Hiển thị các bài đăng có nhãn gia đình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn gia đình. Hiển thị tất cả bài đăng

Người Thầy thuốc nhân dân thân thương của gia đình tôi


Đây là tấm hình chụp năm 1971 tại HN, lúc đó ba tôi chuẩn bị đi chiến trường lần thứ 3 - chuyến đi mà ba tôi tin chắc sẽ được về đến Nam bộ quê nhà.
Vì vậy trước khi đi ông nhờ người chụp một số tấm hình cho gia đình, tấm hình này chụp với bác Ba Nguyễn Văn Hưởng - lúc đó là Bộ trưởng Bộ Y tế , bác gái Nguyễn Thị Hạnh - làm việc tại Viện Pasteur HN.
Bác Ba Nguyễn Văn Hưởng không chỉ là một người anh lớn của ba tôi, mà như ông nội của chúng tôi. Gia đình ông nội tôi nghèo, bác Ba học rất giỏi, được học bổng của Pháp từ trung học đến cao đẳng, đại học bên Pháp. Về SG đi làm nuôi các em - trong đó có ba tôi ăn học thành thầy giáo. Rồi hai anh em cùng đi kháng chiến ở miền Tây Nam bộ, cùng tập kết ra Bắc...
Các anh chị em tôi hồi nhỏ đều trải qua những cơn bệnh thập tử nhất sinh mà không có bác Ba thì chúng tôi đã không còn hiện diện trên đời!
Khi Bác Ba mất gia đình thực hiện nguyện vọng của ông: dành số tiền các giải thưởng của ông tiếp tục duy trì và phát triển học bổng Nguyễn Văn Hưởng tặng cho sinh viên y - dược nghèo, học giỏi.
Nhân ngày Thầy Thuốc VN, kính nhớ Bác Ba ❤

















GS.BS Nguyễn Văn Hưởng sinh năm 1906 tại làng Mỹ Chánh (nay xã Mỹ Hiệp, Chợ Mới, An Giang). Năm 1927 ông học trường Đại học Y khoa Hà Nội. Học xong ở Hà Nội 4 năm, ông sang Paris học tiếp 2 năm, năm 1932 ông tốt nghiệp y khoa loại giỏi. Năm 1933, ông về nước làm việc tại Viện Pasteur Sài Gòn 5 năm. Do bất bình phân biệt đối xử của người Pháp, năm 1939 ông thôi việc và mở phòng mạch, phòng xét nghiệm riêng tại nhà số 224 đường Cống Quỳnh ngày nay.

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, ông tham gia kháng chiến là Ủy viên Ủy ban Kháng chiến- hành chánh Nam bộ kiêm Giám đốc Sở Y tế quân dân Nam bộ. Ông tổ chức bào chế huyết thanh, vắc xin để trị bệnh... Ông tập kết ra Bắc giữ nhiều chức vụ, cao nhất là Bộ trưởng Bộ Y tế vào năm 1969- 1974.
Sau giải phóng ông làm Viện trưởng Viện Y học cổ truyền dân tộc TP HCM. Năm 1996, ông nhận Giải thưởng HCM - ông dành toàn bộ tiền giải thưởng và tiền dành dụm xây dựng "QUỸ HỌC BỔNG NGUYỄN VĂN HƯỞNG" để hỗ trợ sinh viên ngành y cả nước... BS Nguyễn Văn Hưởng mất ngày 04/8/1998, hưởng thọ 93 tuổi.


TRƯỚC TẾT VỀ VỚI CỘI RỄ

https://tuoitre.vn/truoc-tet-ve-voi-coi-re-2026020808104696.htm 

Năm nào cũng vậy, khoảng sau rằm tháng chạp là gia đình tôi luôn nhắn hỏi nhau: ngày nào cùng đi tảo mộ. Đi tảo mộ là về quê viếng mộ ông bà nội ngoại, đến nhà thờ họ thắp nhang, rồi mới về viếng ở nghĩa trang thành phố, nơi có các bác, ba má tôi và nhiều người khác trong gia đình.

Khác với bối cảnh nông thôn, nơi nghĩa địa thường tồn tại ổn định, gắn bó lâu dài với cộng đồng cư trú, tại các thành phố nhiều nghĩa địa đã di dời, thu hẹp hoặc chuyển đổi công năng để phát triển đô thị. Quá trình này, dưới góc độ sinh hoạt văn hóa tinh thần, đã kéo theo những đứt gãy đáng kể trong thực hành nghi lễ và ký ức không gian của cộng đồng. Dù vậy, lễ tảo mộ trước Tết vẫn được duy trì như một thực hành văn hóa bền bỉ, có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì tình cảm gia đình và cộng đồng. Đây không chỉ là một phong tục truyền thống, mà còn là một “cơ chế ký ức” giúp con người đô thị kết nối với nguồn cội trong điều kiện không gian sống và điều kiện sinh hoạt ngày càng phân tán.

Từ nhiều năm nay nhịp sống thành phố ngày càng bận rộn, thời gian trước Tết luôn là những ngày sôi động nhất vì bộn bề công việc cuối năm. Ngày tảo mộ ở thành phố thường được “linh động” thực hiện vào ngày cuối tuần. Vào dịp này, các nghĩa trang luôn đông người lui tới, nhất là vào buổi sáng. Các nghĩa trang cũng được dọn dẹp sạch sẽ, khang trang, có nơi còn trưng bày hoa làm cho không gian ấm áp hơn. Giữa không khí cuối năm hối hả, lễ tảo mộ như một điều nhắc nhở: có những đời người đã đi qua, có ông bà cha mẹ để mình có mặt hôm nay. Cảm giác đó mang lại cảm giác ấm áp như ngày nào còn được ngồi bên ông bà, cha mẹ và người thân.

Khi đứng trước ngôi mộ của ông bà cha mẹ, thời gian bỗng đi chậm lại. Mọi lo toan của một năm dài dừng lại nhường cho sự tưởng nhớ những người thân yêu. Khi sửa sang lau dọn phần mộ là lúc mọi người lại nhớ những câu chuyện lúc ông bà, cha mẹ còn sống, cả những câu nhắc nhở hay rầy la của họ... Khi đó, dường như ai cũng lặng thầm soi lại chính mình xem đã sống thế nào. Có khi trong vô thức cũng “tự kiểm”, rằng vừa rồi mình làm chuyện này việc kia không đúng, nếu còn cha mẹ sẽ nói sao? Vì vậy, tảo mộ trước Tết không chỉ là một nghi lễ, mà là cách mỗi người khép lại năm cũ bằng cách trở lại với cội rễ, với đạo đức gia đình, để thêm sức mạnh tinh thần bước vào năm mới vững vàng hơn, tốt đẹp hơn.

Lễ tảo mộ có thể được xem là một nghi lễ trong khoảng thời gian ranh giới giữa năm cũ và năm mới, giữa đời sống thường nhật và thế giới của tổ tiên. Việc đến các nghĩa trang để thăm viếng người nhà hay để tưởng nhớ những người có công với đất nước chính là thể hiện sự tái lập ký ức trong bối cảnh hiện đại, nhất là ở các thành phố. Những nghĩa trang không chỉ là nơi nằm lại của thế hệ trước mà còn là một “không gian lưu trữ ký ức”, nơi lịch sử gia đình được khắc ghi bằng tên họ, niên đại và các câu chuyện truyền miệng luôn được “tái bản” trong mỗi lần tảo mộ. Tảo mộ cho thấy gia đình không chỉ là quan hệ huyết thống, mà là đơn vị bảo tồn văn hóa. Giữ được gia phong, ký ức gia đình cũng là một dạng gìn giữ di sản.

Trong xã hội đô thị hiện nay, lễ tảo mộ trước Tết còn như một sự “đề kháng văn hóa, khi mà các nghi lễ truyền thống luôn có nguy cơ lu mờ, biến mất trong quá trình hiện đại hóa. Nhất là trong thời đại của AI, khi mà nhiều hành vi của con người hoàn toàn có thể thay thế bởi AI, thì nghi lễ tảo mộ vẫn đòi hỏi sự hiện diện thân thể của mỗi con người, sự tham gia trực tiếp và cảm xúc của từng gia đình. Chính yếu tố đó giúp ký ức không bị trừu tượng hóa mà tiếp tục tồn tại như một trải nghiệm sống, truyền thống gia đình, truyền thống dân tộc được duy trì bền vững.

Tảo mộ trước hết là để tưởng nhớ những người đã khuất, nhưng tục lệ này còn là một thực hành văn hóa giúp người còn sống trở nên hướng thiện và tốt đẹp hơn. Bởi vì khi đứng giữa quá khứ và hiện tại, giữa đời sống cá nhân và ký ức tập thể (gia đình, cộng đồng), những gì tốt đẹp luôn được nhắc đến, luôn được coi là một trách nhiệm và nghĩa vụ của con cháu đối với ông cha.  

Nguyễn Thị Hậu






 


Chuyện bể show "chim trời"... cá nước :)

 Chuyện bể show "chim trời" theo mình, bên tổ chức sai cái lý/luật còn bên GĐ âm nhạc (đại diện người diễn) không được cái tình! Cả hai bên đều có lỗi đối với khán giả - người "nuôi" cả hai nhưng lại chịu hậu quả cả hai gây ra.

Lựa chọn kiểu gì cũng là thái độ và trách nhiệm với xã hội. So sánh nào cũng là khập khiễng, nhưng xin kể câu chuyện của mình.
Từ nhiều năm qua mình thường được mời giảng dạy ở một số nơi, đều có hợp đồng ghi rõ thời gian, tiến độ và chi phí thù lao... Nhưng có nơi mình không nhận được thù lao đúng hạn. Thường chậm hơn 1,2 tháng, dù tất cả công việc giảng dạy, ra đề, chấm bài, nộp điểm... mình đều hoàn thành đúng hạn!
Cá biệt có lần sau hơn nửa năm, sắp dạy khoá sau rồi mình vẫn chưa được nhận thù lao khoá trước. Nhắc nhiều lần vẫn chỉ nhận được hứa/hẹn. Mình ra "tối hậu thư": nếu không thanh toán khoá trước mình sẽ không lên lớp cho khoá sau, dù đã có thời khoá biểu.
Rồi đến sát ngày dạy vẫn không có gì, bên A lại nhắn nhe xin lỗi vì lý do xyz... Ngộ ha, học phí của NCS thì thu đủ thu sớm không ai được nợ, nhưng giảng viên thì cứ bị nợ!. Dù cáu lắm nhưng mình vẫn chọn... lên lớp, vì không thể để các bạn NCS mất tiền mất thời gian và bỏ công việc đến học mà không có thầy cô.
Ai coi người học chỉ là "người mua chữ" nhưng bọn mình đi dạy không bao giờ coi việc giảng dạy là "đi bán chữ", vì quan hệ giữa người dạy và người học - ở bất cứ cấp học nào - không phải là việc "có tiền là xong". Vì vậy, mình và đồng nghiệp vẫn chọn lên lớp đúng giờ và bằng tâm huyết của mình.
Tiền thù lao giảng dạy của mình chả bao nhiêu đâu, nhưng ít cũng là công sức của mình. Cáu thì cãi nhau với bên có trách nhiệm, chứ ai lại bỏ mặc người học!
P/s. Chim trời cá nước... đều liên quan với nhau, đều là "đặc sản nhà hàng" hết 🙂

LỜI CHA DẶN (nhân tiện đăng lại )

Ngày 27.1.1973, Hiệp định Paris được ký kết, hòa bình lập lại. Tết năm đó, trong không khí náo nức chung, tôi cũng có một niềm vui nhỏ dành tặng ba nhân ngày đầu Xuân. Đó là việc tôi đã thi đậu vào trường Nghệ thuật Sân khấu. Khi tôi hồi hộp báo tin đó, ba ngồi lặng đi, lộ vẻ băn khoăn lo lắng. Cuối cùng ba nói với tôi, trang nghiêm mà trìu mến:

- Ba rất vui khi có một đứa con muốn nối nghiệp ba. Trước khi con tự quyết định tương lai của mình, ba muốn nói với con điều này. Mọi nghề nghiệp đều đẹp và đều sẽ thành công nếu ta lao động kiên nhẫn và trung thực. Nhưng trong nghệ thuật thì còn phải có một điều kiện quan trọng, đó là tài năng. Đã là diễn viên, phải là một diễn viên giỏi. Đây không phải là chuyện danh tiếng, mà là chuyện làm gì để cống hiến cho Tổ quốc được nhiều hơn. Còn nếu chỉ là một diễn viên “cầm cờ, chạy hiệu” thì thà làm nghề khác còn có ích hơn.

Suy nghĩ một lát ba tôi nói thêm: Phụ nữ, nếu theo một nghề mà không làm được thì cơ hội đổi nghề khó khăn hơn nam giới. Là phụ nữ con cần làm tốt một nghề. Khi có đồng tiền do mình làm ra thì con không phải phụ thuộc vào ai.

Lần đầu tiên ba tôi tâm sự với tôi về nghề nghiệp của mình cũng như những vui buồn của nó. Cũng từ khi ấy, khi tròn 15 tuổi tôi đã thực sự trở thành người bạn nhỏ của ba.

Cho đến ngày tôi tốt nghiệp đại học, được trường giữ lại làm cán bộ giảng dạy, ba tôi đã chúc mừng tôi và nói:

- Người thầy giáo cũng phải có một tâm hồn nghệ sĩ, bởi đều là những “kỹ sư tâm hồn”. Phải yêu nghề, yêu người thật sâu sắc thì mới có thể đứng trên bục giảng hay trên sân khấu mà truyền đạt mọi mặt cuộc sống đến với người nghe, người xem. Hơn nữa, thầy giáo hay nghệ sĩ cũng đều phải sống trung thực, có sống trung thực thì mới không mắc cỡ, không ngượng mồm khi giáo dục người khác về cái đẹp, về cái tốt.

 Nhưng ba tôi cười buồn – Tiếc rằng ngày nay giữa hai nghề này còn có một khoảng cách khá xa. Người thầy giáo thì thiếu tâm hồn nghệ sĩ. Còn người nghệ sĩ lại thiếu đạo đức của người thầy!

(Trích trong cuốn sách “Nguyễn Ngọc Bạch – một đời sân khấu”, NXB Tổng hợp TPHCM, tái bản 2021)

Đó là những lời ba dặn tôi từ nhiều năm trước! Giới nghệ thuật, nghệ sĩ không xa lạ đối với tôi bởi đó là một phần cuộc sống của gia đình tôi trong gần nửa thế kỷ. Mỗi khi xảy ra những “tai tiếng” của giới này tôi lại nhớ đến ba tôi và thế hệ của ông: Đó là những nghệ sĩ tài năng, nhiều người trong họ cũng có vài “tật” khó tránh của “trai tài gái sắc”. Nhưng đó là thế hệ nghệ sĩ luôn tôn trọng, yêu quý khán giả, có trách nhiệm với khán giả trong từng vai diễn, luôn hướng khán giả đến thẩm mỹ tốt đẹp qua ngôn từ, ứng xử của những vai diễn trong chính kịch và cả hài kịch. Bởi họ hiểu, sân khấu là cuộc đời được phóng chiếu lên cả điều xấu xa và tốt đẹp!

#vunvatdoithuong

27.1.2023


Hình thời sinh viên :)

 Mình nhờ Gemini làm mới hình ảnh thời sinh viên 1978, 1979, 1980. Sau đó ban dùng AI chỉnh sửa để "xem sao" :) Bệnh của người đông tuổi là hay nhắc "hồi đó" 😃😍😍














TỪ NGÀY MẸ CHO…


[Stt hàng năm thường tái bản vào ngày này 🙂]
Ba má chị sống xa quê hương, mấy lần má chị một thân một mình sinh nở nuôi con vì ba chị thường đi công tác xa nhà. Ngày sinh chị cũng vậy. Lúc ấy ba chị đang lưu diễn tận miền Tây Bắc, trước khi đi ông ái ngại nhìn bụng vợ đã nặng nề, tần ngần hỏi “mình có sao không? Tui đi vài bữa chắc kịp về ngày mình nằm chỗ…”. Má chị cười “mình cứ đi đi, còn bà con lối xóm… có gì…tui lo được, hổng lẽ chờ mình về mới sanh?”
Vậy là ba chị lại đi. Như mọi lần. nhà chỉ còn má và chị Ba, anh Hai thì đang học ở trường nội trú.
Một ngày mùa đông Hà Nội. Gió mùa Đông Bắc tràn về từ chiều. Nhà hàng xóm đóng cửa ngủ sớm. Đêm đó, má chị trở dạ. Đem gửi chị Ba cho hàng xóm, một mình đi bộ từ phố Đặng Thái Thân qua phố Tràng Tiền. Cứ khó nhọc được vài bước bà lại dừng, ôm bụng nói thầm, con ơi ráng chút xíu nghe, gần tới nơi rồi. Đích đến của bà và đứa bé đang nóng lòng muốn chào đời là Bệnh Viện C trên phố Tràng Thi. Tại đó vào khỏang giờ Sửu bà đã sinh ra một bé gái mũm mĩm có cặp mắt to, khuôn miệng nhỏ và nước da đen thui. Sau này thỉnh thỏang bà vừa kể vừa cười “trời ơi lúc mới sanh nó xấu đau xấu đớn”, hic!
Sinh chị được 4 ngày thì ba chị về. Từ bến xe ông đi thẳng vô bệnh viện thăm vợ con. Anh Hai chị Ba sinh ra trong kháng chiến nên chỉ được gặp ba khi đã vài tháng tuổi, chị là đứa con duy nhất ông gặp mặt khi chưa đầy tháng, có lẽ vì vậy mà chị quấn quýt với ba nhất nhà dù ông vẫn luôn đi xa.
Hai tuổi. Má hỏi: lớn lên con thích làm gì? Lớn lên con thích đi hát lương! Giọng đớt đát cô bé trả lời, vì nhà trong khu tập thể của Đoàn Cải lương Nam bộ nên suốt ngày cô bé được nghe ca cải lương mà.
(Nhời bình của Hậu Khảo Cổ: eo ơi, sến từ nhỏ!)
Bốn tuổi. Má hỏi: lớn lên con thích làm gì? Lớn lên con thích đi ăn bún riêu! Suy nghĩ căng thẳng một lúc cô bé trả lời dứt khoát. A, đó là món khoái khẩu của cô nhỏ mà.
(Nhời bình của HKC: Trời ơi, tâm hồn ăn uống đã có từ rất sớm!!!)
Sáu tuổi. Má hỏi: lớn lên con thích làm gì? Lớn lên con thích đi chơi! Không chần chừ cô bé trả lời một cách nghiêm túc. Á, là vì đi học lớp 1 rồi, không được tự do chạy nhảy nữa mà.
(Nhời bình của HKC: Bụi đời rất hợp với tính iem!!!)
Tám tuổi. má nói đùa: Hôm nay má cho ăn phở, về đừng kể với chị nhé. Chạy vào nhà, cô bé nói với giọng rất vô tư lự: chị ơi, hôm nay má không cho em ăn phở đâu!
(Nhời bình của HKC: dù nhiều tính xấu nhưng còn may được cái thật thà kéo lại!!!)
Bây giờ, cô bé ấy đã là một người đàn bà không còn trẻ nữa (ấy là hơi quá tự tin khi nói thế, lẽ ra cứ phải nói thẳng nói thật là… già rùi). Vẫn da nâu mắt to, miệng nhỏ. Vẫn sến như con sên bên cây chuối, ấy là tự nhận thế. Vẫn luôn quan tâm đến cái sự ăn uống, nhưng cũng biết nấu nhiều món khá lạ và ngon, ấy là nhận xét của hai công chúa và ông thân sinh ra chúng. Vẫn thích đi chơi nên đã chọn một cái nghề hay lang thang dù đôi lúc cũng hơi “ân hận”. Và vẫn thật thà, dù biết rằng “thật thà chịu nhiều xót xa” như lời một bài hát chị thường ngâm nga…
Xy năm trước chị đã có mặt trên cuộc đời. “Ngày chị sinh trời cho”… một số phận luôn SẾN + ĂN + CHƠI + THẬT (THIỆT) = THÀ như thế! Đã vào tuổi sáu mươi vài năm nay một cách bình thường như mọi người, nhưng U 70 rồi mà vẫn tin vào cái kết đẹp của mọi chuyện cổ tích thì đó là bất thường 😀
Chúc mừng sự bất thường của người luôn yêu thích những gì khác thường 🙂



NGÀY GIỖ CHA

 Ngày 17 tháng 8 âm lịch là ngày giỗ Ba.

Gia đình thường tụ hợp đông đủ với Ba vào ngày này, nhưng chỉ đến ngày cuối tuần mới có thể mời bà con bạn bè đến nhà uống với Ba ly rượu.
Thi thỏang con vẫn gặp Ba về với con trong mơ. Đó là những lúc con gặp điều không vui, những lúc con buồn lòng vì người này, vì chuyện nọ. Những lúc ấy con nhớ Ba, mong có một người hiểu con, thương con như Ba, để con có thể dựa dẫm mà không thấy ngại ngần, để con có thể hờn giận mà biết rằng mình luôn được tha thứ… Sự nhân hậu của ba vẫn bên con, hàng ngày...
“Con gái giống cha giàu ba họ”, người ta nói vậy. Nhà mình chẳng bao giờ giàu có nhưng cũng không quá nghèo, vì mình có một nghề tử tế để kiếm sống. Biết đủ là đủ, ba vẫn dạy tụi con như thế mà. Người ta còn bảo “con gái nhờ đức cha”. Con nghĩ, con cái còn là Đức của cha mẹ. Nhìn con cái người ta có thể biết cha mẹ là người như thế nào. Sống thế nào để cha mẹ không bị thiên hạ “mắng vốn”, anh chị em con cố gắng sống như thế, và cũng mong các con của mình như vậy… Ba ơi, con nghĩ, ít nhất đến lúc này Ba có thể hài lòng vì các cháu nội ngoại của Ba.
Mỗi năm con lại đọc những gì Ba viết trong Nhật ký Dọc đường lưu diễn. Để hiểu hơn về Ba Má, hiểu hơn về một thế hệ những con người đã sống trung thực với niềm tin và lý tưởng trong sáng!
Hình: Ba mình tại Báo Tuổi trẻ trong buổi tọa đàm về sân khấu tpHCM, khoảng 1983. Hình ảnh của Nhà báo Nguyễn Công Thành.
Một bài thơ của Thầy Hoàng Như Mai - người bạn thân thiết của ba mình.
Con nhớ Ba, nhớ Thầy!






TỪ MÙA THU CÁCH MẠNG

 https://congan.com.vn/tin-chinh/tu-mua-thu-cach-mang_182033.html

Nguyễn Thị Hậu

Mỗi năm gần đến ngày Quốc khánh 2/9 – là ngày Độc Lập theo cách gọi quen thuộc trong gia đình tôi từ thời ông bà nội – tôi lại nhớ đến những gì ba tôi thường kể lại, về những ngày đi theo “tiếng gọi sơn hà” từ tháng Tám năm 1945.

Trước năm 1945, ba tôi tôi dạy học ở Cái Răng, một thị trấn nhỏ - nay là một quận của thành phố Cần Thơ. Sau đó được đổi về dạy ở quê nhà, trường huyện Chợ Mới – An Giang. Ba tôi viết trong hồi ký: Khi còn là một thầy giáo dạy ở trường quận, tôi đã mê diễn kịch, tôi hăng hái tập cho học trò hát những bài như: Tiếng gọi thanh niên, Bạch Đằng Giang, Kinh cầu nguyện, Xếp bút nghiên… Hè năm 1943, tôi tổ chức một đêm diễn: có hài kịch ngắn, có đồng ca, có đơn ca và bản thân tôi cũng tham gia diễn kịch. Buổi diễn khá thành công. Tôi viết thư về báo cho tía tôi. Tía ghi chú vào chỗ giấy còn trống trong thơ: “Tía coi thơ này mà rùng mình, rợn óc cho tương lai của con. Nếu tạo vật dắt đường cho con đi về con đường hát xướng thì đời con sẽ vất vả, nhưng mạng vận biết sao?”. 

Những ngày năm đó, chiều chiều, ba tôi hay lên cầu đúc, đứng dựa lan can nhìn xuống dòng nước phù sa cuồn cuộn, ngút ngát dòng sông về phía Cần Thơ, rồi đi xa, xa lắm… ông mơ một cuộc đời được đi khắp nơi cho thỏa chí tang bồng. Những chiếc xe du lịch sang trọng chạy qua chạy lại, trên xe là quan lại binh lính người Pháp, ba tôi chua xót nghĩ rằng, một thầy giáo nghèo như ông nhứt định là chết già ở một cái trường làng nào đó… Mơ làm gì những cuộc du lịch trên đất nước đang bị ngoại bang đô hộ!

Tháng 3/1945, quân Nhật lật đổ chính quyền thuộc địa của Pháp ở Đông Dương. Ngày 25/8/1945, nhân dân Sài Gòn giành chính quyền từ tay quân Nhật. Tuy nhiên, chỉ 28 ngày sau, quân Pháp với sự giúp đỡ của quân Anh đánh chiếm lại Sài Gòn. Ngày 23/9/1945 Nam bộ kháng chiến bùng nổ. Trong cái khí thế hùng dũng ban đầu của Cách mạng, ba tôi được cuốn theo làn sóng kháng chiến. Ông đến Ủy ban tỉnh An Giang, xin vào công tác. Cấp trên biết ông có chút ít kiến thức, lại có khiếu văn nghệ, nên phân công ông lo tổ chức một đoàn kịch. Vậy là cùng một số đồng chí, ba tôi thành lập Đoàn kịch Cứu quốc.

Khi ba tôi xin phép được “đi hát”, ông nội tôi suy nghĩ rồi nói “Tía xem đời Cụ Hồ chẳng khác nào như đức Thích Ca. Cụ là người như vậy, mà cụ cho hát, chắc là hát có ý nghĩa. Trào Tây, hát là xướng ca vô loại. Bây giờ, hát cho Chính phủ Cụ Hồ là hát cứu nước. Tía đồng ý cho con đi hát”. Ngày bác tôi và ba tôi ra bưng biền kháng chiến, ông nội đã khấn trước bàn thờ ông bà “Hôm nay con đưa hai con đi theo Cụ Hồ đánh Tây giành độc lập, không để cho thằng Tây ngồi lên đầu lên cổ dân mình. Con cháu có gì sai quấy mong Cụ dạy bảo. Cầu trời Phật ông bà phù hộ cho con cháu bình an!” Giản dị vậy thôi, bởi vì đối với ông nội tôi, Cụ Hồ là người vì dân vì nước. Sự giác ngộ đầu tiên của ba tôi và nhiều người cùng thế hệ ông là niềm tin vào tấm gương Cụ Hồ, dù chưa hiểu biết nhiều về “lý tưởng cộng sản” nhưng họ là những người yêu nước nên đã tích cực tham gia Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp.

Kể từ ngày đó, ba tôi và đoàn hát của ông đã vượt qua chín năm dài khó khăn và ác liệt, đi bộ chèo ghe băng đồng lội nước lưu diễn khắp miền Tây Nam Bộ. Cũng trong những ngày này ba tôi đã sáng tác nhiều ca khúc như Hồn thiêng chiến sĩ, Tuyên truyền lưu động, Làn sóng dân chủ, Tháp Mười anh dũng... Nhưng trong đó ca khúc “Cương quyết ra đi”sáng tác ngày đầu khánh chiến  là một bài hát được nhiều người yêu thích và thuộc lòng. “Cờ Việt Nam bao năm nhuộm máu hùng anh... Ta ra đi mùa thu xa xưa ấy, vung gươm thiêng ta cắt đứt đường tơ vương”. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng – một học trò của ba tôi - cũng nhớ lại: “Kháng chiến. Học trò trở về trường nhưng thầy không dạy nữa, thầy đã vào bưng biền rồi, thầy đã “Cương quyết ra đi” như lời bài hát đầu tiên của thầy vang trên khắp nẻo đường kháng chiến. Thầy lập đoàn hát “Cứu quốc đoàn”, “Tuyên truyền xung phong” từ sông Tiền dài xuống sông nước vùng đất U Minh, từ đó thầy gắn cuộc đời mình với sân khấu, từ Nam ra Bắc rồi từ Bắc trở về Nam cho đến hết cả cuộc đời”.

Tại bưng biền miền Tây, ba tôi cùng đoàn “Truyền bá vệ sinh” sáng tác và biểu diễn những vở kịch, bài ca vui nhộn, sinh động mà rất khoa học để tuyên truyền cho đồng bào giữ vệ sinh nhà ở, nhà tắm, cầu tiêu, giữ sạch môi trường sinh sống như kinh rạch, vườn tược, góp phần bảo vệ sức khỏe và tránh các dịch bệnh... Không nề hà bất cứ nhiệm vụ gì được giao, các đoàn hát của ông đi đến đâu cũng được đồng bào, chiến sĩ yêu mến, trông đợi... Nhờ đó, ông cũng “tuyển” được nhiều “diễn viên”. Sau này một số cô chú tập kết ra miền Bắc và trở thành những nghệ sĩ nổi tiếng.

Năm 1954, theo sự phân công của tổ chức, ba tôi cùng nhiều đồng nghiệp đi tập kết. Kế tiếp là những năm dài ông thường xuyên vắng nhà vì những chuyến lưu diễn khắp nơi của Đoàn Cải lương Nam bộ, Đoàn kịch nói Nam bộ mà ba tôi làm trưởng đoàn: rừng núi Việt Bắc, đồng ruộng Khu Ba, khu mỏ Quảng Ninh, giới tuyến Hiền Lương, đường 559 Trường Sơn… Cho đến tháng 4.1975 ông được trở về Sài Gòn, về An Giang quê hương yêu dấu sau hơn hai mươi năm “ngày Bắc đêm Nam”.

***

Những câu chuyện trong gia đình tôi về sự tham gia kháng chiến của thế hệ ông cha luôn thể hiện đạo lý “Giữa đường thấy sự bất bằng chẳng tha”. Đây được coi là một tính cách nổi bật của người Nam bộ. Tính cách này được hình thành từ nguồn gốc của những thế hệ lưu dân vượt qua mọi hoàn cảnh nghèo khó, trốn tránh tù tội, chống lại sự áp bức… đi vào khai phá vùng đất mới, nơi trời cao đất rộng nhưng hoang sơ lạ lẫm, trên bờ cọp kêu dưới sông sấu táp, xung quanh đều là những người xa lạ. Vì vậy họ không câu nệ nguồn gốc dòng họ hay thân phận, “tứ hải giai huynh đệ”, bởi vì họ chỉ có một “cái vốn” mang theo để có thể sống: tình nghĩa và đoàn kết, trong hoàn cảnh ngặt nghèo nào cũng chống lại sự bất công. Từ khi Nam kỳ bị mất vào tay giặc Pháp, người dân Nam bộ không ngừng đấu tranh, bởi không cam chịu sự bất công lớn nhất là dân tộc Việt bị mất nền độc lập - tự do.

Câu chuyện đi theo cách mạng của ba tôi và của nhiều chú bác cùng thời rất tự nhiên và giản dị như lẽ sống đời thường. Từ một thầy giáo “ham đờn ca hát xướng”, ông đi kháng chiến đánh Tây bằng cách góp công sức làm nghệ thuật phục vụ đồng bào, chiến sĩ. Lý tưởng “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” đã được thế hệ “Mùa thu rồi ngày hăm ba...” hy sinh cuộc sống cá nhân, hy sinh của cải, tính mạng để dành lấy cho đất nước. Tôi nhớ mãi ngày đầu tiên ba tôi được trở về quê nội, đừng trước bàn thờ ông bà, ông kính cẩn thưa rằng: Ba ơi! Khi con về thì ba má không còn nữa. Nhưng con đã cố gắng làm tròn lời ba căn dặn khi ba phó thác con cho Bác Hồ dạy dỗ: Con theo Cụ Hồ ra đi làm việc nước, đánh Tây giành độc lập”.

 TP. Hồ Chí Minh, tháng 8.2025

*Ba tôi (người tóc bạc trắng, keo kiếng trắng) Nghệ sĩ ưu tú, đạo diễn Nguyễn Ngọc Bạch, Nguyên Phó Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao TPHCM  cùng đoàn nghệ sĩ TPHCM tại HN trong dịp Đại hội Hội sân khấu toàn quốc lần thứ II - 1983



NGÀY MAI ĐANG BẮT ĐẦU TỪ NGÀY HÔM NAY


Đất nước bước vào mùa thu đặc biệt, mùa thu của 80 năm Dân chủ cộng hòa. Trong gia đình tôi ngày 2/9/1945 được gọi là Ngày Độc Lập. Vì đó là ngày cha mẹ chú bác tôi lên đường đi theo “tiếng gọi sơn hà” giành nền độc lập cho tổ quốc.
Nhiều người Việt Nam thời đó học hành rất giỏi, dành được học bổng của chính quyền Pháp, khi trở thành bác sĩ, thầy giáo, kỹ sư, luật sư, công chức cũng được ưu đãi vật chất… Nhưng cũng nhờ có học nên những người trí thức hiểu rằng không ai có quyền áp bức bóc lột ai, họ tiếp nhận văn minh phương Tây để hiểu về Tự do, Bình đẳng, Bác ái giữa các quốc gia. Và họ, bằng nhiều hình thức việc làm khác nhau, đã tham gia vào cuộc đấu tranh chống chính quyền thuộc địa vì mục tiêu Độc lập Dân tộc. Đó là ước nguyện và niềm tin của người Việt Nam trong suốt hai cuộc kháng chiến.
Sau khi hòa bình – thống nhất vào tháng 4/1975, hơn mười năm sau cả nước vật vã trong “cơn bệnh ác tính” thời bao cấp. Đến nay, nếu tính từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới vào năm 1986 thì cũng gần 40 năm trôi qua.
Khi công cuộc Đổi mới được khởi xướng, tôi là một giảng viên trẻ. Cuộc sống quá thiếu thốn vất vả nên chúng tôi cũng lam lũ việc chân tay như mọi người. Ai cũng phải làm thêm việc phụ - nhưng lại là việc chính để mang lại chén cơm tấm áo cho con cái. Thôi thì không thiếu “ngành nghề” gì: nuôi heo trong nhà tắm, nuôi cá trê phi dưới gầm giường, dán bao thơ, túi giấy cho bưu điện, đóng sách bằng tay cho nhà in, bán báo, chở hàng thuê, bỏ mối hàng... khá hơn thì có máy may để may đồ gia công, hay tham gia các “tổ hợp” làm hàng tiêu dùng kiểu “Hồng kông bên hông Chợ Lớn”... Vài ngày lại xếp hàng mua từ cây kim sợi chỉ đến cân gạo, bó củi, mớ rau…
Lúc đó tôi chưa hiểu hết khái niệm “Đổi mới” là thế nào, thể chế cơ chế là gì? Nhưng là một người phụ nữ, tôi nhận ra sự “đổi khác” bắt đầu từ chén cơm của con có thêm miếng thịt miếng cá, ngoài chợ hàng hóa nhiều hơn và dễ mua hơn, không còn phụ thuộc vào thái độ vui buồn của “cô mậu dịch”. Đổi khác từ mảnh ruộng miếng vườn của ông bà ở nhà quê được tự do trồng trọt và tiêu thụ nông sản... Người dân lúc ấy, có lẽ không cần biết đến những khái niệm to tát, nhưng luôn nhìn nhận rất rõ từng đổi thay hàng ngày: có hàng hóa ngoài chợ, có cơ hội làm ăn, cuộc sống “dễ thở” hơn, và nghĩ rằng cứ như vậy thì đời con mình sẽ khá hơn hôm nay. Bao nhiêu sự “đổi khác” nho nhỏ hàng ngày, thiết thực với từng người dân tạo thành sự “Đổi mới” của đất nước, mà sau này hay được nhắc đến bằng cụm từ “chấm dứt bao cấp và mở cửa”. Có lẽ đó là hạnh phúc giản dị cụ thể mà mỗi người dân đều mong đợi một “cơ chế thể chế” mang lại.
***
Có thể nói, “đổi mới” mang lại sự thay đổi đời sống vật chất vô cùng nhanh chóng! Bốn mươi năm ấy thế hệ chúng tôi được trải nghiệm vô vàn những hiện tượng riêng, rất “Việt Nam”. Ra khỏi chiến tranh, từ một đất nước thiếu ăn trở thành quốc gia xuất khẩu lúa gạo, từ đất nước mà hàng tiêu dùng thiếu thốn trầm trọng nay đã có mặt trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Từ tài sản quý nhất của mỗi gia đình là chiếc xe đạp, nay nhiều người có xe hơi, điện thoại thông minh phổ biến và can dự thường xuyên vào cuộc sống mỗi người... Công nghệ của đất nước đang được ứng dụng thành tựu trí tuệ nhân tạo trên thế giới.
Bốn mươi năm trôi qua, kinh tế - xã hội nước ta từ nền “kinh tế bao cấp” đã “đổi khác”, tính chất thị trường ngày càng rõ hơn. Nhưng cũng không thể không nhận thấy, những cái Khác cái Mới thực sự vẫn còn ngập ngừng chưa tới? Đã qua một phần tư thế kỷ 21, cuộc sống bây giờ như con tàu cao tốc hiện đại nhưng vẫn chạy trên tuyến đường ray cũ kỹ, qua những vùng quê nghèo nàn dù hành trình có dừng ở vài nhà ga mới. Những người điều khiển chưa nắm vững thiết bị hiện đại của con tàunên còn xảy ra trục trặc. Hành khách có vẻ vừa thích lại vừa ngại “cái mới”, nhiều người chưa thoát khỏi tâm lý ngàn đời luôn đề phòng bất trắc, trong sự phấn khởi vẫn hiện diện nỗi lo sợ, hoài nghi...
Trong tình trạng đó “đoàn tàu hiện đại” chưa thể chạy hết công suất, vì còn lực cản, vì chưa an toàn, vì chưa đủ tự tin, chưa có sự đồng thuận... Tất nhiên, như vậy không thể không mang lại sự đổi mới thực sự như mong muốn.
Trong tiến trình lịch sử, những công cuộc đổi mới không chỉ là lựa chọn mà là bước phát triển tất yếu của nhiều quốc gia. Sự đổi mới có thể bằng nhiều phương thức (mà chiến tranh là tàn khốc nhất, có thể mang lại sự đổi thay nhưng hậu quả vô cùng lâu dài và nặng nề). Quá trình tiếp nối những đổi thay trên thế giới thể hiện quy luật xã hội. Thế kỷ 21 được vận hành trên cơ sở những thành tựu của công nghệ và dữ liệu Lớn (tính khách quan), tuân thủ pháp quyền và hiệu quả (tính chủ quan). Đó là một quy luật mà mỗi thể chế cũng như mỗi con người ở “thời đại số” – dù tuổi lão như thế hệ tôi – cần nhận biết.
Thực hiện đúng quy luật sẽ mang lại hiệu quả cho bộ máy và sự vận hành của chính quyền, mang lại những lợi ích cho người dân thụ hưởng. Việc tinh giản và phân cấp chính quyền địa phương thể hiện cơ chế hành chính hướng tới mối quan hệ thực chất giữa chính quyền và người dân, hướng đến mục tiêu quản trị nhà nước dần chuyển từ xin – cho sang phục vụ, từ mệnh lệnh hành chính sang đối thoại và tích hợp dữ liệu. Đồng thời, xây dựng hệ thống pháp luật và chính sách phù hợp thực tiễn, minh bạch và được giám sát bởi người dân.
Sự đổi mới không hề dễ dàng. Nếu năm 1986 đổi mới không thể chậm trễ vì tình trạng trì trệ đã dẫn đến những hậu quả nặng nề đối với từng người dân, kéo cả nước “đi lùi hàng thập kỷ”, thì công cuộc đổi mới hiện nay càng không thể chần chừ, khi mà thế giới đã bước vào “kỷ nguyên số” với tốc độ được tính từng phần ngàn giây, đồng thời cũng đặt ra thách thức đối với thế giới hiện đại là sự minh bạch, công khai, nhân văn và công bằng. Việt Nam nếu mãi câu nệ, níu kéo “sự đặc thù” của thế kỷ trước, thì đó là cách nhanh nhất kéo quốc gia mình ra khỏi sự phát triển chung của nhân loại.
***
Thế hệ chúng tôi tự nhận là thế hệ “bản lề”, vì sinh ra trong thời chiến và lớn lên trong thời bình, vất vả từ thời bao cấp sang những khó khăn thời mở cửa đổi mới... Đó là những ký ức không phai, nhưng chắc chắn không ai muốn trở về thời gian đó. Có thể nói chúng tôi chứng kiến, tham gia và góp phần tác động vào công cuộc xoá bỏ thời bao cấp. Cũng như cả nước, mỗi người đã “tự cứu mình trước khi trời cứu” như lời một vị lãnh đạo khi ấy đã nói. Cấp trên chuyển động, cấp dưới chuyển động, từng người chuyển động, cả guồng máy chuyển động. Lúc đầu còn chưa đồng bộ nhưng rồi dần dần như chiếc xe chở nặng, khi có đà rồi bánh xe cứ thế quay đều quay đều và nhanh dần…
Xã hội qua khỏi thời bao cấp giống như chuyển từ xe đạp sang xe máy. Tốc độ nhanh hơn, hiệu quả cao hơn, đi xa hơn. Đó cũng là những mục tiêu mọi cuộc đổi mới hướng đến. Muốn vậy việc lựa chọn phương tiện phù hợp và những điều kiện đi cùng là rất quan trọng. Thời đại hiện nay sự phát triển nếu so với phương tiện giao thông thì ít nhất, cần phải như tàu cao tốc. Tuy nhiên, muốn có metro trong một thành phố hay tàu cao tốc liên vùng thì không chỉ cần đoàn tàu mới. Quan trọng nhất là hệ thống đường ray hợp lý, hiện đại, an toàn, toàn bộ hệ thống phải đồng bộ khi “đấu nối” với nhau. Sự phát triển quốc gia với những kế hoạch, quy hoạch ngắn hay dài hạn, quy mô khu vực hay toàn quốc… có thể được coi như một mạng lưới đường sắt cao tốc như vậy! Hợp lý và khoa học hệ thống nào cũng vận hành trơn tru và mang lại hiệu quả cao.
Với công cuộc đổi mới hiện nay – người dân có thể không mấy quan tâm đến những khẩu hiệu “đao to búa lớn” mà hay nhìn từ những việc cụ thể, đơn giản, thiết thực cho mỗi người. Bởi vì mỗi người là một bộ phận – dù nhỏ xíu như chiếc đinh ốc - của cỗ máy xã hội. Sự vận hành cỗ máy nào cũng phải bắt đầu từ sự chuyển động của từng bộ phận. Không thể kỳ vọng ngay lập tức sẽ giải quyết hết mọi khó khăn cho người dân, bất bình đẳng với các thành phần xã hội, nhất là trong kinh tế. Nhưng tôi có quyền kỳ vọng những “điều mới, điều khác” chính quyền đang và sẽ làm. Đó là thực sự tôn trọng và phục vụ nhân dân, không tạo thêm bất công xã hội, không tạo điều kiện cho tham nhũng lãng phí hoành hành, không đẻ ra “cơ hội” cho những kẻ cơ hội chuyên “làm nghèo đất nước”.
Tám mươi năm qua, những thế hệ người Việt Nam đã dũng cảm hy sinh tính mạng chiến đấu chống ngoại xâm, biết bao con người đã hết mình lao động xây dựng tổ quốc, vì họ hiểu một cách sâu sắc rằng, giá trị của nền độc lập quốc gia chỉ trọn vẹn khi nhân dân được Tự do và Hạnh phúc – những giá trị phổ quát của nhân loại. Bốn mươi năm từ cuộc đổi mới xoá bỏ bao cấp, nếu cuộc cải cách hiện nay được thực hiện với lòng dũng cảm vàkiên nhẫn, hướng đến nhân dân bằng sự chân thành và khoan hòa, sẽ không chỉ mang lại “diện mạo mới, sinh khí mới” cho bộ máy chính quyền, mà còn khơi dậy niềm tin và sự hy vọng của nhân dân vào một xã hội mới: nơi mà điều tử tế trở thành bình thường, mọi người được tôn trọng và đối xử công bằng, cuộc sống vật chất đủ đầy và đời sống tinh thần nhân văn, tự do.
Nguyễn Thị Hậu
Đặc san báo Tuổi trẻ số 2/9/25



TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...