ĐI THEO DÒNG SÔNG ĐỂ HIỂU THÊM THÀNH PHỐ

 Nguyễn Thị Hậu

1.

Một buổi sáng, khi thành phố còn chưa thực sự thức giấc, chúng tôi – những người nghiên cứu lịch sử, di sản văn hóa và quy hoạch đô thị đã có mặt ở bến cảng bên sông Sài Gòn. Ngay từ đầu tôi biết chuyến đi này không phải là một cuộc khảo sát thông thường. Bởi đối tượng của chúng tôi không phải một ngôi đình, một khu phố cổ hay một công trình kiến trúc cụ thể. Di sản hôm nay là cả một dòng sông. Dòng sông ấy vẫn hiện hữu mỗi ngày trong đời sống thành phố, nhưng cũng là một thực thể kỳ lạ: quen thuộc mà hay bị lãng quên, vẫn hiện hữu đó mà dưới mắt nhiều người dường như dòng sông chỉ tồn tại nhờ những cây cầu.

Người đồng hành với chúng tôi là những hoa tiêu hàng hải đã có hàng chục năm gắn bó với luồng tàu Đồng Nai - Sài Gòn – Nhà Bè – Lòng Tàu – Ngã Bảy – Vịnh Gành Rái. Công việc của họ là dẫn tàu an toàn qua những khúc quanh, những con nước, những luồng lạch luôn biến đổi. Nhưng suốt hành trình, tôi nhận ra rằng ít ai hiểu dòng sông này sâu sắc hơn họ. Đi theo họ, những địa danh tưởng chỉ tồn tại trên bản đồ bỗng hiện lên sinh động, thân thuộc và mang lại cho tôi bao cảm xúc.

Con tàu từ từ rời bến. Thành phố lùi dần phía sau. Một cách tự nhiên, tôi cảm thấy mình đang đi ngược thời gian.

Có lẽ phần lớn cư dân thành phố hôm nay quen nhìn Sài Gòn từ mặt đất. Từ những đại lộ, những khu dân cư. Từ các tuyến metro đang hình thành và từ các cao ốc liên tục mọc lên. Con người thành phố đã quen với tư duy đường bộ, nhưng trong phần lớn lịch sử của vùng đất này, con người lại tiếp cận nó từ mặt nước. Bởi vì trên đất nước ta, trước khi có quốc lộ, trước khi có đường sắt, trước khi có những cây cầu nối đôi bờ, dòng sông luôn là con đường xuôi ngược Đông – Tây , là nối liền đôi bờ Nam - Bắc, là bản đồ hiện hữu một vùng miền, một quốc gia.  Hơn thế nữa, dòng sống còn là nguồn sống ngàn đời của một nền nông nghiệp trồng trọt.

Người hoa tiêu đứng cạnh tôi chỉ tay về phía dòng nước đang mở rộng trước mũi tàu. “Nhìn vậy thôi chứ dưới đó là cả một hệ thống luồng lạch phức tạp. Đi trên sông không phải cứ thấy nước là đi được.” Anh kể về độ sâu luồng tàu, về vài bãi đá ngầm, về thủy triều, về những bãi bồi dịch chuyển theo mùa. Những câu chuyện nghe tưởng như thuần túy kỹ thuật nhưng lại khiến tôi nghĩ đến những lớp tri thức tích tụ qua nhiều thế hệ.

Trong nghiên cứu di sản, người ta thường nói đến di sản vật thể và phi vật thể. Chúng ta dễ nhận diện một ngôi chùa cổ hay một ngôi nhà trăm tuổi. Nhưng tri thức về dòng nước, về con nước lớn ròng, về cách đọc màu nước để nhận biết độ sâu hay hướng chảy cũng là một dạng di sản. Di sản này không hiện hữu bằng gạch đá mà nó được tích lũy bằng trải nghiệm. Rồi được truyền từ người này sang người khác, được kiểm chứng bằng hàng nghìn chuyến đi. Có lẽ vì thế mà những người hoa tiêu khiến tôi liên tưởng đến những "người lưu giữ ký ức" của dòng sông.

2.

Con tàu tiếp tục xuôi về phía Nhà Bè, hai bên bờ, cảnh quan thay đổi dần. Những cụm cao tầng thưa hơn. Những kho bãi, bến cảng xuất hiện nhiều hơn. Những khoảng xanh mở rộng. Dòng sông bắt đầu cho thấy một gương mặt khác, không còn là dòng sông của cảnh quan đô thịlà dòng sông của lao động và giao thương.

Theo những ghi chép của các nhà nghiên cứu lịch sử Nam Bộ, hơn ba trăm năm trước, khi những lớp lưu dân người Việt tiến vào vùng đất phương Nam, họ đi theo các tuyến sông. Trước họ là những cộng đồng cư dân bản địa đã sinh sống tại đây từ nhiều thế hệ. Sau họ là những thương nhân người Hoa, người Nhật, người phương Tây. Từ cửa biển Cần Giờ ngược vào họ gặp ngã ba Nhà Bè. Giữa vùng trời nước mênh mang, giữa phút nghỉ ngơi chờ con nước lớn để tiếp tục hành trình, những lưu dân ấy phân vân trước đôi ngả “Nhà Bè nước chảy chia hai. Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”. Cũng từ đây dòng sông đã kết nối các cộng đồng ấy lại với nhau tại vùng đất mới.

Nếu nhìn trên bản đồ hiện đại, hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai – Nhà Bè giống như mạng lưới giao thông thủy. Nhưng nếu nhìn bằng con mắt của lịch sử, đó còn là những hành lang văn hóa: Con người. Hàng hóa. Ngôn ngữ. Tín ngưỡng. Kỹ thuật... Tất cả đều từng theo dòng nước mà dịch chuyển. Vì thế không phải ngẫu nhiên mà những đô thị lớn nhất của nhân loại thường sinh ra bên sông. Với Sài Gòn điều đó dường như còn rõ ràng hơn: Thành phố không chỉ phát triển bên dòng sông mà chính xác là được hình thành từ dòng sông. Có thể cho rằng, địa danh mang tính cột mốc của thành phố là “mũi đèn đỏ - ngã ba Nhà Bè”.

Hàng trăm năm qua những chiếc ghe bầu chở lúa từ miền tây lên, những thuyền buôn từ miền Trung vào, những tàu hơi nước thời thuộc địa “ống khói đen sì” mờ đầu thời kỳ mất nước vào tay thực dân, đế quốc. Cho đến những tàu hàng hiện đại hôm nay: Phương tiện thay đổi, công nghệ phát triển. Nhưng dòng sông luôn là nơi kết nối, trao đổi và mở cửa ra thế giới. Và do đó, logic phát triển của đô thị thì vẫn vậy.

Trong nghiên cứu di sản đô thị, người ta thường nhấn mạnh rằng thành phố không phải là tập hợp của các công trình riêng lẻ. Thành phố là một quá trình. Một quá trình tích lũy liên tục. Một lớp phủ chồng lên lớp phủ. Một cuộc đối thoại không ngừng giữa quá khứ và hiện tại. Nhìn từ góc độ ấy, dòng sông chính là một trong những yếu tố ổn định nhất của lịch sử thành phố. Các công trình có thể thay đổi. Đường phố có thể thay đổi. Thậm chí đường chân trời của đô thị cũng thay đổi. Nhưng dòng sông vẫn là trục không gian cơ bản mà nhiều thế hệ cư dân đã dựa vào để định vị cuộc sống của mình.

3.

Đứng cạnh người hoa tiêu trên buồng lái, bất chợt tôi nhận ra nghề của anh và nghề của mình có một điểm gì đó rất gần nhau. Chúng tôi đều làm việc với những thứ không dễ nhìn thấy. Anh đọc những dòng chảy ẩn dưới mặt nước; tôi cố đọc những lớp ký ức ẩn dưới bề mặt của thành phố. Anh thuộc lòng những khúc sông quanh co để dẫn tàu đi đúng hướng; tôi lần theo những dấu vết của quá khứ để hiểu vì sao đô thị hôm nay có hình hài như vậy. Và có lẽ, ở một nghĩa nào đó, cả người hoa tiêu lẫn người làm di sản đều là những người dẫn đường. Chúng tôi không cầm lái con tàu của tương lai, nhưng đều tin rằng muốn đi xa hơn thì cần hiểu rõ dòng chảy đã đưa mình đến hiện tại.

Cả hai nghề đều làm việc với những thứ không phải ai cũng nhìn thấy. Người đi tàu chỉ thấy mặt nước. Nhưng người hoa tiêu phải nhìn thấy những dòng chảy bên dưới, những bãi cạn, những luồng lạch, những biến động của thủy triều. Họ đọc được những dấu hiệu vô hình đối với người bình thường. Người làm di sản cũng vậy. Du khách nhìn thấy một ngôi đình, một khu phố hay một công trình cũ. Nhưng đằng sau những gì hiện hữu là những lớp ký ức, những mối quan hệ xã hội, những quá trình lịch sử kéo dài hàng trăm năm. Công việc của người nghiên cứu là nhận ra những lớp nghĩa ẩn sâu dưới bề mặt ấy. Nói cách khác, cả hai đều là những người "đọc tầng sâu".

Hoa tiêu và người nghiên cứu di sản đều làm việc với sự liên tục. Dòng sông không bao giờ đứng yên. Mỗi ngày nước lại khác, phù sa lại khác, luồng lạch lại dịch chuyển. Nhưng trong sự thay đổi ấy vẫn có những quy luật dài hạn mà người hoa tiêu phải nắm bắt. Di sản cũng không phải là một vật thể bất động được đóng khung trong quá khứ. Thành phố thay đổi từng ngày, cộng đồng thay đổi từng ngày, cách người ta hiểu về lịch sử cũng thay đổi từng ngày. Người làm di sản không phải để ngăn sự thay đổi, mà để nhận ra đâu là những giá trị cốt lõi cần được giữ lại trong dòng chảy ấy. Cả hai nghề ấy đều đòi hỏi khả năng phân biệt giữa cái cần thích nghi và cái cần bảo tồn.

Là người dẫn đường, hoa tiêu không điều khiển con tàu theo ý mình. Ông chỉ giúp con tàu đi đúng luồng, tránh những rủi ro mà thuyền trưởng có thể chưa biết. Người làm di sản cũng không quyết định tương lai của thành phố. Vai trò của họ không phải là cầm lái. Họ chỉ góp phần chỉ ra những kinh nghiệm, những bài học, những giá trị đã được tích lũy từ quá khứ để cộng đồng và nhà quản lý có thêm cơ sở khi lựa chọn hướng đi. Hoa tiêu dẫn tàu qua những vùng nước phức tạp bằng hiểu biết tích lũy từ quá khứ của dòng sông. Người làm di sản cũng giúp xã hội đi về phía tương lai bằng hiểu biết tích lũy từ quá khứ của cộng đồng. Cả hai đều dùng quá khứ để phục vụ cho hiện tại và tương lai.

Nhưng có lẽ điểm tương đồng sâu sắc nhất nằm ở chỗ: cả hai đều phải khiêm tốn trước đối tượng của mình. Không một hoa tiêu nào dám nghĩ mình đã hiểu hết dòng sông. Dòng nước luôn có thể đổi khác. Thiên nhiên luôn lớn hơn tri thức của con người. Người làm di sản cũng vậy. Mỗi lần nghiên cứu một di tích, một khu phố hay một vùng đất, ta đều nhận ra lịch sử luôn phức tạp hơn những gì mình biết. Những lớp nghĩa mới vẫn có thể xuất hiện. Những cách diễn giải mới vẫn có thể được khám phá.

Cả hai nghề đều bắt đầu từ sự lắng nghe. Lắng nghe dòng sông. Lắng nghe quá khứ. Ngưới hoa tiêu có ích cho những con tàu đi lại trên sông như thế nào thì người làm di sảncũng  có ích gì cho một thành phố đang phát triển như vậy! Người hoa tiêu không làm thay công việc của thuyền trưởng nhưng không thể thiếu trên những tuyến hàng hải phức tạp, người làm di sản cũng không quyết định con đường phát triển, nhưng có thể giúp thành phố tránh những "bãi cạn ký ức" và những "vùng nước lịch sử" mà nếu không hiểu, cái giá phải trả sẽ rất lớn.

Buổi chiều, con tàu quay trở lại trung tâm. Thành phố hiện ra từ xa. Những tòa nhà cao tầng lại xuất hiện nơi đường chân trời. Nhưng đó không còn là thành phố mà tôi nhìn thấy vào buổi sáng. Hay đúng hơn, thành phố vẫn vậy, chỉ có cách nhìn của tôi đã khác. Bởi vì tôi đã hiểu rõ hơn vì sao câu chuyện phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh không thể tách rời câu chuyện của những dòng sông.

TP. Hồ Chí Minh, 14.6.2026

https://www.sggp.org.vn/di-theo-dong-song-de-hieu-them-thanh-pho-post859535.html

Album chuyến đi:https://www.facebook.com/media/set/?vanity=haukhaoco&set=a.28256176040637882





GIỮ NGỌN ĐÈN Ở NHỮNG TÒA SOẠN

 

https://baodanang.vn/giu-ngon-den-o-nhung-toa-soan-3341117.html

Nguyễn thị Hậu

 

Mỗi năm cứ đến tháng Sáu, những người gắn bó với nghề báo lại có dịp nhìn lại hành trình của bản thân, của tờ báo nơi mình làm việc. Dù tôi không phải là nhà báo chuyên nghiệp, nhưng với tư cách một người nghiên cứu khoa học và nhiều năm cộng tác với các báo, tạp chí bằng những bài viết về văn hóa và di sản, ngày 21 tháng 6 luôn gợi lên cảm xúc đặc biệt.

Những ngày gần đây thông tin về việc sắp xếp, tinh gọn hệ thống báo chí tiếp tục được triển khai mạnh mẽ. Nhiều cơ quan báo chí, tạp chí chuyên ngành sẽ sáp nhập hoặc chấm dứt hoạt động. Đó là một chủ trương lớn nhằm xây dựng nền báo chí tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại hơn trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu quản trị mới. Nhìn từ góc độ quản lý, đây là một xu thế khó tránh khỏi. Tuy nhiên, bên cạnh những con số về tổ chức, nhân sự hay hiệu quả vận hành, có lẽ cũng cần dành một khoảng lặng để nghĩ về những giá trị khó đo đếm bằng thống kê.

Đối với nhiều người nghiên cứu, mỗi tờ báo, mỗi tạp chí không chỉ là một cơ quan truyền thông. Đó còn là không gian đưa học thuật đến với công chúng, một diễn đàn văn hóa, nơi lưu giữ ký ức của cộng đồng. Không ít công trình nghiên cứu được giới thiệu trên những trang báo địa phương. Không ít giá trị di sản tưởng như bị lãng quên được đánh thức từ những bài viết ngắn đăng trên các chuyên trang văn hóa. Nhiều nhà báo bắt đầu viết vài mục tin nhỏ mà trở nên tâm huyết với di sản văn hóa. Là một trong số nhiều nhà nghiên cứu văn hóa và di sản cộng tác với báo chí, tôi biết rằng có nhiều tri thức về lịch sử địa phương, về kiến trúc, về ký ức đô thị đã được phổ biến trên những trang báo. Có câu chuyện về một ngôi đình, một ngôi chợ, một con hẻm hay một nghề thủ công truyền thống đang bị mất đi sẽ không bao giờ được xã hội quan tâm nếu không có các nhà báo kiên trì theo đuổi.

Tôi vẫn nhớ cảm giác hồi hộp của hai mươi năm trước khi bài tùy bút đầu tiên về sự mất mát di sản đô thị được đăng báo. Nhuận bút không nhiều nhưng lượng báo phát hành rất cao, hơn bây giờ nhiều. Điều quý giá nhất là cảm giác có một nơi để những câu chuyện văn hóa được lắng nghe và nhận được sự đồng cảm từ tòa soạn, từ người đọc. Từ bài viết của nhiều nhà nghiên cứu, độc giả đã biết đến những di sản văn hóa nơi mình đang sống, tìm hiểu giá trị các di tích. Các nhà quản lý cũng chú ý hơn đến việc bảo tồn và phát huy giá trị của những di sản may mắn còn hiện hữu trong quá trình đô thị hóa vội vã.

Bởi vậy, khi một tờ báo hay một tạp chí ngừng xuất bản là mất đi một cơ hội cho nhà nghiên cứu đến gần hơn với công chúng bằng các công trình, ý tưởng khoa học của mình. Đó còn là sự khép lại của một không gian đối thoại đã tồn tại hàng chục năm, nơi tiếng nói của nhà nghiên cứu, của cộng đồng và nhà quản lý có thể gặp nhau, dù có tạo ra sự đồng thuận hay không thì vẫn luôn hữu ích. Vì vậy một tờ báo không chỉ là một cơ quan truyền thông mà còn là một phần của hệ sinh thái tri thức.

Tất nhiên, tôi hiểu rằng không thể níu giữ mọi mô hình cũ trong một thời đại mới. Bởi vì công nghệ số đã thay đổi hoàn toàn cách sản xuất và tiếp nhận thông tin. Độc giả hôm nay không còn chờ báo giấy vào mỗi sáng, những bài viết dài đang phải cạnh tranh với các clip hay video ngắn, trí tuệ nhân tạo đang thay đổi và tạo ra vô số nền tảng truyền thông mới. Sự thay đổi là tất yếu. Nhưng chính trong giai đoạn này vai trò cốt lõi của báo chí lại càng trở nên quan trọng. Khi thông tin tràn ngập đến mức dư thừa thì điều xã hội cần là thông tin phải đáng tin cậy hơn. Khi văn hóa truyền thống đứng trước nguy cơ bị hòa tan trong dòng chảy toàn cầu hóa, điều cần thiết không phải chỉ là tốc độ và hình thức quảng bá về di sản, mà là chiều sâu của giá trị và bản sắc văn hóa một đô thị, một quốc gia.

 Điều khiến tôi băn khoăn nhất là số phận của những lĩnh vực vốn không phải "ngôi sao" trong cuộc cạnh tranh thông tin hiện nay: văn hóa, lịch sử, khảo cổ học, bảo tàng học, di sản, văn học địa phương... Những lĩnh vực ấy vốn đã ít không gian xuất hiện trên truyền thông, nay nếu báo chí nói chung và các chuyên trang nói riêng bị thu hẹp, ai sẽ tiếp tục kể những câu chuyện ấy? Ai sẽ dành nhiều kỳ báo để theo đuổi một vụ việc xâm hại di tích? Ai sẽ kiên nhẫn giới thiệu một phát hiện khảo cổ mới? Ai sẽ ghi lại ký ức của những nhân chứng cuối cùng trước khi họ ra đi?

Thuật toán của mạng xã hội không làm công việc đó. Trí tuệ nhân tạo cũng không làm công việc đó. Chỉ có những con người cụ thể và các tờ báo cụ thể mới làm được điều đó. Bởi vậy, số lượng đầu báo giảm đi bao nhiêu không phải là điều đáng lo nhất, mà là liệu sau quá trình sắp xếp, chúng ta có vô tình làm nghèo đi đời sống tri thức và văn hóa của xã hội hay không. Làm sao để những chuyên trang về văn hóa, di sản, khoa học hay giáo dục không bị thu hẹp chỉ vì áp lực lượt xem. Những cây bút tâm huyết về văn hóa vẫn có không gian để viết những điều không thể đo bằng lượng truy cập. Đó là câu hỏi cần có lời giải đáp.

Trong những ngày tháng sáu này tôi nghĩ nhiều đến hình ảnh những tòa soạn báo từng sáng đèn suốt đêm, nghĩ đến những tạp chí âm thầm đồng hành cùng giới nghiên cứu. Tôi nghĩ đến những cộng tác viên như tôi ở khắp mọi miền đất nước vẫn cố gắng góp phần lưu giữ ký ức văn hóa qua từng bài viết. Có thể một số tờ báo sẽ không còn, có thể nhiều nhà báo quen thuộc sẽ làm công việc khác. Nhưng tôi tin rằng sứ mệnh của báo chí vẫn còn nguyên giá trị. Chừng nào xã hội còn cần sự thật, còn cần tri thức, còn cần những tiếng nói nhân văn để bảo vệ và lan tỏa các giá trị văn hóa, chừng đó báo chí vẫn tiếp tục sống trong những hình thức mới.

với tôi, điều đáng trân trọng nhất ở nhiều nhà báo trong thời điểm chuyển mình hôm nay không phải là sự tiếc nuối dành cho cái cũ, mà là trách nhiệm gìn giữ tinh thần của nghề báo, tinh thần phụng sự công chúng, bảo vệ sự thật và nuôi dưỡng những giá trị tốt đẹp. Nếu không có tinh thần ấy, sẽ có ngày chúng ta nhận ra rằng khi những tòa soạn đã tắt đèn không chỉ có những con người rời đi, mà còn mất cả một phần tri thức văn hóa của đất nước. Mong rằng ngọn đèn đó cần được giữ gìn và tỏa sáng, dù tờ báo có thể đổi thay.

TP. Hồ Chí Minh, tháng sáu 2026

TS. Nguyễn Thị Hậu là cộng tác viên thân thiết của nhiều tờ báo.


 

 

 

THƯƠNG NGƯỜI NHƯ THỂ THƯƠNG THÂN...

 

Nhân ngày 21/6 năm nay, tôi xin chúc mừng các anh chị còn được làm nghề “chân vững bút bền” tiếp tục hành trình báo chí. Xin chúc các anh chị phải chuyển đổi công việc có nhiều sức khỏe và nghị lực để tiếp tục cuộc sống dù có thể rất vất vả, thậm chí sẽ thay đổi lớn! Mong rằng gia đình, bạn bè thân thiết luôn ở bên và chia sẻ cùng các anh chị trong giai đoạn mới nhiều khó khăn này!

Đúng là, có chuyện mới biết lòng người. Mấy bữa nay đọc nhiều lời tình cảm chia tay với tờ báo, nghề báo, bạn làm báo, nhưng cũng có những lời phũ phàng nghe có vẻ “lý lẽ”, ví dụ: có báo Thanh Niên, Tiền Phong rồi sao phải có Tuổi trẻ, có PNVN rồi sao cần PNTP... Chưa kể những câu kiểu “700 tờ báo 1 giọng thì dẹp cho rồi!”. Không ít nhà báo đã nghỉ/chuyển nghề nói vậy, và tôi biết ko ít người chẳng bao giờ đọc báo – kể cả báo mạng – mà chỉ đọc FB, hay tệ hơn, chỉ “nghe nói” thôi, cũng nói vậy! Sau tất cả những sáp nhập hay giải thể, sắp xếp hay điều chỉnh... như những biện pháp hành chính, là những con người và cùng với họ còn là gia đình, con cái, chi tiêu hàng ngày, hàng tháng... Những việc không đúng của nghề, người nào làm sai, làm bậy, lẽ ra người cùng nghề phải nói trước, chỉ ra trước, chứ có đâu bây giờ lại đánh đồng cá mè một lứa? Đến bao giờ người trong một nghề - chưa nói một nước – mới “thương người như thể thương thân”?

 Một lần, tôi – người viết báo nghiệp dư – nghe được vài điều không hay về tôi và ba tôi (ông đã mất từ 1985!) từ một nhà báo – không xa lạ với tôi. Tôi quá bất ngờ và sau đó thì buồn quá! Biết những lời nói/suy nghĩ đó là không đúng nên cũng không muốn đôi co qua lại làm gì. Sau đó, tôi vẫn cộng tác với tờ báo mà bạn đó làm việc, vì nghĩ, một cá nhân không phải là cả tòa soạn. Nếu cùng làm được việc tử tế thì cứ tiếp tục. Sau này trong một dịp trò chuyện với một bạn thân thiết cũng là nhà báo, khi nghe tâm sự của tôi, bạn nói: nghề báo nhiều người cũng bạc lắm chị ạ. Khi cần thì nhắn nhe thân thiết, khi không cần hay hết cần thì quay lưng như không quen biết... Chị đừng buồn, coi như chưa từng nghe những lời đó, cho thanh thản.

Nay, nhiều anh chị em nghe những lời phũ phàng chắc cũng chạnh lòng như tôi lúc ấy. Xin chia sẻ với các anh chị em hai câu “thần chú” tôi học được, mỗi khi có chuyện thị phi thì dùng để giữ cho tâm an: 1. Ai nói gì cũng "chúc bạn hạnh phúc". 2. Ai vẫn nói gì đó thì "công đức vô lượng". Tương lai, tôi vẫn tin rằng cái gì đã là quy luật của sự phát triển thì sớm hay muộn cũng trở về đúng quy luật! Còn nói theo tâm thức dân gian thì, đã cầu có cây tre trăm đốt thì sẽ phải khắc nhập khắc xuất thôi! 😊

21/6/2026



DI SẢN TRONG DÒNG CHẢY HIỆN ĐẠI: GHI CHÉP TỪ INDONESIA

 https://nguoidothi.net.vn/di-san-trong-dong-chay-hien-dai-ghi-nhan-tu-indonesia-52955.html

 Nguyễn Thị Hậu

Những chuyến đi của tôi thường không kết thúc khi máy bay hạ cánh, mà thường kéo dài rất lâu trong suy nghĩ, như một lớp trầm tích lặng lẽ bồi đắp thêm ký ức. Chuyến đi đến Bali, Jakarta và Borobudur vừa rồi của tôi cũng vậy. Là một vùng đất có chiều sâu văn hóa, điều đọng lại sau chuyến đi không chỉ là sự hài lòng vì công việc đã hoàn thành, mà là cảm giác được sống giữa những không gian khác nhau của một quốc gia đang chuyển động mạnh mẽ giữa truyền thống và hiện đại.

1.

Ấn tượng đầu tiên của tôi về Jakarta là sự khổng lồ và náo động. Thành phố như không bao giờ ngừng chuyển động. Những dòng xe máy, ô tô ken dày từ sáng đến khuya, tiếng tàu và âm thanh thành phố, ánh đèn và những khối cao ốc kính thép nối tiếp nhau, đúng là một siêu đô thị đang “bung ra” rộng hơn cao hơn với tốc độ chóng mặt. Nhưng điều thú vị là giữa Jakarta hiện đại và ồn ào ấy vẫn tồn tại những khoảng lặng của lịch sử và ký ức.

Khi bước vào khu phố cổ Kota Tua, nhịp điệu thành phố bỗng chậm lại. Những công trình thời thuộc địa Hà Lan với mái ngói đỏ, cửa sổ lớn và quảng trường cũ gợi nhớ một Batavia xa xưa, tiền thân của Jakarta hôm nay. Không gian ấy như một lớp thời gian khác còn sót lại giữa đô thị hiện đại. Nhiều người dừng chân ngồi chơi dưới bóng mát cây xanh, thong thả chụp hình, đạp xe sơn màu sặc sỡ quanh quảng trường. Trong những tòa nhà cổ là quán cà phê, tiệm ăn mang phong cách thời thuộc địa. Một ô kính nhỏ giữ lại dưới lòng đường một đoạn đường sắt đầu tiên của thành phốTất cả cho thấy nỗ lực giữ lại ký ức đô thị giữa áp lực phát triển rất lớn. Từ đó nơi này đã trở thành điểm đến quen thuộc của người Indonesia và du khách.  

Tôi nhớ cảm giác tương phản ở Quảng trường trung tâm Jakarta (Quảng trường Merdeka) có công trình hiện đại nổi tiếng nhất là Đài tưởng niệm Quốc gia cao vút, luôn tấp nập người đến chụp hình và vui chơi ở công viên cạnh đó. Và chỉ sau ít phút đi qua một đường hầm dẫn đến Bảo tàng Lịch sử - xây dựng trong phần chân đế rộng lớn của đài tưởng niệm. Bảo tàng rất mát mẻ và yên tĩnh, trưng bày những bức tranh toàn cảnh tái hiện lịch sử Indonesia.

Tôi nhớ không gian cổ điển và sang trọng của Bảo tàng quốc gia nơi lúc nào cũng có nhiều đoàn học sinh đến học tập. Tôi lang thang cả ngày ở đây vẫn chưa chiêm ngưỡng hết hàng trăm bức tượng Phật giáo, Hindu giáo, hàng ngàn hiện vật về lịch sử - văn hóa, phản ánh sự “đa dạng trong thống nhất” của đất nước được mệnh danh là "xứ sở vạn đảo", một trong những quốc gia đa dạng về sắc tộc nhất thế giới.

2.

Từ Jakarta đến Bali, sự tương phản ấy vẫn tiếp tục nhưng theo một cách khác. Bali không giống một “thành phố du lịch” theo nghĩa thông thường giống một không gian văn hóa truyền thống mở rộng, nơi du lịch được xây dựng trên nền của tín ngưỡng, cảnh quan và ký ức cộng đồng.

 Ở đó, tín ngưỡng bản địa hiện diện khắp nơi, từ trước cổng nhà, bên ruộng bậc thang, dưới gốc cây lớn, đến các công sở, khách sạn sang trọng hay ven biển đẹp nổi tiếng.  Buổi sáng khi đi bộ trên những con phố, tôi thường thấy trước cửa từng ngôi nhà là một khay nhỏ kết bằng lá dừa đặt trên mặt đất, trong đó có vài bông hoa, chút trầm thơm, mấy loại bánh và trái cây của địa phương. Người Bali không “trưng bày” văn hóa cho khách xem mà họ đang sống trong văn hóa ấy mỗi ngày. Những nghi thức giản dị ấy làm cho Bali hấp dẫn hơn vì nhịp sống chậm” mang tinh thần riêng giữa cơn lốc toàn cầu hóa.

Điều làm tôi suy nghĩ nhiều là cách người Bali dung hòa giữa bảo tồn và khai thác du lịch. Một thành phố rất nhiều cây xanh, đường phố và nơi công cộng luôn sạch sẽ, người dân hiền hòa, thân thiện, giọng nói nhẹ nhàng với nụ cười luôn nở trên môi. Biển hiệu các cửa hàng, quán ăn địa phương hầu như không có tiếng Anh, món ăn truyền thống sử dụng bao bì bằng lá dừa, lá chuối, những chiếc lồng bàn kết bằng lá cọ, lá buông nhiều kích cỡ và màu sắc, mang lại sự thích thú cho du khách. Những đền thờ hay ngôi chùa trên mọi đường phố, mỗi ngôi nhà đều có miếu nhỏ phía trước, kiến trúc kiểu “cổng trời” rất đặc trưng được bảo tồn, tôn tạo thường xuyên, trở thành “biểu tượng kiến trúc” của thành phố. Người Bali hiểu rất rõ giá trị kinh tế của di sản, nhưng di sản trong một không gian sống chứ không phải trong “tủ trưng bày” hay ngược lại, thành sân khấu hóa”.

 Dĩ nhiên thương mại hóa vẫn hiện diện. Có những khu vực đông nghịt du khách, trong chợ truyền thống vẫn “nói thách” để du khách phải trả giá nhiều lần, những buổi biểu diễn được “đóng gói” theo giờ tham quan, những quán cà phê với giá không hề rẻ nhìn ra ruộng bậc thang hay bên bờ biển tuyệt đẹp... Nhưng phía sau hoạt động du lịch ấy vẫn một nền văn hóa bản địa đủ mạnh để du khách có thể cảm nhận sự độc đáo chân thực của nó.

3.

Từ Bali, tôi tiếp tục hành trình đến Borobudur - một nơi mà từ lâu tôi chỉ được biết qua phim ảnh và tài liệu nghiên cứu. Mọi hình dung đều trở nên nhỏ bé khi đứng trước công trình vĩ đại này! Borobudur được xây dựng hoàn toàn bằng đá núi lửa với kỹ thuật ghép khối chính xác và hệ thống phù điêu dày đặc. Nhờ kiến trúc còn khá nguyên vẹn nên dù qua trùng tu vài lần, công trình không bị “làm mới” mà mang lại sự hoàn chỉnh và thẩm mỹ cao.

Đến tham quan nơi này du khách được phát một đôi dép upanat làm thủ công từ sợi lá dứa và lá dừa, do người dân địa phương sản xuất. Đôi dép này được thiết kế nhằm mục đích bảo tồn di tích, du khách có thể mang về như một món quà lưu niệm sau chuyến tham quan. Chúng tôi đăng ký tham quan vào sáng sớm. Khi mặt trời lên Borobudur hiện ra giữa màn sương mỏng như một ngọn núi đá khổng lồ, vẻ đồ sộ choáng ngợp nhưng tĩnh lặng rất đặc biệt. Những tầng tháp chồng lên nhau biểu tượng cho hành trình đi lên của tâm thức. Hàng trăm pho tượng Phật, những bức tường phủ kín phù điêu không tạo cảm giác phô trương quyền lực mà như một lời nhắc nhẹ nhàng về sự vô thường của thời gian.

Tôi đi chậm giữa những bậc đá đã in dấu nhiều thế kỷnghĩ đến những công trình tôn giáo lớn của Đông Nam Á như Mỹ Sơn, Đồng Dương, Angkor… Càng hiểu hơn một Đông Nam Á từng là không gian văn hóa rộng lớn, nơi tôn giáo, thương mại và nghệ thuật giao thoa mạnh mẽ để tạo nên những công trình kỳ vĩ. Borobudur không chỉ là di sản của Indonesia, nó còn là một phần ký ức chung của nền văn minh Đông Nam Á.

Điều thú vị là dù đã trở thành điểm du lịch nổi tiếng thế giới, Borobudur vẫn giữ được tính chất thiêng liêng của một không gian tâm linh. Người ta đến đó không chỉ để “check-in”, mà có thể ngồi yên lặng ngắm nhìn bình minh hay hoàng hôn, để đi chậm rãi vòng quanh các tầng và suy tưởng khi chạm tay vào những “câu chuyện trên đá”, càng lên cao càng cảm nhận rất rõ ràng, đời người chỉ là một chớp mắt trong thời gian vô tận...

Đứng giữa Borobudur còn khá nguyên vẹn sau hơn một nghìn năm, tôi nhớ đến Phật viện Đồng Dương ở miền Trung nước ta - một trung tâm Phật giáo lớn của vương quốc Champa xưa, cùng thời với Borobudur. Tuy nhiên hiện nay Borobudur được coi là một “di sản sống trong khi Đồng Dương là một “di sản khảo cổ không còn thực hành. Sự khác biệt không chỉ phản ánh số phận khác nhau của hai di sản Phật giáo mà còn gợi ý về cách mỗi quốc gia ứng xử với ký ức lịch sử của mình sao cho phù hợp.

4.

Đông Nam Á từng là một không gian văn minh liên kết sâu sắc bằng tôn giáo, thương mại và nghệ thuật. Trải qua những biến động lịch sử, nhiều lớp ký ức đã mất đi trước khi kịp được nhận diện đầy đủ giá trị. Có lẽ vì thế khi bước đi giữa Borobudur, tôi không chỉ nhìn thấy Indonesia, thấp thoáng đâu đó còn là những mảnh ký ức bị đứt gãy của di sản Việt Nam. Chúng ta sở hữu vô số cảnh quan tuyệt đẹp, di tích quý giá và truyền thống văn hóa phong phú. Nhưng việc bảo tồn và du lịch vẫn nặng về khai thác nhanh, trùng tu “làm mới”, đưa công trình hiện đại vào cảnh quan di tích một cách phô trương. Làm mất đi điều du khách quốc tế tìm kiếm chính là bản sắc địa phương, chiều sâu văn hóa của di sản và đời sống cộng đồng.

Một di sản hấp dẫn không chỉ vì nó cổ kính mà vì nó kể được câu chuyện của cộng đồng sống cùng nó. Một thành phố du lịch bền vững không chỉ có khách sạn sang trọng hay dịch vụ tốt, mà còn phải giữ được linh hồn nơi chốn. Jakarta cho thấy sức kháng cự của di sản trước hiện đại hóa, Bali cho thấy khả năng gìn giữ bản sắc trong phát triển, còn Borobudur cho con người hôm nay tâm thế hướng về ký ức thời gian của văn minh Đông Nam Á. Bên cạnh những di tích nguyên vẹn, những nơi tôi đến cũng còn nhiều phế tích giống Đồng Dương hay Mỹ Sơn của chúng ta. Hầu hết chúng không được phục dựng nhưng bảo tồn rất tốt và luôn nhiều khách tham quan. Điều đó làm tôi suy nghĩ, có lẽ một phế tích trung thực với lịch sử vẫn có giá trị cao về học thuật và ký ức, thậm chí cao hơn một công trình phục dựng hoàn chỉnh nhưng dựa nhiều trên giả định khoa học hay suy diễn lịch sử.

Indonesia hôm nay đang tồn tại trong hai nhịp sống: một bên là khát vọng hiện đại hóa mạnh mẽ, một bên là nhu cầu giữ lại chiều sâu văn hóa như một điểm tựa tinh thần. Di sản văn hóa ở đây không chỉ là những hiện vật cổ hay đền tháp xưa cũ. Chúng là di sản vì có khả năng mang lại cho con người cảm giác mình thuộc về một dòng chảy liên tục của lịch sử và văn hóa. Nhận thức đó chính là điều quý giá nhất mà chuyến đi này mang lại cho tôi.

TP. Hồ Chí Minh 12.5.2026













ĐI THEO DÒNG SÔNG ĐỂ HIỂU THÊM THÀNH PHỐ

  Nguyễn Thị Hậu 1. Một b uổi sáng, khi thành phố còn chưa thực sự thức giấc, chúng tôi – những người nghiên cứu lịch sử, di sản văn hó...