Hiển thị các bài đăng có nhãn Paris. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Paris. Hiển thị tất cả bài đăng

CHỈ NGỒI ĐÓ, VÀ MƠ…

 

Sáng sớm Paris không ồn ào, ánh nắng còn thấp, vàng nhạt trên những mái kẽm xám. Không khí có chút lạnh, đủ để người ta kéo cao cổ áo. Từ một tiệm bánh gần đó, mùi bơ và bánh croissant mới nướng lan theo gió, quyện với hương cà phê espresso đầu ngày. Đi bộ chầm chậm không định đến một nơi nào cụ thể, tôi vừa đi vừa lắng nghe một ngày mới đang đến. Là tiếng giày bước nhẹ trên vỉa hè lát đá, tiếng một chiếc xe đạp lướt qua, là tiếng các cửa hiệu bắt đầu mở cửa. Bên bờ sông Seine, nước chảy lặng lẽ như đã chảy qua bao thế kỷ. Một chiếc xà lan đi ngang, để lại những gợn sóng lan nhẹ vào bờ.

Tôi dừng lại ở quán cà phê, chọn một chiếc bàn ngoài hiên. Không định làm gì cả. Một tách café crème, chiếc điện thoại, cũng có khi tôi cất điện thoại vào túi và mở một quyển sổ nhỏ, hoặc có thể chẳng cần quyển sổ nào. Chỉ ngồi đó. Những suy nghĩ đến rồi đi. Có chuyện của hôm qua, của mấy chục năm trước, có những dự định chưa thành, có những người đã gặp rồi rời xa. Nhưng kỳ lạ là ở một nơi đủ xa cuộc sống thường nhật, những suy nghĩ ấy không còn nặng nề. Chúng chỉ giống như những chiếc lá đang nhẹ nhàng lăn trên vỉa hè vắng vẻ…

Rồi tôi nhận ra điều mình tìm không phải là Paris, mà là một khoảng lặng trong lòng mình. Tôi như nhiều người, luôn mơ đến Paris. Không chỉ vì nó đẹp mà vì thành phố ấy dường như được tạo ra để người ta không cảm thấy có lỗi khi có thể lười biếng ngồi yên hàng giờ ở quán cà phê. Bên vỉa hè, nhìn người qua lại chẳng làm gì cả cũng đã là một cách sống vì sự làm biếng trở nên chính đáng. Tôi ngồi rất lâu ở quán cà phê ven sông Seine, ngắm nhìn những viên đá lát đường, những ngôi nhà cũ, những cây cầu, nghĩ ngợi linh tinh, tự hỏi bao nhiêu người đã đi qua đây, bao nhiêu câu chuyện đã lắng xuống trong dòng sông ấy. Địa điểm chỉ là cái cớ. Điều quý nhất là có một nơi mình cho phép bản thân được sống chậm trong một lúc. Một nơi đủ yên để nghe được tiếng nói của chính mình. Ngồi đó và có cảm giác tự hài lòng. Nhưng dường như vẫn còn thiếu thiếu một điều gì đó? 

Một người nào đó? Không nhất thiết phải ngồi đối diện. Có thể người đó ngồi ở chiếc bàn gần đó, đọc một cuốn sách, thỉnh thoảng ngẩng lên vô tình ánh mắt chạm nhau. Sự hiện diện của một người xa lạ bỗng chốc mang lại cảm giác quen thuộc gần gũi…  làm cho thời gian như quay lại quá khứ, bình yên.

Hay là, một cuốn sách? Không phải để cắm cúi đọc mà để mở trên bàn. Có thể đọc vài trang rồi ngẩng lên nhìn dòng sông, khi ấy câu chữ và cảnh vật hòa vào nhau, mang mình đi vào câu chuyện. Có những cuốn sách không phải để đọc liền mạch, mà để đồng hành với một buổi sáng như thế.

Nhưng... cũng có thể là không có ai cả. Đến một lúc nào đó, con người ta thấy hạnh phúc khi có thể ở một mình mà không thấy cô đơn. Ngồi bên sông, ly cà phê đã nguội, tiếng thìa chạm vào thành cốc, nhìn ánh nắng dịch chuyển trên mặt nước. Không cần chụp ảnh. Không cần đăng lên mạng. Không cần chứng minh với ai rằng mình đang hạnh phúc. Có lẽ đó mới là sự tĩnh tại.

***

Trên sông, lại một chuyến tàu đi ngang. Nắng đã lên cao hơn, gió trên cây xào xạc hơn, người trên đường đông hơn…  Cuộc sống vẫn đang chuyển động. Người ta tất bật đi đến những nơi cần đến. Chỉ có mình, trong một khoảng thời gian ngắn ngủi được quyền đứng ngoài dòng chảy ấy. Bởi bình yên không phải là khi mọi thứ ngừng lại. Bình yên là khi mình không thấy cần phải chạy theo mọi thứ. Được ngồi đó và nghĩ ngợi linh tinh, đó là đặc ân của một tâm trí không bị thúc ép phải giải quyết điều gì ngay lúc này. Đó là khoảng thời gian mà ý tưởng, ký ức, những câu hỏi về lịch sử, về thành phố, về con người... có thể tự nhiên kết nối với nhau.

Và bạn biết không, trong một sáng bên sông Seine tôi không chỉ nghĩ về Paris. Tôi lại nhớ đến sông Sài Gòn, nhớ một sáng nào đó ở bến Bạch Đằng, khi thành phố còn chưa đông, một ly cà phê đen đá và gió từ sông Sài Gòn thổi lên. Và một chuyến hải trình đi theo dòng sông ra đến cửa biển. Nhớ những bến cảng, những con nước, những lớp phù sa văn hóa tạo nên hình hài thánh phố. Như một điều nghịch lý nhưng rất đẹp: nếu ta yêu một thành phố thì khi đi xa lại càng hiểu sâu hơn thành phố của mình.

Có một câu của nhà văn người Áo Stefan Zweig mà tôi rất thích (không phải nguyên văn): điều quý giá nhất của một chuyến đi không phải là nhìn thấy những miền đất mới, mà là có một đôi mắt mới để nhìn lại thế giới. Với những người làm di sản điều đó rất đúng. Nghiên cứu quá khứ không phải để sống trong quá khứ, mà để nhìn hiện tại sâu sắc hơn. Biết đâu một ngày nào đó, bạn sẽ thật sự ngồi ở một quán cà phê ven Seine. Và rồi vài tháng sau, khi bạn lại ngồi ở một quán ven sông Sài Gòn, bạn sẽ nhận ra rõ ràng, hai dòng sông, hai thành phố, hai lịch sử khác nhau, nhưng cùng có một khả năng kỳ lạ là khiến con người sống chậm lại để lắng nghe chính mình.

Bạn ơi, cứ mơ ước đi, vì ước mơ những điều tốt đẹp sẽ làm cho cuộc sống trở nên phong phú hơn. Người ta vẫn nghĩ đi du lịch là để khám phá một thành phố. Nhưng ngược lại, các thành phố xa lạ cũng làm ta khám phá lại chính mình. Bởi vì, có những nơi chốn làm hiện ra điều vốn đã ở trong lòng mình.

 














 

NHỚ PARIS

 MỘT KIẾP NÀO ĐÓ Ở PARIS

Buổi sáng, khi mở mắt là thấy trời đã sáng rõ, không phải vì dậy trễ mà vì mùa hè phương Bắc gần như không có màu đêm. Ban đêm không khí như ở Sài Gòn, thỉnh thoảng có ngọn gió lang thang lướt qua làm dịu cả cái nóng bức của cả một ngày dài chói chang ánh nắng. Mở cửa sổ thì hơi lạnh nên đắp tấm chăn mỏng, nằm “nướng” và tha hồ nghĩ ngợi linh tinh, một cảm giác lười biếng dễ chịu của ngày thơ bé...
Paris có gì lạ không em? Ai cũng nhắn hỏi như vậy khi biết tôi đang ở Paris. Khi tôi trả lời một người bạn rằng, em thấy Paris vẫn thế chỉ có em dường như có khác khi trở lại. Anh nói: Paris lạ vì nó luôn làm người ta khám phá ra chính mình, mỗi lần một khác, mỗi lần một mới hơn!
Có lẽ vì vậy mà tôi luôn mong muốn trở lại Paris.
Paris là một thành phố có nét đẹp cổ kính tạo nên sự lãng mạn chưa bao giờ phai nhạt... Ở Paris hình như người ta luôn sống bình thản trong khung cảnh ấy. Nhiều người đến đây cũng bị “lây” sự bình thản và bỗng sống chùng lại. Tôi thích bước đi chậm rãi trên đường phố Paris, dưới những tán lá mùa hè xanh mướt, thi thoảng lọt qua kẽ lá một mảnh trời xanh biếc không một gợn mây. Những quán cà phê trên vỉa hè như ngưng đọng qua hàng trăm năm, ngồi đó và tưởng một kiếp nào đó mình từng sống nơi đây.
Kiếp nào đó... tôi đã quen thuộc một Paris với những quán sách cũ ven sông, những con đường dịu dàng ánh đèn vàng ấm áp, những cây cầu qua sông Seine đẹp như mơ, và một Paris “đẹp nhất lúc trời mưa” khi bên cạnh là một ánh mắt ấm áp và giọng nói trìu mến.
Kiếp nào đó... tôi đã quen thuộc những đại lộ lát từng viên đá chẻ vang lên tiếng xe ngựa lọc cọc, từng ngõ nhỏ mờ sương tím thấp thoáng bóng chiếc váy dài kiều diễm, công viên mùa hè rực rỡ nắng như lụa trên những chiếc dù ren trắng mong manh... Tôi từng quen thuộc những người “đàn ông Paris” hào hoa và hóm hỉnh, những vị vua chúa cao sang, những chàng ngự lâm quân can đảm và đa tình...
Kiếp nào đó ở Paris... có sự thất vọng ê chề của Madame Bovary, của những người đàn bà quên mình lao vào mối tình đẹp và buồn nhưng ngắn ngủi như ánh mặt trời hiếm hoi ngày đông lạnh giá... Có sự bao dung của lời tỏ tình đẹp nhất tôi từng biết “Ông Marius, hình như em có đem lòng yêu ông”...
Kiếp nào đó Paris là của “Những người khốn khổ”. Và đàn ông Paris ngày ấy, cũng như ở đâu ở thời nào cũng vậy, với họ “chiến đấu” bao giờ cũng là trên hết và trước hết. Màu cờ đỏ cứ làm cho tôi rờn rợn mỗi khi xem lại những bộ phim, những bức tranh... về thời cách mạng Pháp, khi đám đông quần chúng ào ào xông lên rồi ngã xuống trước những loạt đạn. Một nhà văn sau này đã viết một câu, đại ý: Quần chúng nhân dân làm nên lịch sử, nhưng lịch sử là đoàn tàu chạy trên đường ray có sẵn, và quần chúng thì ngồi trên tàu vỗ tay ca hát reo hò còn đoàn tàu đã có đầu máy kéo đi.
... Dẫu vậy, sau tất cả, rốt cuộc Paris làm cho tôi nhận ra rằng, cuộc chiến nào cũng vô nghĩa trước tình yêu!
Paris có gì lạ không ư? Đừng “hỏi khó” nhau như thế, nếu là người yêu hãy cùng nhau đến nơi đây dù chỉ một lần.
Từ biệt Paris, không biết có còn dịp nào trở lại thành phố này nữa không... Nhưng cảm giác một mình lơ lửng với mùa hè của tuổi đôi mươi mà Paris mang lại cho tôi sẽ mãi tươi nguyên... như ở một kiếp nào đó có một người vừa đi khỏi cuộc đời tôi...

___

ANH VÀ EM, VÀ PARIS

Paris có gì lạ không em?
Mỗi lần em quay trở lại
Dường như Paris không khác
Chỉ có em thay đổi mỗi lần
Không phải em khám phá Paris
Mà Paris khám phá em, lạ lẫm
Dưới tán lá xanh mùa hạ
Em trở về tuổi đôi mươi
Thèm được cầm tay anh
Thèm nụ hôn của anh
Trong quán cà phê
Trên vỉa hè phố cũ
Không phải em khám phá Paris
Mà Paris làm em chợt hiểu
Em vẫn nhớ anh da diết
Người đàn ông cô đơn của em
Paris có gì lạ không em?
Anh đừng hỏi em nữa nhé
Nếu trong ta còn ước mơ ngày cũ
Hãy cùng nhau trở lại Paris dù chỉ một lần...








TÔI CÒN NỢ MÙA HÈ NƯỚC PHÁP


Tôi đến nước Pháp vài lần, vừa là cái duyên từ những ký ức qua văn chương thời thơ ấu, vừa là kỳ duyên với những người bạn vong niên thân quý. Năm nay ánh nắng ấm áp mùa hè nước Pháp theo tôi suốt những con đường tôi qua…

Paris tháng bảy là mùa du khách tấp nập trong khi người Paris bắt đầu “đi trốn” cái nóng. Nhân viên các công sở lần lượt nghỉ hè, cửa hàng cửa hiệu bắt đầu treo bảng “tạm nghỉ”… Những chuyến xe bus, metro thoát khỏi cảnh chen chân nhau lên xuống, những quán cà phê vỉa hè không còn quá đông đúc, có thể dễ dàng tìm thấy một vài bàn trống để ngồi đó thoải mái ngó nghiêng một Paris mà tôi yêu thích. Cà phê Paris cũng giống như cà phê Sài Gòn (có lẽ phải nói ngược lại mới đúng  ) là bạn có thể ngồi đó hàng giờ chỉ với một ly cà phê hay thêm một cái croissant, ngồi đó mơ màng, viết lách thậm chí chẳng nghĩ ngợi gì cả, giản đơn chỉ là đắm mình vào cái thú nhàn tản của người Paris. Ở Paris người ta chỉ “cắm mặt” vào thế giới ảo ở smarphone hay ipad khi đi bus hay metro, còn ở tiệm ăn hay quán cà phê thì người ta thưởng thức cuộc sống, trò truyện, ăn uống hoặc im lặng bên nhau… Người Paris “sống thật” hơn nhiều nơi khác.
Có lần tôi ngồi ở Café de Flore nổi tiếng trên đại lộ Saint-Germain. Được mở từ năm 1887, trong suốt thế kỷ 20, Café de Flore từng là điểm đến của rất nhiều nhân vật nổi tiếng nhưng người ta thường tự hào nhắc đến các nghệ sĩ như Jean-Paul Sartre, Picasso, Yves Saint Laurent, Ernest Hemingway... Cùng với Les Deux Magots và Brasserie Lipp, Café de Flore là một trong ba quán cà phê nổi tiếng của khu phố Saint-Germain-des-Prés. Quán lúc nào cũng đông khách và hình như ai cũng thích ngồi ngoài vỉa hè có lẽ vì bên trong quán khá nhỏ, ngồi dưới bảng hiệu “Café de Flore” và trên nữa là những ban công hàng rào bằng gang đúc hoa văn mềm mại xen những chậu hoa mùa hè rực rỡ, phía sau thấp thoáng rèm thưa màu trắng tinh khôi… Một cảm giác thật là Paris.
Ở Paris có nhiều nơi để bạn đi chơi, nhìn ngắm và thư giãn: trong công viên, viện bảo tàng, những lâu đài cung điện, di tích thắng cảnh, các khu chợ trời, nhâm nhi cà phê hay tản bộ dọc theo sông Seine, kể cả những nghĩa trang yên tĩnh… Không cần phải vội vàng cứ thong thả dạo quanh thành phố, có thể mang theo đồ ăn đơn giản, tìm một chiếc ghế mát dọc theo bờ sông, trên bãi cỏ trong công viên hay ngay trên những cây cầu dành cho người đi bộ, ngồi đó với bạn bè hay chỉ một mình thưởng thức bữa trưa ngoài trời. Paris ngày hè làm cho ai đến đây cũng có cảm giác đang tận hưởng ngày cuối tuần kéo dài bất tận bởi vì đến chín, mười giờ đêm ngoài trời vẫn còn nhìn rõ mặt người.
Mỗi lần đến Paris như một lần gặp lại người thân yêu, quen thuộc lắm nhưng cảm xúc luôn mới mẻ, hệt như mỗi sáng “gặm” miếng bánh mì baguette còn nóng hổi thơm lừng mùi men mùi bột và cả mùi ban mai Paris tinh khiết.
Nhưng nước Pháp đâu chỉ có Paris?
Mùa hè nước Pháp trong ký ức tươi nguyên của tôi là ba sắc màu xanh, vàng và trắng. Màu xanh của cây lá khắp nơi, màu vàng của cánh đồng lúa mì đang mùa thu hoạch, của vệt dài hoa cỏ ven đường, và màu trắng lấp lánh của cánh quạt điện gió và những cánh chim bay về nơi cuối trời… Tất cả sắc màu tươi tắn hiện ra dưới ánh nắng trong như mật những ngày hè tháng bảy.
Mùa hè cũng là mùa gặt - ừ, bây giờ hay gọi là mùa thu hoạch bởi trên những cánh đồng lúa mì chỉ thấy những chiếc máy gặt đập thong thả cuốn từng vòng để lại phía sau lớp rơm rạ nằm ngay hàng thẳng lối. Đã lâu lắm rồi người nông dân châu Âu đâu còn phải cắm mặt xuống đất còng lưng cầm liềm hái gặt lúa nữa.
Mùa hè nước Pháp của tôi là những thành phố cổ kính, những ngôi làng xưa “đẹp nhất nước Pháp”, pháo đài cổ, nhà thờ, di tích khảo cổ hang động xưa hàng triệu năm, xưởng gốm cổ chuyên sản xuất phục vụ Hoàng gia Pháp… Những ngọn đồi xanh mướt bên thung lũng xanh thắm nối nhau hiện ra rồi lùi lại phía sau… Và tôi, hệt như cậu bé Remy trong “Không Gia đình” khi ngồi trên đỉnh đồi nhìn xuống thung lung, nơi có ngôi làng và căn nhà nhỏ của má Barberin, lòng nao nao vì phải rời xa nó… Thấp thoáng đâu đó hương thơm dịu nhẹ của những bông hồng nở muộn và những bụi oải hương màu tím… còn đọng lại trong ký ức tôi. Cánh đồng lavender tím ngát tận chân trời, quyến rũ như người đàn bà tuổi vào thu đầy bí ẩn.
Trong nhiều làng cổ nước Pháp chợt tôi nhìn thấy cái nhà lồng chợ, quen thuộc như nhà lồng ở bất cứ thị tứ nào ở Nam bộ, đó là ngôi nhà rộng rãi, cao ráo chỉ có những cây cột và mái ngói, bốn phía trống không, nền cao. Khác với nhà thờ bao giờ cũng ở trung tâm của làng, nhà lồng thường nằm ngay “quảng trường” đầu làng, là chợ cũng là nơi hội họp chung khi cần. Xưa người ta họp chợ vào buổi sáng hay vào ngày phiên chợ, bây giờ không còn sinh hoạt này nữa, nhà lồng trở thành “di tích”, chỉ vào ngày cuối tuần khi du khách đổ về, trong nhà lồng là những quầy hàng thức ăn đặc sản, đồ lưu niệm đặc sắc của làng, xung quanh những ngôi nhà cổ trở thành hàng quán, tiệm ăn, khách sạn nhỏ… Làng cổ bình yên giữ nguyên cảnh quan và được đẹp thêm bởi hàng chục loài hoa nở rộ dưới hiên nhà, trên bệ cửa sổ, bởi những khuôn cửa trắng bình yên, bởi con đường uốn quanh sạch sẽ và những nụ cười của dân làng… Những ngôi làng với nhà lồng nơi xa dường như chẳng có gì liên quan lại làm tôi nhớ quá chừng những làng quê Nam bộ, cũng nhà lồng chợ xôn xao lúc ngày rạng sáng, cũng những gương mặt hồn hậu… chỉ còn thiếu tiếng mái chèo khua nhẹ trên kinh rạch và bóng chị bóng mẹ dịu dàng trên chiếc xuồng ba lá…
Mùa hè nước Pháp với tôi còn là sắc vàng trong những bức tranh của Van Gogh. Những cánh đồng bát ngát lúa mì vàng sậm, những cánh đồng tràn hoa hướng dương rực rỡ. Đắm mình trong không gian này mới hiểu và cảm nhận hết những sắc độ màu vàng trong những bức tranh của danh họa – người đã chọn nước Pháp làm nơi ra đi lần cuối - màu vàng đầy sức sống nhưng cũng đầy ám ảnh của sự chia ly mãi mãi.
Rời nước Pháp vào giữa những ngày hè rực rỡ nhưng chỉ ít ngày sau bạn nhắn, bên này trời chưa lạnh nhưng lá bắt đầu vàng, sắp sang thu rồi đấy. Tôi hay đi xa vào mùa thu nhưng chưa lần nào phải chia tay với ai vào cái mùa mà người ta mặc định là “mùa chia ly”. Nhưng khi chia tay mùa hè nước Pháp với cảm giác còn nợ một điều gì đó… cũng ám ảnh không khác gì màu vàng hoa hướng dương Van Gogh.
Bởi vì, ở tuổi mùa thu của chúng ta mùa hè không trở lại nữa mà phía trước sắp là mùa đông…

NOTRE DAME DE PARIS - NƠI DỪNG CHÂN CỦA KÝ ỨC

Notre-Dame de Paris - Nơi dừng chân của kí ức - 3

Tôi có may mắn được đến Paris vài lần, và lần nào cũng vậy Nhà thờ Đức Bà Paris luôn là nơi tôi tìm đến, có thể chỉ là đi ngang qua chốc lát. Như nhiều người cùng thế hệ, tôi biết đến ngôi nhà thờ nổi tiếng này đầu tiên là qua tác phẩm Notre-Dame de Paris của đại văn hào Victor Hugo, sau đó là nhờ xem nhiều bộ phim có cảnh quay tại đây. Từ đó trở thành một ký ức chưa bao giờ rời khỏi tâm tưởng khiến tôi luôn “đi tìm”, mỗi lần nhìn thấy lại như trở về miền ký ức ngọt ngào và bí ẩn.

Tiểu thuyết của Victor Hugo để lại sự ám ảnh nặng nề từ kiến trúc đồ sộ của nhà thờ như một cái bóng khổng lồ đè lên số phận chàng gù Quasimodo nhân hậu và nàng Esmeralda tài hoa xinh đẹp, tiếng chuông đầy đe dọa với đám người bần cùng luôn tụ tập đầy rẫy xung quanh nhà thờ, sự ám ảnh của những cuộc nổi loạn, cướp phá và giết chóc...  tất cả đã dựng lại xã hội nước Pháp đen tối thời trung cổ. Những nhân vật chính của tiểu thuyết trở thành huyền thoại bởi mối tình lãng mạn, quên mình... một kiểu tình yêu “rất Pháp”.

Từ một thiết chế tôn giáo quan trọng trong một giai đoạn lịch sử nhất định, từ một tác phẩm được dựng trên bối cảnh của nó và qua ký ức của nhiều thế hệ độc giả trong và ngoài nước Pháp, Notre-Dame de Paris đã trở thành biểu tượng của Paris về kiến trúc, về lịch sử và tính cách “Parisiens”. Nhà thờ Đức Bà Paris còn một trong những biểu tượng được công nhận rộng rãi nhất của cả nước Pháp, là nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật nổi tiếng. Mỗi năm có hàng chục triệu du khách khắp thế giới ghé thăm nơi đây.
***
Cho đến ngày 15.4.2019 khi cuộc hỏa hoạn xảy ra, Notre-Dame de Paris đã tồn tại khoảng 850 năm. Công trình bắt đầu xây dựng từ thế kỷ 12 và phải qua một thế kỷ sau mới hoàn thành, đồng thời cũng được  trùng tu vài lần do tác động của thời gian, hư hỏng sau cuộc cách mạng Pháp... Ngày nay bất cứ ai đến Paris cũng muốn tìm đến nơi này, ngắm nhìn công trình kiểu Gothic tiêu biểu cho kiến trúc công giáo thời trung cổ. Nhìn chính diện từ quảng trường với hai tòa tháp cao sừng sững và cân đối thì Notre-Dame de Paris như một Đức Ông lạnh lùng đầy quyền uy, nhưng khi nhìn từ phía sông Seine với tháp chuông cao vút, những đường nét trang trí thanh thoát mềm mại thì Notre-Dame de Paris lại giống một mệnh phụ thanh lịch và duyên dáng...

Công trình có được sự trang nghiêm của tôn giáo nhưng gần gũi với dân chúng như vậy là nhờ việc xây dựng nhà thờ đi cùng việc quy hoạch đôi bờ sông Seine. Sự kết hợp giữa công trình đồ sộ ở một hòn đảo nhỏ hài hòa với quảng trường rộng phía trước, những con đường lớn và đường đi bộ, bến du thuyền ven sông. Các dãy phố hai bên bờ sông từ hàng trăm năm nay không xây nhà cao tầng là phố thương mại dịch vụ gồm quán ăn, quán cà phê, hiệu sách cũ, cửa hàng đồ lưu niệm... Một cây cầu không quá lớn, không trang trí cầu kỳ dẫn vào quảng trường xung quanh có cây xanh, trụ đèn, thảm cỏ bồn hoa như một công viên nhỏ. Điểm KM số 0 của nước Pháp đánh dấu ở sân trước Nhà thờ Đức Bà được ghi dòng chữ KILOMETRE ZERO DE FRANCE.  Tất cả cảnh quan đó đã tạo nên cảm giác thân thiện với cộng đồng và du khách.

Tháp chuông cao vút như một mũi tên của Nhà thờ Đức Bà luôn in trên nền trời, nhìn từ phía nào cũng nổi bật, nhất là đi du thuyền trên sông Seine. Nhà thờ là một trong ba điểm nhấn quan trọng – cột mốc Lịch sử của Paris, cùng với hai điểm nữa là Khải Hoàn Môn – cột mốc thời cận đại và Tháp Eiffel – thời hiện đại. Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử kiến trúc đã có nhận xét: về kiến trúc và sự gìn giữ bảo tồn thì Notre-Dame de Paris không quá đặc sắc so với nhiều nhà thờ ở nước Pháp và châu Âu, nhưng khi gắn liền với Paris – một nơi chốn cụ thể với quá trình lịch sử, văn hóa cụ thể thì giá trị to lớn của Notre-Dame de Paris  ở chỗ nó là cột mốc cho lịch sử thời trung cổ của thành phố này.

Một điểm đặc sắc của Notre-Dame de Paris mà không nhiều du khách biết đến, đó là ngay dưới nền của quảng trường nhà thờ đã có một bảo tàng Khảo cổ học. Khi thành phố Paris định xây dựng một bãi đậu xe ngầm tại đây thì phát hiện di tích một làng cổ còn dấu tích nhà cửa, lò bánh mì, những vật dụng sinh hoạt… Chính quyền thành phố đã quyết định khai quật toàn bộ và bảo tồn trở thành bảo tàng tại chỗ, bởi vì đó chính là làng cổ đã nhường chỗ để xây dựng nhà thờ từ thế kỷ 12. Bảo tàng này có thể coi là Bảo tàng về việc hình thành Paris cổ xưa và quá trình xây dựng Notre-Dame de Paris, được minh họa bằng những bộ phim tài liệu khoa học 3D hiện đại bên cạnh những hiện vật khảo cổ học.

Ngoài giá trị về kiến trúc và điêu khắc trang trí như những cửa sổ Hoa Hồng, tranh thánh tích bằng kính màu, tượng điêu khắc linh vật Gargoyle, mười chiếc chuông cổ… nhà thờ Đức Bà Paris còn là nơi lưu giữ nhiều tác phẩm nghệ thuật và báu vật quốc gia mà theo thông tin chính thức, những báu vật này đã được kịp thời cứu thoát khỏi trận hỏa hoạn: " các tác phẩm nghệ thuật lớn và những mẫu vật thiêng liêng, vương miện gai bằng vàng, áo choàng của nhà vua của Saint Louis - vị vua thế kỷ thứ 13 của Pháp, và một mảnh của Thánh giá Đích thực hiện đã về nơi an toàn". Ngoài ra hai tòa tháp chính (cao đến 68m, bao gồm 387 bậc thang mà khi leo hết những bậc thang này, du khách sẽ được chiêm ngưỡng toàn cảnh thành phố Paris) cũng đã thoát khỏi ngọn lửa khủng khiếp. Những chứng tích quan trọng này sẽ trở thành điểm tựa cho cuộc hồi sinh của của Notre-Dame de Paris.

Hỏa hoạn ở Notre-Dame de Paris được dập tắt chỉ trong vài giờ nhưng thiệt hại của nó thì chắc chắn phải hàng thập kỷ nữa cũng chưa bù đắp được. Nhưng cũng từ đây, bằng tình yêu lịch sử và sự trân trọng di sản văn hóa đã trở thành truyền thống, chính phủ và người dân Paris, nhân dân Pháp sẽ làm mọi cách để biểu tượng này được “sống lại”. Tôi tin điều đó sẽ trở thành hiện thực trong một mùa Phục sinh không xa!
***
“Trông người lại ngẫm đến ta”, nhiều di sản văn hóa từ nông thôn đến đô thị nước ta đang bị mai một, bị hủy hoại do tự nhiên và phần lớn là do con người. Ý thức, sự hiểu biết và trân trọng các công trình di sản còn chưa trở thành thói quen, truyền thống… Những mối lợi trước mắt về địa ốc, về lợi nhuận luôn rình rập để có cơ hội là phá bỏ các công trình di sản, việc trùng tu không khoa học và không cẩn trọng luôn ẩn chứa nguy cơ tại họa như mới xảy ra với Nhà thờ Đức Bà Paris… Nguyên nhân sâu xa là từ  việc nhận thức và giáo dục về di sản không được coi trọng, nguyên nhân trực tiếp là việc phá hủy di sản bằng nhiều hình thức mỗi ngày vẫn diễn ra mà không bị ngăn chặn hay chế tài kịp thời.

Trên mạng xã hội đã có một số ý kiến gay gắt chỉ trích các ngôi sao “người của công chúng” khi họ bày tỏ thương xót luyến tiếc Nhà thờ Đức Bà Paris mà chưa bao giờ lên tiếng vì những di sản văn hóa trong nước!  Mong rằng, khi đã biết trân trọng di sản văn hóa nước ngoài thì hãy nhìn về di sản nước nhà để nhận biết giá trị và trân trọng.  Mất mát nào cũng là bài học - miễn là mỗi người chúng ta đều thấy cần phải học! Mất mát nào cũng phải trả giá nhưng di sản mất đi thì không có sự trả giá nào bù đắp được. Hãy gìn giữ để di sản văn hóa Việt Nam trở thành những điểm đến mang giá trị “nơi dừng chân của ký ức” như Notre Dame de Paris và nhiều di sản trên thế giới.

Nguyễn Thị Hậu, Sài Gòn 16.4.2019


Notre-Dame de Paris - Nơi dừng chân của kí ức - 2

SẼ CÒN GẶP LẠI NƠI NÀY


Cà phê  Paris

 Khi đến bất cứ thành phố nào tôi cũng thường chú ý đến những quán cà phê.
Không phải là một tín đồ trung thành của lọai nước uống màu nâu thơm phức này nhưng cà phê luôn “quyến rũ” tôi, trước hết là vì nó giúp cho tôi tỉnh táo sau chặng đường dài hay chuẩn bị cho một ngày quay cuồng vì công việc. Và, điều này quan trọng hơn, quán cà phê là nơi tôi thường gặp gỡ bạn bè, đồng nghiệp, và những người bạn mới quen. 
Có thể đó là một tiệm cà phê sang trọng danh tiếng khắp thế giới, có thể là một tiệm nhỏ bên đường có bán cả bánh ngọt và thức ăn nhanh, mà cũng có khi là quán hàng bàn ghế bày ngòai lề đường dưới những cây dù màu sắc nhã nhặn hay sặc sỡ. Sự khác nhau giữa nơi này và nơi khác có lẽ là ở hương và vị ly cà phê, là phong cách phục vụ, là cách trưng bày trang trí, là những người cùng ngồi với tôi ở đó. Sự khác nhau còn ở thời gian tôi đến đó ngắn hay dài ngày, vào mùa nào trong năm. Và bạn có tin không, hương vị cà phê mỗi mùa mỗi khác đấy, nhất là ở những nơi có đủ bốn tiết Xuân, Hạ, Thu, Đông như những thành phố ở châu Âu.

Một ngày thu tôi trở lại Paris. Chuyến tàu từ Rotxterdam đến Paris băng qua màn mưa, ánh nắng thi thỏang hiện ra rồi nhanh chóng trốn sau đám mây xám âm u. Giang nói với tôi: phía trời hửng sáng kia là Paris đấy, hy vọng Paris đẹp trời vì thời tiết ở Pháp không thất thường như ở Hà Lan hay Bỉ. Khi tôi đến Paris không mưa tầm tã nhưng gió lạnh đã tràn về. Trưa chủ nhật, khu trung tâm Paris tìm không ra nơi đậu xe, anh chị T. phải chạy xe vòng vòng gần một tiếng mới tìm ra một chỗ hiếm hoi trước quán ăn đối diện Notre Dame. Thật may mắn vì đứng nơi đây có thể nhìn thấy tòan cảnh Nhà thờ Đức bà Paris.

Gió hun hút đôi bờ sông Seine bứt tung những chiếc là vàng rải dọc vỉa hè. Những kiốt sách cũ vẫn thế, nhưng hình như những người chủ quán không còn nét hồn hậu như xưa. Vài năm trước tôi qua Paris cũng đến đây tìm mua sách cũ, khi ấy nhiều người bán rất say mê chính những gì họ bán, một cuốn sách bán đi, một tấm bưu thiếp có người mua, một bức tranh có ngừơi chủ mới… người bán dường như phải chia tay với người bạn thân thiết, họ gửi gắm cho người mua cả tình yêu của mình đối với Paris, với nước Pháp. Vẫn đông khách ngắm nghía những tấm bưu thiếp, bức tranh, những cuốn sách cũ. Một Paris cổ xưa hiện lên cụ thể và đa dạng trên từng quầy sách. Tôi và G. trầm trồ trước những bức ảnh đen trắng, những bức ký họa chì chân dung những quý cô quý bà Paris duyên dáng. Cái duyên của những người phụ nữ thấm đẫm sự tinh tế và sang trọng của một Paris cổ xưa…

Quán cà phê nhỏ phía sau Notre Dame. Anh chị T. chọn bàn ngòai vỉa hè dưới cây dù nhỏ vì biết tôi thích như thế. Ngồi cà phê ở Paris thì ngồi ngòai vỉa hè mới cảm nhận hết không khí đặc trưng của Paris : dòng người nối nhau trên đường, những cặp tình nhân thong thả tay trong tay, những cửa hàng đồ lưu niệm tấp nập người ra vào. Bạn sẽ bảo : Ừ thì nơi nào chả thế, bất cứ thành phố du lịch nào mà không có những quán cà phê như vậy ? Nhưng với tôi gió trên những con phố này, những hàng cây lá vàng xào xạc nơi đây, dòng sông Seine lăn tăn sóng dưới kia, ly cà phê nhỏ thơm thơm, những người bạn thân quý ngồi bên tôi… tất cả làm cho ly cà phê không đường càng ngọt ngào hơn, ấm áp hơn…

Một vòng đồi Montmartre, mưa như rây trên những mái nhà ngói cũ, trên những bức tường dây leo xanh lá đỏ, trên những con đường dốc lát đá nhỏ vuông vắn từng viên. Khung cửa nhỏ ấm áp, tiếng nhạc nhè nhẹ, tiệm đồ gốm xinh xắn, ngày cuối tuần du khách rất đông … Từ nhà thờ trung tâm nhìn xuống Paris lô nhô ngút mắt.. Nghỉ chân trong quán cà phê nhỏ. Mưa đã tạnh mà Paris dưới kia sao vẫn mờ như sương… 
 
Mỗi lần cà phê ở Paris luôn mang lại cảm giác lạ mà quen. Cám xúc là lạ khi trở lại bởi tôi luôn giữ trong mình ấn tượng một Paris của những bài thơ những trang tiểu thuyết đã đọc từ thời thơ ấu. Nhưng sự thấp thỏm vì giờ chia tay đang đến gần thì quen lắm, Paris như muốn niu giữ người ra đi khi chiều nay mưa mùa thu đến sớm…

Ly cà phê chợt đắng…

Tôi còn nợ mùa hè nước Pháp

Tôi đến nước Pháp vài lần, vừa là cái duyên từ những ký ức qua văn chương thời thơ ấu, vừa là kỳ duyên với những người bạn vong niên thân quý. Năm nay ánh nắng ấm áp mùa hè nước Pháp theo tôi suốt những con đường tôi qua…
Paris tháng bảy là mùa du khách tấp nập trong khi người Paris bắt đầu “đi trốn” cái nóng. Nhân viên các công sở lần lượt nghỉ hè, cửa hàng cửa hiệu bắt đầu treo bảng “tạm nghỉ”… Những chuyến xe bus, metro thoát khỏi cảnh chen chân nhau lên xuống, những quán cà phê vỉa hè không còn quá đông đúc, có thể dễ dàng tìm thấy một vài bàn trống để ngồi đó thoải mái ngó nghiêng một Paris mà tôi yêu thích. Cà phê Paris cũng giống như cà phê Sài Gòn (có lẽ phải nói ngược lại mới đúng J ) là bạn có thể ngồi đó hàng giờ chỉ với một ly cà phê hay thêm một cái croissant, ngồi đó mơ màng, viết lách thậm chí chẳng nghĩ ngợi gì cả, giản đơn chỉ là đắm mình vào cái thú nhàn tản của người Paris. Ở Paris người ta chỉ “cắm mặt” vào thế giới ảo ở smarphone hay ipad khi đi bus hay metro, còn ở tiệm ăn hay quán cà phê thì người ta thưởng thức cuộc sống, trò truyện, ăn uống hoặc im lặng bên nhau… Người Paris “sống thật” hơn nhiều nơi khác.

Có lần tôi ngồi ở Café de Flore nổi tiếng trên đại lộ Saint-Germain. Được mở từ năm 1887, trong suốt thế kỷ 20, Café de Flore từng là điểm đến của rất nhiều nhân vật nổi tiếng nhưng người ta thường tự hào nhắc đến các nghệ sĩ như Jean-Paul Sartre, Picasso, Yves Saint Laurent, Ernest Hemingway... Cùng với Les Deux MagotsBrasserie Lipp, Café de Flore là một trong ba quán cà phê nổi tiếng của khu phố Saint-Germain-des-Prés.  Quán lúc nào cũng đông khách và hình như ai cũng thích ngồi ngoài vỉa hè có lẽ vì bên trong quán khá nhỏ, ngồi dưới bảng hiệu “Café de Flore” và trên nữa là những ban công hàng rào bằng gang đúc hoa văn mềm mại xen những chậu hoa mùa hè rực rỡ, phía sau thấp thoáng rèm thưa màu trắng tinh khôi… Một cảm giác thật là Paris.

Ở Paris có nhiều nơi để bạn đi chơi, nhìn ngắm và thư giãn: trong công viên, viện bảo tàng, những lâu đài cung điện, di tích thắng cảnh, các khu chợ trời, nhâm nhi cà phê hay tản bộ dọc theo sông Seine, kể cả những nghĩa trang yên tĩnh… Không cần phải vội vàng cứ thong thả dạo quanh thành phố,  có thể mang theo đồ ăn đơn giản, tìm một chiếc ghế mát dọc theo bờ sông, trên bãi cỏ trong công viên hay ngay trên những cây cầu dành cho người đi bộ, ngồi đó với bạn bè hay chỉ một mình thưởng thức bữa trưa ngoài trời. Paris ngày hè làm cho ai đến đây cũng  có cảm giác đang tận hưởng ngày cuối tuần kéo dài bất tận bởi vì đến chín, mười giờ đêm ngoài trời vẫn còn nhìn rõ mặt người.
Mỗi lần đến Paris như một lần gặp lại người thân yêu, quen thuộc lắm nhưng cảm xúc luôn mới mẻ, hệt như mỗi sáng “gặm” miếng bánh mì baguette còn nóng hổi thơm lừng mùi men mùi bột và cả mùi ban mai Paris tinh khiết.

Nhưng nước Pháp đâu chỉ có Paris?
Mùa hè nước Pháp trong ký ức tươi nguyên của tôi là ba sắc màu xanh, vàng và trắng. Màu xanh của cây lá khắp nơi, màu vàng của cánh đồng lúa mì đang mùa thu hoạch, của vệt dài hoa cỏ ven đường, và màu trắng lấp lánh của cánh quạt điện gió và những cánh chim bay về nơi cuối trời… Tất cả sắc màu tươi tắn hiện ra dưới ánh nắng trong như mật những ngày hè tháng bảy.
Mùa hè cũng là mùa gặt - ừ, bây giờ hay gọi là mùa thu hoạch bởi trên những cánh đồng lúa mì chỉ thấy những chiếc máy gặt đập thong thả cuốn từng vòng để lại phía sau lớp rơm rạ nằm ngay hàng thẳng lối. Đã lâu lắm rồi người nông dân châu Âu đâu còn phải cắm mặt xuống đất còng lưng cầm liềm hái gặt lúa nữa.

Mùa hè nước Pháp của tôi là những thành phố cổ kính, những ngôi làng xưa “đẹp nhất nước Pháp”, pháo đài cổ, nhà thờ, di tích khảo cổ hang động xưa hàng triệu năm, xưởng gốm cổ chuyên sản xuất phục vụ Hoàng gia Pháp… Những  ngọn đồi xanh mướt bên thung lũng xanh thắm nối nhau hiện ra rồi lùi lại phía sau… Và tôi, hệt như cậu bé Remi trong “Không Gia đình” khi ngồi trên đỉnh đồi nhìn xuống thung lung, nơi có ngôi làng và căn nhà nhỏ của má Bacboranh, lòng nao nao vì phải rời xa nó… Thấp thoáng đâu đó hương thơm dịu nhẹ của những bông hồng nở muộn và những bụi oải hương màu tím… còn đọng lại trong ký ức tôi. Cánh đồng lavender tím ngát tận chân trời, quyến rũ như người đàn bà tuổi vào thu đầy bí ẩn.

Trong nhiều làng cổ nước Pháp chợt tôi nhìn thấy cái nhà lồng chợ, quen thuộc như nhà lồng ở bất cứ thị tứ nào ở Nam bộ, đó là ngôi nhà rộng rãi, cao ráo chỉ có những cây cột và mái ngói, bốn phía trống không, nền cao. Khác với nhà thờ bao giờ cũng ở trung tâm của làng, nhà lồng thường nằm ngay “quảng trường” đầu làng, là chợ cũng là nơi hội họp chung khi cần. Xưa người ta họp chợ vào buổi sáng hay vào ngày phiên chợ, bây giờ không còn sinh hoạt này nữa, nhà lồng trở thành “di tích”, chỉ vào ngày cuối tuần khi du khách đổ về, trong nhà lồng là những quầy hàng thức ăn đặc sản, đồ lưu niệm đặc sắc của làng, xung quanh những ngôi nhà cổ trở thành hàng quán, tiệm ăn, khách sạn nhỏ… Làng cổ bình yên giữ nguyên cảnh quan và được đẹp thêm bởi hàng chục loài hoa nở rộ dưới hiên nhà, trên bệ cửa sổ, bởi những khuôn cửa trắng bình yên, bởi con đường uốn quanh sạch sẽ và những nụ cười của dân làng… Những ngôi làng với nhà lồng nơi xa dường như chẳng có gì liên quan lại làm tôi nhớ quá chừng những làng quê Nam bộ, cũng nhà lồng chợ xôn xao lúc ngày rạng sáng, cũng những gương mặt hồn hậu… chỉ còn thiếu tiếng mái chèo khua nhẹ trên kinh rạch và bóng chị bóng mẹ dịu dàng trên chiếc xuồng ba lá…

Mùa hè nước Pháp với tôi còn là sắc vàng trong những bức tranh của Van Gogh. Những cánh đồng bát ngát lúa mì vàng sậm, những cánh đồng tràn hoa hướng dương rực rỡ. Đắm mình trong không gian này mới hiểu và cảm nhận hết những sắc độ màu vàng trong những bức tranh của danh họa – người đã chọn nước Pháp làm nơi ra đi lần cuối - màu vàng đầy sức sống nhưng cũng đầy ám ảnh của sự chia ly mãi mãi.
Rời nước Pháp vào giữa những ngày hè rực rỡ nhưng chỉ ít ngày sau bạn nhắn, bên này trời chưa lạnh nhưng lá bắt đầu vàng, sắp sang thu rồi đấy. Tôi hay đi xa vào mùa thu nhưng chưa lần nào phải chia tay với ai vào cái mùa mà người ta mặc định là “mùa chia ly”. Nhưng khi chia tay mùa hè nước Pháp với cảm giác còn nợ một điều gì đó… cũng ám ảnh không khác gì màu vàng hoa hướng dương Van Gogh.
Bởi vì, ở tuổi mùa thu của chúng ta mùa hè không trở lại nữa mà phía trước sắp là mùa đông…

Những cánh đồng vắng bóng nông dân

Cuối tháng Bảy. Trải dài những con đường tôi đi qua nước Pháp là cánh đồng mênh mông lúa mì đang vào mùa thu hoạch. Một màu vàng nâu ấm áp của ruộng lúa chín, của rơm được bó ép thành những cuộn tròn khối vuông rải rác trên đồng vắng lặng. Thi thoảng nhìn thấy một hai chiếc máy gặt liên hợp thong thả làm việc, vậy thôi, không thấy bóng dáng người nông dân nào dù những ngôi làng nhỏ liền kề cánh đồng vẫn đông người qua lại…
Mùa này cũng là mùa hướng dương nở rộ. Vẫn những cánh đồng vàng rực rỡ sáng chiều ngả theo ánh mặt trời. Vẫn thi thoảng có vài chiếc máy chạy giữa cánh đồng hoa bạt ngàn, và không thấy ai ngoại trừ người lái máy.

Cánh đồng khô ráo với những sắc vàng in trên nền trời xanh đắm đuối của mùa hè nước Pháp, khắp nơi là màu xanh của lá và sắc màu rực rỡ của hoa, từ thành phố đến nông thôn, từ dọc đường quốc lộ đến đường làng, từ ban công vỉa hè phố cổ đến khung cửa sổ ngôi nhà làng quê bình yên. Thiên nhiên khắp nơi, con người như lọt thỏm vào màu sắc và không khí trong lành tự nhiên, mặc dù đây đó vẫn những khối bê tông kính ốp cao lớn đồ sộ.
Có thể dễ dàng nhận ra một làng quê nước Pháp như ốc đảo xanh giữa cánh đồng vàng. Ở đó từ xa đã thấy nhô lên cao vút tháp chuông nhà thờ cổ, xây bằng đá xám xù xì hay bằng loại gạch đỏ son đều nhuộm màu thời gian trầm lắng, ở đó có tháp nước cao vượt trên những nóc nhà. Bây giờ nhiều nơi còn có vài chiếc quạt điện gió cao ngất ngưởng thong thả quay từng vòng… Nông thôn có lẽ chỉ khác thành phố là nhà trải dọc đường làng như xương cá, những ngôi nhà gạch nhà gỗ, rèm trắng nhẹ nhàng lay trên khóm hoa nhiều màu sắc. Tầng áp mái như những con mắt dõi theo khách qua đường. Đi qua những làng quê như vậy tôi nghĩ, chẳng cần gì hơn, kể cả internet, để có được một khoảng không gian yên ả tránh xa những bề bộn nơi thị thành.

Mùa hè, khách du lịch đông như kiến, ở Paris, ở Toulouse, ở bất cứ làng cổ hay lâu đài nào tôi đến. Không chỉ là khách du lịch nước ngoài, người Pháp cũng đi thăm quan chính nước mình, và cả nông dân cũng nghỉ hè đúng vào mùa thu hoạch lúa. Tại sao không, khi mà chỉ cần một chiếc máy đã thay thế cho hàng chục hàng trăm người nông dân?
Không chỉ nước Pháp, nhiều quốc gia khác đã công nghiệp hóa nông nghiệp từ lâu rồi, máy móc thay thế sức lao động của người, của trâu ngựa từ hàng chục năm nay. Nông dân, kể cả trồng lúa, trồng cây công nghiệp hay chăn nuôi, cũng từ lâu rồi làm việc như những người công nhân điều khiển máy móc chứ không còn phải “bán mặt cho đất bán lưng cho trời”. Con đường hiện đại hóa ở nhiều nước có thể khác nhau ở ngành mũi nhọn, nhưng không nước nào không công nghiệp hóa từ nông nghiệp, bởi vì, có khi nào có nơi nào trên thế giới này loài người không cần lương thực và những nông sản khác?

Xe cứ chạy vút qua những cánh đồng nước Pháp vắng bóng nông dân. Nhớ thương quá chừng những cánh đồng mênh mông miền Tây Nam bộ cũng thưa thớt bóng nông dân… Thanh niên đổ lên thành phố và các khu công nghiệp-khu chế xuất hay đi làm thuê ở nước ngoài. Lúa cứ chín rục nhưng còn ai về gặt? Hạt lúa nuôi dân ta hơn bốn ngàn năm vẫn oằn lưng gánh bao trách nhiệm: xuất khẩu, xóa đói giảm nghèo, dự trữ lương thực… nhưng được trồng trên nhiều cánh đồng vẫn “con trâu đi trước cái cày đi sau”… Khu công nghiệp càng nhiều thì càng vắng bóng nông dân nhưng người đổ đến làm ở đó thì chưa hẳn là công nhân bởi rời đất ra họ đã có nghề nghiệp gì đâu.
Tỉnh nào cũng hiện đại hóa bằng khu công nghiệp nhiều ngành nghề dịch vụ nhưng hầu như bỏ ngỏ lĩnh vực chế tạo sản xuất máy móc nông nghiệp. Chế tạo ra máy này máy kia là do những người nông dân ít học tự mày mò vì công việc làm ăn của chính họ thôi thúc, sản xuất thành công rồi đăng ký bản quyền sáng chế cũng còn lắm thủ tục nhiêu khê…

Thời kỳ văn minh Đông Sơn ở đồng bằng sông Hồng, nông nghiệp trồng lúa nước với kỹ thuật dùng cày và sức kéo của trâu, bò là kỹ thuật tiên tiến. Hơn bốn ngàn năm đã qua, hiện nay và nhiều thế kỷ nữa nước ta vẫn là một quốc gia Nông nghiệp – Nông dân – Nông thôn, đó là một “hằng số” kinh tế và văn hóa. Nếu không lấy NÔNG làm đầu và làm trọng tâm thì nền nông nghiệp lạc hậu sẽ không bao giờ đủ sức làm “đòn bẩy” cho sự phát triển của đất nước.

Mỗi chúng ta ai không có một nhà quê, ai không có gốc gác nông dân, ai không ước mơ một ngày nào đó trên những cánh đồng lưu vực sông Cửu Long, sông Hồng cũng sẽ vắng bóng nông dân, nhưng làng quê lúc đó sẽ trù phú khang trang hơn gấp nhiều lần, thế hệ nông dân mới sẽ có học thức không thua kém ai, và có thể họ cũng sẽ “rời xa mảnh đất của mình” nhưng không phải vì không còn đất mà vì họ đã có nghề nghiệp đủ sống đàng hoàng, nếu ở lại quê hương chí ít cũng trở thành công nhân nông nghiệp làm việc trên những chiếc máy cày máy cấy máy gặt liên hợp.
Hơn ai hết, người nông dân Việt Nam xứng đáng và cần phải được như thế!

 Tùy bút, Nguyễn Thị Hậu









TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...