Hậu Khảo cổ
Đi và tìm trong đất... thấy người :)
GIỮ HỒN QUÊ HƯƠNG TRONG NHỮNG ĐƯỜNG BIÊN MỚI
LÊN ĐƯỜNG ĐỂ ĐẾN TÂM AN
Mùa xuân cũng là mùa lễ hội. Phong tục
tổ chức lễ hội vào thời gian “nông nhàn”
khiến cho trong Nam ngoài Bắc khắp đình, chùa, đền, miếu... tấp nập người đi lễ.
Ngày xưa lễ hội những ngày này, dù vào “tháng
Giêng ăn chơi” nhưng không nặng tính thực dụng mà chủ yếu để giải trí, du xuân
gặp gỡ mọi người và thăm viếng nơi danh lam thắng cảnh. Những lời khấn cầu đầu
năm ngoài sự mong muốn những điều may mắn tốt lành còn nhằm bày tỏ lòng thành tâm thiện với
Thần, Phật.
Trải qua mấy chục năm chiến tranh, ở miền Bắc nhiều phong tục tập quán liên
quan đến tín ngưỡng, tôn giáo bị xóa bỏ vì coi là “mê tín dị đoan”. Nhưng sau
chiến tranh, nhất là từ khi “đổi mới” về kinh tế, trong xã hội “làm giàu” trở
thành mục tiêu của nhiều người thì nhiều tục lệ đã phục hồi và ngày càng phát
triển theo hướng thực dụng.
Điều đáng nói là việc cầu xin tài lộc chức tước lan tràn mọi lúc mọi nơi, đến
mức không thể kiểm soát! Bây giờ vào ngày lễ tết đền chùa nào cũng mù mịt khói
nhang tràn ngập đồ lễ vàng mã tiền lẻ rải
như rác...
Người ta cho rằng lễ càng “hoành tráng” thì thần, phật
càng chứng giám phù hộ, cơ may như những hợp đồng làm ăn béo bở, chức tước danh
vị sẽ vào tay mình, tránh được những rủi ro thậm chí nếu vi phạm luật pháp sẽ
không bị phát hiện và được bao che khỏi sự trừng trị của cơ quan chức năng...
Từ đó đã nảy sinh hiện tượng “buôn thần bán thánh”, “mua chuộc thần phật”,
“kinh doanh tâm linh”... Phục vụ cho nhu cầu này nên chùa chiền được trùng tu,
xây mới tràn lan, ngày càng hoành tráng, truyền thông rầm rộ về những ngôi chùa
xác lập một “kỷ lục” nào đó về quy mô kiến
trúc trang trí, sự có mặt của các vị quan chức thăm viếng cúng dường, tổ chức lễ hội cấp quốc gia... Chùa càng to càng “giàu có” thì càng đông “tín đồ”, tiếng
đồn “linh nghiệm” càng nhiều. Người ta ồ ạt theo những tour “du lịch tâm
linh” vội vã chạy từ chùa này sang chùa khác
cho đủ mấy “kiểng chùa” mà không có nơi nào đủ thời gian mà lắng lòng thanh tịnh.
Trong khi đó ở đâu cũng có
chùa làng. Những ngôi chùa đơn sơ giản dị, gần gũi với dân cư trong vùng, nhiều
chùa nuôi trẻ mồ côi người già cơ nhỡ... nhưng ít người thăm viếng, thỉnh thoảng
có người “từ thiện” đến giúp đỡ chút đỉnh. “Phật tại tâm” sao còn phân biệt
chùa giàu chùa nghèo, phân biệt chùa lớn chùa nhỏ? Sự phân hóa “đẳng cấp” một
cách sâu sắc không chỉ có ngoài xã hội mà đã hiện diện trong các ngôi chùa phản
ánh nhu cầu tâm linh đã bị tâm lý “thực dụng” lấn át. Xưa trong truyện cổ tích
khi khó khăn người ta thường cầu xin ông Bụt giúp đỡ, nay lại coi Phật như ông
Bụt vạn năng có thể giúp cô Tấm trở thành hoàng hậu hay giúp anh nông dân có
cây tre trăm đốt để trả thù phú ông nên người ta lên chùa cầu xin không thiếu
thứ gì... Và phải chăng vì quan niệm “Bụt chùa nhà không thiêng” nên hay phải
đi cầu Phật chùa xa cho “linh”?
Nhiều người đã biết rằng, đi lễ chùa đầu năm hay vào ngày rằm, mùng
một hàng tháng là để tỏ lòng thành kính với Đức Phật, con người đến với Phật không phải để cầu xin
ban phát lợi lộc vật chất cho mình mà tìm đến giáo lý Phật Giáo để giác ngộ, xuất
phát từ bản thân làm việc thiện “tu nhân tích đức”... Trong xã hội ai cũng hướng
thiện và làm việc đức thì ngày càng có nhiều điều tốt đẹp cho tất cả mọi người,
trong đó có mỗi người. Đó là tâm thức cần có khi đến với các tôn giáo trong đó
có Phật giáo.
Mùa lễ hội nào cũng kết thúc, mọi người lại trở về với công việc và sinh hoạt thường
ngày. Nhưng điều quan trọng là sau mỗi lần lên chùa vào đền thành
kính khấn vái, chúng ta có hành xử tử tế, làm ăn lương thiện và chăm chỉ hơn không, bởi vì nói cho cùng, lười biếng thì không Thần nào cứu giúp, ác tâm thì không
Phật nào độ trì... Có tâm có đức thì mới có
linh. Vô tâm thất đức thì dù có cầu cúng đến đâu cũng không
thể mang lại sự bình an trong tâm hồn. Tâm bất an là nguyên nhân mọi sự bất ổn
của cá nhân và xã hội.
Nguyễn Thị Hậu
NHỊ HÒA – NƠI HIỆN HỮU KÝ ỨC LÀNG QUÊ NAM BỘ
Khi làng không “trình diễn” mà kể chuyện
Đó là một ngôi làng nhỏ ngay bên đường quốc lộ, thời
chiến tranh là vùng thường xảy ra chiến sự. Hòa bình rồi nhưng nhiều năm trước
nơi này vẫn là vùng sâu vùng xa, xung quanh bốn bề sông nước. Con trẻ đi học có
khi quá giang ghe, xuồng qua lại, mà thường xuyên “chỉ có cuốn tập cột với cái
áo trên đầu, lội qua sông mà đi học”. Nay Nhị Hòa đã có một con đường bê tông
rộng rãi chạy cặp theo con sông, xuyên từ đầu đến cuối làng. Khách đến chơi có
thể đi đường bộ mà cũng có thể đi đường sông. Bên đường, những ngôi nhà nhỏ nằm
giữa vườn rộng rợp cây xanh, có những vườn xưa mương dừa đã cạn, những cây dừa
lão nghiêng ngả, lá dừa rơi dày trên lớp đất đen ngai ngái mùi bùn.
Làng du lịch vào ngày cuối tuần nhưng cũng không quá
đông. Chỉ có vài bảng hiệu giản dị nhưng vui mắt ở đầu làng, còn lại trong làng
cuộc sống vẫn như ngày thường. Những hoạt động du lịch ở từng nhà được chuẩn bị lỹ lưỡng nhưng không mang tính dàn dựng “trình diễn”, cả làng hiện ra trước hết bằng những thứ rất quen của miền Tây: vườn cây, hàng rào trồng bông bụt, bông giấy, vài cây
mái đã nở vàng, mái nhà thấp thoáng sau hàng cây, tiếng chào hỏi từ hiên nhà... Ở đó, các hoạt động du lịch không phải như người khách tham quan, mà như người
thân quen đang ghé lại trò chuyện với chủ nhà, cùng tham gia vào sinh hoạt đời thường. Ở nhà này
thì cùng thưởng thức mấy loại bánh mứt làm vào dịp tết, nhà kia là các loại
trái cây, nhà nữa thì xem anh chủ dùng lá dừa đan thành mấy con vật ngộ
nghĩnh... Du khách cứ thoải mái ghé chơi, thử ăn các món dân dã, và thích thì
mua chút quà quê màng về thành phố.
Cũng như nhiều làng du lịch cộng đồng, khách đến tham
quan không phải là đến một điểm tham quan cụ thể, mà là để được đắm mình vào cảm giác hòa mình vào đời sống – như nó vẫn vậy. Ở Nhị Hòa đã không có sự tách biệt
rạch ròi giữa “không gian du lịch” và “không gian cư trú”, người “làm du lịch” và người làng đang làm vườn, nấu ăn, trò chuyện, sinh hoạt. Ở Nhị Hòa du khách là người
đến cùng chia sẻ nhịp sống ấy. Ở đây, du lịch cộng đồng
không được sân khấu hóa thành tiết mục chỉn chu mà tồn tại trong
những chi tiết nhỏ: ngôi nhà còn
nguyên bàn thờ với những bức hình của ông bà chắc cũng gần trăm năm trước; cách bày mâm cơm, cách tiếp khách, cách gọi nhau bằng những đại từ thân
mật, cách mở cửa nhà như một thói quen tự nhiên của làng quê Nam Bộ... Những điều ấy tưởng như bình thường,
nhưng chính là lớp trầm tích của ký ức văn hóa mà không nhiều người còn lưu giữ được.
Làng như một cảnh quan văn hóa sống
Tính chất cộng đồng ở Nhị Hòa được “bảo tồn” trong du
lịch ở điểm mấu chốt: người dân vẫn duy trì công việc làm ăn, sinh hoạt hàng
ngày, công việc du lịch nhưng chưa bị tách rời khỏi cuộc sống đời thường Nhưng nếu chỉ dừng ở khái niệm ấy thì chưa đủ để chạm đến cảm giác thật khi đứng trong không gian làng. Bởi
điều đáng nói hơn không phải là “mô hình du lịch” mà là việc một ngôi làng Nam Bộ đang tồn tại như một di sản sống, đang lưu giữ ký ức trong sinh
hoạt thường ngày. Chính
điều này ở Nhị Hòa đã mang lại cho nhiều người một cảm giác quen thuộc “như
được trở về quê nội quê ngoại vậy!”. Trong bối cảnh nhiều
điểm du lịch cộng đồng bị “sân khấu hóa”, Nhị Hòa may mắn chưa bị mất đi sự hồn nhiên chất phác của người dân miệt vườn Nam
bộ. Và chính sự hồn nhiên ấy làm nên giá trị học thuật đặc biệt, vì nó cho thấy một cộng đồng đang sống
với di sản của mình, chứ không chỉ trình diễn di sản cho người ngoài xem.
Nhị Hòa có thể được
xem là một cấu trúc điển hình của làng quê Nam Bộ miệt vườn. Ở đó, không gian
sinh thái, không gian xã hội và không gian văn hóa đan cài chặt chẽ. Vườn cây không chỉ là sinh kế, mà còn là ký ức canh tác. Sông và kênh rạch không chỉ là cảnh quan, mà là trục giao thông và ký ức sông
nước. Ngôi nhà không chỉ là nơi ở, mà là
không gian lưu giữ nếp sống gia đình nhiều thế hệ. Khi du khách bước đi giữa những lớp
không gian ấy, họ không chỉ “tham quan”, mà đang đi qua một hệ thống ký ức vật
chất và phi vật chất tích tụ qua thời gian. Đó là dạng di sản không dễ nhận
diện bằng tiêu chí di tích, nhưng lại có giá trị bền vững hơn — bởi nó gắn với
đời sống.
Nhị Hòa cho thấy một cách tiếp cận đáng chú ý: bảo
tồn không bằng cách “đóng băng” làng, mà bằng cách tạo sinh kế từ/gắn với chính
đời sống văn hóa của cộng đồng. Khi mỗi hộ dân trở thành một mắt xích trong
chuỗi trải nghiệm, du lịch không còn là hoạt động ngoại lai mà trở thành một
phần của cấu trúc kinh tế – xã hội làng. Đây là mô hình bảo tồn mềm (soft
conservation), tức là không xây dựng công trình du lịch quy mô lớn, không phá
vỡ cấu trúc làng hiện hữu đồng thời khai thác giá trị từ chính sinh hoạt bản
địa. Cách làm này phù hợp với nguyên lý bảo tồn di sản sống. Bởi vì di sản chỉ
có thể tồn tại bền vững khi cộng đồng còn sống với nó, chứ không phải khi nó bị
tách khỏi đời sống để trưng bày.
Ký ức làng quê trong thời đại chuyển đổi nông
thôn
Nam Bộ đang thay đổi
nhanh chóng do quá trình đô thị hóa lan rộng, nông nghiệp chuyển dịch, lao động trẻ rời làng lên thành phố, đến các khu công nghiệp. Trong bối cảnh ấy cấu trúc làng truyền thống đang bị biến dạng hoặc
mai một. Vì thế Nhị Hòa không chỉ là một
điểm du lịch mới mà còn là không gian đang giữ lại ký ức của một kiểu làng quê đang hiếm dần.
Ký ức ấy không nằm ở
những sự kiện lịch sử lớn, mà ở đời sống thường nhật: đó là ký ức về những bữa cơm gia đình, cuộc trò chuyện ở hiên nhà khi chiều xuống, về con đường làng rợp
bóng cây, về con sông
luôn có bóng dáng ghe xuồng qua lại, là ký ức về sự hiếu khách chân tình, rất Nam Bộ... Những yếu tố này được
gọi là di sản đời sống (everyday heritage), rất khó bảo tồn bằng biện pháp hành chính nhưng lại có thể được duy trì
thông qua từng người dân.
Nếu du lịch cộng đồng nếu được tổ chức đúng hướng thì loại di sản này càng có điều kiện lưu giữ lâu
dài.
Khi đặt Nhị Hòa trong mối liên hệ với
không gian đô thị Nam Bộ, đặc biệt là TP.HCM, ta sẽ thấy một đối sánh thú vị.
Trong đô thị, ký ức thường bị nén lại, thay thế nhanh bởi các lớp phát triển
mới. Những không gian cộng cư truyền thống, nhịp sống chậm, quan hệ láng giềng
thân mật dần bị suy giảm. Trong khi đó ở Nhị Hòa, ký ức làng quê vẫn được duy trì trong đời sống
hàng ngày. Đây là một hiện
tượng đang diễn ra trong “cấu trúc văn hóa vùng” ở Nam Bộ trong thời kỳ chuyển đổi. Theo nghĩa ấy, trường hợp Nhị Hòa không chỉ là một
làng du lịch mà còn thể hiện sự “đối trọng ký ức” của vùng đô thị hóa mạnh.
Trải nghiệm cá nhân
thường mang tính cảm xúc. Cảm giác bình yên, thân thuộc khi đến Nhị Hòa không chỉ là cảm xúc chủ
quan mà phản ánh sự hiện diện của một hệ sinh thái văn hóa còn nguyên vẹn. Tuy nhiên, cũng cần cảnh báo một cách tỉnh táo: bất kỳ mô hình du lịch cộng đồng nào
khi phát triển đều đối diện nguy cơ thương mại hóa ký ức. Khi lượng khách tăng,
đời sống có thể bị điều chỉnh để phù hợp với kỳ vọng du lịch, những gì tự nhiên có thể dần trở
thành “chuẩn hóa” để phục vụ thị trường. Do đó, vấn đề cần đặt ra không chỉ là “Nhị Hòa có hấp dẫn hay không?” mà quan trọng hơn, mô hình này sẽ giữ được tính xác thực văn hóa dài
hạn hay không?
Rời Nhị Hòa, điều
còn lại không phải là một danh sách điểm tham quan, mà là một cảm giác về nhịp
sống. Một ngôi làng không quá xa, nhưng đủ khác để khiến người đô thị nhận ra
mình đã quen với tốc độ nhanh đến mức nào. Đến Nhị Hòa, người ta nhận ra nơi ấy là một không gian còn giữ được “nhịp sống chậm” - thứ đang dần trở nên
hiếm trong xã hội đương đại. Ở Nhị Hòa mình được tạm dừng cuộc đua vất vả nơi phố thị mà nghỉ ngơi
theo nhịp võng thong thả bên hiên nhà.
Có lẽ, giá trị lớn
nhất của những làng du
lịch cộng đồng không nằm ở việc trở thành một điểm
đến nổi tiếng mà ở khả năng nhắc cho chúng ta nhớ rằng, di sản không chỉ là những gì cổ xưa và
tĩnh tại, mà còn là đời sống bình dị đang tiếp diễn mỗi ngày. Khi du lịch được
tổ chức như một sự chia sẻ thay vì khai thác thì làng quê không bị biến thành
sản phẩm, mà trở thành một không gian đối thoại giữa ký ức và hiện tại.
Đấy cũng là điều mà tôi muốn được chia sẻ với anh - người bạn quý mến, người luôn dành
hết tâm huyết cho sự
phát triển du lịch và văn hóa tại vùng quê xinh đẹp, hiền hòa và giàu tiềm năng của mình.
TC DU LỊCH TP.HCM
MÙA XUÂN SÀI GÒN RẤT GẦN VÀ BÌNH YÊN
Tản văn, Nguyễn thị Hậu
Một buổi sáng cuối năm tôi ngồi trong quán cà phê quen thuộc. Quán nhỏ
trong con hẻm vắng, không bày biện “Mừng giáng sinh” hay “Chúc mừng năm mới”, không nhạc xuân rộn ràng như nhiều
quán lớn mặt tiền đường phố, chỉ có mùi thơm cà phê, vài chiếc bàn gỗ đã sẫm màu theo năm
tháng. Nhưng tôi vẫn thấy mùa xuân đang đến, không phải ở cảnh sắc ngoài phố mà
trong cảm giác bâng khuâng của lòng người.
Sài Gòn có nhiều quán cà phê như thế, không nổi tiếng nhưng luôn là nơi
người ta tìm đến để ghi dấu một chuyến đi, ghi nhớ một câu chuyện, thương nhớ một con người. Chỉ là một con hẻm trên con đường có hai hàng cây sao cao vút, tán
không còn đều, rễ đội lên mặt vỉa hè những vết nhăn thời gian. Buổi sáng xe cộ
vẫn ồn ào qua lại, cả ngày cũng chẳng
khi nào vắng. Con hẻm nhỏ cũng như cả thành phố này, cuộc sống ở đây không phô
bày, nó sống động, bình thản và giản dị. Sống ở Sài Gòn đã 50 năm, tôi luôn nhận ra mùa
xuân ở Sài Gòn hiếm khi được nhận ra bằng thời tiết. Nó không đến bằng cái rét
cuối cùng hay những đợt nắng ấm đầu tiên. Xuân đến bằng tín hiệu rất mỏng: buổi sáng nào đó bước chân ra đường phố, bỗng một cảm giác bồi hồi là lạ rất khó gọi tên, như thành phố chợt chậm lại một nhịp thở sau một năm dài sôi động.
Vào buổi sáng như sáng nay, quán cà phê vẫn như mọi ngày nhưng đã nghe
mùa xuân ghé vào quán nhỏ, tạo nên một nhịp điệu rất riêng. Người ra vào không
vội, câu chuyện cũng không cần kết thúc. Mỗi người ngồi đó đều như đang tạm
dừng trong “khoảng giữa” năm cũ và năm mới, giữa điều đã qua và điều chưa kịp
tới. Tôi nhận ra, mùa xuân có lẽ đã “chạm” vào mỗi người chính ở khoảng giữa
ấy. Mỗi lần ngồi trong quán cà phê quen tôi đều nghĩ rằng, Sài Gòn chính là
những quán cà phê như thế này. Không cần trang trí theo mùa, không cố tái tạo vẻ cổ xưa cũng không
quá hào hứng với cái mới. Nó để mọi thứ cùng tồn tại một cách tự
nhiên. Bàn cũ đứng cạnh bàn mới, người
trẻ ngồi bên người già, khách mới trò chuyện cùng khách quen… Ký ức và hiện tại không tranh giành không gian, chỉ lặng lẽ đan xen vào
nhau, chồng xếp lên nhau. Sài Gòn đã được “giữ lại” bằng cách đó.
Vào khoảng thời gian giao mùa, năm cũ gần qua năm mới
đang đến, nhiều thành phố chào
đón bằng lễ hội, bằng bông hoa trang trí rực rỡ và những náo nhiệt thúc giục người ta đổ ra đường phố... Nhưng Sài Gòn luôn đón xuân bằng thói quen uống cà phê mỗi sáng, thói quen ghé quán quen trước khi bắt đầu một ngày mới, thói quen
ngồi yên vài phút giữa dòng chảy vội vã của đô thị. Mùa xuân ở Sài Gòn vì thế không
làm người ta quá nôn nao mà làm lòng người mềm lại. Sau một năm bươn chải, người ta cho phép mình chậm hơn một
nhịp, cho phép mình nhớ lại những việc đã qua, những điều chưa kịp làm, những
dự định từng được viết ra rồi gấp lại. Nhưng nghĩ đến những điều ấy lúc này
không thấy nặng nề. Ngồi quán cà phê lúc này, dễ tha thứ. Tha thứ cho những
chậm trễ, cho những thiếu sót, cho cả những giấc mơ chưa kịp gọi tên. Xuân làm người ta nhân ái hơn với
chính mình, với mọi người.
Tôi ngồi lắng nghe con phố dài xao xác lá ngoài kia, nhận ra, dù Sài Gòn đổi thay từng ngày nhưng có
những thứ rất khó mất, như cách người ta chào nhau bằng ánh mắt, bằng nụ cười, bằng lời nhắc nhau trên
đường, bằng câu xin lỗi, cám ơn. Tất cả điều đó
mang lại cảm giác rằng dù
thành phố có lớn đến đâu thì mỗi người vẫn có một chỗ để quay về. Đô thị nào
cũng phát triển, cũng phức tạp khó lường, nhưng không phải đô thị nào cũng như Sài Gòn, giữ được những khoảng dừng cho từng con người khi thành công và cả khi thất bại. Những quán cà phê quen thuộc chính là một khoảng dừng như thế. Ở
đó, người ta không cần phải trở thành ai khác, không cần phải nhanh
hơn, giỏi hơn hay mới hơn. Chỉ cần ngồi xuống, gọi một ly cà phê, và để thành
phố đi ngang qua chính mình.
Mỗi năm, mùa xuân ghé lại những quán nhỏ ở thành phố này, khẽ khàng, dịu
dàng. Không báo trước
không gõ cửa, chỉ ngồi xuống cạnh bạn giữa tiếng thìa chạm vào ly và tiếng xe
ngoài đường phố. Chỉ chạm nhẹ vào bạn bằng hơi gió dịu mát để nhắc rằng một năm nữa sắp bắt đầu. Mùa
xuân không đòi hỏi bạn phải đổi mới, nó chỉ cần bạn đủ mở lòng. Và thế là ta chợt thấy lòng nhẹ đi một chút. Chỉ một chút
thôi, đủ để tin rằng năm
mới luôn đáng để chúng ta bước tiếp.
Trên những con đường khắp Sài Gòn vẫn luôn sống
động, vội vã mà vẫn ung dung. Người giao hàng dừng xe trước tiệm tạp hoá đầu
hẻm. Một bà cụ bán vé số ngồi nép dưới tán cây. Quán hủ tiếu bên đường đang
đông khách… Thành phố không đợi Tết để nhộn nhịp, cũng không thúc giục người ta
bước sang năm mới. Nó cứ đi, đều đặn và bền bỉ, như cách nó đã đi suốt hàng
trăm năm qua, dung chứa đủ mọi nhịp sống, đủ mọi phận người.
Khi ly cà phê cạn dần, tôi đứng lên và bước ra đường. Thành phố vẫn thế, không khác buổi sáng hôm qua, không khác
những buổi sáng đã qua, nhưng lòng người thì đã nhẹ hơn một chút. Mùa xuân đến
mang lại cho người Sài Gòn cảm giác chờ đợi những cuộc đoàn tụ, gặp gỡ và kết
nối... Sài Gòn vào xuân
không ồn ào, không hứa hẹn mà là sự bình an để người ta tin rằng, mình có thể bước tiếp chậm rãi nhưng
vững vàng, trong một năm mới đang chờ phía trước.
Ở Sài Gòn, đôi
khi ta chỉ cần một khoảnh
khắc giao hòa giữa
hương thơm ly cà
phê, hơi gió chướng rất nhẹ và ý nghĩ phiêu lãng rất riêng. Ấy là mùa xuân đã đến trong lòng mình
trước khi hiện diện trên thành phố. Đó là một đặc ân mà Sài Gòn luôn
rộng rãi mang đến cho mỗi người.
Sài Gòn 5.1.2026
For the day after Valentine's day
(1)
Họ thường xuyên liên lạc với
nhau nên nó có thói quen khi xem đồng hồ luôn cộng
thêm 1, vì đó là giờ nơi anh ở. Những số giờ cộng 1 làm cho thời
gian trôi nhanh hơn, họ như gần nhau hơn.
Một ngày khi xem đồng hồ nó chợt nhớ ra bây giời thời gian nhanh chậm không còn ý nghĩa gì nữa, dù anh vẫn ở nơi đấy thôi. Bây giờ 12 giờ chỉ là 12 giờ.
(2)
Nhiều năm sau cô trở lại Paris. Ở cầu tình yêu cô không sao tìm thấy ổ khóa của anh và cô ngày trước. Có lẽ nó đã bị lấy đi để nhường chỗ cho khóa của những cặp tình nhân khắp thế giới đến đây mỗi ngày.
Cô lại khóa vào cây cầu một chiếc khóa mới, chìa khóa không vứt xuống sông Seine mà cẩn thận lồng sợi giây và đeo vào cổ. Đây là khóa cô dành cho Paris, thành phố của mối tình đã qua…
(3)
Bây giờ cái gì cũng cần mật khẩu: thẻ tín dụng, máy tính, điện thoại, tài khoản ngân hàng, email, mạng xã hội... Dùng nhiều thì mật khẩu thuộc lòng. Ít dùng sẽ quên mật khẩu, có khi phải phải đổi mật khẩu để bảo mật.
Một ngày cô đột ngột ra đi. Nhìn căn nhà trống vắng anh chợt nhận ra từ lâu mình đã quên “mật khẩu” đăng nhập vào trái tim cô.
Đơn giản chỉ là “anh yêu em”.
(4)
Rất lâu rồi vợ chồng hình như chẳng còn nói lời ngọt ngào với nhau. Một ngày kia theo trò chơi của bạn bè, cô lấy điện thoại nhắn cho chồng “Em yêu anh!”. Nhớ lại "mật khẩu" ngày xưa của hai người cô bỗng bồi hồi...
Chồng trả lời ngay “Làm sao thế, điên à? Hay nhắn nhầm cho thằng nào?!”
Cô giật mình, tưởng vừa đăng nhập sai tài khoản.
(5)
Cửa hàng bán những chiếc bình đẹp bằng pha lê và thủy tinh. Bình thủy tinh bán chạy hơn vì nhìn cũng giống pha lê, nhưng giá rẻ, vỡ cũng không tiếc.
Ít người mua bình pha lê, nhưng đã mua thì giữ gìn cẩn thận, không chỉ vì đắt tiền mà vì hiểu giá trị hoàn mỹ của bình pha lê như một tác phẩm nghệ thuật.
Tình yêu như pha lê còn những gì giống như tình yêu chỉ là thủy tinh.
#truyen100chu for the day after Valentine's day 🙂
GIỮ HỒN QUÊ HƯƠNG TRONG NHỮNG ĐƯỜNG BIÊN MỚI
*Quê hương không bao giờ là “quê cũ” Khi thông tin sáp nhập các tỉnh, thành được công bố, nhiều người nhận ra những tên đất, tên làng, những...
-
Người Việt có một số thành ngữ và sự tích liên quan đến cá trê, như truyện Trê Cóc chẳng hạn. Câu chuyện không chỉ là việc Trê tranh giàn...
-
Một người bạn fb bất ngờ ra đi. Post bài thơ rất hay của bạn. Tôi biết Cao Hải Hà qua mạng Yahoo blog và sau là FB. Vài lần gặp Hà ở chỗ ...
-
Khi mới làm quen với FB Lặng lẽ nước Nga, tôi đã mạo muội đề nghị được xem lại bộ phim “Con đường đau khổ” – phim truyền hình 13 tập dựa t...

