Hiển thị các bài đăng có nhãn Cần Giờ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cần Giờ. Hiển thị tất cả bài đăng

CẢNG QUỐC TẾ TRUNG CHUYỂN CẦN GIỜ NHÌN TỪ LỊCH SỬ

https://nguoidothi.net.vn/cang-quoc-te-trung-chuyen-can-gio-nhin-tu-lich-su-41497.html

Nguyễn Thị Hậu
TP. Hồ Chí Minh đang khẩn trương chuẩn bị những bước cần thiết cho việc xây dựng cảng quốc tế trung chuyển Cần Giờ - một trong những công trình trọng điểm mang tính đột phá trong giai đoạn từ nay đến 2030 – 2050.
Nhiều chuyên gia, nhà khoa học đã phân tích những thuận lợi – khó khăn, thời cơ – thách thức... từ góc độ kinh tế phát triển. Với các điểm mạnh - điểm yếu, thời cơ – thách thức mà dự án đặt ra, có thể nhận thấy đây là một “thời cơ lớn” cho phát triển kinh tế nói chung và cho ngành logistic và hạ tầng cảng biển nói riêng của nước ta. Tuy nhiên, hầu hết những phân tích về thuận lợi hay bất lợi là từ yếu tố kinh tế - kỹ thuật, còn từ yếu tố môi trường sinh thái và điều kiện lịch sử - xã hội thì cho đến nay chưa có những đánh giá cụ thể.
Trong lịch sử, trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh nói riêng và vùng đất Nam bộ nói chung không phải đến thời cận – hiện đại mới có những hải cảng – thương cảng lớn. Ngay từ thời tiền sơ sử đã hiện diện “cảng thị sơ khai” Cần Giờ, thời kỳ vương quốc Phù Nam (thế kỷ 1 -7) có một thương cảng Óc Eo – Nền Chùa nổi tiếng ở khu vực “tứ giác Long Xuyên”. Sự ra đời của những cảng thị cổ - một loại hình cấu trúc mang tính liên kết, giao lưu chặt chẽ về kinh tế, tính “bình đẳng” trong tiếp nhận kỹ thuật, văn hóa, và trên hết, mang tính cạnh tranh rất cao, thậm chí quyết định sự “tồn tại hay không tồn tại” của cảng thị và nền kinh tế một khu vực. Lược khảo về hai cảng thị cổ trên vùng đất Nam bộ sẽ góp thêm dữ liệu lịch sử cho việc nhận biết những thuận lợi và khó khăn khi xây dựng những cảng mới, hiện đại trên vùng đất này.
Vào thời kỳ tiền sử, Cần Giờ cũng là vùng cửa sông – vịnh biển. Chứng tích khảo cổ học cho biết, Cần Giờ thời đó không phát triển nông nghiệp trồng trọt như nhiều nơi khác mà có nền kinh tế đặc biệt: phát triển thương mại bằng đường biển hướng ra khu vực ĐNA hải đảo và xa hơn, bằng đường sông hướng vào ĐNA lục địa. Đồng thời kết hợp hoạt động khai thác nguồn lợi tự nhiên từ rừng ngập mặn và thủy hải sản tại chỗ. Chính vì vậy, hai ngàn năm trước đây Cần Giờ được coi là một “cảng thị sơ khai”, mà các sản phẩm chính và hàng hóa đặc sắc gồm có đồ gốm gia dụng và tùy táng trong những ngôi “mộ chum”, đồ trang sức bằng thủy tinh, đá ngọc, mã não, vàng, dụng cụ sinh hoạt bằng vỏ ốc vỏ hàu, công cụ và vũ khí bằng đồng và sắt... Nguồn gốc của những sản phẩm này từ Ấn Độ (và xa hơn từ vùng Địa Trung Hải), từ Trung quốc, đặc biệt từ khắp ĐNA. Hàng hóa luân chuyển và đi sâu vào đất liền theo các con sông lớn, mà chế độ bán nhật triều với biên độ thủy triều rất lớn của sông Đồng Nai là một điều kiện vô cùng thuận lợi.
Không chỉ ở Cần Giờ mà trên đảo Long Sơn phía Vũng Tàu cũng tìm thấy di tích tương tự, cho thấy vịnh Gành Rái là khu vực thuận tiện để trở thành “trạm dừng” của con đường hàng hải trên biển Đông, nối liền các khu vực ven biển với nhau và với vùng nội địa. Mạng lưới sông và biển liên kết chặt chẽ trong vai trò lưu thông hàng hóa, nhưng phải dựa trên nền tảng là vùng lưu vực Đồng Nai trù phú phát triển bằng kinh tế nông nghiệp và thủ công nghiệp, là nguồn lương thực và nước ngọt cung cấp cho cảng thị Cần Giờ. Đây là một điều kiện vô cùng quan trọng.
Khoảng đầu công nguyên, cảng thị sơ khai Cần Giờ suy yếu và khu vực này mất đi vai trò trung tâm kinh tế của lưu vực Đồng Nai trong vùng ĐNA. Vai trò quan trọng này được “dịch chuyển” xuống khu vực Nền Chùa (Kiên Giang) và đặc biệt ở Óc Eo – Ba Thê (An Giang). Từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 7, khu vực Ba Thê – Óc Eo là một đô thị - thương cảng cổ, là trung tâm kinh tế, văn hóa và tôn giáo lớn của vương quốc Phù Nam.
Cảng thị Óc Eo của Phù Nam giữ vai trò quan trọng của sự kết nối trên Biển Đông, là trung tâm của mạng lưới giao thương hàng hải trong khu vực kết nối giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa Ấn Độ với Trung Hoa. Những kết quả khai quật và nghiên cứu gần đây (2017 – 2020) đã minh chứng rõ hơn vai trò quan trọng của thương cảng này trong mối quan hệ giao thương khá mà chứng tích sản phẩm vàng, gốm, đá quý từ Trung quốc, Ấn Độ, La Mã hay sản phẩm gia vị, hương liệu của “thế giới ĐNA và Nam Á”. Và cũng như “cảng thị sơ khai” Cần Giờ, thương cảng Óc Eo cũng dựa vào vùng hạ lưu sông Me Kong có nền kinh tế nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển, dựa vào vị trí ven biển “trung điểm” của con đường hàng hải qua biển Đông, lại được nối liền với vùng lục địa bằng hệ thống sông rạch và kênh đào. Đô thị cổ Óc Eo – Ba Thê là một tổng thể của các chức năng: 1) Trung tâm đô thị và dân cư gắn liền với hoạt động thương mại qua hệ thống thương cảng ven biển; 2) Trung tâm tôn giáo lớn trong sự dung hợp văn hóa Phật giáo và Hindu giáo mang đậm ảnh hưởng từ nền văn minh Ấn Độ; 3) Trung tâm chế tác thủ công nghiệp phát triển trên cơ tầng sản xuất nông nghiệp ổn định, đặc biệt là chế tác đồ trang sức kim loại, thủy tinh và đồ gốm .
Sau thời kỳ thịnh vượng được nhiều ghi chép lịch sử nhắc đến, từ sau thế kỷ 7 cảng thị Óc Eo và vương quốc Phù Nam suy yếu rồi tan rã, nay chỉ còn những chứng tích trong lòng đất. Vai trò thương cảng trung tâm của khu vực ĐNA lại chuyển xuống khu vực bán đảo Malaisia. Có thể nhận thấy sự dịch chuyển từ cảng thị Cần Giờ với vị trí trung tâm khu vực ĐNA đến thương cảng Óc Eo giữ vai trò quan trọng trong bối cảnh rộng hơn Đông bắc Á và Nam Á – Địa Trung Hải. Trung chuyển, dịch vụ là một chức năng cơ bản của các cảng thị cổ này.
Như vậy, điều kiện ra đời, tồn tại và phát triển của các cảng thị - thương cảng cổ ở vùng đất Nam bộ là 1) Ở vị thế địa – kinh tế quan trọng (ven biển, vịnh, cửa sông sâu), có “hậu phương” vững chắc (đồng bằng, kinh tế nông nghiệp phát triển), 2) Có tổ chức xã hội tiên tiến, có thể “đối ứng” với bên ngoài về trình độ kỹ thuật (kỹ thuật đóng tàu thuyền, kỹ thuật hàng hải); và 3) có sản phẩm tốt đáp ứng nhu cầu của mạng lưới thương mại (sản phẩm thủ công nghiệp, dịch vụ hàng hải...).
Đồng thời nguyên nhân làm “biến mất” các cảng thị cổ là: 1) Sự biến đổi môi trường (cửa biển bị bồi lấp, nước biển dâng...) làm cho vị thế địa - kinh tế không còn nữa; 2) Sự phát triển do sự giao lưu mạnh mẽ với bên ngoài, dẫn đến thay đổi cấu trúc xã hội cũ; 3) Không đáp ứng, không theo kịp sự phát triển của kỹ thuật hàng hải, nhu cầu dịch vụ của mạng lưới thương mại đường biển ngày càng rộng hơn.
Một mức độ nào đấy, sự ra đời, phát triển và thay đổi của thương cảng Sài Gòn trong giai đoạn nửa sau thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 21 cũng chịu tác động của những nguyên nhân tương tự.
Như vậy, cảng quốc tế trung chuyển Cần Giờ không phải là một hiện tượng đặc biệt, duy nhất trong lịch sử vùng đất Nam bộ. Có thể coi đó là một sự tiếp nối của lịch sử trong điều kiện, hoàn cảnh mới. Vị thế địa – kinh tế ngày nay không chỉ là vị trí địa lý thuận lợi đối với trong nước, với khu vực ĐNA mà cần rộng hơn trong bối cảnh “thời đại của Thái Bình Dương”. Khu vực xây dựng cảng không chỉ trên một diện tích đất cụ thể mà còn là ảnh hưởng nhiều chiều đến những vùng xung quanh, trong đó rất quan trọng là môi trường sinh thái (đất, rừng, biển, sông, hệ động thực vật, không khí...), bởi vì kỹ thuật, quy mô và phương tiện hàng hải và dịch vụ hàng hải ngày nay khác xa thời cổ đại.
Và còn bởi vì, Nam bộ - nhìn từ khảo cổ và lịch sử - không phải là một vùng đất mới như nhiều người vẫn nghĩ. Một sự tiếp nối tốt đẹp là làm cho những điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi vốn có được thăng hoa trong hoàn cảnh mới, là những đặc trưng văn hóa truyền thống được lưu giữ bằng sự ứng xử phù hợp với lịch sử lâu dài của một vùng đất, một cộng đồng.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 23.10.2023





PHÁT TRIỂN “KINH TẾ XANH” - TRƯỜNG HỢP HUYỆN CẦN GIỜ (TP. HỒ CHÍ MINH)

 

PHÁT TRIỂN “KINH TẾ XANH”

TỪ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN VÀ DI SẢN VĂN HÓA:

 TRƯỜNG HỢP HUYỆN CẦN GIỜ (TP. HỒ CHÍ MINH)

1.    1. Kinh tế xanh

Khái niệm

Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) đã đưa ra khái niệm về kinh tế xanh: “Là nền kinh tế mang lại phúc lợi cho con người và công bằng xã hội, vừa giảm thiểu đáng kể các nguy cơ về môi trường và suy giảm sinh thái”. Đây được coi là định nghĩa chính xác và đầy đủ nhất về kinh tế xanh. Theo đó, kinh tế xanh đơn giản là một nền kinh tế có mức phát thải thấp, sử dụng hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm tính công bằng về mặt xã hội. Trong nền kinh tế xanh, sự tăng trưởng về thu nhập, việc làm thông qua việc đầu tư của Nhà nước và tư nhân cho nền kinh tế làm giảm thiểu phát thải carbon, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên, ngăn chặn sự suy giảm đa dạng sinh học và dịch vụ của hệ sinh thái.

Nội hàm của kinh tế xanh bao gồm: Phát thải carbon thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo đảm công bằng xã hội. Xét theo lĩnh vực, kinh tế xanh được xuất phát bởi việc tăng cường đầu tư cho các lĩnh vực giúp bảo vệ và phát triển vốn tự nhiên của Trái đất, hạn chế suy giảm sinh thái và các rủi ro về môi trường, bao gồm: Năng lượng tái tạo, giao thông phát thải carbon thấp, xây dựng nhà hiệu quả năng lượng, các công nghệ sạch, hệ thống quản lý chất thải tiên tiến, hệ thống cung cấp nước sạch tiên tiến, và nông - lâm - ngư nghiệp bền vững (UNEP, 2010). Đặc biệt, việc đầu tư này cần được hỗ trợ bởi các cải cách về chính sách trong nước, chính sách quốc tế và những nỗ lực xây dựng cơ sở hạ tầng của thị trường.

Với những ý tưởng về nền kinh tế xanh, một nền kinh tế vừa thỏa mãn nhu cầu tăng trưởng kinh tế, vừa giải quyết được những thách thức về môi trường đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến từ khá sớm. Trong đó, hầu hết các nghiên cứu đều thống nhất quan điểm, xu hướng phát triển kinh tế xanh tập trung sẽ bám sát vào 3 trụ cột chính, đó là: Công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Các nhà nghiên cứu cũng khẳng định khái niệm “kinh tế xanh” không thay thế khái niệm bền vững, nhưng nó ngày càng được công nhận là mô hình phù hợp, làm nền tảng cho phát triển bền vững. Trong đó tính bền vững là một mục tiêu dài hạn quan trọng, nhưng xanh hóa nền kinh tế là phương tiện đưa mỗi quốc gia đi tới đích phát triển bền vững[1].

Có thể nhận biết kinh tế xanh là sự kết hợp giữa 3 thành tố: Kinh tế + Xã hội + Môi trường. Kinh tế xanh có tính chất bền vững, bởi vì những hoạt động trong nền kinh tế này tạo ra lợi nhuận hoặc giá trị có ích lợi, nhưng luôn hướng đến phát triển cuộc sống của xã hội con người, đặc biệt là yếu tố văn hóa cộng đồng. Đồng thời những hoạt động trong nền kinh tế này thân thiện với môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn. Ba yếu tố này đạt trạng thái cân bằng sẽ thỏa mãn tính bền vững của phát triển xã hội.

Kinh tế xanh là mô hình đánh giá trực tiếp vốn tự nhiên và việc sử dụng tự nhiên như một giá trị của kinh tế học, điều này không giống và đáng quý hơn so với những mô hình kinh tế trước đó. Trong một nền kinh tế xanh, các chi phí xã hội phải gánh chịu thông qua hệ sinh thái đều có nguồn gốc và phải được hoàn trả bởi các thực thể có khả năng gây hại hoặc thờ ơ với một giá trị tự nhiên.

Kinh tế xanh tạo ra việc làm, bảo đảm tăng trưởng kinh tế bền vững và ngăn chặn ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu toàn cầu, cạn kiệt nguồn tài nguyên và suy thoái môi trường.[2]

Đặc điểm của Kinh tế xanh

Các định chế quốc tế khác nhau đã đưa ra các đặc điểm và bản chất khác nhau của nền kinh tế xanh. Một số đặc điểm chung là:

-       Nền kinh tế xanh tạo điều kiện phát triển bền vững

-       Kinh tế xanh là tài nguyên và năng lượng tiết kiệm

-       Nền kinh tế này tạo ra công ăn việc làm xanh.

-       Kinh tế xanh tôn trọng các ranh giới hành tinh, các giới hạn sinh thái hoặc sự khan hiếm.

-       Nền kinh tế này đo lường sự tiến bộ kinh tế ngoài GDP bằng cách sử dụng các chỉ số / thước đo thích hợp.

-       Nền kinh tế xanh mang lại sự bình đẳng, công bằng và chính đáng - giữa và trong các quốc gia và giữa các thế hệ.

-       Kinh tế xanh bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái.

-       Nền kinh tế này mang lại hiệu quả giảm nghèo, nâng cao đời sống, sinh kế, bảo trợ xã hội và tiếp cận các dịch vụ thiết yếu.

-       Nền kinh tế xanh giúp cải thiện khả năng quản trị và nhà nước pháp quyền. Bao gồm: Dân chủ; có sự tham gia của cộng đồng; chịu trách nhiệm; ổn định[3].


2. 2. Khái quát về huyện Cần Giờ TP. Hồ Chí Minh

Vị trí địa lý.

Cần Giờ là một huyện ngoại thành, cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 60km về phía Đông Nam. Đây là cửa ngõ ra biển Đông của Thành phố Hồ Chí Minh và của cả miền Đông Nam Bộ. Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, với ranh giới là sông Đồng Nai, đoạn đổ ra vịnh Gành Rái là sông Lòng Tàu; phía Tây Bắc là huyện Nhà Bè Thành phố Hồ Chí Minh ngăn cách bởi sông Nhà Bè; phía Tây và Tây Nam giáp hai tỉnh Long An và Tiền Giang mà ranh giới là sông Soài Rạp đổ ra vịnh Đồng Tranh. Phía Nam là biển Đông.

Với diện tích gần 700 km2 , Cần Giờ được coi là miền đồng bằng chưa hoàn chỉnh ở hạ lưu sông Đồng Nai. Đặc điểm nổi bật của địa hình Cần Giờ là khu vực này bị ngăn cách với đất liền bởi các con sông lớn. Phía Bắc là sông Nhà Bè và sông Lòng Tàu, phía Đông là sông Đồng Tranh và sông Thị Vải, phía Tây là sông Soài Rạp, còn phía Nam là biển Đông. Sông Lòng Tàu là nhánh tiêu nước chính, lòng sông sâu nên cũng là trục giao thông chính từ cửa biển Cần Giờ vào lưu vực Đồng Nai. Trên bề mặt toan vùng còn bị chia cắt bởi hệ thống hàng trăm sông rạch chằng chịt.

Môi trường sinh thái.

Trên vùng đầm lầy ven biển này đã tồn tại một hệ sinh thái vùng ngập mặn điển hình. Điều kiện có ý nghĩa quyết định cho kiểu rừng ngập mặn là đất bùn lỏng và chế độ ngập triều. Để thích nghi, các cây rừng ngập mặn dù thuộc nhiều họ khác nhau nhưng đều mang đặc tính chung là có bộ rễ hình nơm bám rất chắc vào đất bùn, có khả năng mang cây mầm ngay trên thân (như cây đước), lá cứng dày, mọng nước và cấu trúc chịu hạn sinh lý. Rừng cây ở vùng ngập mặn thường có một tầng, cây không cao to, phổ biến là kiểu rừng “mắm trước, đước sau”. Đó là một quá trình cây mắm phát triển và mọc thuần khi đất mới bồi chưa chắc. Vài năm sau, đất dần được nâng cao, một phần do bồi tích của sông, biển, một phần do thân cây, lá mục rụng. Đồng thời, đất bớt mặn thì loại cây đước, vẹt bắt đầu phát triền để giữ đất. Khi đất cứng hơn, cao dần và bớt chua, các loại cây thấp, cây bụi như ô rô gai, bần, chà là, nhất là dừa nước… xuất hiện.

Rừng ngập mặn giữ vai trò then chốt trong quá trình hình thành địa hình ở đây, vì có tác dụng giữ đất, chống xâm thực, tạo môi trường cho thủy hải sản nước mặn và nước lợ phát triển. Trong các khu rừng ngập mặn ở Việt Nam, Cần Giờ là nơi có mức độ thủy hải sản tự nhiên vào loại cao nhất. Tiêu biểu là sự phong phú, đa dạng của hải sản vùng đồng bồi cửa sông: các loài cá, các loài giáp xác, nhuyễn thể. Ngoài ra còn có nhiều loại chim, thú mà phần lớn vẫn còn đến ngày nay…[4].

Khí hậu ở Cần Giờ tương đối khắc nghiệt hơn những khu vực khác ở miền Đông Nam Bộ. Mùa khô kéo dài hơn, lượng mưa trong mùa mưa ít hơn, tầng phù sa cổ chứa nước ngầm cũng bị nhiễm mặn làm cho Cần Giờ hầu như không có nước ngọt. Điều kiện sinh thái này không thuận lợi để phát triển nông nghiệp trồng trọt nhưng thích hợp với các phương thức khai thác tự nhiên

Cần Giờ là huyện duy nhất của thành phố Hồ Chí Minh có diện tích rừng lớn. Đây được coi là “lá phổi xanh” của thành phố. Rừng ngập mặn Cần Giờ được Unesco đã công nhận đây là Khu dự trữ sinh quyển thế giới với hệ động thực vật đa dạng độc đáo điển hình của vùng ngập mặn. Chính vì vậy việc bảo vệ môi trường ở huyện Cần Giờ là rất quan trọng, không chỉ cho TP. Hồ Chí Minh mà còn cho toàn miền Đông Nam bộ - khu công nghiệp lớn nhất nước.

Hệ thống di sản văn hóa Biển đặc sắc

Di sản lịch sử văn hóa ở đây có giá trị cao: đó là hệ thống di tích khảo cổ học có niên đại từ thời văn hóa Đồng Nai tiền sử (3000 năm - 2000 năm cách ngày nay), đến thời kỳ văn hóa Óc Eo thuộc nền văn minh Phù Nam (thế kỷ 1 – thế kỷ 7). Nổi tiếng nhất là di tích mộ chum Giồng Cá Vồ - di tích lịch sử văn hóa quốc gia, có niên đại 2500 năm cách ngày nay.

Môi trường tự nhiên và hệ thống di tích khảo cổ học ở Cần Giờ đã cho thấy vào thời cổ khu vực cửa sông vịnh biển này không phải là một vùng phát triển nông nghiệp trồng trọt như nhiều nơi khác. Cư dân cổ ở đây có đời sống kinh tế khá đặc biệt là phát triển thương mại bằng đường biển hướng ra khu vực ĐNA hải đảo và xa hơn, hướng vào ĐNA lục địa bằng đường sông, định cư trên những giồng (gò) đất không lớn với hoạt động khai thác nguồn lợi tự nhiên từ rừng ngập mặn, từ biển và phát triển các nghề thủ công độc đáo.

Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu đã cho rằng Cần Giờ hai ngàn năm trước đây là một “cảng thị sơ khai”, nơi tiếp thu và chuyển hoá nhiều yếu tố văn hoá – kỹ thuật từ bên ngoài,  đồng thời cũng là nơi tích tụ và phát tán những yếu tố văn hoá bản địa.

Giai đoạn muộn hơn ở Cần Giờ có nhiều dấu tích của những đoàn lưu dân theo sông nước vào khai phá vùng đất Gia Định – Đồng Nai. Đó là những di tích cư trú, mộ táng, đình, chùa, miếu… và tín ngưỡng dân gian như Lễ hội Nghinh Ông vào tháng tám âm lịch  – một di sản Văn hóa Phi vật thể quốc gia.

Trong kháng chiến chống Mỹ, rừng sác Cần Giờ là Khu căn cứ Cách mạng, đã được công nhận là Khu di tích lịch sử cấp Quốc gia. Khu căn cứ này gắn liền với những chiến công của Đội Đặc công Rừng Sác anh hùng. Đây là địa điểm nổi bật và thu hút được nhiều sự quan tâm của du khách.

Như vậy, cùng với những di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố, các địa điểm di tích đang được đưa vào Danh mục kiểm kê di tích của TP. Hồ Chí Minh, huyện Cần Giờ có 3 di tích văn hóa quốc gia nhưng thuộc 3 loại hình độc đáo, đồng thời tiêu biểu cho 3 giai đoạn lịch sử của nơi này, kéo dài liên tục từ khoảng 500 năm trước công nguyên đến thế kỷ 20. Hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể ở Cần Giờ có giá trị cao không chỉ về nghiên cứu khoa học, giáo dục mà còn phục vụ phát triển dân sinh, đặc biệt là phát triển du lịch [5].

3. Cần Giờ phát triển từ “kinh tế xanh”

Đô thị biển Cần Giờ.

Những năm gần đây, chính quyền TP. Hồ Chí Minh đã có sự quan tâm thiết thực hơn nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội của huyện Cần Giờ phát triển, vì đây là khu vực mà đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Tuy nhiên trong một chừng mực nhất định, đã có những tác động không thuận lợi của cơ chế thị trường đến việc bảo tồn các di sản văn hóa, mà nếu không có giải pháp kịp thời thì hậu quả thật khó lường. Bởi đó là tác động từ việc đất đai chuyển đổi mục đích sử dụng, khu vực ven bờ biển không còn có thể nuôi trồng thủy hải sản, nhiều người dân – trong đó có ngư dân – phải chuyển đổi phương thức kinh tế… Điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của cộng đồng, đến không gian lịch sử - văn hoá của một vùng đất, cảnh quan truyền thống của hệ thống di sản văn hóa. Đây là một thực trạng ở nhiều địa phương đang trong quá trình “đô thị hóa” và huyện Cần Giờ cũng không là ngoại lệ.

Theo dự án Đô thị biển Cần Giờ thì một phần quan trọng của đô thị là diện tích lấn biến khá lớn – theo xu hướng “hiện đại hóa” trong thế kỷ 20 của nhiều “quốc gia biển”. Tuy nhiên biển Cần Giờ là vùng biển bồi và chế độ “bán nhật triều” mạnh, nơi có môi trường phù hợp cho các lọai thủy hải sản sinh trưởng, thuận tiện cho việc nuôi thủy sản ven bờ. Do đó “lấn biển” nhưng cần chú ý bảo vệ hệ sinh thái ven biển. Mặt khác việc xây dựng đô thị tại vùng cửa sông vịnh biển trong điều kiện biến đổi khí hậu nhanh chóng và phức tạp như hiện nay cũng cần tính đến hiện tượng biển dâng sẽ làm biến đổi cảnh quan và môi trường.

Do đó, đô thị biển Cần Giờ sẽ có những dự án phát triển bất động sản nằm trong khu vực có hệ sinh thái và di sản văn hóa cần bảo vệ. Vì vậy phải hướng đến mục tiêu phát triển đô thị hiện đại và bảo tồn môi trường sinh thái tự nhiên và hệ thống di sản văn hóa chứ không phải “hiện đại hóa” bằng mọi giá!

Gần đây, trong buổi khảo sát và làm việc với huyện Cần Giờ của ông Nguyễn Văn Nên - Bí thư thành ủy TP. Hồ Chí Minh vào tháng 4.2021, nhiều chuyên gia kinh tế, một số nhà khoa học đã có ý kiến nhấn mạnh việc phát triển kinh tế của Cần Giờ là cần mạnh dạn với cách tiếp cận mới (nhìn nhận lại vai trò của Khu dự trữ sinh quyển thế giới/rừng ngập mặn), tận dụng lợi thế mặt tiền biển và cửa sông để phát triển (xây đô thị lấn biển hiện đại),  nhằm góp phần vào phát triển kinh tế của TPHCM, của vùng và cả nước [6].

Điều đó không sai và cực kỳ cần thiết. Tuy nhiên, vấn đề là phải phát triển ở Cần Giờ nên như thế nào? Muốn phát triển đúng hướng và bền vững, bài học của thế giới là cần phải nhận biết đặc điểm của từng khu vực, từng địa phương, để có thể hạn chế yếu tố tiêu cực và phát huy những yếu tố tích cực, nhất là từ nguồn tài nguyên bản địa. Vậy đặc trưng của Cần Giờ - trong bối cảnh TP. Hồ Chí Minh, Nam bộ và khu vực, là gì?

Cần Giờ có “3 ADN” là đặc trưng cơ bản để nhận biết và tạo “thương hiệu”

“ADN” thứ nhất là hệ sinh thái rừng ngập mặn. Cần Giờ phát triển cần phải có rừng ngập mặn. Đây là ADN chủ đạo, cần bảo tồn và phát triển. Việc UNESCO công nhận rừng Cần Giờ là Khu dự trữ sinh quyển thế giới không chỉ có ý nghĩa về mặt môi trường mà còn gián tiếp công nhận và vinh danh công lao của Việt Nam, của TP. Hồ Chí Minh, trong việc chỉ một thời gian ngắn sau chiến tranh đã khôi phục một diện tích rừng rộng lớn đã bị chiến tranh tàn phá nặng nề, mang lại một môi trường mới cho cảnh quan và đặc biệt là cho con người có thể sinh sống. Điều này không thể phủ nhận. Đây cũng chính là “ADN” giúp Cần Giờ và TPHCM khác biệt so với nhiều nơi khác.

“ADN” thứ hai, đó là vị trí “mặt tiền” biển và cửa sông của vùng Đông Nam bộ, là cửa ngõ của TPHCM để phát triển kinh tế biển cho đất nước. Vì thế, phát triển huyện Cần Giờ không chỉ là phát triển cho một địa phương mà còn là phát triển cho cả vùng. Ngoài ra cần lưu ý, Cần Giờ có vị trí chiến lược, mang ý nghĩa quân sự quan trọng của TP. Hồ Chí Minh, miền Đông Nam bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Trong lịch sử vào thời nhà Nguyễn, Cần Giờ là khu vực phòng thủ từ xa cho thành Gia Định, và hiện nay nơi này trong địa bàn của huyện vẫn có nhiều khu vực do bộ đội Biên phòng TP. Hồ Chí Minh quản lý.

“ADN” thứ ba, đó là hệ thống di tích ở Cần Giờ có giá trị rất đặc biệt, mang tính độc đáo mà nhiều nước trong khu vực không có. Những di sản văn hóa cho thấy vai trò của cộng đồng cư dân Cần Giờ từ thời cổ cho đến nay, đặc biệt là những lớp người đến đây sinh sống và khai hoang trồng trọt, làm muối, đánh bắt cá… từ sau 1975. Nếu không quan tâm đúng mức đến ADN này trong quá trình hiện đại hóa, đô thị hóa thì sẽ gây ra nhiều bất ổn về xã hội.

Dựa vào các “ADN” này thì Cần Giờ phát triển đúng hướng và không bị biến dạng, mất bản sắc. Tạo nên lợi thế này giúp phát triển du lịch văn hóa, du lịch sinh thái bên cạnh phát triển dịch vụ của đô thị biển hiện đại.

Đây là “lợi thế cạnh tranh” của Cần Giờ trong giai đoạn “kinh tế du lịch” phát triển mạnh mẽ. Làm sao cho môi trường tự nhiên và di sản có thể tiếp tục sống trong đời sống đương đại, khi được con người hiện nay tiếp nhận sẽ trở thành ký ức, quảng bá rộng rãi và “di truyền” cho thế hệ sau về các giá trị văn hóa quá khứ đang được thế hệ hiện nay gìn giữ. Bảo tồn di sản và khai thác, phát triển di sản như một nền kinh tế xanh, cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo tồn di sản văn hóa, môi trường tự nhiên.

Xây dựng nền Kinh tế xanh để Cần Giờ phát triển bền vững

Từ cách tiếp cận của “KINH TẾ XANH”, có thể nhận thấy Cần Giờ giàu tiềm năng để phát triển một cách bền vững, từ sự kết hợp giữa phát triển kinh tế + bảo tồn di sản văn hóa + bảo vệ môi trường tự nhiên. Ở Cần Giờ ba yếu tố này không thể tách rời, nếu hủy hoại một yếu tố tức là làm cho hai yếu tố kia suy yếu và cũng sẽ biến mất. Hủy hoại một yếu tố cũng là làm tổn hại tới cộng đồng dân cư, từ việc thay đổi, mất sinh kế đế việc từ bỏ các thành tố văn hóa gắn liền với sinh kế ấy. Điều này có nghĩa là cùng một lúc phải bảo lưu cho được những giá trị văn hoá truyền thống, bảo vệ những di tích lịch sử, không gian, cảnh quan thiên nhiên vốn có, nhưng đồng thời phải đảm bảo phát triển một cách hài hoà có định hướng (bảo tồn thích nghi).

Việc xây dựng một đô thị tại vùng cửa sông vịnh biển, trong điều kiện biến đổi khí hậu nhanh chóng và phức tạp như hiện nay chắc chắn sẽ làm ảnh hưởng cảnh quan môi trường, tác động làm biến đổi điều kiện tự nhiên, ảnh hưởng đến việc bảo tồn tự nhiên cũng là bảo tồn cảnh quan di tích. Không thể bảo vệ được hệ thống di tích khảo cổ - lịch sử cũng như làm biến dạng, biến mất các di sản văn hóa phi vật thể của Cần Giờ, cũng là làm mất đi những di sản văn hóa có giá trị đặc biệt của TP. HCM và của cả nước.

Các phương án bảo tồn, phát huy giá trị của hệ thống di sản văn hóa huyện Cần Giờ cần phải đặt trong qui hoạch tổng thể khu vực Cần Giờ nói chung và bảo tồn, phát triển Khu bảo tồn sinh quyển thế giới nói riêng. Di tích gắn liền với cảnh quan môi trường. Cần Giờ còn may mắn giữ lại được hệ sinh thái rừng ngập mặn đã hình thành từ hàng chục ngàn năm trước. Trải qua thời gian chiến tranh lâu dài, tuy bị tàn phá nặng nề nhưng sự hồi sinh đáng kinh ngạc của rừng ngập mặn Cần Giờ không chỉ mang lại lợi ích về môi trường, về kinh tế, mà còn có giá trị về lịch sử, vì đây chính là môi trường sinh sống của chủ nhân những di tích khảo cổ hơn hai ngàn năm trước đến ngày nay.

Khi bảo toàn được những “ADN” là các đặc trưng của môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn, cộng đồng dân cư cũng được bảo toàn trong hoàn cảnh mới: kinh tế phát triển, nguồn sống và sinh kế được bảo vệ đồng thời phát huy giá trị di sản văn hóa của họ. Phát triển bền vững huyện Cần Giờ phải lấy việc bảo vệ môi trường và bảo vệ di sản làm “chìa khóa” quan trọng nhất. Không phải chỉ để nghiên cứu mà phải dành cho người dân tìm hiểu, nâng cao tri thức và được thụ hưởng di sản của ông cha để lại. Đồng thời giới thiệu và quảng bá với du khách quốc tế, từ đó góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa - lịch sử Việt Nam [7].

Như trên đã chỉ ra, Kinh tế xanh mang lại sự bình đẳng, công bằng giữa các cộng đồng và giữa các thế hệ, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái, đồng thời mang lại hiệu quả giảm nghèo, nâng cao đời sống, sinh kế, bảo trợ xã hội và tiếp cận các dịch vụ thiết yếu. Đấy chính là mục tiêu phát triển mà huyện Cần Giờ hướng đến. Muốn vậy, trước hết và xuyên suốt là chính sách định hướng và giải pháp phù hợp của chính quyền TP. Hồ Chí Minh, tạo điều kiện cho Cần Giờ phát triển mọi hoạt động của nền KINH TẾ XANH một cách có hiệu quả tốt nhất.

TP. Hồ Chí Minh ngày 6.10.2022

 

TS. Nguyễn Thị Hậu


[1] https://daibieunhandan.vn/Giup-viec/Khai-niem-kinh-te-xanh-i260552/

[2] Vikipedia – Kinh tế xanh

[3] https://doanhnghiepkinhtexanh.vn/kinh-te-xanh-la-gi-thuc-trang-kinh-te-xanh-tai-viet-nam-a5048.html

[4] Trần Bạch Đằng – Dương Minh Hồ (chủ biên), 1993: Sơ khảo huyện Cần Giờ. NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

[5] Nguyễn Thị Hậu, 2012. Văn hóa khảo cổ huyện Cần Giờ TP. Hồ Chí Minh. NXB Tổng hợp TP.HCM

[7] https://nld.com.vn/van-nghe/he-thong-di-tich-khao-co-hoc-huyen-can-gio-tp-hcm-nhung-gia-tri-cuc-ky-quan-trong-20220912194017719.htm





HỆ THỐNG DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC HUYỆN CẦN GIỜ NHỮNG GIÁ TRỊ CỰC KỲ QUAN TRỌNG

TS. Nguyễn Thị Hậu 

Huyện Cần Giờ nằm ở phía Đông Nam TP.HCM, là vùng đồng bằng cửa sông – vịnh biển. Bề mặt đồng bằng thấp trũng bao phủ rừng ngập mặn và bị chia cắt do hệ thống sông rạch chằng chịt. Trên vùng địa hình phức tạp này các nhà khảo cổ học đã phát hiện được một hệ thống hơn 30 di tích khảo cổ trên các giồng đất đỏ. Dấu tích cư trú của con người từ rất sớm ở nơi đây đã làm cho môi trường sinh thái - nhân văn của Cần Giờ khác hẳn những khu vực rừng ngập mặn khác, nơi đơn thuần chỉ có dấu vết quá trình lấn biển của tự nhiên.

DI VẬT PHONG PHÚ VÀ ĐỘC ĐÁO
Từ những phát hiện đầu tiên vào những năm 1976 – 1978, qua nhiều lần khảo sát và 3 lần khai quật liên tục (1992, 1993 và 1994) và mới đây vào năm 2021 – 2022, các nhà khảo cổ học đã bước đầu phác dựng lịch sử Cần Giờ giai đoạn từ 3.000 đến khoảng 2.000 năm cách ngày nay, qua việc nhận diện các đặc trưng văn hoá khảo cổ nơi đây.
Các di tích khảo cổ học ở Cần Giờ phần lớn là di tích cư trú. Quá trình sinh sống và sản xuất gốm của cư dân cổ bắt đầu từ rất sớm, ngay trên nền sét biển và để lại tích tụ “giồng đất đỏ” khá dày.
Một số di tích từ nơi cư trú dần trở thành khu mộ táng, như tại di tích Giồng Cá Vồ và Giồng Phệt. Phần lớn di cốt được chôn trong chum gốm lớn với tư thế ngồi bó gối – tư thế của đứa trẻ trong bụng mẹ. Đây là điểm khác biệt nhất so với những di tích mộ chum khác ở ĐNA.
Di vật và đồ tuỳ táng của các di tích mộ chum Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt vô cùng phong phú và độc đáo. Đó là loại gốm sản xuất tại chỗ có đặc điểm riêng về chất liệu và loại hình, được dùng để nhận biết mối liên hệ của Cần Giờ với những khu vực khác. Đồ gốm tùy táng trong mộ chum rất đa dạng, cho biết mối liên hệ của chủ nhân di tích với các nền văn hoá Đồng Nai, Sa Huỳnh cùng thời và văn hóa Óc Eo ở giai đoạn sau… Đặc biệt nhiều đồ trang sức (vòng, hạt chuỗi, khuyên tai) bằng đá ngọc, mã não, thủy tinh, vàng… được sản xuất tại chỗ, nhờ việc nhập nguyên liệu và tiếp thu kỹ thuật chế tác từ những khu vực khác qua con đường thương mại trên biển Đông.
Tại các di tích này không có nhiều công cụ sản xuất nông nghiệp mà chỉ có một số ít vũ khí tượng trưng cho quyền lực như giáo sắt và rìu đồng. Môi trường tự nhiên, di tích, di vật đã cho thấy khu vực Cần Giờ thời cổ không phải là một vùng phát triển nông nghiệp trồng trọt như nhiều nơi khác trong thời đại kim khí. Cư dân cổ nơi này có đời sống kinh tế khá đặc biệt là phát triển thương mại bằng đường biển hướng ra khu vực ĐNA hải đảo và xa hơn, bằng đường sông hướng vào ĐNA lục địa, kết hợp hoạt động khai thác nguồn lợi tự nhiên tại chỗ.
Chính vì vậy, có thể cho rằng Cần Giờ hai ngàn năm trước đây là một “cảng thị sơ khai”, nơi tiếp thu và chuyển hoá nhiều yếu tố văn hoá – kỹ thuật từ bên ngoài, đồng thời cũng là nơi tích tụ và phát tán những yếu tố văn hoá bản địa.

YẾU TỐ BIỂN TRONG CÁC NỀN VĂN HÓA
Vị trí địa lý của Cần Giờ khá đặc biệt, mang tính chất “mặt tiền” của lưu vực Đồng Nai rộng lớn, là “trạm trung chuyển” giữa lưu vực Vàm Cỏ – Đồng Nai hay là hai miền Tây – Đông Nam Bộ. Tại nhiều giồng đất ở Cần Giờ còn tìm thấy di tích của cư dân cổ thời văn hóa Óc Eo (như Giồng Am) và muộn hơn trong giai đoạn khai phá vùng lưu vực Đồng Nai (như Giồng Cá Trăng). Câu ca dao “Nhà Bè nước chảy chia hai – Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về” tuy xuất hiện khá muộn nhưng đã phản ánh tâm trạng của những đoàn lưu dân lênh đênh trên sông nước, từ vịnh biển Gành Rái - Cần Giờ hay từ vịnh Đồng Tranh - Vàm Cỏ đi sâu hơn vào lưu vực Đồng Nai – Cửu Long.
Chọn vị trí “cửa sông – vịnh biển” để cư trú và phát triển đời sống kinh tế giao thương, khai thác tự nhiên… có lẽ cư dân cổ Cần Giờ đã góp phần hình thành một trong những quy luật của “làng Nam Bộ”: định cư trên giồng cao nơi “giáp nước”, làng mạc mọc lên, trên bờ là thị tứ, chợ búa, dưới sông ghe xuồng ngược xuôi buôn bán. Ghe “thương hồ” thường nghỉ lại ở nơi “giáp nước”, đặng chờ nước lớn ngược vào đồng bằng hay nước ròng thì xuôi ra biển.
Hệ thống di tích khảo cổ học ở Cần Giờ phản ánh mối quan hệ giao lưu rộng rãi của “cảng thị” Cần Giờ, đã có vai trò thúc đẩy sự phát triển của lưu vực Đồng Nai thời tiền sử. Đồng thời góp phần quan trọng vào quá trình hình thành văn minh Óc Eo của vương quốc cổ Phù Nam từ những thế kỷ đầu Công nguyên. Từ các di tích khảo cổ học ở Cần Giờ, có thể nhận thấy yếu tố biển – đặc biệt là con đường giao thương/di cư trên biển Đông - là nguyên nhân của hiện tượng “đồng quy văn hóa” của nhiều nền văn hóa khảo cổ ở ĐNA, mà mộ chum ở hai di tích Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt là điển hình. Còn yếu tố ở từng khu vực lục địa làm nên nét khác biệt giữa các nền văn hóa, như giữa văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Cần Giờ.
Giao thương đường biển là một trong những yếu tố quan trọng tham gia ngay từ đầu vào tiến trình phát triển từ văn hóa Sa Hùynh đến văn minh Chămpa ở miền Trung, và từ văn hóa Cần giờ (trong bối cảnh lưu vực Đồng Nai) phát triển lên văn minh Óc Eo ở Nam bộ.
Các nền văn hoá khảo cổ thời kỳ tiền sơ sử ở ĐNA đã cho thấy Biển Đông không phải là yếu tố ngăn cách và cô lập các tộc người ở khu vực này, mà trái lại, đã là một “chiếc cầu” nối liền các tộc người ven biển với nhau, liên kết giữa ĐNA hải đảo và ĐNA lục địa, giữa ĐNA với những vùng xa hơn trong Thái Bình Dương bao la. Biển Đông từ thời xa xưa cho đến nay luôn là yếu tố quan trọng trong sự phát triển của khu vực Đông Nam Á.

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN
Huyện Cần Giờ có một hệ thống nhiều loại hình di tích lịch sử văn hóa như di tích khảo cổ học, đình, chùa, lăng mộ, di tích cách mạng, các di sản văn hóa phi vật thể như Lễ Nghinh Ông... Bên cạnh đó, Cần Giờ còn có một không gian cảnh quan độc đáo là rừng ngập mặn. Các di tích khảo cổ phân bố tập trung ở khu vực Cần Thạnh, Long Hòa và Lý Nhơn, ở đó hàng ngày diễn ra mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá của dân cư với mức độ ngày càng nhanh, phong phú và đa dạng.
Điều này có nghĩa là cùng một lúc phải bảo lưu cho được những giá trị văn hoá truyền thống, bảo vệ những di tích lịch sử, không gian, cảnh quan thiên nhiên vốn có, nhưng đồng thời phải đảm bảo phát triển một cách hài hoà có định hướng (bảo tồn thích nghi). Do vậy, đòi hỏi các phương án, giải pháp cho hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa nói chung và hệ thống di tích khảo cổ học nói riêng ở Cần Giờ phải được đặt ra khẩn trương. Bởi vì, hệ thống di tích khảo cổ học Cần Giờ có giá trị cao không chỉ về nghiên cứu khoa học mà còn trong phục vụ phát triển dân sinh và du lịch bền vững.
Theo quy hoạch “đô thị lấn biển Cần Giờ” thì hệ thống di tích khảo cổ học ở Cần Giờ chưa bị ảnh hưởng trực tiếp. Tuy nhiên, triển khai cụ thể quy hoạch “lấn biển” và đặc biệt là việc kiểm soát tốc độ phát triển đô thị hóa và dân cư là hết sức cần thiết! Việc xây dựng một đô thị tại vùng cửa sông vịnh biển, trong điều kiện biến đổi khí hậu nhanh chóng và phức tạp như hiện nay chắc chắn sẽ làm ảnh hưởng cảnh quan môi trường, tác động làm biến đổi điều kiện tự nhiên, ảnh hưởng đến việc bảo tồn tự nhiên cũng là bảo tồn cảnh quan di tích. Không thể bảo vệ được hệ thống di tích khảo cổ của Cần Giờ, cũng là làm mất đi một di sản văn hóa có giá trị đặc biệt của TP.HCM và của cả nước.
Các phương án bảo tồn, phát huy giá trị của hệ thống di tích khảo cổ học huyện Cần Giờ cần phải đặt trong qui hoạch tổng thể khu vực Cần Giờ nói chung và Khu bảo tồn sinh quyển nói riêng. Di tích gắn liền với cảnh quan môi trường. Cần Giờ còn may mắn giữ lại được hệ sinh thái rừng ngập mặn đã hình thành từ hàng chục ngàn năm trước. Trải qua thời gian chiến tranh lâu dài, tuy bị tàn phá nặng nề nhưng sự hồi sinh đáng kinh ngạc của rừng ngập mặn Cần Giờ không chỉ mang lại lợi ích về môi trường, về kinh tế, mà còn có giá trị về lịch sử, vì đây chính là môi trường sinh sống của chủ nhân những di tích khảo cổ hơn hai ngàn năm trước.
Hệ thống di tích khảo cổ phải hoà nhập với quy họach bảo vệ khu Dự trữ sinh quyển, hòa nhập với quy họach bảo tồn những di tích lịch sử - văn hóa thành một tổng thể hài hoà, trong sự phát triển “đô thị hóa” huyện Cần Giờ. Phát triển bền vững huyện Cần Giờ phải lấy việc bảo vệ môi trường và bảo vệ di sản làm “chìa khóa” quan trọng nhất. Không phải chỉ để nghiên cứu mà phải dành cho người dân tìm hiểu, nâng cao tri thức và được thụ hưởng di sản của ông cha để lại. Đồng thời giới thiệu và quảng bá với du khách quốc tế, từ đó góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa - lịch sử Việt Nam.
(Ùi ui lên hình trang nhất cơ đấy! 😃 )



CẦN GIỜ - DI TÍCH KCH ĐỘC ĐÁO

 @ Nhân cuộc khai quật di tích Giồng Cá Vồ, Cần Giờ, mình post lại vài nhận xét của mình từ kết quả nghiên cứu và làm luận án TS từ những năm 1994 - 1997.

Cuộc khai quật 2021 - 2022 cũng cho thấy những nhận xét này chưa lạc hậu, đồng thời cung cấp thêm tư liệu cho mình nghiên cứu những ý tưởng mới 🙂
CẦN GIỜ - DI TÍCH KCH ĐỘC ĐÁO
Từ những phát hiện đầu tiên vào những năm 1976 – 1978, qua nhiều lần khảo sát, thám sát và qua 3 lần khai quật liên tục (1992 - 1994 và 2021 - 2022), các nhà khảo cổ học đã bước đầu phác dựng lịch sử Cần Giờ giai đoạn từ 3.000 đến khoảng 2.000 năm cách ngày nay, qua việc nhận biết được những đặc trưng văn hoá khảo cổ nơi đây.
- Là những di tích chỉ cư trú có tầng văn hoá khá dày, hình thành ngay trên nền sét biển. Tích tụ của quá trình sản xuất gốm văn hoá đã góp phần cùng với tự nhiên tạo nên những giồng đất di tích khảo cổ.
- Di chỉ cư trú dần trở thành khu mộ táng với tục hung táng trong mộ chum là chủ yếu và điển hình: ở Cần Giờ phần lớn di cốt được tìm thấy trong tư thế chôn ngồi bó gối trong chum. Đây là điểm khác biệt nhất với những di tích mộ chum khác ở ĐNA.
- Di vật và đồ tuỳ táng của các di tích mộ chum Cần Giờ vô cùng phong phú và độc đáo. Đó là loại gốm Giồng Cá Vồ – Giồng Phệt, được coi là tiêu chí để nhận biết mối liên hệ của Cần Giờ với những vùng khác. Đó là vô số các kiểu đồ gốm mang phong cách của các nền văn hoá Đồng Nai, Sa Huỳnh, Óc Eo… Là các loại hình đồ trang sức cho biết nguồn gốc được sản xuất tại chỗ hoặc du nhập nguyên liệu và kỹ thuật từ những khu vực khác ở ĐNA hải đảo, là sự thiếu vắng các công cụ sản xuất nông nghiệp mà chỉ có mặt một số loại vũ khí mang tích chất tượng trưng cho quyền lực.
- Môi trường tự nhiên, di tích, di vật đã cho thấy đây không phải là một nền văn hoá của cư dân nông nghiệp trồng trọt – như nhiều nền văn hoá khảo cổ trong thời đại kim khí – mà chủ nhân của văn hoá này có đời sống kinh tế khá đặc biệt. Đó là phát triển thương mại kết hợp hoạt động khai thác tự nhiên.
Nghiên cứu nhiều nền văn hóa thời tiền sử ở khu vực ĐNA, có thể nhận thấy Yếu tố Biển – đặc biệt là con đường giao thương/di cư trên biển - là nguyên nhân của hiện tượng “đồng quy văn hóa” mà mộ chum là điển hình. Còn yếu tố lục địa ở từng khu vực làm nên nét khác biệt giữa các nền văn hóa, như giữa văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Cần Giờ. Biển Đông từ thời xa xưa cho đến nay luôn có một vị trí quan trọng trong sự phát triển của khu vực Đông Nam Á. Đây cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy sự phát triển từ văn hóa Sa Hùynh đến văn hóa Chămpa và từ văn hóa Cần giờ (trong bối cảnh lưu vực Đồng Nai) phát triển lên văn hóa Óc Eo.
P/s. Chưa có bằng chứng chắc chắn về nhân chủng của cộng đồng người cổ ở Cần Giờ nên không thể nói đây là “di tích của người Việt cổ” như tin của vài báo, TV.
Hình: Di vật tùy táng trong mộ chum (cuộc khai quật Giồng cá Vồ năm 1994).










Phản xạ văn hóa các vùng miền Việt Nam

_Nguồn:  https://logbasex.substack.com?utm_source=navbar&utm_medium=web Bản đăng lại từ bài viết trên trang Substack cùng tên của tác gi...