SÀI GÒN - TP.HCM NÉN MẠNH NHẤT SỨC SỐNG NAM BỘ

Vì sao chiếc tắc ráng, Cần Giờ và chợ Bình Tây có thể “đại diện” cho một Nam Bộ, một Sài Gòn – TP.HCM luôn biết dung hòa và tự làm mới mình? TS Nguyễn Thị Hậu - Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử TP.HCM, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển TP.HCM trò chuyện cùng Báo Thanh Niên
Nam Bộ không chỉ cởi mở mà còn biết tự làm mới mình
Nếu phải mô tả về Nam Bộ bằng một hình ảnh, bà sẽ chọn gì? Tại sao?
Đó là chiếc tắc ráng. Tôi chọn nó vì nó thể hiện những đặc trưng nhất của cá tính Nam Bộ: thích ứng, linh hoạt và đổi mới. Thích ứng vì chiếc tắc ráng nhỏ, thuôn, có thể đi trên sông lớn cũng có thể len lỏi vào kinh rạch nhỏ bé, ngoằn nghèo... Linh hoạt vì nước lớn, nước ròng đều chạy được, chở 1 hay 2,3 người, nôm na là thay thế chiếc gắn máy trên bờ. Đổi mới là từ chiếc ghe, xuồng ba lá truyền thống nhưng gắn thêm động cơ, vật liệu cũng đổi sang composite để nhẹ và bền hơn. Chiếc tắc ráng còn mang tính đa năng, không chỉ dùng để di chuyển mà còn có thể chở hàng hóa, buôn bán nhỏ trên sông rạch. Bây giờ còn dùng phục vụ du khách vì tiện lợi, sạch sẽ.
Người ta thường khen Nam Bộ là vùng đất cởi mở. Theo bà, vậy đã đủ chưa, còn điều gì làm nên năng lực hội tụ và dung hòa văn hóa của vùng đất này?
Cởi mở thì đúng nhưng chưa đủ và nếu chỉ nói vậy thì e rằng hời hợt. Điều làm nên năng lực hội tụ và dung hòa của Nam Bộ không chỉ là tính cách cởi mở mà là cách hệ thống xã hội nơi này vận hành.
Trước hết là cơ chế xã hội. Nam Bộ không tự tạo ra những trung tâm khép kín mà ngược lại, là nơi ai đến cũng được đón nhận. Nếu một vùng đất khép kín thì không thể hấp dẫn người khác đến để tìm cơ hội mới, cũng không thể kích thích được sự thử nghiệm, sáng tạo. Đến vùng đất mới là để làm ra cái mới chứ không thể mang nguyên mô hình cũ tới đây.
Về mặt kinh tế, sinh sống ở đây mọi người phải hợp tác để tồn tại. Người Hoa phát triển thương nghiệp và thủ công nghiệp, người Việt phát triển nông nghiệp, không có sự liên kết ấy thì không thể phát triển kinh tế. Đồng thời còn phải gắn bó với cộng đồng bản địa như người Khmer ở miền Tây, người thiểu số ở miền Đông Nam bộ để học hỏi kinh nghiệm thích ứng với tự nhiên... Nhờ vậy các “miệt” đều phát triển, kinh tế mang tính thị trường sớm và vận hành thông suốt.
Về mặt văn hóa, Nam Bộ tiếp nhận mọi khác biệt trên tinh thần bình đẳng. Ở đây các cộng đồng đều không tự đặt ra một chuẩn duy nhất rồi xem văn hóa khác là nhỏ hơn, thấp hơn. Nam Bộ tích lũy rất nhanh kiến thức, nền tảng văn hóa, lối sống…nhưng không đóng khung vào bất cứ một mô hình nào. Cái mới ở Nam Bộ thường không xóa cái cũ, mà tái cấu trúc cái cũ. Từ nhạc lễ triều Nguyễn vào đây, trong bối cảnh xã hội mới mà hình thành ra đờn ca tài tử, rồi từ đó cải lương ra đời và phát triển. Cải lương không phủ định đờn ca tài tử, mà lớn lên từ đó, đồng thời đờn ca tài tử không mất đi mà vẫn tồn tại sâu rộng trong cộng đồng.
Nói về Nam Bộ không thể không nhắc đến con người Nam Bộ “rất cởi mở, khoan hòa”. Vì lưu dân người Việt, người Hoa vào đây đa phần là tầng lớp bình dân, nên không phân biệt nguồn gốc, đẳng cấp, thân phận, bình đẳng với nhau, sống giản dị. Cũng vì là người bình dân nên góc nhìn của họ rất thực tiễn, không bị định kiến bởi một ý thức hệ giai cấp nào cả, dễ chấp nhận cái khác biệt để cùng tồn tại. Người Nam Bộ không quen “đóng cửa khép lòng”.
Từ cảng thị biển thành trung tâm văn hóa Nam Bộ
Là tiến sĩ khảo cổ, trong nhiều nghiên cứu của bà, Cần Giờ như một “mặt tiền” và “trạm trung chuyển” của Nam Bộ. Nếu kể lại câu chuyện Nam Bộ từ Cần Giờ, câu chuyện sẽ khác đi ra sao?
Nam Bộ không phải là vùng đất mới. Chứng tích khảo cổ cho thấy từ hơn 2000 năm trước (thời tiền, sơ sử), “cảng thị sơ khai” Cần Giờ đã phát triển thương mại bằng đường biển, hàng hóa luân chuyển sâu vào đất liền qua các con sông lớn. Di chỉ khảo cổ học quốc gia Giồng Cá Vồ ở Cần Giờ đã chứng minh điều đó khi tìm thấy rất nhiều đồ tùy táng (vật dụng chôn theo người chết) như đá ngọc, dụng cụ sinh hoạt, vũ khí…có nguồn gốc từ Ấn Độ, Trung Quốc, Đông Nam Á.
Từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 6, khu vực Kiên Giang, An Giang ngày nay, Óc Eo – Ba Thê là một trong những thương cảng trung tâm của khu vực Đông Nam Á, kết nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, Ấn Độ và Trung Hoa.
Vì thế, trước khi là vựa lúa của cả nước, Nam Bộ đã là trung tâm giao thương của khu vực. Cái gốc “hướng biển” ấy giải thích vì sao vùng đất này sớm biết mở cửa và có năng lực tiếp nhận những nền văn hóa khác và dung hòa sự khác biệt đến vậy. Đến nay, “văn hóa biển” ở Nam bộ vẫn còn hiện diện trong mọi mặt đời sống.
Nếu phải giải thích thật gọn vì sao Sài Gòn - TP.HCM là nơi nén mạnh nhất sức sống Nam Bộ, bà sẽ bắt đầu từ đâu?
Trước hết là vị trí. Sài Gòn - TP.HCM nằm ở vị trí trung tâm giữa Đông và Tây Nam Bộ, lại là cửa ngõ quan trọng ra biển (qua Cần Giờ) của cả vùng nam Đông dương. Không phải ngẫu nhiên mà ngày trước Chúa Nguyễn Ánh chọn nơi này để xây thành Gia Định (năm 1790). Đó là vị trí trời cho nhưng cũng là vị trí được con người nhận ra và tận dụng.
Kế đó, mô hình lịch sử của TP này không theo một khuôn mẫu cố định mà luôn biến đổi. Đó là mô hình mở: từ trung tâm thương mại (vùng Chợ Lớn), trung tâm hành chính (vùng trung tâm TP.HCM ngày nay) sau đã sáp nhập, tái cấu trúc thành đô thị - thương cảng Sài Gòn. Nét giao thương “trên bến dưới thuyền” trở thành đặc trưng. Ở TP.HCM sức mạnh nằm nhiều ở “trên bến” với hàng loạt các kho, chành, nhà máy, hình thành một nền công nghiệp xuất khẩu. Miền Tây mạnh ở “dưới thuyền” với nguồn cung ứng nông sản dồi dào.
Hơn nữa, cũng giống Nam Bộ, đến Sài Gòn - TP.HCM mọi người đều phải tự làm mới mình. Người Trung, người Bắc nếu quen lối sống khép kín làng xã, khi vào đây phải mở hơn để kết nối làm ăn kiểu mới. Họ tái định nghĩa lại bản thân trong một môi trường mở hơn.
Ngay cả không gian đô thị ở TP.HCM cũng là một dạng Nam Bộ thu nhỏ. Trong đó, kiến trúc Việt, Hoa, Pháp, Khmer... hòa hợp với nhau.
Theo cách nhìn của tôi, Hà Nội, Huế khó có thể là đại diện cho cả miền Bắc, miền Trung vì ở mỗi miền đó có nhiều “tiểu vùng văn hóa” có thể phân biệt rõ ràng. Nhưng ở Nam Bộ, Sài Gòn trước kia và nay là TP.HCM có thể đại diện cho cả Đông và Tây Nam Bộ. Cách gọi “Anh Hai Nam bộ” chính là sự đại diện ấy.
Sài Gòn – TP.HCM vẫn là vùng đất lành chim đậu
Nếu Nam Bộ là một vùng đất hội tụ và dung hòa, thì Sài Gòn, TP.HCM hôm nay đang giữ được điều gì đẹp nhất?
Điều đẹp nhất mà TP.HCM vẫn giữ được đó là vùng đất lành chim đậu. Thành phố này vẫn thu hút người ta đến, luôn tiếp nhận người nhập cư và chia sẻ những cơ hội cho mọi người, bất cứ ai, dù nguồn gốc khác nhau vẫn có thể cùng tồn tại mà không tạo ra xung đột. Một điều rất hay là ở đây ít có xu hướng dựng những “hàng rào đồng hương” khép kín làm ăn kinh tế, mà chủ yếu để cùng chia sẻ tình cảm quê hương. Yếu tố dung hòa quan trọng nhất là đến đây với mục đích “làm ăn” nhưng rồi nhiều người dần tự trở thành “người Sài Gòn”.
Văn hóa dịch vụ của thành phố này cũng là biểu hiện đẹp. Các quán ăn, cách buôn bán, ứng xử thường theo nguyên tắc “bình đẳng, đôi bên cùng có lợi” chứ không phải người có tiền là được quyền coi thường người phục vụ. Chính sự không quá câu nệ và khả năng chấp nhận sự khác biệt đã làm nên sức hút ấy.
Còn điều gì đáng lo nhất?
Sự dễ chấp nhận tất cả một cách “vô tâm” có nguy cơ trở thành điểm yếu nếu không giữ một cái ngưỡng.
Trong đời sống hàng ngày, chửi thề, nói oang oang nơi công cộng; không nhường chỗ cho người già, phụ nữ trên xe buýt; hung hăng trên đường phố… đã trở nên phổ biến. Nhiều người đang đánh mất câu xin lỗi, cảm ơn (vốn trước đây là câu cửa miệng của người Sài Gòn); mất dần tính nghĩa hiệp (không chỉ nghĩa hiệp theo kiểu bắt cướp mà theo nghĩa biết phản ứng trước cái xấu, biết đứng ra bảo vệ cái đúng và sự công bằng). Cạnh đó, nếu trong văn bản hành chính ngôn ngữ cần phải thống nhất nhưng trong đời sống thì ngôn ngữ cần phải giữ tính địa phương vì đó là bản sắc. Nghe giọng, cách dùng từ sẽ biết người đó ở vùng nào. Tiếng nói, phương ngữ... là di sản phi vật thể của mỗi vùng miền.
TP.HCM không chỉ là trung tâm kinh tế, mà còn là trung tâm văn hóa. Nếu chỉ nhìn thấy kinh tế mà không nhìn thấy vốn văn hóa rất đặc thù của mình, thành phố sẽ tự làm nghèo chính mình.
Nếu dẫn một người chưa hiểu về Nam Bộ đến đúng một nơi ở TP.HCM để họ ‘thấy tận mắt’ tinh thần hội tụ và dung hòa ấy, bà sẽ đưa họ đi đâu?
Tôi chọn chợ Bình Tây (Chợ Lớn). Có một thời gian dài tôi phải đi làm thêm là bỏ mối hàng ở đây nên khá hiểu và yêu thích nơi này. Đó là một di sản đang sống thực sự, thể hiện rõ nét tinh thần “hội tụ và dung hòa”. Vào đây có thể gặp tiểu thương người Việt, Hoa, Khmer và cả người Chăm cùng buôn bán. Công năng buôn bán ở đây rất đa dạng: sỉ, lẻ; lớn, nhỏ; hàng truyền thống lẫn hàng hiện đại; người buôn bán nhiều đời lẫn người mới vào nghề…Trong chợ thường là nghề chuyên nghiệp, buôn bán chuyên một ngành hàng. Quanh chợ là nghề không chuyên, mặt hàng cũng thời vụ hơn.
Chợ Bình Tây hiện vẫn đang sống khỏe, sống bền vì nó có vai trò thật trong đời sống cộng đồng. Đó không chỉ là nơi mua bán mà còn là không gian xã hội, một cấu trúc ký ức đô thị. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà tên của một ngôi chợ đã sớm trở thành cái tên hành chính cho cả vùng: Chợ Lớn.
Một nét rất đáng quý của người Nam Bộ là biết ơn người lập chợ. Ở chợ Bình Tây có tượng người xây chợ là ông Quách Đàm, tiểu thương hàng ngày vẫn đến thắp hương nhớ ơn. Ở vùng Phú Nhuận từ xưa đã có tên đường Lê Tự Tài – là người lập ra chợ Phú Nhuận. Hay ở Cao Lãnh hàng năm tổ chức lễ giỗ ông bà Đỗ Công Tường chủ chợ Cao Lãnh. Coi trọng thương nghiệp, phát triển thị trường – đó là một đặc trưng kinh tế của Nam bộ và được biểu hiện rõ nhất ở Sài Gòn – TPHCM.
Nếu hình dung Sài Gòn - TP.HCM trong 20 năm nữa vẫn là trung tâm văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo của Nam Bộ mà không đánh đổi hồn cốt của mình, bà sẽ bắt đầu từ đâu?
Tôi sẽ bắt đầu từ quyền văn hóa của cộng đồng cư dân. Nói nôm na là quyền dân chủ cơ sở trong lĩnh vực văn hóa.
Bản sắc của thành phố này phải bắt đầu từ cộng đồng. Nếu cộng đồng không hiểu rõ mình là ai, thì họ không thể tham góp vào quy hoạch, không thể thực hành trong các thiết chế văn hóa, cũng không thể trao truyền nó qua giáo dục. Người dân không hiểu, không yêu thành phố thì không thể xây dựng và phát triển nó một cách tốt đẹp, bền vững.
Cạnh đó, người dân phải có quyền bày tỏ nhu cầu và yêu cầu của mình đối với đô thị. Đó là việc thực hiện dân chủ cơ sở. Một trung tâm văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo thì ít nhất những công trình được dựng lên phải đáp ứng được nguyện vọng của người dân, phát huy được vốn văn hóa của người dân. Nói cách khác, nếu không bắt đầu từ cộng đồng cư dân, TP.HCM rất khó trở thành trung tâm văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo mang bản sắc độc đáo của mình.
Xin cảm ơn bà!

NGUYỄN TẬP phỏng vấn - báo THANH NIÊN số kỷ niệm 30/4/2026




TỪ MỘT “GIỌT NƯỚC” ĐẾN “ĐÔ THỊ NHÂN VĂN

  

thành phố, trên những con đường quen thuộc ta qua mỗi ngày thường vài cảnh quan, công trình mà ta hầu như quên mất sự tồn tại của nó. Khu đất số 1 Lý Thái Tổ là một nơi như thế. Ngày đêm dòng xe cuồn cuộn chảy quanh nhưng bên trong bức tường là một nơi có vẻ như không liên quan gì đến nhịp sống sôi động của thành phố. Khu đất và các công trình trong đó là nơi xưa nay “kín cổng cao tường”, xa lạ với nhiều người dân ở ngay khu vực xung quanh.  

Cho đến một ngày khi đi qua vòng xoay Lý Thái Tổ chúng ta bất chợt nhận ra một không gian xanh mát mở ra trước mắt. Trong đó thấp thoáng vài biệt thự xưa, và một “tiểu không gian” hiện đại: Một Giọt nước long lanh giữa những vòi phun nước, xung quanh là những bậc thềm rộng rãi, thân thiện mời gọi mọi người “ngồi lại bên nhau”. Một không gian tĩnh nhưng không lặng và mang lại nhiều cảm xúc.

“Công viên Giọt nước” – như người dân gọi nơi này, không gây ấn tượng bằng vẻ đẹp choáng ngợp mà bằng cảm giác nơi để dừng chân, được hít thở không khí trong lành, nhớ lại ký ức chưa xa... Tuy không lớn nhưng khuôn viên có nhiều cổ thụ tạo bóng mát, lại được chăm chút thêm bằng thảm cỏ, vườn hoa xinh xinh... Một công viên nhỏ được tạo ra giữa “quy hoạch vĩ mô” của sự phát triển hạ tầng giao thông hiện đại. “Giọt nước” rất nhỏ so với không gian xung quanh, nhưng chính từ sự nhỏ bé ấy lại gợi mở ra câu hỏi lớn: một siêu đô thị sẽ dành bao nhiêu nơi như vậy cho con người dừng lại và nghỉ ngơi?

Nhiều người cho rằng, sự phát triển đô thị phải bằng những đại lộ, công trình cao tầng và tòa nhà hiện đại, bằng những dự án quy mô lớn “nghìn tỷ”. Nhưng đời sống thực sự của thành phố lại diễn ra ở những không gian rất khác. Đó là những nơi không được quy hoạch và thiết kế để trở thành hoành tráng, hiện đại, sang trọng, mà đơn giản chỉ là nơi để con người có thể thoải mái hiện diện vì nó đáp ứng một nhu cầu nào đó. Công viên hay không gian công cộng là những nơi như thế. Người ta đến đó tập thể dục, đi bộ vào sáng sớm, hẹn nhau đến đó để trò chuyện, ghé vào nghỉ chân sau một quãng đường nắng nóng, hay thư giản nghỉ ngơi vào buổi tối mát mẻ sau một ngày vất vả mưu sinh, vào ngày cuối tuần có thể cùng gia đình đến vui chơi, ngồi quán cà phê, hay thậm chí đến đây không vì mục đích nào cả. Những hành vi tưởng như vụn vặt ấy, khi lặp lại mỗi ngày lại chính là cách con người đang sống, là cách đô thị được sống.

Không gian công cộng không chỉ là một yếu tố cảnh quan đơn thuần. Nó trở thành một dạng “hạ tầng mềm” của thành phố, không thể đo đếm bằng diện tích mà bằng khả năng tạo ra những khoảnh lặng bình yên. Hiện nay, lý thuyết đô thị đương đại nói nhiều đến những “khoảng nghỉ đô thị” (urban pause), đó là những không gian cho phép con người thoát khỏi tốc độ căng thẳng và nhàm chán vì lặp đi lặp lại, thoát khỏi áp lực và sự phức tạp của cuộc sống. Như vậy, công viên “giọt nước” bên vòng xoay Lý Thái Tổ không phải là phần “tiện thể” của một quy hoạch tổng thể, hay là “tận dụng đất trống” trong khi chưa sử dụng, phải được coi là một phần thiết yếu của hệ sinh thái đô thị. Những “tiểu không gian” ấy tạo nên chiều sâu của đời sống đô thị, nơi tinh thần của con người được cung cấp năng lượng để có thể tái tạo thậm chí phục hồi.

Những không gian như thế không chỉ mang lại lợi ích ở hiện tại, mà trải qua thời gian còn tích tụ ký ức trong cộng đồng. Không phải ký ức lớn lao của các sự kiện lịch sử chính thống, mà là ký ức đời thường, giản dị, dễ biến mất, khó nắm bắt. Cũng không phải là câu chuyện về các nhân vật lịch sử lớn lao mà là câu chuyện của các thế hệ cư dân, của cộng đồng từng khu vực. Tất cả những sinh hoạt hàng ngày mang lại niềm vui, tạo thành thói quen, sự hữu ích... qua năm tháng sẽ trở thành lớp trầm tích ký ức riêng của từng nơi chốn.

Từ một “giọt nước” nhỏ có thể nhìn rộng ra câu chuyện của siêu đô thị TP. Hồ Chí Minh hôm nay và ngày mai. Thành phố phát triển càng nhanh càng lớn thì nguy cơ đánh mất những khoảng không gian như vậy càng cao. Áp lực về giao thông, về đất đai, về hiệu quả sử dụng không gian khiến mọi thứ có xu hướng bị “tối ưu hóa” vì lợi ích kinh tế trước mắt. Trong quá trình đó những gì không trực tiếp tạo ra “tiền tươi thóc thật” dễ bị xem là thứ yếu. Nhưng nếu mọi không gian trong thành phố đều bị lấp đầy bởi công trình chức năng, nếu mọi khoảng trống đều bị chuyển hóa thành giá trị kinh tế, thì con người sẽ ở đâu trong cấu trúc ấy, sẽ giữ vai trò gì trong thành phố ấy? Khi đó đô thị sẽ trở thành một cỗ máy vận hành hiệu quả mà không còn khả năng chăm sóc con người. Con người chỉ còn là một “đinh ốc” trong cỗ máy khổng lồ đó mà thôi.

Sự hiện diện của những khoảng dừng như công viên “giọt nước” mang ý nghĩa như một “tuyên ngôn mềm” về siêu đô thị. Bằng sự hiện diện bình dị, những “tiểu không gian” đã cho biết đô thị vẫn còn chỗ cho con người hòa vào thiên nhiên, giữa tốc độ ngày càng nhanh vẫn có nơi để chậm lại, thay đổi tâm trạng tích cực hơn, mang lại sự cân bằng cho tinh thần. “Tuyên ngôn mềm bằng sự hiện diện, những “giọt nước” đã đặt ra và đòi hỏi một tiêu chuẩn quan trọng cho sự phát triển của đô thị: không chỉ là lớn hơn, nhanh hơn, hiện đại hơn mà còn là phải nhân văn hơn.

Một đô thị nhân văn trong thời đại ngày nay rất cần có hạ tầng hiện đại, đồng thời cũng phải những con người giàu có về trải nghiệm sống. Điều đó chỉ có được nếu đô thị tạo ra được những không gian để con người nghỉ ngơi, tương tác và cảm nhận, giữa người với người, giữa con người với thiên nhiên. Đô thị nhân văn không phải là sự đối lập với đô thị hiện đại, mà là cân bằng giữa sự phát triển vật chất với sự giàu có của tinh thần. Đó là sự phát triển không chỉ nhằm tối đa hóa công năng mà còn để bảo vệ những nhu cầu rất cơ bản của con người: được nghỉ ngơi mà không bị thúc ép bởi thời gian, được hiện diện mà không bị sự bao vây của tiêu dùng, được gặp gỡ mà không cần phải có hiệu quả về kinh tế. Những điều tưởng như đơn giản ấy lại chính là nền tảng của đời sống đô thị bền vững.

Đô thị nhân văn còn là vấn đề công bằng không gian đô thị. Ai cũng có quyền tiếp cận những khoảng nghỉ, không phân biệt tuổi tác, thu nhập hay mục đích. Khi một thành phố chỉ còn lại những không gian phải trả tiền, phải có “đẳng cấp” mới được hiện diện thì nó đã loại trừ một phần lớn cư dân của mình ra khỏi trải nghiệm đô thị. Ngược lại, những không gian công cộng mở dù rất nhỏ chính là nơi mà mọi người có thể cùng hiện diện không phân biệt giàu nghèo, góp phần giảm bớt bất bình đẳng xã hội

Trong bối cảnh hiên tại và tương lai, những không gian như “công viên giọt nước” ở Lý Thái Tổ ý nghĩa vượt ra ngoài kích thước vật lý của nó, là biểu hiện một khả năng đặc biệt của đô thị: khả năng mềm hóa chính mình bằng những can thiệp nhỏ, tinh tế, đúng chỗ. Một hàng cây, một băng ghế, một khoảng bóng mát nếu được đặt đúng vào dòng chảy của đời sống thì có thể tạo ra những tác động tích cực lâu dài, vì chúng mang lại cho con người cảm giác mình được chấp nhận, được nghỉ ngơi, và được là một phần của thành phố theo cách rất riêng.

Một giọt nước nhỏ nhoi nhưng góp phần làm nên đại dương. Một khoảng lặng giản dị sẽ làm nên sức sống mới của thành phố. Người ta có thể đi rất nhanh qua một siêu đô thị nhưng để ở lại gắn bó, để nhớ và để thương thì cần những nơi cho phép mình được sống chậm, được là chính mình ngoài những nghĩa vụ và trách nhiệm. Đôi khi chỉ cần một “giọt nước” giữa ngày nắng gắt cũng đủ để ta nhớ rằng, thành phố này vẫn còn là nơi để sống hết mình chứ không chỉ là nơi để ta tồn tại.

 

TP. Hồ Chí Minh 20/3/2026. Nguyễn Thị Hậu 

Báo Sài Gòn giải phóng số 30/4/2026





ĐẬP BÚA VÀO TAY (vài #truyen100chu )

 Bạn đã có lần nào đau điếng người vì đập búa vào chính tay mình chưa?

Bạn ở trong bếp, ông xã ngoài phòng khách đóng cái gì đấy cộp cộp. Bỗng nghe tiếng con khóc, rồi thằng bé chạy vào ôm lấy bạn. Bạn âu yếm hỏi (hệt như ông bụt hỏi cô Tấm), làm sao con khóc? Thằng nhỏ trả lời, bố bị búa đập vào tay. Ồ, vậy à. Bố bị đau nhưng không khóc. Con trai thì phải dũng cảm như bố chứ? Huhu, thằng bé nức nở, tại lúc bố đập búa vào tay con buồn cười quá… À, thế thì chính là con trai bị “búa đập” chứ không phải là bố!
***
Hồi yêu nhau. Có lần gọt trái cây cho nàng, anh bị đứt tay chút xíu. Nàng mặt mày tái mét, ôm cả cánh tay anh hốt hoảng đòi đưa đi… bác sĩ! Lấy nhau rồi. Một lần thấy tấm hình cưới sắp bị rớt, anh mang búa đinh ra sửa. Loay hoay sợ đụng bể kiếng, búa đập vào tay. Máu tóe ra. Anh xuýt xoa nhờ nàng lấy giùm bông băng, nàng bực bội rời mắt khỏi màn hình TV đang sướt mướt phim Hàn quốc: Sao anh vụng thế! Chồng với chả con! Vết đứt tay ngày xưa giờ anh mới thấy thấm đau!
***
Nhà không có đàn ông, tất tật mọi việc bạn đều (phải) tự làm lấy. Từ việc lớn như kiếm tiền, xây nhà, sửa nhà… cho đến việc nhỏ như chăm con, cơm nước chợ búa, việc vặt như đóng đinh treo tấm lịch hay móc đoạn dây phơi, bạn đều thành thạo.Vậy mà đã có lần bạn gọi cho tôi, giọng nức nở, tôi hốt hoảng hỏi có chuyện gì… bạn nghẹn ngào không nói được. Một lúc sau nghe tiếng con bạn trả lời “mẹ con bị búa đập vào tay”, tôi lặng người. Ừ, lỡ bị búa đập vào tay thì chắc là rất đau, nhưng đau đến mức phải gọi và khóc với một ai đó thì nỗi đau không phải chỉ ở cái tay bị thương…
***
Có cậu bé kia tính khí nóng nảy rất hay làm tổn thương người khác. Bố cậu bắt buộc: mỗi lần phạm lỗi con hãy tự đóng một cây đinh vào hàng rào ngoài kia để nhìn thấy mà răn mình. Nhiều lần sau đó dù đã biết lỗi nhưng cậu vẫn không bình tĩnh nên thường đập búa vào tay đau điếng. Chính vì bị đau như vậy nên dần dần cậu từ bỏ được tính khí nóng nảy, nhưng hàng rào nhà cậu thì trở nên xấu xí vô cùng vì bị những chiếc đinh đóng vào nham nhở.



Xây trên ký ức chưa kịp khai mở: TP.HCM đang bỏ lỡ “mỏ vàng” di sản dưới lòng đất?

 Mỗi công trình mới ở trung tâm TP.HCM có thể đang đặt lên những lớp trầm tích lịch sử chưa từng được nhận diện. Khi không có khảo cổ học đô thị đi trước, thành phố không chỉ mất đi bằng chứng vật chất của quá khứ mà còn đánh rơi cơ hội hình thành một nền kinh tế di sản đúng nghĩa.

Khoảng trống khảo cổ ở trung tâm TP.HCM

Có những thành phố lớn lên bằng bê tông, kính và thép, rất nhanh, rất hoành tráng, nhưng chỉ lướt qua trong trí nhớ mỗi người. Có những thành phố lớn lên bằng ký ức, chậm hơn và bền vững trong tâm thức nhiều thế hệ. Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) trong quá trình hiện đại hoá, đáng tiếc, nhiều khi đang chọn cách thứ nhất. Mỗi công trình mới mọc lên ở trung tâm thành phố đều có thể đang đặt trên một lớp trầm tích lịch sử chưa được biết đến. Khi đó, không chỉ xây thêm một tòa nhà mà đồng thời còn xóa đi một phần ký ức chưa kịp khai mở của thành phố.

Gần đây, thông tin về việc xây dựng lại Nhà Văn hóa Thanh niên trên trục đường Lê Duẩn đã một lần nữa đặt ra một vấn đề không chỉ là quy hoạch hay kiến trúc, mà sâu xa hơn là cách thành phố này đối diện với quá khứ của chính mình. Bởi ngay bên dưới toàn bộ không gian của đường Lê Duẩn có thể vẫn còn những dấu tích của Thành Gia Định – hạt nhân đầu tiên của đô thị Sài Gòn. Nếu không thăm dò, khai quật khảo cổ và nghiên cứu, thì những dấu tích còn lại sẽ vĩnh viễn biến mất dưới móng của một công trình hiện đại.

Trong gần hai thế kỷ qua có thể kể đến vài trường hợp hiếm hoi đã ghi nhận bằng chứng lịch sử tại khu vực thuộc Thành Gia Định xưa. Cuối thế kỷ 19 người Pháp xây dựng Thảo cầm viên, Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Thành phố và một số công trình khác, đã ghi nhận việc tìm thấy dưới lòng đất những chiếc rìu đá, mộ vò của thời tiền sử, nhưng không nhắc gì đến dấu tích kiến trúc của Thành Gia Định (thành Quy thời Gia Long) và thành Phụng thời Minh Mạng bị quân đội Pháp trực tiếp phá huỷ.

Trải qua suốt thế kỷ 20 khu vực này thay đổi rất nhiều. Thập niên 1990 khi xây dựng toà nhà 33 tầng tại đường Tôn Đức Thắng, hay việc xây dựng Thư viện sách nói trong khuôn viên Thư viện khoa học Tổng hợp, và gần đây khi trùng tu công trình Toà án Nhân dân Thành phố… cán bộ khảo cổ đều tìm thấy hiện vật của nhiều thời đại lịch sử, nhiều nhất là những đồ gốm thời Nguyễn, thậm chí cả dấu tích xây dựng chân móng thành Gia Định như đá ong, san hô, cát sạn sỏi… Ngay trong khuôn viên số nhà 108 Nguyễn Du – phía sau Dinh Độc Lập - cũng từng phát hiện mộ cổ thời Nguyễn.

Đó là bằng chứng vô cùng ít ỏi, tìm thấy trong quá trình xây dựng công trình mà chưa phải do khảo sát và khai quật khảo cổ học đúng nghĩa. Mặt khác chỉ tìm thấy những hiện vật rời rạc mà không phải dấu tích của một công trình quy mô lớn vào bậc nhất hồi cuối thế kỷ 18. Như vậy từ nửa sau thế kỷ 19 khi người Pháp quy hoạch và xây dựng đô thị Sài Gòn, đến hai thập niên đầu của thế kỷ 21 khu vực này đã xây dựng nhiều công trình mới, nhưng không ai biết trong lòng đất nơi này lưu giữ những gì và còn lại những gì sau bao biến đổi?

Nhiều năm qua hầu hết các công trình được xây dựng tại khu vực trung tâm thành phố đều không qua công tác khảo sát khảo cổ học, chắc chắn nhiều dấu tích và di vật quý giá đã bị phá hủy. Những gì đã không còn chính là những bằng chứng vật chất của lịch sử, đó là thứ không thể tái tạo. Một thành phố không thiếu tương lai vì luôn xây dựng những công trình hiện đại, nhưng có nguy cơ không còn quá khứ bởi những dấu tích lịch sử đang mỗi ngày biến mất ngay dưới chân mình!

Dừng lại để bảo tồn và bài học từ Hoàng thành Thăng Long

Nhìn ra Hà Nội, câu chuyện Hoàng thành Thăng Long cho thấy một lựa chọn khác. Khi những dấu tích đầu tiên được phát lộ tại khu 18 Hoàng Diệu, từ đề xuất của Hội Khoa học lịch sử VN, việc thi công đã quyết định dừng lại cho công tác khai quật khảo cổ học. Dừng để tìm hiểu những gì đang nằm dưới lòng đất. Dừng để bảo tồn. Và dừng lại để Hà Nội không tự cắt đứt mà tiếp nối ký ức 1000 năm Thăng Long.

Từ quyết định đó, một chuỗi giá trị mới được hình thành. Hoàng thành Thăng Long được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới. Không gian khai quật quan trọng nhất được bảo tồn và phát triển thành Bảo tàng Hoàng thành Thăng Long, nơi chúng ta có thể trực tiếp trải nghiệm các lớp lịch sử chồng xếp qua thời gian. Những khu vực khác sau khi hoàn thành khai quật tiếp tục xây dựng các công trình mới như Toà nhà Quốc Hội. Hiện nay đây là khu di tích khảo cổ nổi tiếng và thu hút rất nhiều du khách đến tham quan di tích và bảo tàng, tham dự những hoạt động văn hoá thường xuyên được tổ chức ở đây. Quá khứ hiện hữu ngay cạnh hiện tại và là cảm hứng của tương lai.

Công tác khai quật khảo cổ học khu vực Hoàng thành Thăng Long vẫn được tiếp tục và mở rộng, làm cơ sở cho dự án phục dựng Điện Kính Thiên sắp tới, tiếp tục tái hiện không gian trung tâm của kinh đô Thăng Long xưa. Từ đó, di sản không chỉ được bảo tồn mà còn trở thành nguồn lực cho giáo dục, du lịch và kinh tế văn hóa. Nhận thức quan trọng nhất là tất cả những giá trị đó không có sẵn. Nó bắt đầu từ một hành động tưởng chừng đơn giản nhưng không dễ thực hiện: dừng lại trước khi xây, nghĩ về quá khứ trước khi nói đến tương lai!

Bài học từ Hoàng thành Thăng Long cho thấy, khảo cổ học đô thị không làm chậm sự phát triển hiện đại. Ngược lại, nó mở ra một hướng phát triển bền vững hơn, giàu bản sắc hơn, có khả năng tạo ra giá trị lâu dài hơn. Khảo cổ học góp phần giữ lại và trao truyền cho thế hệ sau những giá trị văn hoá mà cha ông đã tích luỹ qua hàng ngàn năm, được chuyển hoá và nâng cao hơn giá trị qua kinh tế di sản.

Thành phố không chỉ để xây, mà còn để nhớ

Quay lại với TP.HCM, từ nhiều năm nay thực trạng công tác bảo tồn di sản đã phản ánh một vấn đề của thời đại: phát triển có mâu thuẫn với bảo tồn hay không? Không ai phủ nhận nhu cầu về những công trình mới, những không gian hiện đại cho một thành phố năng động. Nhưng cũng thành phố ấy có quá khứ của mình, 300 năm đô thị vẫn xứng đáng để được trân trọng tìm hiểu và bảo vệ. Vậy nên vấn đề của thời đại cần được đặt ra ở đây là: Bảo tồn là phương thức đặc thù của phát triển bền vững!

Nếu phát triển đồng nghĩa với việc quên hết những dấu tích nằm dưới lòng đất và xoá hết những gì “cũ kỹ” trên mặt đất thì đó là một kiểu phát triển “siêu bão, sóng thần” chỉ có thể tạo nên một thành phố “mất trí nhớ”. Ngược lại, nếu biết dừng lại một bước để nghiên cứu khảo cổ, để ghi nhận và tích hợp di sản vào không gian đô thị của thời hiện tại và tương lại, thì đó là một cách phát triển có chiều sâu, không loại trừ quá khứ, chăm chút cái cây từ gốc rễ, gốc rễ nuôi cành lá sum suê… Thế hệ nào cũng được thừa hưởng tài sản của ông bà và “nhân lên” nhiều lần số tài sản ấy.

Vì vậy, câu chuyện công trình Nhà Văn hóa Thanh niên không chỉ là một dự án xây dựng, mà là một cơ hội hiếm hoi để thực thi Luật Di sản văn hóa mới nhất có hiệu lực từ 1.7.2025, cụ thể là thực hiện khảo sát và khai quật khảo cổ học trước khi xây dựng công trình nằm trong “vùng lõi di sản đô thị”. Đây là công trình của nhà nước đầu tư, xây dựng một công trình cho thanh niên thành phố nên càng thuận lợi hơn! Có thể coi đây là trường hợp tiêu biểu để thành phố thực hiện quy trình đi từ khảo cổ đến bảo tồn, từ bảo tồn đến diễn giải, từ diễn giải đến du lịch và kinh tế di sản. Không có bảo tồn di tích và trưng bày bảo tàng thì không có gì để kể. Khi không có câu chuyện thì không thể có một nền kinh tế di sản đúng nghĩa. Đừng để thành phố chỉ có những công trình mới, giống nhau như được nhân bản, nhưng nhanh chóng cũ đi vì những cái mới hơn lại được nhân bản… Cứ thế, không có gì trở thành ký ức đô thị.

Sâu xa hơn, vấn đề không nằm ở việc thành phố có hiện đại hay không mà ở cách thành phố lựa chọn đứng ở đâu trong mối quan hệ với quá khứ của mình. Dưới những bước chân vội vã của một thành phố đang lớn lên từng ngày, có thể vẫn còn những lớp ký ức nằm im chưa kịp gọi tên mà chỉ một quyết định xây dựng cũng đủ làm chúng biến mất vĩnh viễn. Một thành phố trưởng thành không đứng trên quá khứ để vùi lấp nó, càng không đào lên rồi vội vàng xóa đi, mà biết dừng lại, khai mở những gì nằm dưới lòng đất, tiếp nối chúng vào đời sống hôm nay như một phần của chính mình.

Sài Gòn – TP.HCM luôn được coi là “thành phố trẻ 300 năm”, nếu không giữ lại dấu tích lịch sử thì không bao giờ là một thành phố ngàn năm tuổi, mãi chỉ là 300 năm trên mặt chữ! Nhưng nếu biết giữ, biết kể, biết làm cho quá khứ “hiện hình” thì chính những lớp đất, những viên gạch, những mảnh gốm… sẽ kéo dài hơn chiều sâu lịch sử của đô thị.

Một thành phố hiện đại là thành phố biết lúc nào cần xây cao và lúc nào cần dừng lại, biết cúi xuống và lắng nghe “thành phố thì thầm” ngay dưới chân mình. Một thành phố có thể xây rất nhanh rất rộng nhưng không thể làm lại quá khứ nếu đã đánh mất nó. Vì thế, mỗi quyết định hôm nay không chỉ là cách chúng ta đối xử với lịch sử của chính mình, mà còn là quyết định định hình tương lai!

TP.HCM 14.4.2026.

https://nguoidothi.net.vn/tp-hcm-dang-bo-lo-mo-vang-di-san-duoi-long-dat-52386.html?fbclid=IwY2xjawRMX0xleHRuA2FlbQIxMQBzcnRjBmFwcF9pZBAyMjIwMzkxNzg4MjAwODkyAAEeQRf99vhepfOMHIG6Axylpb17-i8hGjD634IDcLLbmZfStaT46zzIys7iP98_aem_Xk9aCxIxhvtqz2qetxKCcQ



Thập niên 1990 khi xây dựng toà nhà 33 tầng tại đường Tôn Đức Thắng, hay việc xây dựng Thư viện sách nói trong khuôn viên Thư viện khoa học Tổng hợp, và gần đây khi trùng tu công trình Toà án Nhân dân Thành phố… cán bộ khảo cổ đều tìm thấy hiện vật của nhiều thời đại lịch sử... Ảnh: Minh Hòa

CHIA TAY BẠN :(

 Mình và TS Nguyễn thị Hoa Xinh – nguyên Giám đốc bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh TPHCM có mối quan hệ thân thiết từ rất lâu rồi.

Ngày ấy khi còn ở trường ĐHTH TPHCM, Hoa Xinh học sau mình 3 năm, nhưng đều là học sinh từ HN về, con cái gia đình tập kết nên mấy chị em nhanh chóng quen biết rồi thân thiết với nhau. Khi ra trường mình ở lại trường, mấy năm sau, khi tốt nghiệp Hoa Xinh về công tác tại Bảo tàng lịch sử TP. Đến 1994 mình chuyển qua BT công tác, chung phòng Nghiên cứu sưu tầm với Hoa Xinh và một số anh chị em khác.

Từ đó hai chị em như hình với bóng, cả hai đều cao cao gầy gầy, đều nói tiếng bắc, đều có cùng kiểu tóc và kiểu ăn mặc, tuy Hoa Xinh lúc nào cũng chỉnh chu còn mình thì bụi đời hơn. Hồi đó khó khăn nên cả hai đều đi làm thêm ngoài giờ: ngày chủ nhật, ngày lễ thì bán vé tham quan bảo tàng, rồi khi bảo tàng tổ chức dịch vụ đám tiệc thì mình ở tổ bếp còn Hoa Xinh ở tổ phục vụ. Có nhiều ngày từ sáng sớm đến khuya là làm cùng với nhau. Thỉnh thoảng bảo tàng tổ chức đi chơi, du lịch thì Hoa Xinh và mình cùng đưa con đi. Hai mẹ say xe vật vã còn ba chị em Châu Quyên, Mai Quyên và Quỳnh Vân thì khoẻ re, tự chơi với nhau.

Mình “quân khảo cổ” nên tính tình nhiều lúc như nam giới, Hoa Xinh lúc nào cũng dịu dàng, học và nghiên cứu về Phật giáo. Vậy nhưng tụi mình đều hay tếu táo hài hước, nhất là khi chỉ có mấy anh em phòng Sưu tầm với nhau mói thấy cái “nghịch ngầm” của Hoa Xinh. Đồng nghiệp nam trong ngành hay gọi đùa chúng mình là Hoa Hậu Hoa Xinh, nhiều người rất quý mến Hoa Xinh. Bọn mình chơi với nhau thân thiết vì cùng công việc nhưng còn vì thấu hiểu hoàn cảnh của nhau, cũng giống tính nhau là không tò mò, tôn trọng chuyện riêng tư. Tuy nhiên lúc khó khăn thì đều cùng nhau chia sẻ. Hai chị em cố gắng vừa làm vừa học và cùng bảo vệ luận án PTS lịch sử tại Viện KHXH vùng Nam bộ năm 1997, LA mình làm chuyên ngành KCH còn Hoa Xinh là chuyên ngành Dân tộc học.

Đến năm 1998 Bảo tàng lịch sử TP có nhiều biến động do sự sắp xếp lại nhân sự các bảo tàng ở TP. Mình “được” ở lại BTLS nhưng Hoa Xình và mấy anh em khác nhận nhiệm vụ ở các BT khác. Cái “được ở lại” cũng mở ra một thời kỳ thực sự khó khăn tại BTLS của mình, không phải vì công việc mà vì mối quan hệ làm việc quá nhiều áp lực! Đó cũng là thời kỳ khó khăn của tất cả mấy anh em, mỗi người có trở ngại khác nhau, điều đó cũng làm hai chị em có phần xa cách… Tuy tụi mình không làm việc chung nhưng vẫn cùng khối bảo tàng nên vẫn gặp gỡ trong nhiều công việc. Rồi mình chuyển qua Viện NCPT nên thỉnh thoảng mới gặp Hoa Xinh trong các dịp lễ ở BTLS. Nhóm anh chị em cũ gặp lại vẫn thân thiết như ngày nào, dù mỗi người mỗi việc mỗi hoàn cảnh khác nhau…

Khi nghe tin Hoa Xinh bệnh mình đến thăm, chỉ nhắc lại chuyện vui để Hoa Xinh cười. Mình cũng cười mà lòng rưng rưng vì linh cảm sẽ phải xa bạn một ngày không xa…

Hôm nay chia tay Hoa Xinh, như chia tay một khoảng thời gian đẹp nhất trong thời gian làm việc. Mong em ra đi thanh thản, bình yên. Đời người sống với nhau quan trọng là đến khi chia tay, ta vẫn giữ được những điều tốt đẹp về nhau!

Tạm biệt em nhé, Hoa Xinh

❤
14.4.2026


SÀI GÒN - TP.HCM NÉN MẠNH NHẤT SỨC SỐNG NAM BỘ

Vì sao chiếc tắc ráng, Cần Giờ và chợ Bình Tây có thể “đại diện” cho một Nam Bộ, một Sài Gòn – TP.HCM luôn biết dung hòa và tự làm mới mình?...