Hiển thị các bài đăng có nhãn tùy bút. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tùy bút. Hiển thị tất cả bài đăng

CHỈ NGỒI ĐÓ, VÀ MƠ…

 

Sáng sớm Paris không ồn ào, ánh nắng còn thấp, vàng nhạt trên những mái kẽm xám. Không khí có chút lạnh, đủ để người ta kéo cao cổ áo. Từ một tiệm bánh gần đó, mùi bơ và bánh croissant mới nướng lan theo gió, quyện với hương cà phê espresso đầu ngày. Đi bộ chầm chậm không định đến một nơi nào cụ thể, tôi vừa đi vừa lắng nghe một ngày mới đang đến. Là tiếng giày bước nhẹ trên vỉa hè lát đá, tiếng một chiếc xe đạp lướt qua, là tiếng các cửa hiệu bắt đầu mở cửa. Bên bờ sông Seine, nước chảy lặng lẽ như đã chảy qua bao thế kỷ. Một chiếc xà lan đi ngang, để lại những gợn sóng lan nhẹ vào bờ.

Tôi dừng lại ở quán cà phê, chọn một chiếc bàn ngoài hiên. Không định làm gì cả. Một tách café crème, chiếc điện thoại, cũng có khi tôi cất điện thoại vào túi và mở một quyển sổ nhỏ, hoặc có thể chẳng cần quyển sổ nào. Chỉ ngồi đó. Những suy nghĩ đến rồi đi. Có chuyện của hôm qua, của mấy chục năm trước, có những dự định chưa thành, có những người đã gặp rồi rời xa. Nhưng kỳ lạ là ở một nơi đủ xa cuộc sống thường nhật, những suy nghĩ ấy không còn nặng nề. Chúng chỉ giống như những chiếc lá đang nhẹ nhàng lăn trên vỉa hè vắng vẻ…

Rồi tôi nhận ra điều mình tìm không phải là Paris, mà là một khoảng lặng trong lòng mình. Tôi như nhiều người, luôn mơ đến Paris. Không chỉ vì nó đẹp mà vì thành phố ấy dường như được tạo ra để người ta không cảm thấy có lỗi khi có thể lười biếng ngồi yên hàng giờ ở quán cà phê. Bên vỉa hè, nhìn người qua lại và chẳng làm gì cả cũng đã là một cách sống vì sự làm biếng trở nên chính đáng. Tôi ngồi rất lâu ở quán cà phê ven sông Seine, ngắm nhìn những viên đá lát đường, những ngôi nhà cũ, những cây cầu, nghĩ ngợi linh tinh, tự hỏi bao nhiêu người đã đi qua đây, bao nhiêu câu chuyện đã lắng xuống trong dòng sông ấy. Địa điểm chỉ là cái cớ. Điều quý nhất là có một nơi mình cho phép bản thân được sống chậm trong một lúc. Một nơi đủ yên để nghe được tiếng nói của chính mình. Ngồi đó và có cảm giác tự hài lòng. Nhưng dường như vẫn còn thiếu thiếu một điều gì đó? 

Một người nào đó? Không nhất thiết phải ngồi đối diện. Có thể người đó ngồi ở chiếc bàn gần đó, đọc một cuốn sách, thỉnh thoảng ngẩng lên vô tình ánh mắt chạm nhau. Sự hiện diện của một người xa lạ bỗng chốc mang lại cảm giác quen thuộc gần gũi…  làm cho thời gian như quay lại quá khứ, bình yên.

Hay là, một cuốn sách? Không phải để cắm cúi đọc mà để mở trên bàn. Có thể đọc vài trang rồi ngẩng lên nhìn dòng sông, khi ấy câu chữ và cảnh vật hòa vào nhau, mang mình đi vào câu chuyện. Có những cuốn sách không phải để đọc liền mạch, mà để đồng hành với một buổi sáng như thế.

Nhưng... cũng có thể là không có ai cả. Đến một lúc nào đó, con người ta thấy hạnh phúc khi có thể ở một mình mà không thấy cô đơn. Ngồi bên sông, ly cà phê đã nguội, tiếng thìa chạm vào thành cốc, nhìn ánh nắng dịch chuyển trên mặt nước. Không cần chụp ảnh. Không cần đăng lên mạng. Không cần chứng minh với ai rằng mình đang hạnh phúc. Có lẽ đó mới là sự tĩnh tại.

***

Trên sông, lại một chuyến tàu đi ngang. Nắng đã lên cao hơn, gió trên cây xào xạc hơn, người trên đường đông hơn…  Cuộc sống vẫn đang chuyển động. Người ta tất bật đi đến những nơi cần đến. Chỉ có mình, trong một khoảng thời gian ngắn ngủi được quyền đứng ngoài dòng chảy ấy. Bởi bình yên không phải là khi mọi thứ ngừng lại. Bình yên là khi mình không thấy cần phải chạy theo mọi thứ. Được ngồi đó và nghĩ ngợi linh tinh, đó là đặc ân của một tâm trí không bị thúc ép phải giải quyết điều gì ngay lúc này. Đó là khoảng thời gian mà ý tưởng, ký ức, những câu hỏi về lịch sử, về thành phố, về con người... có thể tự nhiên kết nối với nhau.

Và bạn biết không, trong một sáng bên sông Seine tôi không chỉ nghĩ về Paris. Tôi lại nhớ đến sông Sài Gòn, nhớ một sáng nào đó ở bến Bạch Đằng, khi thành phố còn chưa đông, một ly cà phê đen đá và gió từ sông Sài Gòn thổi lên. Và một chuyến hải trình đi theo dòng sông ra đến cửa biển. Nhớ những bến cảng, những con nước, những lớp phù sa văn hóa tạo nên hình hài thánh phố. Như một điều nghịch lý nhưng rất đẹp: nếu ta yêu một thành phố thì khi đi xa lại càng hiểu sâu hơn thành phố của mình.

Có một câu của nhà văn người Áo Stefan Zweig mà tôi rất thích (không phải nguyên văn): điều quý giá nhất của một chuyến đi không phải là nhìn thấy những miền đất mới, mà là có một đôi mắt mới để nhìn lại thế giới. Với những người làm di sản điều đó rất đúng. Nghiên cứu quá khứ không phải để sống trong quá khứ, mà để nhìn hiện tại sâu sắc hơn. Biết đâu một ngày nào đó, bạn sẽ thật sự ngồi ở một quán cà phê ven Seine. Và rồi vài tháng sau, khi bạn lại ngồi ở một quán ven sông Sài Gòn, bạn sẽ nhận ra rõ ràng, hai dòng sông, hai thành phố, hai lịch sử khác nhau, nhưng cùng có một khả năng kỳ lạ là khiến con người sống chậm lại để lắng nghe chính mình.

Bạn ơi, cứ mơ ước đi, vì ước mơ những điều tốt đẹp sẽ làm cho cuộc sống trở nên phong phú hơn. Người ta vẫn nghĩ đi du lịch là để khám phá một thành phố. Nhưng ngược lại, các thành phố xa lạ cũng làm ta khám phá lại chính mình. Bởi vì, có những nơi chốn làm hiện ra điều vốn đã ở trong lòng mình.

 














 

DI SẢN ĐÔ THỊ - CHUYỆN VỀ CÁC VÒI NƯỚC CỔ

 Nguyễn Thị Hậu

Trong các thành phố châu Âu ta thường bắt gặp những vòi nước cổ trên đường phố.

Từ thời trung cổ đến sau này các vua chúa châu Âu đã nghĩ tới việc xây những vòi nước công cộng, hệ thống dẫn nước sạch tới đó cho người dân ở các khu dân cư, cũng như người qua đường. Có khi bên vòi nước công cộng còn có cả bồn nước lớn có mái che dành cho các bà nội trợ mang quần áo đến giặt, cũng là nơi gặp gỡ chuyện trò. Bây giờ chỉ còn lại những vòi nước trên hè phố, nhiều người lơ đãng không biết rằng mình vừa đi qua một chứng tích của cuộc sống từ vài trăm năm trước.

Vòi nước cổ thường được đúc bằng gang, dựng thành trụ trên vỉa hè hay gắn vào tường ngôi nhà ven đường. Nhiều miệng vòi đúc thành hình miệng thú. Vòi nước dùng cần bơm tay hay tự chảy (do áp lực từ tháp nước) nhưng đều là nước sạch có thể uống được ngay. Dòng nước chảy thẳng xuống cống thóat nước phía dưới, phía trên là vỉ nắp đậy cũng đúc bằng gang. Hầu hết các vòi nước cổ được bảo tồn khá tốt: luôn được sơn chống rỉ, quét dọn sạch sẽ, nắp cống phía dưới không có rác làm nghẹt cống. Quan trọng là nguồn nước dẫn đến những vòi này luôn đảm bảo vệ sinh nên những người đi đường vẫn thường ghé miệng uống nước từ vòi một cách tự nhiên và thích thú. Uống nước từ vòi nước mà mạch nước có từ hàng trăm năm trước không chỉ là giải khát mà còn mang lại cảm giác dường như đang sống ở thời xa xưa.

Hệ thống cấp nước cổ ở những thành phố này thời xưa gần như có chung một nguyên tắc: các “cầu dẫn nước” từ nguồn trên núi, từ sông hay suối… đều được dẫn đến một hay nhiều tháp nước chung của một thành phố. Một số thành phố có “bể chứa nước” khổng lồ như một cung điện dưới lòng đất, như ở Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ). Tại đó nước được lọc sạch và theo các ống dẫn về từng khu vực mà đầu tiên là đến các vòi nước công cộng. Sau này hệ thống nước vào từng ngôi nhà nhưng những vòi nước trên đường phố vẫn được duy trì để sử dụng. Sinh họat từ một nguồn nước nên cư dân có thói quen bảo vệ nguồn nước chung, giữ vệ sinh để hạn chế dịch bệnh thường xảy ra vào thời đó. Vào thời đó nguồn nước chung còn liên quan đến một sinh hoạt cộng đồng: nhà tắm và nhà vệ sinh công cộng. Tại đó có vòi nước sạch, những rãnh nước bằng đá được nước chảy qua suốt ngày đêm nên luôn sạch sẽ. Các di tích này vẫn còn hiện diện ở nhiều thành phố cổ.

Đi qua nhiều nơi ở châu Âu ta có thể nhìn thấy những “cây cầu máng” dài hàng chục, có khi hàng trăm cây số dẫn nước từ trên núi cao về thành phố. Điển hình là những cầu dẫn nước cổ thời văn minh La Mã. Đó là những cây cầu máng khổng lồ bằng đá có khi có hai tầng để đảm bảo độ cao, sừng sững như những con rắn khổng lồ chạy dài hàng trăm km vắt ngang qua nhiều vùng địa hình, làm ta luôn choáng ngợp về vẻ đẹp hoành tráng mà rất nhẹ nhõm, duyên dáng cũa nó. Một ví dụ cho thấy trình độ của các kỹ sư La Mã, ở thế kỷ thứ nhất là cầu dẫn nước ở Nimes - Pont du Gard (miền Nam nước Pháp), bằng đá, dài gần 50km, chênh lệch chiều cao từ đầu tới cuối cầu ở mức độ chính xác mà các kỹ sư cầu đường ngày nay phải thán phục. Hay cầu máng ở khu Amoreiras (Lisbon), thoạt đầu mới nhìn tưởng đấy là một thành trì cổ khổng lồ, như một con khủng long còn sót lại từ thời tiền sử...  

Các thành phố này còn có nhiều Đài phun nước ở quảng trường, có khi trong khu vườn, trong công viên… Tại những quảng trường – mở rộng từ giao lộ của những con đường chính trong thành phố, đài phun nước thường có các nhóm tượng nổi chìm mờ trong làn hơi nước phun ra từ chính những bức tượng ấy. Các tia nước được phun ra theo nhiều hình dạng khác nhau. Nước ở đây như chưa bao giờ ngừng chảy và du khách hầu như ai cũng dừng chân ghé lại, ngồi chơi trên bệ đá, khỏa bàn tay mình vào bể nước trong biếc, có thể hứng từ những tia nước ấy để uống hay để xoa lên mặt lấy phước, lấy may. Họ chụp hình, đôi khi những bức hình rất đẹp bởi phía sau màn nuớc bỗng ánh lên ngũ sắc cầu vồng… Những đài phun nước ở trung tâm thành phố, nhiều người cầm đồng tiền nhỏ, đứng quay lưng vung tay ném qua đầu mình xuống bể nước trước khi tạm biệt, để mong ước có ngày được trở lại nơi đây.

 Các cầu máng dẫn nước, vòi nước cổ, đài phun nước hay những nhà tắm, nhà vệ sinh chung thời xưa... đều là những không gian cộng cộng, nơi con người gặp gỡ và sinh hoạt chung. Bên cạnh đó còn có những quảng trường, nhà hát hay đấu trường... dành cho các sự kiện lớn. Chỉ từ câu chuyện vòi nước cổ hay những đài phun nước cũng cho ta biết về “quy họach đô thị” của những thành phố châu Âu từ hàng trăm năm trước. Nó được tính tóan đến từng chi tiết nhưng lại hữu hiệu lâu dài bởi vì không chỉ là việc xây dựng các công trình, nhà cửa, đường xá, quảng trường, đài phun nước, công viên cho cộng đồng, mà còn là những vòi nước trên đường cho từng khách bộ hành từng gia đình… Bài học giản đơn cho một “không gian đô thị bền vững”: luôn có các không gian công cộng dù lớn hay nhỏ, dành cho cộng đồng cũng đáp ứng nhu cầu của từng con người thì mỗi con người sẽ có ý thức gìn giữ và bảo vệ lợi ích cho cả cộng đồng.

 Từ câu chuyện các vòi nước cổ ở châu Âu ta có thể nhình thấy nhiều câu hỏi lịch sử lý thú có thể đặt ra chung quanh chủ đề "nguồn nước" và sinh hoạt cộng đồng liên quan đến nước ở nước ta. Miền Nam có “văn minh sông nước” mà sông, kênh rạch là nguồn nước chung sử dụng với nhiều mục đích từ sinh hoạt hàng ngày đến trồng trọt, nuôi trồng và khai thác thủy sản... Miền Bắc xưa là “văn minh ao hồ”, mỗi nhà có ao hoặc nhiều nhà dùng chung ao với nhiều chức năng, có “giếng làng” phần nhiều từ ao, hồ sửa sang mà thành, giữ gìn làm “nước ăn” chung cho cả làng, về sau nhiều nhà cũng đào giếng, Người Chăm cổ có “giếng Chăm” sửa sang nguồn nước tự nhiên hoặc đào “giếng vuông”. Như vậy, ở nước ta nguồn nước sạch được sử dụng trong phạm vi hẹp: từng làng hay từng gia đình, các công trình nhân tạo như kênh đào, sông đào phần lớn là các công trình thủy lợi. Điều này phản ánh đời sống cộng đồng gắn liền với sân đình, phố chợ, hồ nước hay bến sông – những không gian mang dấu ấn làng xã và văn hóa nông nghiệp.

Tại các đô thị Việt Nam, các quảng trưởng hình thành từ các giao lộ hay phía trước công trình cộng cộng, quy mô nhỏ, có đài phun nước hay tượng đài chỉ xuất hiện từ khoảng đầu thế kỷ 20, “máy nước công cộng” trên đường phố cững vậy, được duy trì miền Nam đến khoảng cuối những năm 1950, ở miền Bắc đến hết thời bao cấp khoảng 1990. Đây là một hiện tượng kiến trúc – quy hoạch phản ánh sự thay đổi trong đời sống và sinh hoạt đô thị Việt Nam.

Hình ảnh: Mai Nguyễn



 

NHỊ HÒA – NƠI HIỆN HỮU KÝ ỨC LÀNG QUÊ NAM BỘ


 Có những nơi người ta đến để xem, để chụp ảnh, để “trải nghiệm”. Nhưng cũng có những nơi, chỉ cần bước chân vào, ta bỗng thấy mình đang đi chậm lại như thể không gian đã giữ hộ một nhịp sống khác. Nhị Hòa, với tôi, là một nơi như thế.

Khi làng không “trình diễn” mà kể chuyện

Đó là một ngôi làng nhỏ ngay bên đường quốc lộ, thời chiến tranh là vùng thường xảy ra chiến sự. Hòa bình rồi nhưng nhiều năm trước nơi này vẫn là vùng sâu vùng xa, xung quanh bốn bề sông nước. Con trẻ đi học có khi quá giang ghe, xuồng qua lại, mà thường xuyên “chỉ có cuốn tập cột với cái áo trên đầu, lội qua sông mà đi học”. Nay Nhị Hòa đã có một con đường bê tông rộng rãi chạy cặp theo con sông, xuyên từ đầu đến cuối làng. Khách đến chơi có thể đi đường bộ mà cũng có thể đi đường sông. Bên đường, những ngôi nhà nhỏ nằm giữa vườn rộng rợp cây xanh, có những vườn xưa mương dừa đã cạn, những cây dừa lão nghiêng ngả, lá dừa rơi dày trên lớp đất đen ngai ngái mùi bùn.

Làng du lịch vào ngày cuối tuần nhưng cũng không quá đông. Chỉ có vài bảng hiệu giản dị nhưng vui mắt ở đầu làng, còn lại trong làng cuộc sống vẫn như ngày thường. Những hoạt động du lịch ở từng nhà được chuẩn bị lỹ lưỡng nhưng không mang tính dàn dựng “trình diễn”, cả làng hiện ra trước hết bằng những thứ rất quen của miền Tây: vườn cây, hàng rào trồng bông bụt, bông giấy, vài cây mái đã nở vàng, mái nhà thấp thoáng sau hàng cây, tiếng chào hỏi từ hiên nhà... Ở đó, các hoạt động du lịch không phải như người khách tham quan, mà như người thân quen đang ghé lại trò chuyện với chủ nhà, cùng tham gia vào sinh hoạt đời thường. Ở nhà này thì cùng thưởng thức mấy loại bánh mứt làm vào dịp tết, nhà kia là các loại trái cây, nhà nữa thì xem anh chủ dùng lá dừa đan thành mấy con vật ngộ nghĩnh... Du khách cứ thoải mái ghé chơi, thử ăn các món dân dã, và thích thì mua chút quà quê màng về thành phố.

Cũng như nhiều làng du lịch cộng đồng, khách đến tham quan không phải là đến một điểm tham quan cụ thể, mà là để được đắm mình vào cảm giác hòa mình vào đời sống – như nó vẫn vậy. Ở Nhị Hòa đã không có sự tách biệt rạch ròi giữa “không gian du lịch” và “không gian cư trú”, người “làm du lịch” và người làng đang làm vườn, nấu ăn, trò chuyện, sinh hoạt. Ở Nhị Hòa du khách là người đến cùng chia sẻ nhịp sống ấy. Ở đây, du lịch cộng đồng không được sân khấu hóa thành tiết mục chỉn chu mà tồn tại trong những chi tiết nhỏ: ngôi nhà còn nguyên bàn thờ với những bức hình của ông bà chắc cũng gần trăm năm trước; cách bày mâm cơm, cách tiếp khách, cách gọi nhau bằng những đại từ thân mật, cách mở cửa nhà như một thói quen tự nhiên của làng quê Nam Bộ... Những điều ấy tưởng như bình thường, nhưng chính là lớp trầm tích của ký ức văn hóa mà không nhiều người còn lưu giữ được.

Làng như một cảnh quan văn hóa sống

Tính chất cộng đồng ở Nhị Hòa được “bảo tồn” trong du lịch ở điểm mấu chốt: người dân vẫn duy trì công việc làm ăn, sinh hoạt hàng ngày, công việc du lịch nhưng chưa bị tách rời khỏi cuộc sống đời thường Nhưng nếu chỉ dừng ở khái niệm ấy thì chưa đủ để chạm đến cảm giác thật khi đứng trong không gian làng. Bởi điều đáng nói hơn không phải là “mô hình du lịch” mà là việc một ngôi làng Nam Bộ đang tồn tại như một di sản sống, đang lưu giữ ký ức trong sinh hoạt thường ngày. Chính điều này ở Nhị Hòa đã mang lại cho nhiều người một cảm giác quen thuộc “như được trở về quê nội quê ngoại vậy!”. Trong bối cảnh nhiều điểm du lịch cộng đồng bị “sân khấu hóa”, Nhị Hòa may mắn chưa bị mất đi sự hồn nhiên chất phác của người dân miệt vườn Nam bộ. Và chính sự hồn nhiên ấy làm nên giá trị học thuật đặc biệt, vì nó cho thấy một cộng đồng đang sống với di sản của mình, chứ không chỉ trình diễn di sản cho người ngoài xem.

Nhị Hòa có thể được xem là một cấu trúc điển hình của làng quê Nam Bộ miệt vườn. Ở đó, không gian sinh thái, không gian xã hội và không gian văn hóa đan cài chặt chẽ. Vườn cây không chỉ là sinh kế, mà còn là ký ức canh tác. Sông và kênh rạch không chỉ là cảnh quan, mà là trục giao thông và ký ức sông nước. Ngôi nhà không chỉ là nơi ở, mà là không gian lưu giữ nếp sống gia đình nhiều thế hệ. Khi du khách bước đi giữa những lớp không gian ấy, họ không chỉ “tham quan”, mà đang đi qua một hệ thống ký ức vật chất và phi vật chất tích tụ qua thời gian. Đó là dạng di sản không dễ nhận diện bằng tiêu chí di tích, nhưng lại có giá trị bền vững hơn — bởi nó gắn với đời sống.

Nhị Hòa cho thấy một cách tiếp cận đáng chú ý: bảo tồn không bằng cách “đóng băng” làng, mà bằng cách tạo sinh kế từ/gắn với chính đời sống văn hóa của cộng đồng. Khi mỗi hộ dân trở thành một mắt xích trong chuỗi trải nghiệm, du lịch không còn là hoạt động ngoại lai mà trở thành một phần của cấu trúc kinh tế – xã hội làng. Đây là mô hình bảo tồn mềm (soft conservation), tức là không xây dựng công trình du lịch quy mô lớn, không phá vỡ cấu trúc làng hiện hữu đồng thời khai thác giá trị từ chính sinh hoạt bản địa. Cách làm này phù hợp với nguyên lý bảo tồn di sản sống. Bởi vì di sản chỉ có thể tồn tại bền vững khi cộng đồng còn sống với nó, chứ không phải khi nó bị tách khỏi đời sống để trưng bày.

 Ký ức làng quê trong thời đại chuyển đổi nông thôn

Nam Bộ đang thay đổi nhanh chóng do quá trình đô thị hóa lan rộng, nông nghiệp chuyển dịch, lao động trẻ rời làng lên thành phố, đến các khu công nghiệp. Trong bối cảnh ấy cấu trúc làng truyền thống đang bị biến dạng hoặc mai một. Vì thế Nhị Hòa không chỉ là một điểm du lịch mới mà còn là không gian đang giữ lại ký ức của một kiểu làng quê đang hiếm dần.

Ký ức ấy không nằm ở những sự kiện lịch sử lớn, mà ở đời sống thường nhật: đó là ký ức về những bữa cơm gia đình, cuộc trò chuyện ở hiên nhà khi chiều xuống, về con đường làng rợp bóng cây, về con sông luôn có bóng dáng ghe xuồng qua lại, là ký ức về sự hiếu khách chân tình, rất Nam Bộ... Những yếu tố này được gọi là di sản đời sống (everyday heritage), rất khó bảo tồn bằng biện pháp hành chính nhưng lại có thể được duy trì thông qua từng người dân. Nếu du lịch cộng đồng nếu được tổ chức đúng hướng thì loại di sản này càng có điều kiện lưu giữ lâu dài.

Khi đặt Nhị Hòa trong mối liên hệ với không gian đô thị Nam Bộ, đặc biệt là TP.HCM, ta sẽ thấy một đối sánh thú vị. Trong đô thị, ký ức thường bị nén lại, thay thế nhanh bởi các lớp phát triển mới. Những không gian cộng cư truyền thống, nhịp sống chậm, quan hệ láng giềng thân mật dần bị suy giảm. Trong khi đó ở Nhị Hòa, ký ức làng quê vẫn được duy trì trong đời sống hàng ngày. Đây là một hiện tượng đang diễn ra trong “cấu trúc văn hóa vùng” ở Nam Bộ trong thời kỳ chuyển đổi. Theo nghĩa ấy, trường hợp Nhị Hòa không chỉ là một làng du lịch mà còn thể hiện sự “đối trọng ký ức” của vùng đô thị hóa mạnh.

Trải nghiệm cá nhân thường mang tính cảm xúc. Cảm giác bình yên, thân thuộc khi đến Nhị Hòa không chỉ là cảm xúc chủ quan mà phản ánh sự hiện diện của một hệ sinh thái văn hóa còn nguyên vẹn. Tuy nhiên, cũng cần cảnh báo một cách tỉnh táo: bất kỳ mô hình du lịch cộng đồng nào khi phát triển đều đối diện nguy cơ thương mại hóa ký ức. Khi lượng khách tăng, đời sống có thể bị điều chỉnh để phù hợp với kỳ vọng du lịch, những gì tự nhiên có thể dần trở thành “chuẩn hóa” để phục vụ thị trường. Do đó, vấn đề cần đặt ra không chỉ là “Nhị Hòa có hấp dẫn hay không?” mà quan trọng hơn, mô hình này sẽ giữ được tính xác thực văn hóa dài hạn hay không?

Rời Nhị Hòa, điều còn lại không phải là một danh sách điểm tham quan, mà là một cảm giác về nhịp sống. Một ngôi làng không quá xa, nhưng đủ khác để khiến người đô thị nhận ra mình đã quen với tốc độ nhanh đến mức nào. Đến Nhị Hòa, người ta nhận ra nơi ấy là một không gian còn giữ được “nhịp sống chậm” - thứ đang dần trở nên hiếm trong xã hội đương đại. Ở Nhị Hòa mình được tạm dừng cuộc đua vất vả nơi phố thị mà nghỉ ngơi theo nhịp võng thong thả bên hiên nhà.

Có lẽ, giá trị lớn nhất của những làng du lịch cộng đồng không nằm ở việc trở thành một điểm đến nổi tiếng mà ở khả năng nhắc cho chúng ta nhớ rằng, di sản không chỉ là những gì cổ xưa và tĩnh tại, mà còn là đời sống bình dị đang tiếp diễn mỗi ngày. Khi du lịch được tổ chức như một sự chia sẻ thay vì khai thác thì làng quê không bị biến thành sản phẩm, mà trở thành một không gian đối thoại giữa ký ức và hiện tại.

Đấy cũng là điều mà tôi muốn được chia sẻ với anh - người bạn quý mến, người luôn dành hết tâm huyết cho sự phát triển du lịch và văn hóa tại vùng quê xinh đẹp, hiền hòa và giàu tiềm năng của mình.

 Nguyễn Thị Hậu 



TC DU LỊCH TP.HCM

https://tcdulichtphcm.vn/du-khao/nhi-hoa-noi-hien-huu-ky-uc-lang-que-nam-bo-c14a110166.html?fbclid=IwY2xjawQDQrNleHRuA2FlbQIxMQBzcnRjBmFwcF9pZBAyMjIwMzkxNzg4MjAwODkyAAEexzWps918J4AqDmMfnkHwV7hj_7wwt9X2jWW5KnIncKNgJzLySZFdMQyGqus_aem_ESp8wV3d6zAlSWZlpBveAg

Giữ cho lòng nhân trong sáng


            Có những giá trị truyền thống không mất đi, nhưng trong bối cảnh xã hội mới có thể bị thay đổi ít nhiều, nhất là biểu hiện của nó. Lòng nhân ái của người Việt là một giá trị như thế. Trong dòng chảy gấp gáp của đời sống hiện đại và dưới sự soi chiếu của mạng xã hội, chúng ta buộc phải đặt ra một câu hỏi “làm thế nào để lòng nhân ái tiếp tục được nuôi dưỡng và phát triển đúng với bản chất của nó”?

Nhân ái là một truyền thống hơn là một phong trào

Nhân ái trong văn hóa Việt Nam là một truyền thống được truyền từ đời này qua đời khác, bằng lời ăn tiếng nói hàng ngày, bằng những hành xử tử tế khi hữu sự. Lòng nhân ái thường giản dị, thầm lặng, không phô trương, không hô hào lớn tiếng. Nó như dòng sông chảy mãi được tiếp thêm từ những nguồn mạch của đời sống. Sự nhân ái bắt đầu từ lòng trắc ẩn “thương người như thể thương thân”, biết cảm nhận nỗi đau, sự thiệt thòi, biết nhận ra sự thiếu thốn, cùng quẫn của người khác. Từ đó có những chia sẻ nhỏ bé mà ấm áp “một miếng khi đói bằng một gói khi no", bằng thói quen giúp nhau khi “tối lửa tắt đèn”, bằng sự im lặng rất tự nhiên sau mỗi lần cho đi, bằng một nụ cười cảm thông mỗi khi chìa tay giúp đỡ.

Người Việt Nam từ lâu hiểu rằng, giúp người không chỉ là trao đi vật chất, mà còn là giữ gìn cảm giác an toàn và lòng tự trọng người được giúp. Vì thế, lòng tốt thường kín đáo, không cần sự chứng kiến và tung hô của đám đông. Thậm chí, lòng nhân ái còn ngại ngần trước “sự biết ơn” và ca ngợi thái quá, bởi như vậy là biến lòng nhân ái, sự tử tế thành “bất thường”, hạ thấp cả người trao tặng và người tiếp nhận. Vì thế, Nhân ái ở đây là một hành vi văn hóa chứ không phải một hành động khác thường để gây chú ý.

Sự phát triển của công nghệ hiện đại đã mang đến cho lòng nhân ái một không gian mới. Bên cạnh không gian truyền thống là “đời thực”, lòng nhân ái còn hiện diện trên một không gian mới: “mạng ảo mà không ảo”. Chưa bao giờ việc kêu gọi và kết nối sự giúp đỡ lại nhanh và rộng rãi như hôm nay. Chỉ trong một thời gian ngắn, hàng nghìn người xa lạ có thể cùng chung tay vì một hoàn cảnh khó khăn. Nhưng cũng từ đây, những việc làm xuất phát từ lòng nhân ái bắt đầu bước vào “vùng ánh sáng mạnh”: Những con số, hình ảnh, lời kể, sự theo dõi của cộng đồng với nhiều trường hợp khiến lòng nhân ái đứng trước lằn ranh mong manh giữa việc giúp người hoạn nạn với sự thử thách lòng tin của con người. Những câu chuyện gây băn khoăn về hoạt động từ thiện trong thời gian gần đây có thể xem như những “vệt mờ” trong quá trình chuyển biến của “môi trường từ thiện”. Chúng không đủ để phủ nhận truyền thống nhân ái, nhưng đủ để nhắc nhở rằng lòng tốt cũng có thể bị lợi dụng và tổn thương.

Lòng nhân ái trở thành một hiện tượng xã hội luôn được theo sát, đánh giá, so sánh… mà bên cạnh sự khách quan nhìn nhận cũng không thiếu những chủ quan và thiên kiến. Nhận thức được sự thay đổi này thì cả ở người trao tặng sự tử tế và người nhận được đều cần có một ý thức văn hóa cao hơn, ứng xử ăn hóa phù hợp hơn. Bởi vì, điều làm xã hội trăn trở không hẳn là đúng, sai của từng câu chuyện cụ thể, mà là cảm giác bất an: liệu nhân ái có đang bị đặt nhầm chỗ? liệu sự giúp đỡ có còn giữ được sự tử tế vốn có? Khi sự nghi ngờ len vào cả những hành động thiện chí, khi lòng tốt liên tục bị đòi hỏi phải tự chứng minh, thì đó là dấu hiệu cho thấy niềm tin vào lòng nhân ái đang bị lung lay, cần được bảo vệ và chăm sóc lại.

Lòng nhân ái là niềm tin vào con người

Lòng nhân ái ở người Việt Nam không chỉ là đạo đức mà đó còn là một cơ chế tự bảo vệ xã hội, được hình thành qua quá trình lịch sử luôn phải đối phó với thiên tai, chiến tranh và đói nghèo. Hàng ngàn năm trôi qua với bao cơn lũ lụt bao kỳ hạn hán, hàng chục cuộc chiến tranh kéo dài ác liệt gây ra bao biến động xã hội, nền kinh tế nông nghiệp chịu rủi ro cao trước sự bất thường của thời tiết... Trong bối cảnh đó không có lòng nhân ái thì cộng đồng không thể tồn tại được, bởi vì “giúp người hôm nay” cũng là “cứu mình ngày mai”. Lòng nhân ái không viển vông trìu tượng mà xuất phát từ thực tế và có giá trị thực tiễn.

Là “bản năng cộng đồng” nên truyền thống nhân ái tồn tại bền bỉ qua những biến động lịch sử. Mỗi xã hội đều có những giá trị cần được bảo vệ bằng sự tỉnh táo và công bằng. Với người Việt Nam, nhân ái là một giá trị quý giá như vậy. Giữ cho lòng nhân ái được bình yên vì nó không cần được thổi phồng hay tô màu lòe loẹt, mà nó cần được trả về đúng không gian văn hóa của mình: lặng lẽ, bền bỉ và chân thành. Tuy nhiên, để ngăn ngừa và loại trừ một vài cá nhân đã lợi dụng hoàn cảnh và niềm tin của các nhà hảo tâm, lòng nhân ái cũng cần có những “điều kiện” nhất định để đảm bảo cho lòng nhân không bị biến dạng và giữ vững niềm tin vào con người: Trong thời đại internet, lòng nhân ái cần là hành xử trên nền tảng văn hóa và luật pháp của nhà nước, không chỉ là cảm xúc bộc phát, nhất thời.

Có lẽ it người nói điều này, đó là hành xử nhân ái là để người được giúp không thấy mình bị mang ơn mắc nợ, nhưng ngược lại cũng không nên coi sự giúp đỡ mình là “đương nhiên”, là nghĩa vụ của người khác. Người tốt dễ mở lòng nhưng rất nhạy cảm với sự giả dối, họ sẵn sàng giúp đỡ nhưng không ai muốn không bị lợi dụng, không chấp nhận bị coi thường. Đặc biệt, những người “trung gian” giữa người giúp và người được giúp càng cần lòng trung thực và sự minh bạch. Họ là cây cầu nối của những tấm lòng, vì vậy nếu cây cầu “mục nát” thì hậu quả khôn lường! Khi lòng tốt của cộng đồng bị biến thành công cụ đánh bóng tên tuổi cá nhân hay một tổ chức nào đó, khi nỗi đau của người khác bị biến thành công cụ kiếm lợi bất chính thì xã hội sẽ phản ứng. Sự “khủng hoảng niềm tin” làm xã hội có những phản ứng khôn lường.

***

Lòng nhân ái là giá trị và hành xử cần được bảo vệ chứ không chỉ được ca ngợi. Nó cần được nuôi dưỡng bằng sự tử tế chứ không bằng lời tung hô. Sau những ngày thiên tai nặng nề ở miền Trung vừa qua, khi nhìn lại những hoạt động cứu trợ của xã hội, có lẽ điều dễ nhận thấy nhất là lòng nhân ái của nhân dân ta vẫn vẹn nguyên và trong sáng, thực sự là một di sản quý báu! Giữ cho nhân ái được trong sạch bắt đầu từ niềm tin vào con người, đó không chỉ là trách nhiệm của những tổ chức hay cá nhân làm từ thiện, mà là trách nhiệm và văn hóa ứng xử của cả cộng đồng. Bởi một xã hội mất niềm tin vào lòng tốt là một xã hội đang nghèo đi về nhân cách!

  Nguyễn Thị Hậu

BÁO XUÂN BÍNH NGỌ 2026 NGƯỜI LAO ĐỘNG




 

Phản xạ văn hóa các vùng miền Việt Nam

_Nguồn:  https://logbasex.substack.com?utm_source=navbar&utm_medium=web Bản đăng lại từ bài viết trên trang Substack cùng tên của tác gi...