SÀI GÒN TÌNH NGHĨA – KHI BÁO CHÍ CŨNG LÀ MỘT PHẦN CỦA DI SẢN ĐÔ THỊ

https://thethaovanhoa.vn/tphcm-di-san-hien-dai-va-nghia-tinh-bai-2-khi-bao-chi-cung-la-mot-phan-cua-di-san-nghia-tinh-do-thi-20260703110329484.htm

Nguyễn thị Hậu
1.
Những ngày này thành phố vẫn đông đúc như thường. Hàng ngày lượt xe vẫn qua những chiếc cầu trên sông Sài Gòn, hàng chục lượt tàu vẫn vào cảng, dòng người như nước vẫn xuôi ngược trên những con đường quen thuộc. Nhưng ở nhiều người có một điều xao động lặng lẽ: tạm biệt một số tờ báo đã hoàn thành sứ mệnh của mình, khép lại hành trình dưới những tên gọi đã gắn bó với bạn đọc suốt nhiều năm.
Đó là một sự thay đổi trong quá trình tổ chức lại hệ thống báo chí. Với những người làm nghề, đó là một dấu mốc của công việc. Nhưng với những người yêu Sài Gòn, yêu lịch sử đô thị và ký ức thành phố, đó còn là dịp để nghĩ về một điều sâu xa hơn: báo chí đã góp phần gìn giữ ký ức và đặc trưng của đô thị này như thế nào? Có lẽ, việc ứng xử với sự thay đổi của thành phố nói chung, của báo chí nói riêng cũng góp phần làm rõ hơn ý nghĩa của bốn chữ "Sài Gòn tình nghĩa." Tình nghĩa không chỉ nằm trong cách người Sài Gòn đối đãi với nhau mà còn thể hiện ở cách thành phố biết ghi nhớ, biết tri ân những con người âm thầm làm nên diện mạo văn hóa và bảo tồn di sản của mình.
Suốt hơn một thế kỷ, báo chí Sài Gòn không chỉ làm nhiệm vụ thông tin. Mỗi tờ báo, mỗi số báo, mỗi bài viết đều là những lát cắt của đời sống đô thị. Ở đó có câu chuyện về một khu chợ cũ, một bến nước, một con hẻm nhỏ, một nghệ nhân, một ngôi đình, một quán cà phê lâu năm, một cây cầu, một con kênh, một dòng người mưu sinh từ sáng sớm đến khuya. Có những điều khi xuất hiện trên mặt báo chỉ là tin tức của ngày hôm ấy, nhưng nhiều năm sau lại trở thành tư liệu quý giá để nhận diện lịch sử của thành phố.
Là người nghiên cứu khảo cổ học đô thị, chúng tôi thường nói rằng quá khứ được lưu giữ trong những lớp đất. Nhưng với một đô thị hiện đại như Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, quá khứ còn được lưu giữ trong những trang báo. Các nhà khảo cổ khai quật di tích trong lòng đất, còn người quan tâm, người yêu thành phố sẽ “khai quật” đời sống đã qua từ trang báo.
Theo dòng biến thiên của lịch sử, có những công trình đã không còn, có những con đường đã đổi tên, có những khu phố đã thay đổi hoàn toàn diện mạo… Thế nhưng, nhờ những tin tức, phóng sự, những bức ảnh, những ghi chép của các nhà báo, người ta vẫn có thể hình dung được thành phố đã từng như thế nào. Thành phố hiện diện trong mỗi người, trong du khách bằng dáng vẻ thân thuộc, lối sống gần gũi, con người phóng khoáng… chứ không khô khan xa lạ như trong các công trình nghiên cứu hàn lâm.
Theo nghĩa đó, báo chí không chỉ phản ánh lịch sử, mà báo chí cũng tạo nên lịch sử. Và những tờ báo dù không được xếp hạng là di sản theo nghĩa pháp lý, vẫn là một phần của di sản ký ức đô thị. Bởi vì di sản không chỉ là những ngôi nhà cổ hay những công trình kiến trúc, di sản còn là ký ức được cộng đồng cùng nhau gìn giữ. Trong ký ức ấy có tiếng rao báo mới buổi sớm, có bến Bình Đông mùa hoa Tết, có chợ Bến Thành, chợ Bình Tây tấp nập mỗi ngày, có những dòng sông và hệ thống kênh rạch từng làm nên bản sắc của một đô thị cảng sầm uất. Và có cả những trang báo đã kể lại tất cả những điều ấy.
2.
Không ít công trình còn tồn tại hôm nay là nhờ sự đồng hành của các nhà nghiên cứu, các kiến trúc sư, các nhà quản lý và những người làm báo. Đó là một biểu hiện đẹp của "Sài Gòn tình nghĩa." Tình nghĩa với con người hiện tại và cũng tình nghĩa với ký ức đô thị – những lớp ký ức được tích lũy qua nhiều thế hệ, tạo nên bản sắc của thành phố. Nhưng ký ức ấy sẽ tồn tại bằng cách nào nếu không có người ghi chép?
Nhiều cuộc vận động bảo tồn di sản ở Thành phố Hồ Chí Minh trong nhiều năm qua được báo chí ủng hộ và tiếp sức. Một bài phản ánh về ngôi biệt thự cũ sắp bị tháo dỡ. Một phóng sự về ngôi đình xuống cấp. Một cuộc tọa đàm về giá trị của bến cảng, của lò gốm Cây Mai hay của hệ thống kênh rạch. Một bản tin về cuộc trưng bày mới tại bảo tàng… Những bài báo ấy không chỉ cung cấp thông tin. Chúng khơi dậy sự quan tâm của cộng đồng, tạo nên tiếng nói chung để nhiều giá trị được nhìn nhận đúng hơn, được bảo vệ kịp thời hơn.
Không phải ngẫu nhiên mà khi tìm hiểu về lịch sử Sài Gòn, các nhà nghiên cứu luôn tìm đến kho lưu trữ báo chí. Bởi ở đó không chỉ có sự kiện, mà còn có hơi thở của đời sống. Một mẩu tin nhỏ đôi khi giúp xác định niên đại của một công trình. Một bức ảnh cũ có thể cho biết diện mạo của một góc phố trước khi bị thay đổi. Một bài phỏng vấn có thể lưu lại ký ức của nhân chứng cuối cùng. Đó là những tư liệu không gì thay thế được.
Có thể, trong quá trình phát triển, các cơ quan báo chí sẽ thay đổi mô hình tổ chức, thay đổi tên gọi, thay đổi cách vận hành để phù hợp với bối cảnh mới, điều đó là một phần của sự vận động. Nhưng điều không nên thay đổi chính là tinh thần làm báo vì cộng đồng. Tinh thần ấy đã góp phần tạo nên diện mạo văn hóa của Sài Gòn trong suốt nhiều thế hệ. Tinh thần vì cộng đồng là biểu hiện của “Sài Gòn tình nghĩa”
Một thành phố muốn phát triển bền vững không chỉ cần những tòa nhà cao hơn, mà còn cần những người gìn giữ ký ức. Đó có thể là nhà khảo cổ, nhà sử học, kiến trúc sư, nghệ sĩ, người dân địa phương. Và cũng là những nhà báo. Họ lặng lẽ đi vào từng con hẻm, từng bến sông, từng khu chợ, từng công trình đang đổi thay để ghi lại những điều tưởng như rất bình thường. Đến một ngày, chính những điều bình thường ấy lại trở thành ký ức quý giá của đô thị.
3.
Có người từng ví nhà báo là người chép sử của hiện tại. Họ vừa trực tiếp phản ánh, vừa là cầu nối với nhà nghiên cứu giúp xã hội nhận ra những giá trị cần được gìn giữ, những điều cần được lên tiếng và những ký ức cần được lưu lại trước khi quá muộn. Ngày hôm nay, có thể một số tờ báo đã khép lại tên gọi quen thuộc của mình. Nhưng những người làm báo vẫn còn đó. Những giá trị nghề nghiệp vẫn còn đó. Và trên hết, tình yêu dành cho thành phố vẫn còn đó. Những người làm báo sẽ luôn mang theo ký ức của thành phố mà họ đã gắn bó. Đó là thứ hành trang không một cuộc sắp xếp tổ chức nào có thể làm mất đi.
Đó cũng chính là điều khiến chúng ta tin rằng, giữa những đổi thay của hôm nay, Sài Gòn vẫn là một thành phố tình nghĩa. Bởi tình nghĩa không chỉ là nhớ về quá khứ. Mà còn là biết trân trọng những người đã góp phần lưu giữ quá khứ ấy để cùng bước tới tương lai.
Để Sài Gòn – TPHCM thực sự là một “thành phố nghĩa tình”, một thành phố biết tri ân những người đã góp phần lưu giữ ký ức của mình, tôi cho rằng báo chí – một đặc sản của thành phố - phải được nhìn nhận như một thành tố của "môi trường di sản đô thị" (urban heritage environment). Do đó, khi xây dựng kho dữ liệu di sản của siêu đô thị TP.HCM, các kho lưu trữ báo chí cũng cần được coi là một di sản tư liệu và là nguồn dữ liệu quan trọng để nhận diện, bảo tồn và phát huy ký ức đô thị.
Khảo cổ học đô thị khai mở những lớp đất của quá khứ, còn báo chí hôm nay đang bồi đắp những lớp ký ức của tương lai. Những thông tin trên nền tảng số có thể trôi rất nhanh trước mắt người đọc, nhưng nếu được lưu giữ và kiểm chứng, chúng sẽ trở thành "tầng văn hóa" của đô thị hiện đại trong thế kỷ 21.







NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU – THỬ NHÌN TỪ KHÔNG GIAN VĂN HOÁ NAM BỘ

 


1. Không gian văn hóa và ký ức lịch sử

Trong thời đại thông tin, những cuộc tranh luận trên mạng xã hội bắt đầu và kết thúc với nhiều kiểu khác nhau. Có chuyện nhanh chóng bùng lên rồi cũng nhanh chóng biến mất, hệt như bong bóng xà phòng phồng to rồi vỡ tan. Cũng có chuyện sinh từ một chuyện rồi bùng to hơn thành một chuyện hoàn toàn khác, như một đốm lửa từ tàn thuốc lá lại trở thành đám cháy rừng. Hết chuyện này đến chuyện khác, mạng xã hội hay kéo người ta vào những cơn sôi sùng sục… Để rồi khi câu chuyện đi qua, nhiều người nhận ra sự tham gia của mình như góp vài giọt cát xây lâu đài trên bãi biển.

Tuy nhiên khi quan sát những “cơn sóng” ấy, đôi khi tôi nhận ra vài điều thú vị. Có những cuộc tranh luận rồi sẽ chìm xuống rất nhanh, nhưng điều còn đọng lại không phải là câu chuyện đang được viral, mà lại sự đánh thức một ký ức nào đó, khó nắm bắt khó gọi tên, nhưng thực sự luôn ở trong tâm thức. Chỉ cần một cái cớ là sẽ hiện diện rõ ràng. Với tôi, câu chuyện quanh vai diễn Nam Phương Hoàng hậu trong bộ phim Hoàng hậu cuối cùng là một trường hợp như vậy.

Điều tôi quan tâm không phải là tranh luận diễn viên có phù hợp với nhân vật hay không, mà là những cách nhìn rất khác nhau về nhân vật lịch sử ấy. Có người ca ngợi, có người phủ nhận; có người xem bà như biểu tượng của vẻ đẹp, học vấn và phẩm giá, cũng có người nhìn bà bằng cái nhìn phê phán, thậm chí rất khắt khe, dành cho giai đoạn cuối của triều Nguyễn, một giai đoạn có những biến động lớn lao, thử thách sự chọn lựa của những người có một vai trò nhất định trong lịch sử. Điều đó không riêng đối với Nam Phương Hoàng hậu. Nhưng bà lại là nhân vật chính trong một bộ phim bỗng nhiên đình đám trên mạng xã hội. Vì vậy, theo tôi, nhiều người đã nhìn nhận, khen ngợi hay đánh giá, phán xét bà bằng ký ức lịch sử của chính mình, rộng hơn là của thế hệ mình, từ không gian văn hoá mình từng sinh ra và lớn lên. Bởi vì, lịch sử bao giờ cũng được ghi lại bằng tư liệu, nhưng ký ức lịch sử lại được nuôi dưỡng bằng những câu chuyện trong một không gian văn hoá nhất định.

Có thể hình dung mối liên hệ từ không gian văn hoá đến ký ức lịch sử của một cộng đồng.

Không gian văn hóa (các yếu tố tự nhiên và nhân văn) đã tác động vào quá trình hình thành đời sống cộng đồng (kinh tế, văn hoá, xã hội, chính trị…). Đó là dòng chính của lịch sử cộng đồng. Trải qua thời gian được lắng đọng thành ký ức, bồi đắp và trao truyền cho nhiều thế hệ. Những thế hệ tiếp nhận ký ức cũng là tiếp nhận ý nghĩa, giá trị văn hoá của không gian. Từ đó không gian văn hoá lại tiếp tục nuôi dưỡng bản sắc cộng đồng, truyền thống lịch sử.

Như vậy, "không gian văn hóa" và "ký ức lịch sử" thực chất là hai khái niệm không thể tách rời. Từ góc độ di sản và nghiên cứu đô thị, có thể hiểu mối quan hệ này theo ba cấp độ: không gian lưu giữ ký ức, không gian tạo ra ký ức và không gian tái tạo ký ức. Không gian văn hoá có thể là một đô thị, có thể là một làng quê, rộng hơn là một vùng miền. Nam bộ chính là một không gian văn hoá rộng lớn như vậy.

2. Không gian văn hóa Nam bộ

Nam Bộ là một không gian văn hóa đặc biệt. Được coi là vùng đất mới “thiên nhiên ưu đãi”, hệ thống sông nước chằng chịt tạo nên những mối quan hệ giao lưu luôn rộng mở; từ đó phát triển giao thương và sớm hình thành kinh tế thị trường. Nơi đây có nhiều cộng đồng cùng sinh sống và làm ăn, từ các tộc người bản địa đến lưu dân khai khẩn, là nơi luôn có những làn sóng nhập cư lớn và liên tục. Chính vì vậy quan hệ xã hội ít ràng buộc bởi cấu trúc làng xã khép kín mà quan niệm “tứ hải giai huynh đệ”. Trong không gian ấy, con người sống với nhau bằng sự nương tựa, chia sẻ, giúp đỡ chứ không phải bằng tước vị thấp cao. Do đó những giá trị luôn được cộng đồng đề cao là nghĩa tình, hào sảng, trọng chữ tín, ai có khả năng thì ít nhiều đều giúp người khác. Câu chuyện về ông Thủ Huồng dựng Nhà Bè trên sông Sài Gòn là một minh chứng.

Đến nửa đầu thế kỷ 20 Nam bộ là vùng đất của những con sông mở ra biển lớn, của những thương cảng đông đúc, của những con tàu cập bến từ khắp nơi trên thế giới. Ở đó, truyền thống và hiện đại gặp nhau mỗi ngày. Những ngôi đình, ngôi chùa nằm không xa nhà thờ, trường học kiểu Pháp bên cạnh dãy phố buôn bán của người Hoa. Đô thị Sài Gòn là nơi người tứ xứ hội tụ làm ăn. Một xã hội đang chuyển mình, nơi con người sớm tiếp xúc với văn hoá phương Tây nhưng vẫn giữ nếp sống trọng nghĩa tình của miền đất mới. Trong bối cảnh ấy xuất hiện một tầng lớp thượng lưu Nam Kỳ xuất thân từ đại địa chủ, doanh nhân, những người vừa lưu giữ truyền thống Á Đông trong gia đình và những mối quan hệ xã hội, đồng thời tiếp thu tri thức kinh tế, kỹ thuật hiện đại, tiếp nhận văn hoá phương Tây. Họ đã góp phần định hình diện mạo xã hội Nam Bộ nửa đầu thế kỷ 20.

Ký ức cộng đồng luôn có cách lựa chọn rất riêng. Người Nam Bộ vốn không có truyền thống thần tượng quyền lực, mà thường ghi nhớ rất lâu những hình tượng “trọng nghĩa khinh tài”, “trọn tình trọn nghĩa”. Trong văn hóa Nam Bộ truyền thống, sự giàu có ít khi tự nó trở thành đối tượng bị đố kỵ hay nghi ngờ mà điều cộng đồng quan tâm hơn là người giàu ấy đã sống và ứng xử như thế nào. Vì vậy mà những tên tuổi như Huyện Sĩ, Quách Đàm và nhiều người khác luôn được nhắc đến, không phải vì sự giàu có mà vì những gì họ đóng góp cho xã hội: mở chợ, lập phố, xây đình chùa, nhà thờ, làm cầu, đào kênh… sau này là nuôi giấu cán bộ cách mạng, làm từ thiện, cứu trợ… Rất nhiều gia đình Hoa, Việt, Minh Hương, địa chủ, thương nhân... đã góp phần như vậy.

Suốt hơn ba trăm năm khai phá Nam Bộ, hình ảnh "phú hộ nghĩa hiệp", "điền chủ nhân hậu", "thương gia yêu nước", "mạnh thường quân" xuất hiện khá nhiều trong ký ức địa phương. Đương nhiên lịch sử cũng có những địa chủ bóc lột hay thương nhân chỉ biết tư lợi. Nhưng điều đặc biệt là cộng đồng lưu giữ và truyền lại là những người đã dùng của cải để tạo dựng lợi ích chung. Chính vì vậy, khi nhắc đến các nhân vật giàu có trong lịch sử Nam Bộ, ký ức tập thể thường gắn họ với những việc làm cụ thể cho cộng đồng hơn là chỉ với khối tài sản họ sở hữu. Không hay thù ghét người giàu mà trọng người giàu tử tế. Có thể coi đó là một nét độc đáo của văn hoá Nam bộ.

Có một đặc điểm thú vị ở người Nam Bộ, đó là họ kể lịch sử bằng từng con người, nhớ nhân vật lịch sử hơn nhớ thứ thế triều đại. Bởi vì quá trình hình thành người Nam bộ trên vùng đất Nam bộ diễn ra gần như trọn vẹn trong thời Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn. Cùng với sự thờ phụng những vị thần linh, những tiên hiền, hậu hiền, các anh hùng liệt sĩ, người Nam bộ luôn nhắc nhớ những con người giàu tử tế, cống hiến tài sản cho cộng đồng, những người có học mà khiên cung, cống hiến tri thức cho xã hội, những người sống có nhân có nghĩa như hai nhận vật văn học được yêu thích nhất của người Nam bộ là Lục vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga. Họ không phải là những "anh hùng" nhưng mỗi người đại diện cho một phẩm chất tốt đẹp mà cộng đồng trân trọng.

Mỗi con người hay mỗi nhân vật lịch sử, đều trở thành một phần ký ức của một không gian văn hoá cụ thể. Cũng giống như một dòng sông, một khu chợ hay một con đường cũ, có những con người chỉ cần được nhắc tên là cả một bối cảnh lịch sử hiện lên. Đó cũng là một di sản của cộng đồng.

3. Nam Phương Hoàng Hậu trong ký ức văn hóa Nam bộ

Nam Phương Hoàng hậu là một nhân vật của lịch sử Việt Nam hiện đại. Bà sinh ra ở Gò Công (theo một nghiên cứu mới là Gò Công thuộc Thủ Đức, TPHCM ngày nay), lớn lên trong một gia đình Công giáo giàu có và có ảnh hưởng ở Nam Kỳ, được giáo dục theo chương trình Pháp từ rất sớm, rồi trở thành hoàng hậu duy nhất của triều Nguyễn, hoàng hậu đầu tiên và cũng là cuối cùng trong giai đoạn xã hội Việt Nam có nhiều biến động lớn. Cuộc đời của bà vừa thuộc về triều đình Huế, vừa thuộc về đại gia đình ở Sài Gòn, lại vừa gắn với nước Pháp. Nhưng nơi còn lưu giữ nhiều nhất ký ức và cảm xúc lịch sử về bà, theo tôi là Sài Gòn/Nam Bộ. Vì vậy ký ức cộng đồng đã "đọc" Nam Phương bằng hệ giá trị Nam Bộ, sự yêu mến bà không hoàn toàn xuất phát từ lịch sử triều Nguyễn mà xuất phát từ ký ức văn hóa Nam Bộ.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình tiêu biểu và điển hình của tầng lớp thượng lưu, địa chủ Nam bộ có nhiều đóng góp của cải vật chất cho xã hội, Nam Phương là một trường hợp hội tụ nhiều yếu tố tưởng như đối lập nhưng lại hoà hợp lạ lùng. Nếu bỏ qua chiếc vương miện, bà vẫn là hình mẫu của một phụ nữ Nam Bộ nửa đầu thế kỷ 20: được dạy dỗ nghiêm khắc, giáo dục bài bản, thông thạo ngoại ngữ, tự tin trong môi trường quốc tế và mang theo những giá trị của gia đình, của đức tin và của phép ứng xử kết hợp nhuần nhuyễn Đông – Tây. Chính điều ấy khiến nhiều người miền Nam cảm thấy gần gũi với bà hơn là bởi địa vị Hoàng hậu cao sang.

Trong ký ức của nhiều gia đình Nam Bộ, đặc biệt là giới Công giáo hoặc tầng lớp trung lưu cũ thường dành nhiều thiện cảm đối với Nam Phương Hoàng hậu. Người ta ít kể về vị thế cung đình của bà mà thường kể về cô gái Gò Công học giỏi ở Pháp, tiểu thư nhà giàu nhưng khiêm nhường, về người phụ nữ trọn đạo làm dâu xứ Huế với những phép tắc nghiêm ngặt, về người vợ nền nã chưa từng gây chuyện ghen tuông với ông chồng Hoàng đế đào hoa, về mẹ lặng lẽ nuôi dạy các con sau khi cuộc hôn nhân tan vỡ, không tham gia chính trị, không viết hồi ký để công kích ai, giữ được phẩm giá trong cuộc sống lưu vong…

Chiếc mũ miện chỉ là một phần rất nhỏ trong cuộc đời bà. Điều còn lại trong ký ức nhiều người là hình ảnh một người phụ nữ bước qua những đổi thay lớn của xã hội, của chính cuộc đời mình mà không để mình trở thành trung tâm của những thị phi và ồn ào lịch sử. Có thể có chi tiết trong cuộc đời bà cần được kiểm chứng bằng tư liệu. Nhưng điều đáng chú ý là việc chúng được kể đi kể lại đã làm nên ký ức văn hóa của một cộng đồng. Mặt khác, Nam Phương Hoàng hậu trong ký ức ấy dường như không chỉ được nhớ như một nhân vật của triều Nguyễn. Bà còn được nhớ như một "người con của Nam Bộ". Nhắc đến bà, người ta nhớ Gò Công, nhớ gia đình Huyện Sỹ, nhớ Sài Gòn những năm đầu thế kỷ 20, nhớ những chuyến tàu vượt biển sang châu Âu, nhớ một thời mà Nam Bộ đang mở cửa với thế giới bằng thương mại, giáo dục và những khát vọng hiện đại hóa.

Nếu nhìn rộng hơn, Nam Bộ đầu thế kỷ 20 đã sản sinh một thế hệ phụ nữ rất đặc biệt. Họ không phải những "nữ anh hùng" theo nghĩa truyền thống, nhưng họ là những người phụ nữ đầu tiên học trường Pháp, biết ngoại ngữ, đi du học, điều hành doanh nghiệp, làm báo, hoạt động xã hội, làm từ thiện, gìn giữ nền nếp gia phong, xuất hiện trong không gian công cộng với tư cách xã hội bình đẳng với nam giới. Nam Phương là một trong số họ. Cho nên, có thể điều khiến nhiều người yêu quý bà không phải vì chiếc vương miện, mà vì bà đại diện cho hình ảnh người phụ nữ Nam Bộ hiện đại: có học thức, có lòng tự trọng, biết ứng xử trong cả không gian Á Đông lẫn phương Tây.

Có thể nhận thấy những cuộc tranh luận trên mạng xã hội về các nhân vật lịch sử đã thể hiện sự “va chạm” giữa những ký ức tập thể khác nhau. Mỗi cộng đồng, mỗi vùng miền, mỗi thế hệ, thậm chí mỗi gia đình đều mang theo một ký ức lịch sử riêng, những biểu tượng văn hoá khác nhau. Vì vậy, thái độ của từng người hay nhóm người hay một cộng đồng không chỉ phản ánh quan điểm đối với nhân vật lịch sử ấy, mà còn phản ánh ký ức văn hóa của chính họ và cộng đồng, phản ánh điều họ muốn gìn giữ là hệ giá trị của cộng đồng mình. 

TP. Hồ Chí Minh 9.7.2026.                                                                 Nguyễn thị Hậu

Bài viết ngắn gọn hơn trên Tạp chí Tia Sáng :
https://tiasang.com.vn/nam-phuong-hoang-hau-trong-ky-uc-van-hoa-nam-bo-5095949.html

 

 

PHÁT TRIỂN KINH TẾ DI SẢN TỪ TẠP CHÍ DU LỊCH



Nguyễn thị Hậu
Các tạp chí về du lịch đóng vai trò rất quan trọng trong việc quảng bá di sản văn hóa, nhưng không chỉ đơn thuần là "giới thiệu điểm đến". Chúng tham gia vào quá trình kiến tạo hình ảnh, diễn giải giá trị và định hướng cách công chúng cảm nhận về di sản. Là một người thường cộng tác với tạp chí Du lịch TPHCM, tôi nhận thấy nhiều tác động tích cực của tạp chí tới sự phát triển kinh tế di sản của thành phố nói riêng và cả nước nói chung.
* Giới thiệu và phổ biến tri thức về di sản
Đây là chức năng cơ bản nhất. Các bài viết, phóng sự, ảnh tư liệu giúp công chúng biết đến những di sản mà họ có thể chưa từng nghe tới. Ví dụ, các bài viết về Phố cổ Hội An thường không chỉ mô tả cảnh quan mà còn giới thiệu lịch sử thương cảng, kiến trúc nhà cổ, tập quán sinh hoạt của cư dân địa phương. Nhờ vậy, độc giả tiếp cận được những lớp thông tin văn hóa bên dưới vẻ đẹp bề mặt.
Hay đối với TP. HCM, mối quan hệ giữa di sản và kinh tế du lịch có những đặc điểm khá khác so với các địa phương được nhận diện chủ yếu bằng di sản như Huế hay Hội An. TP. HCM trước hết được biết đến là một trung tâm kinh tế, thương mại và dịch vụ lớn. Vì vậy, di sản văn hóa ở đây thường không phải là "đích đến duy nhất" của du khách mà là một thành tố giúp tạo nên bản sắc và chiều sâu cho trải nghiệm đô thị. Ở góc độ này, tạp chí du lịch như một kênh truyền thông khoa học đại chúng, chuyển tải tri thức chuyên môn sang ngôn ngữ dễ tiếp nhận để có thể nhận diện sự khác biệt của các trung tâm du lịch.
Khác với các công trình nghiên cứu hay hồ sơ di sản, tạp chí du lịch thường kể chuyện bằng hình ảnh, trải nghiệm và cảm xúc. Một ngôi đình cổ, một lễ hội truyền thống hay một làng nghề có thể trở nên gần gũi hơn khi được trình bày qua bộ ảnh chất lượng cao, các ký sự du lịch, câu chuyện về nghệ nhân hay những trải nghiệm của du khách. Quá trình này giúp "dịch" ngôn ngữ học thuật của di sản sang ngôn ngữ truyền thông đại chúng.
TP.HCM có thể có vẻ ngoài hiện đại giống nhiều đô thị lớn khác trong khu vực Đông Nam Á. Nhưng chính hệ thống di sản lịch sử – văn hóa giúp thành phố có một câu chuyện riêng để kể với du khách. Chỉ tính đến các công trình trong “vùng lõi di sản” như Ủy ban nhân dân TP, Chợ Bến Thành, Bưu điện Trung tâm, Nhà thờ Đức Bà, hay Lăng Ông Bà Chiểu, Bảo tàng Lịch sử, Thảo Cầm Viên, Dinh Độc lập... Tất cả không chỉ là điểm tham quan mà còn là những dấu mốc kể về quá trình hình thành một đô thị giao thương quốc tế hơn 300 năm. Nói cách khác, di sản cung cấp cho ngành du lịch "nội dung văn hóa" để khác biệt hóa sản phẩm du lịch đô thị.
Xu hướng du lịch hiện nay không chỉ là tham quan mà còn là trải nghiệm. TP.HCM có lợi thế đặc biệt ở chỗ di sản không tồn tại như những "bảo tàng ngoài trời" tách biệt với đời sống, mà vẫn đang hiện diện trong sinh hoạt hằng ngày, như khu phố người Hoa, các ngôi hội quán, hệ thống chợ truyền thống, các làng nghề ven đô, văn hóa cà phê, ẩm thực đường phố, ký ức về thương cảng Sài Gòn... Đây là những nguồn lực rất phù hợp để phát triển du lịch văn hóa và du lịch trải nghiệm, vốn tạo giá trị kinh tế cao hơn mô hình tham quan đơn thuần
* Xây dựng thương hiệu văn hóa cho địa phương
Nhiều địa phương được nhận diện thông qua các hình ảnh văn hóa được lặp lại trên báo chí và tạp chí du lịch. Ví dụ như Huế gắn với di sản cung đình và văn hóa triều Nguyễn; Hội An gắn với phố cổ và đèn lồng; Đà Lạt gắn với kiến trúc, cảnh quan và văn hóa cao nguyên...
Trong bối cảnh hiện nay, cần nhìn di sản không chỉ như đối tượng bảo tồn mà còn là nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp văn hóa. Các bảo tàng, triển lãm, lễ hội, sản phẩm lưu niệm, xuất bản phẩm, phim ảnh, truyền thông số, thiết kế sáng tạo đều có thể khai thác chất liệu từ lịch sử và văn hóa Sài Gòn – Gia Định. Điều này phù hợp với định hướng phát triển công nghiệp văn hóa của Thành phố Hồ Chí Minh, nơi di sản trở thành một nguồn vốn văn hóa có khả năng tạo ra giá trị kinh tế mới. Thông qua sự lặp lại có chủ đích của các biểu tượng văn hóa, tạp chí góp phần hình thành "thương hiệu di sản" cho địa phương.
Một đóng góp quan trọng của các tạp chí du lịch hiện đại là mở rộng khái niệm di sản. Nếu trước đây trọng tâm thường là công trình kiến trúc hoặc danh lam thắng cảnh, thì ngày nay nhiều tạp chí chú ý hơn tới nghệ thuật trình diễn dân gian, ẩm thực, nghề thủ công, tập quán xã hội, đặc biệt là ký ức cộng đồng.
Ví dụ, khi viết về phở hay mỳ quảng, hay món ăn đường phố của Sài Gòn... tạp chí không chỉ quảng bá món ăn mà còn giới thiệu lịch sử giao lưu văn hóa, kỹ thuật chế biến và đời sống cộng đồng gắn với chúng. Nhiều di sản ít được biết đến đã nhận được sự quan tâm rộng rãi sau khi xuất hiện trên các tạp chí du lịch trong nước và quốc tế... Từ đó tạo động lực cho bảo tồn di sản, thông qua sự quan tâm của công chúng và du khách, tạo nguồn lực cho công tác bảo tồn từ tăng doanh thu du lịch, thu hút đầu tư, nâng cao nhận thức cộng đồng, khuyến khích chính quyền địa phương chú ý hơn tới việc bảo tồn.
Tuy còn có một số bài viết về di sản trên các tạp chí du lịch có thể tạo ra cảm giác thương mại hóa hình ảnh di sản, thường tập trung vào các yếu tố "đẹp" và "hấp dẫn" đối với du khách mà làm lu mờ tiếng nói của cộng đồng sở hữu di sản. Nhưng các tạp chí du lịch đã chú ý xu hướng hiện nay là quảng bá di sản theo hướng du lịch có trách nhiệm, nhấn mạnh tính xác thực, sự tham gia của cộng đồng và phát triển bền vững.
* Tạp chí Du lịch TP. HCM và bạn đọc
Tạp chí Du lịch TP.HCM là một trường hợp khá thú vị, bởi tạp chí này không chỉ là một cơ quan báo chí chuyên ngành du lịch mà còn đang dần trở thành một diễn đàn về văn hóa, di sản và bản sắc đô thị của TP. HCM. Những định hướng mà Tạp chí Du lịch TP. HCM theo đuổi như "ký ức đô thị", "di sản sống", "văn hóa hẻm", "du lịch sông nước đô thị", "công nghiệp văn hóa" đã xuất hiện ngày càng nhiều trên tạp chí.
Vì vậy, trong mắt bạn đọc chuyên môn, Tạp chí Du lịch TP.HCM có thể được xem không chỉ là một tạp chí du lịch, mà đang từng bước trở thành một diễn đàn kể câu chuyện về bản sắc và ký ức của thành phố thông qua du lịch. Đây có lẽ cũng là hướng đi phù hợp nhất với một đô thị như TP.HCM trong giai đoạn hiện nay. Nếu còn cơ hội để có thể đầu tư bài bản hơn, Tạp chí Du lịch TP. HCM có thể trở thành một diễn đàn quan trọng hàng đầu cả nước về "du lịch di sản đô thị", một lĩnh vực mà hiện nay Việt Nam vẫn còn rất nhiều tiềm năng chưa được khai thác đầy đủ.
Bên cạnh đó việc định hình diễn ngôn về di sản là khía cạnh sâu hơn và thường được các nhà nghiên cứu truyền thông, văn hóa quan tâm. Cách lựa chọn chủ đề, hình ảnh và ngôn ngữ của tạp chí Du lịch TPHCM đã có ảnh hưởng đến nhận thức xã hội về giá trị của di sản.Vì vậy, Tạp chí du lịch không chỉ phản ánh di sản của TPHCM và nhiều vùng miền khác, mà còn lựa chọn cách kể về di sản, để thấy được những giá trị đa dạng của Di sản như tài nguyên kinh tế, biểu tượng bản sắc dân tộc, ký ức lịch sử cá nhân và cộng đồng... và làm thế nào để biến tất cả thành một sản phẩm trải nghiệm cho du khách.
Có thể nói, các tạp chí du lịch là một dạng "trung gian văn hóa" giữa di sản và công chúng. Chúng không chỉ quảng bá điểm đến mà còn tham gia vào quá trình diễn giải, kiến tạo hình ảnh và định hình giá trị của di sản trong đời sống đương đại. Vì vậy, mong rằng lĩnh vực du lịch và di sản sẽ tiếp tục hiện diện trên những tờ báo, trang báo online, để có thể tiếp tục kể câu chuyện về các di sản văn hóa Việt Nam và thế giới, góp phần phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

"ÁP LỰC" TỪ MỘT BÀ ĐỠ NGHIÊM KHẮC VÀ TỬ TẾ

 

Tuổi Trẻ cuối tuần trong tôi.

Tuổi Trẻ Cuối Tuần là tờ báo tôi được bén duyên rất sớm! Là một người làm công tác nghiên cứu lịch sử và khảo cổ, khi bắt đầu cộng tác với tờ báo là tôi biết mình bước vào một không gian văn hóa một địa chỉ lan tỏa tri thức. Những cộng tác viên đồng thời là độc giả lâu năm với tờ báo như tôi hiểu rằng: TTCT dừng lại, không đơn thuần là sự vắng mặt của một ấn phẩm mà là sự khép lại của một diễn đàn trí thức đầy bản lĩnh – nơi lịch sử chưa bao giờ bị coi là chuyện của quá khứ xa xôi mà luôn là mạch ngầm chảy trong đời sống hôm nay.

Nhiều người thường nghĩ viết báo cho đại chúng là một cuộc dạo chơi nhẹ nhàng của những nhà nghiên cứu. Nhưng với riêng tôi, mỗi lần nhận lời viết bài cho TTCT là một lần tự đặt mình vào một thử thách, bởi vì Tòa soạn không cần những bài luận bàn lý thuyết suông. Áp lực lớn nhất mà các biên tập viên TTCT luôn đặt ra cho cộng tác viên trước các vấn đề xã hội chính là: Làm sao để chạm vào số đông? Làm sao để câu chuyện học thuật “cao siêu” trở thành câu chuyện gần gũi của mỗi gia đình?

Với tôi thách thức đó hiện lên ở mảng đề tài dạy sử và học sử. Trên trang báo TTCT, tòa soạn đã nhiều lần cùng các chuyên gia đi tìm lời giải cho câu hỏi nhức nhối: Vì sao học sinh chán sử? Làm sao để việc học sử không còn là gánh nặng của những mốc thời gian hay những con số khô khốc? Từ câu chuyện nhỏ của một cậu bé học lớp 5, trước kỳ thi cháu học mãi vẫn không thể thuộc tên các loại rìu đá và nơi tìm ra chúng. Tôi nhận ra những kiến thức đời thường khi trở thành lịch sử trong sách giáo khoa lại trở nên xa lạ và khó hiểu. Khó khăn của người viết lúc này là phải bước ra khỏi những định kiến thông thường, dùng lăng kính khoa học để lý giải một thực tế: lịch sử đang tách rời khỏi dòng chảy xã hội và sự quan tâm của người trẻ, nhất là học sinh phổ thông.

Và cũng từ những trăn trở về giáo dục ấy, TTCT đã gợi mở, đồng hành cùng tôi đi sâu vào một lát cắt vô cùng ý nghĩa: Lịch sử gia đình, dòng họ. Các bài viết của GS Ngô Vĩnh Long, nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân đã mang lại một cách nhìn mới: lịch sử đất nước không ở đâu xa xôi, nó được viết nên từ lịch sử của từng ngôi nhà, từ nếp nghĩ, gia phong, và từ chính những góc phố, hàng cây, ngôi trường cổ mà ông bà, cha mẹ và con cháu cùng từng đi qua. Khi một đứa trẻ không còn những không gian vật chất để cùng sẻ chia ký ức với thế hệ đi trước, sợi dây liên kết thiêng liêng với lịch sử dân tộc sẽ bị đứt gãy. Đó chính là cách học sử tự nhiên và bền vững nhất.

Nhắc lại điều này để thấy, việc bảo tồn không gian di sản chính là đang bảo tồn một "giáo cụ trực quan" sống động nhất cho việc học sử và giữ gìn gia phong. Điều này đã khích lệ tôi giới thiệu cuốn sách tự thuật “Lưu niên ký sự” của ông nội tôi, một công trình ghi chép tỉ mỉ về một gia đình, qua đó là một dòng họ ở Nam bộ trong giai đoạn cuối thế kỷ 19 – giữa thế kỷ 20. Qua đó góp phần tìm hiểu lịch sử, văn hóa và con người Nam bộ.

Từ năm 2010 trên trang báo này, tôi đã chia sẻ về sự biến mất của những "không gian công cảm" – những không gian công cộng, những công trình kiến trúc cổ nơi lưu dấu ký ức chung của nhiều thế hệ. Hai nhà báo Phan Cầm và Khổng Loan đã đặt câu hỏi cho tôi trong bài phỏng vấn đầu tiên về di sản đô thị Sài Gòn:  Khi những không gian công cộng, những di sản vật thể quanh ta bị xóa bỏ, người trẻ sẽ tìm đâu ra cái "neo" để gắn kết với quá khứ? Vai trò cũa những nhà khảo cổ, nhà nghiên cứu như chúng tôi đang ở đâu trong tình trạng di sản ngày càng hao hụt, biến dạng? Đó không chỉ là một câu hỏi mà tôi hiểu, đó là vấn đề trách nhiệm của giới nghiên cứu khi vẫn loay hoay trong không gian học thuật hàn lâm, mà chưa bước ra tiếp cận thực tiễn và giải quyết các vấn đề một cách trực diện!

Đáng buồn nhiều vấn đề được đặt ra từ ngày ấy đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự, thậm chí trở nên “bình thường” khi tốc độ và quy mô xâm hại di sản thiên nhiên ngày càng lớn, di sản văn hóa bị khai thác thương mại hóa ngày càng nhiều.

Nhiều năm cộng tác với Tuổi Trẻ Cuối Tuần tôi hiểu viết về di sản văn hóa chưa bao giờ là việc dễ dàng, bởi vì tòa soạn luôn đòi hỏi một cái đầu lạnh của người nghiên cứu và một trái tim nóng của người yêu văn hóa. Chính sự khắt khe ấy đã giúp nâng tầm những bài viết về văn hóa gia đình, về phương pháp dạy sử từ chỗ tưởng như là góc nhìn cá nhân trở thành một vấn đề xã hội có tầm ảnh hưởng nhất định. Viết về di sản rất dễ đụng chạm đến vấn đề bất động sản, nhưng Tòa soạn đã cho những người làm nghiên cứu một điểm tựa truyền thông vững chắc, để chúng tôi hiểu rằng mình không hề cô độc trong nỗ lực bảo tồn các di tích lịch sử, chỉ ra nguyên nhân của những xâm hại phá bỏ di sản... Từ đó đưa những giá trị di sản gần với đời sống, về với giá trị cốt lõi của xã hội.

Bên cạnh đó tòa soạn còn nâng tầm nhiều bài viết không chỉ ở mức thông tin, mà trở thành những tiếng chuông cảnh tỉnh, góp phần giữ lại từng di tích, từng lễ hội, từng sinh hoạt cộng đồng với những giá trị nguyên vẹn của nó. Tôi nhớ mãi TTCT đã đặt tựa cho một bài viết của tôi “Đừng để chìm chợ nổi” mang tính hấp dẫn của báo chí đồng thời cũng là lời cảnh báo khẩn thiết cho một di sản văn hóa sông nước ở đồng bằng sông Cửu Long.

Tôi và nhiều người vẫn quen với thương hiệu TTCT dù báo đã chuyển qua cuối tháng từ đầu năm 2026. Nhưng rồi TTCT cũng đi đến số cuối, những trang báo in thơm mùi mực, những trang online quen thuộc rồi sẽ trở thành một phần di sản của báo chí đương đại. Nhưng với tôi, tinh thần khoa học, sự tử tế và cái tâm giữ gìn "ký ức lịch sử" mà Tuổi Trẻ Cuối Tuần thắp lên sẽ không bao giờ lụi tàn. Nó đã kịp bén rễ sâu trong lòng độc giả và trong hành trình nghề nghiệp của những cng tác viên. Từng trang báo đã nhắc nhở chính chúng ta cách ứng xử với quá khứ và đối thoại với tương lai.


Tháng 6. 2026. Nguyễn Thị Hậu


 

VÀI KỶ NIỆM VỚI BÁO CHÍ TPHCM

 Từ tuần trước đến ngày 30.6.2026, những tờ báo ở TPHCM bị giải thể đã xuất bản những tờ báo in số cuối cùng, ngày mai, 30/6/26 sẽ có những số đặc biệt chào tạm biệt bạn đọc. Là một bạn đọc và ít nhiều là cộng tác viên của những tờ báo đó, lại thân thiết với không ít bạn làm báo từ quản lý đến nhà báo, phóng viên... Thật khó có thể chỉ chia sẻ bằng những lời nói với các bạn!

Báo Phụ nữ TP – những lần đầu tiên

Năm 1998 lần đầu tiên tôi được phỏng vấn là từ báo Phụ nữ Tp, lúc đó tôi vừa bảo về luận án TS.KCH về Cần Giờ xong thì chủ trì khai quật Lò gốm cổ Hưng Lợi, và được bổ nhiệm làm Phó Giám đốc BTLS. Có thể coi đó là sự mở đầu của tờ báo này với những cái “đầu tiên” của tôi. Thật ra truyện ngắn đầu tiên của tôi được PNTP đăng từ 1981 (sau đó... tôi không viết gì nữa cho đến khoảng 2005 mới bắt đầu viết lại). Báo PNTP cũng là tờ báo đầu tiên PV tôi về cuốn sách “Đô thị SG-TPHCM Khảo cổ học và bảo tồn di sản” khi mới xuất bản, và sau đó khi cuốn sách này được giải thưởng của Hội Quy hoạch phát triển đô thị VN. Một giải thưởng tôi rất quý vì nó đã ghi nhận vai trò của KCH đô thị đối với bảo tồn di sản trong quy hoạch phát triển các thành phố ở VN.

Với PNTP tôi còn có nhiều bài trả lời PV về các vấn đề xã hội và di sản văn hóa, vài tùy bút, tản văn đăng ở đây, và sau còn được làm giám khảo một cuộc thi viết về TPHCM, kết quả được in thành sách. Còn sự yêu thích nhất thì tôi khoái đọc “chị Hạnh Dung” vì sự hóm hỉnh, hồn hậu và cũng rất đàn bà – hiện – đại. Mọi vấn đề cứ nhìn nhận nhẹ nhàng và rồi sẽ tìm ra cách giải quyết. Phụ nữ rất cần một cách sống như vậy 😊



Báo Pháp luật TP – những mẩu ký ức Sài Gòn

Khi nhà báo Lê Văn Nghĩa rủ, Hậu ơi anh em mình viết gì về SG nhé, anh giữ một chuyên mục trên PLTP, thì tôi nhận lời với chút dè dặt. Em viết được không ạ, vì chỉ mới biết về Sg từ sau 1975? Được chứ, em cứ viết như em cảm nhận, SG luôn thay đổi nhưng vẫn giữ bên trong hồn cốt của nó, nghề của em là phải nhìn ra điều đó! Lời động viên này của anh Lê Văn Nghĩa đến giờ vẫn giúp tôi động lực để viết về SG, bởi Sài Gòn đâu của riêng ai, SG càng không giới hạn ai được viết, được thể hiện tình yêu với nó!

Từ những bài viết nhỏ về SG trên PLTP tôi có một tập sách cũng nhỏ “Sài Gòn bao giờ cũng thế”, với đoạn cuối của Lời mở đầu: “Nếu một lần nữa bắt đầu cuộc sống và được lựa chọn nơi mình muốn sống, tôi vẫn chọn Sài Gòn. Vì bạn biết không, chẳng bao giờ là muộn để ta có thể nói với thành phố này: TẠ ƠN ĐẤT LÀNH!” [nguyên văn câu cuối là “Sài Gòn – Em yêu anh!” – biên tập đọc xong đề nghị sửa lại, chứ không thì khối anh đánh nhau vì chị đấy 😊 ]

Những năm gần đây hầu như Tết nào tôi cũng có 1 bài về di sản đô thị “hoành tráng” ở ngay trang giữa của cuốn báo tết PLTP. Tôi rất cám ơn dụng ý của báo muốn nhấn mạnh về ý nghĩa và giá trị văn hóa của TP! Nếu tôi không nhầm thì PLTP đã đặt vấn đề “phố của sông – sông của phố” nhấn mạnh giá trị và vai trò của sông SG với TPHCM từ rất sớm! Kiên trì quảng bá về di sản đô thị và văn hóa TP bên cạnh nội dung chủ yếu của mình, đó là điều làm tôi luôn quý trọng ở báo PLTP.


Báo Người lao động – nơi cho tôi cơ hội có nhiều giải thưởng báo chí

Từ khi nghỉ hưu tôi mới có dịp cộng tác với báo Người Lao động, cũng bắt đầu từ mảng văn hóa – xã hội. Năm 2015, từ đặt bài của nhà báo Dương Quang “đã nhiều người viết về TRịnh Công Sơn, em muốn chị viết một cách khác về TRịnh, và em biết chị viết được, chị viết nhé!”, bài viết trên NLĐ “Từ ngày mẹ cho” về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từ ký ức và cảm nhận riêng tôi về nhạc Trịnh, đã được nhiều bạn đọc đồng cảm.

Hàng năm, các anh chị thường nhắn, báo đang làm chủ đề này này... chị giúp cho một bài nhé. Chủ đề nào cũng gắn với nghiên cứu và quan tâm của tôi nên tôi chưa từ chối bao giờ 😊 Và nhờ vậy tôi đã có 3 lần đạt Giải báo chí quốc gia và thành phố từ báo NLĐ, trong các tuyến bài Nghị luận xã hội. Ngoài ra còn có nhiều bài về khảo cổ đô thị và các vấn đề văn hóa, tôi cũng luôn được toàn soạn tin tưởng đặt bài. Năm 2026 tôi còn tham gia 2 cuộc thi viết ngắn do NLĐ tổ chức, để cám ơn sự đồng hành của báo với nhiều vấn đề gai góc của đời sống hàng ngày. Báo NLĐ cũng là tờ báo tổ chức nhiều sự kiện văn hóa và hoạt động xã hội mang lại hiệu quả cao! Bữa hôm phát giải cuộc thi “Thành phố tôi yêu”, chia tay các anh chị ở báo NLĐ mà buồn quá! Thương những người lao động thành phố sẽ thiếu vắng một món ăn tinh thần bổ ích!



Còn báo Tuổi trẻ, Tuổi trẻ cuối tuần/tháng, Doanh nhân Sài Gòn thì mình được các anh chị mời viết bài cho số cuối. Mình sẽ post sau.

Một lời cám ơn riêng tư: khi má mình mất, những người đầu tiên và những vòng hoa gửi đến viếng đầu tiên là từ các tờ báo của TP mà mình có dịp cộng tác. Không bao giờ mình quên điều này! Đó là một ân tình mà mình luôn cố gắng đền đáp, dù có thể đó chỉ là là phép tắc ứng xử thông thường giữa những con người.



CÁM ƠN THÀNH PHỐ THÂN THƯƠNG

 TC Xưa và Nay số ra ngày 26.6.2926


Nửa thế kỷ — một đời người, và cũng là một chương lịch sử đầy thăng trầm nhưng vô cùng kiêu hãnh của thành phố này. Là một người đã sống và gắn bó trọn vẹn 50 năm qua tại đây, nghĩ lại quãng đường dài đã qua trong tôi dâng lên một cảm xúc khó tả. Đó là sự đan xen từ tự hào cho đến những khoảng lặng hoài niệm.

Năm 1976, sau những ngày hòa bình đầu tiên đầy xúc động và ngỡ ngàng, thành phố bước vào thời kỳ mới sau chiến tranh với muôn vàn khó khăn của thời bao cấp. Ký ức thời ấy hiện diện trong mỗi người là những xếp hàng rồng rắn mua gạo mua củi theo sổ hộ khẩu, là những chiếc xe đạp cọc cạch chở hàng hóa trên đường phố thưa thớt ánh đèn, là những xóm nhà lá kênh đen ngay giữa lòng thành phố, là vùng ngoại ô ruộng lầy, nước ngập mênh mông khi triều cường.

50 năm sau, thành phố bây giờ mở rộng hơn nhiều lần, dân cư đông hơn, đa dạng hơn. Những đại lộ thênh thang, những tòa nhà cao tầng, hệ thống Metro hiện đại, cảnh quan thoáng đãng ven nhiều kênh rạch và một nhịp sống số hóa hối hả không ngủ. Một không gian mới mở ra cả 3 chiều: địa lý – lịch sử và ký ức, mang lại cho TPHCM một diện mạo mới mẻ. Nhìn lại hành trình 50 năm ấy người ta không khỏi kinh ngạc. Sự thay đổi không chỉ nằm ở những khối bê tông, những cây cầu vượt, mà là biểu tượng cho sức sống mãnh liệt, khả năng tự đứng dậy và vươn mình của một vùng đất.

Tháng 7.1976 cũng là thời điểm thành phố Sài Gòn – Gia Định chính thức mang tên TP. Hồ Chí Minh. Từ đó đến nay người dân thành phố có niềm tự hào về "cái chất" suốt 50 năm qua không bao giờ mai một: lòng bao dung và tinh thần nghĩa hiệp của con người nơi đây.

Người sống ở đây 50 năm đã chứng kiến thành phố này dang tay đón nhận biết bao cuộc đại di cư từ khắp mọi miền đất nước. Ai đến đây cũng được thành phố cho một cơ hội để mưu sinh, để đổi đời. Tự hào làm sao khi đi qua bao nhiêu biến động, từ những năm tháng gian khó cho đến những ngày gồng mình chống chọi với đại dịch, cái chất "bầu ơi thương lấy bí cùng", những bình trà đá miễn phí, những quán cơm xã hội, và tình người ấm áp vẫn cứ thế chảy tràn t các ngôi nhà trong con hẻm nhỏ đến những biệt thự mặt tiền đường lớn. Thành phố không chỉ lớn hơn về tầm vóc kinh tế, mà còn lớn hơn ở cái tâm thế của một trung tâm văn hóa, nơi hội tụ và dung hòa mọi sự khác biệt.

Bên cạnh niềm vui nhìn thấy thành phố phát triển, người sống ở đây nửa thế kỷ không tránh khỏi những phút giây chạnh lòng, tiếc nuối cho những giá trị cũ dần lùi xa.

Đó là nỗi nhớ những kiến trúc và cảnh quan xưa ở trung tâm - chứng nhân của thời kỳ đầu tiên xây dựng thành phố - nay đã bị thay thế bằng các trung tâm thương mại lấp lánh kính và thép. Những hàng cây cổ thụ hơn trăm tuổi nhường chỗ cho chiếc cầu hiện đại, nhiều di sản công nghiệp biến thành khu đô thị mới, mai này không ai còn biết thành phố từng là một trung tâm công nghiệp sớm nhất cả nước... Đó là sự tiếc nuối cho một nhịp sống có phần thong thả, bình yên ngày xưa, nay thay bằng sự ồn ào ngày đêm của kẹt xe, khói bụi và phát triển kinh tế của một đô thị siêu lớn với các tầng lớp dân cư ngày càng phức tạp.

Nửa thế kỷ trôi qua, đối với một người đã gắn bó 50 năm như tôi, thành phố này không còn là một địa danh trên bản đồ nữa. Nó là tuổi trẻ, là một phần cuộc đời tôi! Thế hệ chúng tôi - những người sinh ra trong chiến tranh và lớn lên trong hòa bình – tự hào vì đã góp phần không nhỏ vào sự đổi thay của thành phố và đất nước!

Vào những dịp lễ lớn, những “người Sài Gòn” đến từ mọi miền đất nước từ những năm 1975, 1976 sẽ ngồi lại với nhau một góc quán quen, nhìn dòng người hối hả ngược xuôi. Không cần nhiều lời bời vì trong mỗi người luôn có một lời cám ơn: Cảm ơn Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh vì đã cùng nhau đi qua giông bão, cảm ơn vì đã lớn mạnh, và cảm ơn vì đã luôn là ngôi nhà đầm ấm, thân thương cho những ai chọn nơi này là quê hương thứ hai!

Nguyễn Thị Hậu 





 

SÀI GÒN TÌNH NGHĨA – KHI BÁO CHÍ CŨNG LÀ MỘT PHẦN CỦA DI SẢN ĐÔ THỊ

https://thethaovanhoa.vn/tphcm-di-san-hien-dai-va-nghia-tinh-bai-2-khi-bao-chi-cung-la-mot-phan-cua-di-san-nghia-tinh-do-thi-202607031103294...