LỚP SINH VIÊN ĐẠI HỌC TỔNG HỢP NĂM ẤY

 

Buổi họp mặt của chúng tôi - lớp Sử khóa 1976–1980 của trường Đại học tổng hợp TPHCM - diễn ra trong một phòng học tại ngôi trường cũ. Không nhiều thủ tục nhưng trang trọng và ấm áp, buổi họp mắt tập hợp những người đã có mặt nửa thế kỷ ở thành phố này. Có người mái tóc đã “muối nhiêu hơn tiêu”, có người đi lại khó khăn. Những gương mặt trẻ năm nào giờ in hằn dấu vết thời gian, gặp lại nhau vẫn ồn ào, vui vẻ, thậm chí tinh nghịch như thời chúng tôi mới bước vào giảng đường đại học.

Năm 1976, đất nước vừa thống nhất, từ nhiều tỉnh thành chúng tôi thi vào Khoa Sử trường Đại học Văn khoa, sau này trở thành Đại học Tổng hợp TP.HCM và nay là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM. Hơn 150 sinh viên của lớp Sử khóa ấy có người từ miền Bắc mới vào Nam lần đầu. Có người từ miền Trung đi tàu mấy ngày mới tới. Rất nhiều anh vừa rời quân ngũ, nguyên bộ quần áo lính bước vào giảng đường với tuổi đời lớn hơn bạn học vài năm và những ký ức chiến tranh chưa kịp nguôi ngoai.

Thời đó thành phố này có nhiều điều rất khác bây giờ. Những con đường chưa chật kín xe hơi xe máy như bây giờ, đường Tôn Đức Thắng còn những hàng cây cổ thụ rợp bóng mát. Ngôi trường chỉ có một toà nhà 3 tầng xây từ thời Pháp và 2 dãy nhà thấp. Sinh viên sống ở ký túc xá hay ở cùng gia đình cũng đều khó khăn chật vật. Ngày học hai buổi thì mang theo cơm đựng trong lon guy gô, có khi buổi trưa chỉ có ổ bánh mì chia nhau. Những khi các thầy cô từ Đại học tổng hợp Hà Nội vào giảng dạy, sinh viên cả mấy khoá ngồi học chật kín giảng đường lớn, chăm chú nghe không biết đã chuông hết giờ. Người học sử ngày ấy không nghĩ nhiều đến lợi ích nghề nghiệp hay danh vị, chúng tôi học với niềm tin giản dị rằng đất nước vừa thống nhất cần tri thức để dựng xây tương lai.

Thời gian trôi đi nhanh, chớp mắt đã 50 năm. Sau khi tốt nghiệp phần lớn sinh viên lớp tôi nhận công tác ở các tỉnh thành trong cả nước, nhiều người trở về quê hương, một phần ở lại TP.HCM. Họ đã lập gia đình ở đây, sinh con đẻ cái, làm việc rồi nghỉ hưu, và thành phố này từ nơi xa lạ đã thành quê hương thứ hai. Có người trở thành nhà giáo, nhà nghiên cứu, cán bộ văn hóa, nhà báo, cán bộ quản lý… Có người lặng lẽ làm một công việc bình thường nhưng nuôi con thành đạt, sống tử tế và tận tụy như chính cách thế hệ chúng tôi từng được giáo dục. Điều xúc động nhất trong buổi họp mặt không phải là những lời phát biểu trang trọng, mà là những câu chuyện nhỏ về tình bạn, việc học hành, sinh hoạt lớp được kể lại. Nửa thế kỷ đủ dài để một khoá sinh viên với bao buồn vui, hạnh phúc và cả những mất mát… trở thành một phần ký ức của thành phố.

Trong những câu chuyện về TP.HCM hôm nay thấp thoáng nỗi băn khoăn về sự “hiện đại hoá” nhanh chóng. Là những người đã chứng kiến thành phố lớn lên từng ngày: từ thời bao cấp thiếu thốn sang thời mở cửa sôi động, từ những khu nhà cấp 4 thành khu đô thị nhà cao tầng và biệt thự, từ một đô thị sông nước còn mang nhiều dấu vết Sài Gòn xưa sang một siêu đô thị đang phát triển hạ tầng với tốc độ chóng mặt… Chúng tôi vui mừng khi thấy thành phố năng động hơn, đời sống khá hơn, nhiều cơ hội mở ra cho các thế hệ trẻ. Nhưng bên cạnh đó còn một cảm giác tiếc nuối. Có người nói rằng thành phố bây giờ giàu sang hơn, hiện đại hơn nhưng cảnh quan quen thuộc dần biến mất, cuộc sống vội vã quá nên con người không kịp tạo ra ký ức. Trong cuộc đua phát triển, thành phố đã không kịp giữ lại nhiều chứng tích lịch sử - văn hoá của chính mình.

Điều mất mát ấy khiến những người học sử cảm nhận rõ hơn ai hết. Bởi vì, thế hệ sinh viên chúng tôi được các thầy cô truyền lại rằng, học lịch sử không chỉ để nhớ lại quá khứ, mà còn để hiểu rằng một thành phố, một đất nước nếu chỉ phát triển bằng tốc độ kinh tế thì sẽ có lúc đánh mất chiều sâu văn hoá của nó. Một đô thị lớn không chỉ cần những tòa nhà bê tông hay công trình hoành tráng, mà còn cần ký ức, bản sắc và sự gắn bó của con người với nơi họ sống.

Trong buổi họp mặt, có người nói vui rằng lớp Sử năm xưa giờ ai cũng trở thành “nhân chứng lịch sử”, nghĩ kỹ thì đúng thật. Chúng tôi đã sống xuyên qua những biến động lớn nhất của đất nước hiện đại: chiến tranh, hòa bình, thời bao cấp, đổi mới, đô thị hóa và hội nhập. Mỗi người là một mảnh ghép ký ức của thời đại. Có lẽ vì vậy mà ở tuổi trên dưới bảy mươi, điều chúng tôi quan tâm hơn là một thành phố đáng sống không chỉ là nơi có tăng trưởng kinh tế cao, mà còn là nơi con người cảm thấy bình an, là nơi ký ức của mọi người đều được trân trọng.

TP.HCM hôm nay rộng lớn và hiện đại hơn rất nhiều so với năm 1976. Nhìn kỹ vào hành trình của nó sau ngày thống nhất, sẽ thấy trong đó có dấu chân của biết bao người nhập cư như lớp Sử khóa ấy. Họ đến từ nhiều miền quê khác nhau, mang theo giọng nói, lối sống khác nhau, rồi cùng góp phần tạo nên diện mạo của thành phố này bằng lao động, tri thức và cả sự gắn bó bền bỉ của đời sống thường ngày. Có lẽ đó cũng là một đặc điểm rất riêng của Sài Gòn – TP.HCM: thành phố luôn mở lòng với những người đến đây để sống và cống hiến. Và rồi chính những con người ấy, sau nhiều năm đã xem nơi này như quê hương thật sự của mình.





https://nld.com.vn/cuoc-thi-toi-yeu-thanh-pho-cua-toi-lop-sinh-vien-dai-hoc-tong-hop-nam-ay-196260512161226544.htm


50 NĂM ĐÃ QUA, NGÀY BẮT ĐẦU LÀ SINH VIÊN :)

 HỌP MẶT KỶ NIỆM 50 NĂM  LỚP SỬ ĐẠI HỌC TỔNG HỢP KHÓA 1976 - 1980

Mình học Đại học Văn khoa khóa 2 (1976) (sau là Đại học tổng hợp và nay là ĐHKHXHNV. TPHCM), ngành Lịch sử. Đấy là nguyện vọng của mình khi đăng ký thi Đại học. Tuy nhiên điểm thi ĐH môn văn của mình khá cao (9đ) trong khi môn Sử chỉ 6đ (còn Địa thì 5đ, hic! Chắc vì văn là đề tài “viết thư” nên đúng sở trường viết thoải mái, còn sử, địa là đề “thuộc lòng” mà mình thì lười nên...) nên nhà trường phân vào Khoa Văn.

Vào trường, học được hơn 1 tháng chỉ 1 môn Văn học cổ đại, vừa lao động trồng cây (hàng ngọc lan ở trường nay vẫn còn), dọn vệ sinh, bán báo SGGP... Mình thấy (và nghĩ) học Văn phải trở thành nhà văn, nhà thơ, mà mình thì không có năng khiếu. Với lại, có mấy bạn học khoa Văn hồi ấy thường tự hào “vào Văn khoa là phải học Văn!”. Thế là mình xin về học khoa Sử, vì chả việc gì “phải học Văn” .

Năm nay chỉ có gần 50 bạn/ 150 về dự họp lớp, thế là đã thành công rồi. hai ngày gặp mặt rất vui :)

Bạn đọc của mình có ai học cùng khóa, cùng lớp với mình không nhỉ :)































HAI DÒNG SÔNG, MỘT HƯỚNG NHÌN

 https://nguoidothi.net.vn/hai-dong-song-mot-huong-nhin-52518.html

Nguyễn Thị Hậu

1.

Tháng Tư, mùa nắng nóng cao điểm ở Nam bộ. Chúng tôi lên đường đến thượng nguồn một dòng sông nổi tiếng. Đó là dòng sông mà rất nhiều người thuộc những bài ca tha thiết gọi tên “Vàm Cỏ Đông ơi Vàm Cỏ Đông...”.

Chiếc ghe chở chúng tôi ngược lên thượng nguồn sông Vàm Cỏ Đông vào một buổi sáng nắng gay gắt nhưng hơi nước theo gió phả lên mát rượi. Dòng sông ở đây không rộng, nước trôi chậm, ven bờ những đám lục bình ken dày, thi thoảng một cụm bông súng tím đỏ khiêm nhường hiện ra làm cả khúc sông sáng lên rực rỡ. Dưới ánh nắng mặt nước gần như phẳng gợn lên những vệt sáng lung linh. Không có gì đặc biệt cho đến khi chúng tôi biết rằng đoạn sông này có đường phân thủy chia đôi dòng sông, một nửa thuộc Việt Nam, nửa kia thuộc Campuchia. Một đường biên vô hình! Giống như nhiều dòng sông tôi đã qua, không có dấu hiệu nào trên mặt nước cho thấy sự phân chia. Tôi đã cố nhìn để thấy ranh giới ấy nhưng càng nhìn lâu nó càng tan lẫn. Không có dòng chảy nào đổi hướng. Không có màu nước nào khác biệt. Chỉ có một dòng sông đang chảy như từ trước đến nay và từ nay về sau, nó không biết mình bị chia đôi để thuộc về hai bên bờ. Cảm giác đang đi giữa một ranh giới trên sông thật lạ lùng, nó khiến tôi nhận ra là trên thực tế có nơi “đường biên” chỉ được nhìn thấy trên bản đồ.

Tôi cố gắng phân biệt bằng cách nhìn lên đôi bờ sông. Quả thật, “trên đất” sẽ nhìn thấy vài điều khác biệt. Bờ sông phía Việt Nam phần lớn là dốc đứng, mát mẻ vì rừng rậm sát mé sông, còn phía nước bạn bờ thoai thoải nhưng cây cối ít hơn, để lộ những khoảng rừng thưa cây thấp nắng chói chang. Tôi chợt nhận ra, nhiều lần đi trên những dòng sông nước mình, hầu như tôi không để ý xem trên cùng một khúc sông thì hai bên bờ có gì khác biệt? Và các dòng sông của đất nước ta có gì khác nhau, ngoài những điều quen thuộc ta thường nghe, như sông nước là nối liền, là giao thương, là nguồn sống...

2.

Tây Ninh không chỉ có sông Vàm Cỏ Đông anh hùng trong chiến tranh, Tây Ninh còn có sông Sài Gòn gắn liền với Hồ thủy lợi Dầu Tiếng lớn nhất được xây dựng trong hòa bình. Trên địa bàn Tây Ninh hai dòng sông này tạo thành hai kiểu liên kết khác nhau: Vàm Cỏ Đông là dòng sông của sự tích tụ. Nó mang theo phù sa, nước và nhịp sống chậm rãi của những cánh rừng, của xóm làng trù phú, như một lớp “trầm tích” sinh thái. Ngược lại, Sài Gòn là dòng sông của kết nối bởi sông sâu, rộng, gắn với giao thông và thương mại của cả vùng, sau này kết nối với  đô thị Sài Gòn và hướng ra biển.

Hai dòng sông này như “động mạch” của một cơ thể cường tráng tuy có thể không nhìn thấy rõ vai trò của nó trên ranh giới hành chính. Nằm giữa hai hệ thống này Tây Ninh như một vùng phát sinh và trung chuyển. Ở đó, dòng nước bắt đầu tìm hướng tạo nên cấu trúc không gian, đời sống con người bắt đầu gắn với nhịp xuôi của dòng chảy. Càng xuôi xuống phía biển hai dòng sông này không chỉ mang theo nước mà còn mang theo những sản phẩm của những tiểu vùng sinh thái mà chúng đi qua cho đến những lớp văn hoá khó nhận diện hơn. TP.Hồ Chí Minh – “cái phễu” khổng lồ sẽ làm phần việc của mình: tiếp nhận, phân phối và khuếch tán những lớp trầm tích sinh thái và văn hóa được chuyển về. Vì vậy, mối quan hệ giữa Tây Ninh và TP. Hồ Chí Minh không đơn thuần là “liền kề địa lý”. Đó là một mối quan hệ giữa nguồn/ tích tụ và tiếp nhận/phát triển, được vận hành bởi hai dòng sông quan trọng trong vùng.

Đó là hướng của cả hai dòng chảy Vàm Cỏ Đông và Sài Gòn.  Nếu ở sông Vàm Cỏ Đông dòng chảy làm mờ đi biên giới quốc gia. Một đường kẻ tưởng như rất chắc chắn trên bản đồ, khi đặt vào trong nước lại trở nên mong manh đến mức không thể nắm giữ. Nó tồn tại, nhưng không thể nhìn thấy. Nó được công nhận, nhưng không thể chạm vào. Thì ở sông Sài Gòn dòng chảy lại làm mờ đi một loại ranh giới khác: ranh giới giữa quá khứ và hiện tại. Những bến nước xưa, những chợ ven sông, những chuyến ghe xuôi ngược đã từng là nhịp sống chính của những đô thị ven sông, giờ đây không còn hiện diện rõ ràng. Nhưng chúng không biến mất mà chỉ lắng xuống, trở thành một phần của ký ức đô thị, ẩn trong cách các ngôi đình, chùa, đền miếu cổ xưa vẫn quay mặt về phía sông, con người hiện đại lại mở những không gian công cộng dọc theo bờ nước, như một thói quen không cần gọi tên.

Có lẽ, điều làm nên ý nghĩa của một dòng sông không nằm ở hình dạng hay chiều dài của nó, mà ở cách con người sống cùng với nó qua thời gian. Nhận ra sự liên kết này không chỉ để “biết thêm”, mà để tránh một thiếu sót lớn trong định hướng phát triển: phát triển một nơi mà không hiểu nó đang nằm trong “dòng chảy” nào của tự nhiên và văn hoá. Vai trò kết nối của hai con sông cũng là vai trò quan trọng của Tây Ninh trong vùng Đông Nam bộ.

3.

Có một cách nói quen thuộc: Tây Ninh là một tỉnh biên giới, có núi Bà Đen linh thiêng nổi tiếng và đang phát triển du lịch. Nhưng nếu dừng ở đó ta sẽ chỉ nhìn thấy Tây Ninh như một không gian riêng biệt tuy có sự độc đáo, và vô tình đã bỏ lỡ những điều quan trọng khác.

Núi Bà Đen giữ một vị trí chiến lược đối với toàn vùng Đông Nam bộ, rộng hơn là Nam Đông Dương. Ngọn núi này cao 986m là một khối hoa cương đồ sộ nhất trong vùng. Không chỉ là nơi để khai thác du lịch tâm linh hay nghỉ dưỡng bởi cảnh quan, khí hậu đặc biệt của nó, núi Bà Đen là một vị trí quan sát địa lý hiếm có của toàn khu vực. Đứng tại đó nếu đủ kiên nhẫn nhìn theo hai con sông đang xuôi dòng ta thấy một điều rất rõ, địa hình bằng phẳng và thấp dần về phía Nam, vào một ngày đẹp trời ta còn có thể nhìn thấy biển! Trên ngọn núi này tầm nhìn xa từ Tây Ninh qua Bình Dương về TP. Hồ Chí Minh và xa hơn nữa là vịnh Cần Giờ, nơi đất liền tiến ra biển bằng vành đai rừng ngập mặn qua hàng ngàn năm bền bỉ.

Đây là một hình ảnh đẹp phản ánh một trục không gian điển hình: từ núi (cao) xuống đồng bằng (tích tụ) và tiến ra biển (mở ra). Trong trục này Tây Ninh giữ vai trò điểm cao tương đối vì đó là nơi bắt đầu các dòng chảy. Sài Gòn  - TP. Hồ Chí Minh là vùng thấp hội tụ các dòng chảy, biến đổi và phát triển để qua vịnh Cần Giờ ra thế giới rộng hơn. Trong lịch sử vùng đất phía Nam, những ngọn núi có vị thế kết nối với sông với biển và những đô thị cổ như vậy, cấu trúc tự nhiên và xã hội đã “quy định” cho nó một trọng trách là ngọn “Núi Thiêng” của cả khu vực!

Nhưng điều đáng nói là hiện nay Núi Bà Đen đang phát triển như một khu du lịch với các công trình tâm linh xây dựng ngay trên đỉnh Núi Thiêng. Việc khai thác cảnh quan tự nhiên để phát triển cảnh quan nhân tạo ở đây làm mờ nhạt lớp văn hóa dân gian đã được tích tụ qua hàng trăm năm để tạo nên danh xưng “Bà Đen” của ngọn núi. Đấy là sự “phát triển” mà bỏ qua vị thế đặc biệt của một nơi có thể cho ta tầm nhìn xa hơn để biết cấu trúc vùng, hiểu tính liên kết thống nhất của tự nhiên và văn hóa. Những tuyến cáp treo có thể đưa con người lên đỉnh núi nhanh hơn nhưng không đảm bảo cho Tây Ninh phát triển bền vững. Bởi vì khi tính liên kết bị “bỏ quên” thì Tây Ninh khó xác định vai trò kinh tế và vị thế văn hoá của mình trong toàn vùng.

4.

Tây Ninh hôm nay đang phát triển nhanh, đặc biệt là du lịch. Điều đó là cần thiết. Nhưng nếu phát triển mà không đặt mình trong hai mối liên hệ cơ bản: theo trục hai dòng sông và theo vị thế của Núi Bà Đen, thì Tây Ninh rất dễ rơi vào một tình trạng bất lợi, đó là phát triển nhanh nhưng mất phương hướng không gian, mất chiều sâu lịch sử. Biểu hiện đã bắt đầu xuất hiện, đó là những trải nghiệm du lịch được rút ngắn, những yếu tố mới lấn át dần văn hoá truyền thống, những “không gian tâm linh” trở nên giống nhau, mất đi tính riêng và tính thiêng. Đây không phải là sự mất mát đột ngột mà là một quá trình “làm mờ, xóa bỏ” bản sắc đã được thấy trước!

Điều Tây Ninh cần không phải là nhiều dự án hơn mà là một cách nhìn khác. Thay vì phát triển như một không gian độc lập, cần nhìn bản thân như nguồn sinh thái của một hệ thống sông, vùng giữ chiều sâu văn hoá cho một đô thị lớn, mắt xích trong một hành lang kinh tế xuyên biên giới. Tây Ninh không đứng một mình mà nằm giữa hai dòng sông, nhìn về một “siêu đô thị - biển”. Nếu thấu hiểu điều đó thì sự phát triển của Tây Ninh không còn là câu chuyện đi nhanh hay chậm, mà là đi thế nào cho đúng với lợi thế đã được hình thành từ hàng ngàn năm trước.

 Tây Ninh - TP. Hồ Chí Minh tháng 4.2026

 Núi Bà Đen (Tây Ninh) được nhìn thấy từ trung tâm TP.HCM. Ảnh: Minh Hòa


 

 

 

 

 

 

 


HÒA HỢP CHO TƯƠNG LAI

 https://nld.com.vn/hoa-hop-cho-tuong-lai-196260429201158224.htm

1.

“Có những đường biên đã được xóa khỏi bản đồ từ rất lâu, nhưng phải mất nhiều thập niên con người mới học cách xóa chúng ngay trong lòng mình.” Đó là một thực tế sau chiến tranh của nhiều quốc gia. Những cũng từ thực tế ấy Việt Nam đã có bài học hữu ích. Sau năm mươi mốt năm hoà bình thống nhất đất nước, trong một không gian không còn bị chia cắt về lãnh thổ, Việt Nam bắt đầu một hành trình dài hơn, khó khăn hơn, đó là hàn gắn những “vết thương chiến tranh” không chỉ trên mặt đất, trên da thịt con người, mà còn là sự khác biệt trong ký ức cá nhân, trong lịch sử gia đình, trong trải nghiệm chiến tranh ở mỗi vùng miền, và trong cách mỗi người Việt nhìn về nhau, “định danh” nhau.

Nếu chấm dứt chiến tranh là một sự kiện, thì thống nhất và hòa hợp là một tiến trình xã hội, âm thầm nhưng bền bỉ, kéo dài qua nhiều thế hệ. Sau nửa thế kỷ tiến trình ấy không chỉ là câu chuyện nhìn về quá khứ mà đang trở thành một phần quan trọng trong định hướng phát triển quốc gia. Những năm sau 1975, Việt Nam đối diện với một thực tế phức tạp hơn nhiều so với các khẩu hiệu mang tính bao quát: một dân tộc thống nhất về lãnh thổ nhưng ký ức và hậu quả chiến tranh còn quá nặng nề, đã tạo nên những khoảng cách âm thầm nhưng dai dẳng không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn tồn tại trong từng gia đình, từng thế hệ. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều người Việt Nam không chọn cách phủ nhận hay “làm phẳng” những khác biệt đó, mà từng bước thấu hiểu và nhìn nhận một cách khoan hoà hơn. Có thể nói đó là quá trình tự hòa giải về nhận thức và tâm lý.

Từ phía nhà nước, một dấu mốc quan trọng là Nghị quyết 36-NQ/TW (năm 2004) về Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Nghị quyết đã khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là nguồn lực quan trọng của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đồng thời nhấn mạnh xóa bỏ định kiến, gắn kết kiều bào với quê hương, khuyến khích cống hiến, và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người Việt xa xứ. Đây không chỉ là một chính sách đối ngoại mà là đổi mới tư duy, phản ánh cách nhìn nhân văn, phù hợp với thực tiễn hội nhập quốc tế. Từ phân tách sang bao dung, từ khoảng cách sang kết nối, khái niệm “kiều bào” dần được mở rộng thành một cách hiểu mới: người Việt toàn cầu. Một bước tiến về tư duy quốc gia mang lại những chính sách mới.

2.

Từ mục tiêu chính sách của Đảng và nhà nước là xóa bỏ định kiến, tăng cường đoàn kết, gắn kết cộng đồng người Việt ở nước ngoài với quê hương. Từ những giải pháp cụ thể để hỗ trợ và điều kiện thuận lợi để kiều bào về thăm quê hương, đầu tư, kinh doanh, hỗ trợ giữ gìn tiếng Việt và văn hóa dân tộc… chủ trương hòa hợp không chỉ diễn ra bằng những tuyên bố mà bằng những thay đổi cụ thể, tích lũy theo thời gian. Từ sau thời kỳ “Mở cửa” sự kết nối cộng đồng người Việt ở nước ngoài bắt đầu bằng chính sách thị thực, sở hữu nhà ở, đầu tư… ngày càng cởi mở. Nhiều chương trình kết nối, gặp gỡ được tổ chức thường xuyên ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, nhất là vào dịp tết cổ truyền như “Xuân Quê hương”, trại hè thanh niên kiều bào, mạng lưới trí thức Việt toàn cầu… Đó là những hoạt động không chỉ mang tính biểu tượng mà tạo ra các không gian gặp gỡ thực chất, trao đổi thẳng thắn và cùng hướng đến một mục tiêu chung: vì tương lai của đất nước.

Có thể nhận thấy chủ lưu của quá trình kết nối này là dòng chảy kinh tế và tri thức ngày càng mạnh. Kiều hối duy trì ở mức cao trong nhiều năm. Ngày càng có nhiều chuyên gia, doanh nhân, trí thức người Việt ở nước ngoài tham gia vào các dự án kinh tế, nghiên cứu khoa học và giảng dạy tại các trường đại học trong nước. Đây không chỉ là nguồn lực tài chính mà còn là nguồn lực mạng lưới và tri thức mang tính toàn cầu, góp phần kéo gần khoảng cách giữa Việt Nam và thế giới về kinh tế và khoa học kỹ thuật.

Thay đổi trong đời sống xã hội và văn hóa được nhận thấy rõ ràng nhất: đó là ngày càng có nhiều người Việt ở nước ngoài thuộc thế hệ tham gia chiến tranh trở về thăm quê, tìm lại gia đình, tìm lại ký ức một thời đã qua. Người Việt thuộc thế hệ “hậu chiến” ra đi khi còn quá nhỏ hoặc được sinh ra ở nước ngoài, nhiều người trong số họ đã thành danh bằng những công trình khoa học, vị thế chính trị - xã hội hay tác phẩm văn học nghệ thuật… và họ luôn tự hào “là người Việt Nam”. Văn hóa đại chúng (âm nhạc, điện ảnh, ẩm thực…) đã trở thành “cầu nối” giữa các cộng đồng. Hòa hợp không còn là khái niệm chính trị mà đi vào đời sống thường ngày với từng người Việt một cách cụ thể, gần gũi. Tình cảm với quê hương là điểm khởi đầu, nhưng để người Việt toàn cầu thực sự gắn bó, điều cần hơn là một hệ sinh thái đủ cởi mở để họ thấy mình thuộc về đất nước.

Một thực tế là các thế hệ sinh sau chiến tranh và lớn lên trong bối cảnh hội nhập – dù ở trong hay ngoài nước –  dần dần ít bị chi phối hơn bởi những phân tuyến lịch sử cũ. Họ luôn tôn trọng ký ức của thế hệ ông bà, cha mẹ, nhưng trong bối cảnh thế giới mới, trong những quan hệ kinh tế - xã hội mới, họ trở thành lực lượng thực hiện và thúc đẩy hòa hợp một cách tự nhiên, bắt đầu từ tâm thế của thế hệ “toàn cầu hoá”.

Những sự thay đổi ấy diễn ra tuy không rầm rộ nhưng ngày càng bền chặt và đi vào chiều sâu. Đó là sự dịch chuyển trong cách hình dung về cộng đồng dân tộc. Nếu vào thập niên cuối thế kỷ 20 người Việt ở nước ngoài thường được nhìn như những người luôn “hướng về quê hương”, thì ngày nay cách nhìn đó đang dần thay đổi, người Việt ở đâu cũng đang ở trong một Việt Nam mở rộng, không bị giới hạn bởi địa lý. Trong một thế giới vận hành bằng mạng lưới, cộng đồng người Việt toàn cầu là một trong những mạng lưới tự nhiên quan trọng nhất của đất nước. Dựa trên bản sắc văn hoá chung và khát vọng tương lai chung, kết nối Việt Nam với tri thức, công nghệ, thị trường và văn hóa quốc tế. Hòa hợp dân tộc vì thế không chỉ là vấn đề “hoà giải” với tình cảm hay lịch sử như ở giai đoạn hậu chiến, mà còn là một chiến lược phát triển trong “kỷ nguyên mới” của đất nước.

3.

Sau nửa thế kỷ đất nước được nối liền bằng một đường biên thống nhất, thách thức hiện nay lớn hơn là làm sao để có thể nối liền những không gian ký ức, những trải nghiệm khác biệt, những cộng đồng phân tán trên toàn cầu.

Một trong những ngộ nhận lớn nhất về hòa giải là “phải quên đi quá khứ”. Nhưng lịch sử đã cho thấy, không một dân tộc nào có thể quên đi lịch sử của mình. Cũng từ bài học của nhiều quốc gia, “hoà hợp” là không xoá bỏ khác biệt mà chấp nhận rằng có nhiều trải nghiệm khác nhau về cùng một thời kỳ, có nhiều ký ức cùng tồn tại, và những ký ức ấy không nhất thiết phải triệt tiêu nhau. Do đó, cùng với nhiều tiến triển tích cực song hòa hợp dân tộc vẫn trong quá trình thay đổi nhận thức còn nhiều khó khăn.

Trong thực tế, còn đó những khác biệt trong cách nhìn về lịch sử, những khoảng cách giữa các thế hệ và giới hạn trong đối thoại và niềm tin. Nhưng điều đáng ghi nhận là cách xã hội Việt Nam hôm nay đang đối diện với những vấn đề ấy: nhiều người (thuộc các thế hệ khác nhau) đã nhìn nhận sự khác biệt mà không còn cực đoan đẩy thành “đối lập”, họ bình tĩnh và cởi mở hơn trong tìm hiểu đối thoại, thực tế và cụ thể hơn khi đưa ra giải pháp. Bởi vì ngày càng nhiều người Việt Nam hiểu rằng, để có hòa hợp thực sự là cần tạo ra một không gian chung, nơi các khác biệt có thể cùng tồn tại mà không dẫn đến chia rẽ và triệt tiêu nhau. Khi tất cả những khác biệt ấy cùng hiện diện thì mới tạo nên lịch sử Việt Nam một cách khách quan và công bằng. Khách quan và công bằng đối với quá khứ chính là con đường cao tốc đi đến tương lai.

Người Việt Nam không quên lịch sử đau thương nhưng cũng cần hiểu rõ hòa hợp không chỉ là mục tiêu phải đạt tới mà cần trở thành một trạng thái bình thường của đời sống. Đó mới là một nền Hoà Bình thật sự của Việt Nam. Khi ít đi những ranh giới cứng nhắc, nhiều hơn những cuộc trở về, những kết nối và hợp tác, thì thế hệ trẻ lớn lên không còn phải mang “gánh nặng” hậu quả tinh thần của chiến tranh. Khi đó mới là thống nhất bền vững vì không chỉ liền một dải trên bản đồ mà liền mạch trong ý thức hướng đến tương lai chung của mọi người Việt nam.  

Năm mươi năm là một khoảng thời gian đủ dài để nhìn lại, nhưng đến khi nào đủ để “khép lại” mọi vết cắt của lịch sử? Đó là khi người Việt, dù ở lứa tuổi nào không còn cảm thấy mình đứng ở “một phía” bên đường ranh vô hình do chiến tranh tạo ra, khi người Việt ở trong hay ngoài nước không còn cảm thấy mình “ở ngoài”, mà là đang “ở trong” một Việt Nam rộng lớn và nhân văn,  lúc đó non sông mới thực sự liền một dải, không chỉ trên không gian địa lý mà từ ý thức dân tộc. Bởi vì tất cả chúng ta đang đứng trong cùng một câu chuyện – câu chuyện của một dân tộc đã anh dũng đi qua chiến tranh và đang học cách sống cùng hòa bình, bắt đầu từ sự hoà hợp dân tộc. Và chỉ như vậy giá trị của chiến thắng, của thống nhất mới thực sự trở thành động lực phát triển để đất nước ta “sánh vai cùng các cường quốc năm châu”.

TP. Hồ Chí Minh ngày 21.4.2026





Báo NGƯỜI LAO ĐỘNG 30.4.2026


"Lịch sử cần mang ‘khuôn mặt’ con người"

 Nhân dịp 51 năm đất nước liền một dải, cùng trò chuyện với tiến sĩ khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu để trả lời cho câu hỏi: Làm sao để lịch sử có thể hiện diện trong đời sống của người trẻ thay vì chỉ lướt qua như ‘hồi ức mùa vụ’?

Mỗi dịp lễ 30/04, 02/09, những câu chuyện lịch sử thường được nhắc lại dày đặc trên truyền thông, mạng xã hội và trong các sản phẩm văn hóa, với nhiều cách kể và góc nhìn khác nhau. Nhờ đó, lịch sử trở nên sống động và dễ tiếp cận hơn, đặc biệt với người trẻ.

Ở góc nhìn rộng hơn, hiện tượng này cũng xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới. Theo tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu, việc lịch sử được “kích hoạt” mạnh mẽ vào các dịp kỷ niệm là xu hướng phổ biến trong bối cảnh truyền thông, công nghiệp văn hóa phát triển và trở thành cơ hội để công chúng hiểu lịch sử sâu sắc hơn.

Ký ức lịch sử không mất đi nhưng được gợi nhắc và hiện diện rõ nét vào những dịp như vậy. Đây là cơ hội để công chúng nhớ đến các sự kiện, từ đó quan tâm tìm hiểu và sẽ hiểu lịch sử sâu sắc hơn, Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu.

Vì vậy, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để kể lại lịch sử hấp dẫn hơn và là làm sao để nó có thể hiện diện bền vững trong đời sống của công chúng, bám rễ vào từng ngóc ngách xã hội.


Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 1
Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu


Lịch sử cần mang ‘khuôn mặt’ con người


Lịch sử hiếm khi “ở lại” trong ký ức tập thể nếu chỉ tồn tại như chuỗi niên biểu hay những mốc sự kiện được đóng khung trong sách giáo khoa. Các nghiên cứu về ký ức văn hoá cho thấy con người không ghi nhớ quá khứ như một hệ thống dữ kiện mà như một tập hợp những câu chuyện có nhân vật, cảm xúc và xung đột. Nhà xã hội học Maurice Halbwachs từ đầu thế kỷ XX đã chỉ ra rằng ký ức luôn mang tính tập thể và được kiến tạo thông qua những khuôn khổ xã hội (Les cadres sociaux de la mémoire, 1925). Nói cách khác, chúng ta nhớ không phải vì sự kiện đã qua mà vì nó được kể lại theo cách khiến cộng đồng có thể đồng cảm và nhận diện chính mình trong đó.

Lịch sử càng mang gương mặt, câu chuyện cụ thể thì càng hấp dẫn, Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu.

Càng lùi xa những sự kiện lịch sử thì người ta càng có cơ hội nhìn lại sự kiện đó bằng “con tim” chứ không chỉ bằng “khối óc”, tức là nhìn lại nó bằng trải nghiệm cá nhân chứ không bằng cách nhìn của đám đông vào thời điểm đó. Vì thế, lịch sử chỉ thực sự sống khi nó mang gương mặt con người. Đó có thể là sự chia ly với quê hương, với gia đình để “di cư” hay “tập kết” hồi năm 1954, là lá thư người con viết vội trước giờ ra trận. Là hình ảnh người mẹ đứng lặng nơi sân ga khi chuyến tàu chở những người lính dần khuất bóng. Là những lời hẹn chưa kịp thực hiện, là khi tình yêu nhỏ nhường chỗ cho tình yêu lớn hơn. Những điều tưởng như rất nhỏ ấy lại có sức bền hơn cả những bản tường thuật dài dòng về chiến thắng hay thất bại. Bởi vì, chiến tranh không chỉ là những con số lạnh lùng trên giấy mà là những con người cụ thể có cảm xúc có tình yêu, có cuộc sống bình thường như chúng ta hiện nay.


Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 2


Như nhà sử học như E. P. Thompson lập luận rằng chính đời sống thường nhật mới là nơi lịch sử thực sự diễn ra, và việc khôi phục tiếng nói của những cá nhân này không chỉ làm đầy khoảng trống tư liệu mà còn tái cấu trúc cách chúng ta hiểu về quá khứ.


Lịch sử ở ngay cạnh bên


Nhìn theo cách đó, lịch sử gần hơn ta nghĩ. Đó chính là những câu chuyện quen thuộc được kể lại trong các bữa cơm, những tấm hình gia đình trong album hay trong ký ức của ông bà về một thời đã qua. Đó là những con đường, những công trình, di tích mà ta đi qua mỗi ngày.

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng con người thường gắn ký ức với những địa điểm cụ thể. Nhà sử học Pierre Nora gọi đó là những “lieux de mémoire” (không gian ký ức), tức những điểm neo của ký ức tập thể. Thuật ngữ này đề cập đến cả những hình thức hữu hình như tượng đài, bảo tàng, nghĩa trang lẫn những yếu tố vô hình như ký ức, cảm xúc... Không gian ký ức không chỉ là dấu ấn sự kiện quan trọng, mà còn phản ánh trong cuộc sống đời thường con người đã sống và kiến tạo văn hóa như thế nào?

Lịch sử đến từ gia đình của mình, từ chính nơi mình sống, Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu.


Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 3


Mỗi công trình đều là kết quả của nhiều lựa chọn và phản ảnh dấu vết thời gian trong một giai đoạn cụ thể. Vậy, lịch sử nên được tìm hiểu bằng các câu hỏi hơn là đọc câu trả lời có sẵn. Vì sao con đường này có tên này? Điều gì đã diễn ra trong một khu chợ vô danh trước đây? Và lịch sử sẽ trả lời qua những thứ tưởng như lặng lẽ, từ những vết nứt trên bức tường trong xóm, con hẻm uốn lượn, lát gạch nơi chung cư cũ đã nằm đó trăm năm... nếu chúng ta biết đặt câu hỏi cho những gì quá khứ để lại.

Chính vì thế, những thứ ít được nhìn dưới góc độ lịch sử và dễ bị bỏ qua lại chính là nơi lịch sử đã âm thầm tồn tại như một lớp trầm tích của đời sống xã hội. Nó không cần ồn ào để được chú ý cũng không áp đặt để được ghi nhớ mà đi vào nhận thức của công chúng thông qua những chi tiết thân quen. Bởi vì, lịch sử được làm nên từ những con người cụ thể, từ những việc làm bình dị.


Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 4


Khi tiếp cận lịch sử từ những trải nghiệm gần gũi như vậy, ta không còn đứng ngoài để quan sát nó như một đối tượng xa lạ. Ta bắt đầu nhận ra mình đang ở trong chính dòng chảy ấy. Sự kết nối này không đòi hỏi phương thức phức tạp, chỉ cần chúng ta bước chậm lại, quan sát kỹ hơn và lắng nghe những câu chuyện tưởng như đã quá quen thuộc.


Để lịch sử rời khỏi lớp vỏ hàn lâm, khép kín


Tuy nhiên, “kể lại” chưa phải là đích đến. Như tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu từng nhấn mạnh, điều quan trọng không nằm ở hình thức mới mẻ đến đâu mà là ở việc câu chuyện đó có khiến người xem dừng lại để “tự vấn” hay không. Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực sử học chỉ ra rằng việc đặt ra những câu hỏi mang tính truy vấn: Vì sao một sự kiện xảy ra, nó diễn ra trong bối cảnh nào, được nhìn từ những góc độ khác nhau ra sao và có mối liên hệ thế nào với hiện tại... chính là chìa khóa để biến việc “biết” thành “hiểu”. Khi người xem bắt đầu tự hỏi, họ không còn đứng ngoài câu chuyện nữa mà đã bước vào trong đó.

Trong bối cảnh công nghệ khiến mọi thứ trôi qua nhanh như một cú lướt tay, lịch sử nếu chỉ xuất hiện như những thông tin rời rạc, những sự kiện tách khỏi bối cảnh của nó thì rất dễ bị hiểu sai hoặc quên lãng. Có lẽ vì thế, người trẻ không còn tiếp cận lịch sử theo cách cũ, họ thích tiếp cận lịch sử bằng những cách thức linh hoạt hơn, gần với nhịp sống của mình hơn. Một video ngắn vài chục giây, một tập podcast kể lại một lát cắt nhỏ, hay một dự án cá nhân ghi chép về ký ức đô thị… tất cả đều là những cách để lịch sử được nói lại bằng giọng điệu của hiện tại. Khi đi qua những câu chuyện đời thường và góc nhìn cá nhân, lịch sử không còn là điều xa xôi nhưng trở thành thứ có thể chạm vào, có thể hiểu theo cách riêng.

Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 5

Những tác phẩm văn học - nghệ thuật về chiến tranh, thay vì chỉ kể lại một trận đánh, một sự kiện bi tráng theo tuyến tính, nếu đi vào những lựa chọn rất cụ thể, những giằng xé, mất mát và khoảnh khắc lặng im của từng nhân vật, thì ở đó họ không chỉ đại diện cho một tập thể mà hiện lên với trải nghiệm rất riêng. Từ đó, câu chuyện mở ra hàng loạt câu hỏi cho người đọc, người xem, thay vì chấp nhận một góc nhìn duy nhất. Chính những điểm chạm cảm xúc và khoảng trống để suy tư này khiến việc tiếp nhận lịch sử không dừng lại mà trở thành ký ức nhân văn của cộng đồng. Đồng thời lịch sử trở thành một nhận thức mới vượt qua những điều đã biết.

Nếu lịch sử chỉ dùng những phương tiện kỹ thuật mới để kể cho nhanh, xem cho biết, thì cũng sẽ nhanh chóng bị thay thế bởi những nội dung mới hơn cách trình bày hấp dẫn hơn.

Vì vậy, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu cho biết mọi nỗ lực làm mới cách kể lại lịch sử không thể tách rời nền tảng cốt lõi của lịch sử là sự tôn trọng sự thật và học được điều gì từ quá khứ? Những câu chuyện giàu cảm xúc hay góc nhìn cá nhân chỉ thực sự có ý nghĩa khi được xây dựng trên dữ kiện đã được kiểm chứng. Bởi một khi ranh giới giữa sáng tạo và hư cấu bị xóa nhòa thì lịch sử rất dễ bị hiểu sai hoặc bị giản lược theo cảm tính hay định kiến. Vì vậy, vấn đề là tìm được cách thể hiện sao cho vừa tạo ra “cảm xúc lịch sử” chạm đến người xem, vừa giữ được giá trị khoa học vì mang lại nhận thức và bài học hữu ích từ quá khứ.


Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh

Ảnh: Cécile Uyên Phương

LỚP SINH VIÊN ĐẠI HỌC TỔNG HỢP NĂM ẤY

  Buổi họp mặt của chúng tôi - lớp Sử khóa 1976–1980 của trường Đại học tổng hợp TPHCM - diễn ra trong một phòng học tại ngôi trường cũ. Khô...