Hiển thị các bài đăng có nhãn nước nga. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nước nga. Hiển thị tất cả bài đăng

PHỤC SINH - MỘT BỘ PHIM TỪ KIỆT TÁC CỦA L.TONXTOI

 

Mình xem tiểu thuyết “Sống lại” từ hồi mười hai, mười ba tuổi… Khi đó chưa được xem phim nhưng tâm trí in sâu những hình ảnh khó quên: cô gái Kachiusa ngước đôi mắt đen láy vui tươi nhìn chàng Nekhliudop, rồi hai người hôn nhau với câu nói còn ngượng ngập nhưng tràn đầy niềm vui “Chúa sống lại rồi”, trong tiếng chuông nhà thờ rộn rã và ánh nến lấp lánh của ngày lễ Phục Sinh… Cái đêm tối mịt mùng, mưa gió từng cơn, nàng chạy theo đoàn xe lửa trên đó chàng đang ngồi ấm áp uống rượu với bạn bè. Sự ngây thơ lòng trong trắng của nàng đã bị vùi dập… Rồi sau đó là nỗi ân hận muộn màng của chàng Nekhliudop, cố gắng tuyệt vọng của chàng nhằm bù đắp phần nào những khổ đau mà Kachiusa đã phải chịu đựng… 50 năm qua, hôm nay bộ phim đen trắng PHỤC SINH đã mang lại cho mình trọn vẹn cảm xúc từng có khi đọc tiểu thuyết, đồng thời thêm những cảm nhận mới mà ở độ tuổi này mới thấu hiểu hơn chăng?

Phim mở ra khung cảnh mùa thu nước Nga nhưng không có lá vàng trời xanh đẹp tuyệt mà nhiều người vẫn ca ngợi, mà là cảnh tượng khắp nơi một màu xám xịt trong nhà tù, trên đường phố, những tòa nhà mờ mịt trong sương mù… Chỉ có chiếc khăn choàng đầu màu trắng của Maslova sáng lên như một tia hy vọng về cuộc sống tự do như bầy chim bồ câu bay nhảy trên đường phố, bất chấp sự ảm đảm, ẩm ướt và lạnh lẽo. Ảm đảm và lạnh lẽo cũng là ánh mắt của cô gái Maslova trong nhà tù, trên đường bị giải đến tòa án, trong phòng xử án. Đôi mắt đen long lanh thỉnh thoảng lóe lên sự lọc lõi, ánh nhìn khiêu khích, mời gọi theo thói quen “nghề nghiệp”, nhưng cũng không dấu vẻ khinh bỉ những người đàn ông đang hau háu nhìn cô.

Nhưng cũng cô gái đó với đôi mắt ngơ ngác không hiểu điều gì xảy ra, nức nở tuyệt vọng khi bị kết án 4 năm tù khổ sai. Maslova sống trong tầng lớp dưới đáy của xã hội nhưng nàng vẫn ngây thơ khi tưởng rằng, đã nói tất cả sự thật cô không phải là kẻ giết người, rằng cô chỉ muốn được thoát khỏi một kẻ say rượu hành hạ thể xác cô, thì mọi người sẽ hiểu cô vô tội… Sự ngây thơ của người lương thiện, khác hẳn sự “hiểu biết” của những kẻ kết án cô vì sự vô cảm, vì thói quen kết tội người yếu thế, và vì trong cuộc sống bọn họ đều có thể hành xử bẩn thỉu như tên lái buôn say rượu đã hành hạ Maslova và bị nàng vô tình giết chết. Kết tội nàng vì bọn họ hoảng sợ trước một cái kết mà rất có thể là của chính họ!

Lần thứ hai “sự thật” của Maslova bị vùi dập nên nàng không thể tin vào thiện ý của Nekhliudop. Nhưng dần dần nàng nhận thấy sự ân hận vô cùng thành tâm và trong sáng của Nekhliudop, nàng nhận ra con người Nekhliudop có thể phạm lỗi lầm nhưng không phải là người xấu xa như nàng từng căm hận. Sau khi ném vào mặt chàng những lời nặng nề, coi việc chàng làm mọi điều để nàng được giảm án chỉ là “sự chuộc tội cho kiếp sau”, nàng không thể không nhận thấy sự quên mình của chàng còn cao hơn sự chuộc lỗi thông thường, đó là vì tình yêu những gì tốt đẹp trong con người nàng hiện tại, nhờ đó tình yêu của nàng yếu ớt hồi sinh…

Chứng kiến cuộc đời Kachiusa tàn tạ bởi một lỗi lầm thời tuổi trẻ của mình, Nekhliudop nhìn lại cuộc đời mình, chàng “sống lại” từ nhận thức về bản thân, từ sự nhìn nhận cái xã hội thượng lưu mà chàng là một phần trong đó, từ việc quyết liệt thực hiện mọi việc nhằm thay đổi số phận của Maslova và của chính mình… dù chàng hiểu rằng “nàng Kachiusa xưa kia đã chết”. Tình cảm của chàng với Maslova đi từ “trách nhiệm, bổn phận” của lương tâm đến sự thấu hiểu và chia sẻ của tâm hồn. Maslova tìm thấy cuộc sống trong tình yêu và sự cảm phục một người tù chính trị, Nekhliudop để nàng tự quyết định số phận dù chàng nhận ra tình yêu của hai người đã mong manh hồi sinh… Hai người từ biệt tình yêu của mình, số phận của họ đi theo hai con đường khác nhau. Nhưng tâm hồn họ sẽ mãi gắn bó bởi họ đã cùng tìm lại được bản thân trong một tình cảm cao cả: yêu thương CON NGƯỜI. Con người có thể sai lầm nhưng sửa chữa lỗi lầm không chỉ là nhận lấy gánh nặng của sự tự trừng phạt, mà còn là việc thay đổi chính mình, trở nên khoan dung, thấu hiểu và vị tha hơn.

Diễn biến của phim trung thành với nguyên tác tiểu thuyết. Trước đây, khi bình về tiểu thuyết này nhiều người thường nhấn mạnh cái kết hướng theo “lý tưởng cách mạng” như một tất yếu. Nhưng mình luôn nghĩ rằng trong nhiều kiệt tác của L.Tonxtoi, tình yêu nói riêng và lòng yêu thương con người nói chung mới chính là sự cứu rỗi cho tâm hồn các nhân vật của ông, cho sự tha hóa của xã hội mà ông lên án và đả phá. Tình yêu mang cho con người sự sống và có thể làm hồi sinh những gì tốt đẹp nhất mà con người từng đánh mất. Bộ phim PHỤC SINH với diễn xuất tuyệt vời của hai nhân vật chính, đặc biệt đôi mắt ám ảnh  biểu cảm tuyệt vời của nữ diễn viên Tamara Syomina đã thể hiện trọn vẹn những gì mà L.Toixtoi gửi gắm trong kiệt tác của ông.

1.7.2022

Hình: Nàng Kachiusa- Maslova








Những đứa trẻ thời chiến


Bây giờ chiếc ba lô đã trở thành vật dụng quen thuộc khắp nơi của mọi người, cả người lớn và trẻ nhỏ. Nhưng với thế hệ chúng tôi sinh ra và lớn lên trước năm 1975, chiếc ba lô là dấu hiệu đầu tiên của chiến tranh trong mỗi gia đình: ba lô xanh màu lá của cha của anh chuẩn bị ra chiến trường, chiếc ba lô bé xíu cho những đứa trẻ xa rời thành phố về vùng nông thôn tránh bom đạn.

Gia đình tôi cũng từng như thế. Khi má tôi mang về nhà mấy chiếc ba lô cũng là lúc gia đình bước vào những năm dài chia ly không biết bao giờ mới đến ngày đoàn tụ.

Một đêm Hà Nội cuối thu, gió mùa đông bắc sớm tràn về, lũ trẻ bốn năm tuổi chúng tôi lần đầu tiên đi sơ tán. Đêm lạnh, ngồi chờ xe đến đón, bọn trẻ ngủ gà ngủ gật trong lòng cha mẹ, người lớn thì thầm trò chuyện lo lắng vì phải xa các con... Bỗng tiếng còi xe vang lên, mọi người giật mình hoảng hốt… Đến giờ tôi vẫn rất ghét tiếng còi xe hơi, bởi vì nó gợi lại hình ảnh một con bé nhỏ xíu tay ôm chiếc ba lô cũng nhỏ xíu ngồi trên xe hơi, xe chạy xa dần, bỏ lại tuổi thơ của tôi.

Những đứa bé bước vào năm tháng sơ tán theo trại trẻ, tự lớn lên mà không có gia đình bên cạnh. Nhiều năm dài xa nhà, bọn trẻ dần không còn khóc vì nhớ cha mẹ nữa, nhưng cứ ngày cuối tuần là chúng lại ra bờ đê đầu làng đứng ngóng... Hễ thấy bóng ai từ xa đeo ba lô đi lại là cả bọn hò reo chạy ra đón... Rồi cả bọn lại im lặng buồn hiu vì không phải là cha mẹ mình lên thăm.

Lớn lên, cũng những chiếc ba lô ấy trên lưng bạn bè tôi ngày rời giảng đường đại học để ra chiến trường. Và sau đó nhiều gia đình đón những chiếc ba lô mang kỷ vật của người con đã hy sinh về với mẹ, của người cha về với những đứa con...

Cho đến bây giờ chúng tôi đã là cha mẹ ông bà, nhưng thời chiến tranh không bao giờ phai mờ trong ký ức. Đó là câu chuyện của những năm nghèo khó, là hình ảnh bom rơi đạn lạc, là cái chết của bạn bè người thân, là lớp học dưới hầm sâu mà mũ rơm vẫn đội trên đầu, sẵn sàng chạy khi tiếng kẻng báo động vang lên... Những câu chuyện mà đôi khi chỉ nhớ lại một chi tiết thôi cũng khiến chúng tôi rưng rưng. Những năm tháng chiến tranh, nỗi chia ly như dứt da dứt thịt, những kinh hoàng bom đạn dội xuống từ bầu trời, sự đói khát, thiếu thốn mọi bề... mà cho đến nay chưa một tác phẩm nghệ thuật nào có thể tái hiện đầy đủ và thấu cảm.

Những ngày chiến tranh bọn trẻ đã lớn lên rất nhanh, không phải chỉ thể chất mà là tinh thần, tự lập sớm hơn, học và biết được nhiều điều từ cuộc sống. Thế nhưng cái cảm giác cô đơn khi xa nhà, nỗi đau khi mất người thân, khi ốm đau khi nhớ cha mẹ của những ngày ấy dường như không phai mờ… Dấu ấn chiến tranh có thể không hiện diện trực tiếp nhưng đã gây ra bất hạnh cho không ít người. Một thế hệ ấu thơ trong chiến tranh tuy được rèn luyện để có sức chịu đựng mà sống tiếp những tháng năm sóng gió sau đó, nhưng cũng đầy tổn thương đi theo suốt cuộc đời.

Mấy chục năm đã qua tưởng như tất cả chỉ còn là ký ức. Nhưng mỗi khi nơi nào đó xảy ra chiến tranh, khủng bố, tỵ nạn..., tôi lại nhớ những ngày thơ ấu sơ tán từ gần 60 năm trước. Chiến tranh ư? Là ông bà cha mẹ sao nỡ để cho những đứa trẻ phải rơi vào hoàn cảnh xa mái nhà ấm êm, xa trường học bạn bè, xa cha mẹ người thân, cắt đứt những đứa trẻ ra khỏi tuổi thơ hạnh phúc, như thế hệ chúng tôi ngày ấy từng trải qua. Những ngày này, nhìn những tấm ảnh những đứa bé Ukraine cùng cha mẹ di tản tránh làn tên mũi đạn, đọc tin tức về chiến sự từ Ukraine lan đi khắp thế giới, ký ức chiến tranh trong tôi và “thế hệ hậu chiến” lại ùa về, nguyên vẹn, buồn bã.

Trẻ thơ là tương lai của đất nước! Người lớn hôm nay cần phải bảo vệ và nuôi dưỡng tương lai bằng hòa bình chứ không phải bằng chiến tranh. Bởi vì gây chiến hay đình chiến đều không khó, nhưng khi tiếng súng đã im thì rất lâu về sau chiến tranh vẫn chưa chấm dứt, nhất là trong những đứa trẻ bị buộc phải trải qua thời chiến!

Nguyễn Thị Hậu

https://tuoitre.vn/nhung-dua-tre-thoi-chien-20220226232105527.htm 



Nato và Ukraina

 Nga là 1 trong 5 "ông lớn" của Hội đồng Bảo an, là một cường quốc và Chí Phèo trong LHQ, ko lẽ chúng ta nghĩ rằng Phương Tây sẽ đem quân sang đánh nhau với Nga giúp Ukraine? Ko ai làm được điều đó, cũng đi ngược lại công pháp quốc tế và người dân trong nước (NATO, EU), điều mà Nga có thể làm được dễ dàng vì họ là xứ độc tài, nhưng Phương Tây thì ko làm được.

Bù lại, trong một thời gian ngắn, Ukraine đã nhận được số lượng khí tài khổng lồ từ Phương Tây. Gói "cấm vận" mà Phương Tây thông qua để áp lên Nga - và xét về trung và dài hạn Nga sẽ cảm nhận được đòn này - cũng là sự thắt lưng buộc bụng của mấy trăm triệu cư dân Phương Tây, vì nó ảnh hưởng đến Phương Tây rất nhiều, mà thật ra nhiều nước còn do dự, chưa muốn.
Nhưng rồi, 27 nước đã thông qua cả điều mà hiến họ cũng vật vã ấy, và chắc chắn là trong tương lai sẽ còn nhiều biện pháp hơn thế nữa. Đó chính là sự chia sẻ, đồng cảm và khích lệ: ko lẽ chúng ta ngồi ngoài chê bai Ukraine có tổng thống là "thằng hề" (có lẽ trình độ còn gấp mấy lãnh đạo ta đấy), và chê bai cả những nỗ lực lớn lao của người khác, trong cảnh rất khó khăn này?
Hãy bỏ qua suy nghĩ trách móc nạn nhân, mà nhằm vào thủ phạm, lên án chính kẻ dã tâm đã gây ra tất cả những điều này, với tất cả sự dối trá và đểu giả kinh tởm thì hợp lý hơn!
FB Nhà báo Nguyễn Hoàng Linh từ Budapest.
Pháo đài Ngư phủ (Halászbástya), một biểu tượng của thủ đô Budapest được khoác lên mình màu cờ Ukraine để bày tỏ tình đoàn kết, cảm thông và chia sẻ với người dân nước này trong cuộc kháng chiến vệ quốc chống quân xâm lược Nga.



NHỮNG NGƯỜI CÔ - DẮC (Cossack)

 "Những người Cô-dắc hài hước và can trường sẽ không mỉa mai một xã hội chưa từng dám châm biếm chính trị, chưa từng dám quật người cha uy nghiêm của mình xuống đất như chàng Ostap. Họ chỉ cười nhạt rồi cho qua. "

Ai còn nhớ ông già Taras Bulba kiêu hãnh mà đầy châm biếm của những người Codac?
NHỮNG NGƯỜI CÔ - DẮC (Cossack) - từ FB Nguyễn Lương Hải Khôi

1) Các anh hùng Cô-dắc trong "Taras Bulba" (xưa rồi, 1835) của văn hào Nga Nikolai Gogol yêu hào sảng, chiến đấu ngẫu hứng, can trường và rất hài hước.
Ostap trở về từ Kyiv, bị người cha Taras Bulba châm chọc về trang phục, đù má, chàng trợn mắt, hai ba con mình lâu rồi không gặp nhau, đù má đánh nhau cái nào.
Hai cha con lao vào nhau một trận tưng bừng. Người mẹ Cô-dắc ôm cột nhà oà khóc, cha con chúng mày điên à.
Hồi bé đọc "Taras Bulba", rất thích thế giới của những người Cô-dắc ở phương trời xa lạ đó nhưng không có kinh nghiệm để hiểu họ.
2) Và hôm qua, trên hòn đảo nhỏ xíu ngoài khơi Odessa của Ucraina, 13 lính Cô-dắc (12 nam, 1 nữ) đang canh gác.
- Đây là chiến hạm Nga. Hãy đầu hàng.
- Đù má tụi bây. Đầu hàng cái con c... Cút đi.
Các chiến binh Ucraina ấy tử trận, nhưng làm cho người ta hiểu tinh thần Cô-dắc trong "Taras Bulba" 200 năm trước không phải là hư cấu.
3) Một vài anh chị em thành Đại La mỉa mai gốc gác diễn viên hài của Tổng thống Zelenskyy. Tinh thần của những bạn này thật đáng thương.
Zelenskyy là không diễn hài nhảm nhí. Ông đến với chính trị vì trước đó ông diễn hài chính trị, vai một thầy giáo trung thực, chẳng may bị bầu làm tổng thống, xoay sở một cách khôi hài giữa thế giới chính trị đầy xảo quyệt.
Người Ucraina bầu cho ông một phần vì đã hiểu quan điểm qua những pha châm biếm chính trị của ông trong nhiều năm.
4) Những người Cô-dắc hài hước và can trường sẽ không mỉa mai một xã hội chưa từng dám châm biếm chính trị, chưa từng dám quật người cha uy nghiêm của mình xuống đất như chàng Ostap. Họ chỉ cười nhạt rồi cho qua.
Những kẻ có đời sống tinh thần tầm thường rất thích dùng những từ cao sang như "tổ quốc". Lãnh tụ Cô-dắc Taras Bulba trong truyện của Gogol mà nghe mấy người này nói, ông sẽ cười nhạt, đù má, đám này hiểu cái con c... gì về "tổ quốc" để mà yêu? Rồi không quan tâm nữa.
5) Mất hai ngày đại quân Nga mới tới ngoại ô Kyev. Họ chậm hơn tôi hình dung ban đầu. Tôi đã tưởng hoả lực Nga sẽ quét sạch toàn quân Ucraina trong vài giờ, giống như hoả lực Mỹ đã quét sạch các sư đoàn Iraq trên sa mạc 1991.
Ucraina đã dùng chiến thuật phân tán lực lượng thành từng đơn vị nhỏ, không tập trung quân lực vì sẽ bị hoả lực Nga tiêu diệt sạch sẽ trong vài giờ.
Khi phân tán lực lượng, các chiến binh Cô-dắc đã tự do chiến đấu mà không cần chỉ huy thống nhất.
Chỉ huy chỉ cần nói một câu "Hãy gây thương vong tối đa cho kẻ thù".
Và những chiến binh đầy ngẫu hứng trong "Taras Bulba" đã gây cho Nga thương vong lớn đến bất ngờ.
Facebook của Bộ Tổng Tham mưu Ucraina vẫn rất hài hước khi kể về các chiến công mấy ngày qua. Bạn thấy họ hài hước dù chỉ đọc qua bản dịch tự động.
Đã thêm một ngày nữa trôi qua nhưng đại quân Nga vẫn chưa thể vào Kyev. Những chiến binh Cô-dắc rồi đây sẽ bại trận, tổng thống của họ sẽ bị bắt vì ông từ chối di tản.
"Diễn viên hài" không bỏ chạy mà mặc áo giáp xuống chiến hào động viên tướng sỹ. Ác mộng của Putin chưa thực sự bắt đầu.
Cơn ác mộng cho kẻ diễn vai anh hùng trên bàn giấy trong cung điện ở Moscow chỉ thực sự bắt đầu khi nó giết "Tổng chỉ huy" của những người Cô-dắc.
6) Biểu tình chống cuộc xâm lăng của Putin đã nổ ra ngay lập tức, đồng loạt trên 53 thành phố của nước Nga. Đến nay, gần 2000 người bị bắt.
Xem những lương tâm của nước Nga trên đường phố Saint Peterburg, tôi chỉ mất vài giây là nhận ra những cô gái Nga nào có mái tóc màu hạt dẻ. Tôi sẽ không giải thích vì sao.
7) Điều đáng thương nhất của các anh chị thành Đại La là họ cuồng Nga nhưng chưa từng cảm nhận được tâm hồn Nga, mỉa mai Ucraina nhưng chưa từng chạm vào tinh thần Cô-dắc, dù chỉ là qua văn chương.
Họ chỉ nói ngôn từ của người khác, yêu ghét bằng cảm xúc của người khác.
Người Cô-dắc không quan tâm đến họ nhưng tôi vẫn phải viết vài dòng về họ. Bởi vì chúng ta là một. Dù sinh ra bên bờ sông Đà, Thừa Thiên, hay Ngũ Quảng, Trấn Tây Thành, chúng ta đều ra đi từ Thăng Long thành cũ. Vẻ đẹp của Tràng An đã mất sẽ trở về trong tương lai.
😎 Tâm lý cuồng Nga của một số người ở thành Đại La bắt nguồn từ tinh thần của họ: Họ chỉ có một bên, đó là Bên thắng cuộc.
Mang tinh thần đó vì chưa tách mình khỏi tự nhiên, như Darwin mô tả trong "Nguồn gốc của các loài", thế giới tự nhiên chỉ chọn những cá thể có tiềm năng sống sót.
Ngô Phù Sai thắng thì Tây Thi theo Phù Sai, Phù Sai bị giết thì theo Phạm Lãi. Suốt nhiều thiên niên kỉ, phụ nữ bị ngăn cản tiếp cận giáo dục và tài sản thừa kế, không còn khả năng tự lập và tạo thêm tài sản cho riêng mình, chỉ có một cách là chọn Bên thắng cuộc.
Đời sống đô thị thế kỉ 20 lần đầu tiên cho người phụ nữ được đi theo hệ giá trị mà tinh thần của mình ấp ủ. Họ chọn giá trị chứ không chọn con người.
Người phụ nữ hiện đại nhìn thắng và thua ở góc độ hệ giá trị chứ không còn thô sơ như "lựa chọn" của Tây Thi. (Nàng không được chọn)
Taliban là Bên thắng cuộc nhưng rất nhiều phụ nữ chạy khỏi Kabul. Họ không cần phải yêu những kẻ mình sợ hãi để sống sót. Họ có thể thích ứng những không gian mới.
Chúng ta gặp rất nhiều người phụ nữ như thế ở các đại đô thị châu Á.
Ở Việt Nam, thành Đại La chỉ là một đại đô thị gần đây thôi.
Hãy kiên nhẫn. Cần có thời gian.
Vẻ đẹp của Thăng Long thành cũ sẽ phục sinh một ngày nào đó.
Dù bạn ở Đà giang tả ngạn, Thừa Thiên, Ngũ Quảng hay Trấn Tây Thành, mỗi chúng ta đều yêu vẻ đẹp của thành Tràng An đã mất.
Cuộc phục sinh của dân tộc Việt Nam (nếu có) cần đến vẻ đẹp của Tràng An đã mất, như xứ Phù Tang phục sinh vẻ đẹp Heian của Kyoto cho cuộc Duy tân thuở nào.
Đù má, mất 20 phút đánh máy rồi. (Cho em chửi thề tí, cho giống các chiến binh Cô-dắc)

Ảnh: Phim "Taras Bulba" năm 1962 của J. Lee Thompson (UK).



THIẾU TÌNH YÊU

Hai vợ chồng mất con nhưng không hề có một giây phút nào hình ảnh đứa con trai dễ thương hiện về trong tâm trí họ, không hề có hình ảnh nào họ từng chăm sóc từ lúc nó lúc còn bé bỏng hay khi nó lớn lên, không hề... dù họ đã có nó trong 12 năm!

Họ tìm con như tìm một đồ vật gì đấy mà họ cũng chẳng cần thiết lắm, nhưng không tìm thì không được, đi tìm con cũng là một cơ hội để họ tiếp tục nguyền rủa nhau như bất cứ lúc nào họ cũng làm điều đó! Thực ra hai người này đã mất con từ lâu rồi, từ khi họ không còn là gì, là ai trong mắt nhau! Cho nên, khi họ từ chối cái xác khủng khiếp trong bệnh viện là con trai thì... họ đã nhận đòn trừng phạt của Đức Chúa trời! Aliosa mất tích mãi mãi, Aliosa đang phải chịu những gì còn tệ hơn cái chết ở một nơi nào đó... đó mới là khủng khiếp nhất, sự cảnh báo/cảnh cáo cao nhất mà bộ phim để lại cho người xem!
Một xã hội bất ổn với những tin tức bắn giết, chiến tranh tràn ngập trên truyền thông, quan hệ gia đình không có tình yêu, mà "tình yêu" cũng chỉ là tình dục; một xã hội có những người mẹ coi con cái là món nợ, là gánh nặng, là bằng chứng sự ngu dại của mình, nơi mà tình mẫu tử bị bào mòn, người phụ nữ không còn lòng trắc ẩn ngay với con mình... xã hội ấy rất gần với địa ngục!
Và rồi trong phần đời còn lại của mình, khi sống cùng gia đình mới cũng “thiếu tình yêu”, liệu có khi nào, chỉ một lần, một giây thôi, hình ảnh đứa con trai bất hạnh hiện về trong tâm trí, trong trái tim người đã từng là cha là mẹ? Hình ảnh đầu phim cậu bé cô độc trong rừng cây u ám, cuối phim là những tờ rơi với khuôn mặt cậu bé hiện diện khắp nơi, cô độc giữa sự thờ ơ của mọi người, cô độc trên đường phố, giữa những xa lộ, trên cây, trên cột điện, giữa đêm tối hay trong bão tuyết... đã ám ảnh người xem rất lâu...
Trong phim có Đội tình nguyện tìm người mất tích giống như những "hiệp sĩ đường phố" ở TPHCM, những tổ chức như vậy xuất hiện khi cơ quan nhà nước có chức năng và nhiệm vụ làm việc đó lại quan liêu và vô trách nhiệm - dù được biện hộ bằng nhiều lý do.
***
Tham gia vào trang phim LLNN và sau là KLNN tôi được xem các dòng phim LX/Nga, nhiều thể loại nhiều chủ đề. Bên cạnh dòng phim sử thi, phim chiến tranh hay phim dựng theo các tác phẩm văn học cổ điển trở thành kinh điển của điện ảnh thế giới, nhiều bộ phim thuộc chủ đề tâm lý xã hội – đời sống thời xưa được nhiều người yêu thích và nhớ mãi. Có lẽ vì cuộc sống ở nước ngoài thời đó, nhất là LX – là mơ ước một thời của nhiều người sống ở miền Bắc, vì nói chung phim luôn là “Happy end” dù con người thủ đoạn hay xấu xa thế nào thì về cơ bản xã hội vẫn tốt đẹp. Sự hấp dẫn của phim LX còn vì nghệ sĩ diễn hay, lại đẹp “như Liên Xô” 🙂 Vì vậy, xem lại phim LX thường nhớ về một thời khó khăn, một thời lý tưởng và lãng mạn...
Nhưng khi đã biết nhiều nền điện ảnh khác thì không thể không có sự so sánh, nhất là về nghệ thuật điện ảnh dù nhiều phim Nga có nội dung sâu sắc. Nhưng, với phim ELENA và THIẾU TÌNH YÊU thì với tôi, đây là những bộ phim mang tính hiện đại cả về tâm lý xã hội và nghệ thuật điện ảnh, nhưng vẫn đậm chất Nga, cả về tâm lý con người và bối cảnh xã hội.
Lời cám ơn bao nhiêu với người lập ra trang phim và biên dịch những bộ phim này một cách tuyệt vời cũng là không đủ, nhưng tôi vẫn muốn nhắc lại lần nữa. Xin cám ơn chị Phan Bạch Yến!

ELENA (phim Nga)

 Elena là y tá, có một con trai. Khoảng hai năm trước khi nghỉ hưu, bà chắp nối với một người đàn ông thượng lưu đã ly hôn và có một cô con gái, ông là bệnh nhân bà chăm sóc trong bệnh viện. Có thể thấy rõ vị thế khác nhau trong mối quan hệ giữa hai vợ chồng Elena: một người thượng lưu sung túc quen quyết định mọi việc rất lý trí và một người bình dân nghèo, tận tụy nhưng ngầm phản kháng.

Trong ngôi nhà sang trọng, cuộc sống chung có vẻ êm đẹp trừ khi hai người đề cập đến chuyện anh con riêng của Elena: hai vợ chồng anh ta không có việc làm, Elena luôn phải chu cấp và giúp đỡ gia đình họ, hơn thế, do sự thúc giục của con trai, Elena còn muốn chồng cho tiền để con trai mình “chạy” cho cháu nội vào đại học. Nhưng ông chồng từ chối vì không muốn (lại) giúp đỡ một người cha, người chủ gia đình lười biếng và vô trách nhiệm. Những cuộc trò chuyện của Elena với chồng đều đi vào “ngõ cụt” vì một bên là sự yêu thương và nuông chiều con vô lối, một bên là lý lẽ rành mạch thậm chí lạnh lùng, nhưng không thể nói là sai – nhất là với văn hóa châu Âu.
Chồng Elena lại luôn cảm thấy có lỗi với con gái – một cô gái sống phóng túng nhưng có công ăn việc làm. Nhưng hai bố con đã phần nào hòa giải với nhau khi ông bố nằm viện vì đột quỵ. Sau khi qua cơn đột quỵ rất nguy hiểm, chồng Elena nói với bà ý định làm di chúc của mình: phần lớn tài sản ông để lại cho con gái riêng, Elena sẽ được chu cấp đấy đủ đến khi chết. Và điều đó không làm cho Elena hài lòng.
Nhịp phim chậm rãi, nhạc nền căng thẳng như báo hiệu chuyện chẳng lành. Có đoạn dài chỉ thỉnh thoảng có tiếng những con quạ kêu thảng thốt...
Phân hóa xã hội không chỉ làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo về kinh tế mà nó còn làm bần cùng hóa về tinh thần: Người giàu không còn sự cảm thông và rộng lượng với người khó khăn, người nghèo lấy sự yếu thế của mình để đòi hỏi và chiếm đoạt của người giàu hơn, coi đó là sự “công bằng”. Chính tâm thức này làm cho Elena đã tỉnh táo và lạnh lùng, hành động tàn nhẫn, không hề hối hận, không chút xấu hổ ngay cả khi nhận thấy sự khinh bỉ của cô con riêng của chồng. Hành động của Elena không chỉ vì thương con mù quáng, mà đó là vì trong sâu thẳm Elena cho rằng bà hoàn toàn có quyền được hưởng tài sản của người mới làm chồng bà có hai năm, dù bà không hề đóng góp chút nào vào khối tài sản ấy. Người xem phải tự hỏi, không biệt sự tận tụy của Elena với chồng là thật lòng hay chỉ vì một tính toán nào đó?
Cái kết của phim cho thấy một “cuộc cách mạng” đã thành công: Mẹ con Elena “đổi đời”: có tiền, có tài sản, có nhà đẹp, nhưng lương tâm thì câm lặng dù Elena có chút sợ hãi trước những “điềm gở”! Nhưng “mục đích không thể biện minh cho phương tiện”, dùng thủ đoạn và tội ác để đòi "công bằng" thì ngay khi đang ăn mừng chiến thắng đã nhìn thấy tương lai chông chênh và vô định bắt đầu!
Là một phim Nga, ý nghĩa này lại càng sâu sắc!
16.1.2021


Đi để thấy và để bớt lý thuyết về bảo tồn

http://thegioitiepthi.net/khoa-hoc-giao-duc/nguyen-thi-hau-di-de-thay-va-de-bot-ly-thuyet-ve-bao-ton/
Vừa trở về sau chuyến tìm hiểu cách gìn giữ di sản của nước Nga hôm nay, chị chiêm nghiệm ra điều gì?
CIMG7070
Dù thời gian rất ngắn, mọi điều tôi thấy cũng rất lớt phớt, nhưng phần nào tôi có thể tự lý giải về sức hút của nước Nga với nhiều người chỉ có thể bắt nguồn từ văn hóa, khiến cho người ta yêu, bất chấp mọi nghịch cảnh. Văn học Nga là một điển hình, những tác phẩm cổ điển và những tác phẩm hiện đại thể hiện con người Nga hồn hậu, lãng mạn, trẻ thơ – đó là những gì thuộc về “bản năng” của con người mà đời sống làm nó mất đi, người ta lại luôn muốn tìm kiếm lại. Các bộ phim, hội họa cũng thế.
Sau Pie đệ Nhất, nền văn hóa được phục sinh, nước Nga mới rửa mặt được với thế giới. Chuyện xây dựng thành phố, các nhà thờ, cung điện, nước Nga đều mời những kiến trúc sư giỏi nhất của thế giới. Mời người giỏi của thế giới vể để quy hoạch thành phố chính là ứng xử văn hóa, tạo ra dấu ấn văn hóa. Ấn tượng lớn nhất với tôi là các nhà thờ Nga, mỗi nhà thờ là một câu chuyện về văn hóa, lịch sử, kiến trúc, hội họa… được hồi sinh chỉ gần 20 năm nay, cùng bao sử liệu liên quan đến nhà thờ, một yếu tố văn hóa tôn giáo đậm chất Nga. Nguồn lực đều là của xã hội. Nhà nước cho khôi phục lại nhà thờ trên đất đai trước đây vì đó là một thành tố văn hóa quan trọng. Việc phục hồi đạo chính thống ở Nga cho thấy tôn giáo vẫn là yếu tố cực kỳ lớn của văn hóa nhân loại. Nước nào có một cơ sở văn hóa lâu bền từ tôn giáo sẽ là nhân tố tích cực làm cho xã hội ổn định dần dần.
Nhà nước cho khôi phục lại nhà thờ trên đất đai trước đây vì đó là một thành tố văn hóa quan trọng.
Nhà nước cho khôi phục lại nhà thờ trên đất đai trước đây vì đó là một thành tố văn hóa quan trọng.
Còn Dubai, một đất nước chỉ sa mạc và cát, làm thế nào để phát triển kinh tế bằng du lịch?
Ấn tượng đầu tiên tất cả nhân viên hải quan đều mặc trang phục dân tộc, kể cả ban ngày lẫn ban đêm. Đây không chỉ là vấn đề tôn giáo bắt buộc mà là văn hóa. Một TP cực kỳ hiện đại nhưng không phô trương, tất cả hài hòa với nhau và với thiên nhiên, tạo ra những cảnh quan thiên nhiên xanh giữa vùng sa mạc. Dubai giàu lên nhờ dầu mỏ, nhưng cái giàu đó không giàu xổi, họ phát triển rất căn cơ, làm đến đâu khai thác đến đó, đồng vốn được dùng rất hiệu quả. Họ chỉ khai thác dầu đến một mức nào đó, còn biết để lại cho thế hệ sau. Tiền từ dầu chuyển sang đầu tư bất động sản du lịch cao cấp, tạo ra thiên đường du lịch cho người giàu trong và ngoài nước, chứ không đầu tư tràn lan. Đó là đầu tư khôn ngoan cho thế hệ trẻ Dubai học từ nước ngoài trở về được làm công việc phù hợp, có môi trường văn hóa phù hợp, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo.
Có lẽ con đường phát triển kinh tế của Dubai xuất phát từ bản năng của người sống trên sa mạc, phải biết tạo mảng xanh. Có dầu mỏ không biết bao giờ mới cạn, họ vẫn sử dụng những nguồn điện khác như điện gió, điện mặt trời, đó là bài học tiêu xài có tính toán. Cảm giác đi trên sông giữa sa mạc thật thú vị, vì hai bên bờ là mảng xanh, là công trình, là đời sống sinh hoạt rất điển hình của một đất nước Hồi giáo.
Đi ở Dubai không thể không nghĩ đến quê nhà: Kênh Thị Nghè muốn làm du lịch phải có cảnh quan hai bên bờ để nhìn ngắm, phải cải tạo môi trường vì nước vẫn đục ngầu như thế làm sao khai trương du lịch? Tất cả những gì sinh ra để “chào mừng” đều chết yểu. Cũng là đồi cát như thế tại sao Binh thuận, Ninh Thuận không tập trung đầu tư làm du lịch cho một “phân khúc khách hàng” giàu có tiềm năng mà đầu tư cho điện hạt nhân tốn kém và có nguy cơ cao như thế?
Chị nghĩ gì về chủ trương Bộ Giáo dục sẽ chuyển môn sử thành môn tự chọn, không còn môn cơ bản nữa?
Sự coi thường các môn khoa học xã hội nhân văn đã tạo nên lỗ hổng quá lớn cho lớp trẻ về văn hóa, bởi đó là những môn dạy làm người, dạy nhân cách. Để có kiến thức KHXHNV phải trả giá bằng bao thế hệ con người. Vậy mà tại sao lại định bỏ môn sử? Tôi chịu không hiểu nổi. Mười năm nay môn sử làm dư luận bức xúc, nếu bức tử môn lịch sử sẽ sinh ra những thế hệ không có quá khứ.
Dù đã nghỉ hưu, nhưng chị vẫn đi, viết và dạy. Đó có phải là cách để sống với mình và với cộng đồng có ích nhất?
Việc phục hồi đạo chính thống ở Nga cho thấy tôn giáo vẫn là yếu tố cực kỳ lớn của văn hóa nhân loại.
Việc phục hồi đạo chính thống ở Nga cho thấy tôn giáo vẫn là yếu tố cực kỳ lớn của văn hóa nhân loại.
Công việc quản lý không làm mình có nhiều niềm vui, tôi vẫn mơ ước quay lại chuyên môn. Nhận đề tài nghiên cứu khảo cổ đô thị, nếu không đi để thấy những nơi khác bảo tồn như thế nào thì cái mình đưa ra chỉ là lý thuyết…
Đến một lúc nào đó cần biết chấp nhận sự lãng quên của người xung quanh, hiểu thế nên cũng thoải mái. Cũng cảm ơn các bạn nhà báo, cứ đặt bài thúc mình nên có điều kiện tập trung, hệ thống lại, nếu không lười thì chẳng bao giờ viết được. Đến tuổi này, chắc chắn là mình không giàu, nhưng vẫn vui vẻ, bằng lòng với cuộc sống. Thế là ổn. Bây giờ mới có thời gian để hướng dẫn luận văn sinh viên nhiều hơn, nhờ đó biết thêm, có thêm kiến thức nữa chứ không chỉ là cho đi kiến thức hay mất thời gian đâu.
Kim Yến thực hiện, Ảnh Nguyễn Thị Hậu

NHỮNG NGÔI NHÀ THỜ NƯỚC NGA


Nguyễn Thị Hậu

Trong những tác phẩm văn học Nga làm tôi say mê từ khi còn nhỏ xíu hầu như ít có những trang miêu tả nhà thờ. Ấn tượng của tôi về nhà thờ Nga là cảnh chàng sinh viên Nekhliudop gặp cô hầu Cachiusa ngây thơ xinh xắn trong nhà thờ vào ngày Lễ Phục sinh. Nụ hôn “Chúa sống lại rồi” mở đầu cho chuyện tình của họ. Thời gian trôi qua, chàng NêKhliuđốp đã bỏ rơi Cachiusa tội nghiệp, đẩy cô vào kiếp sống long đong, vất vả và tù tội. Một lần, vô tình gặp lại người yêu cũ, trước tình cảnh của Cachiusa, chàng đã dằn vặt, đấu tranh tư tưởng và quyết định sẽ thay đổi cách sống. Chàng quan tâm giúp đỡ đến mọi người, hết lòng bù đắp cho Cachiusa. Và cuối cùng, tình yêu của họ đã được phục sinh.
 Nhà thờ là nơi mở ra hy vọng, cũng là nơi đền đáp những mất mát, tôi đã cảm nhận Phục Sinh của Lep Tonxtoi như thế.

Nhưng với tôi ấn tượng về nhà thờ Nga mạnh mẽ hơn là từ những bức tranh của những danh họa Nga, phần nhiều là nhà thờ ở thôn quê với tháp chuông và mái vòm tròn nổi bật trên nền trời xanh đắm đuối mùa thu hay trên nền tuyết trắng mênh mông của mùa đông nước Nga. Mái vòm nhà thờ như dấu ấn cuối cùng của quê hương khi người ta từ giã để ra đi, cũng như cái đích để người ta tìm về sau những hành trình gian nan mỏi mệt. Cũng giống làng quê Việt, đi xa về chỉ cần nhìn thấy mái đình, cây đa hay cổng làng rêu phong thì lòng người đã lắng lại, bình yên.

Mười ngày ở nước Nga tôi đã đi qua và thăm thú biết bao ngôi nhà thờ, từ những nhà thờ nổi tiếng về lịch sử và vĩ đại về kiến trúc và trang trí ở hai thành phố lớn Saint Peterburg và Moskva đến những ngôi nhà thờ nhỏ nhắn bình dị bằng gỗ ở làng quê, nơi đâu tôi cũng nhìn thấy người dân Nga đến thăm viếng và làm lễ với thái độ thành kính, từ già đến trẻ, nam và nữ. Những chiếc khăn san choàng lên mái tóc các cô gái, những người đàn bà Nga như dấu hiệu của sự “phục sinh” niềm tin vào Chúa – niềm tin tưởng như đã không còn tồn tại qua hơn 70 năm chế độ Xô viết chủ trương vô thần.
Từ góc độ nghề nghiệp đi đến đâu tôi cũng nhìn thấy những nhà thờ, tu viện đang trùng tu, sửa chữa và cả xây mới. Nhiều nhà thờ có niên đại khoảng thế kỷ 11,12 đã được xây dựng lại theo hình thức cũ, không quá to lớn nhưng tinh tế và duyên dáng với hai màu xanh trắng. Một số nhà thờ từng là những trung tâm của Chính thống giáo Nga ở các thành phố lớn cũng được phục dựng lại theo nguyên bản, trong đó công trình vĩ đại nhất có thể kể đến là Nhà thờ chính tòa Chúa Kitô Đấng Cứu Độ (tiếng Nga: Хра́м Христа́ Спаси́теля).
Đây là nhà thờ được coi là trung tâm của Giáo Hội Chính Thống Nga, quy mô cao nhất và lớn nhất trên thế giới, tọa lạc ở thủ đô Moskva bên bờ sông Moskva. Nhà thờ ban đầu được xây dựng vào năm 1883, bị phá hủy năm 1931 dưới thời Stalin và xây dựng lại một cách trung thực theo bản mẫu cũ trong giai đoạn 1994 - 2000. Những ngày ở đây nhiều lần đi qua nhà thờ này, nhưng chỉ khi được cô em thân thiết đưa đến tận nơi tôi mới cảm nhận hết sự giá trị của nó. Không chỉ vì nhà thờ được xây dựng lại theo đúng thiết kế ban đầu vào thế kỷ 19, không chỉ vì sự vĩ đại càng được tôn lên bởi màu trắng của hàng trăm khối đá cẩm thạch lấp lánh trong ánh đèn đêm hay sáng rực trong ánh mặt trời, mà vì, như tôi đọc từ những bản thuyết minh trong nhà thờ, nó được phục dựng chỉ trong sáu năm sau khi vào năm 1990 Giáo hội Chính thống Nga nhận được sự cho phép để xây dựng lại Nhà thờ chính tòa Chúa Kitô Đấng Cứu Độ. Một quỹ xây dựng được thành lập trong năm 1992 , việc xây dựng nhà thờ bắt đầu vào năm 1994 và hoàn tất năm 2000. Chỉ có sáu năm và từ nguồn quỹ của xã hội! Và ở khắp nước Nga không chỉ có một ngôi nhà thờ, một tu viện được phục hồi bằng phương thức này.
Những ngôi nhà thờ cổ xưa hoặc nhà thờ trung tâm đều là những điểm du lịch thu hút rất đông khách tham quan, tìm hiểu. Nhiều nhà thờ trong quá trình trùng tu đã tìm thấy di tích khảo cổ và tiến hành bảo tồn ngay tại chỗ, trở thành một bộ phận di sản và làm tăng giá trị văn hóa – lịch sử của nhà thờ. Có thể nhận thấy nhà thờ ở nước Nga không chỉ là trung tâm tôn giáo, nó còn tiêu biểu cho kiến trúc và kỹ thuật xây dựng nhà thờ Chính thống giáo, là những bảo tàng nghệ thuật tranh tượng, là dấu ấn lịch sử lâu dài cùng những biến động có ảnh hưởng không nhỏ đến thế giới hiện đại. Vậy nên chỉ sau vài năm bắt đầu thể chế mới, chính quyền Nga đã cho phục hồi Chính thống giáo và xây dựng lại nhiều nhà thờ bị phá hủy trước đó. Có thể đây là một hành xử chính trị khôn ngoan nhằm tạo dựng lại cho dân chúng một niềm tin, nhưng trên hết người ta đã hành xử đúng với một bộ phận quan trọng, độc đáo và vĩ đại của của nền văn hóa Nga.
Niềm tin được khởi đầu và duy trì từ những giá trị văn hóa bao giờ cũng bền chặt hơn từ những thần tượng chính trị nhất thời.

Sài Gòn 25/9/2015














Phản xạ văn hóa các vùng miền Việt Nam

_Nguồn:  https://logbasex.substack.com?utm_source=navbar&utm_medium=web Bản đăng lại từ bài viết trên trang Substack cùng tên của tác gi...