Hiển thị các bài đăng có nhãn thống nhứt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thống nhứt. Hiển thị tất cả bài đăng

ĐÍCH ĐẾN CỦA HÀNH TRÌNH HOÀ BÌNH - THỐNG NHẤT

 https://congan.com.vn/tin-chinh/dich-den-cua-hanh-trinh-hoa-binh-thong-nhat_177423.html

Nguyễn Thị Hậu

 

Mỗi năm, vào những ngày tháng Tư ký ức của nhiều người lại một lần nữa quay về thời điểm 30.4.1975, không chỉ vậy, nghĩ suy còn dẫn chúng ta đi cùng những tháng năm sau đó đến hiện tại. Năm mươi năm đã qua, tuy ngắn ngủi so với lịch sử đất nước nhưng là gần cả một đời người. Là một trong số nhiều người được sống cả trong thời chiến và hòa bình, tôi cảm thấy mình thật may mắn khi được trải nghiệm những thời khắc quan trọng trong hành trình 50 năm đặc biệt của đất nước. Càng may mắn hơn vì tôi được sống tại Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh, đích đến để kết thúc chiến tranh và khởi đầu của hòa bình – thống nhất.

***

Giai đoạn nửa sau thế kỷ XX trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, mặc dù Sài Gòn là nơi chịu tác động gay gắt nhiều mặt của chiến tranh và chế độ cai trị thực dân cũ và mới, nhưng với truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam, cuộc đấu tranh dưới mọi hình thức của nhân dân Sài Gòn – Gia Định không ngừng nghỉ, không gián đoạn, luôn gắn bó chặt chẽ với phong trào cách mạng cả nước. Ngay sau ngày 30.4.1975 tại thành phố Sài Gòn một Ủy ban Quân quản được thành lập để tiếp quản công việc quản lý, giữ an ninh trật tự cho thành phố. Ủy ban quân quản cũng quyết định hợp nhất Đô thành Sài Gòn và tỉnh Gia Định thành Thành phố Sài Gòn – Gia Định. Đầu năm 1976, Ủy ban Nhân dân thành phố bắt đầu hoạt động. Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất quyết định đổi tên thành phố "Sài Gòn – Gia Định" thành "Thành phố Hồ Chí Minh".

Sau những ngày hòa bình sôi nổi đầu tiên, thành phố đối mặt với quá nhiều khó khăn. Giờ đây bình tĩnh nhìn lại có thể nhận thấy không ít khó khăn đến từ chính chúng ta, do lần đầu tiên chưa và chưa từng có kinh nghiệm quản lý điều hành một thành phố vào loại lớn và phức tạp nhất của Đông Nam Á.

Từ năm 1975 cho đến năm 1990, thành phố có chủ trương giảm áp lực dân số đô thị bằng cách đưa hàng triệu người về nông thôn sản xuất nông nghiệp và đi kinh tế mới. Thêm vào đó, những đợt “cải tạo tư sản”, “nạn kiều” cùng với tình trạng ồ ạt vượt biên ra nước ngoài khiến cho dân số thành phố giảm đi đáng kể. Tình hình kinh tế - xã hội của thành phố cực kỳ khó khăn khi các ngành sản xuất – dịch vụ của thành phố trì trệ và hiện tượng “ngăn sông cấm chợ” gay gắt giữa các địa phương.

Sau khi chính sách “Mở cửa” được tiến hành, cùng với sự “cởi trói” về kinh tế, Việt Nam chú trọng đến phát triển đô thị. Từ đó, làn sóng đô thị hóa diễn ra trên cả nước với tốc độ có khác nhau tùy từng địa phương, trong đó TP. Hồ Chí Minh được xem là đô thị có sức bật đáng kể nhất. Trải qua một thời kỳ khó khăn từ năm 1975 đến cuối thập niên 1980, từ 1990 nhờ sự năng động và những cơ chế chính sách hợp lý, TP. Hồ Chí Minh phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội, tiến trình đô thị hóa tiếp tục đẩy mạnh theo đà tăng trưởng của kinh tế. Từ năm 2000 TP. Hồ Chí Minh đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa, mức độ đô thị hóa cao nhất nước, kéo theo sự thay đổi nhanh trong việc chuyển dịch cơ cấu, trong việc nâng cao tổng sản phẩm quốc nội. Sự tiến bộ ấy thể hiện bằng những thay đổi trong không gian đô thị qua hệ thống giao thông, không gian cư trú, các công trình kiến trúc hiện đại. 

Hiện nay Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất ở Việt Nam về dân số và quy mô đô thị hóa. Đây còn là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo dục tại Việt Nam. Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố trực thuộc trung ương thuộc loại đô thị đặc biệt của Việt Nam cùng với thủ đô Hà Nội.

***

Truyền thống của một vùng đất, một cộng đồng là những gì được lắng đọng và lưu truyền qua quá trình lịch sử dài lâu, hình thành từ sự thích ứng với thiên nhiên và tính cách văn hóa của cộng đồng. Truyền thống mang tính bền vững, thường được bổ sung qua từng giai đoạn, trở thành “sợi chỉ đỏ xuyên” suốt từ quá khứ đến hiện tại và tương lai của cộng đồng, vùng đất đó.

Từ thế kỷ 18 khi Sài Gòn hình thành một đô thị là trung tâm của Đàng Trong thời Chúa Nguyễn, đây đã là nơi dân tứ xứ thường xuyên đổ về. “Gia Định là cõi Nam nước Việt, lúc mới khai thác, lưu dân nước ta cùng người Đường (...), người Tây dương (...) Cao Miên, Đồ Bà (...) đến ngụ cư đông đúc xen lẫn, mà người các nước ấy thì y phục đồ dùng đều theo kiểu của dân tộc họ” (sách Gia Định thành thông chí). Những giai đoạn về sau cũng vậy, không chỉ là nơi tiếp nhận các cộng đồng dân cư khác nhau mà Sài Gòn còn tiếp nhận những cách thức làm ăn, những nghề nghiệp hay phương thức kinh tế mới đi cùng các cộng đồng đó. Sự giao lưu với các nền văn hóa – trong đó có các yếu tố khoa học kỹ thuật mới – giúp Sài Gòn phát triển nhanh chóng so với khu vực.

Là một trung tâm kinh tế lớn, “đất làm ăn” của nhiều cộng đồng dân cư, nơi tiếp cận và tiếp nhân những ngành nghề, phương thức kinh doanh mới, vì vậy trong hoạt động kinh tế ở Sài Gòn tính thực tiễn được đặt lên hàng đầu, cùng với sự rạch ròi, linh hoạt và quyết liệt vượt ra khỏi những ràng buộc, gò bó của khuôn mẫu cũ, nhạy bén với những mầm mống tốt đẹp, năng động sáng tạo tiếp thu khoa học kỹ thuật mới... Tất cả hướng đến hiệu quả thực sự của “công chuyện làm ăn”, không lý thuyết suông, không giáo điều. Đồng thời, sự liên kết hỗ trợ nhau “buôn có bạn, bán có phường”, đảm bảo chữ Tín trong làm ăn cũng là một truyền thống của mối quan hệ kinh tế Sài Gòn.

Người miền Nam nói chung, người Sài Gòn nói riêng luôn học hỏi những cái hay, cái tiến bộ, sớm tiếp nhận nhiều yếu tố văn hóa – kỹ thuật của thế giới, đồng thời phân biệt rõ ràng bạn thù để mở rộng nhân sinh quan, thế giới quan. Cho đến nay, TP Hồ Chí Minh luôn đi đầu trong việc tháo gỡ khó khăn, gạt bỏ những cản trở lỗi thời của tư duy và lối làm ăn bao cấp lạc hậu, thực hiện những biện pháp, phương thức kinh tế mới. Từ đó góp phần quan trọng về thực tiễn và tạo ra tiền đề lý luận cho công cuộc đổi mới của đất nước. Tính cách, lối sống năng động, sáng tạo của người Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh được coi là tiêu biểu cho người Nam bộ.

***

“Lịch sử của thành phố tự nó đã giới thiệu quá trình luôn luôn chọn cái mới, luôn đổi mới. Lịch sử của thành phố đồng thời tự nó đã giới thiệu con người Thành phố là tập thể cách mạng không mệt mỏi, không khoan nhượng trước những gì trì trệ”. (Trần Bạch Đằng). Đặc trưng “quy tụ - lan tỏa” trong lịch sử phát triển của đô thị Sài Gòn được TP. Hồ Chí Minh hôm nay tiếp nối, phát triển mạnh mẽ nhưng không đánh mất bản sắc là một thành phố năng động, đổi mới, nghĩa tình.

Từ thời điểm 11g30 ngày 30 tháng Tư 1975, Sài Gòn là nơi kết thúc chiến tranh thì TP Hồ Chí Minh hôm nay phải là nơi thể hiện thành quả 50 năm hoà bình – thống nhất tiêu biểu nhất. Thành phố đã bảo toàn được khá nguyên vẹn sau những tháng ngày chiến tranh ác liệt cuối cùng, để giờ đây chúng ta có những di sản văn hoá độc đáo. Và sau năm mươi năm, di sản tinh thần quý giá nhất là thành phố cần bảo tồn và phát huy, chính là sự đồng lòng đồng tâm của người dân thành phố, người dân Việt Nam ở trong và ngoài nước, bắt đầu từ đoàn kết và hoà giải – hoà hợp dân tộc. Đó chính là tiềm năng, sức mạnh, là điểm tựa vững chắc để Thành phố Hồ Chí Minh cùng cả nước phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên hoà bình – thống nhất!

TP. Hồ Chí Minh tháng 4.2025

 




THỐNG NHỨT LÀ GÌ HẢ MÁ?

 https://nguoidothi.net.vn/thong-nhut-la-gi-ha-ma-48012.html

Nguyễn thị Hậu

Từ hồi nhỏ xíu tôi luôn được nghe hai từ “thống nhứt”: bao giờ thống nhứt, đến khi thống nhứt, thống nhứt mình dìa quê... Đó là những câu nói mà suốt hai mươi năm trên đất Bắc, ba má tôi thường nói với các con, với bạn bè đồng nghiệp – những cô chú anh chị Nam bộ tập kết như ba má tôi. Những lúc đó tôi hay hỏi má: má ơi thống nhứt là gì hả má? Má tôi trả lời, giọng nghẹn ngào: thống nhứt là khi mình được về quê con ạ!

Từ đó, thống nhứt với tôi là một tương lai khó hình dung nhưng luôn gần gũi thân thuộc, bởi đó là niềm tin mãnh liệt, là tình cảm cháy bỏng được nuôi dưỡng mỗi ngày, là một tia hy vọng có lúc tưởng đã tắt khi chiến tranh ngày càng ác liệt...

Sau ngày 30.4.1975, thấu hiểu sâu sắc hơn giá trị của hai từ “thống nhứt” có lẽ là những người lính chiến đấu trên chiến trường xa lạ, là những người “tập kết” hay “di cư”. Bởi khi hòa bình lập lại, được trở về quê hương hay không thì trong họ cũng nguôi bớt nỗi đau vì sự chia cắt đất nước, chia lìa quê hương. Mà trên đất nước Việt Nam nỗi đau này đâu chỉ tồn tại hai mươi năm mà còn là di chứng của hai trăm “đàng ngoài đàng trong”, là một trăm năm “ba kỳ bắc trung nam”...

---

Tháng ba năm nay, tôi có vài ngày trở lại Quảng Trị - mảnh đất “tiền tiêu” của cả hai bên trong cuộc chiến tranh ác liệt nhất trên đất nước ta. Những địa danh đã đi vào lịch sử đất nước, trở thành ký ức của nhiều người nhiều gia đình dù có thể chưa hề đến đây: Vĩ tuyến 17, sông Bến Hải, cầu Hiền Lương, sông Thạch Hãn, Thành cổ Quảng Trị, Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn... và nhiều địa danh nhắc nhở những trận chiến ác liệt: Đông Hà, Cam Lộ, Dốc Miếu, Cồn Tiên, Nam Lào, Tà Cơn, Làng Vây...

Với gia đình tôi, những địa danh này càng có ý nghĩa sâu sắc. Từ nhỏ tôi thường được nghe bài hát “Câu hò bên bờ Hiền Lương” của Hoàng Hiệp và Đằng Giao - hai nhạc sĩ Nam bộ tập kết, cũng là những người đồng nghiệp thân thiết của ba tôi. Rồi lớn hơn, má tôi thường nói tôi hát “Ai đã tới miền quê em Quảng Trị Thừa Thiên, qua đường 9 tình Gio Linh lắng trong giọng hò...”*, những địa danh má tôi luôn tìm hỏi thông tin vì là nơi anh tôi đóng quân, nơi ba tôi thường đưa các đoàn văn công đi phục vụ chiến trường.

Những năm 1968 – 1975, anh Hai tôi là bộ đội thuộc một binh xưởng ở miền Tây Quảng Bình, sửa chữa xe và binh khí cho toàn tuyến đường Trường Sơn huyền thoại. Cung đường anh thường xuyên đi lại là Quảng Bình - Quảng Trị, có khi vào đến Bắc Tây Nguyên. Năm 1971 đơn vị anh phục vụ chiến dịch Đường 9 Nam Lào, thời gian này ba tôi cũng đưa Đoàn Kịch nói Nam bộ đi chiến trường. Một lần trên đường hành quân trong đêm tối mịt mùng và những đoàn xe đi ào ào, anh Hai và ba tôi tình cờ gặp nhau... Hai chiếc xe đi ngược chiều vậy mà linh cảm thế nào hai cha con nhận ra nhau, chỉ kịp gọi: Ba ơi – con Bửu... rồi hai chiếc xe vẫn đi tiếp. Sau chuyến đi đó, thủ trưởng mặt trận biết chuyện đã bố trí cho ba tôi đến binh trạm thăm anh Hai được một ngày.

Quảng Trị là nơi có Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn. Từ nhiều năm nay hơn 10.000 ngôi mộ liệt sĩ được quy tập về đây, hơn mười ngàn chàng trai tuổi đôi mươi, quê từ 63 tỉnh thành đang quây quần tại đây… Chúng tôi chỉ đến được vài khu vực trong số hàng chục ngàn nơi yên nghỉ của những chàng trai Hà Nội, Hà Bắc, Hà Tây, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, của vài tỉnh miền Nam, miền Trung… thắp vội vài nén nhang, lòng cầu mong các anh thông cảm vì không thể đến với từng người…

Lướt qua những dòng bia mộ, có anh nhập ngũ được vài năm, có anh nhập ngũ mới vài tháng, nhiều anh còn chưa tìm thấy tên tuổi… Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn giờ đã khang trang hơn xưa, nhưng vẫn nắng Quảng Trị, vẫn gió miền Trung, vẫn xào xạc lá rừng Trường Sơn, vẫn những tên tuổi năm tháng ấy, thời gian ở đây như ngập ngừng không muốn trôi qua để giữ mãi tuổi thanh xuân của những người đã yên bình nơi đây…

Rời Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, chúng tôi dừng lại ở cầu Thạch Hãn, rồi đến Thành cổ Quảng Trị “81 ngày đêm đỏ lửa, đỏ máu”. Nắng hôm nay có dội lửa như những ngày năm ấy? Gió hôm nay có thiêu đốt như những ngày năm ấy? Con sông Thạch Hãn hiền hòa hôm nay đã từng quặn dòng trong những ngày năm ấy…

Những năm chiến tranh, má tôi cũng như bao bà mẹ khác, luôn thấp thỏm mong chờ tin tức của chồng con. Ngày hòa bình má tôi may mắn khi chồng con trở về bình yên, nhưng có biết bao người vợ, người mẹ không được đón chồng con trở về? Trên đất nước này còn biết bao nghĩa trang của bên này bên kia chưa được xây dựng đàng hoàng khói nhang ấm áp? Trên đất nước này còn biết bao người chưa bình yên khi nắm xương của người thân chưa được tìm thấy, nấm mồ người nhà còn chưa được chăm nom? Dứt ruột sinh ra con nào không là con của mẹ, bên này, bên kia… như hai bờ của dòng sông quê nhà, lỡ chia đôi nhưng một chuyến đò ngang cũng đủ nối liền. Cầu Hiền Lương đã liền một nhịp, 50 năm rồi vết cắt nơi vĩ tuyến 17 đã lành chưa...

Nỗi đau và mất mát của chiến tranh và sau cuộc chiến không từ một ai, trong gia đình tôi cũng vậy. Nhưng người trong một nhà, bên này hay bên kia không bao giờ nói đến hai chữ “thắng thua”, không màng hai chữ "được, mất". Để làm gì khi còn đó nguyên vẹn một quê hương, bà con nghĩa tình Bắc – Nam còn đó... Bao năm rồi tôi luôn mong những ngày này tại các nghĩa trang trên cả nước vang lên tiếng chuông cầu nguyện cho tất cả những người đã mất trong cuộc chiến. Một lần và mãi mãi, để quê hương thực sự hòa bình, thực sự hòa hợp, thực sự thấu hiểu và yêu thương...

--- 

Điểm cuối chuyến đi của chúng tôi là cố đô Huế. Một lần nữa viếng thăm Đại Nội. Trước sân Thế Miếu vẫn là hàng 9 Cửu Đỉnh được đúc thời vua Minh Mạng. Vào tháng 10 âm lịch năm Ất Mùi (1835), nhà vua ban chỉ dụ ra lệnh cho Nội các cùng bộ Công đôn đốc công việc đúc Cửu Đỉnh. Buổi đại lễ khánh thành diễn ra vào ngày 1 tháng 3 năm 1837 để đặt Cửu đỉnh ở sân Thế Miếu dưới sự chủ trì của vua Minh Mạng.

Nhiều công trình nghiên cứu đã nói về ý nghĩa của Cửu Đỉnh: như một biểu tượng quyền lực hoàng gia, sự vững chắc, trường tồn tại của triều Nguyễn, là đỉnh cao của kỹ thuật và nghệ thuật kỹ thuật đúc đồng phường Đúc kinh đô Huế. Cửu Đỉnh là tác phẩm đúc đồng lớn nhất và thể hiện trọn vẹn tinh thần Đại Nam thế kỷ 19.

Nhưng ý nghĩa quan trọng nhất của Cửu đỉnh, theo tôi đó là một công trình “tượng đài thống nhất” lãnh thổ nước Việt Nam từ Lạng Sơn đến Cà Mau, sau hơn hai trăm năm chia cắt đàng ngoài đàng trong và công cuộc mở đất về phương Nam.

Trên mỗi đỉnh đều là những hình ảnh đúc nổi về những cảnh vật, núi sông, rừng biển, động vật, cây cỏ tiêu biểu của “non sông gấm vóc” toàn cõi Việt Nam, những vùng miền từ núi cao đến biển sâu, từ đồng bằng sông Hồng đến đồng bằng Cửu Long. Những hình ảnh của Cửu đỉnh là sự đa dạng, phong phú, giàu có của thiên nhiên và văn hóa đất nước. Tính đến năm đúc Cửu đỉnh thì chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm, một đất nước thống nhất hiển hiện rõ ràng từ thiên nhiên và từ văn hóa, bắt đầu từ tầm nhìn của một vị vua!

Cửu Đỉnh không chỉ là một công trình mang ý nghĩa chính trị - đánh dấu một giai đoạn lịch sử mới. Cửu đỉnh còn là công trình văn hóa tiêu biểu nhất của đất nước. Những hình ảnh của Cửu đỉnh truyền tải giá trị, tinh thần và bản sắc văn hóa của quốc gia Việt Nam – Đại Nam. Một tượng đài thống nhất – hòa bình sau những năm dài chiến tranh chia cắt mà không hề có hình ảnh chiến tranh, đó là nhờ sự thấu hiểu hòa bình thống nhất là mục đích duy nhất và cuối cùng của mọi cuộc chiến tranh! Công trình văn hóa này đại diện thời đại mới của đất nước, cho sự trường tồn của đất nước, mang giá trị nhân văn của cộng đồng và nhân loại.

---

Thống nhứt là gì hả má? 50 năm qua câu hỏi này vẫn còn đó trong tôi! “Giang sơn thu về một mối” chỉ là bước khởi đầu, bởi vì “suy cho cùng sau mỗi cuộc chiến tranh, bên nào thắng thì nhân dân cũng bại”**, bởi vì ngày kết thúc chiến tranh là ngày “triệu người vui nhưng cũng có triệu người buồn”***... Thấu hiểu điều đó lòng người mới thôi chia cắt, thống nhứt đất nước bắt đầu từ sự khoan dung lòng trắc ẩn giữa những người Việt Nam.

Một câu nói trong tiểu thuyết CON ĐƯỜNG ĐAU KHỔ của nhà văn A.Tolstoi được nhiều người thế hệ của tôi nhớ đến: “Năm tháng sẽ trôi qua, những cuộc chiến tranh sẽ im ắng dần, những cuộc cách mạng sẽ thôi gào thét, và chỉ còn lại không phôi pha tấm lòng em nhẫn nại, dịu dàng và chan chứa tình yêu thương.” Đây là thông điệp của tác giả gửi đến cho người đọc khi đã trải qua “con đường đau khổ” cùng ông, cũng là khát vọng của mỗi người, mỗi quốc gia từng trải qua một thời chiến tranh, dù ở thời đại nào hay ở nơi nào trên thế giới.

TP. Hồ Chí Minh, 18.3.2025

*Bài hát Tiếng hát trên đường quê hương của nhạc sĩ Huy Thục

**Câu thơ của nhà thơ Nguyễn Duy

***Một câu nói của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt



TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...