TỪ MỘT “GIỌT NƯỚC” ĐẾN “ĐÔ THỊ NHÂN VĂN

  

thành phố, trên những con đường quen thuộc ta qua mỗi ngày thường vài cảnh quan, công trình mà ta hầu như quên mất sự tồn tại của nó. Khu đất số 1 Lý Thái Tổ là một nơi như thế. Ngày đêm dòng xe cuồn cuộn chảy quanh nhưng bên trong bức tường là một nơi có vẻ như không liên quan gì đến nhịp sống sôi động của thành phố. Khu đất và các công trình trong đó là nơi xưa nay “kín cổng cao tường”, xa lạ với nhiều người dân ở ngay khu vực xung quanh.  

Cho đến một ngày khi đi qua vòng xoay Lý Thái Tổ chúng ta bất chợt nhận ra một không gian xanh mát mở ra trước mắt. Trong đó thấp thoáng vài biệt thự xưa, và một “tiểu không gian” hiện đại: Một Giọt nước long lanh giữa những vòi phun nước, xung quanh là những bậc thềm rộng rãi, thân thiện mời gọi mọi người “ngồi lại bên nhau”. Một không gian tĩnh nhưng không lặng và mang lại nhiều cảm xúc.

“Công viên Giọt nước” – như người dân gọi nơi này, không gây ấn tượng bằng vẻ đẹp choáng ngợp mà bằng cảm giác nơi để dừng chân, được hít thở không khí trong lành, nhớ lại ký ức chưa xa... Tuy không lớn nhưng khuôn viên có nhiều cổ thụ tạo bóng mát, lại được chăm chút thêm bằng thảm cỏ, vườn hoa xinh xinh... Một công viên nhỏ được tạo ra giữa “quy hoạch vĩ mô” của sự phát triển hạ tầng giao thông hiện đại. “Giọt nước” rất nhỏ so với không gian xung quanh, nhưng chính từ sự nhỏ bé ấy lại gợi mở ra câu hỏi lớn: một siêu đô thị sẽ dành bao nhiêu nơi như vậy cho con người dừng lại và nghỉ ngơi?

Nhiều người cho rằng, sự phát triển đô thị phải bằng những đại lộ, công trình cao tầng và tòa nhà hiện đại, bằng những dự án quy mô lớn “nghìn tỷ”. Nhưng đời sống thực sự của thành phố lại diễn ra ở những không gian rất khác. Đó là những nơi không được quy hoạch và thiết kế để trở thành hoành tráng, hiện đại, sang trọng, mà đơn giản chỉ là nơi để con người có thể thoải mái hiện diện vì nó đáp ứng một nhu cầu nào đó. Công viên hay không gian công cộng là những nơi như thế. Người ta đến đó tập thể dục, đi bộ vào sáng sớm, hẹn nhau đến đó để trò chuyện, ghé vào nghỉ chân sau một quãng đường nắng nóng, hay thư giản nghỉ ngơi vào buổi tối mát mẻ sau một ngày vất vả mưu sinh, vào ngày cuối tuần có thể cùng gia đình đến vui chơi, ngồi quán cà phê, hay thậm chí đến đây không vì mục đích nào cả. Những hành vi tưởng như vụn vặt ấy, khi lặp lại mỗi ngày lại chính là cách con người đang sống, là cách đô thị được sống.

Không gian công cộng không chỉ là một yếu tố cảnh quan đơn thuần. Nó trở thành một dạng “hạ tầng mềm” của thành phố, không thể đo đếm bằng diện tích mà bằng khả năng tạo ra những khoảnh lặng bình yên. Hiện nay, lý thuyết đô thị đương đại nói nhiều đến những “khoảng nghỉ đô thị” (urban pause), đó là những không gian cho phép con người thoát khỏi tốc độ căng thẳng và nhàm chán vì lặp đi lặp lại, thoát khỏi áp lực và sự phức tạp của cuộc sống. Như vậy, công viên “giọt nước” bên vòng xoay Lý Thái Tổ không phải là phần “tiện thể” của một quy hoạch tổng thể, hay là “tận dụng đất trống” trong khi chưa sử dụng, phải được coi là một phần thiết yếu của hệ sinh thái đô thị. Những “tiểu không gian” ấy tạo nên chiều sâu của đời sống đô thị, nơi tinh thần của con người được cung cấp năng lượng để có thể tái tạo thậm chí phục hồi.

Những không gian như thế không chỉ mang lại lợi ích ở hiện tại, mà trải qua thời gian còn tích tụ ký ức trong cộng đồng. Không phải ký ức lớn lao của các sự kiện lịch sử chính thống, mà là ký ức đời thường, giản dị, dễ biến mất, khó nắm bắt. Cũng không phải là câu chuyện về các nhân vật lịch sử lớn lao mà là câu chuyện của các thế hệ cư dân, của cộng đồng từng khu vực. Tất cả những sinh hoạt hàng ngày mang lại niềm vui, tạo thành thói quen, sự hữu ích... qua năm tháng sẽ trở thành lớp trầm tích ký ức riêng của từng nơi chốn.

Từ một “giọt nước” nhỏ có thể nhìn rộng ra câu chuyện của siêu đô thị TP. Hồ Chí Minh hôm nay và ngày mai. Thành phố phát triển càng nhanh càng lớn thì nguy cơ đánh mất những khoảng không gian như vậy càng cao. Áp lực về giao thông, về đất đai, về hiệu quả sử dụng không gian khiến mọi thứ có xu hướng bị “tối ưu hóa” vì lợi ích kinh tế trước mắt. Trong quá trình đó những gì không trực tiếp tạo ra “tiền tươi thóc thật” dễ bị xem là thứ yếu. Nhưng nếu mọi không gian trong thành phố đều bị lấp đầy bởi công trình chức năng, nếu mọi khoảng trống đều bị chuyển hóa thành giá trị kinh tế, thì con người sẽ ở đâu trong cấu trúc ấy, sẽ giữ vai trò gì trong thành phố ấy? Khi đó đô thị sẽ trở thành một cỗ máy vận hành hiệu quả mà không còn khả năng chăm sóc con người. Con người chỉ còn là một “đinh ốc” trong cỗ máy khổng lồ đó mà thôi.

Sự hiện diện của những khoảng dừng như công viên “giọt nước” mang ý nghĩa như một “tuyên ngôn mềm” về siêu đô thị. Bằng sự hiện diện bình dị, những “tiểu không gian” đã cho biết đô thị vẫn còn chỗ cho con người hòa vào thiên nhiên, giữa tốc độ ngày càng nhanh vẫn có nơi để chậm lại, thay đổi tâm trạng tích cực hơn, mang lại sự cân bằng cho tinh thần. “Tuyên ngôn mềm bằng sự hiện diện, những “giọt nước” đã đặt ra và đòi hỏi một tiêu chuẩn quan trọng cho sự phát triển của đô thị: không chỉ là lớn hơn, nhanh hơn, hiện đại hơn mà còn là phải nhân văn hơn.

Một đô thị nhân văn trong thời đại ngày nay rất cần có hạ tầng hiện đại, đồng thời cũng phải những con người giàu có về trải nghiệm sống. Điều đó chỉ có được nếu đô thị tạo ra được những không gian để con người nghỉ ngơi, tương tác và cảm nhận, giữa người với người, giữa con người với thiên nhiên. Đô thị nhân văn không phải là sự đối lập với đô thị hiện đại, mà là cân bằng giữa sự phát triển vật chất với sự giàu có của tinh thần. Đó là sự phát triển không chỉ nhằm tối đa hóa công năng mà còn để bảo vệ những nhu cầu rất cơ bản của con người: được nghỉ ngơi mà không bị thúc ép bởi thời gian, được hiện diện mà không bị sự bao vây của tiêu dùng, được gặp gỡ mà không cần phải có hiệu quả về kinh tế. Những điều tưởng như đơn giản ấy lại chính là nền tảng của đời sống đô thị bền vững.

Đô thị nhân văn còn là vấn đề công bằng không gian đô thị. Ai cũng có quyền tiếp cận những khoảng nghỉ, không phân biệt tuổi tác, thu nhập hay mục đích. Khi một thành phố chỉ còn lại những không gian phải trả tiền, phải có “đẳng cấp” mới được hiện diện thì nó đã loại trừ một phần lớn cư dân của mình ra khỏi trải nghiệm đô thị. Ngược lại, những không gian công cộng mở dù rất nhỏ chính là nơi mà mọi người có thể cùng hiện diện không phân biệt giàu nghèo, góp phần giảm bớt bất bình đẳng xã hội

Trong bối cảnh hiên tại và tương lai, những không gian như “công viên giọt nước” ở Lý Thái Tổ ý nghĩa vượt ra ngoài kích thước vật lý của nó, là biểu hiện một khả năng đặc biệt của đô thị: khả năng mềm hóa chính mình bằng những can thiệp nhỏ, tinh tế, đúng chỗ. Một hàng cây, một băng ghế, một khoảng bóng mát nếu được đặt đúng vào dòng chảy của đời sống thì có thể tạo ra những tác động tích cực lâu dài, vì chúng mang lại cho con người cảm giác mình được chấp nhận, được nghỉ ngơi, và được là một phần của thành phố theo cách rất riêng.

Một giọt nước nhỏ nhoi nhưng góp phần làm nên đại dương. Một khoảng lặng giản dị sẽ làm nên sức sống mới của thành phố. Người ta có thể đi rất nhanh qua một siêu đô thị nhưng để ở lại gắn bó, để nhớ và để thương thì cần những nơi cho phép mình được sống chậm, được là chính mình ngoài những nghĩa vụ và trách nhiệm. Đôi khi chỉ cần một “giọt nước” giữa ngày nắng gắt cũng đủ để ta nhớ rằng, thành phố này vẫn còn là nơi để sống hết mình chứ không chỉ là nơi để ta tồn tại.

 

TP. Hồ Chí Minh 20/3/2026. Nguyễn Thị Hậu 

Báo Sài Gòn giải phóng số 30/4/2026





ĐẬP BÚA VÀO TAY (vài #truyen100chu )

 Bạn đã có lần nào đau điếng người vì đập búa vào chính tay mình chưa?

Bạn ở trong bếp, ông xã ngoài phòng khách đóng cái gì đấy cộp cộp. Bỗng nghe tiếng con khóc, rồi thằng bé chạy vào ôm lấy bạn. Bạn âu yếm hỏi (hệt như ông bụt hỏi cô Tấm), làm sao con khóc? Thằng nhỏ trả lời, bố bị búa đập vào tay. Ồ, vậy à. Bố bị đau nhưng không khóc. Con trai thì phải dũng cảm như bố chứ? Huhu, thằng bé nức nở, tại lúc bố đập búa vào tay con buồn cười quá… À, thế thì chính là con trai bị “búa đập” chứ không phải là bố!
***
Hồi yêu nhau. Có lần gọt trái cây cho nàng, anh bị đứt tay chút xíu. Nàng mặt mày tái mét, ôm cả cánh tay anh hốt hoảng đòi đưa đi… bác sĩ! Lấy nhau rồi. Một lần thấy tấm hình cưới sắp bị rớt, anh mang búa đinh ra sửa. Loay hoay sợ đụng bể kiếng, búa đập vào tay. Máu tóe ra. Anh xuýt xoa nhờ nàng lấy giùm bông băng, nàng bực bội rời mắt khỏi màn hình TV đang sướt mướt phim Hàn quốc: Sao anh vụng thế! Chồng với chả con! Vết đứt tay ngày xưa giờ anh mới thấy thấm đau!
***
Nhà không có đàn ông, tất tật mọi việc bạn đều (phải) tự làm lấy. Từ việc lớn như kiếm tiền, xây nhà, sửa nhà… cho đến việc nhỏ như chăm con, cơm nước chợ búa, việc vặt như đóng đinh treo tấm lịch hay móc đoạn dây phơi, bạn đều thành thạo.Vậy mà đã có lần bạn gọi cho tôi, giọng nức nở, tôi hốt hoảng hỏi có chuyện gì… bạn nghẹn ngào không nói được. Một lúc sau nghe tiếng con bạn trả lời “mẹ con bị búa đập vào tay”, tôi lặng người. Ừ, lỡ bị búa đập vào tay thì chắc là rất đau, nhưng đau đến mức phải gọi và khóc với một ai đó thì nỗi đau không phải chỉ ở cái tay bị thương…
***
Có cậu bé kia tính khí nóng nảy rất hay làm tổn thương người khác. Bố cậu bắt buộc: mỗi lần phạm lỗi con hãy tự đóng một cây đinh vào hàng rào ngoài kia để nhìn thấy mà răn mình. Nhiều lần sau đó dù đã biết lỗi nhưng cậu vẫn không bình tĩnh nên thường đập búa vào tay đau điếng. Chính vì bị đau như vậy nên dần dần cậu từ bỏ được tính khí nóng nảy, nhưng hàng rào nhà cậu thì trở nên xấu xí vô cùng vì bị những chiếc đinh đóng vào nham nhở.



Xây trên ký ức chưa kịp khai mở: TP.HCM đang bỏ lỡ “mỏ vàng” di sản dưới lòng đất?

 Mỗi công trình mới ở trung tâm TP.HCM có thể đang đặt lên những lớp trầm tích lịch sử chưa từng được nhận diện. Khi không có khảo cổ học đô thị đi trước, thành phố không chỉ mất đi bằng chứng vật chất của quá khứ mà còn đánh rơi cơ hội hình thành một nền kinh tế di sản đúng nghĩa.

Khoảng trống khảo cổ ở trung tâm TP.HCM

Có những thành phố lớn lên bằng bê tông, kính và thép, rất nhanh, rất hoành tráng, nhưng chỉ lướt qua trong trí nhớ mỗi người. Có những thành phố lớn lên bằng ký ức, chậm hơn và bền vững trong tâm thức nhiều thế hệ. Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) trong quá trình hiện đại hoá, đáng tiếc, nhiều khi đang chọn cách thứ nhất. Mỗi công trình mới mọc lên ở trung tâm thành phố đều có thể đang đặt trên một lớp trầm tích lịch sử chưa được biết đến. Khi đó, không chỉ xây thêm một tòa nhà mà đồng thời còn xóa đi một phần ký ức chưa kịp khai mở của thành phố.

Gần đây, thông tin về việc xây dựng lại Nhà Văn hóa Thanh niên trên trục đường Lê Duẩn đã một lần nữa đặt ra một vấn đề không chỉ là quy hoạch hay kiến trúc, mà sâu xa hơn là cách thành phố này đối diện với quá khứ của chính mình. Bởi ngay bên dưới toàn bộ không gian của đường Lê Duẩn có thể vẫn còn những dấu tích của Thành Gia Định – hạt nhân đầu tiên của đô thị Sài Gòn. Nếu không thăm dò, khai quật khảo cổ và nghiên cứu, thì những dấu tích còn lại sẽ vĩnh viễn biến mất dưới móng của một công trình hiện đại.

Trong gần hai thế kỷ qua có thể kể đến vài trường hợp hiếm hoi đã ghi nhận bằng chứng lịch sử tại khu vực thuộc Thành Gia Định xưa. Cuối thế kỷ 19 người Pháp xây dựng Thảo cầm viên, Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Thành phố và một số công trình khác, đã ghi nhận việc tìm thấy dưới lòng đất những chiếc rìu đá, mộ vò của thời tiền sử, nhưng không nhắc gì đến dấu tích kiến trúc của Thành Gia Định (thành Quy thời Gia Long) và thành Phụng thời Minh Mạng bị quân đội Pháp trực tiếp phá huỷ.

Trải qua suốt thế kỷ 20 khu vực này thay đổi rất nhiều. Thập niên 1990 khi xây dựng toà nhà 33 tầng tại đường Tôn Đức Thắng, hay việc xây dựng Thư viện sách nói trong khuôn viên Thư viện khoa học Tổng hợp, và gần đây khi trùng tu công trình Toà án Nhân dân Thành phố… cán bộ khảo cổ đều tìm thấy hiện vật của nhiều thời đại lịch sử, nhiều nhất là những đồ gốm thời Nguyễn, thậm chí cả dấu tích xây dựng chân móng thành Gia Định như đá ong, san hô, cát sạn sỏi… Ngay trong khuôn viên số nhà 108 Nguyễn Du – phía sau Dinh Độc Lập - cũng từng phát hiện mộ cổ thời Nguyễn.

Đó là bằng chứng vô cùng ít ỏi, tìm thấy trong quá trình xây dựng công trình mà chưa phải do khảo sát và khai quật khảo cổ học đúng nghĩa. Mặt khác chỉ tìm thấy những hiện vật rời rạc mà không phải dấu tích của một công trình quy mô lớn vào bậc nhất hồi cuối thế kỷ 18. Như vậy từ nửa sau thế kỷ 19 khi người Pháp quy hoạch và xây dựng đô thị Sài Gòn, đến hai thập niên đầu của thế kỷ 21 khu vực này đã xây dựng nhiều công trình mới, nhưng không ai biết trong lòng đất nơi này lưu giữ những gì và còn lại những gì sau bao biến đổi?

Nhiều năm qua hầu hết các công trình được xây dựng tại khu vực trung tâm thành phố đều không qua công tác khảo sát khảo cổ học, chắc chắn nhiều dấu tích và di vật quý giá đã bị phá hủy. Những gì đã không còn chính là những bằng chứng vật chất của lịch sử, đó là thứ không thể tái tạo. Một thành phố không thiếu tương lai vì luôn xây dựng những công trình hiện đại, nhưng có nguy cơ không còn quá khứ bởi những dấu tích lịch sử đang mỗi ngày biến mất ngay dưới chân mình!

Dừng lại để bảo tồn và bài học từ Hoàng thành Thăng Long

Nhìn ra Hà Nội, câu chuyện Hoàng thành Thăng Long cho thấy một lựa chọn khác. Khi những dấu tích đầu tiên được phát lộ tại khu 18 Hoàng Diệu, từ đề xuất của Hội Khoa học lịch sử VN, việc thi công đã quyết định dừng lại cho công tác khai quật khảo cổ học. Dừng để tìm hiểu những gì đang nằm dưới lòng đất. Dừng để bảo tồn. Và dừng lại để Hà Nội không tự cắt đứt mà tiếp nối ký ức 1000 năm Thăng Long.

Từ quyết định đó, một chuỗi giá trị mới được hình thành. Hoàng thành Thăng Long được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới. Không gian khai quật quan trọng nhất được bảo tồn và phát triển thành Bảo tàng Hoàng thành Thăng Long, nơi chúng ta có thể trực tiếp trải nghiệm các lớp lịch sử chồng xếp qua thời gian. Những khu vực khác sau khi hoàn thành khai quật tiếp tục xây dựng các công trình mới như Toà nhà Quốc Hội. Hiện nay đây là khu di tích khảo cổ nổi tiếng và thu hút rất nhiều du khách đến tham quan di tích và bảo tàng, tham dự những hoạt động văn hoá thường xuyên được tổ chức ở đây. Quá khứ hiện hữu ngay cạnh hiện tại và là cảm hứng của tương lai.

Công tác khai quật khảo cổ học khu vực Hoàng thành Thăng Long vẫn được tiếp tục và mở rộng, làm cơ sở cho dự án phục dựng Điện Kính Thiên sắp tới, tiếp tục tái hiện không gian trung tâm của kinh đô Thăng Long xưa. Từ đó, di sản không chỉ được bảo tồn mà còn trở thành nguồn lực cho giáo dục, du lịch và kinh tế văn hóa. Nhận thức quan trọng nhất là tất cả những giá trị đó không có sẵn. Nó bắt đầu từ một hành động tưởng chừng đơn giản nhưng không dễ thực hiện: dừng lại trước khi xây, nghĩ về quá khứ trước khi nói đến tương lai!

Bài học từ Hoàng thành Thăng Long cho thấy, khảo cổ học đô thị không làm chậm sự phát triển hiện đại. Ngược lại, nó mở ra một hướng phát triển bền vững hơn, giàu bản sắc hơn, có khả năng tạo ra giá trị lâu dài hơn. Khảo cổ học góp phần giữ lại và trao truyền cho thế hệ sau những giá trị văn hoá mà cha ông đã tích luỹ qua hàng ngàn năm, được chuyển hoá và nâng cao hơn giá trị qua kinh tế di sản.

Thành phố không chỉ để xây, mà còn để nhớ

Quay lại với TP.HCM, từ nhiều năm nay thực trạng công tác bảo tồn di sản đã phản ánh một vấn đề của thời đại: phát triển có mâu thuẫn với bảo tồn hay không? Không ai phủ nhận nhu cầu về những công trình mới, những không gian hiện đại cho một thành phố năng động. Nhưng cũng thành phố ấy có quá khứ của mình, 300 năm đô thị vẫn xứng đáng để được trân trọng tìm hiểu và bảo vệ. Vậy nên vấn đề của thời đại cần được đặt ra ở đây là: Bảo tồn là phương thức đặc thù của phát triển bền vững!

Nếu phát triển đồng nghĩa với việc quên hết những dấu tích nằm dưới lòng đất và xoá hết những gì “cũ kỹ” trên mặt đất thì đó là một kiểu phát triển “siêu bão, sóng thần” chỉ có thể tạo nên một thành phố “mất trí nhớ”. Ngược lại, nếu biết dừng lại một bước để nghiên cứu khảo cổ, để ghi nhận và tích hợp di sản vào không gian đô thị của thời hiện tại và tương lại, thì đó là một cách phát triển có chiều sâu, không loại trừ quá khứ, chăm chút cái cây từ gốc rễ, gốc rễ nuôi cành lá sum suê… Thế hệ nào cũng được thừa hưởng tài sản của ông bà và “nhân lên” nhiều lần số tài sản ấy.

Vì vậy, câu chuyện công trình Nhà Văn hóa Thanh niên không chỉ là một dự án xây dựng, mà là một cơ hội hiếm hoi để thực thi Luật Di sản văn hóa mới nhất có hiệu lực từ 1.7.2025, cụ thể là thực hiện khảo sát và khai quật khảo cổ học trước khi xây dựng công trình nằm trong “vùng lõi di sản đô thị”. Đây là công trình của nhà nước đầu tư, xây dựng một công trình cho thanh niên thành phố nên càng thuận lợi hơn! Có thể coi đây là trường hợp tiêu biểu để thành phố thực hiện quy trình đi từ khảo cổ đến bảo tồn, từ bảo tồn đến diễn giải, từ diễn giải đến du lịch và kinh tế di sản. Không có bảo tồn di tích và trưng bày bảo tàng thì không có gì để kể. Khi không có câu chuyện thì không thể có một nền kinh tế di sản đúng nghĩa. Đừng để thành phố chỉ có những công trình mới, giống nhau như được nhân bản, nhưng nhanh chóng cũ đi vì những cái mới hơn lại được nhân bản… Cứ thế, không có gì trở thành ký ức đô thị.

Sâu xa hơn, vấn đề không nằm ở việc thành phố có hiện đại hay không mà ở cách thành phố lựa chọn đứng ở đâu trong mối quan hệ với quá khứ của mình. Dưới những bước chân vội vã của một thành phố đang lớn lên từng ngày, có thể vẫn còn những lớp ký ức nằm im chưa kịp gọi tên mà chỉ một quyết định xây dựng cũng đủ làm chúng biến mất vĩnh viễn. Một thành phố trưởng thành không đứng trên quá khứ để vùi lấp nó, càng không đào lên rồi vội vàng xóa đi, mà biết dừng lại, khai mở những gì nằm dưới lòng đất, tiếp nối chúng vào đời sống hôm nay như một phần của chính mình.

Sài Gòn – TP.HCM luôn được coi là “thành phố trẻ 300 năm”, nếu không giữ lại dấu tích lịch sử thì không bao giờ là một thành phố ngàn năm tuổi, mãi chỉ là 300 năm trên mặt chữ! Nhưng nếu biết giữ, biết kể, biết làm cho quá khứ “hiện hình” thì chính những lớp đất, những viên gạch, những mảnh gốm… sẽ kéo dài hơn chiều sâu lịch sử của đô thị.

Một thành phố hiện đại là thành phố biết lúc nào cần xây cao và lúc nào cần dừng lại, biết cúi xuống và lắng nghe “thành phố thì thầm” ngay dưới chân mình. Một thành phố có thể xây rất nhanh rất rộng nhưng không thể làm lại quá khứ nếu đã đánh mất nó. Vì thế, mỗi quyết định hôm nay không chỉ là cách chúng ta đối xử với lịch sử của chính mình, mà còn là quyết định định hình tương lai!

TP.HCM 14.4.2026.

https://nguoidothi.net.vn/tp-hcm-dang-bo-lo-mo-vang-di-san-duoi-long-dat-52386.html?fbclid=IwY2xjawRMX0xleHRuA2FlbQIxMQBzcnRjBmFwcF9pZBAyMjIwMzkxNzg4MjAwODkyAAEeQRf99vhepfOMHIG6Axylpb17-i8hGjD634IDcLLbmZfStaT46zzIys7iP98_aem_Xk9aCxIxhvtqz2qetxKCcQ



Thập niên 1990 khi xây dựng toà nhà 33 tầng tại đường Tôn Đức Thắng, hay việc xây dựng Thư viện sách nói trong khuôn viên Thư viện khoa học Tổng hợp, và gần đây khi trùng tu công trình Toà án Nhân dân Thành phố… cán bộ khảo cổ đều tìm thấy hiện vật của nhiều thời đại lịch sử... Ảnh: Minh Hòa

CHIA TAY BẠN :(

 Mình và TS Nguyễn thị Hoa Xinh – nguyên Giám đốc bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh TPHCM có mối quan hệ thân thiết từ rất lâu rồi.

Ngày ấy khi còn ở trường ĐHTH TPHCM, Hoa Xinh học sau mình 3 năm, nhưng đều là học sinh từ HN về, con cái gia đình tập kết nên mấy chị em nhanh chóng quen biết rồi thân thiết với nhau. Khi ra trường mình ở lại trường, mấy năm sau, khi tốt nghiệp Hoa Xinh về công tác tại Bảo tàng lịch sử TP. Đến 1994 mình chuyển qua BT công tác, chung phòng Nghiên cứu sưu tầm với Hoa Xinh và một số anh chị em khác.

Từ đó hai chị em như hình với bóng, cả hai đều cao cao gầy gầy, đều nói tiếng bắc, đều có cùng kiểu tóc và kiểu ăn mặc, tuy Hoa Xinh lúc nào cũng chỉnh chu còn mình thì bụi đời hơn. Hồi đó khó khăn nên cả hai đều đi làm thêm ngoài giờ: ngày chủ nhật, ngày lễ thì bán vé tham quan bảo tàng, rồi khi bảo tàng tổ chức dịch vụ đám tiệc thì mình ở tổ bếp còn Hoa Xinh ở tổ phục vụ. Có nhiều ngày từ sáng sớm đến khuya là làm cùng với nhau. Thỉnh thoảng bảo tàng tổ chức đi chơi, du lịch thì Hoa Xinh và mình cùng đưa con đi. Hai mẹ say xe vật vã còn ba chị em Châu Quyên, Mai Quyên và Quỳnh Vân thì khoẻ re, tự chơi với nhau.

Mình “quân khảo cổ” nên tính tình nhiều lúc như nam giới, Hoa Xinh lúc nào cũng dịu dàng, học và nghiên cứu về Phật giáo. Vậy nhưng tụi mình đều hay tếu táo hài hước, nhất là khi chỉ có mấy anh em phòng Sưu tầm với nhau mói thấy cái “nghịch ngầm” của Hoa Xinh. Đồng nghiệp nam trong ngành hay gọi đùa chúng mình là Hoa Hậu Hoa Xinh, nhiều người rất quý mến Hoa Xinh. Bọn mình chơi với nhau thân thiết vì cùng công việc nhưng còn vì thấu hiểu hoàn cảnh của nhau, cũng giống tính nhau là không tò mò, tôn trọng chuyện riêng tư. Tuy nhiên lúc khó khăn thì đều cùng nhau chia sẻ. Hai chị em cố gắng vừa làm vừa học và cùng bảo vệ luận án PTS lịch sử tại Viện KHXH vùng Nam bộ năm 1997, LA mình làm chuyên ngành KCH còn Hoa Xinh là chuyên ngành Dân tộc học.

Đến năm 1998 Bảo tàng lịch sử TP có nhiều biến động do sự sắp xếp lại nhân sự các bảo tàng ở TP. Mình “được” ở lại BTLS nhưng Hoa Xình và mấy anh em khác nhận nhiệm vụ ở các BT khác. Cái “được ở lại” cũng mở ra một thời kỳ thực sự khó khăn tại BTLS của mình, không phải vì công việc mà vì mối quan hệ làm việc quá nhiều áp lực! Đó cũng là thời kỳ khó khăn của tất cả mấy anh em, mỗi người có trở ngại khác nhau, điều đó cũng làm hai chị em có phần xa cách… Tuy tụi mình không làm việc chung nhưng vẫn cùng khối bảo tàng nên vẫn gặp gỡ trong nhiều công việc. Rồi mình chuyển qua Viện NCPT nên thỉnh thoảng mới gặp Hoa Xinh trong các dịp lễ ở BTLS. Nhóm anh chị em cũ gặp lại vẫn thân thiết như ngày nào, dù mỗi người mỗi việc mỗi hoàn cảnh khác nhau…

Khi nghe tin Hoa Xinh bệnh mình đến thăm, chỉ nhắc lại chuyện vui để Hoa Xinh cười. Mình cũng cười mà lòng rưng rưng vì linh cảm sẽ phải xa bạn một ngày không xa…

Hôm nay chia tay Hoa Xinh, như chia tay một khoảng thời gian đẹp nhất trong thời gian làm việc. Mong em ra đi thanh thản, bình yên. Đời người sống với nhau quan trọng là đến khi chia tay, ta vẫn giữ được những điều tốt đẹp về nhau!

Tạm biệt em nhé, Hoa Xinh

❤
14.4.2026


TRÀ VÀ CÀ PHÊ KẾT NỐI GIA ĐÌNH

 GIẢI NHÌ CUỘC THI :)
https://nld.com.vn/bao-nguoi-lao-dong-trao-giai-cuoc-thi-viet-ve-ca-phe-tra-viet-2026-196260405124535869.htm

Trong gia đình tôi, nếu nhìn vào thói quen uống nước thôi cũng có thể thấy cả một dòng thời gian lặng lẽ trôi qua.

Thời ông bà tôi trong nhà chỉ bình trà nóng, để uống, để tiếp khách hay trò chuyện với nhau. Đến thời cha mẹ tôi thỉnh thoảng có phin cà phê thơm lừng vào sáng chủ nhật. Nhưng ấm trà luôn là biểu tượng của gia đình, như lối sống của ông bà, cha mẹ: ít lời, nhẫn nại, bền bỉ...

Thế hệ tôi đã quen với cà phê. Mỗi ngày thường bắt đầu bằng ly cà phê buổi sáng ở quán vỉa hè với bạn bè, đồng nghiệp, và một bình trà đá dường như không bao giờ cạn. Từ thói quen uống trà trong nhà thay đổi ra ngoài phố uống cà phê cho biết cuộc sống thành phố đã khác xưa.

Các con tôi thì gần như chỉ uống cà phê. Với chúng quán cà phê là không gian làm việc, gặp gỡ bạn bè hay họp hành online. Cà phê của giới trẻ bây giờ - cà trà nữa - nhiều lựa chọn, đa dạng hơn, đôi khi khó phân biệt Đông – Tây qua thức uống, phản ánh một thế giới phức tạp và ngày càng phẳng.

Có thể nghĩ rằng các thế hệ đang dần xa nhau: từ trà sang cà phê, từ chậm sang nhanh, từ ấm trà nóng trong gia đình đến quán cà phê mát lạnh trên phố. Nhưng vì biết chấp nhận sự thay đổi của cuộc sống nên chúng tôi không làm mất đi sự gắn kết của gia đình. Các thế hệ gần gũi hơn khi ngồi lại bên nhau, người nhâm nhi chén trà như nhắc lại quá khứ, người uống ly cà phê pha máy như hướng đến tương lai. Cả hai điều đều cần thiết vì “chúng ta là một gia đình”.

Và ở đâu đó giữa vị chát của trà và vị đắng của cà phê vẫn có một điểm chung: cả hai đều mang lại vị “ngọt hậu” của truyền thống gia đình. Chính vì vậy trong nhà tôi, mỗi sáng trước khi các con pha một bình cà phê mang đi làm thì luôn đặt những ly trà nóng trên bàn thờ để cúng ông bà, cha mẹ.

Mời các bạn vào link đọc để tăng lượng đọc cho bài nhé :)

https://nld.com.vn/tra-ca-phe-ket-noi-gia-dinh-196260330130631171.htm



 

NHỮNG NGƯỜI XÂY NHÀ ĐỂ LẠI KÝ ỨC ĐÔ THỊ

 Nguyễn Thị Hậu

1.

Người Sài Gòn xưa hay kể về một nhân vật với cái tên đời thường là chú Hỏa. Không phải ai cũng nhớ rõ tiểu sử nhưng nhiều người biết ngôi nhà lớn giữa trung tâm thành phố - nay là Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh - từng là của gia đình ông, Hui Bon Hoa. Ngôi nhà không được xây để “lưu giữ quá khứ”, nó được xây cho một hiện tại rất cụ thể: để ở, để tiếp khách, để khẳng định một vị thế giữa đô thị Sài Gòn hồi đầu thế kỷ 20.

Ở khu đất số 1 đường Lý Thái Tổ cũng có một cụm bảy căn biệt thự của chú Hỏa, tạo thành cả một “quần thể sống” giữa không gian đô thị, nơi tiếp nối đời sống của một gia tộc nổi tiếng. Những căn biệt thự ấy nếu nhìn bằng con mắt hôm nay có thể chỉ là bất động sản có giá trị “kim cương”. Nhưng nếu nhìn từ lịch sử đô thị ta có thể nhận ra một điều: một cá nhân không chỉ xây nhà, mà có thể còn định hình một không gian của thành phố.

Khu đất có 7 biệt thự kể trên hay toà nhà như Bảo tàng Mỹ Thuật, khi được tổ chức như vậy thì đã vượt khỏi giá trị vật chất là tài sản riêng của một cá nhân. Nó bắt đầu có giá trị di sản bởi mang cấu trúc đặc trưng của đô thị: tạo nên dấu ấn kiến trúc của một con đường, một khu vực, định hình cách cư trú của một tầng lớp thị dân, và quan trọng hơn, nó âm thầm ảnh hưởng đến ký ức của những người nhìn ngắm nó hay chỉ đi ngang qua nó, suốt nhiều thế hệ.

Có thể nhận thấy một điều, phần lớn những người để lại dấu ấn cho đô thị thường không phải là những người “thực hành bảo tồn”. Họ là những người làm ăn, buôn bán, tích lũy và rồi xây dựng nhà cửa, dãy phố, chợ, bệnh viện, trường học, cả đình chùa hay nhà thờ nữa… như một phần của công việc kinh doanh và đời sống. Đô thị Sài Gòn – Chợ Lớn từng có một lớp người như vậy: ông Hui Bon Hoa, ông Quách Đàm, ông Huyện Sỹ... Người Hoa với những dãy nhà phố nối nhau, vừa ở vừa buôn bán, người Việt những căn nhà vườn rồi chuyển dần thành phố thị, người Pháp với biệt thự và công sở. Mỗi nhóm người, mỗi lựa chọn xây dựng dù mục đích là gì cũng đã góp phần phát triển đô thị.

 Trải qua thời gian họ để lại những công trình mang dấu ấn đô thị. Đó chính là thứ mà sau này chúng ta gọi là di sản. Bởi vì di sản có được không chỉ bắt đầu từ ý định giữ lại cái cũ mà phải bắt đầu từ việc làm cho cái hiện tại trở nên tốt đẹp, đủ hữu dụng và có thể tồn tại lâu dài, hơn cả một đời người. Cứ nhìn những công trình di sản mà xem, dù là công sở, công trình công cộng hay nhà ở tư nhân thì đều được xây bằng vật liệu tốt và kỹ thuật cao cấp ở thời đại ấy, kiến trúc công trình và toàn bộ nội thất được chăm chút ở mức tối đa về chức năng, mỹ thuật trang trí mang tính tiêu biểu cho một trường phái, một xu hướng của thời đại. Một không gian được tính toán để có thể sử dụng lâu dài, linh hoạt, gần như không phải cơi nới cải tạo dù qua nhiều đời người. Và đặc biệt các công trình ấy đều cho biết nó thuộc về nơi nào, không lẫn với bất cứ đâu!

Tất cả điều đó tạo nên sự hoàn hảo của công trình trong một không - thời gian nhất định. Từ yếu tố kỹ thuật, sự hoàn hảo luôn là sự hợp lý. Chính vì vậy mà các công trình tồn tại lâu dài, từ đó những giá trị lịch sử, giá trị văn hoá, giá trị sử dụng thực tiễn có điều kiện tích luỹ ngày càng dày thêm!

2.

Đi giữa thành phố hôm nay đôi khi ta có cảm giác, nhiều công trình rất hiện đại rất tốn kém nhưng không giúp con người có thể hình dung chúng sẽ tồn tại trong ký ức của thành phố như thế nào sau vài chục năm nữa? Chúng được xây dựng vội vã để khai thác nhanh, tối ưu “lợi nhuận” trong một vòng đời ngắn ngủi, có thể để đáp ứng nhu cầu của một tầng lớp thị dân luôn muốn phô trương sự giàu có nhanh chóng. Điều đó có vẻ như là một “quy luật” của “hiện đại hoá”! Nhưng một đô thị nếu chỉ có những công trình được xây dựng không dựa trên giá trị cốt lõi mà chỉ nhằm đáp ứng lợi ích nhất thời thì sẽ không thể tạo ra chiều sâu lịch sử của đô thị. Thành phố lớn lên chỉ như một cái bong bóng khổng lồ, màu mè phô trương, lơ lửng đâu đó ngoài sự ghi nhớ của con người. Thành phố đó là một nơi không có gì tạo ra ký ức.

Vì sao một đô thị “hiện đại” lại tạo ra cảm giác đó? Câu trả lời không chỉ ở bối cảnh xã hội mà còn ở các cá nhân. Trước hết, những công trình xưa được xây với giả định tồn tại qua nhiều thế hệ. Ngày nay, quan hệ đất đai làm cho vòng đời của công trình thường chỉ tính bằng vài chục năm nên không có đầu tư cho sự lâu dài. Từ đó logic kinh tế đã thay đổi, công trình được tính toán để tối ưu lợi nhuận trong thời gian ngắn chứ không phải để tích lũy giá trị qua thời gian. Vì vậy cái “đẹp bền vững” thường thua cái “hiệu quả ngay”. Những người như chú Hỏa, ông Quách Đàm, ông Huyện Sỹ và gia tộc của họ đã sống, làm ăn và gắn bó cả đời với chính nơi họ xây dựng. Ngày nay, nhiều công trình được đầu tư bởi những chủ thể không thực sự “sống ở đó” mà họ chỉ đến và đầu tư, khai thác. Đó chính là sự đứt gãy giữa cá nhân và không gian sống.  Khi không có sự gắn bó và trải nghiệm thì rất khó để lại ký ức.

Và cuối cùng, đó là sự thiếu vắng một tầm nhìn văn hóa. Xây một công trình có thể chỉ cần tiền. Nhưng để một công trình có khả năng trở thành ký ức phải có thêm những thứ khác: cảm nhận về cái đẹp, ý thức về sự bền vững, sự hiểu biết về lịch sử và trách nhiệm với thành phố. Xây dựng là chuyện của hiện tại. Nhưng di sản chỉ xuất hiện khi trong cách xây dựng ấy đã có sẵn một ý thức về sự nối tiếp quá khứ và tương lai.

3.

Những người thuộc lớp “đại gia” của Sài Gòn xưa, có lẽ điều làm người ta nhớ đến họ không chỉ vì sự giàu có mà vì cuộc sống của họ thực sự phản ánh đời sống thành phố. Họ xây nhà cho mình nhưng ngôi nhà ấy đã trở thành một phần của thành phố. Những ngôi chợ, nhà thờ, trường học, bệnh viên… mà họ để lại đều là những công trình hiện diện lâu dài, mang lại lợi ích trong đời sống chung nên mới có cơ hội trở thành ký ức trong cộng đồng. Vậy nhưng cho đến nay ở thành phố chúng ta hầu như chưa có một sự ghi nhận đáng kể nào đối với chủ nhân những công trình ấy!

Có thể là một gian trưng bày trong Bảo tàng thành phố, nhà lưu niệm hay một công viên nhỏ, một con đường kế bên công trình được mang tên họ... Bình dị thôi nhưng là sự ghi nhận những đóng góp của các thế hệ thị dân thành phố. Bởi vì đô thị Sài Gòn  không chỉ được hình thành từ các bản quy hoạch tổng thể của chính quyền, mà còn được “hồn vía” nhờ những quyết định mang tính chất cá nhân, như chủ nhân của các công trình nay đã trở thành di sản.

Trong quá trình phát triển của thành phố, nếu có điều gì đáng lo thì không phải là thành phố thiếu những công trình mới và hoành tráng, mà là thiếu vắng những công trình có khả năng “ở lại với thời gian” bằng tâm thức của cộng đồng. Nói một cách khác, thành phố chỉ thực sự “phát triển bền vững” khi có các công trình bền vững và những ký ức bền vững. Và như vậy, liệu chúng ta có đang khuyến khích xây cái “ở lại” không, hay chỉ khuyến khích những cái chỉ là “quay vòng nhanh”?

TP. Hồ Chí Minh ngày 23.3.2026







 

TỪ MỘT “GIỌT NƯỚC” ĐẾN “ĐÔ THỊ NHÂN VĂN

    Ở thành phố, trên những con đường quen thuộc ta qua mỗi ngày thường có vài cảnh quan, công trình mà ta hầu như quên mất sự tồn tại c...