Xây trên ký ức chưa kịp khai mở: TP.HCM đang bỏ lỡ “mỏ vàng” di sản dưới lòng đất?

 Mỗi công trình mới ở trung tâm TP.HCM có thể đang đặt lên những lớp trầm tích lịch sử chưa từng được nhận diện. Khi không có khảo cổ học đô thị đi trước, thành phố không chỉ mất đi bằng chứng vật chất của quá khứ mà còn đánh rơi cơ hội hình thành một nền kinh tế di sản đúng nghĩa.

Khoảng trống khảo cổ ở trung tâm TP.HCM

Có những thành phố lớn lên bằng bê tông, kính và thép, rất nhanh, rất hoành tráng, nhưng chỉ lướt qua trong trí nhớ mỗi người. Có những thành phố lớn lên bằng ký ức, chậm hơn và bền vững trong tâm thức nhiều thế hệ. Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) trong quá trình hiện đại hoá, đáng tiếc, nhiều khi đang chọn cách thứ nhất. Mỗi công trình mới mọc lên ở trung tâm thành phố đều có thể đang đặt trên một lớp trầm tích lịch sử chưa được biết đến. Khi đó, không chỉ xây thêm một tòa nhà mà đồng thời còn xóa đi một phần ký ức chưa kịp khai mở của thành phố.

Gần đây, thông tin về việc xây dựng lại Nhà Văn hóa Thanh niên trên trục đường Lê Duẩn đã một lần nữa đặt ra một vấn đề không chỉ là quy hoạch hay kiến trúc, mà sâu xa hơn là cách thành phố này đối diện với quá khứ của chính mình. Bởi ngay bên dưới toàn bộ không gian của đường Lê Duẩn có thể vẫn còn những dấu tích của Thành Gia Định – hạt nhân đầu tiên của đô thị Sài Gòn. Nếu không thăm dò, khai quật khảo cổ và nghiên cứu, thì những dấu tích còn lại sẽ vĩnh viễn biến mất dưới móng của một công trình hiện đại.

Trong gần hai thế kỷ qua có thể kể đến vài trường hợp hiếm hoi đã ghi nhận bằng chứng lịch sử tại khu vực thuộc Thành Gia Định xưa. Cuối thế kỷ 19 người Pháp xây dựng Thảo cầm viên, Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Thành phố và một số công trình khác, đã ghi nhận việc tìm thấy dưới lòng đất những chiếc rìu đá, mộ vò của thời tiền sử, nhưng không nhắc gì đến dấu tích kiến trúc của Thành Gia Định (thành Quy thời Gia Long) và thành Phụng thời Minh Mạng bị quân đội Pháp trực tiếp phá huỷ.

Trải qua suốt thế kỷ 20 khu vực này thay đổi rất nhiều. Thập niên 1990 khi xây dựng toà nhà 33 tầng tại đường Tôn Đức Thắng, hay việc xây dựng Thư viện sách nói trong khuôn viên Thư viện khoa học Tổng hợp, và gần đây khi trùng tu công trình Toà án Nhân dân Thành phố… cán bộ khảo cổ đều tìm thấy hiện vật của nhiều thời đại lịch sử, nhiều nhất là những đồ gốm thời Nguyễn, thậm chí cả dấu tích xây dựng chân móng thành Gia Định như đá ong, san hô, cát sạn sỏi… Ngay trong khuôn viên số nhà 108 Nguyễn Du – phía sau Dinh Độc Lập - cũng từng phát hiện mộ cổ thời Nguyễn.

Đó là bằng chứng vô cùng ít ỏi, tìm thấy trong quá trình xây dựng công trình mà chưa phải do khảo sát và khai quật khảo cổ học đúng nghĩa. Mặt khác chỉ tìm thấy những hiện vật rời rạc mà không phải dấu tích của một công trình quy mô lớn vào bậc nhất hồi cuối thế kỷ 18. Như vậy từ nửa sau thế kỷ 19 khi người Pháp quy hoạch và xây dựng đô thị Sài Gòn, đến hai thập niên đầu của thế kỷ 21 khu vực này đã xây dựng nhiều công trình mới, nhưng không ai biết trong lòng đất nơi này lưu giữ những gì và còn lại những gì sau bao biến đổi?

Nhiều năm qua hầu hết các công trình được xây dựng tại khu vực trung tâm thành phố đều không qua công tác khảo sát khảo cổ học, chắc chắn nhiều dấu tích và di vật quý giá đã bị phá hủy. Những gì đã không còn chính là những bằng chứng vật chất của lịch sử, đó là thứ không thể tái tạo. Một thành phố không thiếu tương lai vì luôn xây dựng những công trình hiện đại, nhưng có nguy cơ không còn quá khứ bởi những dấu tích lịch sử đang mỗi ngày biến mất ngay dưới chân mình!

Dừng lại để bảo tồn và bài học từ Hoàng thành Thăng Long

Nhìn ra Hà Nội, câu chuyện Hoàng thành Thăng Long cho thấy một lựa chọn khác. Khi những dấu tích đầu tiên được phát lộ tại khu 18 Hoàng Diệu, từ đề xuất của Hội Khoa học lịch sử VN, việc thi công đã quyết định dừng lại cho công tác khai quật khảo cổ học. Dừng để tìm hiểu những gì đang nằm dưới lòng đất. Dừng để bảo tồn. Và dừng lại để Hà Nội không tự cắt đứt mà tiếp nối ký ức 1000 năm Thăng Long.

Từ quyết định đó, một chuỗi giá trị mới được hình thành. Hoàng thành Thăng Long được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới. Không gian khai quật quan trọng nhất được bảo tồn và phát triển thành Bảo tàng Hoàng thành Thăng Long, nơi chúng ta có thể trực tiếp trải nghiệm các lớp lịch sử chồng xếp qua thời gian. Những khu vực khác sau khi hoàn thành khai quật tiếp tục xây dựng các công trình mới như Toà nhà Quốc Hội. Hiện nay đây là khu di tích khảo cổ nổi tiếng và thu hút rất nhiều du khách đến tham quan di tích và bảo tàng, tham dự những hoạt động văn hoá thường xuyên được tổ chức ở đây. Quá khứ hiện hữu ngay cạnh hiện tại và là cảm hứng của tương lai.

Công tác khai quật khảo cổ học khu vực Hoàng thành Thăng Long vẫn được tiếp tục và mở rộng, làm cơ sở cho dự án phục dựng Điện Kính Thiên sắp tới, tiếp tục tái hiện không gian trung tâm của kinh đô Thăng Long xưa. Từ đó, di sản không chỉ được bảo tồn mà còn trở thành nguồn lực cho giáo dục, du lịch và kinh tế văn hóa. Nhận thức quan trọng nhất là tất cả những giá trị đó không có sẵn. Nó bắt đầu từ một hành động tưởng chừng đơn giản nhưng không dễ thực hiện: dừng lại trước khi xây, nghĩ về quá khứ trước khi nói đến tương lai!

Bài học từ Hoàng thành Thăng Long cho thấy, khảo cổ học đô thị không làm chậm sự phát triển hiện đại. Ngược lại, nó mở ra một hướng phát triển bền vững hơn, giàu bản sắc hơn, có khả năng tạo ra giá trị lâu dài hơn. Khảo cổ học góp phần giữ lại và trao truyền cho thế hệ sau những giá trị văn hoá mà cha ông đã tích luỹ qua hàng ngàn năm, được chuyển hoá và nâng cao hơn giá trị qua kinh tế di sản.

Thành phố không chỉ để xây, mà còn để nhớ

Quay lại với TP.HCM, từ nhiều năm nay thực trạng công tác bảo tồn di sản đã phản ánh một vấn đề của thời đại: phát triển có mâu thuẫn với bảo tồn hay không? Không ai phủ nhận nhu cầu về những công trình mới, những không gian hiện đại cho một thành phố năng động. Nhưng cũng thành phố ấy có quá khứ của mình, 300 năm đô thị vẫn xứng đáng để được trân trọng tìm hiểu và bảo vệ. Vậy nên vấn đề của thời đại cần được đặt ra ở đây là: Bảo tồn là phương thức đặc thù của phát triển bền vững!

Nếu phát triển đồng nghĩa với việc quên hết những dấu tích nằm dưới lòng đất và xoá hết những gì “cũ kỹ” trên mặt đất thì đó là một kiểu phát triển “siêu bão, sóng thần” chỉ có thể tạo nên một thành phố “mất trí nhớ”. Ngược lại, nếu biết dừng lại một bước để nghiên cứu khảo cổ, để ghi nhận và tích hợp di sản vào không gian đô thị của thời hiện tại và tương lại, thì đó là một cách phát triển có chiều sâu, không loại trừ quá khứ, chăm chút cái cây từ gốc rễ, gốc rễ nuôi cành lá sum suê… Thế hệ nào cũng được thừa hưởng tài sản của ông bà và “nhân lên” nhiều lần số tài sản ấy.

Vì vậy, câu chuyện công trình Nhà Văn hóa Thanh niên không chỉ là một dự án xây dựng, mà là một cơ hội hiếm hoi để thực thi Luật Di sản văn hóa mới nhất có hiệu lực từ 1.7.2025, cụ thể là thực hiện khảo sát và khai quật khảo cổ học trước khi xây dựng công trình nằm trong “vùng lõi di sản đô thị”. Đây là công trình của nhà nước đầu tư, xây dựng một công trình cho thanh niên thành phố nên càng thuận lợi hơn! Có thể coi đây là trường hợp tiêu biểu để thành phố thực hiện quy trình đi từ khảo cổ đến bảo tồn, từ bảo tồn đến diễn giải, từ diễn giải đến du lịch và kinh tế di sản. Không có bảo tồn di tích và trưng bày bảo tàng thì không có gì để kể. Khi không có câu chuyện thì không thể có một nền kinh tế di sản đúng nghĩa. Đừng để thành phố chỉ có những công trình mới, giống nhau như được nhân bản, nhưng nhanh chóng cũ đi vì những cái mới hơn lại được nhân bản… Cứ thế, không có gì trở thành ký ức đô thị.

Sâu xa hơn, vấn đề không nằm ở việc thành phố có hiện đại hay không mà ở cách thành phố lựa chọn đứng ở đâu trong mối quan hệ với quá khứ của mình. Dưới những bước chân vội vã của một thành phố đang lớn lên từng ngày, có thể vẫn còn những lớp ký ức nằm im chưa kịp gọi tên mà chỉ một quyết định xây dựng cũng đủ làm chúng biến mất vĩnh viễn. Một thành phố trưởng thành không đứng trên quá khứ để vùi lấp nó, càng không đào lên rồi vội vàng xóa đi, mà biết dừng lại, khai mở những gì nằm dưới lòng đất, tiếp nối chúng vào đời sống hôm nay như một phần của chính mình.

Sài Gòn – TP.HCM luôn được coi là “thành phố trẻ 300 năm”, nếu không giữ lại dấu tích lịch sử thì không bao giờ là một thành phố ngàn năm tuổi, mãi chỉ là 300 năm trên mặt chữ! Nhưng nếu biết giữ, biết kể, biết làm cho quá khứ “hiện hình” thì chính những lớp đất, những viên gạch, những mảnh gốm… sẽ kéo dài hơn chiều sâu lịch sử của đô thị.

Một thành phố hiện đại là thành phố biết lúc nào cần xây cao và lúc nào cần dừng lại, biết cúi xuống và lắng nghe “thành phố thì thầm” ngay dưới chân mình. Một thành phố có thể xây rất nhanh rất rộng nhưng không thể làm lại quá khứ nếu đã đánh mất nó. Vì thế, mỗi quyết định hôm nay không chỉ là cách chúng ta đối xử với lịch sử của chính mình, mà còn là quyết định định hình tương lai!

TP.HCM 14.4.2026.

https://nguoidothi.net.vn/tp-hcm-dang-bo-lo-mo-vang-di-san-duoi-long-dat-52386.html?fbclid=IwY2xjawRMX0xleHRuA2FlbQIxMQBzcnRjBmFwcF9pZBAyMjIwMzkxNzg4MjAwODkyAAEeQRf99vhepfOMHIG6Axylpb17-i8hGjD634IDcLLbmZfStaT46zzIys7iP98_aem_Xk9aCxIxhvtqz2qetxKCcQ



Thập niên 1990 khi xây dựng toà nhà 33 tầng tại đường Tôn Đức Thắng, hay việc xây dựng Thư viện sách nói trong khuôn viên Thư viện khoa học Tổng hợp, và gần đây khi trùng tu công trình Toà án Nhân dân Thành phố… cán bộ khảo cổ đều tìm thấy hiện vật của nhiều thời đại lịch sử... Ảnh: Minh Hòa

CHIA TAY BẠN :(

 Mình và TS Nguyễn thị Hoa Xinh – nguyên Giám đốc bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh TPHCM có mối quan hệ thân thiết từ rất lâu rồi.

Ngày ấy khi còn ở trường ĐHTH TPHCM, Hoa Xinh học sau mình 3 năm, nhưng đều là học sinh từ HN về, con cái gia đình tập kết nên mấy chị em nhanh chóng quen biết rồi thân thiết với nhau. Khi ra trường mình ở lại trường, mấy năm sau, khi tốt nghiệp Hoa Xinh về công tác tại Bảo tàng lịch sử TP. Đến 1994 mình chuyển qua BT công tác, chung phòng Nghiên cứu sưu tầm với Hoa Xinh và một số anh chị em khác.

Từ đó hai chị em như hình với bóng, cả hai đều cao cao gầy gầy, đều nói tiếng bắc, đều có cùng kiểu tóc và kiểu ăn mặc, tuy Hoa Xinh lúc nào cũng chỉnh chu còn mình thì bụi đời hơn. Hồi đó khó khăn nên cả hai đều đi làm thêm ngoài giờ: ngày chủ nhật, ngày lễ thì bán vé tham quan bảo tàng, rồi khi bảo tàng tổ chức dịch vụ đám tiệc thì mình ở tổ bếp còn Hoa Xinh ở tổ phục vụ. Có nhiều ngày từ sáng sớm đến khuya là làm cùng với nhau. Thỉnh thoảng bảo tàng tổ chức đi chơi, du lịch thì Hoa Xinh và mình cùng đưa con đi. Hai mẹ say xe vật vã còn ba chị em Châu Quyên, Mai Quyên và Quỳnh Vân thì khoẻ re, tự chơi với nhau.

Mình “quân khảo cổ” nên tính tình nhiều lúc như nam giới, Hoa Xinh lúc nào cũng dịu dàng, học và nghiên cứu về Phật giáo. Vậy nhưng tụi mình đều hay tếu táo hài hước, nhất là khi chỉ có mấy anh em phòng Sưu tầm với nhau mói thấy cái “nghịch ngầm” của Hoa Xinh. Đồng nghiệp nam trong ngành hay gọi đùa chúng mình là Hoa Hậu Hoa Xinh, nhiều người rất quý mến Hoa Xinh. Bọn mình chơi với nhau thân thiết vì cùng công việc nhưng còn vì thấu hiểu hoàn cảnh của nhau, cũng giống tính nhau là không tò mò, tôn trọng chuyện riêng tư. Tuy nhiên lúc khó khăn thì đều cùng nhau chia sẻ. Hai chị em cố gắng vừa làm vừa học và cùng bảo vệ luận án PTS lịch sử tại Viện KHXH vùng Nam bộ năm 1997, LA mình làm chuyên ngành KCH còn Hoa Xinh là chuyên ngành Dân tộc học.

Đến năm 1998 Bảo tàng lịch sử TP có nhiều biến động do sự sắp xếp lại nhân sự các bảo tàng ở TP. Mình “được” ở lại BTLS nhưng Hoa Xình và mấy anh em khác nhận nhiệm vụ ở các BT khác. Cái “được ở lại” cũng mở ra một thời kỳ thực sự khó khăn tại BTLS của mình, không phải vì công việc mà vì mối quan hệ làm việc quá nhiều áp lực! Đó cũng là thời kỳ khó khăn của tất cả mấy anh em, mỗi người có trở ngại khác nhau, điều đó cũng làm hai chị em có phần xa cách… Tuy tụi mình không làm việc chung nhưng vẫn cùng khối bảo tàng nên vẫn gặp gỡ trong nhiều công việc. Rồi mình chuyển qua Viện NCPT nên thỉnh thoảng mới gặp Hoa Xinh trong các dịp lễ ở BTLS. Nhóm anh chị em cũ gặp lại vẫn thân thiết như ngày nào, dù mỗi người mỗi việc mỗi hoàn cảnh khác nhau…

Khi nghe tin Hoa Xinh bệnh mình đến thăm, chỉ nhắc lại chuyện vui để Hoa Xinh cười. Mình cũng cười mà lòng rưng rưng vì linh cảm sẽ phải xa bạn một ngày không xa…

Hôm nay chia tay Hoa Xinh, như chia tay một khoảng thời gian đẹp nhất trong thời gian làm việc. Mong em ra đi thanh thản, bình yên. Đời người sống với nhau quan trọng là đến khi chia tay, ta vẫn giữ được những điều tốt đẹp về nhau!

Tạm biệt em nhé, Hoa Xinh

❤
14.4.2026


TRÀ VÀ CÀ PHÊ KẾT NỐI GIA ĐÌNH

 GIẢI NHÌ CUỘC THI :)
https://nld.com.vn/bao-nguoi-lao-dong-trao-giai-cuoc-thi-viet-ve-ca-phe-tra-viet-2026-196260405124535869.htm

Trong gia đình tôi, nếu nhìn vào thói quen uống nước thôi cũng có thể thấy cả một dòng thời gian lặng lẽ trôi qua.

Thời ông bà tôi trong nhà chỉ bình trà nóng, để uống, để tiếp khách hay trò chuyện với nhau. Đến thời cha mẹ tôi thỉnh thoảng có phin cà phê thơm lừng vào sáng chủ nhật. Nhưng ấm trà luôn là biểu tượng của gia đình, như lối sống của ông bà, cha mẹ: ít lời, nhẫn nại, bền bỉ...

Thế hệ tôi đã quen với cà phê. Mỗi ngày thường bắt đầu bằng ly cà phê buổi sáng ở quán vỉa hè với bạn bè, đồng nghiệp, và một bình trà đá dường như không bao giờ cạn. Từ thói quen uống trà trong nhà thay đổi ra ngoài phố uống cà phê cho biết cuộc sống thành phố đã khác xưa.

Các con tôi thì gần như chỉ uống cà phê. Với chúng quán cà phê là không gian làm việc, gặp gỡ bạn bè hay họp hành online. Cà phê của giới trẻ bây giờ - cà trà nữa - nhiều lựa chọn, đa dạng hơn, đôi khi khó phân biệt Đông – Tây qua thức uống, phản ánh một thế giới phức tạp và ngày càng phẳng.

Có thể nghĩ rằng các thế hệ đang dần xa nhau: từ trà sang cà phê, từ chậm sang nhanh, từ ấm trà nóng trong gia đình đến quán cà phê mát lạnh trên phố. Nhưng vì biết chấp nhận sự thay đổi của cuộc sống nên chúng tôi không làm mất đi sự gắn kết của gia đình. Các thế hệ gần gũi hơn khi ngồi lại bên nhau, người nhâm nhi chén trà như nhắc lại quá khứ, người uống ly cà phê pha máy như hướng đến tương lai. Cả hai điều đều cần thiết vì “chúng ta là một gia đình”.

Và ở đâu đó giữa vị chát của trà và vị đắng của cà phê vẫn có một điểm chung: cả hai đều mang lại vị “ngọt hậu” của truyền thống gia đình. Chính vì vậy trong nhà tôi, mỗi sáng trước khi các con pha một bình cà phê mang đi làm thì luôn đặt những ly trà nóng trên bàn thờ để cúng ông bà, cha mẹ.

Mời các bạn vào link đọc để tăng lượng đọc cho bài nhé :)

https://nld.com.vn/tra-ca-phe-ket-noi-gia-dinh-196260330130631171.htm



 

NHỮNG NGƯỜI XÂY NHÀ ĐỂ LẠI KÝ ỨC ĐÔ THỊ

 Nguyễn Thị Hậu

1.

Người Sài Gòn xưa hay kể về một nhân vật với cái tên đời thường là chú Hỏa. Không phải ai cũng nhớ rõ tiểu sử nhưng nhiều người biết ngôi nhà lớn giữa trung tâm thành phố - nay là Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh - từng là của gia đình ông, Hui Bon Hoa. Ngôi nhà không được xây để “lưu giữ quá khứ”, nó được xây cho một hiện tại rất cụ thể: để ở, để tiếp khách, để khẳng định một vị thế giữa đô thị Sài Gòn hồi đầu thế kỷ 20.

Ở khu đất số 1 đường Lý Thái Tổ cũng có một cụm bảy căn biệt thự của chú Hỏa, tạo thành cả một “quần thể sống” giữa không gian đô thị, nơi tiếp nối đời sống của một gia tộc nổi tiếng. Những căn biệt thự ấy nếu nhìn bằng con mắt hôm nay có thể chỉ là bất động sản có giá trị “kim cương”. Nhưng nếu nhìn từ lịch sử đô thị ta có thể nhận ra một điều: một cá nhân không chỉ xây nhà, mà có thể còn định hình một không gian của thành phố.

Khu đất có 7 biệt thự kể trên hay toà nhà như Bảo tàng Mỹ Thuật, khi được tổ chức như vậy thì đã vượt khỏi giá trị vật chất là tài sản riêng của một cá nhân. Nó bắt đầu có giá trị di sản bởi mang cấu trúc đặc trưng của đô thị: tạo nên dấu ấn kiến trúc của một con đường, một khu vực, định hình cách cư trú của một tầng lớp thị dân, và quan trọng hơn, nó âm thầm ảnh hưởng đến ký ức của những người nhìn ngắm nó hay chỉ đi ngang qua nó, suốt nhiều thế hệ.

Có thể nhận thấy một điều, phần lớn những người để lại dấu ấn cho đô thị thường không phải là những người “thực hành bảo tồn”. Họ là những người làm ăn, buôn bán, tích lũy và rồi xây dựng nhà cửa, dãy phố, chợ, bệnh viện, trường học, cả đình chùa hay nhà thờ nữa… như một phần của công việc kinh doanh và đời sống. Đô thị Sài Gòn – Chợ Lớn từng có một lớp người như vậy: ông Hui Bon Hoa, ông Quách Đàm, ông Huyện Sỹ... Người Hoa với những dãy nhà phố nối nhau, vừa ở vừa buôn bán, người Việt những căn nhà vườn rồi chuyển dần thành phố thị, người Pháp với biệt thự và công sở. Mỗi nhóm người, mỗi lựa chọn xây dựng dù mục đích là gì cũng đã góp phần phát triển đô thị.

 Trải qua thời gian họ để lại những công trình mang dấu ấn đô thị. Đó chính là thứ mà sau này chúng ta gọi là di sản. Bởi vì di sản có được không chỉ bắt đầu từ ý định giữ lại cái cũ mà phải bắt đầu từ việc làm cho cái hiện tại trở nên tốt đẹp, đủ hữu dụng và có thể tồn tại lâu dài, hơn cả một đời người. Cứ nhìn những công trình di sản mà xem, dù là công sở, công trình công cộng hay nhà ở tư nhân thì đều được xây bằng vật liệu tốt và kỹ thuật cao cấp ở thời đại ấy, kiến trúc công trình và toàn bộ nội thất được chăm chút ở mức tối đa về chức năng, mỹ thuật trang trí mang tính tiêu biểu cho một trường phái, một xu hướng của thời đại. Một không gian được tính toán để có thể sử dụng lâu dài, linh hoạt, gần như không phải cơi nới cải tạo dù qua nhiều đời người. Và đặc biệt các công trình ấy đều cho biết nó thuộc về nơi nào, không lẫn với bất cứ đâu!

Tất cả điều đó tạo nên sự hoàn hảo của công trình trong một không - thời gian nhất định. Từ yếu tố kỹ thuật, sự hoàn hảo luôn là sự hợp lý. Chính vì vậy mà các công trình tồn tại lâu dài, từ đó những giá trị lịch sử, giá trị văn hoá, giá trị sử dụng thực tiễn có điều kiện tích luỹ ngày càng dày thêm!

2.

Đi giữa thành phố hôm nay đôi khi ta có cảm giác, nhiều công trình rất hiện đại rất tốn kém nhưng không giúp con người có thể hình dung chúng sẽ tồn tại trong ký ức của thành phố như thế nào sau vài chục năm nữa? Chúng được xây dựng vội vã để khai thác nhanh, tối ưu “lợi nhuận” trong một vòng đời ngắn ngủi, có thể để đáp ứng nhu cầu của một tầng lớp thị dân luôn muốn phô trương sự giàu có nhanh chóng. Điều đó có vẻ như là một “quy luật” của “hiện đại hoá”! Nhưng một đô thị nếu chỉ có những công trình được xây dựng không dựa trên giá trị cốt lõi mà chỉ nhằm đáp ứng lợi ích nhất thời thì sẽ không thể tạo ra chiều sâu lịch sử của đô thị. Thành phố lớn lên chỉ như một cái bong bóng khổng lồ, màu mè phô trương, lơ lửng đâu đó ngoài sự ghi nhớ của con người. Thành phố đó là một nơi không có gì tạo ra ký ức.

Vì sao một đô thị “hiện đại” lại tạo ra cảm giác đó? Câu trả lời không chỉ ở bối cảnh xã hội mà còn ở các cá nhân. Trước hết, những công trình xưa được xây với giả định tồn tại qua nhiều thế hệ. Ngày nay, quan hệ đất đai làm cho vòng đời của công trình thường chỉ tính bằng vài chục năm nên không có đầu tư cho sự lâu dài. Từ đó logic kinh tế đã thay đổi, công trình được tính toán để tối ưu lợi nhuận trong thời gian ngắn chứ không phải để tích lũy giá trị qua thời gian. Vì vậy cái “đẹp bền vững” thường thua cái “hiệu quả ngay”. Những người như chú Hỏa, ông Quách Đàm, ông Huyện Sỹ và gia tộc của họ đã sống, làm ăn và gắn bó cả đời với chính nơi họ xây dựng. Ngày nay, nhiều công trình được đầu tư bởi những chủ thể không thực sự “sống ở đó” mà họ chỉ đến và đầu tư, khai thác. Đó chính là sự đứt gãy giữa cá nhân và không gian sống.  Khi không có sự gắn bó và trải nghiệm thì rất khó để lại ký ức.

Và cuối cùng, đó là sự thiếu vắng một tầm nhìn văn hóa. Xây một công trình có thể chỉ cần tiền. Nhưng để một công trình có khả năng trở thành ký ức phải có thêm những thứ khác: cảm nhận về cái đẹp, ý thức về sự bền vững, sự hiểu biết về lịch sử và trách nhiệm với thành phố. Xây dựng là chuyện của hiện tại. Nhưng di sản chỉ xuất hiện khi trong cách xây dựng ấy đã có sẵn một ý thức về sự nối tiếp quá khứ và tương lai.

3.

Những người thuộc lớp “đại gia” của Sài Gòn xưa, có lẽ điều làm người ta nhớ đến họ không chỉ vì sự giàu có mà vì cuộc sống của họ thực sự phản ánh đời sống thành phố. Họ xây nhà cho mình nhưng ngôi nhà ấy đã trở thành một phần của thành phố. Những ngôi chợ, nhà thờ, trường học, bệnh viên… mà họ để lại đều là những công trình hiện diện lâu dài, mang lại lợi ích trong đời sống chung nên mới có cơ hội trở thành ký ức trong cộng đồng. Vậy nhưng cho đến nay ở thành phố chúng ta hầu như chưa có một sự ghi nhận đáng kể nào đối với chủ nhân những công trình ấy!

Có thể là một gian trưng bày trong Bảo tàng thành phố, nhà lưu niệm hay một công viên nhỏ, một con đường kế bên công trình được mang tên họ... Bình dị thôi nhưng là sự ghi nhận những đóng góp của các thế hệ thị dân thành phố. Bởi vì đô thị Sài Gòn  không chỉ được hình thành từ các bản quy hoạch tổng thể của chính quyền, mà còn được “hồn vía” nhờ những quyết định mang tính chất cá nhân, như chủ nhân của các công trình nay đã trở thành di sản.

Trong quá trình phát triển của thành phố, nếu có điều gì đáng lo thì không phải là thành phố thiếu những công trình mới và hoành tráng, mà là thiếu vắng những công trình có khả năng “ở lại với thời gian” bằng tâm thức của cộng đồng. Nói một cách khác, thành phố chỉ thực sự “phát triển bền vững” khi có các công trình bền vững và những ký ức bền vững. Và như vậy, liệu chúng ta có đang khuyến khích xây cái “ở lại” không, hay chỉ khuyến khích những cái chỉ là “quay vòng nhanh”?

TP. Hồ Chí Minh ngày 23.3.2026







 

Giữ ‘gen đô thị’ trước áp lực phát triển (TC NGƯỜI ĐÔ THỊ)

 Mỗi lần chỉnh trang một công trình quen thuộc không chỉ là thay đổi diện mạo, mà còn tác động đến ký ức đô thị. Câu chuyện bảo tồn di sản Sài Gòn vì thế không chỉ thuộc về quá khứ, mà còn là lựa chọn cho tương lai.

TS. Nguyễn Thị Hậu - Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử TP.HCM, chuyên gia hàng đầu về khảo cổ học và bảo tồn di sản, cho biết bảo tồn di sản không chỉ là “giữ hay không giữ”, mà còn liên quan đến các yếu tố sâu hơn như cấu trúc xã hội, kinh tế... Chính điều này khiến việc bảo tồn trở nên phức tạp, đôi khi dẫn đến những kết quả không như mong muốn(*).

Di sản đô thị: Không chỉ là công trình, mà là ký ức sống

Những ngày gần đây, câu chuyện chợ Bến Thành, Hồ Con Rùa, Nhà chú Hỏa… được chỉnh trang đã thu hút sự chú ý lớn của dư luận. Qua đó đặt ra câu hỏi: đâu là ranh giới giữa bảo tồn và cải tạo, giữa gìn giữ ký ức và nhu cầu phát triển? Và quan trọng hơn, ai là người có quyền quyết định diện mạo của những không gian đã trở thành một phần ký ức chung của thành phố? Để giải quyết những câu hỏi đó, việc hiểu đúng về di sản là rất cần thiết.

Theo TS. Nguyễn Thị Hậu, di sản đô thị là một tổng thể gồm cả vật thể và phi vật thể. Chúng gồm di tích khảo cổ dưới lòng đất, cảnh quan và công trình trên mặt đất, các yếu tố kiến trúc và phi vật thể như lễ hội, lối sống, văn hóa, đạo đức… Tất cả tạo nên khía cạnh lịch sử - xã hội của thành phố trong từng giai đoạn, phản ánh quá trình phát triển đô thị.

Tuy vậy trong nghiên cứu và thực tiễn, người ta thường chú ý nhiều đến di tích vật thể vì chúng hiện hữu rõ ràng. Vì vậy bảo tồn di sản đô thị, dưới góc độ này, trước hết là bảo tồn các khu vực có công trình di sản như một tổng thể, sau đó mới đến các công trình đơn lẻ.

Dẫu thế, cũng cần biết rằng, bảo tồn vật thể chính là cơ sở để bảo tồn yếu tố phi vật thể, bởi khi một công trình mất đi, ký ức về nó cũng dần biến mất. Ví dụ với những công trình không còn như Thương xá Tax, trong khi thế hệ trước vẫn còn nhớ được hình ảnh và vị trí công trình, thì các thế hệ sau sẽ dần lãng quên. Tương tự, hàng cây cổ thụ trên đường Tôn Đức Thắng đã bị đốn hạ để dành đất làm hạ tầng cầu đường, hàng cây này giờ cũng chỉ còn lại trong ký ức hay qua những bưu ảnh… Đây chính là mối quan hệ giữa di sản hữu hình và ký ức đô thị.

Từ thực tiễn trong và ngoài nước, theo bà Hậu, bảo vệ di sản thực chất là vấn đề chính sách và thực thi chính sách văn hóa đô thị. Nó bắt đầu từ cấp vĩ mô nhưng được hiện thực hóa bằng hành động cụ thể của nhiều bên tham gia.

Ngoài ra, hệ thống di sản cũng phải xuất phát từ các đặc trưng đô thị, bao gồm đặc trưng tự nhiên, lịch sử - văn hóa và cộng đồng cư dân. Qua gần 20 năm nghiên cứu, bà rút ra bốn đặc trưng cơ bản mà nếu mất đi, “gen” Sài Gòn – TP.HCM sẽ thay đổi, dẫn đến một diện mạo khác, một bản sắc khác.

Chúng gồm, thứ nhất là địa lý tự nhiên - nền tảng của đô thị. Sài Gòn - TP.HCM có cảnh quan sông nước hướng biển và tính kết nối. Thứ hai, ngay từ khi hình thành, Sài Gòn đã là trung tâm kinh tế, giao thương, dịch vụ và công nghiệp. Thứ ba là sự đa dạng văn hóa tộc người, gắn với quá trình nhập cư liên tục và biến động dân cư. Cuối cùng, đây là đô thị được quy hoạch theo kiểu phương Tây từ rất sớm.

Từ bốn đặc trưng trên có thể hình dung hệ thống di sản vật thể và phi vật thể của thành phố. Về phi vật thể, sự đa dạng tộc người kéo theo đa dạng lễ hội, ngôn ngữ, tôn giáo, tín ngưỡng (Việt, Hoa, Khmer, Ấn…), trong khi với nhánh vật thể, các đặc trưng này biểu hiện thành một hệ thống di sản phong phú.

Theo cách tiếp cận loại hình học, có thể phân chia di sản vật thể thành chín loại hình để nhận diện chức năng, cấu trúc và phục vụ trùng tu chính xác, tránh làm sai lệch các yếu tố gốc. Việc phân loại các loại hình di sản cũng nhằm nhận diện và có cách ứng xử phù hợp: có cái cần giữ, có cái có thể chuyển đổi.

Bà Hậu cũng lưu ý cảnh quan và văn hóa đô thị là một quần thể, không thể tách rời thành các đơn vị đơn lẻ. Do đó nếu khu trung tâm thành phố đã được xác định là vùng di sản thì cần được bảo tồn như một chỉnh thể, không thể chỉ giữ riêng từng công trình như nhà hát hay nhà thờ, trong khi cảnh quan xung quanh lại bị phá bỏ. Khi bối cảnh không còn, giá trị của công trình cũng sẽ suy giảm.

Vì vậy, các lý thuyết quy hoạch di sản đô thị đều nhấn mạnh: cảnh quan phải được nhìn nhận như một tổng thể. Mọi can thiệp vào công trình đều cần xét đến toàn bộ không gian đô thị xung quanh, đúng như cách đô thị được hình thành và quy hoạch từ đầu.

Nhiếp ảnh và vai trò lưu giữ lịch sử đô thị

Nhưng dù thuộc phân loại nào, thì cũng không thể phủ nhận mọi di sản vật thể đều gắn với di sản phi vật thể, trong đó ký ức đô thị là quan trọng nhất. Khác với nông thôn - nơi gắn kết bằng huyết thống, đô thị gắn kết qua mối quan hệ giữa con người và không gian sống.

Vì vậy đã có không ít người cố gắng lưu giữ những ký ức này. Một trong số đó là nhiếp ảnh gia Nguyễn Minh Hòa. Với hơn 45 năm kinh nghiệm, những năm gần đây, ông dành nhiều tâm huyết ghi lại hình ảnh lịch sử, di sản và văn hóa Sài Gòn.

Tại buổi tọa đàm, nhiếp ảnh gia Minh Hòa cho biết mình vốn là nhiếp ảnh gia tự do, trước đây tập trung chủ yếu vào mảng chân dung cũng như thời trang. Tuy nhiên bởi nhận ra tư liệu, hình ảnh về Sài Gòn giai đoạn 1975 - 1990 còn tương đối ít, nên sau khi con cái trưởng thành, ông đã dành nhiều thời gian hơn để chụp thành phố.

Một trong những hướng đi mà ông đặc biệt theo đuổi là đối chiếu ảnh xưa - nay. Trong đó, ông sử dụng tư liệu từ khoảng thập niên 1920 rồi sau đó chụp lại cũng đúng góc cũ để thấy được sự thay đổi.

Chẳng hạn ga Sài Gòn – chợ Bến Thành trước đây có bùng binh lớn, nhưng nay không còn. Ngoài ra tại công trường Mê Linh cũng từng đặt tượng Hai Bà Trưng nên con đường mang tên này (hiện nay đặt tượng Trần Hưng Đạo), và giữ cho đến ngày nay, minh chứng cho sức bền của ký ức đô thị…

Không dừng ở đó, nhiếp ảnh gia Minh Hòa cũng ghi lại những khoảnh khắc đặc biệt của thành phố này, có thể kể đến như vào dịp Tết không kẹt xe, không gian trở nên tĩnh lặng. Trong giai đoạn đại dịch Covid-19, ông cũng ghi được hình ảnh núi Bà Đen quan sát được từ trung tâm thành phố, nơi chỉ số ô nhiễm giảm mạnh vì thực hiện giãn cách xã hội… Ngoài ra ông cũng gắn liền với những bức ảnh chụp các ngôi trườngsở hữu kiến trúc Pháp, như trường Trần Đại Nghĩa, Lê Quý Đôn, Marie Curie, Lê Hồng Phong…

Từ những trải nghiệm đó nhiếp ảnh gia Minh Hòa khẳng định rằng: “Nhiếp ảnh không chỉ là ghi hình mà là kể chuyện. Khi hiểu và kể lại câu chuyện đằng sau mỗi không gian, mỗi công trình, thì người xem (dù là cư dân hay người đến từ nơi khác) đều có thể hình thành tình cảm sâu sắc hơn với thành phố này”.

Không dừng ở đó, nhiếp ảnh cũng có khả năng phản ánh hiện thực đặc biệt về quy hoạch đô thị. Chẳng hạn khi chụp một loạt tượng đài, ông nhận ra và lấy làm tiếc là có những công trình dân sự vượt quá chiều cao của các di sản. Trong khi từ góc nhìn trên cao qua drone hay trực thăng, thì bên cạnh cảm xúc ngoạn mục trước cảnh quan là một nỗi buồn trĩu nặng khi những mái ngói xuất hiện xen lẫn cao ốc một cách lộn xộn, phản ánh sự thiếu nhất quán trong khâu quy hoạch qua các thời kỳ…

Như vậy có thể nhận thấy Sài Gòn – TP.HCM là một thành phố có cấu trúc giàu lịch sử, nhưng đang phải đối diện với áp lực phát triển nhanh.

Tiếng nói cộng đồng và áp lực thay đổi chính sách bảo tồn

Tại buổi tọa đàm, trả lời câu hỏi của độc giả về việc nhìn nhận vai trò của các công trình thời Pháp thuộc tạo ra dư luận mới đây, TS. Nguyễn Thị Hậu nhận định việc xem xét công bằng chỉ mới được thực hiện tương đối quy củ, khách quan trong những năm gần đây, bởi trước đó từng tồn tại quan điểm cho rằng những gì thuộc về phong kiến hay là thực dân thì “không phù hợp” với ngày hiện tại.

Bà khẳng định đó là cách nhìn có phần phiến diện, khi chỉ đặt mọi thứ trong lát cắt lịch sử đơn tuyến. Theo bà, mỗi công trình đều mang giá trị lịch sử với chính vùng đất nơi nó tồn tại. Chẳng hạn với một đô thị hơn 300 năm như Sài Gòn, thì những công trình 100 - 200 năm tuổi hoàn toàn có ý nghĩa như những “chứng nhân” của quá trình hình thành và phát triển. Do đó không thể so sánh đơn giản với các vùng có lịch sử hàng nghìn năm để rồi phủ nhận giá trị của chúng.

Không dừng ở đó, các công trình còn có giá trị kiến trúc và văn hóa. Mỗi công trình tiêu biểu cho một phong cách, một tầng lớp xã hội và một thời kỳ nhất định. Từ những ngôi nhà gỗ dân gian đến các dinh thự, biệt thự hay công trình công cộng… tất cả đều góp phần tạo nên diện mạo văn hóa đô thị. Kiến trúc, vì thế, không chỉ là hình thức, mà còn là một phần quan trọng của ký ức văn hóa.

Cuối cùng, cũng cần quan tâm đến giá trị kinh tế của di sản. Nếu được nhìn nhận, khai thác đúng cách, các công trình này hoàn toàn có thể chuyển hóa thành nguồn lực phát triển, đặc biệt là trong lĩnh vực du lịch văn hóa. Do đó, điều quan trọng không nằm ở việc giữ lại một cách thụ động, mà là sử dụng một cách phù hợp để vừa bảo tồn, vừa phát huy giá trị.

Từ góc nhìn đó, có thể thấy việc đánh giá di sản cần bắt đầu bằng sự tôn trọng lịch sử của chính vùng đất. Dù công trình thuộc về giai đoạn nào, miễn là được xây dựng, tồn tại và gắn bó với đời sống con người ở đó, thì đã trở thành một phần của di sản. Và khi nhìn nhận như vậy, ta mới có thể thấy rõ giá trị thực sự của chúng trong dòng chảy liên tục của đô thị.

Bà cũng nói thêm trong khoảng hai thập niên gần đây, có thể nhận diện bốn nhóm tác nhân ảnh hưởng trực tiếp đến câu chuyện bảo tồn di sản. Trước hết là chính quyền và các cơ quan quản lý đô thị - bao gồm các sở, ngành liên quan đến di sản và cả bất động sản xung quanh. Đây là lực lượng nắm quyền quyết định về quy hoạch, cấp phép và định hướng phát triển, nên có vai trò mang tính then chốt.

Thứ hai là giới nghiên cứu và giảng dạy. Tuy vậy, bà cũng nhấn mạnh nghiên cứu sẽ không trọn vẹn nếu chỉ dừng ở học thuật mà không đi ra cộng đồng. Ngoài ra, những phát hiện, tri thức về giá trị di sản cần được truyền đạt rộng rãi, để cả xã hội (trong đó có nhà quản lý) có thể hiểu được, đưa ra quyết định thận trọng hơn nữa.

Thứ ba là cộng đồng, không chỉ cư dân tại chỗ mà bất kỳ ai quan tâm đến di sản đều có quyền lên tiếng. Những câu chuyện như bảo vệ cảnh quan Hồ Tây tại Hà Nội hay các công trình tại TP.HCM gần đây cho thấy tiếng nói cộng đồng không bị giới hạn về mặt địa lý, bởi di sản là tài sản chung, nên trách nhiệm gìn giữ cũng rất rộng mở.

Nhòm thứ tư, và ngày càng có sức ảnh hưởng lớn, là các nhà đầu tư. Trước đây, nhóm này thường được xem là một phần của cộng đồng, nhưng với tác động ngày càng mạnh mẽ đến diện mạo đô thị, họ dần trở thành lực lượng riêng biệt. Mục tiêu của họ không thể khác đi chính là lợi nhuận, từ đây đặt ra vấn đề cân bằng giữa lợi ích phát triển và bảo tồn, bởi phát triển đô thị không thể tách rời giá trị di sản.

Trong bối cảnh hiện nay, nhiều nghiên cứu cho rằng chính quyền, nhà quản lý và nhà đầu tư đang giữ vai trò quyết định, nhưng theo thời gian, tiếng nói của cộng đồng cũng đang có sức ảnh hưởng mạnh mẽ. Có thể minh chứng qua việc thay đổi màu sơn hay thiết kế cảnh quan ở chợ Bến Thành, khu vực Hồ Con Rùa… gần đây.

Từ đó có thể rút ra mỗi cá nhân đều có tiếng nói trong việc bảo vệ di sản. Nếu chỉ dừng ở sự tiếc nuối mà không lên tiếng, thì những giá trị ấy rất dễ biến mất. Ngược lại, khi nhiều người cùng quan tâm, cùng bày tỏ, tiếng nói cộng đồng sẽ tạo thành áp lực tích cực, buộc các quyết định phải được cân nhắc thấu đáo hơn nữa.

Bảo tồn, vì thế, không chỉ là trách nhiệm của một nhóm riêng lẻ, mà là một quá trình đồng hành giữa nhiều phía. Và điều quan trọng nhất là giữ được nhận thức rằng: “Những gì còn có thể giữ lại thì cần được giữ bằng mọi cách có thể”.

Minh Anh

https://nguoidothi.net.vn/giu-gen-do-thi-truoc-ap-luc-phat-trien-52093.html




Nhìn về “vùng đất mới”

NHÂN SỰ VIỆC "DI DỜI ĐẠI HỌC BÁCH KHOA" Đăng lại bài mình viết từ 2017, cảnh báo tư duy và hành xử kiểu coi Sài Gòn/Nam bộ là "đất mới", nên tùy tiện phá bỏ những di tích dù chỉ trên dưới trăm năm tuổi. Không có di tích trăm năm sao có lịch sử ngàn năm? Bởi vì "Khi ở tâm thế “người đi chinh phục vùng đất mới”, người ta sẽ dễ dàng phá hủy những gì khác lạ để xây dựng những thứ quen thuộc “của mình”. 

---

NHÌN VỀ "VÙNG ĐẤT MỚI" 

(TBKTSG) - Từ lâu chúng ta đã quen thuộc với thuật ngữ “Tân thế giới” - vùng đất mới - được sử dụng để chỉ châu Mỹ. Vào thời điểm thế kỷ 16 châu Mỹ hoàn toàn mới đối với người châu Âu, bởi vì lúc đó người ta chỉ biết thế giới bao gồm châu Âu, châu Á và châu Phi (gọi chung là Cựu thế giới). Thuật ngữ này sau đó phổ biến cùng “chủ nghĩa thực dân cũ” xâm chiếm lục địa châu Mỹ.

Nhìn về “vùng đất mới”
Phối cảnh quảng trường trung tâm và công viên bờ sông - Ảnh: Ban Quản lý khu đô thị Thủ Thiêm.

Tuy nhiên hiện nay thuật ngữ “Tân thế giới” thường sử dụng trong bối cảnh lịch sử chuyến đi của Christopher Columbus hồi cuối thế kỷ 15, vì chúng ta đã biết rằng châu Mỹ là vùng đất đã có con người và những nền văn minh từ rất lâu trước khi người châu Âu đến và khám phá ra nó.

Như vậy “tân thế giới” là châu Mỹ “được người châu Âu lần đầu biết tới” chứ không phải là vùng đất hoang “mới được con người đặt chân tới”. Sự thay đổi nội hàm cho thấy một nhận thức quan trọng: mỗi vùng đất đều có quá trình lịch sử bởi những thế hệ cộng đồng dân cư trong bối cảnh địa lý - sinh thái riêng biệt. Việc những cộng đồng cư dân đến sau có đóng góp tích cực làm thay đổi, phát triển một vùng đất cũng không thể phủ nhận quá khứ của nó. Nhận thức này chính là khởi đầu sự tôn trọng cư dân và văn hóa bản địa, bảo vệ và bảo tồn sự đa dạng sinh thái và văn hóa truyền thống.

Thành tựu của nhiều khoa học nghiên cứu về châu Mỹ, nhất là các ngành xã hội nhân văn, sự trưởng thành của ý thức về nhân quyền của cộng đồng dân cư bản địa đã có tác động lớn đến sự thay đổi nhận thức của xã hội nói chung và đặc biệt của chính quyền nhiều quốc gia. Từ nhận thức quan trọng này nhiều chính sách, luật lệ đã được hình thành nhằm bảo vệ, bảo tồn và phát triển cộng đồng cư dân và văn hóa bản địa.

* * *

Nam bộ nói chung và vùng đất Sài Gòn - TPHCM nói riêng vẫn thường được gọi là “vùng đất mới”, “vùng đất có 300 năm lịch sử”. Nói đến nơi này, vai trò của người Việt được đề cao: “Lưu dân người Việt đến khai phá vùng đất mới...”. Không thể phủ nhận vai trò đó trong giai đoạn từ thế kỷ 17, 18 trở đi nhưng khoa học lịch sử và khảo cổ học cũng đã cho biết, từ trước khi lưu dân người Việt có mặt, nơi này từng có 1.000 năm trước Công nguyên với những cộng đồng dân cư thời tiền sử của văn hóa khảo cổ Đồng Nai rồi đến nền văn minh Óc Eo của vương quốc Phù Nam từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 7. Do đó Nam bộ là nơi người Việt từ miền Trung, miền Bắc “mới biết đến” trong quá trình di dân qua nhiều thời kỳ từ cuối thế kỷ 17 đến nửa sau thế kỷ 20.

Tâm thức “vùng đất mới” của lưu dân đối với Nam bộ, ngoài sự nhận biết một khu vực địa lý địa hình khá khác biệt so với miền Bắc, miền Trung, còn bắt nguồn từ tâm thế “đi mở đất” thời các chúa Nguyễn. Người Việt vào Nam di cư tự do hay có tổ chức của chính quyền thì luôn được sự “bảo trợ”, có khi bằng quân sự nhưng chủ yếu bằng chính trị theo phương thức “dân đi trước nhà nước theo sau” thiết lập hành chính quản lý dân cư, như vào năm 1611 thành lập phủ Phú Yên của chúa Tiên Nguyễn Hoàng và 1698 lập Phủ Gia Định của chúa Nguyễn Phúc Chu.

Là vùng đất khá hoang vu nhưng vẫn có một số tộc người cư trú dọc lưu vực sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và trên những giồng, gò cao ở đồng bằng sông Cửu Long. Người Việt, người Hoa đã có những đóng góp rất lớn để biến nơi này thành vùng đất trù phú vào bậc nhất nước ta nhưng sự “va chạm văn hóa” giữa các tộc người cũng ít xảy ra mà ngược lại là sự hòa hợp và biến đổi văn hóa lối sống cho phù hợp với “phong thổ” mới. Người đến sau đã chịu khó tìm hiểu, thích nghi và tôn trọng phong tục lối sống của người bản địa, nhờ đó mà văn hóa của các cộng đồng dân cư tuy có sự biến đổi mà vẫn giữ nhiều nét truyền thống.

* * *

Ở phạm vi nhỏ hơn về không gian và ngắn hơn về thời gian, khu vực Thủ Thiêm - TPHCM trong quá trình “đô thị hóa” cũng là một trường hợp tương tự. Để quy hoạch và xây dựng một trung tâm mới ở đây đã phải gần như giải tỏa “trắng” ruộng vườn, xóm làng... hiện hữu gần hai trăm năm. Thủ Thiêm của thế kỷ 21 đâu phải là vùng đất hoang vu như Nam bộ hơn 300 năm trước? Vì sao “hiện đại hóa” một vùng có lịch sử lại như việc xóa bỏ một bàn cờ để bày lại ván khác? Vì sao các nhà đầu tư lại đòi hỏi “vùng đất trống trơn” để xây dựng mà không phải là một vùng đất có lịch sử có dân cư lâu đời để tạo ra một đô thị hiện đại lưu giữ truyền thống văn hóa?

Phải chăng vì Thủ Thiêm là một “vùng đất mới” khi nhìn từ trung tâm thành phố qua bên kia sông Sài Gòn bạt ngàn dừa nước và kênh rạch chi chít? Nó khác biệt so với đô thị nhà cao phố chật bên này sông. Nó lạ lẫm nên cần xóa bỏ. Một lớp dân cư khác sẽ đến sống ở nơi đây và chỉ biết rằng đây là “vùng đất mới”!

Khi ở tâm thế “người đi chinh phục vùng đất mới”, người ta sẽ dễ dàng phá hủy những gì khác lạ để xây dựng những thứ quen thuộc “của mình”. 

Nguyễn Thị Hậu

NGÀY PHỤ NỮ

 “NGÀY PHỤ NỮ”

Có quốc gia nào mà phụ nữ lại được dành nhiều ngày kỷ niệm tôn vinh như ở Việt Nam không nhỉ: Nào là ngày 8/3, ngày 20/10 rồi hội nhập quốc tế có thêm ngày của mẹ Mother's Day (ngày chủ nhật thứ 2 của tháng 5), ngày tình yêu Valentine 14/2…
Có nước nào mà phụ nữ trong những huyền thoại, truyền thuyết, lịch sử, văn học nổi tiếng… lại có số phận “kỳ lạ” và gánh vác nhiều trách nhiệm đến thế như phụ nữ Việt Nam không nhỉ (chính xác là phụ nữ Việt/Kinh):
- Truyền thuyết khởi đầu là một cuộc ly dị vĩ đại với lý do đại khái là vì không hợp nhau “nàng là tiên ta là rồng”, bầy con phải chia đôi và mẹ Âu Cơ đành mang 50 con lên núi (tức là trở về nhà mình)…
- Bà mẹ anh hùng đẩu tiên là mẹ đơn thân: mẹ Thánh Gióng.
- Âu Lạc là nhà nước đầu tiên, vậy mà nàng công chúa Mỵ Châu phải chịu số phận bi thảm vì bị cha (nghe lời rùa thần) chém chết. Lý do “nỏ thần VÔ Ý trao tay giặc”, nhưng ai cho giặc vào nhà thì không thấy bị kiểm điểm trách nhiệm!
- Cuộc khởi nghĩa đầu tiên chống lại phong kiến phương Bắc là do Hai bà Trưng đứng đầu, tiếp theo là khởi nghĩa Bà Triệu.
- Nhân vật chính của tác phẩm văn học nổi tiếng nhất là nàng Thúy Kiều: bán mình chuộc cha và 15 năm lăn lóc lầu xanh.
Tôn vinh ca ngợi hội hè… vui thôi, nhưng làm sao để phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội không phải chịu những cực nhọc tủi hờn oan khuất thì tốt hơn. “Anh hùng bất khuất trung hậu đảm đang” thì rất oách, nhưng mà, cực chẳng đã mới phải “anh hùng” hay trở thành “tấm gương”, chứ làm một người đàn bà bình thường mà không hơn à?
Mình – đàn bà bình thường, nghĩ thế.
@nêu bật

MỘT NGÀY MỖI NĂM VẪN CÓ

Tại sao phải có một ngày
Người ta có nghĩa vụ tặng hoa
Cho những người đàn bà
Nhẹ nhàng duyên dáng nhạy cảm mong manh
Hay là họ luôn nghĩ mình như vậy
Tại sao lại chỉ có một ngày
Người ta nói những lời có cánh
Bày tỏ biết ơn yêu quý tôn vinh
Với những người đàn bà
Mạnh mẽ năng động thông minh
Hay họ luôn tỏ ra mình như thế
Nhưng cũng trong ngày này
Còn có bao người đàn bà
Cả đời chẳng được tặng một bông hoa
Chưa từng nghe một lời dịu ngọt
Cả đời không nghĩ mình mong manh dễ vỡ
Chỉ biết lao khổ làm ăn
Cũng chẳng biết mình mạnh mẽ thế nào
Chỉ biết làm tất cả nếu cần phải làm như thế
Thì thôi
“Có còn hơn không có còn hơn không”
Những người đàn bà AQ
Tự an ủi mình
Dẫu chỉ được một ngày
Còn chán vạn hơn nhiều người khác
“có còn hơn không”
Những người đàn ông,
Thở phào
Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu
Tiếc gì một bó hoa một lời có cánh
Để cho họ
Dù mong manh hay mạnh mẽ
Tiếp tục làm đàn bà
Đừng “vùng dậy”
Cho đến ngày
Tám tháng Ba sau
7.3.2014
Hình mình chụp ở Mũi Né, hình như 2018?



Xây trên ký ức chưa kịp khai mở: TP.HCM đang bỏ lỡ “mỏ vàng” di sản dưới lòng đất?

  Mỗi công trình mới ở trung tâm TP.HCM có thể đang đặt lên những lớp trầm tích lịch sử chưa từng được nhận diện. Khi không có khảo cổ học đ...