù trải qua bao dâu bể chiến tranh. Đó là sự hòa trộn, gắn bó kỳ lạ giữa một Huế cung đình kiêu sa và một Huế của làng quê bình dị. Ngự Hà là một dòng xanh tuyệt vời như thế.

Nguyễn Thị Hậu
Báo Thừa Thiên - Huế Xuận Nhâm Dần



Từ hậu quả lũ lụt đến Dự thảo Luật Bảo vệ Môi trường KHÔNG CÔNG KHAI ĐTM.

 FB Lê Quỳnh - nhà báo chuyên viết về môi trường:

Từ hậu quả lũ lụt đến Dự thảo Luật Bảo vệ Môi trường KHÔNG CÔNG KHAI ĐTM.
Tạm lắng lại chuyện bão lũ, hôm nay mình quay lại chuyện công khai Báo cáo Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) trong Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) hiện nay.
Chúng ta đều biết, Luật BVMT hiện hành và Luật Tiếp cận Thông tin đều yêu cầu công khai ĐTM. Dù vậy, thực tế công chúng vẫn gần như không thể tiếp cận được ĐTM. Vấn đề này chưa được giải quyết thì bản Dự thảo Luật BVMT hiện nay lại "đột ngột" xuất hiện điều khoản KHÔNG CÔNG KHAI ĐTM.
Cho tới nay, sau nhiều tiếng nói lên tiếng phản đối (i), tại bản Dự thảo Luật này mới nhất, điều khoản công khai ĐTM đã được Bộ TNMT điều chỉnh nhưng bản chất lại là một sự lắt léo, hạn chế quyền tiếp cận ĐTM của cộng đồng. Cụ thể: tại Khoản 2 điều 39, cơ quan Nhà nước chỉ công khai Quyết định phê duyệt ĐTM. Còn Khoản 9 Điều 38 thì chủ đầu tư phải công khai ĐTM đã được phê duyệt. (ii)
Luật Tiếp cận Thông tin hiện nay chỉ có phạm vi điều chỉnh cơ quan Nhà nước, cụ thể (theo điều 14 Luật này), nếu cơ quan Nhà nước không cung cấp thông tin như quy định thì sẽ bị khiếu kiện, bị khởi kiện ra tòa. Tuy nhiên, Luật Tiếp cận thông tin lại không có điều chỉnh hành vi vi phạm đối với doanh nghiệp nếu họ không công khai ĐTM.
Vì vậy, cơ quan Nhà nước công khai ĐTM là tốt nhất. Việc cơ quan Nhà nước chỉ công khai QUYẾT ĐỊNH PHÊ DUYỆT ĐTM là không đúng. Bản thân Quyết định phê duyệt ĐTM không phải là cơ sở khoa học cho các phản biện với những dự án có nghi vấn về môi trường sau khi nó đã được phê duyệt. Việc công khai ĐTM cũng không làm tiết lộ bí mật công nghệ hay kinh doanh của doanh nghiệp như một vài ý kiến của Bộ TNMT trước đây.
Việc công khai ĐTM cho phép và đảm bảo sự giám sát của cộng đồng, bên độc lập thứ 3, hạn chế các xâm phạm tới tài nguyên thiên nhiên, và bảo vệ môi trường. Nếu sự giám sát này bị triệt tiêu, trong tương lai chúng ta sẽ lại phải tiếp tục chứng kiến những hậu quả tàn khốc sau khi thiên nhiên, môi trường đã bị hủy hoại vì sự yếu kém, tham lam, cuồng vọng của con người.
---
Vào thứ 7 tuần này, dự kiến Quốc hội sẽ thảo luận về dự thảo trước khi thông qua.
Luật Tiếp cận Thông tin:
Luật BVMT hiện hành:
Điều 131 Luật BVMT hiện hành nêu, ngoài những thông tin thuộc danh mục bí mất nhà nước thì thông tin môi trường phải công khai bao gồm:
a) Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường;
b) Thông tin về nguồn thải, chất thải, xử lý chất thải;
c) Khu vực môi trường bị ô nhiễm, suy thoái ở mức nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, khu vực có nguy cơ xảy ra sự cố môi trường;
d) Các báo cáo về môi trường;
đ) Kết quả thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường.
Điều 14 luật Tiếp cận Thông tin về Khiếu nại, khởi kiện, tố cáo:
1. Người yêu cầu cung cấp thông tin có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với cơ quan nhà nước, người có trách nhiệm cung cấp thông tin quy định tại Điều 9 của Luật này.
2. Công dân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về tiếp cận thông tin.
3. Khiếu nại, khởi kiện, tố cáo trong việc tiếp cận thông tin được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và pháp luật về tố tụng hành chính.





KIẾN NGHỊ VỀ DỰ ÁN LẤN BIỂN CẦN GIỜ BẰNG VĂN BẢN ĐÃ CHÍNH THỨC ĐƯỢC GỬI ĐI

Hôm nay, bản Kiến nghị xem xét và đánh giá độc lập toàn bộ Dự án KĐT Du lịch Lấn biển Cần Giờ đã được gửi đi tới Tổng Bí Thư, Thủ Tướng, UB Thường vụ Quốc hội và UBND Tp HCM. Và lúc này số chữ ký trên mạng đang là 5.794 sau những “sụt giảm” khá liên tục vì những-điều-không-giải-thích-nổi. Các bạn lưu ý, Kiến nghị có bổ sung mục số 5 và số 9 và số cá nhân/tổ chức tham gia kí trực tiếp tăng 2 cá nhân và 1 tổ chức đồng thời giảm 1 cá nhân như tôi đã nói trong status trước. Để Kiến nghị được gửi đi là sự thống nhất của hàng chục lần thảo luận, phân tích, phản biện và điều chỉnh của các thành viên tham gia sau khi bản Kiến nghị online được đưa lên mạng. Tuy nhiên, cuối cùng chúng tôi đã hoàn toàn thống nhất và gửi đi Kiến nghị này ngày hôm nay.
❤️ Xin cám ơn các bạn đã kiên nhẫn chung tay, chia sẻ. Xin cảm ơn các ý kiến và tin nhắn quan tâm. Trong thời gian chờ đợi phản hồi từ các cá nhân, cơ quan có trách nhiệm mà chúng tôi đã gửi Kiến nghị tới, chúng tôi xin phép không tranh luận. Chúng tôi cũng sẵn sàng tham gia phản biện với các cơ quan có thẩm quyền của Chính Phủ và nhà đầu tư nếu có một cuộc hội thảo nghiêm túc và với điều kiện Báo cáo ĐTM (và các phản hồi từ nhà đầu tư đúng vào vấn đề được nêu trong Kiến nghị) được công bố chính thức bởi đó chính là nền tảng để có những cuộc thảo luận có nghĩa và hiệu quả. Bởi mục đích quan trọng nhất của Kiến nghị là đưa ra những-ý-kiến-xây-dựng để Dự án được nghiên cứu và chuẩn bị kĩ càng, có tính khả thi, mang lại hiệu quả kinh tế cho chủ đầu tư, khách hàng mua các sản phẩm của dự án trong tương lai và có tác động tốt về kinh tế, môi trường, xã hội...cho cộng đồng và đất nước.
- Nhóm tham gia Kiến nghị -
TOÀN VĂN BẢN KIẾN NGHỊ:












Đập Xayaboury, dòng chảy Mekong nửa đầu mùa khô 2019-2020

Diễn đàn trí thức - Mực nước tại các trạm trên dòng chính sông Mekong trong hạ lưu vực, sông Bassac và sông Tonle Sap rất thấp, rất gần, có nơi còn thấp hơn đường Min.


Bài viết của GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân:
Tóm tắt: Chúng ta đang ở thời điểm giữa mùa khô 2019-2020 mà hạn, mặn ở đồng bằng sông Cửu Long được cho là có thể còn gay gắt hơn cả mùa khô “lịch sử” 2015-2016. Bài viết xem xét dòng chảy sông Mekong trong hạ lưu vực trong nửa đầu mùa khô này ngay sau khi đập thủy điện Xayaboury đi vào hoạt đông. Số liệu là từ cơ sở dữ liệu của Ủy hội sông Mekong. Từ đó một số nhận xét và kiến nghị.
Mực nước sông Mekong trong hạ lưu vực ở nửa đầu mùa khô 2019-2020
1. Hình 1 thể hiện các đường mực nước (H) tại trạm thủy văn Chiang Saen trên đó có đường mực nước cao nhất (Max), thấp nhất (Min), và trung bình (Avg) [1] [2]. Trên đồ thị bên trái còn có đường mực nước mùa khô năm 1992-1993 (màu tím) và đường mực nước mùa khô năm 2003-2004 (màu xanh) lần lượt trước và sau khi đập thủy điện đầu tiên ở thượng lưu vực sông Mekong, đập Manwan đi vào hoạt động năm 1995.
Dap Xayaboury, dong chay Mekong nua dau mua kho 2019-2020
Hình 1. Đường mực nước tại trạm Chiang Saen một số mùa khô đã qua, và năm nay
Diện tích lưu vực sông Mekong từ khởi nguồn trên cao nguyên Tây Tạng tính đến trạm Chiang Saen là 169.000 km2. Bên phải, ngoài các đường Max, Min, Avg còn có đường mực nước các mùa khô 2017-2018, 2018-2019. Đường mùa khô năm nay (màu xanh lục, số liệu đến ngày 24.02) khởi đầu ngày 01.11.2019 rất thấp, bằng đường mực nước Min rồi tăng dần như các năm trước. Đến ngày 06.01.2020 mực nước rơi từ 2,89 mét ngày 04.01.2020 xuống 1,73 mét sau khi đập Jinghong giảm lượng nước tháo xuống hạ du từ ngày 01 đến ngày 04.01.2020, từ 1200 - 1,400 m3/s xuống 800 - 1,000m3/s, theo thông báo của MRC [3].
Hình 1 cho thấy sự phụ thuộc cao độ của mực nước tại Chiang Saen, đặc biệt trong mùa khô vào chế độ vận hành của các đập thủy điện Trung Quốc, mà đập cuối cùng gần biên giới Lào, Myanmar, Thái Lan nhất hiện nay là đập Jinghong [4].
2. Đoạn sông Mekong từ trạm Luang Prabang đến trạm Chiang Khan dài 293 km. Diện tích lưu vực khu giữa hai trạm là 24.000 km2.
Đập thủy điện Xayaboury đi vào hoạt động ngày 31.10.2019. Nằm giữa trạm Luang Prabang và trạm Chiang Khan, mực nước ở hai trạm này trong mùa khô 2019-2020 chắc chắn có nhiều thay đổi so với trước đây.
Dap Xayaboury, dong chay Mekong nua dau mua kho 2019-2020
Hình 2. Xayaboury, bậc thang đầu tiên trên sông Mekong ở hạ lưu vực
Mực nước ở trạm Luang Prabang khởi đầu mùa khô năm nay ở mực nước trung bình Avg, 8,24 mét, thấp hơn các mùa khô trước nhưng sau đó và cho đến ngày 24.02 vẫn ở 8 mét, thậm chí có lúc tiệm cận đường Max. Đập Xayaboury tích nước là một lý do. (Hình 2, bên trái).
Nếu trong hai mùa khô trước, mực nước ở Chiang Khan luôn cao hơn Avg thì đầu mùa khô năm nay, mực nước chỉ là 4,52 mét gần bằng mực nước Min 4,48 mét. Từ thời điểm đó, tuy có lúc tăng lên 4,95 mét (ngày 08.01.2020) và 5,12 mét (ngày 21.12) nhưng mực nước luôn thấp, nằm giữa đường Min và Avg, (3,16 mét ngày 24.02).
Dap Xayaboury, dong chay Mekong nua dau mua kho 2019-2020
Hình 3. Đường mực nước tại Luang Prabang và Chiang Khan đến giữa mùa khô 2019-2020, năm đầu tiên đập thủy điện Xayaboury đi vào hoạt động
Lưu vực khu giữa hai trạm khá rộng, ngoài lượng nước từ Luang Prabang chảy về, Chiang Khan còn nhận được lượng nước mưa trên lưu vực mà kể từ mùa khô năm nay, đập Xayaboury tích lại một phần quan trọng. Mực nước tại Chiang Khan thấp hơn các năm trước là do đập Jinghong khóa van một thời gian, là do hạn hán bởi biến đổi khí hậu, hay do đập Xayaboury tích nước? Có cả ba lý do, nhưng chủ yếu là do đập Xayaboury tích nước.
3. Đoạn sông từ trạm Chiang Khan đến trạm Vientiane dài 137 km. Diện tích lưu vực khu giữa hai trạm là 7000 km2.
Dap Xayaboury, dong chay Mekong nua dau mua kho 2019-2020
Hình 4. Đường mực nước mùa khô một số năm tại hai trạm Chiang Khan và Vientiane
Khoảng cách ngắn, lưu vực khu giữa không rộng. Vào mùa khô không có dòng bổ sung ngang nên đường mực nước các năm ở hai trạm gần như đồng dạng, chỉ lệch ngày. Mực nước đến giữa mùa khô năm nay nằm giữa đường Min và Avg.
 4. Tại các trạm Nakhon Phanom và Mukdahan.
Đoạn sông từ Vientiane đến Nakhon Phanom dài 363 km, lưu vực khu giữa hai trạm rộng khoảng 74.000 km2. Vào mùa khô lượng nước bổ sung ngang không đáng kể vì ít mưa trên lưu vực. Do vậy, đường mực nước các năm ở hai trạm gần như đồng dạng, chỉ lệch ngày (Hình 5, đồ thị trái và giữa) và gần với đường Min.
Dap Xayaboury, dong chay Mekong nua dau mua kho 2019-2020
Hình 5. Đường mực nước mùa khô một số năm tại Vientiane, Nakhon Phanom và Mukdahan
Mực nước sông Mekong tại trạm Nakhon Phanom ngày 27.11.2019 là 0,79 mét. Nhiều bãi cát ở đáy sông lộ thiên. Cũng trong những ngày này, nước sông từ màu vàng-nâu chuyển sang màu xanh lục-xanh. (Hình 6, tin ảnh từ Bangkok Post).
Dap Xayaboury, dong chay Mekong nua dau mua kho 2019-2020
Hình 6. Sông Mekong tại Nakhon Phanom những ngày cuối tháng 10 và đầu tháng 12.2019
Các trạm Nakhon Phanom và Mukdahan cách nhau 92 km với lưu vực khu giữa rộng 18000 km2. Vào mùa khô, sông Mekong chảy truyền giữa hai trạm này (Hình 5, đồ thị giữa và phải).
5. Tại các trạm Pakse, Stung Treng, Kratie và Kompong Cham
Trạm Pakse cách trạm Mukdahan 256 km với lưu vực khu giữa rộng 154.000 km2. Tuy lưu vực khu giữa rộng nhưng do ít mưa (các bản tin tuần của MRC) nên mực nước tại Pakse hầu như đồng dạng với đường mực nước tại Mukdahan, trùng khớp và rất gần với đường Min (Hình 7, bên trái).
Dap Xayaboury, dong chay Mekong nua dau mua kho 2019-2020
Hình 7. Đường mực nước tại trạm Pakse (trái) và tại trạm Stung Treng (phải)
Trạm Stung Treng cách trạm Pakse 201 km. Lưu vực khu giữa hai trạm (mà một phần nằm trên Tây Nguyên của Việt Nam) rộng 90.000 km2. Tuy nhận được lượng nước bổ sung ngang từ ba sông Sesan, Serepok và Sekong, nhưng cho đến ngày 24.02.2020, mực nước tại Stung Treng vẫn thấp, bắt đầu mùa khô ở mực nước Min và từ tuần đầu tháng 01 ở mực nước trung bình Avg. (Hình 7 bên phải).
Trạm Kratie ở cách trạm Stung Treng 123 km về phía Nam, với khu giữa là 11000 km2. Kompong Cham là trạm thủy văn kế tiếp về phía hạ du cách Kratie 135 km.
Dap Xayaboury, dong chay Mekong nua dau mua kho 2019-2020
Hình 8. Dường mực nước tại trạm Kratie (trái) và trạm Kompong Cham (phải)
Đồ thị cho thấy mực nước tại hai trạm mùa khô năm nay khởi đầu hầu như trùng với đường mực nước Min cho đến ngày 24.12. Sau đó mực nước trạm Kratie tiến về mực nước trung bình Avg, trong khi mực nước tại Kompong Cham thậm chí còn thấp hơn đường mực nước Min. (Hình 8).
6. Tại các trạm Phnom Penh Port và Phnom Penh trên Bassac
Cách Kompong Cham 78 km sông Mekong chảy đến Phnom Penh và hợp lưu tại đây với sông Tonle Sap từ Biển Hồ. Sông Bassac khởi nguồn từ Phnom Penh tại điểm hợp lưu. Tại Phnom Penh có hai trạm thủy văn Phnom Penh Port (PPP) và Phnom Penh Bassac (PPB). Nửa đầu mùa khô năm nay mực nước tại hai trạm này trùng với đường mực nước Min tại mỗi trạm (Hình 9).
Dap Xayaboury, dong chay Mekong nua dau mua kho 2019-2020
Hình 9. Đường mực nước tại PPP (trái) và PPB (phải) đối chiếu với các năm 2017-2018, 2018-2019 (trên) và 1992-1993, 2003-2004 (dưới).
7. Tại các trạm Neak Luong và Koh Khel
Sau Phnom Penh, trên sông Mekong là trạm Neak Luong, trên sông Bassac là trạm Koh Khel. Đường mực nước được thể hiện trong Hình 10. Đường mực nước năm nay rất thấp, gần như trùng với đường mực nước Min.
Dap Xayaboury, dong chay Mekong nua dau mua kho 2019-2020
Hình 10. Đường mực nước tại Koh Khel (trái) và Neak Luong (phải) đối chiếu với các năm 1992-1993, 2003-2004
8. Tại các trạm Tân Châu và Châu Đốc
Mực nước tại Tân Châu  Châu Đốc cũng rất thấp. Hình 11 còn cho thấy ảnh hưởng của triều Biển Đông tại hai trạm ngày càng sớm hơn, ngay từ đầu mùa khô, và ngày càng mạnh hơn.
Ảnh hướng này cũng được nhận ra năm nay, ở mức độ thấp hơn, tại Neak Lương (Mekong) và Koh Khel (Bassac) và tai hai trạm Phnom Penh. Hình 9 và 10.
Dap Xayaboury, dong chay Mekong nua dau mua kho 2019-2020
Hình 11. Đường mực nước tại Châu Đốc (trái) và Tân Châu (phải) đối chiếu với các năm 1992-1993, 2003-2004
9. Tại trạm Prekdam và Biển Hồ
Đường mực nước tại trạm Prekdam trên sông Tonle Sap năm nay cũng rất thấp, Hình 12 (trái). Hình 12 (phải) là đường dung tích của Biển Hồ, tính từ đường mực nước tại trạm Kompong Luong từ 01.06.2019 đến 27.02.2020 [5].
Dap Xayaboury, dong chay Mekong nua dau mua kho 2019-2020
Hình 12. Đường mực nước tại trạm Prekdam (trái) và đường dung tích Biển Hồ (phải)
Nhận xét
(1) Nhận xét bao trùm là mực nước tại các trạm trên dòng chính sông Mekong trong hạ lưu vực, sông Bassac và sông Tonle Sap rất thấp, rất gần, có nơi còn thấp hơn đường Min. Trừ tại trạm Luang Prabang.
(2) Yếu tố nền trên hạ lưu vực nửa đầu mùa khô năm nay là khô hạn. Yếu tố này dẫn đến lượng nước bổ sung ngang từ các lưu vực khu giữa rộng không đáng kể. Sông Mekong hầu như chỉ chảy truyền. Điều này giúp nhận diện rõ thêm tác động của đập Xayaboury lên hạ du của đập.
(3) Việc cắt giảm lượng nước chảy về hạ du từ đập Jinghong năm nay (khoảng 400 m3/s trong vòng 4 ngày, theo thông báo của phía Trung Quốc) minh chứng một lần nữa sự mẫn cảmsự phụ thuộc cao độ của thủy văn sông Mekong ở hạ lưu vực vào việc vận hành các đập thủy điện ở Trung Quốc.
Sự phụ thuộc này càng nghiêm trọng khi đặt nó trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu (mà sự khan hiếm nước ngọt ngày càng cao được dự báo) và chiến lược “Hưng thủy cường điền” đã và đang được thực thi. Tại tỉnh Vân Nam, ngoài các đập thủy điện, Trung Quốc đã xây dựng hơn 30 hồ nước và hơn 5500 “thủy khố” với dung lượng lưu giữ tăng thêm năm 2017 là 1,22 tỷ m3.
(4) Đập thủy điện Xayaboury đã tạo ra bậc thang nhân tạo đầu tiên trên sông Mekong. Mực nước ở trạm Chiang Khan thấp đi hẵn. Sự khô hạn cho tới thời điểm này trong hạ lưu vực làm rõ ra tác động của đập. Lòng sông phơi đáy, sự đổi màu nước sông Mekong tại Nakhon Phanom có nguyên nhân từ đâu?
(5) Mực nước tại trạm Kompong Luong và dung tích Biển Hồ thấp báo hiệu rằng sự điều tiết nước từ sông Mekong vào Biển Hồ và từ Biển Hồ về đồng bằng sông Cửu Long có thể sẽ có những thay đổi mang tính cấu trúc về khối lượng và thời gian nếu 10 đập thủy điện khác sẽ được xây dựng.
(6) Ảnh hưởng của triều Biển Đông lên khá xa trên sông Mekong và trên sông Bassac. Tại Tân Châu và tại Châu Đốc, ảnh hưởng triều sớm hơn, với biên độ lớn hơn. Nguyên nhân từ đâu? Do hạn hán, mực nước về thấp? Do ảnh hưởng của nước biển dâng? Hay do khai thác cát quá mức gây sạt lở, làm cho mặt cắt các sông rộng hơn, sâu hơn? Có cả ba, nhưng theo tác giả chủ yếu từ lý do thứ ba.
(7) Các yếu tố trong sáu nhận xét trên đây không tác động riêng lẻ mà cùng lúc và liên hoàn với nhau.
Kiến nghị
(A) Cần theo dõi sát sao tác động của đập Xayaboury vừa đi vào hoạt động, cả trong mùa mưa sắp đến. Lũ lụt ở hạ du về mùa mưa là điều có thể dự báo và đã được cảnh báo. Từ tác động của Xayaboury, kiến nghị:
(A1) Đánh giá đầy đủ tác động của các đập thủy điện khác trên dòng chính sông Mekong;
(A2) Xem xét lại hiệu quả của cơ chế tham vấn của MRC.
(B) Mực nước thấp, truyền triều vào sâu hơn, sớm hơn, vượt qua Tân Châu và Châu Đốc, và mặn theo đó xâm nhập sâu hơn, sớm hơn, không chỉ có nguyên nhân biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Còn có tác động từ con người từ thượng nguồn xuống đến châu thổ ra Biển Đông.
(B1) Khai thác nguồn nước sông Mekong không thể chỉ có quyền lợi mà còn có trách nhiệm của các quốc gia trong lưu vực;
(B2) Quản lý và quản trị của Nhà nước phải nghiêm và hiệu quả hơn nữa, nhất là đối với việc khai thác cát, sỏi trên các nhánh sông Mekong, và sông Bassac.
(C) Ngoại giao về nước trong nội khối ASEAN, giữa Cộng đồng ASEAN với Trung Quốc là cấp bách và cần được đặt lên vào chương trình nghị sự của các quốc gia trong lưu vực và các thể chế có liên quan. Nhiều sông quốc tế (nghĩa là chảy qua nhiều quốc gia) đã được các Công ước quốc tế điều chỉnh. Tại sao không xây dựng một công ước như vậy cho sông Mekong, từ Tây Tạng ra đến Biển Đông ?. Khó nhưng không thể không làm [6].
Chú thích:
[1] Các đồ thị trong bài viết được trích xuất từ http://ffw.mrcmekong.org/stations.php
[2] Max, Min và Avg dược MRC tính trên chuỗi số liệu (1980-2018).
[3] Chế độ vận hành của tất cả các đập thủy điện trên thượng lưu vực không được thông báo cho MRC và các quốc gia thành viên. Phia Trung Quốc chỉ thông báo cho MRC những gì và vào lúc họ cho là cần.
[4] Trung Quốc có kế hoạch xây dựng hai đập thủy điện khác gần biên giới hơn nữa là Ganlanba và Mengsong.
[5] Dung tích Biển Hồ được tính từ mực nước sông Tonle Sap tại trạm Kompong Luong (cơ sở dữ liệu MRC) do Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam thực hiện.
[6] Nguyễn Ngọc Trân, Mekong là một con sông quốc tế và không chia cắt, tham luận tại Hội thảo quốc tế “Hợp tác quản lý nguồn nước Tiểu vùng sông Mekong mở rộng”, do Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội và Konrad Adenauer Stiftung đồng tổ chức tại Hà Nội, ngày 16.10.2018.
  • GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân
    Đại biểu Quốc hội khóa IX,X,XI, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội, Chủ nhiệm Chương trình khoa học nhà nước Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long (1983-1990)

GIỮ BỀN VỮNG “VĂN HÓA SÔNG NƯỚC” ĐBSCL


Nguyễn Thị Hậu

1. Trong không gian sông nước miền Tây Nam bộ cảnh quan làng xóm Nam bộ rất độc đáo: phân bố trải dài theo sông rạch, nhà cửa quay mặt ra sông rạch đón gió mát ngày hai lần “nước lớn” do chế độ bán nhật triều. Lối cư trú nhà sàn ven sông, ven kênh rạch thích hợp với vùng ngập nước, khí hậu ẩm thấp và thuận tiện cho giao thông đường thủy.
 Lưu trông theo sông rạch, phương tiện chủ yếu là ghe xuồng xuôi ngược nhờ nước lớn nước ròng. Các bến neo đậu ghe xuồng “chờ con nước”, nơi ngã ba ngã tư các con sông dần hình thành thị tứ, chợ búa. Tính chất cởi mở, giao lưu rộng rãi là đặc điểm xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế – văn hóa Nam bộ qua nhiều giai đoạn lịch sử.  
Thời kỳ khai phá vùng đất Nam bộ lưu dân Ngũ Quảng vào Nam một cách tự phát, họ tập hợp thành từng nhóm một vài gia đình hoặc cử những người khỏe mạnh đi trước đến vùng đất mới, tạo dựng cơ sở rồi đón gia đình vào sau. Phương tiện chính là ghe thuyền bởi lúc bấy giờ việc đi lại giữa các phủ miền Trung với vùng Gia Định chủ yếu bằng đường biển. Cũng có những người chấp nhận mạo hiểm trèo đèo lội suối đi bằng đường bộ, có khi ở lại một địa phương nào đó một thời gian rồi lại tiếp tục tìm đến vùng đất mới Đồng Nai. Số này có lẽ ít hơn bởi đường đi quá gian nan và mất nhiều thời gian.
Tiến trình Nam tiến ngày càng mạnh mẽ và qui mô hơn, nhất là sau khi các chúa Nguyễn thiết lập nền hành chính ở đất Gia Định (1698). Câu ca dao “Nhà Bè nước chảy chia hai, Ai về Gia Định – Đồng Nai thì về” đã cho biết một con đường đi đến vùng đất mới là từ cửa Cần Giờ ngược sông Đồng Nai đến ngã ba Nhà Bè, từ đó dừng chân ở Bến Nghé - Sài Gòn, rồi từ đó theo sông, biển đi về đồng bằng sông Cửu Long, hoặc theo sông Đồng Nai đi sâu vào vùng bán sơn địa miền Đông Nam bộ.
Từ cuối thời Nguyễn ở Nam bộ hình thành các thị tứ. Vị trí của các đô thị Nam bộ thường ở trung tâm của mạng lưới giao thông đường thủy từng khu vực, tận dụng sự thuận tiện của hệ thống sông, kênh rạch, đường biển… và những bến – chợ trước đó để hình thành các bến cảng trong đó có những cảng thị quan trọng như Sài Gòn, Cù Lao Phố, Mỹ Tho, Ba Vát (Bến Tre), Hà Tiên…sau này như Cần Thơ, Long Xuyên, Sa Đéc… Có thể nói tính chất của đô thị Nam bộ là những “đô thị sông nước”, người ta biết đến đô thị ở đây đó là những bến - chợ nổi tiếng với sự phong phú của hàng hóa, sự giao lưu trao đổi buôn bán trù mật, sự đông đúc đa dạng của cư dân.
          2. Nhìn lại lịch sử khai thác đồng bằng sông Cửu Long từ khi lưu dân người Việt vào khẩn hoang lập ấp, đến thời kỳ triều Nguyễn đẩy mạnh di dân, thời Pháp thuộc lập đồn điền tích tụ ruộng đất… Có thể nhận thấy một đặc điểm là toàn vùng chưa bao giờ chỉ độc canh cây lúa dù trồng lúa là kinh tế chính. Dân cư chọn phương thức sống thích ứng với những “tiểu vùng” sinh thái ở đây (mà ở Nam bộ có một từ rất hay là “miệt”): miệt ruộng (tứ giác Long Xuyên), miệt bưng biền (Đồng Tháp Mười), miệt U Minh (rừng ngập mặn, Cà Mau) và miệt vườn (hạ lưu sông Tiền), miệt rẫy (Đông nam bộ). Phương thức kinh tế đa dạng: trồng lúa, trồng các loại cây phù hợp từng tiểu vùng, khai thác thủy hải sản, khai thác tự nhiên...
          Nam bộ có hai mùa mưa nắng, ở miền Tây nước ngọt cho trồng trọt và sinh hoạt chủ yếu nước mưa và từ sông Cửu Long. Trước đây khi diện tích trồng lúa có hạn thì lượng nước ngọt vừa đủ cung cấp cho những cánh đồng trồng lúa, phần khác cho miệt vườn trồng cây ăn trái. Nay dân số và diện tích trồng lúa đều tăng nhiều lần, mùa vụ cũng tăng trong điều kiện nguồn nước đang cạn kiệt, nước mặn xâm lấn, vì vậy phương thức trồng trọt “độc canh cây lúa” nhằm mục đích tăng sản lượng (để xuất khẩu) cần phải được thay đổi ngay.
Với tư duy thực tiễn, linh hoạt, tính cách thực tiễn, dám nghĩ dám làm… người dân Nam bộ có thể “tự cứu”trong những hoàn cảnh ngặt nghèo, nhưng nhiều giải pháp chỉ là trước mắt hoặc mang tính tạm bợ (sự xuất hiện của loại xuồng “(một) năm quăng (bỏ)” hay thực trạng nhà cửa sơ sài như hàng trăm năm qua, kể cả việc xây dựng các “khu dân cư vượt lũ” không gắn liền với môi trường sống của người dân…). Do đó, để Nam bộ có thể phát triển bền vững từ thực tiễn đời sống, cần bắt đầu từ sự thay đổi một quan niệm: không thể coi Nam bộ là vùng đất luôn được thiên nhiên ưu đãi, con người làm chơi ăn thiệt…”, vì hiện nay dân số, mật độ dân số đã tăng lên rất nhiều. Tình trạng này có ảnh hưởng lớn đến tư duy và làm thay đổi lối canh tác nông nghiệp truyền thống ở Nam bộ theo hướng khai thác cạn kiệt tài nguyên đất và nước, từ đó tác động tiêu cực đến hệ sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn vùng đồng bằng sông Cửu Long.
3. Trên đất nước Campuchia ngày nay lối cư trú nhà sàn của người dân vẫn còn được bảo lưu và phổ biến, đặc biệt vùng ven sông, kênh rạch và vùng chịu ảnh hưởng của mùa nước nổi. Đặc trưng là kiểu nhà trên những cây cột nhỏ và sàn khá cao, cách mặt đất đến 3 – 4m, cầu thang gỗ dốc đứng bên ngoài ngôi nhà. Những ngôi nhà sàn xây bằng vật liệu kiên cố như cột bê tông, tường gạch thay thế cho cột gỗ, nhằm đảm bảo sự bền vững đồng thời hạn chế sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất vật liệu bền vững. Với sàn nhà cao, cầu thang xây có thêm “chiếu nghỉ” để giảm độ dốc, ngôi nhà là sự thích nghi một cách “tối ưu” với điều kiện tự nhiên: mùa nắng thì  tránh được hơi nóng hầm hập bốc lên từ mặt đất nứt nẻ, đồng thời đón gió mát cho trên nhà dưới sàn, mùa nước ngập thì nhà luôn cao vượt mặt nước nên không phải “chạy lũ”, lại còn tránh được hơi ẩm, chuột bọ, rắn rít. Dưới sàn nhà vẫn là không gian có thể sinh hoạt và để đồ đạc (ghe xuồng, nông cụ, có khi là bộ ván hay bộ bàn ghế, chiếc võng mắc toòng teng…). Khi cần thiết có thể dng vách là tầng dưới trở thành ngôi nhà một trệt một lầu khá tiện nghi.  Đây là một sự thích nghi từ việc duy trì yếu tố truyền thống trong lối sống.
Gần đây, câu chuyện xuất khẩu lúa gạo của Campuchia cũng không khỏi làm “giật mình” nhiều người Việt Nam. Có những nơi đã cử người sang tìm hiểu cách làm, kinh nghiệm từ giống, phân bón, cách xây dựng thương hiệu… của gạo Campuchia. Nhưng có một điều quan trọng: Campuchia không “tham” tăng vụ và không trồng giống lúa “năng xuất” cao, họ chú trọng quy trình phát triển tự nhiên của cây lúa và chất lượng lúa gạo. Đây chính là kinh nghiệm “thích nghi” và “duy trì” điều kiện tự nhiên qua canh tác.
Giá lúa gạo xuất khẩu của Thái Lan hay Campuchia ngày càng cao hơn vì chất lượng chính là nông nghiệp phát triển bền vững, đồng thời qua đó còn tạo dựng uy tín ngành nông nghiêp, khoa học nông nghiêp nói riêng và trình độ quản lý nhà nước nói chung của hai quốc gia này.
4. Singapore là thành phố của nhà cao tầng với kính màu và bê tông nhưng hầu như không kiến trúc nào giống nhau, rất đa dạng và đẹp mắt. Là một quốc đảo không có nguồn nước ngọt nên phải mua và dẫn từ Malaysia qua, do đó Singapore không chỉ quan tâm đến môi trường trong sạch mà còn phải tiết kiệm nước bằng việc tận dụng nước mưa cho thấm xuống mạch nước ngầm qua hệ thống thu gom nước mưa từ vỉa hè trồng cỏ đến những biên pháp kỹ thuật khác, đồng thời đẩy mạnh kỹ nghệ lọc nước biển cung cấp cho sinh hoạt.
             Những khu nhà hiện đại mới xây dựng từ đầu thế kỷ 21 đến nay hầu hết là nhà cao hai ba mươi tầng, đều có chung đặc điểm: tầng trệt khá cao và để trống làm gare xe cho cả khu nhà, lầu 1 hoặc lầu 2 là không gian công cộng: siêu thị, bể bơi, vườn cây nhỏ, khu cho trẻ em vui chơi… Cấu trúc tiện dụng như vậy nhằm tiết kiệm không gian, đồng thời chuẩn bị thích nghi với sự biến đổi khí hậu: khi có thảm họa nước biển dâng hay sóng thần sẽ giảm thiểu được tác hại cho con người.
            Sự ứng phó với biến đổi khí hậu được triển khai đến từng dự án xây dựng một cách cụ thể như vậy, qua đó người dân có sự hiểu biết và ý thức với tình trạng này trong tương lai không xa. Nhìn những tòa nhà xây dựng vững chãi trên những dãy cột cao có thể thấy kiến trúc này đã tận dụng đặc tính “nhà sàn truyền thống” của Đông Nam Á là thích ứng với sự thách thức của thiên nhiên. Đây là sự thích nghi của quốc gia hiện đại: “Sống chung với lũ” bắt đầu từ ý tưởng “phải thích nghi” và thực hiện bằng biện pháp kỹ thuật hiện đại chứ không phải tư duy đối phó di dờiđến vùng cao.
5. Trong thời đại “toàn cầu hóa”bối cảnh biến đổi khí hậu đã trở thành hiện thực, sự tồn tại của một dòng sông dù lớn như Mekông, chế độ chất lượng nước của các con sông lớn ngày nay không còn là vấn đề chỉ của Nam bộ hay Việt Nam mà là vấn đề của khu vực, thậm chí của thế giới. Nguy cơ sông Mê kong cạn kiệt và đồng bằng Nam bộ biến mất do nước biển dâng sẽ thành hiện thực trong một thời gian không xa.
Địa hình sông nước ở Nam bộ là điều kiện tự nhiên vốn có và đã bền vững qua hàng ngàn năm. Tuy nhiên miền Tây Nam bộ cần được thích ứng với hoàn cảnh mới từ kinh nghim truyền thống và bài học thời hiện đại của các công đồng cư dân và quốc gia có nền “văn hóa sông nước”: Sống tại chỗ, không bi quan, bi thảm hóa những khó khăn, tận dụng điều kiện tư nhiên để có lối sống thích ứng và phương thức sản xuất phù hợp với môi trường tự nhiên, bắt đầu tự sự thay đổi và hiện đại hóa kỹ thuật, công nghệ chứ không thể chống lại tự nhiên một cách duy ý chí. Thiên nhiên, dù bất lợi đến đâu, nếu con người biết thích nghi và tận dụng thì thiên nhiên sẽ trở thành “tài nguyên” có lợi cho cuộc sống con người.
Điều cần thiết và quan trọng nhất hiện nay là tăng cường việc đầu tư lại, đầu tư thêm cho đồng bằng sông Cửu Long về mọi mặt, nhất là cơ sở hạ tầng và an sinh xã hội, đảm bảo “an cư lạc nghiệp” để phục hồi nguồn lực con người. Từ đó mới có thể khai thác một cách tích cực những tiềm năng của vùng và thể hiện sự trân trọng những đóng góp to lớn của miền tây Nam bộ cho cả nước.

 

TRÀ VÀ CÀ PHÊ KẾT NỐI GIA ĐÌNH

  Trong gia đình tôi, nếu nhìn vào thói quen uống nước thôi cũng có thể thấy cả một dòng thời gian lặng lẽ trôi qua. Thời ông bà tôi tr...