GIỮ HỒN QUÊ HƯƠNG TRONG NHỮNG ĐƯỜNG BIÊN MỚI


*Quê hương không bao giờ là “quê cũ”
Khi thông tin sáp nhập các tỉnh, thành được công bố, nhiều người nhận ra những tên đất, tên làng, những ký hiệu hành chính vốn quen đến mức ít người để ý, bỗng trở thành chủ đề khiến lòng ai cũng có chút xao động. Trên truyền thông bắt đầu phổ biến những địa danh mới bao trùm những vùng đất cũ, tựa như mọi thứ có thể đổi thay ngay lập tức chỉ bằng một đường kẻ mới, bằng một dòng chữ khác… Nhưng sâu trong ký ức của mỗi người mỗi cộng đồng, tên làng tên tỉnh không chỉ là những chữ cái vô hình, nó là ký ức là lịch sử, đâu có thể dễ dàng sắp xếp thay đổi như trên một văn bản, một tấm bản đồ.
Người bạn tôi sống ở nước ngoài đã vài chục năm, nhưng trong tâm tưởng của chị, quê nhà vẫn là dòng kinh với cây cầu dừa, những ngôi nhà sàn ven sông luôn mấp mé mặt nước vào mùa nước nổi, ngôi nhà lồng chợ tuy nhỏ nhưng luôn đầy ắp cá tôm và những loại rau trái tươi ngon… Ngôi đình dựng từ thủa mở làng lập ấp đến nay trên dưới hai trăm năm, vẫn đều đặn Lễ Khai hạ Lễ Kỳ yên đúng thời đúng khắc. Chỉ cần nhắc đến một địa danh là tất cả những hình ảnh ấy liền hiện hữu. Địa danh nào phong cảnh ấy. Bởi vậy, khi chị nhắn hỏi và tôi trả lời về tên mới của quê chị, dù cách nhau nửa vòng trái đất tôi vẫn nghe thấy chị lặng đi…
Công cuộc cải cách hành chính từ việc sáp nhập các tỉnh thành lần này không phải là lần đầu tiên. Sau mỗi lần “nhập tách” đều để lại một vấn đề cốt lõi: đó là những giá trị văn hóa đặc hữu của từng vùng không dễ chìm khuất trong một bản đồ rộng lớn hơn nhưng đã bị hao hụt, tổn thương. Khi địa danh hành chính thay đổi kéo theo rất nhiều thứ khác thay đổi theo, người nghe không dễ định vị một khu vực theo cách gọi mới, không dễ hình dung ngay bản sắc văn hóa một đơn vị hành chính mới. Những ngày miền Trung bị lũ lụt vừa qua, bên cạnh bao nỗi lo lắng và sự vất vả chống đỡ của những người dân quê để bảo vệ sinh mạng, tài sản có nguy cơ bị dòng nước hung dữ cuốn đi, những người xa quê lại luôn thảng thốt hỏi nhau khi nghe tin tức: địa danh tỉnh đó mà cụ thể là ở chỗ nào? Có phải là quê mình không?
Trong việc làm của các cơ quan quản lý văn hóa luôn có kế hoạch kiểm kê di sản, gìn giữ lễ hội, tu bổ công trình cổ… Bên cạnh những nỗ lực ấy, còn một phần di sản vô hình chỉ tồn tại trong lòng người. Đó là cách bà dạy cháu một điệu ru xưa, là nếp nhà nhỏ vẫn giữ bàn thờ tổ với tấm hoành phi sẫm màu thời gian, là việc mỗi nhóm thợ, mỗi dòng họ vẫn gìn giữ quy ước truyền thống như một món nợ ân tình với quê cha đất tổ. Bởi với người dân bình thường, bảo tồn di sản không phải là làm cho đông người biết đến, không phải ở con số “có bao nhiêu di sản”, mà là giữ cho được những truyền thống của cha ông, để sau này con cháu còn biết quê hương, dòng họ, và dù đi đến đâu cũng luôn nhớ về đất nước mình!
Sáp nhập có thể mang lại nhiều điều mới: thuận lợi trong quản lý, phát triển kinh tế, hạ tầng mở rộng. Nhưng đổi thay không đồng nghĩa với lãng quên. Trên bước đường hiện đại hóa, mỗi người dân lại trở thành một người giữ lửa. Họ giữ trong tiếng nói, trong món ăn, trong câu chuyện kể, những điều mà không bản đồ hành chính nào có thể gom vào hay tách ra được. Quê hương không nằm trong tên gọi cũ hay đường biên cũ, mà nằm trong cách chúng ta tiếp tục kể về nó, tiếp tục sống với nó, tiếp tục gìn giữ nó bằng tất cả sự trân trọng.
Và khi những giá trị ấy được giữ gìn, quê hương, dẫu có đổi tên, vẫn không bao giờ là “quê cũ”.
*“Quê mới” và nhu cầu an cư – an tâm
Ở tầng sâu của xã hội, mọi cải cách hành chính chỉ bền vững khi đáp ứng được hai nhu cầu nền tảng mà cộng đồng mong đợi: an cư trong đời sống vật chất và an tâm trong cảm nhận tinh thần.
An cư là câu chuyện của đời sống thường ngày. Người dân nhận biết hiệu quả của cải cách hành chính một cách giản dị: thủ tục có thuận tiện không, đi lại có gần hơn không, dịch vụ công có tốt hơn không. Tổ chức chính quyền chỉ thật sự mang lại ý nghĩa khi nó cải thiện trải nghiệm sống thường nhật. Khoảng cách đến bệnh viện tuyến tỉnh hay trung tâm hành chính có rút ngắn? Con trẻ có thêm cơ hội học tập? Hệ thống xe buýt liên vùng, đường giao thông, nước sạch, xử lý rác thải có được đầu tư đồng bộ hơn? Những điều này tác động trực tiếp đến chất lượng cuộc sống, đầu tiên là ở quy mô gia đình, sau mới đến quy mô tỉnh thành.
Một nỗi lo phổ biến từ những đợt “nhập, tách” trước đó là sự chênh lệch phân bổ nguồn lực. Người dân ở khu vực xa trung tâm thường e ngại mình sẽ bị “lép vế” vì nguồn lực sẽ dồn về một điểm và vùng sâu xa bị quên lãng. Đây không phải cảm xúc nhất thời mà là từ thực tế ở không ít địa phương. Vì vậy, để người dân an cư, cải cách cần đi kèm các bảo đảm cụ thể: hạ tầng giao thông liên kết vùng, cơ chế đầu tư cân bằng và dịch vụ công cần phủ rộng đến mọi vùng dân cư.
Sáp nhập kéo theo điều chỉnh quy hoạch, đôi khi tác động đến giá đất và thị trường lao động, vì vậy yếu tố sinh kế cần được tính toán cụ thể. Những gia đình thu nhập trung bình hoặc người lao động tự do luôn nhạy cảm với sự thay đổi này. Nếu thiếu thông tin minh bạch người dân dễ cảm thấy bấp bênh, điều đó tác động làm giảm niềm tin vào chủ trương, chính sách.
Bên cạnh sự An cư là An tâm. Đây là nhu cầu tinh thần tưởng nhẹ mà rất nặng nhưng thường ít nhận được những chính sách cụ thể. Ngoài đời sống vật chất, sự an tâm của người dân lại chịu ảnh hưởng mạnh từ những điều rất trừu tượng: bản sắc, ký ức đô thị hay làng quê, tên gọi quen thuộc, đặc biệt là cảm giác “mình thuộc về đâu”. Nhiều địa danh tồn tại hàng trăm năm, chứa đựng bao lớp lịch sử, phong tục, lối sống. Khi một nơi được sáp nhập và đổi tên, người dân đôi khi có cảm giác như một phần ký ức bị đặt lại chỗ khác. Đó không phải là phản ứng bảo thủ mà đó là biểu hiện của căn tính cộng đồng, một yếu tố quan trọng giúp một vùng đất duy trì sự ổn định xã hội.
Chính quyền chủ trương sáp nhập để nâng cao hiệu quả quản lý, nhưng người dân ghi nhớ địa danh quê quán như một phần của đời mình. Do đó, để người dân “an tâm” thì chính sách về văn hoá – an sinh cần tinh tế và kiên nhẫn hơn nhiều so với việc trình bày các chỉ tiêu kinh tế. Trong sâu thẳm mỗi con người, mỗi cộng đồng luôn có những câu hỏi, cũng là những trách nhiệm mà người dân có quyền được biết: Lợi ích của sự thay đổi là gì? Điều gì cần thay điều gì cần đổi, và điều gì cần được giữ nguyên? Bản sắc địa phương có được bảo toàn, vị thế cộng đồng có được tôn trọng?
Những nỗi lo này không phải là trở ngại mà là dấu hiệu giúp chính quyền thiết kế chính sách tốt hơn. Nói cách khác, người dân không đòi hỏi điều gì quá lớn lao, họ mong sự thay đổi đem lại giá trị đủ rõ ràng để giảm nguy cơ bất ổn. Từ những vấn đề này khi người dân cảm nhận được sự minh bạch và tôn trọng, họ sẽ đồng hành cùng chính quyền vượt qua những thay đổi khó khăn nhất. Đó là một trong những động lực để phát triển bền vững.
*Có những “đường biên” mà AI không thể xóa
Không chỉ là những người đi xa, mà ngay người sống tại quê nhà cũng luôn mang trong mình những hoài niệm về quê hương gắn liền với tên gọi cũ bởi vì đấy là ký ức tuổi thơ, là câu chuyện của ông bà, cha mẹ, là mối tình đầu thời thanh xuân, là tình nghĩa sâu nặng lúc tuổi xế chiều... Khi những tên gọi ấy không còn, nhiều người cảm giác như mất đi một phần gốc rễ. Cuộc sống hiện đại với nhiều vấn đề hiện ra rồi biến mất nhanh chóng, nhưng sự lưu luyến với những gì thân thuộc vẫn hiện diện dai dẳng trong tâm thức con người. Đó là điều mà không trí tuệ nhân tạo nào có thể thay thế được!
Chúng ta đều biết AI có thể tối ưu mọi quy trình, phân tích dữ liệu hay đề xuất mô hình tổ chức hiệu quả. AI rất giỏi trong việc tổng hợp các nhóm dữ liệu: vùng kinh tế, mật độ dân số, mạng lưới giao thông. Nhưng con người không sống như những tập dữ liệu nên AI không thể đo chính xác nỗi băn khoăn của người dân khi đối diện sự xáo trộn lớn trong đời sống, AI không thể đánh giá đúng cảm giác lo lắng khi văn hoá một vùng quê có nguy cơ bị mai một… “Đường biên ký ức” là thứ không thể xóa bằng thuật toán. AI giúp con người rất nhiều trong đề xuất chính sách, nhưng nếu chỉ dựa vào AI, chính sách sẽ thiếu chiều sâu nhân văn.
Mặt khác, AI có thể dự báo và thiết kế xã hội bằng nhiều mô hình khác nhau, có thể lập trình những biểu hiện yêu ghét đồng thuận chối từ trong các robot… Nhưng dù thông minh đến mấy AI không thể thấu được nỗi đau, không cảm nhận được sự lo lắng khi bản sắc cộng đồng bị mai một trong biến động xã hội, AI không thể hiểu vì sao con người từ thế hệ này sang thế hệ khác luôn gắn bó với truyền thống quê hương. Cho đến nay những cảm xúc từ tâm hồn là vùng mà công nghệ phải đứng ngoài, và chỉ có thể vượt qua “đường biên” mơ hồ ấy bằng chính cảm xúc của con người!
Chính vì vậy, dù có sự hỗ trợ của AI về kỹ thuật nhưng con người phải giữ quyền quyết định các chính sách cho con người. Trong thời đại trí tuệ nhân tạo, con người có thể vẽ lại bản đồ nhanh hơn, chính xác hơn, có thể thiết kế những bản đồ mới trong tương lai.... Nhưng có những đường biên không nằm trên bản đồ. Đó là ranh giới của ký ức, của căn tính và cảm xúc. Những đường biên ấy, dù công nghệ phát triển đến đâu, vẫn cần được con người nhận diện, tôn trọng và gìn giữ.
Bởi vì loài người không bao giờ muốn để lại hậu duệ là những thế hệ robot có thể vô cùng thông minh nhưng không biết lưu giữ cảm xúc về ký ức và lịch sử, điều mà khi được nhắc nhớ chỉ có trái tim của con người mới có thể rưng rưng…

Nguyễn thị Hậu

LÊN ĐƯỜNG ĐỂ ĐẾN TÂM AN


Mùa xuân cũng là mùa lễ hội. Phong tục tổ chức lễ hội vào thời gian “nông nhàn” khiến cho trong Nam ngoài Bắc khắp đình, chùa, đền, miếu... tấp nập người đi lễ. Ngày xưa lễ hội những ngày này, dù vào “tháng Giêng ăn chơi” nhưng không nặng tính thực dụng mà chủ yếu để giải trí, du xuân gặp gỡ mọi người và thăm viếng nơi danh lam thắng cảnh. Những lời khấn cầu đầu năm ngoài sự mong muốn những điều may mắn tốt lành còn nhằm bày tỏ lòng thành tâm thiện với Thần, Phật.

Trải qua mấy chục năm chiến tranh, ở miền Bắc nhiều phong tục tập quán liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo bị xóa bỏ vì coi là “mê tín dị đoan”. Nhưng sau chiến tranh, nhất là từ khi “đổi mới” về kinh tế, trong xã hội “làm giàu” trở thành mục tiêu của nhiều người thì nhiều tục lệ đã phục hồi và ngày càng phát triển theo hướng thực dụng.

Điều đáng nói là việc cầu xin tài lộc chức tước lan tràn mọi lúc mọi nơi, đến mức không thể kiểm soát! Bây giờ vào ngày lễ tết đền chùa nào cũng mù mịt khói nhang tràn ngập đồ lễ vàng mã tiền lẻ rải như rác... Người ta cho rằng lễ càng “hoành tráng” thì thần, phật càng chứng giám phù hộ, cơ may như những hợp đồng làm ăn béo bở, chức tước danh vị sẽ vào tay mình, tránh được những rủi ro thậm chí nếu vi phạm luật pháp sẽ không bị phát hiện và được bao che khỏi sự trừng trị của cơ quan chức năng...

Từ đó đã nảy sinh hiện tượng “buôn thần bán thánh”, “mua chuộc thần phật”, “kinh doanh tâm linh”... Phục vụ cho nhu cầu này nên chùa chiền được trùng tu, xây mới tràn lan, ngày càng hoành tráng, truyền thông rầm rộ về những ngôi chùa xác lập một “kỷ lục” nào đó về quy mô kiến trúc trang trí, sự có mặt của các vị quan chức thăm viếng cúng dường, tổ chức lễ hội cấp quốc gia... Chùa càng to càng “giàu có” thì càng đông “tín đồ”, tiếng đồn “linh nghiệm” càng nhiều. Người ta ồ ạt theo những tour “du lịch tâm linh” vội vã chạy từ chùa này sang chùa khác cho đủ mấy “kiểng chùa” mà không có nơi nào đủ thời gian mà lắng lòng thanh tịnh.

Trong khi đó ở đâu cũng có chùa làng. Những ngôi chùa đơn sơ giản dị, gần gũi với dân cư trong vùng, nhiều chùa nuôi trẻ mồ côi người già cơ nhỡ... nhưng ít người thăm viếng, thỉnh thoảng có người “từ thiện” đến giúp đỡ chút đỉnh. “Phật tại tâm” sao còn phân biệt chùa giàu chùa nghèo, phân biệt chùa lớn chùa nhỏ? Sự phân hóa “đẳng cấp” một cách sâu sắc không chỉ có ngoài xã hội mà đã hiện diện trong các ngôi chùa phản ánh nhu cầu tâm linh đã bị tâm lý “thực dụng” lấn át. Xưa trong truyện cổ tích khi khó khăn người ta thường cầu xin ông Bụt giúp đỡ, nay lại coi Phật như ông Bụt vạn năng có thể giúp cô Tấm trở thành hoàng hậu hay giúp anh nông dân có cây tre trăm đốt để trả thù phú ông nên người ta lên chùa cầu xin không thiếu thứ gì... Và phải chăng vì quan niệm “Bụt chùa nhà không thiêng” nên hay phải đi cầu Phật chùa xa cho “linh”?

          Nhiều người đã biết rằng, đi lễ chùa đầu năm hay vào ngày rằm, mùng một hàng tháng là để tỏ lòng thành kính với Đức Phật, con người đến với Phật không phải để cầu xin ban phát lợi lộc vật chất cho mình mà tìm đến giáo lý Phật Giáo để giác ngộ, xuất phát từ bản thân làm việc thiện “tu nhân tích đức”... Trong xã hội ai cũng hướng thiện và làm việc đức thì ngày càng có nhiều điều tốt đẹp cho tất cả mọi người, trong đó có mỗi người. Đó là tâm thức cần có khi đến với các tôn giáo trong đó có Phật giáo.

Mùa lễ hội nào cũng kết thúc, mọi người lại trở về với công việc và sinh hoạt thường ngày. Nhưng điều quan trọng là sau mỗi lần lên chùa vào đền thành kính khấn vái, chúng ta có hành xử tử tế, làm ăn lương thiện và chăm chỉ hơn không, bởi vì nói cho cùng, lười biếng thì không Thần nào cứu giúp, ác tâm thì không Phật nào độ trì... Có tâm có đức thì mới linh. Vô tâm thất đức thì dù có cầu cúng đến đâu cũng không thể mang lại sự bình an trong tâm hồn. Tâm bất an là nguyên nhân mọi sự bất ổn của cá nhân và xã hội.

Nguyễn Thị Hậu , repost




NHỊ HÒA – NƠI HIỆN HỮU KÝ ỨC LÀNG QUÊ NAM BỘ


 Có những nơi người ta đến để xem, để chụp ảnh, để “trải nghiệm”. Nhưng cũng có những nơi, chỉ cần bước chân vào, ta bỗng thấy mình đang đi chậm lại như thể không gian đã giữ hộ một nhịp sống khác. Nhị Hòa, với tôi, là một nơi như thế.

Khi làng không “trình diễn” mà kể chuyện

Đó là một ngôi làng nhỏ ngay bên đường quốc lộ, thời chiến tranh là vùng thường xảy ra chiến sự. Hòa bình rồi nhưng nhiều năm trước nơi này vẫn là vùng sâu vùng xa, xung quanh bốn bề sông nước. Con trẻ đi học có khi quá giang ghe, xuồng qua lại, mà thường xuyên “chỉ có cuốn tập cột với cái áo trên đầu, lội qua sông mà đi học”. Nay Nhị Hòa đã có một con đường bê tông rộng rãi chạy cặp theo con sông, xuyên từ đầu đến cuối làng. Khách đến chơi có thể đi đường bộ mà cũng có thể đi đường sông. Bên đường, những ngôi nhà nhỏ nằm giữa vườn rộng rợp cây xanh, có những vườn xưa mương dừa đã cạn, những cây dừa lão nghiêng ngả, lá dừa rơi dày trên lớp đất đen ngai ngái mùi bùn.

Làng du lịch vào ngày cuối tuần nhưng cũng không quá đông. Chỉ có vài bảng hiệu giản dị nhưng vui mắt ở đầu làng, còn lại trong làng cuộc sống vẫn như ngày thường. Những hoạt động du lịch ở từng nhà được chuẩn bị lỹ lưỡng nhưng không mang tính dàn dựng “trình diễn”, cả làng hiện ra trước hết bằng những thứ rất quen của miền Tây: vườn cây, hàng rào trồng bông bụt, bông giấy, vài cây mái đã nở vàng, mái nhà thấp thoáng sau hàng cây, tiếng chào hỏi từ hiên nhà... Ở đó, các hoạt động du lịch không phải như người khách tham quan, mà như người thân quen đang ghé lại trò chuyện với chủ nhà, cùng tham gia vào sinh hoạt đời thường. Ở nhà này thì cùng thưởng thức mấy loại bánh mứt làm vào dịp tết, nhà kia là các loại trái cây, nhà nữa thì xem anh chủ dùng lá dừa đan thành mấy con vật ngộ nghĩnh... Du khách cứ thoải mái ghé chơi, thử ăn các món dân dã, và thích thì mua chút quà quê màng về thành phố.

Cũng như nhiều làng du lịch cộng đồng, khách đến tham quan không phải là đến một điểm tham quan cụ thể, mà là để được đắm mình vào cảm giác hòa mình vào đời sống như nó vẫn vậy. Ở Nhị Hòa đã không có sự tách biệt rạch ròi giữa “không gian du lịch” và “không gian cư trú”, người “làm du lịch” và người làng đang làm vườn, nấu ăn, trò chuyện, sinh hoạt. Ở Nhị Hòa du khách là người đến cùng chia sẻ nhịp sống ấy. Ở đây, du lịch cộng đồng không được sân khấu hóa thành tiết mục chỉn chu mà tồn tại trong những chi tiết nhỏ: ngôi nhà còn nguyên bàn thờ với những bức hình của ông bà chắc cũng gần trăm năm trước; cách bày mâm cơm, cách tiếp khách, cách gọi nhau bằng những đại từ thân mật, cách mở cửa nhà như một thói quen tự nhiên của làng quê Nam Bộ... Những điều ấy tưởng như bình thường, nhưng chính là lớp trầm tích của ký ức văn hóa mà không nhiều người còn lưu giữ được.

Làng như một cảnh quan văn hóa sống

Tính chất cộng đồng ở Nhị Hòa được “bảo tồn” trong du lịch ở điểm mấu chốt: người dân vẫn duy trì công việc làm ăn, sinh hoạt hàng ngày, công việc du lịch nhưng chưa bị tách rời khỏi cuộc sống đời thường Nhưng nếu chỉ dừng ở khái niệm ấy thì chưa đủ để chạm đến cảm giác thật khi đứng trong không gian làng. Bởi điều đáng nói hơn không phải là “mô hình du lịch” mà là việc một ngôi làng Nam Bộ đang tồn tại như một di sản sống, đang lưu giữ ký ức trong sinh hoạt thường ngày. Chính điều này ở Nhị Hòa đã mang lại cho nhiều người một cảm giác quen thuộc “như được trở về quê nội quê ngoại vậy!”. Trong bối cảnh nhiều điểm du lịch cộng đồng bị “sân khấu hóa”, Nhị Hòa may mắn chưa bị mất đi sự hồn nhiên chất phác của người dân miệt vườn Nam bộ. Và chính sự hồn nhiên ấy làm nên giá trị học thuật đặc biệt, nó cho thấy một cộng đồng đang sống với di sản của mình, chứ không chỉ trình diễn di sản cho người ngoài xem.

Nhị Hòa có thể được xem là một cấu trúc điển hình của làng quê Nam Bộ miệt vườn. Ở đó, không gian sinh thái, không gian xã hội và không gian văn hóa đan cài chặt chẽ. Vườn cây không chỉ là sinh kế, mà còn là ký ức canh tác. Sông và kênh rạch không chỉ là cảnh quan, mà là trục giao thông và ký ức sông nước. Ngôi nhà không chỉ là nơi ở, mà là không gian lưu giữ nếp sống gia đình nhiều thế hệ. Khi du khách bước đi giữa những lớp không gian ấy, họ không chỉ “tham quan”, mà đang đi qua một hệ thống ký ức vật chất và phi vật chất tích tụ qua thời gian. Đó là dạng di sản không dễ nhận diện bằng tiêu chí di tích, nhưng lại có giá trị bền vững hơn — bởi nó gắn với đời sống.

Nhị Hòa cho thấy một cách tiếp cận đáng chú ý: bảo tồn không bằng cách “đóng băng” làng, mà bằng cách tạo sinh kế từ/gắn với chính đời sống văn hóa của cộng đồng. Khi mỗi hộ dân trở thành một mắt xích trong chuỗi trải nghiệm, du lịch không còn là hoạt động ngoại lai mà trở thành một phần của cấu trúc kinh tế – xã hội làng. Đây là mô hình bảo tồn mềm (soft conservation), tức là không xây dựng công trình du lịch quy mô lớn, không phá vỡ cấu trúc làng hiện hữu đồng thời khai thác giá trị từ chính sinh hoạt bản địa. Cách làm này phù hợp với nguyên lý bảo tồn di sản sống. Bởi vì di sản chỉ có thể tồn tại bền vững khi cộng đồng còn sống với nó, chứ không phải khi nó bị tách khỏi đời sống để trưng bày.

 Ký ức làng quê trong thời đại chuyển đổi nông thôn

Nam Bộ đang thay đổi nhanh chóng do quá trình đô thị hóa lan rộng, nông nghiệp chuyển dịch, lao động trẻ rời làng lên thành phố, đến các khu công nghiệp. Trong bối cảnh ấy cấu trúc làng truyền thống đang bị biến dạng hoặc mai một. Vì thế Nhị Hòa không chỉ là một điểm du lịch mới mà còn là không gian đang giữ lại ký ức của một kiểu làng quê đang hiếm dần.

Ký ức ấy không nằm ở những sự kiện lịch sử lớn, mà ở đời sống thường nhật: đó là ký ức về những bữa cơm gia đình, cuộc trò chuyện ở hiên nhà khi chiều xuống, về con đường làng rợp bóng cây, về con sông luôn có bóng dáng ghe xuồng qua lại, là ký ức về sự hiếu khách chân tình, rất Nam Bộ... Những yếu tố này được gọi là di sản đời sống (everyday heritage), rất khó bảo tồn bằng biện pháp hành chính nhưng lại có thể được duy trì thông qua từng người dân. Nếu du lịch cộng đồng nếu được tổ chức đúng hướng thì loại di sản này càng có điều kiện lưu giữ lâu dài.

Khi đặt Nhị Hòa trong mối liên hệ với không gian đô thị Nam Bộ, đặc biệt là TP.HCM, ta sẽ thấy một đối sánh thú vị. Trong đô thị, ký ức thường bị nén lại, thay thế nhanh bởi các lớp phát triển mới. Những không gian cộng cư truyền thống, nhịp sống chậm, quan hệ láng giềng thân mật dần bị suy giảm. Trong khi đó ở Nhị Hòa, ký ức làng quê vẫn được duy trì trong đời sống hàng ngày. Đây là một hiện tượng đang diễn ra trong “cấu trúc văn hóa vùng” Nam Bộ trong thời kỳ chuyển đổi. Theo nghĩa ấy, trường hợp Nhị Hòa không chỉ là một làng du lịch mà còn thể hiện sự “đối trọng ký ức” của vùng đô thị hóa mạnh.

Trải nghiệm cá nhân thường mang tính cảm xúc. Cảm giác bình yên, thân thuộc khi đến Nhị Hòa không chỉ là cảm xúc chủ quan mà phản ánh sự hiện diện của một hệ sinh thái văn hóa còn nguyên vẹn. Tuy nhiên, cũng cần cảnh báo một cách tỉnh táo: bất kỳ mô hình du lịch cộng đồng nào khi phát triển đều đối diện nguy cơ thương mại hóa ký ức. Khi lượng khách tăng, đời sống có thể bị điều chỉnh để phù hợp với kỳ vọng du lịch, những gì tự nhiên có thể dần trở thành “chuẩn hóa” để phục vụ thị trường. Do đó, vấn đề cần đặt ra không chỉ là “Nhị Hòa có hấp dẫn hay không?” mà quan trọng hơn, mô hình này sẽ giữ được tính xác thực văn hóa dài hạn hay không?

Rời Nhị Hòa, điều còn lại không phải là một danh sách điểm tham quan, mà là một cảm giác về nhịp sống. Một ngôi làng không quá xa, nhưng đủ khác để khiến người đô thị nhận ra mình đã quen với tốc độ nhanh đến mức nào. Đến Nhị Hòa, người ta nhận ra nơi ấy là một không gian còn giữ được “nhịp sống chậm” - thứ đang dần trở nên hiếm trong xã hội đương đại. Ở Nhị Hòa mình được tạm dừng cuộc đua vất vả nơi phố thị mà nghỉ ngơi theo nhịp võng thong thả bên hiên nhà.

Có lẽ, giá trị lớn nhất của những làng du lịch cộng đồng không nằm ở việc trở thành một điểm đến nổi tiếng mà ở khả năng nhắc cho chúng ta nhớ rằng, di sản không chỉ là những gì cổ xưa và tĩnh tại, mà còn là đời sống bình dị đang tiếp diễn mỗi ngày. Khi du lịch được tổ chức như một sự chia sẻ thay vì khai thác thì làng quê không bị biến thành sản phẩm, mà trở thành một không gian đối thoại giữa ký ức và hiện tại.

Đấy cũng là điều mà tôi muốn được chia sẻ với anh - người bạn quý mến, người luôn dành hết tâm huyết cho sự phát triển du lịch và văn hóa tại vùng quê xinh đẹp, hiền hòa và giàu tiềm năng của mình.

 Nguyễn Thị Hậu 



TC DU LỊCH TP.HCM

https://tcdulichtphcm.vn/du-khao/nhi-hoa-noi-hien-huu-ky-uc-lang-que-nam-bo-c14a110166.html?fbclid=IwY2xjawQDQrNleHRuA2FlbQIxMQBzcnRjBmFwcF9pZBAyMjIwMzkxNzg4MjAwODkyAAEexzWps918J4AqDmMfnkHwV7hj_7wwt9X2jWW5KnIncKNgJzLySZFdMQyGqus_aem_ESp8wV3d6zAlSWZlpBveAg

MÙA XUÂN SÀI GÒN RẤT GẦN VÀ BÌNH YÊN

 Tản văn, Nguyễn thị Hậu

Một buổi sáng cuối năm tôi ngồi trong quán cà phê quen thuộc. Quán nhỏ trong con hẻm vắng, không bày biện “Mừng giáng sinh” hay “Chúc mừng năm mới”, không nhạc xuân rộn ràng như nhiều quán lớn mặt tiền đường phố, chỉ có mùi thơm cà phê, vài chiếc bàn gỗ đã sẫm màu theo năm tháng. Nhưng tôi vẫn thấy mùa xuân đang đến, không phải ở cảnh sắc ngoài phố mà trong cảm giác bâng khuâng của lòng người.

Sài Gòn có nhiều quán cà phê như thế, không nổi tiếng nhưng luôn là nơi người ta tìm đến để ghi dấu một chuyến đi, ghi nhớ một câu chuyện, thương nhớ một con người. Chỉ là một con hẻm trên con đường có hai hàng cây sao cao vút, tán không còn đều, rễ đội lên mặt vỉa hè những vết nhăn thời gian. Buổi sáng xe cộ vẫn ồn ào qua lại, cả ngày cũng chẳng khi nào vắng. Con hẻm nhỏ cũng như cả thành phố này, cuộc sống ở đây không phô bày, nó sống động, bình thản và giản dị.  Sống ở Sài Gòn đã 50 năm, tôi luôn nhận ra mùa xuân ở Sài Gòn hiếm khi được nhận ra bằng thời tiết. Nó không đến bằng cái rét cuối cùng hay những đợt nắng ấm đầu tiên. Xuân đến bằng tín hiệu rất mỏng: buổi sáng nào đó bước chân ra đường phố, bỗng một cảm giác bồi hồi là lạ rất khó gọi tên, như thành phố chợt chậm lại một nhịp thở sau một năm dài sôi động.

Vào buổi sáng như sáng nay, quán cà phê vẫn như mọi ngày nhưng đã nghe mùa xuân ghé vào quán nhỏ, tạo nên một nhịp điệu rất riêng. Người ra vào không vội, câu chuyện cũng không cần kết thúc. Mỗi người ngồi đó đều như đang tạm dừng trong “khoảng giữa” năm cũ và năm mới, giữa điều đã qua và điều chưa kịp tới. Tôi nhận ra, mùa xuân có lẽ đã “chạm” vào mỗi người chính ở khoảng giữa ấy. Mỗi lần ngồi trong quán cà phê quen tôi đều nghĩ rằng, Sài Gòn chính là những quán cà phê như thế này. Không cần trang trí theo mùa, không cố tái tạo vẻ cổ xưa cũng không quá hào hứng với cái mới. Nó để mọi thứ cùng tồn tại một cách tự nhiên. Bàn cũ đứng cạnh bàn mới, người trẻ ngồi bên người già, khách mới trò chuyện cùng khách quen… Ký ức và hiện tại không tranh giành không gian, chỉ lặng lẽ đan xen vào nhau, chồng xếp lên nhau. Sài Gòn đã được “giữ lại” bằng cách đó.

Vào khoảng thời gian giao mùa, năm cũ gần qua năm mới đang đến, nhiều thành phố chào đón bằng lễ hội, bằng bông hoa trang trí rực rỡ và những náo nhiệt thúc giục người ta đổ ra đường phố... Nhưng Sài Gòn luôn đón xuân bằng thói quen uống cà phê mỗi sáng, thói quen ghé quán quen trước khi bắt đầu một ngày mới, thói quen ngồi yên vài phút giữa dòng chảy vội vã của đô thị. Mùa xuân ở Sài Gòn vì thế không làm người ta quá nôn nao mà làm lòng người mềm lại. Sau một năm bươn chải, người ta cho phép mình chậm hơn một nhịp, cho phép mình nhớ lại những việc đã qua, những điều chưa kịp làm, những dự định từng được viết ra rồi gấp lại. Nhưng nghĩ đến những điều ấy lúc này không thấy nặng nề. Ngồi quán cà phê lúc này, dễ tha thứ. Tha thứ cho những chậm trễ, cho những thiếu sót, cho cả những giấc mơ chưa kịp gọi tên. Xuân làm người ta nhân ái hơn với chính mình, với mọi người.

Tôi ngồi lắng nghe con phố dài xao xác lá ngoài kia, nhận ra, dù Sài Gòn đổi thay từng ngày nhưng có những thứ rất khó mất, như cách người ta chào nhau bằng ánh mắt, bằng nụ cười, bằng lời nhắc nhau trên đường, bằng câu xin lỗi, cám ơn. Tất cả điều đó mang lại cảm giác rằng dù thành phố có lớn đến đâu thì mỗi người vẫn có một chỗ để quay về. Đô thị nào cũng phát triển, cũng phức tạp khó lường, nhưng không phải đô thị nào cũng như Sài Gòn, giữ được những khoảng dừng cho từng con người khi thành công và cả khi thất bại. Những quán cà phê quen thuộc chính là một khoảng dừng như thế. Ở đó, người ta không cần phải trở thành ai khác, không cần phải nhanh hơn, giỏi hơn hay mới hơn. Chỉ cần ngồi xuống, gọi một ly cà phê, và để thành phố đi ngang qua chính mình.

Mỗi năm, mùa xuân ghé lại những quán nhỏ ở thành phố này, khẽ khàng, dịu dàng. Không báo trước không gõ cửa, chỉ ngồi xuống cạnh bạn giữa tiếng thìa chạm vào ly và tiếng xe ngoài đường phố. Chỉ chạm nhẹ vào bạn bằng hơi gió dịu mát để nhắc rằng một năm nữa sắp bắt đầu. Mùa xuân không đòi hỏi bạn phải đổi mới, nó chỉ cần bạn đủ mở lòng. Và thế là ta chợt thấy lòng nhẹ đi một chút. Chỉ một chút thôi, đủ để tin rằng năm mới luôn đáng để chúng ta bước tiếp.

Trên những con đường khắp Sài Gòn vẫn luôn sống động, vội vã mà vẫn ung dung. Người giao hàng dừng xe trước tiệm tạp hoá đầu hẻm. Một bà cụ bán vé số ngồi nép dưới tán cây. Quán hủ tiếu bên đường đang đông khách… Thành phố không đợi Tết để nhộn nhịp, cũng không thúc giục người ta bước sang năm mới. Nó cứ đi, đều đặn và bền bỉ, như cách nó đã đi suốt hàng trăm năm qua, dung chứa đủ mọi nhịp sống, đủ mọi phận người.

Khi ly cà phê cạn dần, tôi đứng lên và bước ra đường. Thành phố vẫn thế, không khác buổi sáng hôm qua, không khác những buổi sáng đã qua, nhưng lòng người thì đã nhẹ hơn một chút. Mùa xuân đến mang lại cho người Sài Gòn cảm giác chờ đợi những cuộc đoàn tụ, gặp gỡ và kết nối... Sài Gòn vào xuân không ồn ào, không hứa hẹn mà là sự bình an để người ta tin rằng, mình có thể bước tiếp chậm rãi nhưng vững vàng, trong một năm mới đang chờ phía trước.

Ở Sài Gòn, đôi khi ta chỉ cần một khoảnh khắc giao hòa giữa hương thơm ly cà phê, hơi gió chướng rất nhẹ và ý nghĩ phiêu lãng rất riêng. Ấy là mùa xuân đã đến trong lòng mình trước khi hiện diện trên thành phố. Đó là một đặc ân mà Sài Gòn luôn rộng rãi mang đến cho mỗi người.

Sài Gòn 5.1.2026




For the day after Valentine's day

 (1)

Họ thường xuyên liên lạc với nhau nên nó có thói quen khi xem đồng hồ luôn cộng thêm 1, vì đó là giờ nơi anh ở. Những số giờ cộng 1 làm cho thời gian trôi nhanh hơn, họ như gần nhau hơn. 

Một ngày khi xem đồng hồ nó chợt nhớ ra bây giời thời gian nhanh chậm không còn ý nghĩa gì nữa, dù anh vẫn ở nơi đấy thôi. Bây giờ 12 giờ chỉ là 12 giờ.


(2)
Nhiều năm sau cô trở lại Paris. Ở cầu tình yêu cô không sao tìm thấy ổ khóa của anh và cô ngày trước. Có lẽ nó đã bị lấy đi để nhường chỗ cho khóa của những cặp tình nhân khắp thế giới đến đây mỗi ngày.
Cô lại khóa vào cây cầu một chiếc khóa mới, chìa khóa không vứt xuống sông Seine mà cẩn thận lồng sợi giây và đeo vào cổ. Đây là khóa cô dành cho Paris, thành phố của mối tình đã qua…

(3)

Bây giờ cái gì cũng cần mật khẩu: thẻ tín dụng, máy tính, điện thoại, tài khoản ngân hàng, email, mạng xã hội... Dùng nhiều thì mật khẩu thuộc lòng. Ít dùng sẽ quên mật khẩu, có khi phải phải đổi mật khẩu để bảo mật.
Một ngày cô đột ngột ra đi. Nhìn căn nhà trống vắng anh chợt nhận ra từ lâu mình đã quên “mật khẩu” đăng nhập vào trái tim cô.
Đơn giản chỉ là “anh yêu em”.

(4)
Rất lâu rồi vợ chồng hình như chẳng còn nói lời ngọt ngào với nhau. Một ngày kia theo trò chơi của bạn bè, cô lấy điện thoại nhắn cho chồng “Em yêu anh!”. Nhớ lại "mật khẩu" ngày xưa của hai người cô bỗng bồi hồi...
Chồng trả lời ngay “Làm sao thế, điên à? Hay nhắn nhầm cho thằng nào?!”
Cô giật mình, tưởng vừa đăng nhập sai tài khoản.

(5)

Cửa hàng bán những chiếc bình đẹp bằng pha lê và thủy tinh. Bình thủy tinh bán chạy hơn vì nhìn cũng giống pha lê, nhưng giá rẻ, vỡ cũng không tiếc.
Ít người mua bình pha lê, nhưng đã mua thì giữ gìn cẩn thận, không chỉ vì đắt tiền mà vì hiểu giá trị hoàn mỹ của bình pha lê như một tác phẩm nghệ thuật.
Tình yêu như pha lê còn những gì giống như tình yêu chỉ là thủy tinh.

#truyen100chu for the day after Valentine's day 🙂



GIỮ HỒN QUÊ HƯƠNG TRONG NHỮNG ĐƯỜNG BIÊN MỚI

*Quê hương không bao giờ là “quê cũ” Khi thông tin sáp nhập các tỉnh, thành được công bố, nhiều người nhận ra những tên đất, tên làng, những...