Hiển thị các bài đăng có nhãn giới thiệu sách. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn giới thiệu sách. Hiển thị tất cả bài đăng

NHÂN TRƯỜNG HỢP “CHUYỆN VỚI THANH”

 

 (Bắt chước tựa “Nhân trường hợp chị thỏ bông” một tản văn nổi tiếng của Thảo Hảo/ Phan Thị Vàng Anh 😊 )

Đây là một cuốn sách đang gây ra nhiều cuộc tranh luận trên mạng. Được một người chị tặng khi mới xuất bản, tôi đọc ngay vì tò mò với lời giới thiệu cuốn sách và vì thấy sự ngưỡng mộ của nhiều người đối với các “công thần” của FPT. Note này là tôi tự rút ra bài học cho chính mình, từ cuốn sách và từ những gì đang xảy ra với nó.

Tôi tiếp cận văn bản với tư cách là một môn học của đại học, được tác giả/giảng viên viết lại phổ biến rộng rãi ngoài môi trường đại học. Còn sách văn chương thì không nằm trong stt này ạ.

Tôi biết nhiều cuốn sách thực chất có nguồn gốc từ các bài giảng, các cuộc trò chuyện hoặc ghi chép nội bộ. Tuy nhiên, thông thường như kinh nghiệm của nhiều nhà giáo/nhà nghiên cứu thì có thể có 4 cách thức thể hiện cùng chuyển tải một nội dung, đó là Lời giảng/bài giảng, Giáo án, Giáo trình và Sách cho cộng đồng. Nhưng khi chuyển hóa từ loại này sang loại khác, nhất là để trở thành sách dành cho cộng đồng thì bản chất và chức năng của chúng cần phải thay đổi đáng kể. Cơ bản trên hai phương diện là cấu trúc và ngôn ngữ.

I.                  CẤU TRÚC

Có thể hình dung quá trình này như một chuỗi phát triển của tri thức:

Hình thức

Mục đích chính

Đối tượng

Đặc điểm

Lời giảng

Truyền đạt trực tiếp

Người nghe cụ thể

Tính khẩu ngữ, ứng biến, phụ thuộc ngữ cảnh

Giáo án

Hướng dẫn hoạt động dạy học

Giáo viên

Cấu trúc bài học, mục tiêu, phương pháp

Giáo trình

Hệ thống hóa tri thức

Người học

Tính chuẩn hóa, logic, có thể tự học

Sách cho cộng đồng

Chia sẻ tư tưởng, kinh nghiệm, cảm hứng

Công chúng rộng rãi

Tính kể chuyện, tính đối thoại, khả năng đồng cảm

1. Từ lời giảng đến giáo án: từ tri thức sống đến kịch bản sư phạm

Lời giảng là một sự kiện giao tiếp. Người giảng dựa vào đối tượng người nghe, bối cảnh, phản ứng của người học, cảm hứng tại thời điểm nói. Một bài giảng hay thường chứa nhiều yếu tố không thể ghi lại đầy đủ bằng văn bản: ngữ điệu, khoảng dừng, ví dụ ngẫu hứng, tương tác.

Trong khi đó, giáo án là bản thiết kế của bài giảng. Nếu lời giảng là "buổi biểu diễn", thì giáo án là "kịch bản đạo diễn". Giáo án quan tâm đến mục tiêu học tập, trình tự hoạt động, thời lượng, phương pháp đánh giá. Nó không nhằm truyền cảm hứng trực tiếp mà nhằm bảo đảm việc dạy học có thể được tái hiện.

2. Từ giáo án đến giáo trình: từ hoạt động dạy sang hệ thống tri thức

Giáo án trả lời câu hỏi: Hôm nay dạy cái gì và dạy như thế nào?

Giáo trình trả lời câu hỏi: Một lĩnh vực tri thức gồm những gì? Do đó giáo trình phải: có cấu trúc logic, có khái niệm, thuật ngữ, có tính hệ thống, có khả năng sử dụng lâu dài.

 Một giảng viên văn hóa Việt Nam có thể có hàng trăm giờ giảng, hàng chục giáo án, nhưng để viết thành giáo trình cần chọn lọc nội dung, chuẩn hóa khái niệm, xây dựng chương mục, bổ sung tài liệu tham khảo. Nói cách khác, giáo trình là tri thức đã được "đóng khung học thuật".

3. Từ giáo trình đến sách cho cộng đồng: từ tri thức chuẩn hóa đến tri thức có sức sống

Đây là bước chuyển thú vị nhất và cũng khó khăn nhất.

Nhiều người tưởng sách phổ thông là phiên bản đơn giản hóa của giáo trình. Thực ra không hẳn. Một cuốn sách dành cho cộng đồng không chỉ làm cho tri thức dễ hiểu hơn mà còn phải làm cho tri thức đáng quan tâm hơn.

Ví dụ: Giáo trình viết: “Văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra”. Nhưng sách cho cộng đồng có thể viết: “Tại sao người Việt thích ăn cơm chung mâm? Tại sao ngôi làng luôn quan trọng hơn cá nhân? Những điều ấy hé lộ cách người Việt nhìn thế giới”. Tức là Tri thức không mất đi, nhưng được chuyển thành: câu chuyện, trải nghiệm, tình huống, đối thoại...

Nếu giáo trình ưu tiên tính chính xác, thì sách cộng đồng phải cân bằng giữa: tính chính xác, sự hấp dẫn và khả năng lan tỏa.

4. Trường hợp Chuyện với Thanh

Tôi nghĩ cuốn Chuyện với Thanh là một ví dụ đáng suy ngẫm vì nó không phải giáo trình, cũng không hoàn toàn là tập hợp bài giảng. Điều nổi bật là cấu trúc đối thoại thầy – trò.

Ở đó, kinh nghiệm sống và tư duy của tác giả được trình bày như những cuộc trò chuyện với một người trẻ. Điều này làm cho tri thức không mang giọng điệu "giảng dạy", không bị ràng buộc bởi cấu trúc học thuật, tạo cảm giác đồng hành hơn là truyền thụ.

Nếu hình dung theo chuỗi trên: lời giảng → giáo án → giáo trình → sách cộng đồng

thì Chuyện với Thanh gần với một hướng phát triển khác: lời giảng → đối thoại → suy ngẫm → sách cộng đồng.

Chính vì vậy mà dễ sa vào tình trạng “sai một từ suy ngàn ý” 😊 Ở cuốn sách này, theo mình, điều được chuyển tải có lẽ không chủ yếu nhằm vào kiến thức “tư tưởng” mà là cách suy nghĩ, thái độ sống và kinh nghiệm cá nhân, là “Học tập và làm theo”.

5. Một cách nhìn khái quát

Có thể tóm tắt sự khác biệt bằng câu hỏi trung tâm của mỗi loại hình:

  • Lời giảng: Tôi nói gì với người nghe lúc này?
  • Giáo án: Tôi tổ chức việc học như thế nào?
  • Giáo trình: Tri thức của lĩnh vực này được hệ thống ra sao?
  • Sách cho cộng đồng: Làm thế nào để tri thức ấy trở thành một phần của đời sống người đọc?

Theo góc nhìn này, giá trị của một cuốn sách cộng đồng không nằm ở việc nó chứa bao nhiêu kiến thức, mà ở khả năng chuyển hóa kiến thức thành trải nghiệm nhận thức cho người đọc. Nói cách khác, giáo trình giúp người ta HIỂU BIẾT SÂU SẮC, còn sách cho cộng đồng thường giúp người ta NGẪM NGHĨ TỪ ĐÓ. Và những cuốn sách có sức sống lâu dài thường đạt được điều thứ hai.

II.               NGÔN NGỮ THỂ HIỆN

Tuy nhiên, vì sao “Chuyện với Thanh” gây ra phản ứng và các phản ứng thường dựa vào một số trích dẫn bị cho là “có ngôn ngữ không phù hợp”?

Nếu nhìn từ góc độ truyền thông tri thức, thì sự khác nhau cốt lõi giữa lời giảng, giáo án, giáo trình và sách cho cộng đồng không chỉ nằm ở nội dung mà còn nằm ở ngôn ngữ. Cùng một tri thức, nhưng mỗi loại hình đòi hỏi một "chế độ ngôn ngữ" khác nhau vì chúng phục vụ những tình huống giao tiếp khác nhau. Có thể hình dung như sau:

Loại hình

Bối cảnh giao tiếp

Đối tượng tiếp nhận

Đặc trưng ngôn ngữ

Lời giảng

Giao tiếp trực tiếp

Người nghe hiện diện

Khẩu ngữ, linh hoạt, giàu cảm xúc

Giáo án

Công cụ tổ chức dạy học

Giáo viên

Kỹ thuật, chỉ dẫn, ngắn gọn

Giáo trình

Truyền đạt tri thức chuẩn hóa

Người học

Chính xác, khái niệm hóa, hệ thống

Sách cộng đồng

Đối thoại với công chúng

Độc giả đa dạng

Gần gũi, kể chuyện, giàu liên tưởng

Ví dụ, cùng một ý tưởng: "Việc học không chỉ là tiếp nhận tri thức mà còn là quá trình tự kiến tạo năng lực tư duy."

Trong lời giảng người thầy có thể nói: Các em thử nghĩ xem, nếu chỉ học thuộc bài thì sau kỳ thi còn lại điều gì? Điều quan trọng hơn là trong quá trình học, các em học được cách suy nghĩ như thế nào. Túc là Ngôn ngữ mang tính đối thoại và tương tác.

Trong giáo án có thể ghi: Hoạt động: Thảo luận vai trò của tư duy phản biện trong quá trình học tập. Tức là Ngôn ngữ thể hiện tính thao tác và điều hành.

Trong giáo trình có thể viết: Học tập được hiểu là quá trình lĩnh hội tri thức đồng thời hình thành năng lực nhận thức và tư duy độc lập của chủ thể. Tức là Ngôn ngữ mang tính khái niệm và chuẩn mực.

Trong sách cho cộng đồng có thể viết: Nhiều người nghĩ học là chất thêm kiến thức vào đầu. Nhưng thực ra điều còn lại sau khi quên kiến thức mới là thứ quan trọng nhất: cách chúng ta nhìn nhận và giải quyết vấn đề. Như vậy Ngôn ngữ hướng tới sự đồng cảm và suy ngẫm.

Nếu liên hệ với trường hợp Chuyện với Thanh, tôi nghĩ đây chính là điểm đáng chú ý. Những ý tưởng của tác giả có thể đã xuất hiện trong các cuộc trò chuyện, các buổi chia sẻ hoặc thậm chí các bài giảng nội bộ. Nhưng khi trở thành sách, ngôn ngữ không còn là ngôn ngữ của người "dạy" nữa mà là ngôn ngữ của người "trò chuyện". Đó là một chuyển đổi rất quan trọng: từ diễn giải sang gợi mở; từ khẳng định sang đối thoại; từ truyền đạt kiến thức sang chia sẻ trải nghiệm; từ thuyết phục bằng lập luận sang thuyết phục bằng sự đồng cảm.

Nói theo ngôn ngữ học, mỗi loại hình văn bản đều có một cộng đồng diễn ngôn (discourse community) riêng. Giáo trình thuộc diễn ngôn học thuật; giáo án thuộc diễn ngôn sư phạm; lời giảng thuộc diễn ngôn giao tiếp trực tiếp; còn sách cho cộng đồng thuộc diễn ngôn công chúng. Khi chuyển từ diễn ngôn này sang diễn ngôn khác, tác giả không chỉ thay đổi cách viết mà còn phải thay đổi cả cách tổ chức tri thức, cách lựa chọn ví dụ, mức độ thuật ngữ và giọng điệu.

Giữa những ồn ào về cuốn sách, tôi nhớ đến thầy Trần Quốc Vượng, tất nhiên, MỌI SỰ SO SÁNH ĐỀU KHẬP KHIỄNG! Trong sự liên tưởng của tôi ấy là năng lực dịch chuyển tri thức giữa các hệ ngôn ngữ và các cộng đồng tiếp nhận khác nhau. Đây thực ra là một kỹ năng rất khó, và những tác giả làm được điều đó thường có ảnh hưởng rộng hơn phạm vi chuyên môn của mình. Bởi vì, một người giảng rất hay chưa chắc viết được giáo trình tốt, người viết giáo trình xuất sắc chưa chắc viết được sách đại chúng hấp dẫn.

Ai từng nghe Thầy giảng và đọc những gì Thầy viết, chắc sẽ đồng ý với tôi rằng, ở Thầy Trần Quốc Vượng chính là khả năng tuyệt vời đó! Tôi nghĩ đây cũng là một trong những lý do khiến ông có sức ảnh hưởng vượt ra ngoài phạm vi chuyên ngành. Điều đặc biệt ở ông không phải chỉ là khối lượng tri thức đồ sộ hay những phát hiện học thuật quan trọng, mà là khả năng làm cho cùng một hệ tư tưởng nghiên cứu có thể tồn tại trong nhiều hình thức diễn đạt khác nhau.

Chúng tôi học ở Thầy điều quan trọng đầu tiên là cẩn trọng khi viết bởi vì “giấy trắng mực đen, bút sa gà chết” 😊 Chắc chắn không phải lúc nào tôi cũng nhớ và thực hành đúng. Trường hợp Chuyện với Thanh một lần nữa nhắc tôi về bài học này!

 


 

“THƯƠNG NHỮNG MIỀN QUA" - NHỮNG CHUYẾN ĐI ĐẦY NỖI NHỚ

https://toptrending.vn/thu-gian/doc-sach/thuong-nhung-mien-qua-nhung-chuyen-di-ve-day-noi-nho-cua-tac-gia-nguyen-thi-hau.html?zarsrc=30&utm_source=zalo&utm_medium=zalo&utm_campaign=zalo&fbclid=IwAR3vT-ZFS5HK6JuMm4YbP36F3EsuxdzgL7mLo0M04rP9TvwMo8RuTlgIjS8

Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh chính thức giới thiệu tùy bút “Thương những miền qua” của tác giả Nguyễn Thị Hậu.
Giọng văn tự sự đậm chất Nam bộ, với cách kể chuyện rủ rỉ tâm tình, gây nhớ, gây thương, và gây ngẫm ngợi của tác giả … chữ “thương” được ẩn mình trong từng dòng viết. Sách dày hơn 250 trang gồm 36 bài viết kể về những miền đất đi qua đọng lại muôn vàn thương nhớ của Nguyễn Thị Hậu.
Ngay ở đầu trang sách, tác giả giới thiệu “Quê tôi ở miền Tây, tôi sinh ở Hà Nội và sống ở Sài Gòn”. Ngay từ thuở bé ở Hà Nội, dù chưa từng được thấy quê nội và quê ngoại nhưng truyền thống gia đình Nam bộ lưu giữ cho Nguyễn Thị Hậu một tình yêu quê hương hồn nhiên, thương về cội rễ.
Nghề khảo cổ học cho tác giả những thấm thía nghĩ suy về giá trị của những cổ vật trong lòng đất ở ngay trong lòng đô thị Sài Gòn và vùng ven đô Sài Gòn hay những vùng miền đất cổ ở đồng bằng sông Cửu Long. Hơn thế nữa, tác giả đã có những chuyến đi khảo sát và nghiên cứu trải dài trên dọc đường của đất nước, kể cả những chuyến đi ở nước ngoài.
Có thể kể đến những bài viết như: Quê tôi ở miền Tây; Tàu lá chuối và những Tết xa quê; Rưng rưng nhớ “Miền nước nổi”; Những chuyến tàu nối quá khứ với tương lai; Từ biệt những chuyến phà; Dòng sông mang tên thành phố; Ước mơ Metro thành phố; “Cây cầu tình yêu” ở Sài Gòn; Di sản Hà Nội trong ngày hôm nay; Một dòng xanh tuyệt vời của Huế; Sống qua ngày đại dịch… Và có dịp đến những miền đất trên thế giới, Nguyễn Thị Hậu có dịp ghi lại như: Ấn Độ vùng đất quyến rũ và đầy sức sống; Notre-Dame de Paris nơi dừng chân của ký ức; Lâu đài Amboise và danh họa Leonardo da Vinci…
Gắn bó với Sài Gòn, tác giả cảm nhận từng khoảnh khắc thay đổi, giao mùa. Những ngày đầu mùa mưa ở Sài Gòn, chỉ một cơn gió nhẹ lướt qua là những cánh hoa dầu lao xao bung mình nhẹ nhàng bay trong gió làm lòng ta xao xuyến đến lạ. Như một dòng chảy thời gian, Sài Gòn mang bản sắc là một đô thị sông nước. Từ những dòng sông, con kênh, cây cầu, những chuyến phà, chuyến tàu giao thông tấp nập, cho đến các công trình kiến trúc đặc trưng. Ở đó có sự giao thoa cũ – mới, giữa phát triển – giữ gìn các giá trị truyền thống…
Không nằm ngoài quy luật phát triển, những dấu ấn xưa đang dần nhường chỗ cho sự đổi thay phát triển nhanh chóng của thành phố. Nhắc nhớ và thêm trân trọng những biểu trưng của thành phố này, nơi hợp lưu các dòng chảy văn hóa. Những cây cầu cổ hay còn được xem là “cây cầu tình yêu” trở thành không gian nối liền quá khứ với hiện tại, tăng thêm tình cảm của mọi người dân và du khách đối với thành phố. Hay từ biệt những chuyến phà kỷ niệm để thay thế bằng những cây cầu hiện đại phục vụ việc rút ngắn lộ trình giao thông. Sẽ sớm thôi, những chuyến tàu Metro hiện đại sắp đi vào hoạt động, người dân thành phố thắp lên niềm tin từ đây sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian trong cuộc sống và mưu sinh hàng ngày.
Đến với Notre-Dame de Paris (Nhà thờ Đức Bà Paris) như trở về miền ký ức ngọt ngào và bí ẩn kiến trúc đồ sộ của nhà thờ như một cái bóng khổng lồ đè lên số phận của chàng gù Quasimodo nhân hậu, nàng Esmeralda tài hoa xinh đẹp. Đi qua vùng đất sông Hằng đề viếng đền Taj Mahal chứng kiến tình yêu bất tử của vị vua Shah Jahal dành cho người vợ thông thái yêu quý của mình. Đặt chân đến với Lâu đài Amboise và tìm hiểu các sáng tác của danh họa Leonardo da Vinci…
“Thực ra, Hậu không chỉ đi qua, mà là đi đến và cũng là đi về miền đất quê hương, nơi cha sinh mẹ đẻ. Và Hậu đã không ngừng đi, không chỉ đi, trên dọc dài đất nước mình. Để rồi, tất cả sự đi chứa chan cảm xúc ấy, đã lên hương, thành tình tự, ngụ trong một chữ thương. Bởi vậy, chữ thương ngự ngay tên sách của Hậu: Thương những miền qua. Vì thế, sách có chữ thương này rất có thể động lòng người chịu đọc nó. Bởi lẽ, người đọc nào mà chẳng thương miền đất đã sống, thương miền đất sắp đến và thương về miền đất mình sẽ trở lại – nơi quê hương nguồn cội”. – PGS. TS Nguyễn Thị Minh Thái chia sẻ.






NGUYỄN THỊ HẬU – ĐI LÀ ĐỂ ĐẾN, ĐỂ VỀ VÀ ĐỀ THƯƠNG NHỮNG MIỀN QUA…

 Giới thiệu sách của Nguyễn Thị Hậu:

 THƯƠNG NHỮNG MIỀN QUA

NXB Tổng hợp TPHCM, 4.2023, sắp phát hành.

NGUYỄN THỊ HẬU – ĐI LÀ ĐỂ ĐẾN, ĐỂ VỀ VÀ ĐỀ THƯƠNG NHỮNG MIỀN QUA…

          Ấn tượng nhất về cái đọc, được gây ra từ sách của Nguyễn Thị Hậu là một giọng văn tự sự đậm chất Nam Bộ, trong cách kể chuyện rủ rỉ tâm tình, gây nhớ, gây thương, và gây ngẫm ngợi… của người viết. Với tư thế và tâm thế của một phụ nữ làm nghề đặc biệt – khảo cổ học, kể về những miền đất đi qua – với muôn vàn thương nhớ.

          Thực ra, Hậu không chỉ đi qua, mà là đi đến và cũng là đi về miền đất quê hương, nơi cha sinh mẹ đẻ. Và Hậu đã không ngừng đi, không chỉ đi, trên dọc dài đất nước mình. Để rồi, tất cả sự đi chứa chan cảm xúc ấy, đã lên hương, thành tình tự, ngụ trong một chữ thương, (theo cách nói Nam Bộ, chữ thương dùng để chỉ chữ yêu. Con trai Nam Bộ không nói anh yêu em mà nói anh thương em).

          Bởi vậy, chữ thương ngự ngay tên sách của Hậu: Thương những miền qua.

          Vì thế, sách có chữ thương này rất có thể động lòng người chịu đọc nó.

          Bởi lẽ, người đọc nào mà chẳng thương miền đất đã sống, thương miền đất sắp đến và thương về miền đất mình sẽ trở lại - nơi quê hương nguồn cội.

          Như khát khao “quay đầu về núi” ?...                                                          

          Chính vì thế, tôi trộm nghĩ, thương, là từ khoá đặc hữu Nam Bộ trong cuốn sách được viết bằng thể kí văn học, cũng mặc nhiên đặc hữu cho lựa chọn chính xác của Hậu, đó là thể tuỳ bút: Thương những miền qua.

          Chữ thương, với cái viết riêng của Hậu, vì thế, bỗng đã thành một từ khoá  biểu cảm, đặc hiệu nhất cho cảm xúc của chủ thể viết Nguyễn Thị Hậu.

          Trước hết là thương mình, được cha sinh mẹ đẻ, trong một hoàn cảnh đặc biệt: cha mẹ là người miền Tây Nam Bộ, cùng đi theo kháng chiến chống Pháp, cùng ra Bắc tập kết năm 1954, hoạt động nghệ thuật ở Hà Nội hơn hai mươi năm và về lại Sài gòn giải phóng năm 1975.

Nguyễn Thị Hậu, sinh năm 1958 tại Hà Nội, hiển nhiên trở thành dấu cộng đẹp về  địa -văn - hoá, giữa hai miền Nam - Bắc,  giữa Hà Nội thủ đô và Sài Gòn sau giải phóng. Về nguồn gốc của mình, Hậu viết giản dị “Quê tôi ở miền Tây, tôi sinh ở Hà Nội và sống ở Sài Gòn”: “Quê ngoại tôi cách quê nội một nhánh Tiền Giang, nối liền nhau bằng bến đò Mỹ Hiệp”. Sinh ở Hà Nội, Hậu nói giọng Hà Nội, cho đến giờ, Hậu vẫn giữ giọng ấy. Gia đình ba má Hậu, như thế, đã xa quê ở đồng bằng sông Cửu Long 21 năm, đã từng ăn 21 cái tết Hà Nội, xa ngôi nhà của ông bà nội cũng chừng ấy năm. Song dù ở đâu trên đất Bắc trong 21 năm dằng dặc xa quê ấy, thì “ngày Tết của gia đình tôi bao giờ cũng thấm đẫm hương vị Tết Nam Bộ. Hương vị ấy có một đặc trưng rất riêng, ấy là mùi bánh tét gói bằng lá chuối”…

      Ngày còn bé dại, sinh ra và sống cả thời niên thiếu ở Hà Nội, có thể Hậu không thể trông thấy, và đặt chân lên đất quê cha quê mẹ, nhưng ông Bảy Bạch – đạo diễn sân khấu Nguyễn Ngọc Bạch - cha Hậu, từng là trưởng đoàn Cải lương Nam Bộ, sau là trưởng Đoàn  kịch Nam Bộ, và má Hậu, ở Hà Nội, nhưng đã thiết lập chắc chắn trong gia đình một lối sống, trong một bầu không khí đặc sệt chất Nam Bộ, Nam Bộ đến từng chi tiết nhỏ của việc ăn uống ngủ nghỉ, học hành, sinh sống và nghĩ suy… của những cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc. Sồng trên đất Bắc, với tâm thế chia đôi “Ngày Bắc đêm Nam”, với tâm trạng, mà thi sĩ Tế Hanh từng thảng thốt nhớ thương: “Đêm nằm chiếu chẳng ấm lưng / Bữa ăn đôi đũa ngập ngừng so le”. Ông Bảy Bạch, cha Hậu, biết con gái mê nghệ thuật cải lương và kịch, nhăm nhe thi vào nghề sân khấu, nhưng ông không khuyến khích Hậu theo nghề cha. Rốt cuộc, Hậu tự quyết định học Khảo cổ học tại Trường Đại học Tổng hợp TP HCM, và sau này đạt học vị Tiến sĩ khảo cổ học, và tập trung hành nghề khảo cổ ở vùng văn hoá Nam Bộ.

          Cuốn sách mới nhất này của Hậu “Thương những miền qua” là một trong chuỗi sách tản văn, tạp bút mà Hậu từng xuất bản hàng chục đầu sách, kể từ cuốn tạp bút đầu tiên: “Đi và Tìm trong Đất”, năm 2008. Song song với chuỗi sách này là  chuỗi sách chuyên khảo về khảo cổ học, mà người đọc tôi thích nhất hai cuốn: Khảo cổ học bình dân Nam Bộ (viết chung, 2010). Và “Đô thị Sài Gòn – TP HCM - Khảo cổ học và bảo tồn di sản ( xuất bản năm 2017, tái bản 2019).

          Truyền thống gia đình Nam Bộ cấp cho Hậu một tình yêu quê hương hồn nhiên, thương về cội rễ, ngay từ thuở bé ở Hà Nội, dù Hậu chưa từng được thấy quê nội và quê ngoại. Nghề khảo cổ học cho Hậu những thấm thía nghĩ suy về giá trị của những cổ vật trong lòng đất ở ngay trong lòng đô thị Sài Gòn và vùng ven đô Sài Gòn, xa hơn là những vùng miền đất cổ ở đồng bằng sông Cửu Long. Và trên tất cả là những chuyến đi về đầy niềm thương nỗi nhớ của chủ thể viết Nguyễn Thị Hậu. Và mặc nhiên, đã dẫn đến cái viết chẳng thể đặng đừng của Hậu, và dẫn đến cái đọc, cũng có thể chẳng thể đặng đừng của người đọc Nam Bộ, và không chỉ Nam Bộ, đã sống và đã yêu mảnh đất đẹp phong nhiêu và độc đáo này, với Sài Gòn – viên ngọc Viễn Đông…

          Vậy theo tôi, người đọc có quyền giải mã cái đọc của mình đối với loại sách “tản văn, tuỳ bút “ này của Hậu, có lẽ chỉ trên một chữ thương (như từ khoá), mà chính Hậu đã từng định nghĩa, từng rưng rưng viết, đầy cảm xúc bộc trực: “Nếu ai đó chỉ nói với mình một câu giản dị: anh thương em thì mình sẽ bỏ tất cả mà theo”.

          Nói vậy mà có phải vậy không, hỡi cô em tôi, Hậu kc (Hậu khảo cổ)?

          Nhưng tôi tin cái chắc là Hậu đã nhiều chuyến đi đi về về miền Tây Nam Bộ tấp nập ghe thuyền trên sông nước, trong bát ngát cảm xúc của chữ thương, khiến ngay cả Hậu cũng nao lòng, “mới thấy thương quê mình gì đâu”. Và Hậu tự mình vỡ lẽ - như trong một tản văn của Hậu mà tôi đọc đã lâu: “chữ thương của miền Tây ngọt ngào, nặng tình nặng nghĩa biết bao, bởi vì thương không chỉ là thương yêu cha mẹ anh em, mà còn là thương nhớ người dưng, thương xót thân phận ghe xuồng trên sông, thương những gì gắn bó cả đới như thương chính mình. Không ngưng được nỗi lòng, Hậu thổn thức viết tiếp: Chữ thương bao dung nhân hậu, nhẹ như hơi thở mà người miền Tây chỉ buông ra khi dằn lòng không được. Bởi vậy, người đọc nào cũng có thể động lòng mà cùng theo Hậu thương về miền Tây, cùng Hậu thương không để đâu cho hết, những con nước lớn, nước ròng, chiếc xuồng chiếc ghe xuôi ngược miên man trên sông rạch, thương xóm, thương làng trải dài ven sông yên bình, thương những vườn cây trĩu trịt hoa trái miệt vườn, những con đường rợp bóng cây xoài, cây dừa và những ngôi chợ miền Tây sầm uất bán mua cả trên đất bằng lẫn trên sông nước…Tất cả nặng trĩu trong tâm thế người viết Nguyễn Thị Hậu, đong đầy trong một chữ thương… khiến người đọc cũng vì chữ thương ấy mà cầm lòng không đậu!

          Vậy thì bạn đọc thân mến, còn chần chờ gì nữa mà không cầm lấy chữ thương ấy để đọc sách của Hậu, để được nặng lòng thương nhớ con người và vùng đất Nam Bộ, vốn đậm đà tinh thần Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, giữa đường thấy sự bất bằng chẳng tha! như Hậu khảo cổ đã viết thật cảm động trong một tùy bút của sách này: “Người Sài Gòn và tinh thần Lục Vân Tiên”…

                                                  Sai gon Pearl tháng 3.2023, viết tặng Hậu khảo cổ

                                                               PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái


Hình bìa: NAG Minh Hòa, thiết kế: Huy Khôi.



NGỌN LỬA HOANG DÃ của tác giả LONG ỨNG ĐÀI

 

Nhiều bạn đọc đã biết đến cuốn sách “Người Trung quốc xấu xí” của Bá Dương – cũng một tác giả từ Đài Loan -  phê phán những thói hư tật xấu có tính “truyền thống” trong sinh hoạt, những “cố tật” của người TQ trong đời sống, ứng xử... ở trong nước cũng như ở nước ngoài.

Cuốn sách “Ngọn lửa hoang dã” ra đời sau Người TQ xấu xí, nó tập trung phê phán thái độ của người TQ trước các hiện tượng tiêu cực của xã hội Đài Loan thập niên 1980, nhấn mạnh vai trò của những người trí thức và thị dân nơi đô thị.

Tôi đã đi Đài Loan, đọc cuốn sách này và thấy rằng lúc đó Đài Loan cũng giống như VN bây giờ. Nhưng chỉ ba mươi năm thôi mà Đài Loan đã thay đổi vượt bậc!  Những tiếng nói như cuốn sách này chắc chắn góp phần không nhỏ vào cuộc đổi thay ấy!

Một sự thú vị: Từ 1985 tác giả - trong “tự bạch” – đã nói về thân phận của mình khi mọi người phát hiện ra tác giả “không phải là con người mà là một phụ nữ”. Nhưng đến 2016 – hơn 30 năm sau – Đài Loan có nữ Tổng thống đầu tiên là bà Thái Anh Văn, và bà cũng vừa tái đắc cử năm 2020.

Đọc cuốn sách này cũng như đọc Người TQ xấu xí, nếu thay tất cả các từ TQ/Đài Loan bằng VN thì rất thích hợp! Khi đọc chắc ai cũng nghĩ sách nói về VN hiện nay. Nhưng ba mươi năm nữa VN có như Đài Loan bây giờ không thì... tôi không dám chắc!

Sau đây là Lời giới thiệu ở bìa 4 cuốn sách NGỌN LỬA HOANG DÃ. Một số đoạn thú vị mình post ở comts. 

***

Tháng 11.1984, với cảm hứng từ lời nói của một Ủy viên Lập pháp viện Trung Hoa dân quốc, Long Ứng Đài đã viết bài bình luận “Người Trung quốc! Anh không biết tức giận ư?”Trên tờ Trung quốc thời báo, tạo ra một hiện tượng dư luận. Tiếp đó Trung quốc thời báo với một chuyên mục mang tên Dã Hóa tập chuyên đăng những bài bình luận mang tính phê phán của Long Ứng Đài về các vấn đề môi trường, trị an, giáo dục... tạo nên một cuộc lật đổ về nhận thức đối với giới truyền thông Đài Loan thời điểm đó. Tuyển tập Ngọn Lửa Hoang Dã được ra đời từ tập hợp những bài viết trong giai đoạn 1984 – 1985.

Cuốn sách này đã nghiêm khắc phê phán những vấn đề của xã hội Đài Loan trong thập niên 1980. Vào thời điểm đó Đài Loan đang bị ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, trật tự trị an đô thị không được thực thi tốt, nhưng người Đài Loan vẫn tiếp tục bỏ mặc những vấn đề bất hợp lý của xã hội, dùng một tâm thái “nhẫn nại” để sinh tồn. Long Ứng Đài đả cố gắng khích lệ độc giả “tức giận” với những thực tế đó, đưa ra những câu hỏi cũng như sự phẫn nộ của họ đối với trách nhiệm của chính quyền.

Khi được xuất bản thành sách vào năm 1985, nó đã trở thành một hiện tượng xã hội với ảnh hưởng sâu rộng khắp các tầng lớp xã hội, nhất là đối với tầng lớp sinh viên. Học sinh. Cuốn sách không chỉ có ảnh hưởng ở Đài Loan, nó còn có ảnh hưởng sâu rộng đấn xã hội TQ đại lục. Cuốn sách cho họ có thêm một lựa chọn là trở thành trí thức xã hội trong không gian công cộng , trở thành con người với nền tảng về lương tri cá nhân cùng trách nhiệm xã hội , có thể dùng sức mạnh ngôn ngữ để sửa đổi những thói tật của xã hội.

P/S. Sách do NXB Hội nhà văn và DOMINOBOOK xuất bản. DOMINOBOOK từng hai lần đạt giải thưởng SÁCH HAY.





Phản xạ văn hóa các vùng miền Việt Nam

_Nguồn:  https://logbasex.substack.com?utm_source=navbar&utm_medium=web Bản đăng lại từ bài viết trên trang Substack cùng tên của tác gi...