Hiển thị các bài đăng có nhãn phỏng vấn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phỏng vấn. Hiển thị tất cả bài đăng

"Lịch sử cần mang ‘khuôn mặt’ con người"

 Nhân dịp 51 năm đất nước liền một dải, cùng trò chuyện với tiến sĩ khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu để trả lời cho câu hỏi: Làm sao để lịch sử có thể hiện diện trong đời sống của người trẻ thay vì chỉ lướt qua như ‘hồi ức mùa vụ’?

Mỗi dịp lễ 30/04, 02/09, những câu chuyện lịch sử thường được nhắc lại dày đặc trên truyền thông, mạng xã hội và trong các sản phẩm văn hóa, với nhiều cách kể và góc nhìn khác nhau. Nhờ đó, lịch sử trở nên sống động và dễ tiếp cận hơn, đặc biệt với người trẻ.

Ở góc nhìn rộng hơn, hiện tượng này cũng xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới. Theo tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu, việc lịch sử được “kích hoạt” mạnh mẽ vào các dịp kỷ niệm là xu hướng phổ biến trong bối cảnh truyền thông, công nghiệp văn hóa phát triển và trở thành cơ hội để công chúng hiểu lịch sử sâu sắc hơn.

Ký ức lịch sử không mất đi nhưng được gợi nhắc và hiện diện rõ nét vào những dịp như vậy. Đây là cơ hội để công chúng nhớ đến các sự kiện, từ đó quan tâm tìm hiểu và sẽ hiểu lịch sử sâu sắc hơn, Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu.

Vì vậy, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để kể lại lịch sử hấp dẫn hơn và là làm sao để nó có thể hiện diện bền vững trong đời sống của công chúng, bám rễ vào từng ngóc ngách xã hội.


Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 1
Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu


Lịch sử cần mang ‘khuôn mặt’ con người


Lịch sử hiếm khi “ở lại” trong ký ức tập thể nếu chỉ tồn tại như chuỗi niên biểu hay những mốc sự kiện được đóng khung trong sách giáo khoa. Các nghiên cứu về ký ức văn hoá cho thấy con người không ghi nhớ quá khứ như một hệ thống dữ kiện mà như một tập hợp những câu chuyện có nhân vật, cảm xúc và xung đột. Nhà xã hội học Maurice Halbwachs từ đầu thế kỷ XX đã chỉ ra rằng ký ức luôn mang tính tập thể và được kiến tạo thông qua những khuôn khổ xã hội (Les cadres sociaux de la mémoire, 1925). Nói cách khác, chúng ta nhớ không phải vì sự kiện đã qua mà vì nó được kể lại theo cách khiến cộng đồng có thể đồng cảm và nhận diện chính mình trong đó.

Lịch sử càng mang gương mặt, câu chuyện cụ thể thì càng hấp dẫn, Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu.

Càng lùi xa những sự kiện lịch sử thì người ta càng có cơ hội nhìn lại sự kiện đó bằng “con tim” chứ không chỉ bằng “khối óc”, tức là nhìn lại nó bằng trải nghiệm cá nhân chứ không bằng cách nhìn của đám đông vào thời điểm đó. Vì thế, lịch sử chỉ thực sự sống khi nó mang gương mặt con người. Đó có thể là sự chia ly với quê hương, với gia đình để “di cư” hay “tập kết” hồi năm 1954, là lá thư người con viết vội trước giờ ra trận. Là hình ảnh người mẹ đứng lặng nơi sân ga khi chuyến tàu chở những người lính dần khuất bóng. Là những lời hẹn chưa kịp thực hiện, là khi tình yêu nhỏ nhường chỗ cho tình yêu lớn hơn. Những điều tưởng như rất nhỏ ấy lại có sức bền hơn cả những bản tường thuật dài dòng về chiến thắng hay thất bại. Bởi vì, chiến tranh không chỉ là những con số lạnh lùng trên giấy mà là những con người cụ thể có cảm xúc có tình yêu, có cuộc sống bình thường như chúng ta hiện nay.


Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 2


Như nhà sử học như E. P. Thompson lập luận rằng chính đời sống thường nhật mới là nơi lịch sử thực sự diễn ra, và việc khôi phục tiếng nói của những cá nhân này không chỉ làm đầy khoảng trống tư liệu mà còn tái cấu trúc cách chúng ta hiểu về quá khứ.


Lịch sử ở ngay cạnh bên


Nhìn theo cách đó, lịch sử gần hơn ta nghĩ. Đó chính là những câu chuyện quen thuộc được kể lại trong các bữa cơm, những tấm hình gia đình trong album hay trong ký ức của ông bà về một thời đã qua. Đó là những con đường, những công trình, di tích mà ta đi qua mỗi ngày.

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng con người thường gắn ký ức với những địa điểm cụ thể. Nhà sử học Pierre Nora gọi đó là những “lieux de mémoire” (không gian ký ức), tức những điểm neo của ký ức tập thể. Thuật ngữ này đề cập đến cả những hình thức hữu hình như tượng đài, bảo tàng, nghĩa trang lẫn những yếu tố vô hình như ký ức, cảm xúc... Không gian ký ức không chỉ là dấu ấn sự kiện quan trọng, mà còn phản ánh trong cuộc sống đời thường con người đã sống và kiến tạo văn hóa như thế nào?

Lịch sử đến từ gia đình của mình, từ chính nơi mình sống, Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu.


Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 3


Mỗi công trình đều là kết quả của nhiều lựa chọn và phản ảnh dấu vết thời gian trong một giai đoạn cụ thể. Vậy, lịch sử nên được tìm hiểu bằng các câu hỏi hơn là đọc câu trả lời có sẵn. Vì sao con đường này có tên này? Điều gì đã diễn ra trong một khu chợ vô danh trước đây? Và lịch sử sẽ trả lời qua những thứ tưởng như lặng lẽ, từ những vết nứt trên bức tường trong xóm, con hẻm uốn lượn, lát gạch nơi chung cư cũ đã nằm đó trăm năm... nếu chúng ta biết đặt câu hỏi cho những gì quá khứ để lại.

Chính vì thế, những thứ ít được nhìn dưới góc độ lịch sử và dễ bị bỏ qua lại chính là nơi lịch sử đã âm thầm tồn tại như một lớp trầm tích của đời sống xã hội. Nó không cần ồn ào để được chú ý cũng không áp đặt để được ghi nhớ mà đi vào nhận thức của công chúng thông qua những chi tiết thân quen. Bởi vì, lịch sử được làm nên từ những con người cụ thể, từ những việc làm bình dị.


Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 4


Khi tiếp cận lịch sử từ những trải nghiệm gần gũi như vậy, ta không còn đứng ngoài để quan sát nó như một đối tượng xa lạ. Ta bắt đầu nhận ra mình đang ở trong chính dòng chảy ấy. Sự kết nối này không đòi hỏi phương thức phức tạp, chỉ cần chúng ta bước chậm lại, quan sát kỹ hơn và lắng nghe những câu chuyện tưởng như đã quá quen thuộc.


Để lịch sử rời khỏi lớp vỏ hàn lâm, khép kín


Tuy nhiên, “kể lại” chưa phải là đích đến. Như tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu từng nhấn mạnh, điều quan trọng không nằm ở hình thức mới mẻ đến đâu mà là ở việc câu chuyện đó có khiến người xem dừng lại để “tự vấn” hay không. Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực sử học chỉ ra rằng việc đặt ra những câu hỏi mang tính truy vấn: Vì sao một sự kiện xảy ra, nó diễn ra trong bối cảnh nào, được nhìn từ những góc độ khác nhau ra sao và có mối liên hệ thế nào với hiện tại... chính là chìa khóa để biến việc “biết” thành “hiểu”. Khi người xem bắt đầu tự hỏi, họ không còn đứng ngoài câu chuyện nữa mà đã bước vào trong đó.

Trong bối cảnh công nghệ khiến mọi thứ trôi qua nhanh như một cú lướt tay, lịch sử nếu chỉ xuất hiện như những thông tin rời rạc, những sự kiện tách khỏi bối cảnh của nó thì rất dễ bị hiểu sai hoặc quên lãng. Có lẽ vì thế, người trẻ không còn tiếp cận lịch sử theo cách cũ, họ thích tiếp cận lịch sử bằng những cách thức linh hoạt hơn, gần với nhịp sống của mình hơn. Một video ngắn vài chục giây, một tập podcast kể lại một lát cắt nhỏ, hay một dự án cá nhân ghi chép về ký ức đô thị… tất cả đều là những cách để lịch sử được nói lại bằng giọng điệu của hiện tại. Khi đi qua những câu chuyện đời thường và góc nhìn cá nhân, lịch sử không còn là điều xa xôi nhưng trở thành thứ có thể chạm vào, có thể hiểu theo cách riêng.

Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 5

Những tác phẩm văn học - nghệ thuật về chiến tranh, thay vì chỉ kể lại một trận đánh, một sự kiện bi tráng theo tuyến tính, nếu đi vào những lựa chọn rất cụ thể, những giằng xé, mất mát và khoảnh khắc lặng im của từng nhân vật, thì ở đó họ không chỉ đại diện cho một tập thể mà hiện lên với trải nghiệm rất riêng. Từ đó, câu chuyện mở ra hàng loạt câu hỏi cho người đọc, người xem, thay vì chấp nhận một góc nhìn duy nhất. Chính những điểm chạm cảm xúc và khoảng trống để suy tư này khiến việc tiếp nhận lịch sử không dừng lại mà trở thành ký ức nhân văn của cộng đồng. Đồng thời lịch sử trở thành một nhận thức mới vượt qua những điều đã biết.

Nếu lịch sử chỉ dùng những phương tiện kỹ thuật mới để kể cho nhanh, xem cho biết, thì cũng sẽ nhanh chóng bị thay thế bởi những nội dung mới hơn cách trình bày hấp dẫn hơn.

Vì vậy, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu cho biết mọi nỗ lực làm mới cách kể lại lịch sử không thể tách rời nền tảng cốt lõi của lịch sử là sự tôn trọng sự thật và học được điều gì từ quá khứ? Những câu chuyện giàu cảm xúc hay góc nhìn cá nhân chỉ thực sự có ý nghĩa khi được xây dựng trên dữ kiện đã được kiểm chứng. Bởi một khi ranh giới giữa sáng tạo và hư cấu bị xóa nhòa thì lịch sử rất dễ bị hiểu sai hoặc bị giản lược theo cảm tính hay định kiến. Vì vậy, vấn đề là tìm được cách thể hiện sao cho vừa tạo ra “cảm xúc lịch sử” chạm đến người xem, vừa giữ được giá trị khoa học vì mang lại nhận thức và bài học hữu ích từ quá khứ.


Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh

Ảnh: Cécile Uyên Phương

THẾ GIỚI MẠNG VÀ ...BÀ "HẬU KHẢO CỔ"

 Lam Hạnh báo Thế Thao & Văn hóa phỏng vấn

1.    Điều gì đã khiến chị viết bài tùy bút Thế giới mạng và tôi? Nhờ chị kể một vài kỷ niệm liên quan khi viết bài này hoặc sau khi nó đã được xuất bản?

Từ trải nghiệm thực tế. Tôi tham gia mạng xã hội từ khá sớm, do nhu cầu tìm hiểu một “không gian” khác mà các con và sinh viên của tôi thường “tụ tập”. Tham gia mạng tôi có nhiều trải nghiệm thú vị, nhất là được gặp gỡ nhiều người quen biết cũng như chưa quen, “chứng kiến” sự có mặt và thái độ của họ ở những sự kiện khác nhau.

Thế giới mạng và tôi là một trong những tuỳ bút được nhiều người đồng cản và chia sẻ nhất. Nhiều sinh viên của tôi đọc bài này và “thì thầm” với nhau: cô H. “tinh tướng” lắm đó nha, viết lách coi chừng!

Khi tập hợp các bài để in thành sách vào năm 2014, biên tập nxb đã chọn tên bài này để làm tựa sách, vì “cuốn sách sẽ được nhiều người quan tâm hơn khi mạng xã hội đang gây ra những tranh luận trái chiều”. Nhờ vậy bài viết cũng được biết đến nhiều hơn.

Một kỷ niệm không vui là Hội sách TPHCM 2014 đã xếp lịch cho tác giả cuốn sách Thế giới mạng và tôi giao lưu với bạn đọc tại Hội sách, nhưng bị hoãn vào phút chót mà không rõ lý do. Kỷ niệm vui là tuy bài viết đã rất lâu nhưng gần đây mới được nhóm biên soạn bộ sách giáo khoa Kết Nối liên hệ để bài in vào sgk cho học sinh phổ thông. Nhân đây tôi xin cảm ơn nhóm biên soạn bộ sách này.

2.    Chị có nghĩ rằng ban biên soạn sách chọn bài này vào sách như một lời khuyên để giới trẻ sử dụng mạng một cách thông minh và hiệu quả hơn?

Chắc người tuyển chọn cũng có ý đó. Tùy bút nêu một cách nhìn về việc các nhân thể hiện trên mạng xã hội như thế nào, nhưng không phán xét, chê trách hay ca ngợi mà ghi nhận một cách khách quan. Qua đó có thể rút ra cách sử dụng mạng xã hội một cách chủ động và khôn khéo hơn, làm sao để có được nhiều năng lượng tích cực hơn. Bởi vì mỗi thành tựu KHKT đều nhằm mang lại lợi ích cho con người nếu biết sử dụng đúng cách đúng mục đích.  Có lẽ đến nay bài viết vẫn có tính “thời sự” nên có sự đồng cảm của nhiều người, và được giới trẻ dễ chấp nhận.

3.    Chị có bao giờ ngừng “chơi” mạng xã hội vài ba ngày đến một tuần và thấy thật ra chúng ảnh hưởng đến mình nhiều hơn mình nghĩ không?

Thường xuyên chứ! Đó là những lúc tôi đi công tác những nơi không vào mạng được, những khoảng thời gian tôi phải tập trung hoàn thành công trình nghiên cứu hay một việc gì đó… Thật ra khi rời xa mạng cái tôi thấy thiếu nhất là thông tin, những thông tin đa dạng, đa chiều buộc mình phải suy nghĩ, chọn lọc, và có khi còn phải tự phản biện, tranh luận. Vì nếu chỉ tiếp nhận thông tin một chiều thì… chán lắm, giống y như phải nghe ... loa phường 😊 ! Tất nhiên cũng thấy thiếu vắng khi không gặp bạn bè trên mạng với những cách thể hiện khác nhau nhưng đều mang lại sự thú vị cho cuộc sống. Tuy nhiên không nên quá phụ thuộc vào mạng xã hội, vì mình còn những công việc khác nữa, cũng tránh “nhiều chuyện” khi có những việc mà mình không biết rõ ràng.

4.    Nhiều người than rằng, họ biết mạng xã hội khiến cho những người ở xa thì gần lại nhưng lại đẩy những người ở gần ra xa nhau nhưng rồi họ lại vẫn tiếp tục để mạng xã hội đẩy họ xa hơn với cha mẹ, con cái, anh chị em, bạn bè... của mình trong những lần gặp mặt. Chị nghĩ gì về điều này?

Đúng là tình trạng này khá phổ biến, nhất là ở các đô thị khi mà hầu như ai cũng có phương tiện vào mạng thuận tiện mọi lúc mọi nơi. Nhưng quan trọng là mối quan hệ thực sự ở ngoài như thế nào: nếu ngoài đời cha mẹ, con cái, người trong gia đình, bạn bè… ít nói chuyện với nhau hay không quan tâm đến nhau, giữa các thế hệ có khoảng cách vì không hiểu nhau… thì mạng xã hội càng làm cho những điều đó nặng nề hơn. Và ngược lại, bạn bè, người trong gia đình thân thiện, các thế hệ gần nhau hơn, thì mạng xã hội có thể giúp cho họ hiểu biết thêm về người thân.

5.    Chị có thể chia sẻ về niềm vui đến với văn chương của chị để cho ra đời những cuốn tùy bút, tản văn, truyện 100 chữ và cả thơ... bên cạnh những công trình về khảo cổ là chuyên môn của chị?

Tôi viết như là thói quen thể hiện suy nghĩ bằng chữ viết trong các công trình khoa học. Cứ mỗi ngày là viết 1,2 trang theo thói quen. Rồi có thêm nhiều bạn bè, nhất là bạn bè trong giới cầm bút (nhà báo, nhà văn) nên càng hay đọc của họ, từ đó cũng gợi ý nhiều chuyện để viết. Còn viết kiểu gì (tản văn, tuỳ bút hay truyện 100 chữ hay “gọi là thơ”…) thì tuỳ lúc đó viết thế nào cho hợp với điều mình nghĩ thôi. Sau này cũng viết nhiều bài báo do yêu cầu của công việc, lại học bạn bè cách viết sao cho phù hợp… Nhưng tôi thích viết truyện 100 chữ vì nó làm cho mình sử dụng ngôn ngữ chính xác và phong phú hơn.

6.    Là một nhà khoa học và một nhà giáo, điều này có lẽ đã giúp chị chuyển tải những điều mình muốn nói một cách giản dị, dễ hiểu và mạch lạc, logic trong những trang văn?

Có lẽ vậy. Cách diễn đạt khoa học có lợi thế là ngắn gọn, rõ ràng, đôi khi khá hàn lâm. Nhưng cách viết đời thường cũng buộc tôi viết giản dị và nhiều cảm xúc hơn chứ không thể khô khan và quá chặt chẽ như bài nghiên cứu khoa học.

7.    Chị đã có nhiều tản văn, tùy bút ngậm ngùi cho những giá trị văn hóa đã bị mất, những di sản bị lãng quên, thậm chí bị xóa bỏ và cả khi môi trường bị tàn phá... Đó có phải là cách chị bày tỏ tình cảm của mình và là cách một trí thức phải lên tiếng bằng một cách khác ngoài khuôn khổ của những buổi hội thảo chuyên môn?

Tôi nghĩ rằng đó là trách nhiệm của mỗi người, nhất là người làm nghề nghiên cứu, giảng dạy, bảo tồn di sản văn hóa. Tôi cố gắng thể hiện bằng nhiều cách khác nhau sao cho phù hợp từng lúc, từng nơi, nhưng không trái với quan điểm mà mình cho là đúng. Đó không chỉ là trách nhiệm mà còn là tình cảm đối với nơi mình từng sống, đang sống, từng qua, những nơi chốn lưu giữ bao giá trị văn hoá của các cộng đồng, của từng con người cụ thể. Viết về cảm xúc ấy gặp được sự đồng cảm của nhiều người, vì trong ai cũng có sẵn những suy nghĩ như vậy. Qua đó sẽ có nhiều tiếng nói và hành xử ủng hộ việc bảo tồn di sản văn hóa hơn.

8.    Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu trong những đợt khai quật và trong những trang văn giống và khác nhau như thế nào?

Có lẽ vẫn là tôi thôi, nghiêm túc làm việc nhưng luôn vui vẻ với mọi người 😊 nơi khai quật hay đi công tác thì phải phù hợp công việc, tôi khá dễ tính, “bụi đời”, làm việc cũng như các đồng nghiệp khác kể cả đồng nghiệp nam. À, có một học trò tình cờ biên tập một cuốn sách của tôi, đã nói em không nhận ra cô trên những trang sách này, kiểu như không nghĩ tôi có thể “sến” như vậy 😊 Còn một anh đồng nghiệp đọc những bài “gọi là thơ” của tôi thì nhận xét: trông cô thế mà nữ tính đàn bà quá nhỉ? 😊

9.    Chị đã về hưu và vẫn làm việc, đi lại liên tục... điều gì khiến chị giữ được năng lượng tốt như vậy?

Tính tôi vốn năng động, lại được rèn luyện qua thời bao cấp vất vả, nên khó mà “ngồi im”. Mặt khác, để có thể làm tốt công việc thì luôn cần có hiểu biết mới, điều đó tôi học được từ nhiều bạn trẻ và từ thực tiễn. Có năng lượng mới cũng từ đó.

10. Chị có đang dự tính sẽ xuất bản tiếp những cuốn tùy bút, tản văn trong thời gian gần không?    

Tuỳ duyên thôi, vì tôi không phải là người viết văn chuyên nghiệp. Những cuốn sách của tôi cũng ra đời từ những cơ duyên chứ hầu như không có kế hoạch gì trước, ngay cả cuốn đầu tiên “Đi và tìm trong đất” in năm 2008. Tất nhiên, sách chuyên môn về khảo cổ học thì khác, được xuất bản từ việc biên tập lại các công trình khoa học với mục đích phổ biến kiến thức cho cộng đồng.





TATLER VIETNAM 4.12.2024

 



KÍNH THƯA QUÝ VỊ,
Tôi xin trân trọng cảm ơn TATLER VIỆT NAM đã tạo điều kiện cho tôi có mặt hôm nay, được gặp gỡ với nhiều người tôi quý trọng vì những cống hiến cho xã hội.
BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA VIỆT NAM là một công việc bình thường nhưng có ý nghĩa to lớn trong thời đại toàn cầu. Giữ gìn và bảo tồn di sản văn hóa là bảo vệ bản sắc riêng để có thể hội nhập với thế giới một cách bình đẳng và tự tin, đóng góp những tinh hoa của quốc gia cho nền văn minh nhân loại, đồng thời cũng hiểu rõ mình đang ở đâu để học tập thế giới.
Nhiều người đã nói về trí tuệ nhân tạo đã và sẽ giúp, làm thay con người nhiều việc, nhưng có một việc không bảo giờ AI có thể thay thế con người, đó là cảm xúc về lịch sử, tình yêu đối với văn hóa dân tộc! Chúng tôi tin rằng các bạn trẻ luôn có những cảm xúc và tình cảm đó trong lòng, vì vậy việc của chúng tôi là cố gắng khơi dậy, thúc đẩy tình cảm ấy trở thành những việc làm hữu ích cho bản thân và cho đất nước.
Tôi hi vọng rằng từ sự kiện này việc bảo tồn di sản văn hóa Việt Nam sẽ nhận sự quan tâm và ủng hộ của quý vị và cộng đồng một cách thiết thực hơn!
Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn TATLER VIỆT NAM. Xin chúc quý vị sức khỏe và thành công!
(note lại vài ý mình chia sẻ tối 4.12.2024)



Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu là chuyên gia trong ngành khảo cổ học tại Việt Nam.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu được biết đến thông qua trang blog Hậu khảo cổ, nơi bà chia sẻ các kiến thức ngành khảo cổ, những chiêm nghiệm trong cuộc sống và truyền cảm hứng nghiên cứu văn hóa cho thế hệ sau. Quan tâm đến lĩnh vực bảo tồn di sản lịch sử - văn hóa Việt Nam nói chung và di sản đô thị Sài Gòn - TPHCM nói riêng, Tiến sĩ đã chia sẻ nhiều bài phản biện, phỏng vấn, công trình nghiên cứu về bảo tồn di sản văn hóa cũng như các thành tựu nghiên cứu khảo cổ học phía Nam cho cộng đồng. Từ đó làm nảy sinh sự quan tâm trong cộng đồng đối với các lĩnh vực trên. 

Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu hiện đang sinh sống và làm việc tại Sài Gòn. Bà hiện đang là Phó Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Tổng Thư ký Hội Sử học TP.HCM và giảng dạy tại trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP.HCM. Bà cũng từng thực hiện nhiều công trình nghiên cứu về nền văn hóa Óc Eo, Sa Huỳnh và khảo cổ học đô thị TP.HCM. Ngoài ra, bà cũng xuất bản nhiều quyển sách về khảo cổ như Đô thị Sài Gòn - TP.HCM: Khảo cổ học và bảo tồn di sản, ​​Khảo cổ học bình dân Nam bộ - Việt Nam,... Bên cạnh chủ đề khảo cổ, bà còn viết về nhiều vấn đề khác dưới góc nhìn của một người nghiên cứu văn hóa, một nhà báo và một nhà văn, tiêu biểu có thể kể đến Thế giới mạng và tôi, Sài Gòn bao giờ cũng thế, Thương những miền qua,...

Thông qua công việc của mình, Tiến sĩ mong muốn có thêm nhiều người ủng hộ và cùng lên tiếng để ngăn chặn những hành vi phá hoại và làm tổn thương di sản văn hóa; bảo vệ di sản từ việc bảo tồn các công trình, bảo vệ ký ức của cộng đồng qua nhiều thế hệ. Bà cho rằng, việc lưu truyền những di sản văn hóa là góp phần bồi đắp tình cảm, trách nhiệm của cộng đồng người Việt trong và ngoài nước đối với Tổ quốc.



Trò chuyện cuối năm

 Theo chiều dài lịch sử và chiều rộng của lãnh thổ, đất nước ta như một “cơ thể sống” mà văn hoá của những tộc người, những vùng miền, qua nhiều giai đoạn lịch sử đã trở thành hệ thống mạch máu nuôi dưỡng nền văn hoá Việt Nam một cách mạnh khoẻ.

Để duy trì sức mạnh văn hoá dân tộc cần thiết phải “giữ gìn và phát huy bản sắc” đa dạng vốn có của các tộc người, các vùng miền, sự phong phú của từng cộng đồng từng cá nhân. Thừa nhận tính đa dạng của văn hoá truyền thống cũng như sự đa dạng của văn hoá thời đại toàn cầu để tiếp nhận thêm nhiều hình mẫu chuẩn mực mới.
Có như vậy văn hoá mới luôn được sáng tạo và phát triển, hành trang mang tới tương lai là những di sản văn hoá thực sự quý giá chứ không chỉ là những mảnh vụn bộn bề của quá khứ.
{bài đang viết] #vunvatdoithuong

Nhân tiện, xin mời các anh chị và các bạn tham gia buổi trò chuyện cuối năm (quét mã QR và đăng ký tham dự theo mẫu để Ban tổ chức sẽ gửi đường link tham gia)


KHU RỪNG VĂN HỌC MIỀN NAM

 ĐINH QUANG ANH THÁI/VOA,

SINH HOẠT VĂN HỌC MIỀN NAM TRƯỚC 1975, GHI CHÉP NHỮNG Ý NGHĨ RỜI
Nhân thời điểm 30 tháng Tư, nhà báo Đinh Quang Anh Thái ghi lại các buổi trò chuyện ông đã thực hiện với một số nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ hiện đang sống tại Việt Nam hay đã ra hải ngoại, để biết ký ức và cảm nhận của họ về cái ngày “làm cho triệu người vui và triệu người buồn” này:
NGUYỄN THỊ HẬU là tiến sĩ khảo cổ học, được nhiều người biết tới với tên "Hậu khảo cổ”. Bà có nhiều công trình nghiên cứu về các nền Văn hóa Óc Eo, Đồng Nai, Sa Huỳnh, khảo cổ học đô thị... Bà cũng xuất bản nhiều cuốn sách ở các thể loại như ký, truyện ngắn, tản văn…Một số tác phẩm tiêu biểu của bà: Thế Giới Mạng Và Tôi, Ngắn & Rất Ngắn, Sài Gòn Bao Giờ Cũng Thế…
Nguyễn Thị Hậu sang Mỹ lần gần đây nhất trước khi thế giới bị cuốn vào trận đại dịch Covid-19 là năm 2019.
Gia đình tập kết từ Nam ra Bắc năm 1954, bốn năm sau, Hậu “khảo cổ” chào đời tại Hà Nội. Lớn lên ngoài Bắc và chỉ nhìn thấy miền Nam sau 1975, nên Nguyễn Thị Hậu có giọng nói “thuần Bắc.”
Nhiều lần gặp, ăn uống, trò chuyện, thậm chí còn đi với nhau cả một đoạn đường xa từ Nam lên Bắc Cali, có cả nữ nghệ sĩ trung hồ cầm Hồng Ánh, họa sĩ Nguyễn Thanh Bình và nhà báo Mặc Lâm, nhiều câu chuyện Hậu “khảo cổ” kể đã để lại cho tôi nhiều ấn tượng về sinh hoạt xã hội miền Bắc. Nhất là những cảm nghĩ của Hậu về văn học miền Nam trước 1975.
***
KHU RỪNG VĂN HỌC MIỀN NAM
“Sau năm 1975, nhiều người lần đầu vào Sài Gòn choáng váng khi nhìn thấy cuộc sống của thành phố này: nhà cửa, xe cộ, quần áo và hàng ngàn loại vật dụng sinh hoạt... mà hầu như gia đình nào ở Sài Gòn cũng có, trong khi đó ở miền Bắc chỉ có thể nhìn thấy vài thứ trên phim ảnh “Liên xô”, thậm chí có thứ chưa từng biết đến như TV, tủ lạnh, đồ dùng trong toilet... Có thể đọc những cảm nhận này qua hồi ký của một số người nổi tiếng mới xuất bản gần đây.
Giữa năm 1975 gia đình tôi – một gia đình miền Nam tập kết ra Bắc năm 1954 – đoàn tụ ở Sài Gòn. Những tháng đầu cả nhà ở tạm trong một căn phòng tại cơ quan của ba tôi (là một biệt thự trên đường Trần Quý Cáp). Trong căn phòng chừng hơn 30m vuông có một tủ sách lớn dựng suốt một bức tường. So với tủ sách đơn sơ của nhà tôi ở Hà Nội được đóng bằng những mảnh gỗ tạp, cũng chứa đầy sách, thì cái tủ sách “vĩ đại” này đã thỏa mãn ước mơ lớn nhất của tôi khi ấy! Tôi bỡ ngỡ và sung sướng làm sao khi trên đó đầy ắp các loại sách truyện, tạp chí... còn phía dưới giá sách là một dàn máy AKAI với một cuốn băng đang nghe dở “Sơn ca 7”. Đây là cơ duyên đầu tiên của tôi với văn học miền Nam và với nhạc Trịnh Công Sơn.
Từ cái tủ sách đó giờ rảnh rỗi tôi chỉ ôm sách đọc ngấu nghiến, đầu tiên là sách văn học. Lâu rồi tôi không nhớ hết tác giả và tác phẩm, nhưng tôi còn nhớ các tác giả Duyên Anh, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thụy Long, Hồ Trường An, Bình Nguyên Lộc, Chu Tử, Hoàng Hải Thủy, Bà Tùng Long, Nguyễn Thị Thụy Vũ... Vài tác giả chuyên sáng tác chuyện miền Tây như Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, An Khê, Lê Xuyên... Những tác giả của Tự Lực Văn Đoàn mà ngoài Bắc chỉ giới thiệu rất ít... Ngoài ra còn nhiều truyện dịch mà ba tôi rất thích; chị tôi mê mải với Quỳnh Dao còn anh tôi thì nghiền Kim Dung...
Từ năm 1976 vào học đại học Văn Khoa tôi còn được bạn bè giới thiệu và cho mượn sách của các tác giả Mai Thảo, Nguyên Sa, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Võ Phiến, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ... lúc này đã bị cấm lưu hành. Rồi khi nhiều thư viện “thanh lý” sách xuất bản tại Sài Gòn trước 1975 ba tôi đã xin được mấy thùng sách về lịch sử của Kim Định, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Đăng Thục, các bộ sử thời Nguyễn... Thế giới văn học của tôi trở nên rộng mở và cũng mang đến cho tôi bao điều mới mẻ, cả những nỗi hoài nghi mà tôi phải mất nhiều năm mới giải đáp được.
Lúc đầu tôi không thích lắm vì phần lớn các đầu sách là loại “tiểu thuyết gia đình” với tựa sách gợi cảm và hình bìa nhiều màu sắc, cốt truyện thường đơn giản, xoay quanh những cuộc tình éo le không lối thoát do thân phận, do cuộc chiến, nhiều tình tiết “lâm ly bi đát” giống tuồng tích cải lương khi ấy. Đọc xong không để lại ấn tượng gì ngoài một kết thúc buồn, hiếm khi nào “có hậu”. Phải chăng sự thật về chiến tranh luôn hiện diện trên báo chí truyền thông làm cho xã hội bất an, cuộc chiến ngấp nghé bên ngoài đô thành đã làm cho con người mất niềm tin vào tương lai?
Nhưng rồi, dần dần một thế giới mới đến với tôi, rất khác với các tác phẩm văn học tôi từng đọc ở miền Bắc. Từ cao sang đến nghèo hèn, từ quan chức tướng lĩnh đến công chức, buôn gánh bán bưng, thế giới của các tay anh chị, tướng cướp hay gái điếm... tất cả đều hiện diện trong văn chương, không loại trừ “kiêng cữ” một ai. Trong nhiều tác phẩm không có ai thật tốt hoặc thật xấu, nhưng ở vào thời điểm khó khăn thì họ đều bộc lộ phần nhân văn ẩn sâu bên trong... Vì vậy, dù kết thúc buồn nhưng vẫn mang lại cho người đọc cảm xúc đẹp về tình người.
Các tác phẩm về cuộc chiến thực sự khốc liệt, trần trụi, ác liệt... hầu như không có bóng dáng của những lời tuyên truyền “lý tưởng cao đẹp” như ngoài Bắc mà chỉ thấy trong mỗi người lính đầy ắp nỗi nhớ gia đình, nhớ quê hương, tình đồng đội... Cũng không thiếu vắng cái chết đau đớn của những người lính, nỗi đau giằng xé của vợ góa con côi, nhưng ước mơ một ngày giản dị bên gia đình, bên “người yêu bé nhỏ” khi đã “tàn cơn binh đao”... là hy vọng sống sót cho những người lính trận. Bởi vì, khi cuộc chiến kết thúc thì người lính lại trở về làm dân, nếu may mắn không “xanh cỏ” thì cũng có mấy ai được “đỏ ngực”.
Để lại nhiều ấn tượng với tôi là các tác phẩm của Duyên Anh như : Dzũng Đakao, Vết thù trên lưng ngựa hoang, Điệu ru nước mắt; của Nhã Ca: Truyện cho những cặp tình nhân, Thành phố buồn, Đêm nghe tiếng đại bác, Giải khăn sô cho Huế. Truyện của Nguyễn Thị Hoàng rất lạ với tôi như: Vòng tay học trò, Tuổi Sài Gòn. Còn Nguyễn Thụy Long hay nhất là Loan mắt nhung. Đặc biệt là Mùa hè đỏ lửa của tác giả Phan Nhật Nam hay bộ ba tập “Đường đi không đến” của nhà văn “chiêu hồi” Xuân Vũ... Tôi đặc biệt thích Bình Nguyên Lộc với các công trình biên khảo công phu của ông và những trang tản văn, tùy bút đẹp đến nao lòng...
Tuy nhiên, cái hấp dẫn tôi nhất chính là mỗi tác giả có phong cách riêng, dễ nhận biết qua chủ đề, cốt truyện và ngôn ngữ. Nhà văn Nam bộ hóm hỉnh, giản dị câu chữ, nhà văn miền Bắc sắc sảo, bóng bẩy, nhà văn và cũng là nhà báo thì sinh động, trực diện... Ngôn ngữ vùng miền, phương ngữ được sử dụng phổ biến. Cả một xã hội phân hóa sâu sắc, phong phú, đa dạng và cũng khắc nghiệt, tàn nhẫn như cuộc sống hiện ra, thôi thúc tôi tò mò tìm đọc và luôn ngạc nhiên mỗi khi bước vào “khu rừng” văn học miền Nam khi ấy.
Đặc biệt sách văn học cho tuổi thanh thiếu niên rất nhiều, có lẽ nổi bật nhất là Tủ sách Tuổi Hoa. Sách Tuổi Hoa chia làm ba loại: Hoa Đỏ, Hoa Xanh và Hoa Tím. Tôi còn nhớ sách Hoa Đỏ là loại trinh thám, phiêu lưu, mạo hiểm. Hoa Xanh thuộc loại tình cảm nhẹ nhàng. Hoa Tím đã xuất hiện tình yêu giữa nam nữ một cách trong sáng. Dấu hiệu thân thuộc của tủ sách là bông hoa tám cánh giản dị và xinh xắn.
Cũng phải nói đến những tiệm cho thuê sách và cửa hàng sách cũ luôn là nơi hấp dẫn với tôi chứ không phải là cửa hàng thời trang hay mỹ phẩm. Tôi còn nhớ hoài có bạn học người Sài Gòn khá kỳ thị tôi bởi cái giọng Hà Nội 75 và trang phục giản dị có phần “hổng giống ai”. Một lần không biết có việc gì bạn đến nhà tôi, nhìn thấy tủ sách bạn rất ngạc nhiên vì bên cạnh những cuốn sách tôi mang vào từ Hà Nội là rất nhiều sách xuất bản tại Sài Gòn. “Nhà Việt Cộng mà cũng có sách như nhà ‘Ngụy’ à?!” nhưng từ đó thái độ của bạn với tôi khác hẳn. Đặc biệt bạn bắt đầu đọc và rồi cũng thích nhiều tác phẩm văn học của miền Bắc.
Văn học miền Nam trước 1975 đa dạng và phong phú về tác giả, thể loại, khuynh hướng, trường phái… Đó là nhờ sự khai phóng của môi trường xã hội nói chung và môi trường sáng tác nói riêng, sự cởi mở của giới cầm bút chấp nhận những thử nghiệm, sáng tạo, tinh thần tự do dân chủ của giáo dục – nhất là giáo dục đại học. Những tác phẩm văn học tôi đọc tuy còn ít ỏi nhưng đủ để nhận biết giá trị nhân văn của một nền văn học, qua đó hiểu biết về xã hội và con người miền Nam trong cuộc chiến vừa qua. Điều đó góp phần giúp tôi thoát khỏi định kiến mặc cảm về “bên này – bên kia, thắng – thua, ta – địch” mà nhiều người cùng thời với tôi còn đang mang nặng trong lòng.”
_________________________
TS Nguyễn Thị Hậu - Uyên Nguyên chụp






CUỘC TRÒ CHUYỆN VỀ MỘT THỜI CHƯA QUA

 @ Được làm vua thua làm giặc: thay thế địa vị của nhau bằng cách “làm lọan”. Vì vậy VUA, GIẶC tuy đối lập về địa vị nhưng có khi tâm thức như nhau: làm giặc lại coi mình như vua, làm vua mà hành xử như giặc.

Đã thế còn muốn “nổi can qua” để con vua con sãi đổi chỗ của nhau. Cứ thế cứ thế…sẽ dẫn đến (những cuộc) CÁCH MẠNG KHỨ HỒI.
(Ghi chép tháng Tư)

CUỘC TRÒ CHUYỆN VỀ MỘT THỜI CHƯA QUA

Cô cháu học ở nước ngoài, cuộc trò chuyện này vào tháng 3 năm 2016 nhân một bài luận cháu viết về chiến tranh VN. Năm nay post lại đây cũng nhân một số sinh viên hỏi tôi những hỏi câu tương tự.
Những câu trả lời của tôi trong bài này về những vết thương thời hậu chiến không khác suy nghĩ trong nhiều bài khác tôi đã viết trên FB, trên báo chí… Các anh chị và các bạn đã không cùng cách nhìn nhận thì không nhất thiết phải đọc và comment ở bài này. Xin cám ơn!

1. Con muốn biết ý kiến của cô trước việc mà học sinh học thuộc lòng môn Sử mà không tìm hiểu rõ vấn đề? Có phải vì học thuộc lòng khiến cho học sinh ghét môn Sử hay vì môn Sử vốn dĩ khô khan nên khó tiếp cận với người học không ạ?

@ Cách dạy - học thuộc lòng có nguồn gốc từ kiểu học thi từ thời xưa nên nhiều môn học ngày nay cũng duy trì lối dạy và học này, nhất là những môn xã hội. Cách học thuộc lòng không có lỗi, vì từ kinh nghiệm cô nhận thấy, nhiều bài văn, bài sử mà hay, hay vì cách viết và cách dạy của thầy cô, thì việc học thuộc lòng hoàn toàn không mang ý nghĩa tiêu cực mà ngược lại còn tích cực, vì ngoài kiến thức nhớ được thì cảm xúc có từ bài học sẽ nuôi dưỡng rất lâu niềm yêu thích môn học. Vì vậy, có thể sách giáo khoa viết không hay nhưng nếu thầy cô biết cách truyền đạt giảng hay thì không cần bắt buộc có lẽ nhiều học sinh vẫn thuộc bài và nhớ lâu.

Tất nhiên nếu thầy cô không “giảng” mà chỉ đọc và bắt học sinh học thuộc lòng thì môn nào cũng chán, ngay cả các công thức toán mà thầy cô giảng không hiểu thì cũng học sinh cũng khó thuộc và không thể áp dụng để giải bài tập.

2. Cô thấy cách dạy Sử ở Việt Nam hiện giờ có điểm gì tốt và chưa tốt ạ? Nếu có điểm chưa tốt cô muốn thay đổi, cải thiện như thế nào để tốt lên ạ?

@ Điểm tích cực: luôn nhắc nhở và nuôi dưỡng lòng yêu nước, chống ngoại xâm. Đây là truyền thống cũng là đặc điểm lớn nhất của lịch sử VN. Điểm hạn chế là ngoài truyền thống chống ngoại xâm thì lịch sử VN chưa thấy rõ các yếu tố văn hóa xã hội, chưa thấy một cách sâu sắc, thật sự những ưu, nhược điểm của con người VN – chủ thể của lịch sử, trong đó có những nhân vật lịch sử và có người dân bình thường.

Muốn khắc phục điều này thì cần đặt/coi lịch sử là một dòng chảy trong truyền thống văn hóa, nhìn lịch sử từ văn hóa sẽ khách quan và toàn diện hơn.

3. Con học ở Mỹ thì người ta dạy rằng cuộc chiến năm 1957 tới 1975 là cuộc chiến giữa hai ý thức hệ (tư bản – cộng sản) bị ảnh hưởng bởi Chiến Tranh Lạnh. Mỹ tham gia để viện trợ giúp đỡ cho miền Nam. Trong khi ở Việt Nam thì cho rằng Mỹ là một nước đế quốc xâm lược miền Nam Việt Nam. Và thật sự trong cuộc chiến thì không phải lúc nào cũng có một bên đúng hoàn toàn và một bên sai hoàn toàn, sẽ có đúng và sai tùy vào mỗi người nhìn nhận. Vậy theo cô mình có nên dạy Sử một cách đa chiều cho học sinh tiếp cận với hai mặt, nhìn nhận cái đúng cái sai của các bên không hay chỉ cần nêu ra cái đã làm tốt của một bên?

@ Nhận định khác nhau do đứng ở những góc độ khác nhau. Nhận định từ phía Mỹ là từ bên ngoài / trên bình diện rộng hơn của thế giới nhìn vào tình hình VN lúc đó. Còn từ VN – cụ thể là từ miền Bắc VN, là nhìn trong nội bộ VN: thực tế Mỹ vào miền Nam, mục đích chiến tranh là để “đuổi Mỹ và thống nhất”. Với cách dạy sử là dạy truyền thống chống ngoại xâm thì chiến tranh với sự có mặt của Mỹ ở miền Nam thì coi đó là sự xâm lược. “Sự thật” được con người nhận thức thế nào, nhận thức ở thời điểm nào thì thành lịch sử như vậy. Do vậy, đến một lúc cũng cần cho học sinh biết những đánh giá khác nhau của các bên về cuộc chiến, tuy nhiên kiến thức lịch sử phải đi cùng kiến thức những môn xã hội khác cùng nội dung. Học sinh có kiến thức rộng, có nhiều cách tiếp cận sẽ tự biết mình đứng ở đâu để nhận thức lịch sử. Quan trọng trong nhận thức lịch sử là “nguyên nhân dẫn đến sự việc hiện tượng đó” chứ không chỉ là đánh giá “đúng/sai” “thành công / thất bại”.

4. Con có đọc bài viết của cô viết về hồi ức đi ra Bắc tập kết và con thấy rất hay và cảm động (Con cũng đọc bài viết của mẹ con – một người Bắc đi di cư vào Nam sinh sống). Đọc cả hai bài thì con thấy rằng cả hai bên đều có những đau khổ trăn trở của riêng mình, nhất là nỗi nhớ quê hương vùng miền mình sinh sống (rất xúc động). Nhưng những sự kiện như: năm 1954 đất nước bị chia cắt ở vĩ tuyến 17 và người dân hai miền có 300 ngày để chọn nơi mình muốn ở; không được nhắc nhiều trong sách giáo khoa môn Sử. Sách giáo khoa môn Sử chỉ nhấn mạnh rằng quân đội miền Bắc đã đánh Mỹ như thế nào. Chỉ nhấn mạnh về các chiến công đạt được. Cô nghĩ sao về việc này? Con thấy người ta cứ nhắc đến việc hòa hợp dân tộc, xóa bỏ hận thù nhưng mà sách giáo khoa thì dạy như vậy thì liệu có đi ngược lại với gì mà ta đang muốn làm (là xóa bỏ thù hận) hay không?

@ Càng lùi xa những sự kiện lịch sử thì người ta càng có cơ hội nhìn lại sự kiện đó bằng “con tim” chứ không chỉ bằng “khối óc”, tức là nhìn lại nó bằng cách nhìn của con người cá nhân chứ không còn là cách nhìn của “cộng đồng”, của đám đông lúc sự kiện xảy ra. Chiến tranh nào thì cũng có bên thắng bên thua, việc nhấn mạnh chiến thắng là nằm trong mục đích dạy sử: truyền thống anh dũng chống ngoại xâm. Như ở trên đã nói, như vậy là chưa đầy đủ và chưa khách quan.

Trong SGK còn nhiều sự kiện sơ sài hoặc thiếu vắng, điều này có thể bổ sung bằng bài giảng của giáo viên, hoặc bây giờ có thể tham khảo nhiều nguồn tài liệu. Không sự kiện lịch sử nào có thể che dấu mãi, chiến tranh, ngoài thắng lợi thì còn rất nhiều đau thương. Đấy mới là tác hại và hậu quả lâu dài của chiến tranh.

Việc hòa hợp hòa giải ở nước ta, theo cô không chỉ vì “người ta” nhắc nhiều về chiến thắng, mà còn là vì sau chiến tranh đã không có thống nhất thực sự ở lòng người do những chính sách và thực tế sai lầm trong thời hậu chiến. Sự mất mát trong chiến tranh có thể qua được nhưng mất mát thời hậu chiến không dễ qua. Sai lầm dẫn đến không/ chưa thể hòa hợp hòa giải chủ yếu là ở chỗ đó.

5. Theo cô nghĩ ý nghĩa của việc học và tìm hiểu môn Sử là gì ạ?

@ Là học làm người: hiểu biết quy luật lịch sử chung và quy luật lịch sử riêng của nước nhà, để độc lập suy nghĩ, nhận thức, từ đó mới trở thành con người tự do. Hiểu biết lịch sử một cách đúng đắn thì không phụ thuộc vào thế hệ trước, thế hệ trước cũng không thể ràng buộc thế hệ sau, như vậy mới có thể tránh những sai lầm của thế hệ trước trong quá khứ và biết tìm/ đi con đường đúng để tới tương lai, biết tự chịu trách nhiệm với chính tương lai của mình.

6. Cô có nghĩ là điều gì xảy ra ở quá khứ thì nên cho qua và tập trung cho hiện tại, những gì chính quyền và nhà nước làm cho dân trong hiện tại và tương lại mới là quan trọng không? Nếu cô nghĩ hiện tại và tương lai là quan trọng thì ta có cần thiết biết các câu chuyện bị che giấu đi trong lịch sử không ạ?

@ Quá khứ luôn tồn tại trong mỗi người, mỗi quốc gia, dù muốn hay không. Cũng không ai có thể chỉ biết hiện tại và tương lai. Như một câu nói “Không ai, không một điều gì bị lãng quên”, nhưng vấn đề là NHỚ như thế nào, kể cả quá khứ tốt hay không tốt. Chỉ nhìn thấy/nhớ đến cái tốt đẹp cũng như cái xấu xa thì đều có hại như nhau. “Cho qua hay không cho qua” tùy thuộc vào nhớ như thế nào.

Lịch sử, dù xấu hay tốt, và cũng chẳng có lịch sử nào lịch sử của ai toàn tốt hay toàn xấu, đều luôn cần được minh bạch, công khai, khách quan đánh giá/ nhận thức lại. Cách nhận thức đánh giá quá khứ thế nào, ta sẽ có ngày hôm nay và tương lai như vậy.

Sài Gòn 19/3/2016

Nguyễn Thị Hậu



CÓ MỘT SÀI GÒN CỞI MỞ, BAO DUNG

Một đô thị năng động về kinh tế, dễ dàng dung nạp người tứ xứ đã trở thành một tính cách văn hóa rất đặc trưng của Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh. Những câu chuyện về Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh 40 năm sau ngày đất nước thống nhất được Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu (Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP Hồ Chí Minh) chia sẻ trong cuộc trò chuyện với Thời Nay.
@ Thưa bà, từ góc độ của một nhà nghiên cứu, bà đánh giá như thế nào về sự thay đổi của Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh sau 40 năm đất nước thống nhất?
- Nhìn một cách cảm quan, thành phố có những sự thay đổi đáng kể. TP Hồ Chí Minh là một trong những thành phố có tốc độ hiện đại hóa nhanh nhất, từ cơ sở vật chất, hạ tầng, điều kiện sinh hoạt, và điều đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng tích cực đến đời sống dân cư.
Theo quy luật, sự phân hóa của đô thị bao giờ cũng giãn về hai cực, một tầng lớp rất giàu và một tầng lớp rơi vào bậc thang cuối. Qua những điều tra về xã hội học của các nhà quản lý cũng như các viện nghiên cứu thì rõ ràng sự giãn cách về thu nhập giữa tầng lớp cao nhất và thấp nhất ngày một gần lại. Nguyên nhân là TP có sự chăm lo cho các vấn đề an sinh xã hội như là nhà ở, trường học, bệnh viện…cho tầng lớp trung bình trở xuống. Những khu nhà lá hay xóm ổ chuột giữa trung tâm quận 1, quận 3 xưa kia, xóm nước đen trên kênh rạch, vùng ngoại thành bây giờ đã được cải thiện.
Việc cải tạo hai hệ thống kênh lớn là Nhiêu Lộc – Thị Nghè và Tân Hóa – Lò Gốm, cải tạo sông Bến Nghé - song song với đại lộ Võ Văn Kiệt - là một thành tựu rất lớn. Điều đó thay đổi môi trường sống cho hàng triệu cư dân sống ven kênh rạch, làm cho TP Hồ Chí Minh trở lại một đặc điểm văn hóa cực kỳ quan trọng là văn hóa sông nước. Tất nhiên, sông nước bây giờ mang yếu tố hiện đại theo kiểu một thành phố có sông như các đô thị rất đẹp trên thế giới. Môi trường văn hóa sông nước này là nơi để người ta giải trí và hưởng thụ chứ không còn là văn hóa sông nước theo tính chất giao thông.
Trong 40 năm qua, bên cạnh chính sách của nhà nước thì không thể phủ nhận vai trò cực kỳ năng động của người Sài Gòn. Họ rất ít tuyên ngôn, rất chịu khó mày mò, cho nên trong bất cứ hoàn cảnh nào, người Sài Gòn cũng tìm thấy con đường thoát.
@ Nói đến người Sài Gòn rất năng động trong làm ăn kinh tế, nhưng cũng không thể không nói đến tính dung nạp, bao dung của thành phố này đối với những người đến từ mọi vùng miền?
- Đặc điểm làm nên sự khác biệt của Sài Gòn so với những đô thị lớn là tính dung nạp. Không chỉ Sài Gòn mà các đô thị ở vùng Nam Bộ đều có đặc tính đó, mở lòng và đón nhận người nhập cư. Điều này xuất phát từ đặc điểm lịch sử của vùng đất này. Những cư dân đầu tiên đến đây là lưu dân Ngũ Quãng mà nguồn gốc phần lớn từ Thanh Nghệ Tĩnh theo vua Lê, chúa Nguyễn đi về phương Nam. Nhiều người với nhiều gốc gác khác nhau vào đây tìm đường sống. Họ không có cách nào khác là phải đùm bọc lẫn nhau, phải ứng xử tử tế với người cũ. Nếu họ tạo ra chiến tranh để tranh giành đất đai thì không bao giờ tồn tại lâu dài và bình yên đến nay.
Với tư cách là một đô thị kinh tế, TP Hồ Chí Minh cởi mở, dễ chấp nhận vì đó là điều kiện sống còn để phát triển. Nó khác với những trung tâm chính trị khác, lúc nào cũng phải bảo thủ một chút. Người Sài Gòn ít khi kỳ thị những cái khác mình. Tất cả những cái mới vào đây đều được đón nhận và tự do phát triển một cách công bằng. Ở Sài Gòn, ta có thể ăn những món ăn của nhiều vùng miền, từ cao cấp đến bình dân. Ngôn ngữ cũng rất đa dạng và không nhất thiết là phải nói giọng Sài Gòn. Một nguyên nhân nữa là vùng đất này được tiếp xúc với những giá trị dân chủ từ sớm. Mặt khác, cơ tầng văn hóa chưa sâu để có thể “đồng hóa” những người đến sau và Sài Gòn cũng không đặt ra nhiệm vụ phải “đồng hóa” những văn hóa khác.
Người Sài Gòn mua vé số nhiều khi để giúp những người khó khăn hơn chứ không hẳn là mua cái lợi cho mình. Những quán cơm 2000, trà đá miễn phí dọc vỉa hè cũng là những nghĩa cử như thế. Cô bán vé số, anh xe ôm dừng lại uống nước cũng rất chừng mực, biết để dành cho người đến sau chứ không đổ bừa bãi, tràn lan. Những người bình thường, chứ chưa cần giàu, cũng có thể giúp đỡ người khác bằng việc làm nho nhỏ, giản dị. Nếu mất đi những đặc điểm này thì rất đáng tiếc, bởi vì có thể coi đó là một di sản văn hóa về tính cách con người, một tính cách văn hóa rất Nam Bộ.
@ Tuy nhiên, bên cạnh một đô thị năng động, hiện đại và cởi mở, theo bà, TP Hồ Chí Minh còn giữ được những đặc điểm nhận dạng văn hóa nào sau 40 năm phát triển?
- Cá tính văn hóa sẽ còn di truyền. Tuy nhiên, nếu xã hội không loại bỏ được những yếu tố tiêu cực thì nó sẽ biến mất vì không có môi trường để tồn tại. Hiện nay, chúng ta không có một không gian văn hóa của một “Sài Gòn xưa” nào. Chỉ có các công trình văn hóa nằm rải rác chỗ nọ, chỗ kia. Đường Đồng Khởi là con đường đầu tiên của đô thị Sài Gòn với cảnh quan cây xanh, vỉa hè, biệt thự, khách sạn... Giờ đây, nó đã không còn giữ được cảnh quan ấy nữa vì hàng chục tòa nhà cao tầng đã mọc lên.
Tuy nhiên, nhiều bạn trẻ ngày nay đã thực sự hiểu biết trong việc bảo vệ di sản của mình. Chính quyền thành phố cũng đã có sự ghi nhận những phản ánh của cộng đồng thông qua điều chỉnh việc bảo tồn Bưu điện Thành phố, Thương xá Tax, việc chặt cây ở đường Tôn Đức Thắng. Cây cầu ở con đường này vẫn sẽ được xây, nhưng trên cơ sở tính toán sao cho bảo tồn được hàng cây trăm năm của thành phố.
@ Nếu nghĩ về Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh trong khoảng 10-20 năm nữa, bà có mong ước gì?
- Tôi nghĩ, một thành phố dù hiện đại đến đâu cũng không nên đánh mất ký ức của nó. Do đó, tôi mong chúng ta giữ được những gì đang có, đừng để nó biến dạng. Chúng ta cũng sẽ phải giải bài toàn về mặt bảo tồn, không chỉ bảo tồn các di sản văn hóa mà còn bảo tồn lối sống dân cư đô thị. Bản sắc văn hóa là điều rất khó giữ nếu chúng ta không giữ được sự ổn định cộng đồng dân cư ở vùng lõi thành phố. TP Hồ Chí Minh nên cố gắng giữ lại những tính cách văn hóa trước đó, song song với việc nâng cao ý thức của thị dân để họ chủ động trong việc điều chỉnh lối sống, cư xử cho phù hợp với thành phố “văn minh, hiện đại, nghĩa tình”…

Hà Hương thực hiện. (Bài trên Thời Nay 4.2015, repost)
Hình ảnh: bờ sông SG và hàng rào chung cư đất tiền và biệt thự cao cấp án ngữ. Cảnh quan bờ sông có còn là của người Sài Gòn?
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm x

TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...