Giữ ‘gen đô thị’ trước áp lực phát triển (TC NGƯỜI ĐÔ THỊ)

 Mỗi lần chỉnh trang một công trình quen thuộc không chỉ là thay đổi diện mạo, mà còn tác động đến ký ức đô thị. Câu chuyện bảo tồn di sản Sài Gòn vì thế không chỉ thuộc về quá khứ, mà còn là lựa chọn cho tương lai.

TS. Nguyễn Thị Hậu - Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử TP.HCM, chuyên gia hàng đầu về khảo cổ học và bảo tồn di sản, cho biết bảo tồn di sản không chỉ là “giữ hay không giữ”, mà còn liên quan đến các yếu tố sâu hơn như cấu trúc xã hội, kinh tế... Chính điều này khiến việc bảo tồn trở nên phức tạp, đôi khi dẫn đến những kết quả không như mong muốn(*).

Di sản đô thị: Không chỉ là công trình, mà là ký ức sống

Những ngày gần đây, câu chuyện chợ Bến Thành, Hồ Con Rùa, Nhà chú Hỏa… được chỉnh trang đã thu hút sự chú ý lớn của dư luận. Qua đó đặt ra câu hỏi: đâu là ranh giới giữa bảo tồn và cải tạo, giữa gìn giữ ký ức và nhu cầu phát triển? Và quan trọng hơn, ai là người có quyền quyết định diện mạo của những không gian đã trở thành một phần ký ức chung của thành phố? Để giải quyết những câu hỏi đó, việc hiểu đúng về di sản là rất cần thiết.

Theo TS. Nguyễn Thị Hậu, di sản đô thị là một tổng thể gồm cả vật thể và phi vật thể. Chúng gồm di tích khảo cổ dưới lòng đất, cảnh quan và công trình trên mặt đất, các yếu tố kiến trúc và phi vật thể như lễ hội, lối sống, văn hóa, đạo đức… Tất cả tạo nên khía cạnh lịch sử - xã hội của thành phố trong từng giai đoạn, phản ánh quá trình phát triển đô thị.

Tuy vậy trong nghiên cứu và thực tiễn, người ta thường chú ý nhiều đến di tích vật thể vì chúng hiện hữu rõ ràng. Vì vậy bảo tồn di sản đô thị, dưới góc độ này, trước hết là bảo tồn các khu vực có công trình di sản như một tổng thể, sau đó mới đến các công trình đơn lẻ.

Dẫu thế, cũng cần biết rằng, bảo tồn vật thể chính là cơ sở để bảo tồn yếu tố phi vật thể, bởi khi một công trình mất đi, ký ức về nó cũng dần biến mất. Ví dụ với những công trình không còn như Thương xá Tax, trong khi thế hệ trước vẫn còn nhớ được hình ảnh và vị trí công trình, thì các thế hệ sau sẽ dần lãng quên. Tương tự, hàng cây cổ thụ trên đường Tôn Đức Thắng đã bị đốn hạ để dành đất làm hạ tầng cầu đường, hàng cây này giờ cũng chỉ còn lại trong ký ức hay qua những bưu ảnh… Đây chính là mối quan hệ giữa di sản hữu hình và ký ức đô thị.

Từ thực tiễn trong và ngoài nước, theo bà Hậu, bảo vệ di sản thực chất là vấn đề chính sách và thực thi chính sách văn hóa đô thị. Nó bắt đầu từ cấp vĩ mô nhưng được hiện thực hóa bằng hành động cụ thể của nhiều bên tham gia.

Ngoài ra, hệ thống di sản cũng phải xuất phát từ các đặc trưng đô thị, bao gồm đặc trưng tự nhiên, lịch sử - văn hóa và cộng đồng cư dân. Qua gần 20 năm nghiên cứu, bà rút ra bốn đặc trưng cơ bản mà nếu mất đi, “gen” Sài Gòn – TP.HCM sẽ thay đổi, dẫn đến một diện mạo khác, một bản sắc khác.

Chúng gồm, thứ nhất là địa lý tự nhiên - nền tảng của đô thị. Sài Gòn - TP.HCM có cảnh quan sông nước hướng biển và tính kết nối. Thứ hai, ngay từ khi hình thành, Sài Gòn đã là trung tâm kinh tế, giao thương, dịch vụ và công nghiệp. Thứ ba là sự đa dạng văn hóa tộc người, gắn với quá trình nhập cư liên tục và biến động dân cư. Cuối cùng, đây là đô thị được quy hoạch theo kiểu phương Tây từ rất sớm.

Từ bốn đặc trưng trên có thể hình dung hệ thống di sản vật thể và phi vật thể của thành phố. Về phi vật thể, sự đa dạng tộc người kéo theo đa dạng lễ hội, ngôn ngữ, tôn giáo, tín ngưỡng (Việt, Hoa, Khmer, Ấn…), trong khi với nhánh vật thể, các đặc trưng này biểu hiện thành một hệ thống di sản phong phú.

Theo cách tiếp cận loại hình học, có thể phân chia di sản vật thể thành chín loại hình để nhận diện chức năng, cấu trúc và phục vụ trùng tu chính xác, tránh làm sai lệch các yếu tố gốc. Việc phân loại các loại hình di sản cũng nhằm nhận diện và có cách ứng xử phù hợp: có cái cần giữ, có cái có thể chuyển đổi.

Bà Hậu cũng lưu ý cảnh quan và văn hóa đô thị là một quần thể, không thể tách rời thành các đơn vị đơn lẻ. Do đó nếu khu trung tâm thành phố đã được xác định là vùng di sản thì cần được bảo tồn như một chỉnh thể, không thể chỉ giữ riêng từng công trình như nhà hát hay nhà thờ, trong khi cảnh quan xung quanh lại bị phá bỏ. Khi bối cảnh không còn, giá trị của công trình cũng sẽ suy giảm.

Vì vậy, các lý thuyết quy hoạch di sản đô thị đều nhấn mạnh: cảnh quan phải được nhìn nhận như một tổng thể. Mọi can thiệp vào công trình đều cần xét đến toàn bộ không gian đô thị xung quanh, đúng như cách đô thị được hình thành và quy hoạch từ đầu.

Nhiếp ảnh và vai trò lưu giữ lịch sử đô thị

Nhưng dù thuộc phân loại nào, thì cũng không thể phủ nhận mọi di sản vật thể đều gắn với di sản phi vật thể, trong đó ký ức đô thị là quan trọng nhất. Khác với nông thôn - nơi gắn kết bằng huyết thống, đô thị gắn kết qua mối quan hệ giữa con người và không gian sống.

Vì vậy đã có không ít người cố gắng lưu giữ những ký ức này. Một trong số đó là nhiếp ảnh gia Nguyễn Minh Hòa. Với hơn 45 năm kinh nghiệm, những năm gần đây, ông dành nhiều tâm huyết ghi lại hình ảnh lịch sử, di sản và văn hóa Sài Gòn.

Tại buổi tọa đàm, nhiếp ảnh gia Minh Hòa cho biết mình vốn là nhiếp ảnh gia tự do, trước đây tập trung chủ yếu vào mảng chân dung cũng như thời trang. Tuy nhiên bởi nhận ra tư liệu, hình ảnh về Sài Gòn giai đoạn 1975 - 1990 còn tương đối ít, nên sau khi con cái trưởng thành, ông đã dành nhiều thời gian hơn để chụp thành phố.

Một trong những hướng đi mà ông đặc biệt theo đuổi là đối chiếu ảnh xưa - nay. Trong đó, ông sử dụng tư liệu từ khoảng thập niên 1920 rồi sau đó chụp lại cũng đúng góc cũ để thấy được sự thay đổi.

Chẳng hạn ga Sài Gòn – chợ Bến Thành trước đây có bùng binh lớn, nhưng nay không còn. Ngoài ra tại công trường Mê Linh cũng từng đặt tượng Hai Bà Trưng nên con đường mang tên này (hiện nay đặt tượng Trần Hưng Đạo), và giữ cho đến ngày nay, minh chứng cho sức bền của ký ức đô thị…

Không dừng ở đó, nhiếp ảnh gia Minh Hòa cũng ghi lại những khoảnh khắc đặc biệt của thành phố này, có thể kể đến như vào dịp Tết không kẹt xe, không gian trở nên tĩnh lặng. Trong giai đoạn đại dịch Covid-19, ông cũng ghi được hình ảnh núi Bà Đen quan sát được từ trung tâm thành phố, nơi chỉ số ô nhiễm giảm mạnh vì thực hiện giãn cách xã hội… Ngoài ra ông cũng gắn liền với những bức ảnh chụp các ngôi trườngsở hữu kiến trúc Pháp, như trường Trần Đại Nghĩa, Lê Quý Đôn, Marie Curie, Lê Hồng Phong…

Từ những trải nghiệm đó nhiếp ảnh gia Minh Hòa khẳng định rằng: “Nhiếp ảnh không chỉ là ghi hình mà là kể chuyện. Khi hiểu và kể lại câu chuyện đằng sau mỗi không gian, mỗi công trình, thì người xem (dù là cư dân hay người đến từ nơi khác) đều có thể hình thành tình cảm sâu sắc hơn với thành phố này”.

Không dừng ở đó, nhiếp ảnh cũng có khả năng phản ánh hiện thực đặc biệt về quy hoạch đô thị. Chẳng hạn khi chụp một loạt tượng đài, ông nhận ra và lấy làm tiếc là có những công trình dân sự vượt quá chiều cao của các di sản. Trong khi từ góc nhìn trên cao qua drone hay trực thăng, thì bên cạnh cảm xúc ngoạn mục trước cảnh quan là một nỗi buồn trĩu nặng khi những mái ngói xuất hiện xen lẫn cao ốc một cách lộn xộn, phản ánh sự thiếu nhất quán trong khâu quy hoạch qua các thời kỳ…

Như vậy có thể nhận thấy Sài Gòn – TP.HCM là một thành phố có cấu trúc giàu lịch sử, nhưng đang phải đối diện với áp lực phát triển nhanh.

Tiếng nói cộng đồng và áp lực thay đổi chính sách bảo tồn

Tại buổi tọa đàm, trả lời câu hỏi của độc giả về việc nhìn nhận vai trò của các công trình thời Pháp thuộc tạo ra dư luận mới đây, TS. Nguyễn Thị Hậu nhận định việc xem xét công bằng chỉ mới được thực hiện tương đối quy củ, khách quan trong những năm gần đây, bởi trước đó từng tồn tại quan điểm cho rằng những gì thuộc về phong kiến hay là thực dân thì “không phù hợp” với ngày hiện tại.

Bà khẳng định đó là cách nhìn có phần phiến diện, khi chỉ đặt mọi thứ trong lát cắt lịch sử đơn tuyến. Theo bà, mỗi công trình đều mang giá trị lịch sử với chính vùng đất nơi nó tồn tại. Chẳng hạn với một đô thị hơn 300 năm như Sài Gòn, thì những công trình 100 - 200 năm tuổi hoàn toàn có ý nghĩa như những “chứng nhân” của quá trình hình thành và phát triển. Do đó không thể so sánh đơn giản với các vùng có lịch sử hàng nghìn năm để rồi phủ nhận giá trị của chúng.

Không dừng ở đó, các công trình còn có giá trị kiến trúc và văn hóa. Mỗi công trình tiêu biểu cho một phong cách, một tầng lớp xã hội và một thời kỳ nhất định. Từ những ngôi nhà gỗ dân gian đến các dinh thự, biệt thự hay công trình công cộng… tất cả đều góp phần tạo nên diện mạo văn hóa đô thị. Kiến trúc, vì thế, không chỉ là hình thức, mà còn là một phần quan trọng của ký ức văn hóa.

Cuối cùng, cũng cần quan tâm đến giá trị kinh tế của di sản. Nếu được nhìn nhận, khai thác đúng cách, các công trình này hoàn toàn có thể chuyển hóa thành nguồn lực phát triển, đặc biệt là trong lĩnh vực du lịch văn hóa. Do đó, điều quan trọng không nằm ở việc giữ lại một cách thụ động, mà là sử dụng một cách phù hợp để vừa bảo tồn, vừa phát huy giá trị.

Từ góc nhìn đó, có thể thấy việc đánh giá di sản cần bắt đầu bằng sự tôn trọng lịch sử của chính vùng đất. Dù công trình thuộc về giai đoạn nào, miễn là được xây dựng, tồn tại và gắn bó với đời sống con người ở đó, thì đã trở thành một phần của di sản. Và khi nhìn nhận như vậy, ta mới có thể thấy rõ giá trị thực sự của chúng trong dòng chảy liên tục của đô thị.

Bà cũng nói thêm trong khoảng hai thập niên gần đây, có thể nhận diện bốn nhóm tác nhân ảnh hưởng trực tiếp đến câu chuyện bảo tồn di sản. Trước hết là chính quyền và các cơ quan quản lý đô thị - bao gồm các sở, ngành liên quan đến di sản và cả bất động sản xung quanh. Đây là lực lượng nắm quyền quyết định về quy hoạch, cấp phép và định hướng phát triển, nên có vai trò mang tính then chốt.

Thứ hai là giới nghiên cứu và giảng dạy. Tuy vậy, bà cũng nhấn mạnh nghiên cứu sẽ không trọn vẹn nếu chỉ dừng ở học thuật mà không đi ra cộng đồng. Ngoài ra, những phát hiện, tri thức về giá trị di sản cần được truyền đạt rộng rãi, để cả xã hội (trong đó có nhà quản lý) có thể hiểu được, đưa ra quyết định thận trọng hơn nữa.

Thứ ba là cộng đồng, không chỉ cư dân tại chỗ mà bất kỳ ai quan tâm đến di sản đều có quyền lên tiếng. Những câu chuyện như bảo vệ cảnh quan Hồ Tây tại Hà Nội hay các công trình tại TP.HCM gần đây cho thấy tiếng nói cộng đồng không bị giới hạn về mặt địa lý, bởi di sản là tài sản chung, nên trách nhiệm gìn giữ cũng rất rộng mở.

Nhòm thứ tư, và ngày càng có sức ảnh hưởng lớn, là các nhà đầu tư. Trước đây, nhóm này thường được xem là một phần của cộng đồng, nhưng với tác động ngày càng mạnh mẽ đến diện mạo đô thị, họ dần trở thành lực lượng riêng biệt. Mục tiêu của họ không thể khác đi chính là lợi nhuận, từ đây đặt ra vấn đề cân bằng giữa lợi ích phát triển và bảo tồn, bởi phát triển đô thị không thể tách rời giá trị di sản.

Trong bối cảnh hiện nay, nhiều nghiên cứu cho rằng chính quyền, nhà quản lý và nhà đầu tư đang giữ vai trò quyết định, nhưng theo thời gian, tiếng nói của cộng đồng cũng đang có sức ảnh hưởng mạnh mẽ. Có thể minh chứng qua việc thay đổi màu sơn hay thiết kế cảnh quan ở chợ Bến Thành, khu vực Hồ Con Rùa… gần đây.

Từ đó có thể rút ra mỗi cá nhân đều có tiếng nói trong việc bảo vệ di sản. Nếu chỉ dừng ở sự tiếc nuối mà không lên tiếng, thì những giá trị ấy rất dễ biến mất. Ngược lại, khi nhiều người cùng quan tâm, cùng bày tỏ, tiếng nói cộng đồng sẽ tạo thành áp lực tích cực, buộc các quyết định phải được cân nhắc thấu đáo hơn nữa.

Bảo tồn, vì thế, không chỉ là trách nhiệm của một nhóm riêng lẻ, mà là một quá trình đồng hành giữa nhiều phía. Và điều quan trọng nhất là giữ được nhận thức rằng: “Những gì còn có thể giữ lại thì cần được giữ bằng mọi cách có thể”.

Minh Anh

https://nguoidothi.net.vn/giu-gen-do-thi-truoc-ap-luc-phat-trien-52093.html




Nhìn về “vùng đất mới”

NHÂN SỰ VIỆC "DI DỜI ĐẠI HỌC BÁCH KHOA" Đăng lại bài mình viết từ 2017, cảnh báo tư duy và hành xử kiểu coi Sài Gòn/Nam bộ là "đất mới", nên tùy tiện phá bỏ những di tích dù chỉ trên dưới trăm năm tuổi. Không có di tích trăm năm sao có lịch sử ngàn năm? Bởi vì "Khi ở tâm thế “người đi chinh phục vùng đất mới”, người ta sẽ dễ dàng phá hủy những gì khác lạ để xây dựng những thứ quen thuộc “của mình”. 

---

NHÌN VỀ "VÙNG ĐẤT MỚI" 

(TBKTSG) - Từ lâu chúng ta đã quen thuộc với thuật ngữ “Tân thế giới” - vùng đất mới - được sử dụng để chỉ châu Mỹ. Vào thời điểm thế kỷ 16 châu Mỹ hoàn toàn mới đối với người châu Âu, bởi vì lúc đó người ta chỉ biết thế giới bao gồm châu Âu, châu Á và châu Phi (gọi chung là Cựu thế giới). Thuật ngữ này sau đó phổ biến cùng “chủ nghĩa thực dân cũ” xâm chiếm lục địa châu Mỹ.

Nhìn về “vùng đất mới”
Phối cảnh quảng trường trung tâm và công viên bờ sông - Ảnh: Ban Quản lý khu đô thị Thủ Thiêm.

Tuy nhiên hiện nay thuật ngữ “Tân thế giới” thường sử dụng trong bối cảnh lịch sử chuyến đi của Christopher Columbus hồi cuối thế kỷ 15, vì chúng ta đã biết rằng châu Mỹ là vùng đất đã có con người và những nền văn minh từ rất lâu trước khi người châu Âu đến và khám phá ra nó.

Như vậy “tân thế giới” là châu Mỹ “được người châu Âu lần đầu biết tới” chứ không phải là vùng đất hoang “mới được con người đặt chân tới”. Sự thay đổi nội hàm cho thấy một nhận thức quan trọng: mỗi vùng đất đều có quá trình lịch sử bởi những thế hệ cộng đồng dân cư trong bối cảnh địa lý - sinh thái riêng biệt. Việc những cộng đồng cư dân đến sau có đóng góp tích cực làm thay đổi, phát triển một vùng đất cũng không thể phủ nhận quá khứ của nó. Nhận thức này chính là khởi đầu sự tôn trọng cư dân và văn hóa bản địa, bảo vệ và bảo tồn sự đa dạng sinh thái và văn hóa truyền thống.

Thành tựu của nhiều khoa học nghiên cứu về châu Mỹ, nhất là các ngành xã hội nhân văn, sự trưởng thành của ý thức về nhân quyền của cộng đồng dân cư bản địa đã có tác động lớn đến sự thay đổi nhận thức của xã hội nói chung và đặc biệt của chính quyền nhiều quốc gia. Từ nhận thức quan trọng này nhiều chính sách, luật lệ đã được hình thành nhằm bảo vệ, bảo tồn và phát triển cộng đồng cư dân và văn hóa bản địa.

* * *

Nam bộ nói chung và vùng đất Sài Gòn - TPHCM nói riêng vẫn thường được gọi là “vùng đất mới”, “vùng đất có 300 năm lịch sử”. Nói đến nơi này, vai trò của người Việt được đề cao: “Lưu dân người Việt đến khai phá vùng đất mới...”. Không thể phủ nhận vai trò đó trong giai đoạn từ thế kỷ 17, 18 trở đi nhưng khoa học lịch sử và khảo cổ học cũng đã cho biết, từ trước khi lưu dân người Việt có mặt, nơi này từng có 1.000 năm trước Công nguyên với những cộng đồng dân cư thời tiền sử của văn hóa khảo cổ Đồng Nai rồi đến nền văn minh Óc Eo của vương quốc Phù Nam từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 7. Do đó Nam bộ là nơi người Việt từ miền Trung, miền Bắc “mới biết đến” trong quá trình di dân qua nhiều thời kỳ từ cuối thế kỷ 17 đến nửa sau thế kỷ 20.

Tâm thức “vùng đất mới” của lưu dân đối với Nam bộ, ngoài sự nhận biết một khu vực địa lý địa hình khá khác biệt so với miền Bắc, miền Trung, còn bắt nguồn từ tâm thế “đi mở đất” thời các chúa Nguyễn. Người Việt vào Nam di cư tự do hay có tổ chức của chính quyền thì luôn được sự “bảo trợ”, có khi bằng quân sự nhưng chủ yếu bằng chính trị theo phương thức “dân đi trước nhà nước theo sau” thiết lập hành chính quản lý dân cư, như vào năm 1611 thành lập phủ Phú Yên của chúa Tiên Nguyễn Hoàng và 1698 lập Phủ Gia Định của chúa Nguyễn Phúc Chu.

Là vùng đất khá hoang vu nhưng vẫn có một số tộc người cư trú dọc lưu vực sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và trên những giồng, gò cao ở đồng bằng sông Cửu Long. Người Việt, người Hoa đã có những đóng góp rất lớn để biến nơi này thành vùng đất trù phú vào bậc nhất nước ta nhưng sự “va chạm văn hóa” giữa các tộc người cũng ít xảy ra mà ngược lại là sự hòa hợp và biến đổi văn hóa lối sống cho phù hợp với “phong thổ” mới. Người đến sau đã chịu khó tìm hiểu, thích nghi và tôn trọng phong tục lối sống của người bản địa, nhờ đó mà văn hóa của các cộng đồng dân cư tuy có sự biến đổi mà vẫn giữ nhiều nét truyền thống.

* * *

Ở phạm vi nhỏ hơn về không gian và ngắn hơn về thời gian, khu vực Thủ Thiêm - TPHCM trong quá trình “đô thị hóa” cũng là một trường hợp tương tự. Để quy hoạch và xây dựng một trung tâm mới ở đây đã phải gần như giải tỏa “trắng” ruộng vườn, xóm làng... hiện hữu gần hai trăm năm. Thủ Thiêm của thế kỷ 21 đâu phải là vùng đất hoang vu như Nam bộ hơn 300 năm trước? Vì sao “hiện đại hóa” một vùng có lịch sử lại như việc xóa bỏ một bàn cờ để bày lại ván khác? Vì sao các nhà đầu tư lại đòi hỏi “vùng đất trống trơn” để xây dựng mà không phải là một vùng đất có lịch sử có dân cư lâu đời để tạo ra một đô thị hiện đại lưu giữ truyền thống văn hóa?

Phải chăng vì Thủ Thiêm là một “vùng đất mới” khi nhìn từ trung tâm thành phố qua bên kia sông Sài Gòn bạt ngàn dừa nước và kênh rạch chi chít? Nó khác biệt so với đô thị nhà cao phố chật bên này sông. Nó lạ lẫm nên cần xóa bỏ. Một lớp dân cư khác sẽ đến sống ở nơi đây và chỉ biết rằng đây là “vùng đất mới”!

Khi ở tâm thế “người đi chinh phục vùng đất mới”, người ta sẽ dễ dàng phá hủy những gì khác lạ để xây dựng những thứ quen thuộc “của mình”. 

Nguyễn Thị Hậu

NGÀY PHỤ NỮ

 “NGÀY PHỤ NỮ”

Có quốc gia nào mà phụ nữ lại được dành nhiều ngày kỷ niệm tôn vinh như ở Việt Nam không nhỉ: Nào là ngày 8/3, ngày 20/10 rồi hội nhập quốc tế có thêm ngày của mẹ Mother's Day (ngày chủ nhật thứ 2 của tháng 5), ngày tình yêu Valentine 14/2…
Có nước nào mà phụ nữ trong những huyền thoại, truyền thuyết, lịch sử, văn học nổi tiếng… lại có số phận “kỳ lạ” và gánh vác nhiều trách nhiệm đến thế như phụ nữ Việt Nam không nhỉ (chính xác là phụ nữ Việt/Kinh):
- Truyền thuyết khởi đầu là một cuộc ly dị vĩ đại với lý do đại khái là vì không hợp nhau “nàng là tiên ta là rồng”, bầy con phải chia đôi và mẹ Âu Cơ đành mang 50 con lên núi (tức là trở về nhà mình)…
- Bà mẹ anh hùng đẩu tiên là mẹ đơn thân: mẹ Thánh Gióng.
- Âu Lạc là nhà nước đầu tiên, vậy mà nàng công chúa Mỵ Châu phải chịu số phận bi thảm vì bị cha (nghe lời rùa thần) chém chết. Lý do “nỏ thần VÔ Ý trao tay giặc”, nhưng ai cho giặc vào nhà thì không thấy bị kiểm điểm trách nhiệm!
- Cuộc khởi nghĩa đầu tiên chống lại phong kiến phương Bắc là do Hai bà Trưng đứng đầu, tiếp theo là khởi nghĩa Bà Triệu.
- Nhân vật chính của tác phẩm văn học nổi tiếng nhất là nàng Thúy Kiều: bán mình chuộc cha và 15 năm lăn lóc lầu xanh.
Tôn vinh ca ngợi hội hè… vui thôi, nhưng làm sao để phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội không phải chịu những cực nhọc tủi hờn oan khuất thì tốt hơn. “Anh hùng bất khuất trung hậu đảm đang” thì rất oách, nhưng mà, cực chẳng đã mới phải “anh hùng” hay trở thành “tấm gương”, chứ làm một người đàn bà bình thường mà không hơn à?
Mình – đàn bà bình thường, nghĩ thế.
@nêu bật

MỘT NGÀY MỖI NĂM VẪN CÓ

Tại sao phải có một ngày
Người ta có nghĩa vụ tặng hoa
Cho những người đàn bà
Nhẹ nhàng duyên dáng nhạy cảm mong manh
Hay là họ luôn nghĩ mình như vậy
Tại sao lại chỉ có một ngày
Người ta nói những lời có cánh
Bày tỏ biết ơn yêu quý tôn vinh
Với những người đàn bà
Mạnh mẽ năng động thông minh
Hay họ luôn tỏ ra mình như thế
Nhưng cũng trong ngày này
Còn có bao người đàn bà
Cả đời chẳng được tặng một bông hoa
Chưa từng nghe một lời dịu ngọt
Cả đời không nghĩ mình mong manh dễ vỡ
Chỉ biết lao khổ làm ăn
Cũng chẳng biết mình mạnh mẽ thế nào
Chỉ biết làm tất cả nếu cần phải làm như thế
Thì thôi
“Có còn hơn không có còn hơn không”
Những người đàn bà AQ
Tự an ủi mình
Dẫu chỉ được một ngày
Còn chán vạn hơn nhiều người khác
“có còn hơn không”
Những người đàn ông,
Thở phào
Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu
Tiếc gì một bó hoa một lời có cánh
Để cho họ
Dù mong manh hay mạnh mẽ
Tiếp tục làm đàn bà
Đừng “vùng dậy”
Cho đến ngày
Tám tháng Ba sau
7.3.2014
Hình mình chụp ở Mũi Né, hình như 2018?



DI SẢN ĐÔ THỊ - CHUYỆN VỀ CÁC VÒI NƯỚC CỔ

 Nguyễn Thị Hậu

Trong các thành phố châu Âu ta thường bắt gặp những vòi nước cổ trên đường phố.

Từ thời trung cổ đến sau này các vua chúa châu Âu đã nghĩ tới việc xây những vòi nước công cộng, hệ thống dẫn nước sạch tới đó cho người dân ở các khu dân cư, cũng như người qua đường. Có khi bên vòi nước công cộng còn có cả bồn nước lớn có mái che dành cho các bà nội trợ mang quần áo đến giặt, cũng là nơi gặp gỡ chuyện trò. Bây giờ chỉ còn lại những vòi nước trên hè phố, nhiều người lơ đãng không biết rằng mình vừa đi qua một chứng tích của cuộc sống từ vài trăm năm trước.

Vòi nước cổ thường được đúc bằng gang, dựng thành trụ trên vỉa hè hay gắn vào tường ngôi nhà ven đường. Nhiều miệng vòi đúc thành hình miệng thú. Vòi nước dùng cần bơm tay hay tự chảy (do áp lực từ tháp nước) nhưng đều là nước sạch có thể uống được ngay. Dòng nước chảy thẳng xuống cống thóat nước phía dưới, phía trên là vỉ nắp đậy cũng đúc bằng gang. Hầu hết các vòi nước cổ được bảo tồn khá tốt: luôn được sơn chống rỉ, quét dọn sạch sẽ, nắp cống phía dưới không có rác làm nghẹt cống. Quan trọng là nguồn nước dẫn đến những vòi này luôn đảm bảo vệ sinh nên những người đi đường vẫn thường ghé miệng uống nước từ vòi một cách tự nhiên và thích thú. Uống nước từ vòi nước mà mạch nước có từ hàng trăm năm trước không chỉ là giải khát mà còn mang lại cảm giác dường như đang sống ở thời xa xưa.

Hệ thống cấp nước cổ ở những thành phố này thời xưa gần như có chung một nguyên tắc: các “cầu dẫn nước” từ nguồn trên núi, từ sông hay suối… đều được dẫn đến một hay nhiều tháp nước chung của một thành phố. Một số thành phố có “bể chứa nước” khổng lồ như một cung điện dưới lòng đất, như ở Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ). Tại đó nước được lọc sạch và theo các ống dẫn về từng khu vực mà đầu tiên là đến các vòi nước công cộng. Sau này hệ thống nước vào từng ngôi nhà nhưng những vòi nước trên đường phố vẫn được duy trì để sử dụng. Sinh họat từ một nguồn nước nên cư dân có thói quen bảo vệ nguồn nước chung, giữ vệ sinh để hạn chế dịch bệnh thường xảy ra vào thời đó. Vào thời đó nguồn nước chung còn liên quan đến một sinh hoạt cộng đồng: nhà tắm và nhà vệ sinh công cộng. Tại đó có vòi nước sạch, những rãnh nước bằng đá được nước chảy qua suốt ngày đêm nên luôn sạch sẽ. Các di tích này vẫn còn hiện diện ở nhiều thành phố cổ.

Đi qua nhiều nơi ở châu Âu ta có thể nhìn thấy những “cây cầu máng” dài hàng chục, có khi hàng trăm cây số dẫn nước từ trên núi cao về thành phố. Điển hình là những cầu dẫn nước cổ thời văn minh La Mã. Đó là những cây cầu máng khổng lồ bằng đá có khi có hai tầng để đảm bảo độ cao, sừng sững như những con rắn khổng lồ chạy dài hàng trăm km vắt ngang qua nhiều vùng địa hình, làm ta luôn choáng ngợp về vẻ đẹp hoành tráng mà rất nhẹ nhõm, duyên dáng cũa nó. Một ví dụ cho thấy trình độ của các kỹ sư La Mã, ở thế kỷ thứ nhất là cầu dẫn nước ở Nimes - Pont du Gard (miền Nam nước Pháp), bằng đá, dài gần 50km, chênh lệch chiều cao từ đầu tới cuối cầu ở mức độ chính xác mà các kỹ sư cầu đường ngày nay phải thán phục. Hay cầu máng ở khu Amoreiras (Lisbon), thoạt đầu mới nhìn tưởng đấy là một thành trì cổ khổng lồ, như một con khủng long còn sót lại từ thời tiền sử...  

Các thành phố này còn có nhiều Đài phun nước ở quảng trường, có khi trong khu vườn, trong công viên… Tại những quảng trường – mở rộng từ giao lộ của những con đường chính trong thành phố, đài phun nước thường có các nhóm tượng nổi chìm mờ trong làn hơi nước phun ra từ chính những bức tượng ấy. Các tia nước được phun ra theo nhiều hình dạng khác nhau. Nước ở đây như chưa bao giờ ngừng chảy và du khách hầu như ai cũng dừng chân ghé lại, ngồi chơi trên bệ đá, khỏa bàn tay mình vào bể nước trong biếc, có thể hứng từ những tia nước ấy để uống hay để xoa lên mặt lấy phước, lấy may. Họ chụp hình, đôi khi những bức hình rất đẹp bởi phía sau màn nuớc bỗng ánh lên ngũ sắc cầu vồng… Những đài phun nước ở trung tâm thành phố, nhiều người cầm đồng tiền nhỏ, đứng quay lưng vung tay ném qua đầu mình xuống bể nước trước khi tạm biệt, để mong ước có ngày được trở lại nơi đây.

 Các cầu máng dẫn nước, vòi nước cổ, đài phun nước hay những nhà tắm, nhà vệ sinh chung thời xưa... đều là những không gian cộng cộng, nơi con người gặp gỡ và sinh hoạt chung. Bên cạnh đó còn có những quảng trường, nhà hát hay đấu trường... dành cho các sự kiện lớn. Chỉ từ câu chuyện vòi nước cổ hay những đài phun nước cũng cho ta biết về “quy họach đô thị” của những thành phố châu Âu từ hàng trăm năm trước. Nó được tính tóan đến từng chi tiết nhưng lại hữu hiệu lâu dài bởi vì không chỉ là việc xây dựng các công trình, nhà cửa, đường xá, quảng trường, đài phun nước, công viên cho cộng đồng, mà còn là những vòi nước trên đường cho từng khách bộ hành từng gia đình… Bài học giản đơn cho một “không gian đô thị bền vững”: luôn có các không gian công cộng dù lớn hay nhỏ, dành cho cộng đồng cũng đáp ứng nhu cầu của từng con người thì mỗi con người sẽ có ý thức gìn giữ và bảo vệ lợi ích cho cả cộng đồng.

 Từ câu chuyện các vòi nước cổ ở châu Âu ta có thể nhình thấy nhiều câu hỏi lịch sử lý thú có thể đặt ra chung quanh chủ đề "nguồn nước" và sinh hoạt cộng đồng liên quan đến nước ở nước ta. Miền Nam có “văn minh sông nước” mà sông, kênh rạch là nguồn nước chung sử dụng với nhiều mục đích từ sinh hoạt hàng ngày đến trồng trọt, nuôi trồng và khai thác thủy sản... Miền Bắc xưa là “văn minh ao hồ”, mỗi nhà có ao hoặc nhiều nhà dùng chung ao với nhiều chức năng, có “giếng làng” phần nhiều từ ao, hồ sửa sang mà thành, giữ gìn làm “nước ăn” chung cho cả làng, về sau nhiều nhà cũng đào giếng, Người Chăm cổ có “giếng Chăm” sửa sang nguồn nước tự nhiên hoặc đào “giếng vuông”. Như vậy, ở nước ta nguồn nước sạch được sử dụng trong phạm vi hẹp: từng làng hay từng gia đình, các công trình nhân tạo như kênh đào, sông đào phần lớn là các công trình thủy lợi. Điều này phản ánh đời sống cộng đồng gắn liền với sân đình, phố chợ, hồ nước hay bến sông – những không gian mang dấu ấn làng xã và văn hóa nông nghiệp.

Tại các đô thị Việt Nam, các quảng trưởng hình thành từ các giao lộ hay phía trước công trình cộng cộng, quy mô nhỏ, có đài phun nước hay tượng đài chỉ xuất hiện từ khoảng đầu thế kỷ 20, “máy nước công cộng” trên đường phố cững vậy, được duy trì miền Nam đến khoảng cuối những năm 1950, ở miền Bắc đến hết thời bao cấp khoảng 1990. Đây là một hiện tượng kiến trúc – quy hoạch phản ánh sự thay đổi trong đời sống và sinh hoạt đô thị Việt Nam.

Hình ảnh: Mai Nguyễn



 

GỌI LÀ THƠ

 

TÌNH KHUYẾT

 

Chia cho em nửa đời thơ *

Còn một nửa anh dành chia người khác

Đam mê của anh em giữ giùm một nửa *

Còn nửa kia... người khác lấy mất rồi

 

Khi thành công

Anh rực rỡ trăng rằm

Giữa bao người ngưỡng mộ

Lúc thất bại

anh về lại bên em

tháng năm qua

Vầng khuyết lớn dần...

Cuộc tình mình

Một ngày kia

Nguyệt thực...

 

Suốt đời em chờ

Trăng phục sinh

Từ hoang tàn tình muộn…

 

2.2019

 * Ý thơ Nguyễn TrọngTạo

#thocuatui

 


Lưu hình ảnh thời quá khứ :) [than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu, huhuhu]

1975 - bắt đầu vào SG
1976 - hết lớp 12 Marie Curie
1977 - năm thứ nhất Văn Khoa

1978 - năm thứ 2 Văn khoa

1978

1979 Năm thứ 3 Văn khóa - Đại học tổng hợp TPHCM


1980 - năm thứ 4 Đại học tổng hợp TPHCM


1981 - năm đầu là giảng viên Đại học tổng hợp


1982 - năm thứ hai giảng viên Đại học tổng hợp TPHCM



 

Người Thầy thuốc nhân dân thân thương của gia đình tôi


Đây là tấm hình chụp năm 1971 tại HN, lúc đó ba tôi chuẩn bị đi chiến trường lần thứ 3 - chuyến đi mà ba tôi tin chắc sẽ được về đến Nam bộ quê nhà.
Vì vậy trước khi đi ông nhờ người chụp một số tấm hình cho gia đình, tấm hình này chụp với bác Ba Nguyễn Văn Hưởng - lúc đó là Bộ trưởng Bộ Y tế , bác gái Nguyễn Thị Hạnh - làm việc tại Viện Pasteur HN.
Bác Ba Nguyễn Văn Hưởng không chỉ là một người anh lớn của ba tôi, mà như ông nội của chúng tôi. Gia đình ông nội tôi nghèo, bác Ba học rất giỏi, được học bổng của Pháp từ trung học đến cao đẳng, đại học bên Pháp. Về SG đi làm nuôi các em - trong đó có ba tôi ăn học thành thầy giáo. Rồi hai anh em cùng đi kháng chiến ở miền Tây Nam bộ, cùng tập kết ra Bắc...
Các anh chị em tôi hồi nhỏ đều trải qua những cơn bệnh thập tử nhất sinh mà không có bác Ba thì chúng tôi đã không còn hiện diện trên đời!
Khi Bác Ba mất gia đình thực hiện nguyện vọng của ông: dành số tiền các giải thưởng của ông tiếp tục duy trì và phát triển học bổng Nguyễn Văn Hưởng tặng cho sinh viên y - dược nghèo, học giỏi.
Nhân ngày Thầy Thuốc VN, kính nhớ Bác Ba ❤

















GS.BS Nguyễn Văn Hưởng sinh năm 1906 tại làng Mỹ Chánh (nay xã Mỹ Hiệp, Chợ Mới, An Giang). Năm 1927 ông học trường Đại học Y khoa Hà Nội. Học xong ở Hà Nội 4 năm, ông sang Paris học tiếp 2 năm, năm 1932 ông tốt nghiệp y khoa loại giỏi. Năm 1933, ông về nước làm việc tại Viện Pasteur Sài Gòn 5 năm. Do bất bình phân biệt đối xử của người Pháp, năm 1939 ông thôi việc và mở phòng mạch, phòng xét nghiệm riêng tại nhà số 224 đường Cống Quỳnh ngày nay.

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, ông tham gia kháng chiến là Ủy viên Ủy ban Kháng chiến- hành chánh Nam bộ kiêm Giám đốc Sở Y tế quân dân Nam bộ. Ông tổ chức bào chế huyết thanh, vắc xin để trị bệnh... Ông tập kết ra Bắc giữ nhiều chức vụ, cao nhất là Bộ trưởng Bộ Y tế vào năm 1969- 1974.
Sau giải phóng ông làm Viện trưởng Viện Y học cổ truyền dân tộc TP HCM. Năm 1996, ông nhận Giải thưởng HCM - ông dành toàn bộ tiền giải thưởng và tiền dành dụm xây dựng "QUỸ HỌC BỔNG NGUYỄN VĂN HƯỞNG" để hỗ trợ sinh viên ngành y cả nước... BS Nguyễn Văn Hưởng mất ngày 04/8/1998, hưởng thọ 93 tuổi.


Giữ ‘gen đô thị’ trước áp lực phát triển (TC NGƯỜI ĐÔ THỊ)

  Mỗi lần chỉnh trang một công trình quen thuộc không chỉ là thay đổi diện mạo, mà còn tác động đến ký ức đô thị. Câu chuyện bảo tồn di sản ...