"Lịch sử cần mang ‘khuôn mặt’ con người"

 Nhân dịp 51 năm đất nước liền một dải, cùng trò chuyện với tiến sĩ khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu để trả lời cho câu hỏi: Làm sao để lịch sử có thể hiện diện trong đời sống của người trẻ thay vì chỉ lướt qua như ‘hồi ức mùa vụ’?

Mỗi dịp lễ 30/04, 02/09, những câu chuyện lịch sử thường được nhắc lại dày đặc trên truyền thông, mạng xã hội và trong các sản phẩm văn hóa, với nhiều cách kể và góc nhìn khác nhau. Nhờ đó, lịch sử trở nên sống động và dễ tiếp cận hơn, đặc biệt với người trẻ.

Ở góc nhìn rộng hơn, hiện tượng này cũng xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới. Theo tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu, việc lịch sử được “kích hoạt” mạnh mẽ vào các dịp kỷ niệm là xu hướng phổ biến trong bối cảnh truyền thông, công nghiệp văn hóa phát triển và trở thành cơ hội để công chúng hiểu lịch sử sâu sắc hơn.

Ký ức lịch sử không mất đi nhưng được gợi nhắc và hiện diện rõ nét vào những dịp như vậy. Đây là cơ hội để công chúng nhớ đến các sự kiện, từ đó quan tâm tìm hiểu và sẽ hiểu lịch sử sâu sắc hơn, Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu.

Vì vậy, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để kể lại lịch sử hấp dẫn hơn và là làm sao để nó có thể hiện diện bền vững trong đời sống của công chúng, bám rễ vào từng ngóc ngách xã hội.


Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 1
Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu


Lịch sử cần mang ‘khuôn mặt’ con người


Lịch sử hiếm khi “ở lại” trong ký ức tập thể nếu chỉ tồn tại như chuỗi niên biểu hay những mốc sự kiện được đóng khung trong sách giáo khoa. Các nghiên cứu về ký ức văn hoá cho thấy con người không ghi nhớ quá khứ như một hệ thống dữ kiện mà như một tập hợp những câu chuyện có nhân vật, cảm xúc và xung đột. Nhà xã hội học Maurice Halbwachs từ đầu thế kỷ XX đã chỉ ra rằng ký ức luôn mang tính tập thể và được kiến tạo thông qua những khuôn khổ xã hội (Les cadres sociaux de la mémoire, 1925). Nói cách khác, chúng ta nhớ không phải vì sự kiện đã qua mà vì nó được kể lại theo cách khiến cộng đồng có thể đồng cảm và nhận diện chính mình trong đó.

Lịch sử càng mang gương mặt, câu chuyện cụ thể thì càng hấp dẫn, Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu.

Càng lùi xa những sự kiện lịch sử thì người ta càng có cơ hội nhìn lại sự kiện đó bằng “con tim” chứ không chỉ bằng “khối óc”, tức là nhìn lại nó bằng trải nghiệm cá nhân chứ không bằng cách nhìn của đám đông vào thời điểm đó. Vì thế, lịch sử chỉ thực sự sống khi nó mang gương mặt con người. Đó có thể là sự chia ly với quê hương, với gia đình để “di cư” hay “tập kết” hồi năm 1954, là lá thư người con viết vội trước giờ ra trận. Là hình ảnh người mẹ đứng lặng nơi sân ga khi chuyến tàu chở những người lính dần khuất bóng. Là những lời hẹn chưa kịp thực hiện, là khi tình yêu nhỏ nhường chỗ cho tình yêu lớn hơn. Những điều tưởng như rất nhỏ ấy lại có sức bền hơn cả những bản tường thuật dài dòng về chiến thắng hay thất bại. Bởi vì, chiến tranh không chỉ là những con số lạnh lùng trên giấy mà là những con người cụ thể có cảm xúc có tình yêu, có cuộc sống bình thường như chúng ta hiện nay.


Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 2


Như nhà sử học như E. P. Thompson lập luận rằng chính đời sống thường nhật mới là nơi lịch sử thực sự diễn ra, và việc khôi phục tiếng nói của những cá nhân này không chỉ làm đầy khoảng trống tư liệu mà còn tái cấu trúc cách chúng ta hiểu về quá khứ.


Lịch sử ở ngay cạnh bên


Nhìn theo cách đó, lịch sử gần hơn ta nghĩ. Đó chính là những câu chuyện quen thuộc được kể lại trong các bữa cơm, những tấm hình gia đình trong album hay trong ký ức của ông bà về một thời đã qua. Đó là những con đường, những công trình, di tích mà ta đi qua mỗi ngày.

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng con người thường gắn ký ức với những địa điểm cụ thể. Nhà sử học Pierre Nora gọi đó là những “lieux de mémoire” (không gian ký ức), tức những điểm neo của ký ức tập thể. Thuật ngữ này đề cập đến cả những hình thức hữu hình như tượng đài, bảo tàng, nghĩa trang lẫn những yếu tố vô hình như ký ức, cảm xúc... Không gian ký ức không chỉ là dấu ấn sự kiện quan trọng, mà còn phản ánh trong cuộc sống đời thường con người đã sống và kiến tạo văn hóa như thế nào?

Lịch sử đến từ gia đình của mình, từ chính nơi mình sống, Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu.


Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 3


Mỗi công trình đều là kết quả của nhiều lựa chọn và phản ảnh dấu vết thời gian trong một giai đoạn cụ thể. Vậy, lịch sử nên được tìm hiểu bằng các câu hỏi hơn là đọc câu trả lời có sẵn. Vì sao con đường này có tên này? Điều gì đã diễn ra trong một khu chợ vô danh trước đây? Và lịch sử sẽ trả lời qua những thứ tưởng như lặng lẽ, từ những vết nứt trên bức tường trong xóm, con hẻm uốn lượn, lát gạch nơi chung cư cũ đã nằm đó trăm năm... nếu chúng ta biết đặt câu hỏi cho những gì quá khứ để lại.

Chính vì thế, những thứ ít được nhìn dưới góc độ lịch sử và dễ bị bỏ qua lại chính là nơi lịch sử đã âm thầm tồn tại như một lớp trầm tích của đời sống xã hội. Nó không cần ồn ào để được chú ý cũng không áp đặt để được ghi nhớ mà đi vào nhận thức của công chúng thông qua những chi tiết thân quen. Bởi vì, lịch sử được làm nên từ những con người cụ thể, từ những việc làm bình dị.


Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 4


Khi tiếp cận lịch sử từ những trải nghiệm gần gũi như vậy, ta không còn đứng ngoài để quan sát nó như một đối tượng xa lạ. Ta bắt đầu nhận ra mình đang ở trong chính dòng chảy ấy. Sự kết nối này không đòi hỏi phương thức phức tạp, chỉ cần chúng ta bước chậm lại, quan sát kỹ hơn và lắng nghe những câu chuyện tưởng như đã quá quen thuộc.


Để lịch sử rời khỏi lớp vỏ hàn lâm, khép kín


Tuy nhiên, “kể lại” chưa phải là đích đến. Như tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu từng nhấn mạnh, điều quan trọng không nằm ở hình thức mới mẻ đến đâu mà là ở việc câu chuyện đó có khiến người xem dừng lại để “tự vấn” hay không. Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực sử học chỉ ra rằng việc đặt ra những câu hỏi mang tính truy vấn: Vì sao một sự kiện xảy ra, nó diễn ra trong bối cảnh nào, được nhìn từ những góc độ khác nhau ra sao và có mối liên hệ thế nào với hiện tại... chính là chìa khóa để biến việc “biết” thành “hiểu”. Khi người xem bắt đầu tự hỏi, họ không còn đứng ngoài câu chuyện nữa mà đã bước vào trong đó.

Trong bối cảnh công nghệ khiến mọi thứ trôi qua nhanh như một cú lướt tay, lịch sử nếu chỉ xuất hiện như những thông tin rời rạc, những sự kiện tách khỏi bối cảnh của nó thì rất dễ bị hiểu sai hoặc quên lãng. Có lẽ vì thế, người trẻ không còn tiếp cận lịch sử theo cách cũ, họ thích tiếp cận lịch sử bằng những cách thức linh hoạt hơn, gần với nhịp sống của mình hơn. Một video ngắn vài chục giây, một tập podcast kể lại một lát cắt nhỏ, hay một dự án cá nhân ghi chép về ký ức đô thị… tất cả đều là những cách để lịch sử được nói lại bằng giọng điệu của hiện tại. Khi đi qua những câu chuyện đời thường và góc nhìn cá nhân, lịch sử không còn là điều xa xôi nhưng trở thành thứ có thể chạm vào, có thể hiểu theo cách riêng.

Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 5

Những tác phẩm văn học - nghệ thuật về chiến tranh, thay vì chỉ kể lại một trận đánh, một sự kiện bi tráng theo tuyến tính, nếu đi vào những lựa chọn rất cụ thể, những giằng xé, mất mát và khoảnh khắc lặng im của từng nhân vật, thì ở đó họ không chỉ đại diện cho một tập thể mà hiện lên với trải nghiệm rất riêng. Từ đó, câu chuyện mở ra hàng loạt câu hỏi cho người đọc, người xem, thay vì chấp nhận một góc nhìn duy nhất. Chính những điểm chạm cảm xúc và khoảng trống để suy tư này khiến việc tiếp nhận lịch sử không dừng lại mà trở thành ký ức nhân văn của cộng đồng. Đồng thời lịch sử trở thành một nhận thức mới vượt qua những điều đã biết.

Nếu lịch sử chỉ dùng những phương tiện kỹ thuật mới để kể cho nhanh, xem cho biết, thì cũng sẽ nhanh chóng bị thay thế bởi những nội dung mới hơn cách trình bày hấp dẫn hơn.

Vì vậy, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu cho biết mọi nỗ lực làm mới cách kể lại lịch sử không thể tách rời nền tảng cốt lõi của lịch sử là sự tôn trọng sự thật và học được điều gì từ quá khứ? Những câu chuyện giàu cảm xúc hay góc nhìn cá nhân chỉ thực sự có ý nghĩa khi được xây dựng trên dữ kiện đã được kiểm chứng. Bởi một khi ranh giới giữa sáng tạo và hư cấu bị xóa nhòa thì lịch sử rất dễ bị hiểu sai hoặc bị giản lược theo cảm tính hay định kiến. Vì vậy, vấn đề là tìm được cách thể hiện sao cho vừa tạo ra “cảm xúc lịch sử” chạm đến người xem, vừa giữ được giá trị khoa học vì mang lại nhận thức và bài học hữu ích từ quá khứ.


Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh

Ảnh: Cécile Uyên Phương

SÀI GÒN - TP.HCM NÉN MẠNH NHẤT SỨC SỐNG NAM BỘ

Vì sao chiếc tắc ráng, Cần Giờ và chợ Bình Tây có thể “đại diện” cho một Nam Bộ, một Sài Gòn – TP.HCM luôn biết dung hòa và tự làm mới mình? TS Nguyễn Thị Hậu - Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử TP.HCM, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển TP.HCM trò chuyện cùng Báo Thanh Niên
Nam Bộ không chỉ cởi mở mà còn biết tự làm mới mình
Nếu phải mô tả về Nam Bộ bằng một hình ảnh, bà sẽ chọn gì? Tại sao?
Đó là chiếc tắc ráng. Tôi chọn nó vì nó thể hiện những đặc trưng nhất của cá tính Nam Bộ: thích ứng, linh hoạt và đổi mới. Thích ứng vì chiếc tắc ráng nhỏ, thuôn, có thể đi trên sông lớn cũng có thể len lỏi vào kinh rạch nhỏ bé, ngoằn nghèo... Linh hoạt vì nước lớn, nước ròng đều chạy được, chở 1 hay 2,3 người, nôm na là thay thế chiếc gắn máy trên bờ. Đổi mới là từ chiếc ghe, xuồng ba lá truyền thống nhưng gắn thêm động cơ, vật liệu cũng đổi sang composite để nhẹ và bền hơn. Chiếc tắc ráng còn mang tính đa năng, không chỉ dùng để di chuyển mà còn có thể chở hàng hóa, buôn bán nhỏ trên sông rạch. Bây giờ còn dùng phục vụ du khách vì tiện lợi, sạch sẽ.
Người ta thường khen Nam Bộ là vùng đất cởi mở. Theo bà, vậy đã đủ chưa, còn điều gì làm nên năng lực hội tụ và dung hòa văn hóa của vùng đất này?
Cởi mở thì đúng nhưng chưa đủ và nếu chỉ nói vậy thì e rằng hời hợt. Điều làm nên năng lực hội tụ và dung hòa của Nam Bộ không chỉ là tính cách cởi mở mà là cách hệ thống xã hội nơi này vận hành.
Trước hết là cơ chế xã hội. Nam Bộ không tự tạo ra những trung tâm khép kín mà ngược lại, là nơi ai đến cũng được đón nhận. Nếu một vùng đất khép kín thì không thể hấp dẫn người khác đến để tìm cơ hội mới, cũng không thể kích thích được sự thử nghiệm, sáng tạo. Đến vùng đất mới là để làm ra cái mới chứ không thể mang nguyên mô hình cũ tới đây.
Về mặt kinh tế, sinh sống ở đây mọi người phải hợp tác để tồn tại. Người Hoa phát triển thương nghiệp và thủ công nghiệp, người Việt phát triển nông nghiệp, không có sự liên kết ấy thì không thể phát triển kinh tế. Đồng thời còn phải gắn bó với cộng đồng bản địa như người Khmer ở miền Tây, người thiểu số ở miền Đông Nam bộ để học hỏi kinh nghiệm thích ứng với tự nhiên... Nhờ vậy các “miệt” đều phát triển, kinh tế mang tính thị trường sớm và vận hành thông suốt.
Về mặt văn hóa, Nam Bộ tiếp nhận mọi khác biệt trên tinh thần bình đẳng. Ở đây các cộng đồng đều không tự đặt ra một chuẩn duy nhất rồi xem văn hóa khác là nhỏ hơn, thấp hơn. Nam Bộ tích lũy rất nhanh kiến thức, nền tảng văn hóa, lối sống…nhưng không đóng khung vào bất cứ một mô hình nào. Cái mới ở Nam Bộ thường không xóa cái cũ, mà tái cấu trúc cái cũ. Từ nhạc lễ triều Nguyễn vào đây, trong bối cảnh xã hội mới mà hình thành ra đờn ca tài tử, rồi từ đó cải lương ra đời và phát triển. Cải lương không phủ định đờn ca tài tử, mà lớn lên từ đó, đồng thời đờn ca tài tử không mất đi mà vẫn tồn tại sâu rộng trong cộng đồng.
Nói về Nam Bộ không thể không nhắc đến con người Nam Bộ “rất cởi mở, khoan hòa”. Vì lưu dân người Việt, người Hoa vào đây đa phần là tầng lớp bình dân, nên không phân biệt nguồn gốc, đẳng cấp, thân phận, bình đẳng với nhau, sống giản dị. Cũng vì là người bình dân nên góc nhìn của họ rất thực tiễn, không bị định kiến bởi một ý thức hệ giai cấp nào cả, dễ chấp nhận cái khác biệt để cùng tồn tại. Người Nam Bộ không quen “đóng cửa khép lòng”.
Từ cảng thị biển thành trung tâm văn hóa Nam Bộ
Là tiến sĩ khảo cổ, trong nhiều nghiên cứu của bà, Cần Giờ như một “mặt tiền” và “trạm trung chuyển” của Nam Bộ. Nếu kể lại câu chuyện Nam Bộ từ Cần Giờ, câu chuyện sẽ khác đi ra sao?
Nam Bộ không phải là vùng đất mới. Chứng tích khảo cổ cho thấy từ hơn 2000 năm trước (thời tiền, sơ sử), “cảng thị sơ khai” Cần Giờ đã phát triển thương mại bằng đường biển, hàng hóa luân chuyển sâu vào đất liền qua các con sông lớn. Di chỉ khảo cổ học quốc gia Giồng Cá Vồ ở Cần Giờ đã chứng minh điều đó khi tìm thấy rất nhiều đồ tùy táng (vật dụng chôn theo người chết) như đá ngọc, dụng cụ sinh hoạt, vũ khí…có nguồn gốc từ Ấn Độ, Trung Quốc, Đông Nam Á.
Từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 6, khu vực Kiên Giang, An Giang ngày nay, Óc Eo – Ba Thê là một trong những thương cảng trung tâm của khu vực Đông Nam Á, kết nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, Ấn Độ và Trung Hoa.
Vì thế, trước khi là vựa lúa của cả nước, Nam Bộ đã là trung tâm giao thương của khu vực. Cái gốc “hướng biển” ấy giải thích vì sao vùng đất này sớm biết mở cửa và có năng lực tiếp nhận những nền văn hóa khác và dung hòa sự khác biệt đến vậy. Đến nay, “văn hóa biển” ở Nam bộ vẫn còn hiện diện trong mọi mặt đời sống.
Nếu phải giải thích thật gọn vì sao Sài Gòn - TP.HCM là nơi nén mạnh nhất sức sống Nam Bộ, bà sẽ bắt đầu từ đâu?
Trước hết là vị trí. Sài Gòn - TP.HCM nằm ở vị trí trung tâm giữa Đông và Tây Nam Bộ, lại là cửa ngõ quan trọng ra biển (qua Cần Giờ) của cả vùng nam Đông dương. Không phải ngẫu nhiên mà ngày trước Chúa Nguyễn Ánh chọn nơi này để xây thành Gia Định (năm 1790). Đó là vị trí trời cho nhưng cũng là vị trí được con người nhận ra và tận dụng.
Kế đó, mô hình lịch sử của TP này không theo một khuôn mẫu cố định mà luôn biến đổi. Đó là mô hình mở: từ trung tâm thương mại (vùng Chợ Lớn), trung tâm hành chính (vùng trung tâm TP.HCM ngày nay) sau đã sáp nhập, tái cấu trúc thành đô thị - thương cảng Sài Gòn. Nét giao thương “trên bến dưới thuyền” trở thành đặc trưng. Ở TP.HCM sức mạnh nằm nhiều ở “trên bến” với hàng loạt các kho, chành, nhà máy, hình thành một nền công nghiệp xuất khẩu. Miền Tây mạnh ở “dưới thuyền” với nguồn cung ứng nông sản dồi dào.
Hơn nữa, cũng giống Nam Bộ, đến Sài Gòn - TP.HCM mọi người đều phải tự làm mới mình. Người Trung, người Bắc nếu quen lối sống khép kín làng xã, khi vào đây phải mở hơn để kết nối làm ăn kiểu mới. Họ tái định nghĩa lại bản thân trong một môi trường mở hơn.
Ngay cả không gian đô thị ở TP.HCM cũng là một dạng Nam Bộ thu nhỏ. Trong đó, kiến trúc Việt, Hoa, Pháp, Khmer... hòa hợp với nhau.
Theo cách nhìn của tôi, Hà Nội, Huế khó có thể là đại diện cho cả miền Bắc, miền Trung vì ở mỗi miền đó có nhiều “tiểu vùng văn hóa” có thể phân biệt rõ ràng. Nhưng ở Nam Bộ, Sài Gòn trước kia và nay là TP.HCM có thể đại diện cho cả Đông và Tây Nam Bộ. Cách gọi “Anh Hai Nam bộ” chính là sự đại diện ấy.
Sài Gòn – TP.HCM vẫn là vùng đất lành chim đậu
Nếu Nam Bộ là một vùng đất hội tụ và dung hòa, thì Sài Gòn, TP.HCM hôm nay đang giữ được điều gì đẹp nhất?
Điều đẹp nhất mà TP.HCM vẫn giữ được đó là vùng đất lành chim đậu. Thành phố này vẫn thu hút người ta đến, luôn tiếp nhận người nhập cư và chia sẻ những cơ hội cho mọi người, bất cứ ai, dù nguồn gốc khác nhau vẫn có thể cùng tồn tại mà không tạo ra xung đột. Một điều rất hay là ở đây ít có xu hướng dựng những “hàng rào đồng hương” khép kín làm ăn kinh tế, mà chủ yếu để cùng chia sẻ tình cảm quê hương. Yếu tố dung hòa quan trọng nhất là đến đây với mục đích “làm ăn” nhưng rồi nhiều người dần tự trở thành “người Sài Gòn”.
Văn hóa dịch vụ của thành phố này cũng là biểu hiện đẹp. Các quán ăn, cách buôn bán, ứng xử thường theo nguyên tắc “bình đẳng, đôi bên cùng có lợi” chứ không phải người có tiền là được quyền coi thường người phục vụ. Chính sự không quá câu nệ và khả năng chấp nhận sự khác biệt đã làm nên sức hút ấy.
Còn điều gì đáng lo nhất?
Sự dễ chấp nhận tất cả một cách “vô tâm” có nguy cơ trở thành điểm yếu nếu không giữ một cái ngưỡng.
Trong đời sống hàng ngày, chửi thề, nói oang oang nơi công cộng; không nhường chỗ cho người già, phụ nữ trên xe buýt; hung hăng trên đường phố… đã trở nên phổ biến. Nhiều người đang đánh mất câu xin lỗi, cảm ơn (vốn trước đây là câu cửa miệng của người Sài Gòn); mất dần tính nghĩa hiệp (không chỉ nghĩa hiệp theo kiểu bắt cướp mà theo nghĩa biết phản ứng trước cái xấu, biết đứng ra bảo vệ cái đúng và sự công bằng). Cạnh đó, nếu trong văn bản hành chính ngôn ngữ cần phải thống nhất nhưng trong đời sống thì ngôn ngữ cần phải giữ tính địa phương vì đó là bản sắc. Nghe giọng, cách dùng từ sẽ biết người đó ở vùng nào. Tiếng nói, phương ngữ... là di sản phi vật thể của mỗi vùng miền.
TP.HCM không chỉ là trung tâm kinh tế, mà còn là trung tâm văn hóa. Nếu chỉ nhìn thấy kinh tế mà không nhìn thấy vốn văn hóa rất đặc thù của mình, thành phố sẽ tự làm nghèo chính mình.
Nếu dẫn một người chưa hiểu về Nam Bộ đến đúng một nơi ở TP.HCM để họ ‘thấy tận mắt’ tinh thần hội tụ và dung hòa ấy, bà sẽ đưa họ đi đâu?
Tôi chọn chợ Bình Tây (Chợ Lớn). Có một thời gian dài tôi phải đi làm thêm là bỏ mối hàng ở đây nên khá hiểu và yêu thích nơi này. Đó là một di sản đang sống thực sự, thể hiện rõ nét tinh thần “hội tụ và dung hòa”. Vào đây có thể gặp tiểu thương người Việt, Hoa, Khmer và cả người Chăm cùng buôn bán. Công năng buôn bán ở đây rất đa dạng: sỉ, lẻ; lớn, nhỏ; hàng truyền thống lẫn hàng hiện đại; người buôn bán nhiều đời lẫn người mới vào nghề…Trong chợ thường là nghề chuyên nghiệp, buôn bán chuyên một ngành hàng. Quanh chợ là nghề không chuyên, mặt hàng cũng thời vụ hơn.
Chợ Bình Tây hiện vẫn đang sống khỏe, sống bền vì nó có vai trò thật trong đời sống cộng đồng. Đó không chỉ là nơi mua bán mà còn là không gian xã hội, một cấu trúc ký ức đô thị. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà tên của một ngôi chợ đã sớm trở thành cái tên hành chính cho cả vùng: Chợ Lớn.
Một nét rất đáng quý của người Nam Bộ là biết ơn người lập chợ. Ở chợ Bình Tây có tượng người xây chợ là ông Quách Đàm, tiểu thương hàng ngày vẫn đến thắp hương nhớ ơn. Ở vùng Phú Nhuận từ xưa đã có tên đường Lê Tự Tài – là người lập ra chợ Phú Nhuận. Hay ở Cao Lãnh hàng năm tổ chức lễ giỗ ông bà Đỗ Công Tường chủ chợ Cao Lãnh. Coi trọng thương nghiệp, phát triển thị trường – đó là một đặc trưng kinh tế của Nam bộ và được biểu hiện rõ nhất ở Sài Gòn – TPHCM.
Nếu hình dung Sài Gòn - TP.HCM trong 20 năm nữa vẫn là trung tâm văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo của Nam Bộ mà không đánh đổi hồn cốt của mình, bà sẽ bắt đầu từ đâu?
Tôi sẽ bắt đầu từ quyền văn hóa của cộng đồng cư dân. Nói nôm na là quyền dân chủ cơ sở trong lĩnh vực văn hóa.
Bản sắc của thành phố này phải bắt đầu từ cộng đồng. Nếu cộng đồng không hiểu rõ mình là ai, thì họ không thể tham góp vào quy hoạch, không thể thực hành trong các thiết chế văn hóa, cũng không thể trao truyền nó qua giáo dục. Người dân không hiểu, không yêu thành phố thì không thể xây dựng và phát triển nó một cách tốt đẹp, bền vững.
Cạnh đó, người dân phải có quyền bày tỏ nhu cầu và yêu cầu của mình đối với đô thị. Đó là việc thực hiện dân chủ cơ sở. Một trung tâm văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo thì ít nhất những công trình được dựng lên phải đáp ứng được nguyện vọng của người dân, phát huy được vốn văn hóa của người dân. Nói cách khác, nếu không bắt đầu từ cộng đồng cư dân, TP.HCM rất khó trở thành trung tâm văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo mang bản sắc độc đáo của mình.
Xin cảm ơn bà!

NGUYỄN TẬP phỏng vấn - báo THANH NIÊN số kỷ niệm 30/4/2026




TỪ MỘT “GIỌT NƯỚC” ĐẾN “ĐÔ THỊ NHÂN VĂN

  

thành phố, trên những con đường quen thuộc ta qua mỗi ngày thường vài cảnh quan, công trình mà ta hầu như quên mất sự tồn tại của nó. Khu đất số 1 Lý Thái Tổ là một nơi như thế. Ngày đêm dòng xe cuồn cuộn chảy quanh nhưng bên trong bức tường là một nơi có vẻ như không liên quan gì đến nhịp sống sôi động của thành phố. Khu đất và các công trình trong đó là nơi xưa nay “kín cổng cao tường”, xa lạ với nhiều người dân ở ngay khu vực xung quanh.  

Cho đến một ngày khi đi qua vòng xoay Lý Thái Tổ chúng ta bất chợt nhận ra một không gian xanh mát mở ra trước mắt. Trong đó thấp thoáng vài biệt thự xưa, và một “tiểu không gian” hiện đại: Một Giọt nước long lanh giữa những vòi phun nước, xung quanh là những bậc thềm rộng rãi, thân thiện mời gọi mọi người “ngồi lại bên nhau”. Một không gian tĩnh nhưng không lặng và mang lại nhiều cảm xúc.

“Công viên Giọt nước” – như người dân gọi nơi này, không gây ấn tượng bằng vẻ đẹp choáng ngợp mà bằng cảm giác nơi để dừng chân, được hít thở không khí trong lành, nhớ lại ký ức chưa xa... Tuy không lớn nhưng khuôn viên có nhiều cổ thụ tạo bóng mát, lại được chăm chút thêm bằng thảm cỏ, vườn hoa xinh xinh... Một công viên nhỏ được tạo ra giữa “quy hoạch vĩ mô” của sự phát triển hạ tầng giao thông hiện đại. “Giọt nước” rất nhỏ so với không gian xung quanh, nhưng chính từ sự nhỏ bé ấy lại gợi mở ra câu hỏi lớn: một siêu đô thị sẽ dành bao nhiêu nơi như vậy cho con người dừng lại và nghỉ ngơi?

Nhiều người cho rằng, sự phát triển đô thị phải bằng những đại lộ, công trình cao tầng và tòa nhà hiện đại, bằng những dự án quy mô lớn “nghìn tỷ”. Nhưng đời sống thực sự của thành phố lại diễn ra ở những không gian rất khác. Đó là những nơi không được quy hoạch và thiết kế để trở thành hoành tráng, hiện đại, sang trọng, mà đơn giản chỉ là nơi để con người có thể thoải mái hiện diện vì nó đáp ứng một nhu cầu nào đó. Công viên hay không gian công cộng là những nơi như thế. Người ta đến đó tập thể dục, đi bộ vào sáng sớm, hẹn nhau đến đó để trò chuyện, ghé vào nghỉ chân sau một quãng đường nắng nóng, hay thư giản nghỉ ngơi vào buổi tối mát mẻ sau một ngày vất vả mưu sinh, vào ngày cuối tuần có thể cùng gia đình đến vui chơi, ngồi quán cà phê, hay thậm chí đến đây không vì mục đích nào cả. Những hành vi tưởng như vụn vặt ấy, khi lặp lại mỗi ngày lại chính là cách con người đang sống, là cách đô thị được sống.

Không gian công cộng không chỉ là một yếu tố cảnh quan đơn thuần. Nó trở thành một dạng “hạ tầng mềm” của thành phố, không thể đo đếm bằng diện tích mà bằng khả năng tạo ra những khoảnh lặng bình yên. Hiện nay, lý thuyết đô thị đương đại nói nhiều đến những “khoảng nghỉ đô thị” (urban pause), đó là những không gian cho phép con người thoát khỏi tốc độ căng thẳng và nhàm chán vì lặp đi lặp lại, thoát khỏi áp lực và sự phức tạp của cuộc sống. Như vậy, công viên “giọt nước” bên vòng xoay Lý Thái Tổ không phải là phần “tiện thể” của một quy hoạch tổng thể, hay là “tận dụng đất trống” trong khi chưa sử dụng, phải được coi là một phần thiết yếu của hệ sinh thái đô thị. Những “tiểu không gian” ấy tạo nên chiều sâu của đời sống đô thị, nơi tinh thần của con người được cung cấp năng lượng để có thể tái tạo thậm chí phục hồi.

Những không gian như thế không chỉ mang lại lợi ích ở hiện tại, mà trải qua thời gian còn tích tụ ký ức trong cộng đồng. Không phải ký ức lớn lao của các sự kiện lịch sử chính thống, mà là ký ức đời thường, giản dị, dễ biến mất, khó nắm bắt. Cũng không phải là câu chuyện về các nhân vật lịch sử lớn lao mà là câu chuyện của các thế hệ cư dân, của cộng đồng từng khu vực. Tất cả những sinh hoạt hàng ngày mang lại niềm vui, tạo thành thói quen, sự hữu ích... qua năm tháng sẽ trở thành lớp trầm tích ký ức riêng của từng nơi chốn.

Từ một “giọt nước” nhỏ có thể nhìn rộng ra câu chuyện của siêu đô thị TP. Hồ Chí Minh hôm nay và ngày mai. Thành phố phát triển càng nhanh càng lớn thì nguy cơ đánh mất những khoảng không gian như vậy càng cao. Áp lực về giao thông, về đất đai, về hiệu quả sử dụng không gian khiến mọi thứ có xu hướng bị “tối ưu hóa” vì lợi ích kinh tế trước mắt. Trong quá trình đó những gì không trực tiếp tạo ra “tiền tươi thóc thật” dễ bị xem là thứ yếu. Nhưng nếu mọi không gian trong thành phố đều bị lấp đầy bởi công trình chức năng, nếu mọi khoảng trống đều bị chuyển hóa thành giá trị kinh tế, thì con người sẽ ở đâu trong cấu trúc ấy, sẽ giữ vai trò gì trong thành phố ấy? Khi đó đô thị sẽ trở thành một cỗ máy vận hành hiệu quả mà không còn khả năng chăm sóc con người. Con người chỉ còn là một “đinh ốc” trong cỗ máy khổng lồ đó mà thôi.

Sự hiện diện của những khoảng dừng như công viên “giọt nước” mang ý nghĩa như một “tuyên ngôn mềm” về siêu đô thị. Bằng sự hiện diện bình dị, những “tiểu không gian” đã cho biết đô thị vẫn còn chỗ cho con người hòa vào thiên nhiên, giữa tốc độ ngày càng nhanh vẫn có nơi để chậm lại, thay đổi tâm trạng tích cực hơn, mang lại sự cân bằng cho tinh thần. “Tuyên ngôn mềm bằng sự hiện diện, những “giọt nước” đã đặt ra và đòi hỏi một tiêu chuẩn quan trọng cho sự phát triển của đô thị: không chỉ là lớn hơn, nhanh hơn, hiện đại hơn mà còn là phải nhân văn hơn.

Một đô thị nhân văn trong thời đại ngày nay rất cần có hạ tầng hiện đại, đồng thời cũng phải những con người giàu có về trải nghiệm sống. Điều đó chỉ có được nếu đô thị tạo ra được những không gian để con người nghỉ ngơi, tương tác và cảm nhận, giữa người với người, giữa con người với thiên nhiên. Đô thị nhân văn không phải là sự đối lập với đô thị hiện đại, mà là cân bằng giữa sự phát triển vật chất với sự giàu có của tinh thần. Đó là sự phát triển không chỉ nhằm tối đa hóa công năng mà còn để bảo vệ những nhu cầu rất cơ bản của con người: được nghỉ ngơi mà không bị thúc ép bởi thời gian, được hiện diện mà không bị sự bao vây của tiêu dùng, được gặp gỡ mà không cần phải có hiệu quả về kinh tế. Những điều tưởng như đơn giản ấy lại chính là nền tảng của đời sống đô thị bền vững.

Đô thị nhân văn còn là vấn đề công bằng không gian đô thị. Ai cũng có quyền tiếp cận những khoảng nghỉ, không phân biệt tuổi tác, thu nhập hay mục đích. Khi một thành phố chỉ còn lại những không gian phải trả tiền, phải có “đẳng cấp” mới được hiện diện thì nó đã loại trừ một phần lớn cư dân của mình ra khỏi trải nghiệm đô thị. Ngược lại, những không gian công cộng mở dù rất nhỏ chính là nơi mà mọi người có thể cùng hiện diện không phân biệt giàu nghèo, góp phần giảm bớt bất bình đẳng xã hội

Trong bối cảnh hiên tại và tương lai, những không gian như “công viên giọt nước” ở Lý Thái Tổ ý nghĩa vượt ra ngoài kích thước vật lý của nó, là biểu hiện một khả năng đặc biệt của đô thị: khả năng mềm hóa chính mình bằng những can thiệp nhỏ, tinh tế, đúng chỗ. Một hàng cây, một băng ghế, một khoảng bóng mát nếu được đặt đúng vào dòng chảy của đời sống thì có thể tạo ra những tác động tích cực lâu dài, vì chúng mang lại cho con người cảm giác mình được chấp nhận, được nghỉ ngơi, và được là một phần của thành phố theo cách rất riêng.

Một giọt nước nhỏ nhoi nhưng góp phần làm nên đại dương. Một khoảng lặng giản dị sẽ làm nên sức sống mới của thành phố. Người ta có thể đi rất nhanh qua một siêu đô thị nhưng để ở lại gắn bó, để nhớ và để thương thì cần những nơi cho phép mình được sống chậm, được là chính mình ngoài những nghĩa vụ và trách nhiệm. Đôi khi chỉ cần một “giọt nước” giữa ngày nắng gắt cũng đủ để ta nhớ rằng, thành phố này vẫn còn là nơi để sống hết mình chứ không chỉ là nơi để ta tồn tại.

 

TP. Hồ Chí Minh 20/3/2026. Nguyễn Thị Hậu 

Báo Sài Gòn giải phóng số 30/4/2026





"Lịch sử cần mang ‘khuôn mặt’ con người"

  Nhân dịp 51 năm đất nước liền một dải, cùng trò chuyện với tiến sĩ khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu để trả lời cho câu hỏi: Làm sao để lịch sử c...