Hiển thị các bài đăng có nhãn báo chí. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn báo chí. Hiển thị tất cả bài đăng

"ÁP LỰC" TỪ MỘT BÀ ĐỠ NGHIÊM KHẮC VÀ TỬ TẾ

 

Tuổi Trẻ cuối tuần trong tôi.

Tuổi Trẻ Cuối Tuần là tờ báo tôi được bén duyên rất sớm! Là một người làm công tác nghiên cứu lịch sử và khảo cổ, khi bắt đầu cộng tác với tờ báo là tôi biết mình bước vào một không gian văn hóa một địa chỉ lan tỏa tri thức. Những cộng tác viên đồng thời là độc giả lâu năm với tờ báo như tôi hiểu rằng: TTCT dừng lại, không đơn thuần là sự vắng mặt của một ấn phẩm mà là sự khép lại của một diễn đàn trí thức đầy bản lĩnh – nơi lịch sử chưa bao giờ bị coi là chuyện của quá khứ xa xôi mà luôn là mạch ngầm chảy trong đời sống hôm nay.

Nhiều người thường nghĩ viết báo cho đại chúng là một cuộc dạo chơi nhẹ nhàng của những nhà nghiên cứu. Nhưng với riêng tôi, mỗi lần nhận lời viết bài cho TTCT là một lần tự đặt mình vào một thử thách, bởi vì Tòa soạn không cần những bài luận bàn lý thuyết suông. Áp lực lớn nhất mà các biên tập viên TTCT luôn đặt ra cho cộng tác viên trước các vấn đề xã hội chính là: Làm sao để chạm vào số đông? Làm sao để câu chuyện học thuật “cao siêu” trở thành câu chuyện gần gũi của mỗi gia đình?

Với tôi thách thức đó hiện lên ở mảng đề tài dạy sử và học sử. Trên trang báo TTCT, tòa soạn đã nhiều lần cùng các chuyên gia đi tìm lời giải cho câu hỏi nhức nhối: Vì sao học sinh chán sử? Làm sao để việc học sử không còn là gánh nặng của những mốc thời gian hay những con số khô khốc? Từ câu chuyện nhỏ của một cậu bé học lớp 5, trước kỳ thi cháu học mãi vẫn không thể thuộc tên các loại rìu đá và nơi tìm ra chúng. Tôi nhận ra những kiến thức đời thường khi trở thành lịch sử trong sách giáo khoa lại trở nên xa lạ và khó hiểu. Khó khăn của người viết lúc này là phải bước ra khỏi những định kiến thông thường, dùng lăng kính khoa học để lý giải một thực tế: lịch sử đang tách rời khỏi dòng chảy xã hội và sự quan tâm của người trẻ, nhất là học sinh phổ thông.

Và cũng từ những trăn trở về giáo dục ấy, TTCT đã gợi mở, đồng hành cùng tôi đi sâu vào một lát cắt vô cùng ý nghĩa: Lịch sử gia đình, dòng họ. Các bài viết của GS Ngô Vĩnh Long, nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân đã mang lại một cách nhìn mới: lịch sử đất nước không ở đâu xa xôi, nó được viết nên từ lịch sử của từng ngôi nhà, từ nếp nghĩ, gia phong, và từ chính những góc phố, hàng cây, ngôi trường cổ mà ông bà, cha mẹ và con cháu cùng từng đi qua. Khi một đứa trẻ không còn những không gian vật chất để cùng sẻ chia ký ức với thế hệ đi trước, sợi dây liên kết thiêng liêng với lịch sử dân tộc sẽ bị đứt gãy. Đó chính là cách học sử tự nhiên và bền vững nhất.

Nhắc lại điều này để thấy, việc bảo tồn không gian di sản chính là đang bảo tồn một "giáo cụ trực quan" sống động nhất cho việc học sử và giữ gìn gia phong. Điều này đã khích lệ tôi giới thiệu cuốn sách tự thuật “Lưu niên ký sự” của ông nội tôi, một công trình ghi chép tỉ mỉ về một gia đình, qua đó là một dòng họ ở Nam bộ trong giai đoạn cuối thế kỷ 19 – giữa thế kỷ 20. Qua đó góp phần tìm hiểu lịch sử, văn hóa và con người Nam bộ.

Từ năm 2010 trên trang báo này, tôi đã chia sẻ về sự biến mất của những "không gian công cảm" – những không gian công cộng, những công trình kiến trúc cổ nơi lưu dấu ký ức chung của nhiều thế hệ. Hai nhà báo Phan Cầm và Khổng Loan đã đặt câu hỏi cho tôi trong bài phỏng vấn đầu tiên về di sản đô thị Sài Gòn:  Khi những không gian công cộng, những di sản vật thể quanh ta bị xóa bỏ, người trẻ sẽ tìm đâu ra cái "neo" để gắn kết với quá khứ? Vai trò cũa những nhà khảo cổ, nhà nghiên cứu như chúng tôi đang ở đâu trong tình trạng di sản ngày càng hao hụt, biến dạng? Đó không chỉ là một câu hỏi mà tôi hiểu, đó là vấn đề trách nhiệm của giới nghiên cứu khi vẫn loay hoay trong không gian học thuật hàn lâm, mà chưa bước ra tiếp cận thực tiễn và giải quyết các vấn đề một cách trực diện!

Đáng buồn nhiều vấn đề được đặt ra từ ngày ấy đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự, thậm chí trở nên “bình thường” khi tốc độ và quy mô xâm hại di sản thiên nhiên ngày càng lớn, di sản văn hóa bị khai thác thương mại hóa ngày càng nhiều.

Nhiều năm cộng tác với Tuổi Trẻ Cuối Tuần tôi hiểu viết về di sản văn hóa chưa bao giờ là việc dễ dàng, bởi vì tòa soạn luôn đòi hỏi một cái đầu lạnh của người nghiên cứu và một trái tim nóng của người yêu văn hóa. Chính sự khắt khe ấy đã giúp nâng tầm những bài viết về văn hóa gia đình, về phương pháp dạy sử từ chỗ tưởng như là góc nhìn cá nhân trở thành một vấn đề xã hội có tầm ảnh hưởng nhất định. Viết về di sản rất dễ đụng chạm đến vấn đề bất động sản, nhưng Tòa soạn đã cho những người làm nghiên cứu một điểm tựa truyền thông vững chắc, để chúng tôi hiểu rằng mình không hề cô độc trong nỗ lực bảo tồn các di tích lịch sử, chỉ ra nguyên nhân của những xâm hại phá bỏ di sản... Từ đó đưa những giá trị di sản gần với đời sống, về với giá trị cốt lõi của xã hội.

Bên cạnh đó tòa soạn còn nâng tầm nhiều bài viết không chỉ ở mức thông tin, mà trở thành những tiếng chuông cảnh tỉnh, góp phần giữ lại từng di tích, từng lễ hội, từng sinh hoạt cộng đồng với những giá trị nguyên vẹn của nó. Tôi nhớ mãi TTCT đã đặt tựa cho một bài viết của tôi “Đừng để chìm chợ nổi” mang tính hấp dẫn của báo chí đồng thời cũng là lời cảnh báo khẩn thiết cho một di sản văn hóa sông nước ở đồng bằng sông Cửu Long.

Tôi và nhiều người vẫn quen với thương hiệu TTCT dù báo đã chuyển qua cuối tháng từ đầu năm 2026. Nhưng rồi TTCT cũng đi đến số cuối, những trang báo in thơm mùi mực, những trang online quen thuộc rồi sẽ trở thành một phần di sản của báo chí đương đại. Nhưng với tôi, tinh thần khoa học, sự tử tế và cái tâm giữ gìn "ký ức lịch sử" mà Tuổi Trẻ Cuối Tuần thắp lên sẽ không bao giờ lụi tàn. Nó đã kịp bén rễ sâu trong lòng độc giả và trong hành trình nghề nghiệp của những cng tác viên. Từng trang báo đã nhắc nhở chính chúng ta cách ứng xử với quá khứ và đối thoại với tương lai.


Tháng 6. 2026. Nguyễn Thị Hậu


 

VÀI KỶ NIỆM VỚI BÁO CHÍ TPHCM

 Từ tuần trước đến ngày 30.6.2026, những tờ báo ở TPHCM bị giải thể đã xuất bản những tờ báo in số cuối cùng, ngày mai, 30/6/26 sẽ có những số đặc biệt chào tạm biệt bạn đọc. Là một bạn đọc và ít nhiều là cộng tác viên của những tờ báo đó, lại thân thiết với không ít bạn làm báo từ quản lý đến nhà báo, phóng viên... Thật khó có thể chỉ chia sẻ bằng những lời nói với các bạn!

Báo Phụ nữ TP – những lần đầu tiên

Năm 1998 lần đầu tiên tôi được phỏng vấn là từ báo Phụ nữ Tp, lúc đó tôi vừa bảo về luận án TS.KCH về Cần Giờ xong thì chủ trì khai quật Lò gốm cổ Hưng Lợi, và được bổ nhiệm làm Phó Giám đốc BTLS. Có thể coi đó là sự mở đầu của tờ báo này với những cái “đầu tiên” của tôi. Thật ra truyện ngắn đầu tiên của tôi được PNTP đăng từ 1981 (sau đó... tôi không viết gì nữa cho đến khoảng 2005 mới bắt đầu viết lại). Báo PNTP cũng là tờ báo đầu tiên PV tôi về cuốn sách “Đô thị SG-TPHCM Khảo cổ học và bảo tồn di sản” khi mới xuất bản, và sau đó khi cuốn sách này được giải thưởng của Hội Quy hoạch phát triển đô thị VN. Một giải thưởng tôi rất quý vì nó đã ghi nhận vai trò của KCH đô thị đối với bảo tồn di sản trong quy hoạch phát triển các thành phố ở VN.

Với PNTP tôi còn có nhiều bài trả lời PV về các vấn đề xã hội và di sản văn hóa, vài tùy bút, tản văn đăng ở đây, và sau còn được làm giám khảo một cuộc thi viết về TPHCM, kết quả được in thành sách. Còn sự yêu thích nhất thì tôi khoái đọc “chị Hạnh Dung” vì sự hóm hỉnh, hồn hậu và cũng rất đàn bà – hiện – đại. Mọi vấn đề cứ nhìn nhận nhẹ nhàng và rồi sẽ tìm ra cách giải quyết. Phụ nữ rất cần một cách sống như vậy 😊



Báo Pháp luật TP – những mẩu ký ức Sài Gòn

Khi nhà báo Lê Văn Nghĩa rủ, Hậu ơi anh em mình viết gì về SG nhé, anh giữ một chuyên mục trên PLTP, thì tôi nhận lời với chút dè dặt. Em viết được không ạ, vì chỉ mới biết về Sg từ sau 1975? Được chứ, em cứ viết như em cảm nhận, SG luôn thay đổi nhưng vẫn giữ bên trong hồn cốt của nó, nghề của em là phải nhìn ra điều đó! Lời động viên này của anh Lê Văn Nghĩa đến giờ vẫn giúp tôi động lực để viết về SG, bởi Sài Gòn đâu của riêng ai, SG càng không giới hạn ai được viết, được thể hiện tình yêu với nó!

Từ những bài viết nhỏ về SG trên PLTP tôi có một tập sách cũng nhỏ “Sài Gòn bao giờ cũng thế”, với đoạn cuối của Lời mở đầu: “Nếu một lần nữa bắt đầu cuộc sống và được lựa chọn nơi mình muốn sống, tôi vẫn chọn Sài Gòn. Vì bạn biết không, chẳng bao giờ là muộn để ta có thể nói với thành phố này: TẠ ƠN ĐẤT LÀNH!” [nguyên văn câu cuối là “Sài Gòn – Em yêu anh!” – biên tập đọc xong đề nghị sửa lại, chứ không thì khối anh đánh nhau vì chị đấy 😊 ]

Những năm gần đây hầu như Tết nào tôi cũng có 1 bài về di sản đô thị “hoành tráng” ở ngay trang giữa của cuốn báo tết PLTP. Tôi rất cám ơn dụng ý của báo muốn nhấn mạnh về ý nghĩa và giá trị văn hóa của TP! Nếu tôi không nhầm thì PLTP đã đặt vấn đề “phố của sông – sông của phố” nhấn mạnh giá trị và vai trò của sông SG với TPHCM từ rất sớm! Kiên trì quảng bá về di sản đô thị và văn hóa TP bên cạnh nội dung chủ yếu của mình, đó là điều làm tôi luôn quý trọng ở báo PLTP.


Báo Người lao động – nơi cho tôi cơ hội có nhiều giải thưởng báo chí

Từ khi nghỉ hưu tôi mới có dịp cộng tác với báo Người Lao động, cũng bắt đầu từ mảng văn hóa – xã hội. Năm 2015, từ đặt bài của nhà báo Dương Quang “đã nhiều người viết về TRịnh Công Sơn, em muốn chị viết một cách khác về TRịnh, và em biết chị viết được, chị viết nhé!”, bài viết trên NLĐ “Từ ngày mẹ cho” về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từ ký ức và cảm nhận riêng tôi về nhạc Trịnh, đã được nhiều bạn đọc đồng cảm.

Hàng năm, các anh chị thường nhắn, báo đang làm chủ đề này này... chị giúp cho một bài nhé. Chủ đề nào cũng gắn với nghiên cứu và quan tâm của tôi nên tôi chưa từ chối bao giờ 😊 Và nhờ vậy tôi đã có 3 lần đạt Giải báo chí quốc gia và thành phố từ báo NLĐ, trong các tuyến bài Nghị luận xã hội. Ngoài ra còn có nhiều bài về khảo cổ đô thị và các vấn đề văn hóa, tôi cũng luôn được toàn soạn tin tưởng đặt bài. Năm 2026 tôi còn tham gia 2 cuộc thi viết ngắn do NLĐ tổ chức, để cám ơn sự đồng hành của báo với nhiều vấn đề gai góc của đời sống hàng ngày. Báo NLĐ cũng là tờ báo tổ chức nhiều sự kiện văn hóa và hoạt động xã hội mang lại hiệu quả cao! Bữa hôm phát giải cuộc thi “Thành phố tôi yêu”, chia tay các anh chị ở báo NLĐ mà buồn quá! Thương những người lao động thành phố sẽ thiếu vắng một món ăn tinh thần bổ ích!



Còn báo Tuổi trẻ, Tuổi trẻ cuối tuần/tháng, Doanh nhân Sài Gòn thì mình được các anh chị mời viết bài cho số cuối. Mình sẽ post sau.

Một lời cám ơn riêng tư: khi má mình mất, những người đầu tiên và những vòng hoa gửi đến viếng đầu tiên là từ các tờ báo của TP mà mình có dịp cộng tác. Không bao giờ mình quên điều này! Đó là một ân tình mà mình luôn cố gắng đền đáp, dù có thể đó chỉ là là phép tắc ứng xử thông thường giữa những con người.



CÁM ƠN THÀNH PHỐ THÂN THƯƠNG

 TC Xưa và Nay số ra ngày 26.6.2926


Nửa thế kỷ — một đời người, và cũng là một chương lịch sử đầy thăng trầm nhưng vô cùng kiêu hãnh của thành phố này. Là một người đã sống và gắn bó trọn vẹn 50 năm qua tại đây, nghĩ lại quãng đường dài đã qua trong tôi dâng lên một cảm xúc khó tả. Đó là sự đan xen từ tự hào cho đến những khoảng lặng hoài niệm.

Năm 1976, sau những ngày hòa bình đầu tiên đầy xúc động và ngỡ ngàng, thành phố bước vào thời kỳ mới sau chiến tranh với muôn vàn khó khăn của thời bao cấp. Ký ức thời ấy hiện diện trong mỗi người là những xếp hàng rồng rắn mua gạo mua củi theo sổ hộ khẩu, là những chiếc xe đạp cọc cạch chở hàng hóa trên đường phố thưa thớt ánh đèn, là những xóm nhà lá kênh đen ngay giữa lòng thành phố, là vùng ngoại ô ruộng lầy, nước ngập mênh mông khi triều cường.

50 năm sau, thành phố bây giờ mở rộng hơn nhiều lần, dân cư đông hơn, đa dạng hơn. Những đại lộ thênh thang, những tòa nhà cao tầng, hệ thống Metro hiện đại, cảnh quan thoáng đãng ven nhiều kênh rạch và một nhịp sống số hóa hối hả không ngủ. Một không gian mới mở ra cả 3 chiều: địa lý – lịch sử và ký ức, mang lại cho TPHCM một diện mạo mới mẻ. Nhìn lại hành trình 50 năm ấy người ta không khỏi kinh ngạc. Sự thay đổi không chỉ nằm ở những khối bê tông, những cây cầu vượt, mà là biểu tượng cho sức sống mãnh liệt, khả năng tự đứng dậy và vươn mình của một vùng đất.

Tháng 7.1976 cũng là thời điểm thành phố Sài Gòn – Gia Định chính thức mang tên TP. Hồ Chí Minh. Từ đó đến nay người dân thành phố có niềm tự hào về "cái chất" suốt 50 năm qua không bao giờ mai một: lòng bao dung và tinh thần nghĩa hiệp của con người nơi đây.

Người sống ở đây 50 năm đã chứng kiến thành phố này dang tay đón nhận biết bao cuộc đại di cư từ khắp mọi miền đất nước. Ai đến đây cũng được thành phố cho một cơ hội để mưu sinh, để đổi đời. Tự hào làm sao khi đi qua bao nhiêu biến động, từ những năm tháng gian khó cho đến những ngày gồng mình chống chọi với đại dịch, cái chất "bầu ơi thương lấy bí cùng", những bình trà đá miễn phí, những quán cơm xã hội, và tình người ấm áp vẫn cứ thế chảy tràn t các ngôi nhà trong con hẻm nhỏ đến những biệt thự mặt tiền đường lớn. Thành phố không chỉ lớn hơn về tầm vóc kinh tế, mà còn lớn hơn ở cái tâm thế của một trung tâm văn hóa, nơi hội tụ và dung hòa mọi sự khác biệt.

Bên cạnh niềm vui nhìn thấy thành phố phát triển, người sống ở đây nửa thế kỷ không tránh khỏi những phút giây chạnh lòng, tiếc nuối cho những giá trị cũ dần lùi xa.

Đó là nỗi nhớ những kiến trúc và cảnh quan xưa ở trung tâm - chứng nhân của thời kỳ đầu tiên xây dựng thành phố - nay đã bị thay thế bằng các trung tâm thương mại lấp lánh kính và thép. Những hàng cây cổ thụ hơn trăm tuổi nhường chỗ cho chiếc cầu hiện đại, nhiều di sản công nghiệp biến thành khu đô thị mới, mai này không ai còn biết thành phố từng là một trung tâm công nghiệp sớm nhất cả nước... Đó là sự tiếc nuối cho một nhịp sống có phần thong thả, bình yên ngày xưa, nay thay bằng sự ồn ào ngày đêm của kẹt xe, khói bụi và phát triển kinh tế của một đô thị siêu lớn với các tầng lớp dân cư ngày càng phức tạp.

Nửa thế kỷ trôi qua, đối với một người đã gắn bó 50 năm như tôi, thành phố này không còn là một địa danh trên bản đồ nữa. Nó là tuổi trẻ, là một phần cuộc đời tôi! Thế hệ chúng tôi - những người sinh ra trong chiến tranh và lớn lên trong hòa bình – tự hào vì đã góp phần không nhỏ vào sự đổi thay của thành phố và đất nước!

Vào những dịp lễ lớn, những “người Sài Gòn” đến từ mọi miền đất nước từ những năm 1975, 1976 sẽ ngồi lại với nhau một góc quán quen, nhìn dòng người hối hả ngược xuôi. Không cần nhiều lời bời vì trong mỗi người luôn có một lời cám ơn: Cảm ơn Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh vì đã cùng nhau đi qua giông bão, cảm ơn vì đã lớn mạnh, và cảm ơn vì đã luôn là ngôi nhà đầm ấm, thân thương cho những ai chọn nơi này là quê hương thứ hai!

Nguyễn Thị Hậu 





 

TẠM BIỆT BÁO IN HẸN MỖI NGÀY GẶP LẠI TUỔI TRẺ ONLINE

 


Tôi chưa từng nghĩ rằng sẽ có một ngày nào đó mình viết lời tạm biệt với một tờ báo mình quý mến –  báo Tuổi trẻ.

Thông tin về việc TP.HCM tổ chức lại các cơ quan báo chí, những thương hiệu mạnh một thời đứng trước sự thay đổi lớn, đặc biệt là báo in Tuổi Trẻ – một người bạn thân thiết của bao thế hệ độc giả – sẽ dừng bước để nhường chỗ hoàn toàn cho phiên bản Tuổi Trẻ Online. Thông tin này tuy không quá bất ngờ nhưng vẫn khiến lòng tôi chùng xuống một cảm xúc khó gọi tên. Tôi thuộc thế hệ gắn bó với những tờ báo in. Thói quen mỗi sáng được cầm trên tay tờ báo còn thơm mùi mực, lật từng trang giấy, lướt qua những tựa bài, những hình ảnh thời sự... không đơn thuần là đọc tin tức, mà là cảm nhận mình thuộc về đời sống của thành phố này. Giờ đây thói quen này sẽ dần dần chỉ còn lại trong ký ức của nhiều người dân TP. HCM.

Từ rất lâu rồi, với người Sài Gòn báo in không chỉ là phương tiện cập nhật tin tức. Đó là một thói quen, một lối sống và là một cách lưu giữ ký ức đô thị. Lùi lại những năm tháng cũ, ai mà không nhớ hình ảnh những sạp báo tràn ra vỉa hè, tiếng rao lảnh lót của những đứa trẻ bán báo dạo trong mưa nắng Sài Gòn. Thời ấy người bán báo nhiều hơn người bán vé số, bởi vì ở đâu cũng có những người chờ đợi tờ báo mỗi sáng như chờ một người bạn tâm giao. Thời ấy, đọc Tuổi Trẻ, người ta thấy hơi thở nóng hổi của cuộc chiến Tây Nam, cuộc chiến ở biên giới phía Bắc; thấy sự bức bối của thời kỳ “ngăn sông cấm chợ” và những làn gió từ “khe cửa hẹp” xé rào thời bao cấp ở TP. HCM. Từ tờ báo người ta chứng kiến những công trình đang lớn lên, những con người đang vượt khó, những phận đời mưu sinh vất vả, những vấn đề nóng bỏng của đất nước. Dù bài viết về chủ đề nào, tất cả luôn thấm đẫm tinh thần dấn thân của tuổi trẻ, sự thẳng thắn đậm chất Nam Bộ.

Bao nhiêu năm cầm tờ báo Tuổi trẻ, Tuổi trẻ cười, Tuổi trẻ cuối tuần thân thuộc... người đọc có thể tìm thấy trong đó những bài viết giúp nâng cao tri thức, mở rộng hiểu biết về văn hóa hay giải trí cho đầu óc nhẹ nhõm hơn sau những phút hối hả cùng cuộc sống.

Sự chuyển mình của công nghệ là không thể đảo ngược. Có thể báo chí thành phố rồi sẽ khoác lên mình tấm áo mới, tinh gọn hơn, hiện đại hơn. Khi báo điện tử lên ngôi, thông tin được tính bằng giây bằng phút, việc những trang báo in lùi lại phía sau là một hiện tượng mang tính thời đại. Chúng ta hiểu điều đó. Nhưng khi tất cả thu lại bằng một cái chạm trên màn hình smartphone phẳng lì vô cảm, người ta chợt nhận ra mình vừa đánh mất một trải nghiệm xúc giác đầy hoài niệm. Những tờ báo có thương hiệu mạnh một thời, nay đứng trước làn sóng tinh giản, sáp nhập hay chuyển đổi, giống như những người bạn đi cùng ta một quãng đường dài, đã được coi là hoàn thành nhiệm vụ lịch sửlặng lẽ rẽ sang một lối đi khác.

Riêng với tôi, bài phỏng vấn đầu tiên về di sản văn hóa là trên báo Tuổi trẻ, những truyện ngắn 100 chữ cũng hiện diện trên Tuổi Trẻ đầu tiên, nhiều bài “Thời sự và suy nghĩ” trên trang báo này về các vấn đề xã hội quan tâm. Báo Tuổi trẻ thực sự là một nơi luôn tạo điều kiện để những nhà báo nghiệp dư như tôi được góp một tiếng nói xây dựng thành phố. Điều đó chúng tôi sẽ không quên!

Giờ đây, báo in khép lại một chương cũ nhưng người đọc luôn mong rằng tinh thần TUỔI TRẺ vẫn vẹn nguyên trên báo online. Dẫu cho "hình hài" của tờ báo có thay đổi thế nào thì điều độc giả mong mỏi nhất chính là cái "chất" bên trong không bao giờ mất đi. Đó là sự chân thực, tính phản biện xã hội và tấm lòng luôn hướng về người dân. Tờ báo in có thể “chấm dứt” sứ mệnh của nó, nhưng tinh thần của những người làm báo dấn thân vì cộng đồng thì phải luôn được tiếp nối trên không gian số.

Tạm biệt báo in không phải là lãng quên, mà là cất giữ nó vào một góc nhỏ của miền ký ức. Cảm ơn những tờ báo giấy đã cùng tôi đi qua năm tháng từ thanh xuân đến khi tuổi về chiều. Sáng mai dẫu có đọc tin tức qua màn hình điện thoại, tôi vẫn hy vọng rằng, cuộc sống dù thay đổi thế nào thì luôn còn đó nguyên vẹn những giá trị mà báo chí tử tế đã dày công vun đắp. Bởi vì sau tất cả những dòng chữ điện tử ấy là những con người đang tiếp tục làm nghề báo!

Bài trên báo Tuổi trẻ số in cuối cùng ngày 30.6.2026

https://tuoitre.vn/tam-biet-bao-in-hen-gap-tuoi-tre-online-moi-ngay-100260630060237331.htm

ĐI THEO DÒNG SÔNG ĐỂ HIỂU THÊM THÀNH PHỐ

 Nguyễn Thị Hậu

1.

Một buổi sáng, khi thành phố còn chưa thực sự thức giấc, chúng tôi – những người nghiên cứu lịch sử, di sản văn hóa và quy hoạch đô thị đã có mặt ở bến cảng bên sông Sài Gòn. Ngay từ đầu tôi biết chuyến đi này không phải là một cuộc khảo sát thông thường. Bởi đối tượng của chúng tôi không phải một ngôi đình, một khu phố cổ hay một công trình kiến trúc cụ thể. Di sản hôm nay là cả một dòng sông. Dòng sông ấy vẫn hiện hữu mỗi ngày trong đời sống thành phố, nhưng cũng là một thực thể kỳ lạ: quen thuộc mà hay bị lãng quên, vẫn hiện hữu đó mà dưới mắt nhiều người dường như dòng sông chỉ tồn tại nhờ những cây cầu.

Người đồng hành với chúng tôi là những hoa tiêu hàng hải đã có hàng chục năm gắn bó với luồng tàu Đồng Nai - Sài Gòn – Nhà Bè – Lòng Tàu – Ngã Bảy – Vịnh Gành Rái. Công việc của họ là dẫn tàu an toàn qua những khúc quanh, những con nước, những luồng lạch luôn biến đổi. Nhưng suốt hành trình, tôi nhận ra rằng ít ai hiểu dòng sông này sâu sắc hơn họ. Đi theo họ, những địa danh tưởng chỉ tồn tại trên bản đồ bỗng hiện lên sinh động, thân thuộc và mang lại cho tôi bao cảm xúc.

Con tàu từ từ rời bến. Thành phố lùi dần phía sau. Một cách tự nhiên, tôi cảm thấy mình đang đi ngược thời gian.

Có lẽ phần lớn cư dân thành phố hôm nay quen nhìn Sài Gòn từ mặt đất. Từ những đại lộ, những khu dân cư. Từ các tuyến metro đang hình thành và từ các cao ốc liên tục mọc lên. Con người thành phố đã quen với tư duy đường bộ, nhưng trong phần lớn lịch sử của vùng đất này, con người lại tiếp cận nó từ mặt nước. Bởi vì trên đất nước ta, trước khi có quốc lộ, trước khi có đường sắt, trước khi có những cây cầu nối đôi bờ, dòng sông luôn là con đường xuôi ngược Đông – Tây , là nối liền đôi bờ Nam - Bắc, là bản đồ hiện hữu một vùng miền, một quốc gia.  Hơn thế nữa, dòng sống còn là nguồn sống ngàn đời của một nền nông nghiệp trồng trọt.

Người hoa tiêu đứng cạnh tôi chỉ tay về phía dòng nước đang mở rộng trước mũi tàu. “Nhìn vậy thôi chứ dưới đó là cả một hệ thống luồng lạch phức tạp. Đi trên sông không phải cứ thấy nước là đi được.” Anh kể về độ sâu luồng tàu, về vài bãi đá ngầm, về thủy triều, về những bãi bồi dịch chuyển theo mùa. Những câu chuyện nghe tưởng như thuần túy kỹ thuật nhưng lại khiến tôi nghĩ đến những lớp tri thức tích tụ qua nhiều thế hệ.

Trong nghiên cứu di sản, người ta thường nói đến di sản vật thể và phi vật thể. Chúng ta dễ nhận diện một ngôi chùa cổ hay một ngôi nhà trăm tuổi. Nhưng tri thức về dòng nước, về con nước lớn ròng, về cách đọc màu nước để nhận biết độ sâu hay hướng chảy cũng là một dạng di sản. Di sản này không hiện hữu bằng gạch đá mà nó được tích lũy bằng trải nghiệm. Rồi được truyền từ người này sang người khác, được kiểm chứng bằng hàng nghìn chuyến đi. Có lẽ vì thế mà những người hoa tiêu khiến tôi liên tưởng đến những "người lưu giữ ký ức" của dòng sông.

2.

Con tàu tiếp tục xuôi về phía Nhà Bè, hai bên bờ, cảnh quan thay đổi dần. Những cụm cao tầng thưa hơn. Những kho bãi, bến cảng xuất hiện nhiều hơn. Những khoảng xanh mở rộng. Dòng sông bắt đầu cho thấy một gương mặt khác, không còn là dòng sông của cảnh quan đô thịlà dòng sông của lao động và giao thương.

Theo những ghi chép của các nhà nghiên cứu lịch sử Nam Bộ, hơn ba trăm năm trước, khi những lớp lưu dân người Việt tiến vào vùng đất phương Nam, họ đi theo các tuyến sông. Trước họ là những cộng đồng cư dân bản địa đã sinh sống tại đây từ nhiều thế hệ. Sau họ là những thương nhân người Hoa, người Nhật, người phương Tây. Từ cửa biển Cần Giờ ngược vào họ gặp ngã ba Nhà Bè. Giữa vùng trời nước mênh mang, giữa phút nghỉ ngơi chờ con nước lớn để tiếp tục hành trình, những lưu dân ấy phân vân trước đôi ngả “Nhà Bè nước chảy chia hai. Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”. Cũng từ đây dòng sông đã kết nối các cộng đồng ấy lại với nhau tại vùng đất mới.

Nếu nhìn trên bản đồ hiện đại, hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai – Nhà Bè giống như mạng lưới giao thông thủy. Nhưng nếu nhìn bằng con mắt của lịch sử, đó còn là những hành lang văn hóa: Con người. Hàng hóa. Ngôn ngữ. Tín ngưỡng. Kỹ thuật... Tất cả đều từng theo dòng nước mà dịch chuyển. Vì thế không phải ngẫu nhiên mà những đô thị lớn nhất của nhân loại thường sinh ra bên sông. Với Sài Gòn điều đó dường như còn rõ ràng hơn: Thành phố không chỉ phát triển bên dòng sông mà chính xác là được hình thành từ dòng sông. Có thể cho rằng, địa danh mang tính cột mốc của thành phố là “mũi đèn đỏ - ngã ba Nhà Bè”.

Hàng trăm năm qua những chiếc ghe bầu chở lúa từ miền tây lên, những thuyền buôn từ miền Trung vào, những tàu hơi nước thời thuộc địa “ống khói đen sì” mờ đầu thời kỳ mất nước vào tay thực dân, đế quốc. Cho đến những tàu hàng hiện đại hôm nay: Phương tiện thay đổi, công nghệ phát triển. Nhưng dòng sông luôn là nơi kết nối, trao đổi và mở cửa ra thế giới. Và do đó, logic phát triển của đô thị thì vẫn vậy.

Trong nghiên cứu di sản đô thị, người ta thường nhấn mạnh rằng thành phố không phải là tập hợp của các công trình riêng lẻ. Thành phố là một quá trình. Một quá trình tích lũy liên tục. Một lớp phủ chồng lên lớp phủ. Một cuộc đối thoại không ngừng giữa quá khứ và hiện tại. Nhìn từ góc độ ấy, dòng sông chính là một trong những yếu tố ổn định nhất của lịch sử thành phố. Các công trình có thể thay đổi. Đường phố có thể thay đổi. Thậm chí đường chân trời của đô thị cũng thay đổi. Nhưng dòng sông vẫn là trục không gian cơ bản mà nhiều thế hệ cư dân đã dựa vào để định vị cuộc sống của mình.

3.

Đứng cạnh người hoa tiêu trên buồng lái, bất chợt tôi nhận ra nghề của anh và nghề của mình có một điểm gì đó rất gần nhau. Chúng tôi đều làm việc với những thứ không dễ nhìn thấy. Anh đọc những dòng chảy ẩn dưới mặt nước; tôi cố đọc những lớp ký ức ẩn dưới bề mặt của thành phố. Anh thuộc lòng những khúc sông quanh co để dẫn tàu đi đúng hướng; tôi lần theo những dấu vết của quá khứ để hiểu vì sao đô thị hôm nay có hình hài như vậy. Và có lẽ, ở một nghĩa nào đó, cả người hoa tiêu lẫn người làm di sản đều là những người dẫn đường. Chúng tôi không cầm lái con tàu của tương lai, nhưng đều tin rằng muốn đi xa hơn thì cần hiểu rõ dòng chảy đã đưa mình đến hiện tại.

Cả hai nghề đều làm việc với những thứ không phải ai cũng nhìn thấy. Người đi tàu chỉ thấy mặt nước. Nhưng người hoa tiêu phải nhìn thấy những dòng chảy bên dưới, những bãi cạn, những luồng lạch, những biến động của thủy triều. Họ đọc được những dấu hiệu vô hình đối với người bình thường. Người làm di sản cũng vậy. Du khách nhìn thấy một ngôi đình, một khu phố hay một công trình cũ. Nhưng đằng sau những gì hiện hữu là những lớp ký ức, những mối quan hệ xã hội, những quá trình lịch sử kéo dài hàng trăm năm. Công việc của người nghiên cứu là nhận ra những lớp nghĩa ẩn sâu dưới bề mặt ấy. Nói cách khác, cả hai đều là những người "đọc tầng sâu".

Hoa tiêu và người nghiên cứu di sản đều làm việc với sự liên tục. Dòng sông không bao giờ đứng yên. Mỗi ngày nước lại khác, phù sa lại khác, luồng lạch lại dịch chuyển. Nhưng trong sự thay đổi ấy vẫn có những quy luật dài hạn mà người hoa tiêu phải nắm bắt. Di sản cũng không phải là một vật thể bất động được đóng khung trong quá khứ. Thành phố thay đổi từng ngày, cộng đồng thay đổi từng ngày, cách người ta hiểu về lịch sử cũng thay đổi từng ngày. Người làm di sản không phải để ngăn sự thay đổi, mà để nhận ra đâu là những giá trị cốt lõi cần được giữ lại trong dòng chảy ấy. Cả hai nghề ấy đều đòi hỏi khả năng phân biệt giữa cái cần thích nghi và cái cần bảo tồn.

Là người dẫn đường, hoa tiêu không điều khiển con tàu theo ý mình. Ông chỉ giúp con tàu đi đúng luồng, tránh những rủi ro mà thuyền trưởng có thể chưa biết. Người làm di sản cũng không quyết định tương lai của thành phố. Vai trò của họ không phải là cầm lái. Họ chỉ góp phần chỉ ra những kinh nghiệm, những bài học, những giá trị đã được tích lũy từ quá khứ để cộng đồng và nhà quản lý có thêm cơ sở khi lựa chọn hướng đi. Hoa tiêu dẫn tàu qua những vùng nước phức tạp bằng hiểu biết tích lũy từ quá khứ của dòng sông. Người làm di sản cũng giúp xã hội đi về phía tương lai bằng hiểu biết tích lũy từ quá khứ của cộng đồng. Cả hai đều dùng quá khứ để phục vụ cho hiện tại và tương lai.

Nhưng có lẽ điểm tương đồng sâu sắc nhất nằm ở chỗ: cả hai đều phải khiêm tốn trước đối tượng của mình. Không một hoa tiêu nào dám nghĩ mình đã hiểu hết dòng sông. Dòng nước luôn có thể đổi khác. Thiên nhiên luôn lớn hơn tri thức của con người. Người làm di sản cũng vậy. Mỗi lần nghiên cứu một di tích, một khu phố hay một vùng đất, ta đều nhận ra lịch sử luôn phức tạp hơn những gì mình biết. Những lớp nghĩa mới vẫn có thể xuất hiện. Những cách diễn giải mới vẫn có thể được khám phá.

Cả hai nghề đều bắt đầu từ sự lắng nghe. Lắng nghe dòng sông. Lắng nghe quá khứ. Ngưới hoa tiêu có ích cho những con tàu đi lại trên sông như thế nào thì người làm di sảncũng  có ích gì cho một thành phố đang phát triển như vậy! Người hoa tiêu không làm thay công việc của thuyền trưởng nhưng không thể thiếu trên những tuyến hàng hải phức tạp, người làm di sản cũng không quyết định con đường phát triển, nhưng có thể giúp thành phố tránh những "bãi cạn ký ức" và những "vùng nước lịch sử" mà nếu không hiểu, cái giá phải trả sẽ rất lớn.

Buổi chiều, con tàu quay trở lại trung tâm. Thành phố hiện ra từ xa. Những tòa nhà cao tầng lại xuất hiện nơi đường chân trời. Nhưng đó không còn là thành phố mà tôi nhìn thấy vào buổi sáng. Hay đúng hơn, thành phố vẫn vậy, chỉ có cách nhìn của tôi đã khác. Bởi vì tôi đã hiểu rõ hơn vì sao câu chuyện phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh không thể tách rời câu chuyện của những dòng sông.

TP. Hồ Chí Minh, 14.6.2026

https://www.sggp.org.vn/di-theo-dong-song-de-hieu-them-thanh-pho-post859535.html

Album chuyến đi:https://www.facebook.com/media/set/?vanity=haukhaoco&set=a.28256176040637882





TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...