GS.BS Nguyễn Văn Hưởng sinh năm 1906 tại làng Mỹ Chánh (nay xã Mỹ Hiệp, Chợ Mới, An Giang). Năm 1927 ông học trường Đại học Y khoa Hà Nội. Học xong ở Hà Nội 4 năm, ông sang Paris học tiếp 2 năm, năm 1932 ông tốt nghiệp y khoa loại giỏi. Năm 1933, ông về nước làm việc tại Viện Pasteur Sài Gòn 5 năm. Do bất bình phân biệt đối xử của người Pháp, năm 1939 ông thôi việc và mở phòng mạch, phòng xét nghiệm riêng tại nhà số 224 đường Cống Quỳnh ngày nay.
Người Thầy thuốc nhân dân thân thương của gia đình tôi
TRƯỚC TẾT VỀ VỚI CỘI RỄ
https://tuoitre.vn/truoc-tet-ve-voi-coi-re-2026020808104696.htm
Năm nào cũng vậy, khoảng sau rằm tháng chạp là gia đình tôi luôn nhắn hỏi nhau: ngày nào cùng đi tảo mộ. Đi tảo mộ là về quê viếng mộ ông bà nội ngoại, đến nhà thờ họ thắp nhang, rồi mới về viếng ở nghĩa trang thành phố, nơi có các bác, ba má tôi và nhiều người khác trong gia đình.
Khác với bối cảnh nông thôn, nơi nghĩa địa thường tồn tại ổn định, gắn bó
lâu dài với cộng đồng cư trú, tại các thành phố nhiều nghĩa địa đã di dời, thu
hẹp hoặc chuyển đổi công năng để phát triển đô thị. Quá trình này, dưới góc độ
sinh hoạt văn hóa tinh thần, đã kéo theo những đứt gãy đáng kể trong thực hành
nghi lễ và ký ức không gian của cộng đồng. Dù vậy, lễ tảo mộ trước Tết vẫn được duy trì như một thực hành văn hóa bền bỉ, có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì tình cảm gia đình và cộng đồng. Đây không
chỉ là một phong tục truyền thống, mà còn là một “cơ chế ký ức” giúp con người
đô thị kết nối với nguồn cội trong điều kiện không gian sống và điều kiện sinh hoạt ngày càng phân tán.
Từ nhiều năm nay nhịp sống thành phố ngày càng bận rộn, thời gian trước Tết luôn là những
ngày sôi động nhất vì bộn bề công việc cuối năm. Ngày tảo mộ ở thành phố thường
được “linh động” thực hiện vào ngày cuối tuần. Vào dịp này, các nghĩa trang
luôn đông người lui tới, nhất là vào buổi sáng. Các nghĩa trang cũng được
dọn dẹp sạch sẽ, khang trang, có nơi còn trưng bày hoa làm cho không gian ấm áp
hơn. Giữa không khí cuối năm hối hả, lễ
tảo mộ như một điều nhắc nhở: có những đời người đã đi qua, có ông bà cha mẹ để
mình có mặt hôm nay. Cảm giác đó mang lại cảm giác ấm áp như ngày nào còn được ngồi bên
ông bà, cha mẹ
và người thân.
Khi
đứng trước
ngôi mộ của ông bà cha mẹ, thời
gian bỗng đi chậm lại. Mọi lo toan của một năm dài dừng lại nhường cho sự tưởng nhớ những người thân yêu.
Khi sửa sang lau dọn phần mộ là lúc mọi người lại nhớ những câu chuyện lúc ông bà, cha mẹ còn sống, cả những câu nhắc nhở hay rầy la của họ...
Khi đó, dường như ai cũng lặng thầm soi lại chính mình xem đã sống thế nào. Có khi trong vô thức cũng “tự kiểm”, rằng vừa rồi
mình làm chuyện này việc kia không đúng, nếu còn cha mẹ sẽ nói sao? Vì vậy,
tảo mộ trước Tết không chỉ là một nghi lễ,
mà là cách
mỗi người khép lại năm cũ bằng cách trở lại với cội rễ, với đạo đức gia đình, để thêm sức mạnh tinh thần bước vào năm mới vững vàng hơn, tốt đẹp hơn.
Lễ tảo mộ có thể được xem là một nghi lễ trong khoảng thời gian ranh giới giữa năm cũ và năm mới, giữa đời sống thường nhật và thế giới
của tổ tiên. Việc đến các nghĩa
trang để thăm viếng người nhà hay để tưởng nhớ những người có công với đất nước
chính là thể hiện sự tái lập ký ức trong bối cảnh hiện đại, nhất là ở các thành phố. Những nghĩa trang không chỉ là nơi nằm lại của thế hệ trước mà còn là một “không gian lưu trữ ký ức”, nơi lịch sử gia đình được khắc ghi
bằng tên họ, niên đại và các câu chuyện truyền miệng luôn được “tái bản” trong mỗi lần tảo mộ. Tảo mộ cho thấy gia đình không chỉ là quan hệ huyết thống, mà là đơn vị
bảo tồn văn hóa. Giữ được gia phong, ký ức gia đình cũng là một dạng gìn giữ di
sản.
Trong xã hội đô thị hiện nay, lễ tảo mộ trước Tết còn
như một sự “đề kháng văn hóa”, khi mà các nghi lễ truyền
thống luôn có nguy cơ lu mờ, biến mất
trong quá trình hiện đại hóa. Nhất là trong thời đại của AI, khi mà nhiều hành vi của con người hoàn toàn có thể
thay thế bởi AI, thì nghi lễ tảo mộ vẫn đòi hỏi sự hiện diện thân thể của mỗi con người, sự tham gia trực
tiếp và cảm xúc của từng gia
đình. Chính yếu tố đó giúp ký ức không bị trừu tượng hóa mà tiếp tục tồn tại
như một trải nghiệm sống, truyền thống gia đình, truyền thống dân tộc được duy trì bền vững.
Tảo mộ trước hết là để
tưởng nhớ những người đã khuất, nhưng tục lệ này còn là một thực hành văn
hóa giúp người còn sống trở nên hướng
thiện và tốt đẹp hơn. Bởi vì khi đứng giữa quá khứ và hiện
tại, giữa đời sống cá nhân và ký ức tập thể (gia đình, cộng đồng), những gì tốt đẹp luôn được
nhắc đến, luôn được coi là một trách nhiệm và nghĩa vụ của con cháu đối với ông
cha.
Nguyễn Thị Hậu
Chuyện bể show "chim trời"... cá nước :)
Chuyện bể show "chim trời" theo mình, bên tổ chức sai cái lý/luật còn bên GĐ âm nhạc (đại diện người diễn) không được cái tình! Cả hai bên đều có lỗi đối với khán giả - người "nuôi" cả hai nhưng lại chịu hậu quả cả hai gây ra.
LỜI CHA DẶN (nhân tiện đăng lại )
Ngày 27.1.1973, Hiệp định Paris được ký kết, hòa bình lập lại. Tết năm đó, trong không khí náo nức chung, tôi cũng có một niềm vui nhỏ dành tặng ba nhân ngày đầu Xuân. Đó là việc tôi đã thi đậu vào trường Nghệ thuật Sân khấu. Khi tôi hồi hộp báo tin đó, ba ngồi lặng đi, lộ vẻ băn khoăn lo lắng. Cuối cùng ba nói với tôi, trang nghiêm mà trìu mến:
- Ba rất vui khi có một đứa con muốn nối nghiệp ba. Trước khi con tự quyết định tương lai của mình, ba muốn nói với con điều này. Mọi nghề nghiệp đều đẹp và đều sẽ thành công nếu ta lao động kiên nhẫn và trung thực. Nhưng trong nghệ thuật thì còn phải có một điều kiện quan trọng, đó là tài năng. Đã là diễn viên, phải là một diễn viên giỏi. Đây không phải là chuyện danh tiếng, mà là chuyện làm gì để cống hiến cho Tổ quốc được nhiều hơn. Còn nếu chỉ là một diễn viên “cầm cờ, chạy hiệu” thì thà làm nghề khác còn có ích hơn.
Suy nghĩ một lát ba tôi nói thêm: Phụ nữ, nếu theo một nghề mà không làm được thì cơ hội đổi nghề khó khăn hơn nam giới. Là phụ nữ con cần làm tốt một nghề. Khi có đồng tiền do mình làm ra thì con không phải phụ thuộc vào ai.
Lần đầu tiên ba tôi tâm sự với tôi về nghề nghiệp của mình cũng như những vui buồn của nó. Cũng từ khi ấy, khi tròn 15 tuổi tôi đã thực sự trở thành người bạn nhỏ của ba.
Cho đến ngày tôi tốt nghiệp đại học, được trường giữ lại làm cán bộ giảng dạy, ba tôi đã chúc mừng tôi và nói:
- Người thầy giáo cũng phải có một tâm hồn nghệ sĩ, bởi đều là những “kỹ sư tâm hồn”. Phải yêu nghề, yêu người thật sâu sắc thì mới có thể đứng trên bục giảng hay trên sân khấu mà truyền đạt mọi mặt cuộc sống đến với người nghe, người xem. Hơn nữa, thầy giáo hay nghệ sĩ cũng đều phải sống trung thực, có sống trung thực thì mới không mắc cỡ, không ngượng mồm khi giáo dục người khác về cái đẹp, về cái tốt.
Nhưng ba tôi cười buồn – Tiếc rằng ngày nay giữa hai nghề này còn có một khoảng cách khá xa. Người thầy giáo thì thiếu tâm hồn nghệ sĩ. Còn người nghệ sĩ lại thiếu đạo đức của người thầy!
(Trích trong cuốn sách “Nguyễn Ngọc Bạch – một đời sân khấu”, NXB Tổng hợp TPHCM, tái bản 2021)
Đó là những lời ba dặn tôi từ nhiều năm trước! Giới nghệ thuật, nghệ sĩ không xa lạ đối với tôi bởi đó là một phần cuộc sống của gia đình tôi trong gần nửa thế kỷ. Mỗi khi xảy ra những “tai tiếng” của giới này tôi lại nhớ đến ba tôi và thế hệ của ông: Đó là những nghệ sĩ tài năng, nhiều người trong họ cũng có vài “tật” khó tránh của “trai tài gái sắc”. Nhưng đó là thế hệ nghệ sĩ luôn tôn trọng, yêu quý khán giả, có trách nhiệm với khán giả trong từng vai diễn, luôn hướng khán giả đến thẩm mỹ tốt đẹp qua ngôn từ, ứng xử của những vai diễn trong chính kịch và cả hài kịch. Bởi họ hiểu, sân khấu là cuộc đời được phóng chiếu lên cả điều xấu xa và tốt đẹp!
#vunvatdoithuong
27.1.2023
Hình thời sinh viên :)
Mình nhờ Gemini làm mới hình ảnh thời sinh viên 1978, 1979, 1980. Sau đó ban dùng AI chỉnh sửa để "xem sao" :) Bệnh của người đông tuổi là hay nhắc "hồi đó" 😃😍😍
TỪ NGÀY MẸ CHO…
NGÀY GIỖ CHA
Ngày 17 tháng 8 âm lịch là ngày giỗ Ba.
TỪ MÙA THU CÁCH MẠNG
https://congan.com.vn/tin-chinh/tu-mua-thu-cach-mang_182033.html
Nguyễn Thị Hậu
Mỗi năm gần đến ngày Quốc khánh 2/9
– là ngày Độc Lập theo cách gọi quen thuộc trong gia đình tôi từ thời ông bà nội
– tôi lại nhớ đến những gì ba tôi thường kể lại, về những ngày đi theo “tiếng gọi
sơn hà” từ tháng Tám
năm 1945.
Trước
năm 1945, ba tôi tôi dạy học ở Cái Răng, một thị trấn nhỏ - nay là một quận của
thành phố Cần Thơ. Sau đó được đổi về dạy ở quê nhà, trường huyện Chợ Mới – An
Giang. Ba tôi
viết trong hồi ký: Khi còn là một thầy giáo dạy ở trường quận, tôi đã mê diễn
kịch, tôi hăng hái tập cho học trò hát những bài như: Tiếng gọi thanh niên, Bạch
Đằng Giang, Kinh cầu nguyện, Xếp bút nghiên… Hè năm 1943, tôi tổ chức một đêm
diễn: có hài kịch ngắn, có đồng ca, có đơn ca và bản thân tôi cũng tham gia diễn
kịch. Buổi diễn khá thành công. Tôi viết thư về báo cho tía tôi. Tía ghi chú
vào chỗ giấy còn trống trong thơ: “Tía coi thơ này mà rùng mình, rợn óc cho
tương lai của con. Nếu tạo vật dắt đường cho con đi về con đường hát xướng thì
đời con sẽ vất vả, nhưng mạng vận biết sao?”.
Những
ngày năm đó, chiều chiều, ba tôi hay lên cầu đúc, đứng dựa lan can nhìn xuống
dòng nước phù sa cuồn cuộn, ngút ngát dòng sông về phía Cần Thơ, rồi đi xa, xa
lắm… ông mơ một cuộc đời được đi khắp nơi cho thỏa chí tang bồng. Những chiếc
xe du lịch sang trọng chạy qua chạy lại, trên xe là quan lại binh lính người
Pháp, ba tôi chua xót nghĩ rằng, một thầy giáo nghèo như ông nhứt định là chết
già ở một cái trường làng nào đó… Mơ làm gì những cuộc du lịch trên đất nước đang
bị ngoại bang đô hộ!
Tháng
3/1945, quân Nhật lật đổ chính quyền thuộc địa của Pháp ở Đông Dương. Ngày
25/8/1945, nhân dân Sài Gòn giành chính quyền từ tay quân Nhật. Tuy nhiên, chỉ
28 ngày sau, quân Pháp với sự giúp đỡ của quân Anh đánh chiếm lại Sài Gòn. Ngày
23/9/1945 Nam bộ kháng chiến bùng nổ. Trong cái khí thế hùng dũng ban đầu của
Cách mạng, ba tôi được cuốn theo làn sóng kháng chiến. Ông đến Ủy ban tỉnh An
Giang, xin vào công tác. Cấp trên biết ông có chút ít kiến thức, lại có khiếu
văn nghệ, nên phân công ông lo tổ chức một đoàn kịch. Vậy là cùng một số đồng
chí, ba tôi thành lập
Đoàn kịch Cứu quốc.
Khi ba tôi xin phép được
“đi hát”, ông nội tôi
suy nghĩ rồi nói “Tía xem đời Cụ Hồ chẳng khác nào như đức Thích Ca. Cụ là người
như vậy, mà cụ cho hát, chắc là hát có ý nghĩa. Trào Tây, hát là xướng ca vô loại.
Bây giờ, hát cho Chính phủ Cụ Hồ là hát cứu nước. Tía đồng ý cho con đi hát”. Ngày bác
tôi và ba tôi ra
bưng biền kháng chiến,
ông nội đã khấn trước bàn thờ ông bà “Hôm
nay con đưa hai con đi theo Cụ Hồ đánh Tây giành độc lập, không để cho thằng
Tây ngồi lên đầu lên cổ dân mình. Con cháu có gì sai quấy mong Cụ dạy bảo. Cầu
trời Phật ông bà phù hộ cho con cháu bình an!” Giản dị vậy thôi, bởi
vì đối với ông nội
tôi, Cụ Hồ là người vì dân vì nước. Sự
giác ngộ đầu tiên của ba tôi và nhiều người cùng thế hệ ông là niềm tin vào tấm
gương Cụ Hồ, dù chưa hiểu biết nhiều về “lý tưởng cộng sản” nhưng họ là những người yêu nước nên đã tích cực tham gia Cách mạng tháng Tám và
kháng chiến chống thực dân Pháp.
Kể từ ngày đó, ba tôi và đoàn hát của
ông đã vượt qua chín năm dài khó khăn và ác liệt, đi bộ chèo ghe băng đồng lội
nước lưu diễn khắp miền Tây Nam Bộ. Cũng trong những ngày này ba tôi đã sáng
tác nhiều ca khúc như Hồn thiêng chiến sĩ, Tuyên truyền lưu động, Làn sóng dân
chủ, Tháp Mười anh dũng... Nhưng trong đó ca khúc “Cương quyết ra đi”sáng tác
ngày đầu khánh chiến là một bài hát được
nhiều người yêu thích và thuộc lòng. “Cờ Việt Nam bao năm nhuộm máu hùng anh...
Ta ra đi mùa thu xa xưa ấy, vung gươm thiêng ta cắt đứt đường tơ vương”. Nhà
văn Nguyễn Quang Sáng – một học trò của ba tôi - cũng nhớ lại: “Kháng chiến. Học trò trở về trường
nhưng thầy không dạy nữa, thầy đã vào bưng biền rồi, thầy đã “Cương quyết ra
đi” như lời bài hát đầu tiên của thầy vang trên khắp nẻo đường kháng chiến. Thầy
lập đoàn hát “Cứu quốc đoàn”, “Tuyên truyền xung phong” từ sông Tiền dài xuống
sông nước vùng đất U Minh, từ đó thầy gắn cuộc đời mình với sân khấu, từ Nam ra
Bắc rồi từ Bắc trở về Nam cho đến hết cả cuộc đời”.
Tại bưng biền miền Tây, ba tôi cùng đoàn “Truyền bá vệ sinh” sáng tác và biểu diễn những vở kịch, bài ca vui nhộn,
sinh động mà rất khoa học để tuyên truyền cho đồng bào giữ vệ sinh nhà ở, nhà tắm,
cầu tiêu, giữ sạch môi trường sinh sống như kinh rạch, vườn tược, góp phần bảo
vệ sức khỏe và tránh các dịch bệnh... Không nề hà bất cứ nhiệm vụ gì được giao,
các đoàn hát của ông đi đến đâu cũng được đồng bào, chiến sĩ yêu mến, trông đợi...
Nhờ đó, ông cũng “tuyển” được nhiều “diễn viên”. Sau này một số cô chú tập kết
ra miền Bắc và trở thành những nghệ sĩ nổi tiếng.
Năm 1954, theo sự phân công của tổ
chức, ba tôi cùng nhiều đồng nghiệp đi tập kết. Kế tiếp là những năm dài ông
thường xuyên vắng nhà vì những chuyến lưu diễn khắp nơi của Đoàn Cải lương Nam
bộ, Đoàn kịch nói Nam bộ mà ba tôi làm trưởng đoàn: rừng núi Việt Bắc, đồng ruộng
Khu Ba, khu mỏ Quảng Ninh, giới tuyến Hiền Lương, đường 559 Trường Sơn… Cho đến
tháng 4.1975 ông được trở về Sài Gòn, về An Giang quê hương yêu dấu sau hơn hai
mươi năm “ngày Bắc đêm Nam”.
***
Những
câu chuyện trong gia đình tôi về sự tham gia kháng chiến của thế hệ ông cha
luôn thể hiện đạo lý “Giữa đường thấy sự bất bằng chẳng tha”. Đây được coi là một
tính cách nổi bật của người Nam bộ. Tính cách này được hình thành từ nguồn gốc
của những thế hệ lưu dân vượt qua mọi hoàn cảnh nghèo khó, trốn tránh tù tội,
chống lại sự áp bức… đi vào khai phá vùng đất mới, nơi trời cao đất rộng nhưng
hoang sơ lạ lẫm, trên bờ cọp kêu dưới sông sấu táp, xung quanh đều là những người
xa lạ. Vì vậy họ không câu nệ nguồn gốc dòng họ hay thân phận, “tứ hải giai
huynh đệ”, bởi vì họ chỉ có một “cái vốn” mang theo để có thể sống: tình nghĩa
và đoàn kết, trong hoàn cảnh ngặt nghèo nào cũng chống lại sự bất công. Từ khi
Nam kỳ bị mất vào tay giặc Pháp, người dân Nam bộ không ngừng đấu tranh, bởi
không cam chịu sự bất công lớn nhất là dân tộc Việt bị mất nền độc lập - tự do.
Câu chuyện đi theo cách mạng của ba
tôi và của nhiều chú bác cùng thời rất tự nhiên và giản dị như lẽ sống đời thường. Từ một thầy giáo “ham đờn ca hát xướng”,
ông đi kháng chiến đánh Tây bằng cách góp công sức làm nghệ thuật phục vụ đồng
bào, chiến sĩ. Lý tưởng “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” đã được thế hệ
“Mùa thu rồi ngày hăm ba...” hy sinh cuộc sống cá nhân, hy sinh của cải, tính mạng
để dành lấy cho đất nước. Tôi nhớ mãi ngày đầu tiên ba tôi được trở về quê nội,
đừng trước bàn thờ ông bà, ông kính cẩn thưa rằng: Ba ơi! Khi con về thì ba má
không còn nữa. Nhưng con đã cố gắng làm tròn lời ba căn dặn khi ba phó thác con
cho Bác Hồ dạy dỗ: Con theo Cụ Hồ ra đi làm việc nước, đánh Tây giành độc lập”.
*Ba tôi (người tóc bạc trắng, keo kiếng trắng) Nghệ sĩ ưu tú, đạo diễn Nguyễn Ngọc Bạch, Nguyên Phó Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao TPHCM cùng đoàn nghệ sĩ TPHCM tại HN trong dịp Đại hội Hội sân khấu toàn quốc lần thứ II - 1983
NGÀY MAI ĐANG BẮT ĐẦU TỪ NGÀY HÔM NAY
TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)
https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...
-
Trích phần 3 của bài đăng trên tạp chí Di sản văn hóa số 3(15) 2023 3. Bảo tồn và phát triển nghệ thuật gốm Chăm ở Bàu Trúc trong bối cảnh ...
-
Một người bạn fb bất ngờ ra đi. Post bài thơ rất hay của bạn. Tôi biết Cao Hải Hà qua mạng Yahoo blog và sau là FB. Vài lần gặp Hà ở chỗ ...
-
Người Việt có một số thành ngữ và sự tích liên quan đến cá trê, như truyện Trê Cóc chẳng hạn. Câu chuyện không chỉ là việc Trê tranh giàn...