Hiển thị các bài đăng có nhãn nam bộ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nam bộ. Hiển thị tất cả bài đăng

NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU – THỬ NHÌN TỪ KHÔNG GIAN VĂN HOÁ NAM BỘ

 


1. Không gian văn hóa và ký ức lịch sử

Trong thời đại thông tin, những cuộc tranh luận trên mạng xã hội bắt đầu và kết thúc với nhiều kiểu khác nhau. Có chuyện nhanh chóng bùng lên rồi cũng nhanh chóng biến mất, hệt như bong bóng xà phòng phồng to rồi vỡ tan. Cũng có chuyện sinh từ một chuyện rồi bùng to hơn thành một chuyện hoàn toàn khác, như một đốm lửa từ tàn thuốc lá lại trở thành đám cháy rừng. Hết chuyện này đến chuyện khác, mạng xã hội hay kéo người ta vào những cơn sôi sùng sục… Để rồi khi câu chuyện đi qua, nhiều người nhận ra sự tham gia của mình như góp vài giọt cát xây lâu đài trên bãi biển.

Tuy nhiên khi quan sát những “cơn sóng” ấy, đôi khi tôi nhận ra vài điều thú vị. Có những cuộc tranh luận rồi sẽ chìm xuống rất nhanh, nhưng điều còn đọng lại không phải là câu chuyện đang được viral, mà lại sự đánh thức một ký ức nào đó, khó nắm bắt khó gọi tên, nhưng thực sự luôn ở trong tâm thức. Chỉ cần một cái cớ là sẽ hiện diện rõ ràng. Với tôi, câu chuyện quanh vai diễn Nam Phương Hoàng hậu trong bộ phim Hoàng hậu cuối cùng là một trường hợp như vậy.

Điều tôi quan tâm không phải là tranh luận diễn viên có phù hợp với nhân vật hay không, mà là những cách nhìn rất khác nhau về nhân vật lịch sử ấy. Có người ca ngợi, có người phủ nhận; có người xem bà như biểu tượng của vẻ đẹp, học vấn và phẩm giá, cũng có người nhìn bà bằng cái nhìn phê phán, thậm chí rất khắt khe, dành cho giai đoạn cuối của triều Nguyễn, một giai đoạn có những biến động lớn lao, thử thách sự chọn lựa của những người có một vai trò nhất định trong lịch sử. Điều đó không riêng đối với Nam Phương Hoàng hậu. Nhưng bà lại là nhân vật chính trong một bộ phim bỗng nhiên đình đám trên mạng xã hội. Vì vậy, theo tôi, nhiều người đã nhìn nhận, khen ngợi hay đánh giá, phán xét bà bằng ký ức lịch sử của chính mình, rộng hơn là của thế hệ mình, từ không gian văn hoá mình từng sinh ra và lớn lên. Bởi vì, lịch sử bao giờ cũng được ghi lại bằng tư liệu, nhưng ký ức lịch sử lại được nuôi dưỡng bằng những câu chuyện trong một không gian văn hoá nhất định.

Có thể hình dung mối liên hệ từ không gian văn hoá đến ký ức lịch sử của một cộng đồng.

Không gian văn hóa (các yếu tố tự nhiên và nhân văn) đã tác động vào quá trình hình thành đời sống cộng đồng (kinh tế, văn hoá, xã hội, chính trị…). Đó là dòng chính của lịch sử cộng đồng. Trải qua thời gian được lắng đọng thành ký ức, bồi đắp và trao truyền cho nhiều thế hệ. Những thế hệ tiếp nhận ký ức cũng là tiếp nhận ý nghĩa, giá trị văn hoá của không gian. Từ đó không gian văn hoá lại tiếp tục nuôi dưỡng bản sắc cộng đồng, truyền thống lịch sử.

Như vậy, "không gian văn hóa" và "ký ức lịch sử" thực chất là hai khái niệm không thể tách rời. Từ góc độ di sản và nghiên cứu đô thị, có thể hiểu mối quan hệ này theo ba cấp độ: không gian lưu giữ ký ức, không gian tạo ra ký ức và không gian tái tạo ký ức. Không gian văn hoá có thể là một đô thị, có thể là một làng quê, rộng hơn là một vùng miền. Nam bộ chính là một không gian văn hoá rộng lớn như vậy.

2. Không gian văn hóa Nam bộ

Nam Bộ là một không gian văn hóa đặc biệt. Được coi là vùng đất mới “thiên nhiên ưu đãi”, hệ thống sông nước chằng chịt tạo nên những mối quan hệ giao lưu luôn rộng mở; từ đó phát triển giao thương và sớm hình thành kinh tế thị trường. Nơi đây có nhiều cộng đồng cùng sinh sống và làm ăn, từ các tộc người bản địa đến lưu dân khai khẩn, là nơi luôn có những làn sóng nhập cư lớn và liên tục. Chính vì vậy quan hệ xã hội ít ràng buộc bởi cấu trúc làng xã khép kín mà quan niệm “tứ hải giai huynh đệ”. Trong không gian ấy, con người sống với nhau bằng sự nương tựa, chia sẻ, giúp đỡ chứ không phải bằng tước vị thấp cao. Do đó những giá trị luôn được cộng đồng đề cao là nghĩa tình, hào sảng, trọng chữ tín, ai có khả năng thì ít nhiều đều giúp người khác. Câu chuyện về ông Thủ Huồng dựng Nhà Bè trên sông Sài Gòn là một minh chứng.

Đến nửa đầu thế kỷ 20 Nam bộ là vùng đất của những con sông mở ra biển lớn, của những thương cảng đông đúc, của những con tàu cập bến từ khắp nơi trên thế giới. Ở đó, truyền thống và hiện đại gặp nhau mỗi ngày. Những ngôi đình, ngôi chùa nằm không xa nhà thờ, trường học kiểu Pháp bên cạnh dãy phố buôn bán của người Hoa. Đô thị Sài Gòn là nơi người tứ xứ hội tụ làm ăn. Một xã hội đang chuyển mình, nơi con người sớm tiếp xúc với văn hoá phương Tây nhưng vẫn giữ nếp sống trọng nghĩa tình của miền đất mới. Trong bối cảnh ấy xuất hiện một tầng lớp thượng lưu Nam Kỳ xuất thân từ đại địa chủ, doanh nhân, những người vừa lưu giữ truyền thống Á Đông trong gia đình và những mối quan hệ xã hội, đồng thời tiếp thu tri thức kinh tế, kỹ thuật hiện đại, tiếp nhận văn hoá phương Tây. Họ đã góp phần định hình diện mạo xã hội Nam Bộ nửa đầu thế kỷ 20.

Ký ức cộng đồng luôn có cách lựa chọn rất riêng. Người Nam Bộ vốn không có truyền thống thần tượng quyền lực, mà thường ghi nhớ rất lâu những hình tượng “trọng nghĩa khinh tài”, “trọn tình trọn nghĩa”. Trong văn hóa Nam Bộ truyền thống, sự giàu có ít khi tự nó trở thành đối tượng bị đố kỵ hay nghi ngờ mà điều cộng đồng quan tâm hơn là người giàu ấy đã sống và ứng xử như thế nào. Vì vậy mà những tên tuổi như Huyện Sĩ, Quách Đàm và nhiều người khác luôn được nhắc đến, không phải vì sự giàu có mà vì những gì họ đóng góp cho xã hội: mở chợ, lập phố, xây đình chùa, nhà thờ, làm cầu, đào kênh… sau này là nuôi giấu cán bộ cách mạng, làm từ thiện, cứu trợ… Rất nhiều gia đình Hoa, Việt, Minh Hương, địa chủ, thương nhân... đã góp phần như vậy.

Suốt hơn ba trăm năm khai phá Nam Bộ, hình ảnh "phú hộ nghĩa hiệp", "điền chủ nhân hậu", "thương gia yêu nước", "mạnh thường quân" xuất hiện khá nhiều trong ký ức địa phương. Đương nhiên lịch sử cũng có những địa chủ bóc lột hay thương nhân chỉ biết tư lợi. Nhưng điều đặc biệt là cộng đồng lưu giữ và truyền lại là những người đã dùng của cải để tạo dựng lợi ích chung. Chính vì vậy, khi nhắc đến các nhân vật giàu có trong lịch sử Nam Bộ, ký ức tập thể thường gắn họ với những việc làm cụ thể cho cộng đồng hơn là chỉ với khối tài sản họ sở hữu. Không hay thù ghét người giàu mà trọng người giàu tử tế. Có thể coi đó là một nét độc đáo của văn hoá Nam bộ.

Có một đặc điểm thú vị ở người Nam Bộ, đó là họ kể lịch sử bằng từng con người, nhớ nhân vật lịch sử hơn nhớ thứ thế triều đại. Bởi vì quá trình hình thành người Nam bộ trên vùng đất Nam bộ diễn ra gần như trọn vẹn trong thời Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn. Cùng với sự thờ phụng những vị thần linh, những tiên hiền, hậu hiền, các anh hùng liệt sĩ, người Nam bộ luôn nhắc nhớ những con người giàu tử tế, cống hiến tài sản cho cộng đồng, những người có học mà khiên cung, cống hiến tri thức cho xã hội, những người sống có nhân có nghĩa như hai nhận vật văn học được yêu thích nhất của người Nam bộ là Lục vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga. Họ không phải là những "anh hùng" nhưng mỗi người đại diện cho một phẩm chất tốt đẹp mà cộng đồng trân trọng.

Mỗi con người hay mỗi nhân vật lịch sử, đều trở thành một phần ký ức của một không gian văn hoá cụ thể. Cũng giống như một dòng sông, một khu chợ hay một con đường cũ, có những con người chỉ cần được nhắc tên là cả một bối cảnh lịch sử hiện lên. Đó cũng là một di sản của cộng đồng.

3. Nam Phương Hoàng Hậu trong ký ức văn hóa Nam bộ

Nam Phương Hoàng hậu là một nhân vật của lịch sử Việt Nam hiện đại. Bà sinh ra ở Gò Công (theo một nghiên cứu mới là Gò Công thuộc Thủ Đức, TPHCM ngày nay), lớn lên trong một gia đình Công giáo giàu có và có ảnh hưởng ở Nam Kỳ, được giáo dục theo chương trình Pháp từ rất sớm, rồi trở thành hoàng hậu duy nhất của triều Nguyễn, hoàng hậu đầu tiên và cũng là cuối cùng trong giai đoạn xã hội Việt Nam có nhiều biến động lớn. Cuộc đời của bà vừa thuộc về triều đình Huế, vừa thuộc về đại gia đình ở Sài Gòn, lại vừa gắn với nước Pháp. Nhưng nơi còn lưu giữ nhiều nhất ký ức và cảm xúc lịch sử về bà, theo tôi là Sài Gòn/Nam Bộ. Vì vậy ký ức cộng đồng đã "đọc" Nam Phương bằng hệ giá trị Nam Bộ, sự yêu mến bà không hoàn toàn xuất phát từ lịch sử triều Nguyễn mà xuất phát từ ký ức văn hóa Nam Bộ.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình tiêu biểu và điển hình của tầng lớp thượng lưu, địa chủ Nam bộ có nhiều đóng góp của cải vật chất cho xã hội, Nam Phương là một trường hợp hội tụ nhiều yếu tố tưởng như đối lập nhưng lại hoà hợp lạ lùng. Nếu bỏ qua chiếc vương miện, bà vẫn là hình mẫu của một phụ nữ Nam Bộ nửa đầu thế kỷ 20: được dạy dỗ nghiêm khắc, giáo dục bài bản, thông thạo ngoại ngữ, tự tin trong môi trường quốc tế và mang theo những giá trị của gia đình, của đức tin và của phép ứng xử kết hợp nhuần nhuyễn Đông – Tây. Chính điều ấy khiến nhiều người miền Nam cảm thấy gần gũi với bà hơn là bởi địa vị Hoàng hậu cao sang.

Trong ký ức của nhiều gia đình Nam Bộ, đặc biệt là giới Công giáo hoặc tầng lớp trung lưu cũ thường dành nhiều thiện cảm đối với Nam Phương Hoàng hậu. Người ta ít kể về vị thế cung đình của bà mà thường kể về cô gái Gò Công học giỏi ở Pháp, tiểu thư nhà giàu nhưng khiêm nhường, về người phụ nữ trọn đạo làm dâu xứ Huế với những phép tắc nghiêm ngặt, về người vợ nền nã chưa từng gây chuyện ghen tuông với ông chồng Hoàng đế đào hoa, về mẹ lặng lẽ nuôi dạy các con sau khi cuộc hôn nhân tan vỡ, không tham gia chính trị, không viết hồi ký để công kích ai, giữ được phẩm giá trong cuộc sống lưu vong…

Chiếc mũ miện chỉ là một phần rất nhỏ trong cuộc đời bà. Điều còn lại trong ký ức nhiều người là hình ảnh một người phụ nữ bước qua những đổi thay lớn của xã hội, của chính cuộc đời mình mà không để mình trở thành trung tâm của những thị phi và ồn ào lịch sử. Có thể có chi tiết trong cuộc đời bà cần được kiểm chứng bằng tư liệu. Nhưng điều đáng chú ý là việc chúng được kể đi kể lại đã làm nên ký ức văn hóa của một cộng đồng. Mặt khác, Nam Phương Hoàng hậu trong ký ức ấy dường như không chỉ được nhớ như một nhân vật của triều Nguyễn. Bà còn được nhớ như một "người con của Nam Bộ". Nhắc đến bà, người ta nhớ Gò Công, nhớ gia đình Huyện Sỹ, nhớ Sài Gòn những năm đầu thế kỷ 20, nhớ những chuyến tàu vượt biển sang châu Âu, nhớ một thời mà Nam Bộ đang mở cửa với thế giới bằng thương mại, giáo dục và những khát vọng hiện đại hóa.

Nếu nhìn rộng hơn, Nam Bộ đầu thế kỷ 20 đã sản sinh một thế hệ phụ nữ rất đặc biệt. Họ không phải những "nữ anh hùng" theo nghĩa truyền thống, nhưng họ là những người phụ nữ đầu tiên học trường Pháp, biết ngoại ngữ, đi du học, điều hành doanh nghiệp, làm báo, hoạt động xã hội, làm từ thiện, gìn giữ nền nếp gia phong, xuất hiện trong không gian công cộng với tư cách xã hội bình đẳng với nam giới. Nam Phương là một trong số họ. Cho nên, có thể điều khiến nhiều người yêu quý bà không phải vì chiếc vương miện, mà vì bà đại diện cho hình ảnh người phụ nữ Nam Bộ hiện đại: có học thức, có lòng tự trọng, biết ứng xử trong cả không gian Á Đông lẫn phương Tây.

Có thể nhận thấy những cuộc tranh luận trên mạng xã hội về các nhân vật lịch sử đã thể hiện sự “va chạm” giữa những ký ức tập thể khác nhau. Mỗi cộng đồng, mỗi vùng miền, mỗi thế hệ, thậm chí mỗi gia đình đều mang theo một ký ức lịch sử riêng, những biểu tượng văn hoá khác nhau. Vì vậy, thái độ của từng người hay nhóm người hay một cộng đồng không chỉ phản ánh quan điểm đối với nhân vật lịch sử ấy, mà còn phản ánh ký ức văn hóa của chính họ và cộng đồng, phản ánh điều họ muốn gìn giữ là hệ giá trị của cộng đồng mình. 

TP. Hồ Chí Minh 9.7.2026.                                                                 Nguyễn thị Hậu

Bài viết ngắn gọn hơn trên Tạp chí Tia Sáng :
https://tiasang.com.vn/nam-phuong-hoang-hau-trong-ky-uc-van-hoa-nam-bo-5095949.html

 

 

VÀI NÉT VỀ GỐM NAM BỘ - DẤU ẤN TRĂM NĂM

Các bạn có thể xem lại buổi trò chuyện tại đây https://thuviennguyenanninh.vn/sach/di-tich-khao-co-va-dau-an-gom-sai-gon-trong-dong-chay-lich-su/Video.html

VÀI NÉT VỀ GỐM NAM BỘ

Quá trình khai phá vùng đất mới Nam Bộ từ thế kỷ XVII cho đến ngày nay cũng là quá trình hình thành một loại gốm mới ở miền Đông Nam bộ. Vùng phân bố của loại gốm cổ này nay nằm trong địa bàn của Thành phố Hồ Chí Minh và hai tỉnh lân cận là Đồng Nai và Bình Dương. Từ khoảng đầu thế kỷ 20, khu lò gốm Cây Mai và xóm Lò Gốm Sài Gòn dần ngưng hoạt động. Do quá trình đô thị hóa khu vực Sài Gòn, Chợ Lớn, các lò gốm lần lượt chuyển ra các tỉnh lân cận, nhiều nhất là vùng Biên Hòa (Đồng Nai) và Lái Thiêu (Bình Dương). Nửa sau thế kỷ 20, gốm gia dụng và gốm mỹ nghệ Biên Hòa, Lái Thiêu đã dần thay thế vai trò của gốm Sài Gòn.

So sánh với vùng gốm Bắc bộ (gốm Chu Đậu, Bát Tràng…) và Trung bộ (Gò Sành, Châu Ổ, Quảng Đức…) thì vùng Gốm Nam bộ có sự khác biệt về loại hình sản phẩm, kỹ thuật và quy mô sản xuất và thị trường tiêu thụ. Quá trình phát triển của nghề làm gốm truyền thống ở khu vực miền Đông Nam bộ cho ra đời các loại gốm được biết dưới các tên gọi là gốm Sài Gòn/gốm Cây Mai, gốm Biên Hòa và gốm Lái Thiêu. Đây cũng là ba dòng gốm cổ có mối liên hệ mật thiết từ những đặc trưng chung về kỹ thuật sản xuất mang tính chất “văn hóa vùng”. Đồng thời phát triển và tạo nên những đặc trưng riêng từ sản phẩm, kiểu dáng, màu men, hoa văn…

Gốm Sài Gòn: Gốm Cây Mai (khu lò Cây Mai ở khu vực gò Cây Mai quận 11), Xóm Lò Gốm (làng Hòa Lục, Phú Định quận 6, quận 8); Sài Gòn là địa danh xưa chỉ khu vực Chợ Lớn ngày nay – nơi có Xóm Lò Gốm ghi trên bản đồ và trong sử sách.

Gốm Biên Hòa: làng gốm Tân Vạn (khu lò lu, lò sành)…; gốm từ trường Mỹ nghệ Biên Hòa, muộn hơn là những cơ sở sản xuất gốm hiện nay.

Gốm Lái Thiêu: làng gốm Lái Thiêu, Tân Phước Khánh và Chánh Nghĩa... sau này là gốm Minh Long và những lò gốm thủ công hiện còn sản xuất.

Những tên gọi này tương đương như tên gọi của Gốm Bát Tràng, Gốm Chu Đậu, gốm Đông Triều... ở miền Bắc, gốm Gò Sành, Châu Ổ ở miền Trung... Vừa chỉ địa danh dân gian cụ thể, vừa cho biết không gian của một “vùng gốm cổ”. Mỗi vùng gốm có đặc trưng riêng và thịnh đạt vào những thời điểm khác nhau, song như những chi lưu tất cả cùng hòa vào và tạo nên dòng chảy “Gốm Nam Bộ”, có thể đối sánh với những vùng sản xuất gốm nổi tiếng khác trong nước. Mặt khác, khái niệm hành chính “Nam bộ” xuất hiện muộn hơn nghề làm gốm ở đây, vì vậy cần phân định rõ “gốm Nam bộ là 3 dòng gốm cổ: gốm Sài Gòn, Biên Hòa, Lái Thiêu”, để phân biệt với gốm sản xuất tại các tỉnh Nam bộ từ nửa sau thế kỷ 20.

Sản phẩm gốm Nam bộ mang tính ứng dụng cao, đáp ứng mọi nhu cầu của xã hội, nhu cầu hàng ngày của giới bình dân và cả tầng lớp cao hơn. Đó là nhóm đồ gốm dùng chứa đựng (lu, hũ, khạp, chậu…), nấu nướng (nồi, ơ, siêu, ấm…), ăn uống (đĩa, bát, tô, bình trà bình rượu, ly, cốc, ống nhổ, ống đũa…), nhóm đồ dùng trong sinh hoạt tinh thần (tượng thờ, chân đèn, đèn gốm, lư hương, mâm bồng, ống bút…), nhóm gốm trang trí nội ngoại thất (đôn, chậu, gạch bông gió, lan can, tượng thú…), nhóm xây dựng, trang trí kiến trúc (gạch, ống nước, quần thể tượng gốm, phù điêu…). Loại hình, kiểu dáng của sản phẩm gốm kiểu dáng phong phú, đa dạng và có xu hướng “hiện đại”.

Những bộ sưu tập gốm Sài Gòn hay gốm Lái Thiêu, Biên Hòa đều cho thấy hầu hết sản phẩm rất đẹp nhưng đều có dấu vết đã qua sử dụng. Tức là, sản phẩm từ lúc làm ra cho đến khi người ta chứng minh được giá trị của nó xứng đáng để sưu tập đồ cổ thì luôn được “tham gia vào cuộc sống” chứ không tách ra riêng biệt “để thưởng ngoạn” như một số dòng gốm khác. Điều này thể hiện tính cách, cá tính của người Nam Bộ là làm bất cứ một vật gì cũng hướng đến tính ứng dụng thực tế, chứ không trưng bày, trang trí thuần túy.

Sản phẩm, trang trí và kỹ thuật sản xuất từ gốm Sài Gòn đến gốm Biên Hòa, Lái Thiêu thể hiện cụ thể “Đất nào, nước nào phong thổ nào thì con người đó, mà con người nào thì sản phẩm đó. Người Nam Bộ làm ra gốm Nam Bộ, cởi mở đón nhận nhưng vẫn giữ được nét đặc sắc vốn có của mình”. Tính chất cởi mở, tiếp nhận kỹ thuật mới và sáng tạo sản phẩm mới đã góp phần vào sự phát triển kinh tế thị trường từ rất sớm của vùng đất Nam bộ. Nhiều đồ gốm có hiệu đề còn cho biết tên lò, người đặt hàng hay các tiệm bán đồ gốm, có minh văn phản ánh ước mong một cuộc sống sung túc, bình an.

Gốm Nam bộ phản ánh một giai đoạn lịch sử ở Nam bộ: từ những sản phẩm dành cho người bình dân phổ biến ở giai đoạn khai phá (thế kỷ 18) đến các loại sản phẩm cao cấp hơn kiểu Trung quốc, kiểu Pháp (thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20) phục vụ giới thượng lưu hoặc dịp đặc biệt của giới bình dân khi xã hội phát triển… Dù bình dân hay cao cấp thì kỹ thuật tạo dáng và tạo hoa văn, màu men… trên mỗi sản phẩm đều phản ánh nhu cầu thưởng lãm của mỗi tầng lớp.

Các sưu tập cổ vật chỉ thực sự có giá trị khi nó đến được với nhiều người. Cuộc trưng bày "Du xuân - Cổ ngoạn" Xuân Giáp Thìn 2024 của Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những cuộc trưng bày về Gốm Nam bộ được công chúng nhiệt tình đón nhận. Những hiện vật được trưng bày có giá trị cao về lịch sử - văn hóa, giúp quảng bá, giới thiệu gốm cổ Nam Bộ tới với đông đảo công chúng. Nhờ vậy những giá trị quý báu của di sản văn hóa Nam bộ được phổ biến rộng rãi hơn trong xã hội

TS. Nguyễn Thị Hậu. Trong sách DU XUÂN - CỔ NGOẠN - của Bảo tàng TPHCM.


TRIỂN LÃM GỐM NAM BỘ CÓ TÍCH HỢP ỨNG DỤNG QR ĐẦU TIÊN TẠI THƯ VIỆN SỐ NGUYỄN AN NINH - CHUYÊN ĐỀ NAM BỘ🎉
🗓️Từ ngày 24/5 đến 31/5/2025, trên website chính thức của Thư viện số Nguyễn An Ninh, triển lãm hình ảnh và tài liệu với chủ đề “Đất Lành Hoá Ngọc” sẽ chính thức diễn ra.
🧭Triển lãm là lời mời dành cho bạn đọc và khách tham quan bước vào hành trình khám phá những dòng gốm đặc trưng của Nam Bộ: từ Gốm Sài Gòn, Gốm Cây Mai - Đề Ngạn, Gốm Biên Hoà, Gốm Lái Thiêu cho đến Gốm Vĩnh Long, Gốm An Giang.
🖼️Toàn bộ nội dung triển lãm được thể hiện qua hệ thống poster trực quan, kết hợp với các mã QR tích hợp, cho phép người xem dễ dàng tiếp cận thêm nguồn tư liệu số mở rộng: bài viết nghiên cứu, hình ảnh minh hoạ, tư liệu nghe – nhìn và bộ sưu tập chuyên sâu. Tất cả đều được lưu trữ và truy cập trực tiếp trên nền tảng số của thư viện.
💻Với hình thức triển lãm trực tuyến, “Đất Lành Hoá Ngọc” mang đến một trải nghiệm đa tầng kết hợp yếu tố truyền thống và hiện đại, giúp người xem không chỉ dừng lại ở việc “thưởng lãm”, mà còn có thể tiếp cận chiều sâu của gốm Nam Bộ ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào.
👉Bạn đọc hãy đón chờ và cùng khám phá triển lãm trên website chính thức của Thư viện số Nguyễn An Ninh từ ngày 24/5 tới nhen!
------------------
TVNAN | GỐM NAM BỘ - DẤU ẤN TRĂM NĂM
📅 Thời gian: 24/5 - 31/5/2025
📍 Địa điểm: Đường Sách TP. Hồ Chí Minh
—
🎟️ Sự kiện hoàn toàn MIỄN PHÍ, mở cửa cho tất cả mọi người.
🇻🇳 Khuyến khích tham gia trải nghiệm gốm và các hoạt động văn hóa độc đáo.




DI SẢN LỊCH SỬ - VĂN HÓA CÁC ĐÔ THỊ NAM BỘ NHÌN TỪ GIA ĐỊNH THÀNH THÔNG CHÍ CỦA TRỊNH HOÀI ĐỨC

Vài nét về công trình Gia Định thành thông chí

Gia Định thành thông chí (嘉定城通志) còn có tên Gia Định thông chí (嘉定通志), là một quyển địa chí do Trịnh Hoài Đức (1765-1825) biên soạn, viết về địa lý-lịch sử-văn hóa của miền đất Gia Định (Nam Bộ ngày nay).

           Công trình Gia Định thành thông chí là cơ sở của nhiều bộ thông sử của triều Nguyễn, là tài liệu cơ bản và quan trọng để nghiên cứu lịch sử Nam bộ, Việt Nam thời cận đại và nhất là nghiên cứu các vấn đề về triều Nguyễn. Nội dung của công trình đề cập một cách toàn diện, chi tiết các lĩnh vực địa lý, lịch sử, văn hóa, con người… của vùng đất Gia Định xưa thời nhà Nguyễn (lúc đó gồm 5 trấn Biên Hòa, Phiên An, Định Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên).  Các thị tứ, các trấn được khảo tả chi tiết và sinh động, toàn diện các lĩnh vực như kinh tế - xã hội – văn hóa – con người – xây dựng đô thị... Đặc biệt hệ thống địa danh dân gian và hành chính ghi chép trong Gia Định Thành thông chí là vốn tư liệu quý giá về ngôn ngữ, về đời sống cộng đồng, về quá trình hành chánh hóa vùng đất Gia Định.

     Đây là công trình khoa học mẫu mực của thể CHÍ. Đặc biệt cách tiếp cận và tâm thức của Trịnh Hoài Đức thể hiện trong công trình vừa từ góc độ “bên ngoài” – ông gốc người Minh hương, có khác biệt nhất định về văn hóa lối sống để có những nhận biết rất tinh tế và khách quan; vừa từ góc độ “bên trong” – ông với tư cách một đại thần triều Nguyễn - để phân tích, đánh giá, nhận xét một cách sâu sắc.

     Đã có nhiều bản dịch và giới thiệu về công trình này. Năm 2019 Nhà xuất bản Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh xuất bản bản dịch mới của Phạm Hoàng Quân. Bản dịch này phân tích kỹ văn bản gốc, chú giải và khảo chứng, qua đó đính chính được rất nhiều chỗ sai lầm hoặc giải thích chưa rõ của các bản dịch trước. Bản dịch của Phạm Hoàng Quân đưa công trình đến gần độc giả hiện nay hơn, vì giúp độc giả hiểu rõ về địa lý – lịch sử Nam bộ nói chung và từng địa điểm, địa danh dược ghi chép trong công trình Gia Định thành thông chí nói riêng.

Chúa Nguyễn mở mang vùng đất Gia Định

     Giai đoạn Chúa Nguyễn mở mang vùng đất Nam bộ cũng là giai đoạn họat động ngọai thương ở khu vực Đông Nam Á khởi sắc. Ngòai thương cảng Hội An nổi tiếng từ thế kỷ XVI, các trung tâm thương nghiệp mới như Cù Lao Phố (Biên Hòa, Đồng Nai), Mỹ Tho, Hà Tiên... cũng phát triển nhờ lợi thế của hệ thống giao thông đường thủy (cảng biển, sông rạch...).

      Mùa xuân Mậu Dần 1698, năm thứ 8 của chúa Nguyễn Phúc Chu, triều đình sai Thống suất Chưởng cơ lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, “ông lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, đặt xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, xứ Sài Gòn đặt là huyện Tân Bình, dựng dinh phiên Trấn…”. Phủ Gia Định lúc này bao gồm khắp miền Đông Nam Bộ, có một phủ, hai huyện, hai dinh. Mỗi dinh đều đặt các chức lưu thủ, cai bạ, ký lục để quản lý, các cơ độ thuyền thủy bộ tinh binh và thuộc binh. Mở rộng đất đai hơn nghìn dặm, dân hơn 4 vạn hộ, chiêu mộ lưu dân từ châu Bố Chánh đến lập nghiệp, lập ra xã thôn phường ấp, phân định địa giới, trưng thu ruộng đất, định mức tô thuế, lập sổ đinh sổ điền[1]. Kể từ thời điểm này nền hành chính tại Gia Định được thiết lập, tính pháp lý về chủ quyền quốc gia được xác lập trên vùng đất này.

     Từ đầu thế kỷ 18, chính quyền chúa Nguyễn đã chiêu mộ thêm dân để đẩy mạnh tiến trình khai hoang, mặt khác khuyến khích những người giàu có tại các vùng ở Đàng Trong di cư vào đất Gia Định. Mặt khác, chúa Nguyễn tạo điều kiện dễ dàng cho việc khai khẩn bằng chính sách thả nổi cho lưu dân tự chiếm đất hoang để trồng lúa, trồng cau, lập vườn, xây nhà mà không phải qua một thủ tục hành chính nào cả. “Đất Nông Nại xưa vốn nhiều đầm ao rừng rú, buổi đầu mới lập ra ba dinh, mộ dân đến lập nghiệp, phép tắc hãy còn khoan dung giản dị... không hề ràng buộc, cốt sao khiến cho dân khai hoang mở đất cho thành ruộng, lập nên thôn xã mà thôi”.[2]

Từ năm 1790 Thành Gia Định từ một trung tâm chính trị mau chóng trở thành thương cảng lớn của Đàng Trong và trong khu vực Đông Nam Á. Đến thời nhà Nguyễn, Gia Định thành là một đô thị có vai trò sánh ngang Thăng Long và Phú Xuân, nhưng khác với Thăng Long và Phú Xuân vai trò chủ yếu là trung tâm chính trị, Sài Gòn – Gia Định được nhìn nhận vai trò kinh tế quan trọng (nông sản, thương nghiệp, thủ công nghiệp) bên cạnh vai trò trung tâm chính trị - văn hóa của Đàng Trong.

Diện mạo các đô thị ở Nam bộ khoảng đầu thế kỷ 19

Năm 1808, vua Gia Long đổi trấn Gia Định thành Gia Định Thành, bao gồm 5 trấn: Phiên An (địa hạt Gia Định), Biên Hòa, Vĩnh Thanh (sau chia ra Vĩnh Long và An Giang), Vĩnh Tường (sau này là Định Tường) và Hà Tiên.      

Gia định thành thông chí đã cho biết các trấn thời Nguyễn ở Nam bộ vào đầu thế kỷ XIX đã là những trung tâm kinh tế sầm uất, cùng thành trì là trung tâm hành chính thì nhà cửa phố xá bến chợ luôn được nhắc đến như một thành phần quan trọng của một trấn. Sau đây là vài miêu tả trong phần Thành trì chí.

Trấn Phiên An có Chợ phố Bến trước thành, phố chợ, nhà cửa rất trù mật... tụ tập hàng trăn thứ hàng hóa, dọc bến sống thuyền buôn lớn nhỏ đi lại sn sát (tr.553). Phố Sài Gòn (Chợ Lớn) đường phố lớn, thẳng suốt ba đường giáp đến bến sông... đan xuyên nhau như chữ điền, phố xá liền mái, người Việt và người Trung quốc cùng sinh sống... Hai bên nam - bắc bến sông không thứ gì là không có (tr.559); Ngoài ra còn có các chợ khác cũng nổi tiếng như Chợ Khung Dong (chợ cây da còm), Chợ Điều Khiển, phố chợ Lịch Tân (chợ Bến Sỏi), chợ Tân Kiểng...

Trấn Biên Hòa có phố lớn Nông Nại – cù lao Đại Phố. mái ngói tường vôi, lầu quán cao ngất, dòng sông rực rỡ, ánh nhật huy hoàng, liền nhau tới 5 dặm, chia làm 3 đường phố, đường phố lớn lát đá trắng, đường phố ngang lót đá ong, đường phố nhỏ lót đá xanh, toàn thể đường bằng phẳng như đá mài, kẻ buôn tụ tập, thuyền đi biển, đi sông đều đến cuốn buồm neo đậu, đầu đuôi thuyền đậu kế tiếp nhau, thật là một chỗ đô hội… (tr.568)

Trấn Định Tường có chợ và phố lớn Mỹ Tho, mái ngói cột chạm phủ, đình cao, nha thự rộng, thuyền bè sông biển ra vào, buồm thuyền trông như mắc cửi, thật là nơi đô hội lớn phồn hoa huyên náo. (tr.571)

Trấn Vĩnh Thanh có chợ Vĩnh Thanh, chợ Long Hồ phố xá liền nhau hàng hóa cả trăm món, dài đến 5 dặm ghe thuyền đầu suốt bến, miếu thần, đình làng mọc lên, đờn ca náo nhiệt, là chợ phố lớn của trấn. Chợ Sa Đéc: phố chợ nằm dọc theo bờ sông, mái nối mái liền nhau đối nhau san sát như vảy cá... trên bờ dưới sông có hàng trăm thứ hàng hóa tốt đẹp, nhìn ngợp mắt thỏa lòng, quả là chốn phồn hoa. (tr.576)

Trấn Hà Tiên: đường xá giao nhau, phố xá nối liền. Người Việt người Hoa người Cao Miên người Chà Và tụ họp chia ở, thuyền biển ghe sông qua lại như mắc cửi, thất là nơi đô hội góc biển vậy. (tr.576)

Như vậy, từ những ghi chép, khảo tả của Gia Định Thành thông chí, có thể nhận biết ngay từ khi khởi lập, các đô thị Nam bộ luôn ở trung tâm của mạng lưới giao thông đường thủy từng khu vực, tận dụng sự thuận tiện của hệ thống sông, kênh rạch, đường biển và chế độ thủy triều… Từ những bến – chợ đã hình thành các cảng thị như Sài Gòn, Cù Lao Phố, Mỹ Tho, Ba Vát (Bến Tre), Hà Tiên…sau này có Cần Thơ, Long Xuyên, Sa Đéc… Giữa các tỉnh hầu như đều có ranh giới tự nhiên là những giòng sông lớn nhỏ, trên trục lộ chính cứ qua một bến phà (nay là một cây cầu) là vào địa phận một thành phố lớn/trung tâm một tỉnh.

Có thể nói tính chất của đô thị Nam bộ là “đô thị sông nước”, người ta biết đến đô thị không chỉ là những thành trì, các công trình hành chính hay tôn giáo mà còn được biết đến vì cảnh quan “trên bến dưới thuyền”. Nếu ở vùng nông thôn “dưới thuyền” quan trọng vì hàng hóa nông sản nhờ ghe thương hồ chuyên chở, lưu thông thì tại các thị tứ, “trên bến” dần hình thành những cảng thị (sông, biển) nổi tiếng với sự phong phú của hàng hóa, sự giao lưu trao đổi buôn bán trù mật, sự đông đúc đa dạng của cư dân.  

Từ thị tứ trở thành các Trấn khi được bổ sung thêm chức năng hành chính, chính trị và quân sự. Trung tâm hành chính của các Trấn ở Nam bộ thời Nguyễn đã là những đô thị sầm uất phát triển thương mại, gắn liền với đường sông và đường biển. Do vậy các đô thị ở Nam bộ hình thành có phần khác biệt so với Thăng Long/Hà Nội, Huế hay Phố Hiến, Hội An… Tuy bước đầu hình thành các đô thị này mang tính chất là trung tâm hành chính – quân sự nhưng không thể thiếu cơ sở quan trọng là kinh tế - yếu tố này trong quá trình phát triển ngày càng nổi bật.

Tính chất đô thị rõ nét qua đường phố, nhà cửa, chợ búa, phố nghề/phố chuyên doanh… Gắn bó chặt chẽ với vùng nông thôn xung quanh nhưng không làm “nông thôn hóa” mà ngược lại luôn có xu hướng “đô thị hóa” cho vùng xung quanh. Tính chất kết nối với các đô thị khác rất cao theo sông nước, do là những trung tâm kinh tế và tính chất thị trường.

Dân cư – con người vùng đất Gia Định

Đến cuối thế kỷ 17 ở Gia Định, “con cháu người Hoa ở Trấn Biên thì lập thành xã Thanh Hà, ở Phiên Trấn thì lập thành xã Minh Hương, đều biên vào hộ tịch”, đây là bộ phận người Hoa đã sớm có mặt cùng người Việt, người Khmer, người Chăm và các tộc người bản địa khác chung sống và xây dựng vùng đất Sài Gòn nói riêng và vùng Nam Bộ nói chung. Chính quyền của chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã xem người Hoa như thần dân của mình và họ đã trở thành một bộ phận hữu cơ của cư dân Nam Bộ, góp phần tạo dựng và phát triển kinh tế thương nghiệp và thủ công nghiệp.

Từ khi Gia Định trở thành trung tâm của Đàng Trong thời Chúa Nguyễn, nơi đây đã là nơi dân tứ xứ thường xuyên đổ về. Trong Gia Định thành thông chí, mục Phong tục chí ghi chép như sau: “Vùng Gia Định nước Việt đất rộng lương nhiều, không lo nạn đói lạnh, nên ít dự trữ, dân quen thói xa hoa, sĩ phu phong khí phấn phát. Do người bốn phương tự cư nên mỗi nhà đều có tục lệ riêng”. “Gia Định là cõi Nam nước Việt, lúc mới khai thác, lưu dân nước ta cùng người Đường (...), người Tây dương (...) Cao Miên, Đồ Bà (...) đến ngụ cư đông đúc xen lẫn, mà người các nước ấy thì y phục đồ dùng đều theo kiểu của dân tộc họ”[3]. 

 “Gia Định ở về phương Nam, gần ánh sáng mặt trời, người phần đông có tánh trung dũng khí tiết, coi nặng việc nghĩa coi nhẹ tiền tài, cho dù phụ nữ cũng vậy”, “Ở Gia Định khi có khách đến nhà, đầu tiên gia chủ bày trầu cau, sau đó dọn cơm bánh, tiếp đãi chu đáo đầy đủ. Bất kể là người thân hay sơ, quen hay lạ, tông tích ở đâu, đã đến thì phải đón tiếp đãi đằng. Nên nhiều người đi chơi không cần mang theo lương thực, nhưng lại khiến người né xâu trốn thuế đến xứ này nhiều, bởi có chỗ ăn chỗ ở”.[4]

Trải qua hai trăm năm với bao biến cố xã hội nhưng tính cách, lối sống đặc trưng của người Gia Định vẫn không thay đổi mà ngày càng được duy trì đậm nét. Cho đến nay, người nhập cư vẫn là thành phần hữu cơ của TP. Hồ Chí Minh. Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh luôn là nơi được nhắc đến bởi những việc làm thiện nguyện của các tổ chức xã hội, các cá nhân, là nơi luôn đi đầu trong những đợt cứu trợ “nhường cơm xẻ áo” cho các địa phương khác khi gặp thiên tai, cũng là nơi đùm bọc sẻ chia mọi cơ hội việc làm cho “người tứ xứ”. Sự hội tụ nhân lực từ mọi miền, mọi nguồn gốc, cùng với nhiều thế hệ dân cư ở Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh đã duy trì, phát triển sức sống trẻ trung, phát huy những phẩm chất, truyền thống tốt đẹp của thành phố.

Truyền thống cần lưu giữ và lan tỏa

Truyền thống của một vùng đất, một cộng đồng là những gì được lắng đọng và lưu truyền qua quá trình lịch sử dài lâu, hình thành từ sự thích ứng với thiên nhiên và tính cách văn hóa của cộng đồng. Cũng có thể coi những đặc điểm trên đây của các đô thị và con người Gia Định hồi đầu thế kỷ 19, qua công trình của Trịnh Hoài Đức, là một truyền thống quý giá và đặc sắc của vùng đất Nam bộ.

Trong quá trình đô thị hóa – hiện đại hóa, quá trình quy hoạch phát triển các đô thị ở Nam bộ cần chú ý những đặc điểm của “thị tứ, trấn” của vùng Gia Định đã được chỉ ra trong Gia Định Thành thông chí. Đó là sự thích ứng, thích nghi với Phong, Thủy, Thổ của vùng đất, là sự chủ động, sáng tạo của con người vùng đất này. Bên cạnh đó cần thiết phải nhận diện những đặc trưng văn hóa, lối sống, tính cách của con người vùng Gia Định để lưu giữ, lưu truyền và lan tỏa cho những thế hệ dân cư đến sau đang sinh sống trên vùng đất Nam bộ.

Đặc biệt cần sưu tầm, lưu giữ các địa danh dân gian và địa danh hành chánh đã được ghi chép trong Gia Định thành thông chí. Nên bảo tồn và trong nhiều trường hợp cần khôi phục địa danh cổ, ví như ở Đồng Nai – Biên Hòa (nơi có khu mộ Trịnh Hoài Đức – một di tích lịch sử quốc gia) có các địa danh đã đi vào lịch sử và tâm thức cộng đồng một cách bền vững và thân thương như Cù Lao Phố (nay là phường Hiệp Hòa), Cầu Gành (nay gọi là Cầu Ghềnh)... Hệ thống địa danh là di sản văn hóa vì phản ánh và tích hợp giá trị lịch sử - văn hóa, nguồn gốc và quá trình dân cư… Hệ thống di sản qua địa danh cho biết vùng đất Gia Định, Nam bộ có quá trình lịch sử lâu dài, có nền văn hóa độc đáo và nhân văn. Vì vậy cần có những nhận thức, quan điểm và ứng xử phù hợp với con người và vùng đất Nam bộ.

Trước mắt, cần đưa công trình Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức vào giảng dạy trong phần “lịch sử địa phương” ở tất cả các tỉnh Nam bộ, bằng hình thức giới thiệu nội dung và giá trị của công trình này. Từ đó lớp trẻ được tiếp nhận kiến thức, tri thức lịch sử - văn hóa của quê hương ngay từ sử liệu gốc. Truyền thống lịch sử - văn hóa mang tính bền vững, được truyền lại và bổ sung qua từng giai đoạn, trở thành “sợi chỉ đỏ xuyên” suốt từ quá khứ đến hiện tại và tương lai của một cộng đồng, một vùng đất.  

 

TP. Hồ Chí Minh, tháng 4.2024

 Nguyễn Thị Hậu


[1] Trịnh Hoài Đức, 2019, Gia Định thành thông chí. Phạm Hoàng Quân dịch, chú và khảo chứng. NXB Tổng hợp TPHCM và Saigonbooks. Tr.289

[2] Trịnh Hoài Đức, 2019, sđd, tr.292

[4] Gia định thành thông chí, sđd, tr.495








Một phim về gốm Nam bộ

 Mình có tham gia ý kiến trong phim tài liệu này, ngoài vài nhận xét được trích còn một số nhận xét khác chưa được sử dụng trong phim. Theo mình quan trọng nhất trong gốm Nam bộ là gốm Nam bộ luôn tiếp nhận nhanh chóng và thành công những yếu tố mới: kỹ thuật mới từ chất liệu, tạo dáng, men, màu, nung... đến các loại hình sản phẩm đáp ứng nhu cầu của đời sống xã hội. Điều đó tạo sức sống cho gốm Nam bộ vì luôn gắn liền với thời đại.

Điều đó được các nghệ nhân gốm hiện nay tiếp nối, thể hiện trong gốm Nam bộ hiện đại, như trong phim đã giới thiệu.


Mình cũng viết nhiều bài về gốm Nam bộ, các bạn có thể tìm đọc trên mạng :)






NGÔN NGỮ QUÊ NHÀ hay là "TIẾNG MẸ ĐẺ CHA SANH"

1.

Trước 1975, hồi còn ở HN có thời gian rất dài nhà tôi ở khu tập thể của Đoàn Cải lương Nam Bộ, nơi ba tôi làm việc. Lúc nhỏ tôi thường theo ba đến phòng tập xem các cô chú tập mấy vở cải lương. Phòng tập ở giữa khu tập thể, là một gian phòng rất lớn, trống trải, sát tường có những cây đà gác ngang (giống phòng tập múa, nhưng không có gương) để tập vũ đạo (những động tác cải lương) do ông Tám Danh (nghệ sĩ Nguyễn Phương Danh) hướng dẫn. Những vở cải lương thời ấy tôi xem tập đến thuộc lòng, như Cuộc khởi nghĩa Nam kỳ, Mẫu đơn tiên, Thạch Sanh, Người con gái đất đỏ, và Kiều Nguyệt Nga… Diễn viên khi ấy phần lớn là các cô chú anh chị Nam Bộ tập kết ra Bắc, về sau khoảng 1964, 1965 có thêm các anh chị học từ trường Nghệ thuật về đoàn, là người Bắc nên được tập nói tiếng Nam Bộ và không bao lâu thì nói rất thuần thục, như người Nam Bộ.
Cả thời thơ ấu gia đình tôi sống trong môi trường của lối sống, ngôn ngữ Nam Bộ. Nhưng tôi bắt đầu đi nhà trẻ từ khi mới 2, 3 tháng tuổi, rồi đi mẫu giáo đến 4,5 tuổi, một thời gian dài đi sơ tán về vùng nông thôn, rồi về HN đến 1975 thì cùng gia đình trở về Sài Gòn… môi trường học tập và sinh hoạt của tôi là ngôn ngữ miền Bắc. Thế là trong tôi hình thành hai “vùng ngôn ngữ” và qua đó là hai “vùng văn hóa”. Cả hai hòa hợp với nhau và trở thành nguồn vốn văn hóa đa dạng, phong phú, cho tôi nhiều cảm xúc và sự hiểu biết văn hóa các vùng miền khác nhau. Quan trọng hơn nó cho tôi cách nhìn nhận khá cởi mở về sự “khác biệt văn hóa”, sau này khi đi theo con đường nghiên cứu, giảng dạy, tôi cũng phần nào tránh được tư duy “trung ương tập quyền/độc quyền” về văn hóa.
Dài dòng vậy để thấy rằng, ngôn ngữ Nam Bộ luôn là tiếng nói quen thuộc, thân thuộc với tôi từ thời thơ ấu đến bây giờ, nhưng không hề cản trở tôi nói tiếng Hà Nội (và khi viết có phần cũng giống bạn bè Hà Hội), dù đã gần 50 năm tôi sống ở Sài Gòn.
2.
Năm học cấp 3, trong chương trình của môn văn bắt đầu học về tác giả Nguyễn Đình Chiểu với hai tác phẩm tiêu biểu là Lục Vân Tiên (trích đoạn) và Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Từ nhỏ tôi đã thuộc lòng vở cải lương Kiều Nguyệt Nga nên không xa lạ với hình tượng “Lục Vân Tiên đánh cướp” một cách xả thân quên mình:
"Vân Tiên ghé lại bên đàng
Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô
Kêu rằng bớ đảng hung đồ
Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân…"
Nhưng cũng rất ý tứ tế nhị với Kiều Nguyệt Nga:
"Khoan khoan ngồi đó chớ ra
Nàng là phận gái ta là phận trai"
…
Năm sau tôi học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Tôi còn nhớ thầy giáo khi giảng về bài này đã đọc tác phẩm đúng theo kiểu văn tế ngày xưa, nghe rất lạ nhưng đầy hào hùng và thương cảm. Bình thường mà nghe kiểu đọc ấy chắc bọn nhóc sẽ cười bò lăn – thời ấy tất cả những gì thuộc về “phong kiến” đều là xấu xa, là đáng chê, chưa kể một tâm lý văn hóa “cứ khác mình là… không hay!”. Nhưng bữa đó, có lẽ chính chất mộc mạc, giản dị và thẳng thắn nhưng không gay gắt của ngôn ngữ Nam Bộ đã mang lại một cảm xúc văn chương mạnh mẽ bên cạnh “tinh thần yêu nước” luôn được nhắc đến của tác giả và tác phẩm này. Ngôn ngữ biểu cảm, lời ăn tiếng nói nôm na giản dị là yếu tố thuyết phục nhiều người còn xa lạ với văn chương Nam Bộ.

Với riêng tôi, bài Văn tế... là tác phẩm văn học tôi thuộc lòng ngay từ lần đầu được học, và lần nào đọc lại cũng tràn đầy cảm xúc. Đặc biệt ngôn ngữ và hình ảnh gần gũi thân thuộc như chính bà con anh em tôi ở miền Tây. "Tiếng mẹ đẻ cha sanh" nên tôi luôn yêu thích văn chương của Nguyễn Đình Chiểu, vì gốc gác gia đình cũng là “dân ấp dân lân” ở miền sông nước Cù lao Giêng, Chợ Mới, An Giang. Mỗi lần về Bến Tre tôi đều tới viếng mộ cụ Nguyễn Đình Chiểu, mộ cụ Phan Thanh Giản, mộ cụ Võ Trường Toản, những trí thức danh nhân luôn được người Nam bộ trân trọng và tôn kính!

Nhiều người so sánh văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu và Nguyễn Du và có ý kiến hơn kém này khác. Với tôi, dù cả hai Nhà thơ đều thấm đẫm tinh thần nhân văn nhưng sự so sánh này khá khập khiễng, bởi xuất thân, bởi môi trường xã hội, và cũng bởi “hoàn cảnh ngôn ngữ” tiếng Việt của hai Cụ quá khác nhau. Một bên quan chức, hàn lâm, chau chuốt, bóng bẩy, “tinh vi”; một bên thầy đồ, bình dân, mộc mạc, có sao nói vậy… Văn chương hay nghệ thuật, với cá nhân người đọc binh thường như tôi, yếu tố quan trọng là hợp hay không hợp, thích hay không thích. Có những tác phẩm hay, tác giả nổi tiếng nhưng có thể không thích/hợp, vậy thôi.Và có lẽ không thể phủ nhận yếu tố “nguồn gốc” có tác động lớn đến cảm nhận văn chương, ngôn ngữ.
3.
Sau này, đọc nhiều hơn về văn chương Nam Bộ, tôi đã nhận xét:
Công trình, tác phẩm của các nhà văn hóa, nhà văn Nam Bộ thường được viết và diễn đạt bằng ngôn ngữ trong sáng, giản dị, bình dân, không theo phong cách “hàn lâm” dù đó là những tri thức khoa học từ phương Tây hay công trình khảo cứu thực tế công phu. Tác phẩm của nhiều nhà văn như Ca Văn Thỉnh, Sơn Nam, Vương Hồng Sển, Trang Thế Hy, Trần Kim Trắc… hay trước đó là Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc… và sau đó như Đoàn Giỏi, Nguyễn Quang Sáng hay bây giờ là Nguyễn Ngọc Tư… đều mang lại cho người đọc cảm nhận đầu tiên: họ viết vì tình yêu quê hương sâu đậm, tình yêu cụ thể dành cho từng con người thân quen, từng cảnh vật gần gũi… Họ viết như để nói lên lòng biết ơn với những bậc Tiên hiền, Hậu hiền – những con người bình thường nhưng có công khai hoang lập làng nên được nhân dân tôn thờ trong các đình làng Nam Bộ, cùng với vị Thần được sắc phong của nhà vua. Họ viết như để đền ơn đáp nghĩa với quê hương mà cũng như để chuyện trò với bạn bè gần xa.
Trong tạp bút Dạo chơi của nhà văn Sơn Nam có một câu “lưu niệm” ngắn ngủi của một bạn trẻ Việt kiều về thăm quê:
"Ba cho về thăm đình cũ. Con rất cảm động, thương bà con anh em.
Quê hương buồn quá. Con chúc tất cả bình yên."
Chỉ vậy thôi mà chạm vào trái tim, lần nào đọc lại cũng rưng rưng…
Vì sao khi viết về vùng đất này người ta hay dùng “đất và người Nam Bộ”? Phải chăng vì “đất mới” Nam Bộ thì xa xôi cách trở về địa lý, miền ngoài nhìn người Nam Bộ thì “lạ” về lối sống, ứng xử, phong tục tập quán? Sự xa – lạ ấy mang lại cho người vùng miền khác không ít cái nhìn phiến diện, thậm chí thiên lệch khi tìm hiểu, đánh giá về văn hóa, về lịch sử, về con người Nam Bộ. Cho nên, đọc những tác phẩm của tác giả Nam Bộ nếu tinh ý ta sẽ nhận thấy ẩn hiện trong đó câu trả lời cho những thiên kiến không đúng, chưa trúng. Người Nam Bộ không đao to búa lớn, không đối một đáp hai để cố chứng minh mình là ai, mình là thế nào, văn phong cứ nhẹ nhàng có khi tưng tửng với những câu chuyện đời thường, và người đọc tự hiểu ra rằng “đất Nam Bộ, người Nam Bộ coi dậy mà hổng phải dậy! Đừng có nhìn ba chớp ba nháng… ”. Sự thâm thúy mà hóm hỉnh làm cho ai đó lỡ phán bậy phán bạ phải nhận ra cái nông cạn sai sót của mình mà không bị “quê độ”, vẫn có thể cùng ngồi với nhau trong bữa nhậu, cụng một ly để “bỏ qua” chuyện cũ.
Mấy năm trước nhiều bạn hỏi tôi “Sao những tập tùy bút của chị có rất nhiều bài về Sài Gòn, Nam Bộ nhưng tựa sách thì không cuốn nào có chữ Sài Gòn?”. Bạn à, người Nam Bộ yêu dữ lắm cũng chỉ dùng một chữ “thương”. Khi bạn thương một người đến mức chỉ cần tên người đó thoáng qua cũng làm cho tim bạn nghẹn lại vì lỡ nhịp… có cần gì phải luôn gọi tên người ấy, phải không?

Ngôn ngữ văn thơ Nguyễn Đình Chiểu thể hiện tinh thần yêu nước “Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; Thác mà ưng đền miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ”, hay ca ngợi phẩm chất con người “trai thời trung hiếu làm đầu/ Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”, với người Nam bộ cũng không phải bóng bẩy cao siêu mà vẫn đi vào lòng người, là vậy.

Phản xạ văn hóa các vùng miền Việt Nam

_Nguồn:  https://logbasex.substack.com?utm_source=navbar&utm_medium=web Bản đăng lại từ bài viết trên trang Substack cùng tên của tác gi...