NỬA THẾ KỶ CHỨNG KIẾN NHỮNG THAY ĐỔI CỦA THÀNH PHỐ


Hơn 50 năm gắn bó với TPHCM, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu đã chứng kiến hành trình chuyển mình mạnh mẽ của thành phố, từ một đô thị còn nhiều khó khăn sau ngày thống nhất trở thành trung tâm kinh tế năng động hàng đầu cả nước. Với bà, bên cạnh những đổi thay về diện mạo và tốc độ phát triển, điều làm nên sức sống bền bỉ của thành phố vẫn là con người, văn hóa và tinh thần cởi mở đã được bồi đắp qua nhiều thế hệ.

50 năm đổi thay

Sinh ra ở Hà Nội, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu thuộc thế hệ “di dân” đầu tiên đến Sài Gòn sau ngày đất nước thống nhất. Từ cô gái 17 tuổi đặt chân đến thành phố năm 1975, bà đã có nửa thế kỷ gắn bó với vùng đất này trên cương vị một nhà khảo cổ, nhà nghiên cứu văn hóa và cũng là một công dân chứng kiến từng bước chuyển mình của đô thị mang tên Bác.

Theo bà, điều dễ nhận thấy nhất là diện mạo thành phố hôm nay đã đổi khác rất nhiều. Nếu trước đây sự phát triển chủ yếu tập trung ở khu vực trung tâm thì ngày nay, quá trình hiện đại hóa đã lan tỏa rộng khắp, từng bước thu hẹp khoảng cách giữa nội thành và vùng ven. “Bây giờ, sự phát triển diễn ra đồng đều hơn rất nhiều. Thành phố hiện đại hơn, mới mẻ hơn và mở rộng hơn rất nhiều so với 50 năm trước” - bà nhận xét.

Không chỉ thay đổi về không gian đô thị, TPHCM còn có những chuyển biến sâu sắc về con người và đời sống xã hội. Những ngày đầu đến đây, bà từng cảm nhận rõ sự khác biệt về ngôn ngữ, nếp sống và văn hóa. Thế nhưng điều khiến bà ấn tượng là sự lịch thiệp, cởi mở và văn minh của người Sài Gòn đối với những người mới đến. Theo thời gian, cùng với các làn sóng di cư, những khác biệt ấy dần được dung hòa, tạo nên một cộng đồng đa dạng nhưng gắn kết. “TPHCM thích nghi rất nhanh với những thay đổi của xã hội, đặc biệt là người trẻ. Chính khả năng thích ứng ấy đã tạo nên sức sống và sự phát triển không ngừng của thành phố” - bà chia sẻ.

Điều khiến choyêu thương mảnh đất này suốt gần nửa thế kỷ qua không phải là những tòa nhà cao tầng hay những con số tăng trưởng kinh tế, mà chính là con người. Nếu Hà Nội thường gợi nhớ đến chiều sâu lịch sử, Huế gắn với di sản và văn hóa cung đình thì khi nhắc đến Sài Gòn, người ta thường nghĩ ngay đến con người. Theo bà, muốn hiểu thành phố này trước hết phải hiểu con người.Trong cảm nhận của bà, người Sài Gòn là sự kết hợp hài hòa giữa nét văn minh của một đô thị lớn với sự chân chất, hào sảng của vùng đất Nam Bộ. Từ lời chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi đến cách ứng xử thường ngày đều toát lên sự tự nhiên, chân thành và gần gũi. “Đó là nét văn hóa đô thị rất đặc trưng của TPHCM - một đô thị hiện đại nhưng vẫn giữ được sự hồn hậu của người miền Nam” - bà nói.

Theo, sức hấp dẫn của TPHCM còn đến từ tính chất của một vùng đất mở, nơi từ lâu đã mang đến cơ hội lập nghiệp cho người dân khắp mọi miền. Nhưng trên hết vẫn là yếu tố “nhân hòa” - những con người nghĩa tình, bao dung và rộng mở. “Người Nam Bộ nói ‘thương’ là nặng tình nặng nghĩa lắm. Càng sống lâu ở đây, tôi càng thương con người thành phố - bà bộc bạch. Bà cho rằng người Sài Gòn sống thực tế nhưng không thực dụng, sẵn sàng giúp đỡ người khác từ lẽ phải và tấm lòng hơn là tính toán thiệt hơn. Chính sự chân thành, nghĩa hiệp và tinh thần bao dung được bồi đắp qua nhiều thế hệ cư dân đã giúp thành phố này luôn rộng mở với người nhập cư, trở thành nơi nhiều người tìm thấy cơ hội phát triển và cảm giác được đón nhận, thuộc về. Đó cũng là lý do khiến TPHCM luôn có sức hút đặc biệt.

Kinh tế phải song hành cùng văn hóa

Theo tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu, việc định hướng TPHCM trở thành đầu tàu kinh tế, trung tâm kinh tế lớn của cả nước là hoàn toàn phù hợp với thế mạnh đã được khẳng định từ trăm năm qua. Tuy nhiên, theo bà, mục tiêu tăng trưởng kinh tế chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng với sự phát triển hài hòa về văn hóa, xã hội và chất lượng sống của người dân.

Bà đánh giá cao những cơ chế, chính sách đặc thù mà Trung ương dành cho TPHCM thời gian qua, như Nghị quyết 98 của Quốc hội, Nghị quyết 260 và gần đây là Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị. Đây là những nền tảng quan trọng giúp thành phố có thêm không gian, động lực và quyền chủ động để phát huy vai trò đầu tàu trong giai đoạn phát triển mới. Tuy nhiên, các cơ chế này cần được triển khai hiệu quả trong thực tiễn và phải được xây dựng trên tầm nhìn dài hạn.

“TPHCM phát triển rất nhanh. Những vấn đề đặt ra hôm nay có thể vài năm nữa đã không còn phù hợp. Vì vậy, cơ chế dành cho thành phố không nên chỉ giải quyết nhu cầu trước mắt mà phải đủ rộng để đáp ứng sự phát triển trong 10 - 20 năm tới, thậm chí xa hơn” - bà nhận định. Theo bà, TPHCM cần một “chiếc áo” thể chế đủ rộng để tiếp tục phát huy thế mạnh về sáng tạo, tính linh hoạt và khả năng thích ứng vốn là những đặc trưng của thành phố.

Bên cạnh vai trò đầu tàu kinh tế, TPHCM cũng cần khẳng định vị thế của một trung tâm văn hóa lớn. Một đô thị hiện đại không chỉ được nhận diện bằng những công trình hạ tầng hay các chỉ số tăng trưởng mà còn bởi chiều sâu văn hóa, bản sắc con người và đời sống tinh thần của người dân. Những năm gần đây, thành phố đã có nhiều nỗ lực trong việc mở rộng công viên, không gian xanh và các khu sinh hoạt công cộng, góp phần cải thiện môi trường sống và nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần cho người dân. Tuy nhiên, để tạo nên bản sắc và sức sống bền vững cho một đô thị lớn, chỉ như vậy là chưa đủ. “Căn cốt văn hóa của một thành phố phải được thể hiện qua các thiết chế văn hóa như bảo tàng, nhà hát, trung tâm nghệ thuật, không gian sáng tạo hay các ngành công nghiệp văn hóa gắn với đặc trưng của TPHCM và vùng Nam Bộ” - bà nói.

Theo đó, thành phố cần tiếp tục đầu tư các công trình văn hóa có tầm vóc, đồng thời xây dựng cơ chế phù hợp để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật, tạo điều kiện cho các đơn vị ngoài công lập, nghệ sĩ và doanh nghiệp văn hóa tham gia phát triển đời sống văn hóa đô thị. Đối với các khu vực vùng ven, có thể bắt đầu từ những mô hình gần gũi như nhà văn hóa đa năng, trung tâm sinh hoạt cộng đồng hay không gian biểu diễn quy mô vừa, giúp người dân có điều kiện tiếp cận văn hóa thường xuyên hơn. Theo bà, văn hóa luôn là một nhu cầu thiết yếu của đô thị hiện đại. Khi được tiếp cận thường xuyên với các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, người dân sẽ dần hình thành thói quen thụ hưởng các loại hình văn hoá, nghệ thuật. Đồng thời nâng cao dần trình độ thưởng thức và thẩm mỹ văn hoá nghệ thuật. Đây một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần đô thị. “TPHCM luôn tự hào về những đóng góp cho nền kinh tế cả nước, nhưng văn hóa cũng phải phát triển song hành với kinh tế, sao cho thành phố không chỉ giàu mạnh mà còn là một đô thị nhân văn giàu có về văn hoá” - nói.

Gìn giữ ký ức đô thị

Theo tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu, khi TPHCM bước vào giai đoạn phát triển mới với không gian đô thị ngày càng mở rộng, một trong những thách thức lớn nhất là làm sao vừa phát triển nhanh, vừa giữ được những giá trị làm nên bản sắc của thành phố. Theo bà, di sản không chỉ là những công trình cổ hay các địa danh nổi tiếng mà còn là những dấu tích ghi lại từng chặng đường phát triển của đô thị, từ kiến trúc, cảnh quan đến những ký ức gắn với đời sống của người dân qua nhiều thế hệ. “Nếu những dấu tích ấy mất đi, thành phố cũng sẽ mất đi một phần lịch sử và ký ức của mình” - bà nói.

Bà cho rằng TPHCM từ lâu đã mang trong mình tinh thần đổi mới sáng tạo. Điều đó không chỉ thể hiện ở vai trò đầu tàu kinh tế mà còn bắt nguồn từ lịch sử của một đô thị cảng thị luôn cởi mở, biết tiếp nhận cái mới và thích ứng với những thay đổi của thời cuộc. Chính tinh thần năng động, dám đổi mới và khả năng hội nhập đã tạo nên sức sống đặc biệt của thành phố trong suốt nhiều thập niên qua.

Tuy nhiên, khi hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo của khu vực, thành phố không thể chỉ dựa vào công nghệ hay tăng trưởng kinh tế mà phải đặt con người và văn hóa ở vị trí trung tâm. Bởi suy cho cùng, mọi đổi mới đều do con người tạo ra và phục vụ cho con người. Văn hóa không đứng ngoài sự phát triển mà chính là nền tảng nuôi dưỡng tư duy sáng tạo, khả năng thích ứng và bản lĩnh của một đô thị hiện đại.

Theo bà, tiềm năng văn hóa của TPHCM còn rất lớn, từ các giá trị lịch sử, truyền thống, sự đa dạng của các loại hình di sản văn hoá đến những ngành công nghiệp văn hóa đã hình thành từ rất sớm như báo chí, xuất bản, nghệ thuật biểu diễn hay giao lưu quốc tế. Điều quan trọng là cần có những cơ chế phù hợp để khơi thông và phát huy đồng thời gìn giữ nguồn lực này, thay vì chỉ nhìn văn hóa dưới góc độ khai thác hiệu quả kinh tế trước mắt.

Kỳ vọng về tương lai, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu mong TPHCM sẽ trở thành một siêu đô thị hiện đại, nhân văn và đáng sống. Thước đo quan trọng nhất của sự phát triển không chỉ là những con số tăng trưởng mà là chất lượng sống của người dân. Đó là khi người dân có cơ hội an cư, được sống trong môi trường an toàn, được chăm sóc sức khỏe tốt, được thụ hưởng các giá trị văn hóa và cảm thấy gắn bó với cộng đồng nơi mình sinh sống. “Tôi mong TPHCM không chỉ là một thành phố giàu mạnh về kinh tế mà còn là nơi người dân cảm thấy an tâm, hạnh phúc và tự hào khi được sống, làm việc và cống hiến” - bà chia sẻ.

https://www.phunuonline.com.vn/nua-the-ky-chung-kien-nhung-doi-thay-cua-thanh-pho-a1584776.html



NHÂN TRƯỜNG HỢP “CHUYỆN VỚI THANH”

 

 (Bắt chước tựa “Nhân trường hợp chị thỏ bông” một tản văn nổi tiếng của Thảo Hảo/ Phan Thị Vàng Anh 😊 )

Đây là một cuốn sách đang gây ra nhiều cuộc tranh luận trên mạng. Được một người chị tặng khi mới xuất bản, tôi đọc ngay vì tò mò với lời giới thiệu cuốn sách và vì thấy sự ngưỡng mộ của nhiều người đối với các “công thần” của FPT. Note này là tôi tự rút ra bài học cho chính mình, từ cuốn sách và từ những gì đang xảy ra với nó.

Tôi tiếp cận văn bản với tư cách là một môn học của đại học, được tác giả/giảng viên viết lại phổ biến rộng rãi ngoài môi trường đại học. Còn sách văn chương thì không nằm trong stt này ạ.

Tôi biết nhiều cuốn sách thực chất có nguồn gốc từ các bài giảng, các cuộc trò chuyện hoặc ghi chép nội bộ. Tuy nhiên, thông thường như kinh nghiệm của nhiều nhà giáo/nhà nghiên cứu thì có thể có 4 cách thức thể hiện cùng chuyển tải một nội dung, đó là Lời giảng/bài giảng, Giáo án, Giáo trình và Sách cho cộng đồng. Nhưng khi chuyển hóa từ loại này sang loại khác, nhất là để trở thành sách dành cho cộng đồng thì bản chất và chức năng của chúng cần phải thay đổi đáng kể. Cơ bản trên hai phương diện là cấu trúc và ngôn ngữ.

I.                  CẤU TRÚC

Có thể hình dung quá trình này như một chuỗi phát triển của tri thức:

Hình thức

Mục đích chính

Đối tượng

Đặc điểm

Lời giảng

Truyền đạt trực tiếp

Người nghe cụ thể

Tính khẩu ngữ, ứng biến, phụ thuộc ngữ cảnh

Giáo án

Hướng dẫn hoạt động dạy học

Giáo viên

Cấu trúc bài học, mục tiêu, phương pháp

Giáo trình

Hệ thống hóa tri thức

Người học

Tính chuẩn hóa, logic, có thể tự học

Sách cho cộng đồng

Chia sẻ tư tưởng, kinh nghiệm, cảm hứng

Công chúng rộng rãi

Tính kể chuyện, tính đối thoại, khả năng đồng cảm

1. Từ lời giảng đến giáo án: từ tri thức sống đến kịch bản sư phạm

Lời giảng là một sự kiện giao tiếp. Người giảng dựa vào đối tượng người nghe, bối cảnh, phản ứng của người học, cảm hứng tại thời điểm nói. Một bài giảng hay thường chứa nhiều yếu tố không thể ghi lại đầy đủ bằng văn bản: ngữ điệu, khoảng dừng, ví dụ ngẫu hứng, tương tác.

Trong khi đó, giáo án là bản thiết kế của bài giảng. Nếu lời giảng là "buổi biểu diễn", thì giáo án là "kịch bản đạo diễn". Giáo án quan tâm đến mục tiêu học tập, trình tự hoạt động, thời lượng, phương pháp đánh giá. Nó không nhằm truyền cảm hứng trực tiếp mà nhằm bảo đảm việc dạy học có thể được tái hiện.

2. Từ giáo án đến giáo trình: từ hoạt động dạy sang hệ thống tri thức

Giáo án trả lời câu hỏi: Hôm nay dạy cái gì và dạy như thế nào?

Giáo trình trả lời câu hỏi: Một lĩnh vực tri thức gồm những gì? Do đó giáo trình phải: có cấu trúc logic, có khái niệm, thuật ngữ, có tính hệ thống, có khả năng sử dụng lâu dài.

 Một giảng viên văn hóa Việt Nam có thể có hàng trăm giờ giảng, hàng chục giáo án, nhưng để viết thành giáo trình cần chọn lọc nội dung, chuẩn hóa khái niệm, xây dựng chương mục, bổ sung tài liệu tham khảo. Nói cách khác, giáo trình là tri thức đã được "đóng khung học thuật".

3. Từ giáo trình đến sách cho cộng đồng: từ tri thức chuẩn hóa đến tri thức có sức sống

Đây là bước chuyển thú vị nhất và cũng khó khăn nhất.

Nhiều người tưởng sách phổ thông là phiên bản đơn giản hóa của giáo trình. Thực ra không hẳn. Một cuốn sách dành cho cộng đồng không chỉ làm cho tri thức dễ hiểu hơn mà còn phải làm cho tri thức đáng quan tâm hơn.

Ví dụ: Giáo trình viết:Văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra. Nhưng sách cho cộng đồng có thể viết:Tại sao người Việt thích ăn cơm chung mâm? Tại sao ngôi làng luôn quan trọng hơn cá nhân? Những điều ấy hé lộ cách người Việt nhìn thế giới. Tức là Tri thức không mất đi, nhưng được chuyển thành: câu chuyện, trải nghiệm, tình huống, đối thoại...

Nếu giáo trình ưu tiên tính chính xác, thì sách cộng đồng phải cân bằng giữa: tính chính xác, sự hấp dẫnkhả năng lan tỏa.

4. Trường hợp Chuyện với Thanh

Tôi nghĩ cuốn Chuyện với Thanh là một ví dụ đáng suy ngẫm vì nó không phải giáo trình, cũng không hoàn toàn là tập hợp bài giảng. Điều nổi bật là cấu trúc đối thoại thầy – trò.

Ở đó, kinh nghiệm sống và tư duy của tác giả được trình bày như những cuộc trò chuyện với một người trẻ. Điều này làm cho tri thức không mang giọng điệu "giảng dạy", không bị ràng buộc bởi cấu trúc học thuật, tạo cảm giác đồng hành hơn là truyền thụ.

Nếu hình dung theo chuỗi trên: lời giảng → giáo án → giáo trình → sách cộng đồng

thì Chuyện với Thanh gần với một hướng phát triển khác: lời giảng → đối thoại → suy ngẫm → sách cộng đồng.

Chính vì vậy mà dễ sa vào tình trạng “sai một từ suy ngàn ý” 😊 cuốn sách này, theo mình, điều được chuyển tải có lẽ không chủ yếu nhằm vào kiến thức “tư tưởng” mà là cách suy nghĩ, thái độ sốngkinh nghiệm cá nhân, là “Học tập và làm theo”.

5. Một cách nhìn khái quát

Có thể tóm tắt sự khác biệt bằng câu hỏi trung tâm của mỗi loại hình:

  • Lời giảng: Tôi nói gì với người nghe lúc này?
  • Giáo án: Tôi tổ chức việc học như thế nào?
  • Giáo trình: Tri thức của lĩnh vực này được hệ thống ra sao?
  • Sách cho cộng đồng: Làm thế nào để tri thức ấy trở thành một phần của đời sống người đọc?

Theo góc nhìn này, giá trị của một cuốn sách cộng đồng không nằm ở việc nó chứa bao nhiêu kiến thức, mà ở khả năng chuyển hóa kiến thức thành trải nghiệm nhận thức cho người đọc. Nói cách khác, giáo trình giúp người ta HIỂU BIẾT SÂU SẮC, còn sách cho cộng đồng thường giúp người ta NGẪM NGHĨ TỪ ĐÓ. Và những cuốn sách có sức sống lâu dài thường đạt được điều thứ hai.

II.               NGÔN NGỮ THỂ HIỆN

Tuy nhiên, vì sao “Chuyện với Thanh” gây ra phản ứng và các phản ứng thường dựa vào một số trích dẫn bị cho là “có ngôn ngữ không phù hợp”?

Nếu nhìn từ góc độ truyền thông tri thức, thì sự khác nhau cốt lõi giữa lời giảng, giáo án, giáo trình và sách cho cộng đồng không chỉ nằm ở nội dung mà còn nằm ở ngôn ngữ. Cùng một tri thức, nhưng mỗi loại hình đòi hỏi một "chế độ ngôn ngữ" khác nhau vì chúng phục vụ những tình huống giao tiếp khác nhau. Có thể hình dung như sau:

Loại hình

Bối cảnh giao tiếp

Đối tượng tiếp nhận

Đặc trưng ngôn ngữ

Lời giảng

Giao tiếp trực tiếp

Người nghe hiện diện

Khẩu ngữ, linh hoạt, giàu cảm xúc

Giáo án

Công cụ tổ chức dạy học

Giáo viên

Kỹ thuật, chỉ dẫn, ngắn gọn

Giáo trình

Truyền đạt tri thức chuẩn hóa

Người học

Chính xác, khái niệm hóa, hệ thống

Sách cộng đồng

Đối thoại với công chúng

Độc giả đa dạng

Gần gũi, kể chuyện, giàu liên tưởng

Ví dụ, cùng một ý tưởng: "Việc học không chỉ là tiếp nhận tri thức mà còn là quá trình tự kiến tạo năng lực tư duy."

Trong lời giảng người thầy có thể nói: Các em thử nghĩ xem, nếu chỉ học thuộc bài thì sau kỳ thi còn lại điều gì? Điều quan trọng hơn là trong quá trình học, các em học được cách suy nghĩ như thế nào. Túc là Ngôn ngữ mang tính đối thoại và tương tác.

Trong giáo án có thể ghi: Hoạt động: Thảo luận vai trò của tư duy phản biện trong quá trình học tập. Tức là Ngôn ngữ thể hiện tính thao tác và điều hành.

Trong giáo trình có thể viết: Học tập được hiểu là quá trình lĩnh hội tri thức đồng thời hình thành năng lực nhận thức và tư duy độc lập của chủ thể. Tức là Ngôn ngữ mang tính khái niệm và chuẩn mực.

Trong sách cho cộng đồng có thể viết: Nhiều người nghĩ học là chất thêm kiến thức vào đầu. Nhưng thực ra điều còn lại sau khi quên kiến thức mới là thứ quan trọng nhất: cách chúng ta nhìn nhận và giải quyết vấn đề. Như vậy Ngôn ngữ hướng tới sự đồng cảm và suy ngẫm.

Nếu liên hệ với trường hợp Chuyện với Thanh, tôi nghĩ đây chính là điểm đáng chú ý. Những ý tưởng của tác giả có thể đã xuất hiện trong các cuộc trò chuyện, các buổi chia sẻ hoặc thậm chí các bài giảng nội bộ. Nhưng khi trở thành sách, ngôn ngữ không còn là ngôn ngữ của người "dạy" nữa mà là ngôn ngữ của người "trò chuyện". Đó là một chuyển đổi rất quan trọng: từ diễn giải sang gợi mở; từ khẳng định sang đối thoại; từ truyền đạt kiến thức sang chia sẻ trải nghiệm; từ thuyết phục bằng lập luận sang thuyết phục bằng sự đồng cảm.

Nói theo ngôn ngữ học, mỗi loại hình văn bản đều có một cộng đồng diễn ngôn (discourse community) riêng. Giáo trình thuộc diễn ngôn học thuật; giáo án thuộc diễn ngôn sư phạm; lời giảng thuộc diễn ngôn giao tiếp trực tiếp; còn sách cho cộng đồng thuộc diễn ngôn công chúng. Khi chuyển từ diễn ngôn này sang diễn ngôn khác, tác giả không chỉ thay đổi cách viết mà còn phải thay đổi cả cách tổ chức tri thức, cách lựa chọn ví dụ, mức độ thuật ngữ và giọng điệu.

Giữa những ồn ào về cuốn sách, tôi nhớ đến thầy Trần Quốc Vượng, tất nhiên, MỌI SỰ SO SÁNH ĐỀU KHẬP KHIỄNG! Trong sự liên tưởng của tôi ấy là năng lực dịch chuyển tri thức giữa các hệ ngôn ngữ và các cộng đồng tiếp nhận khác nhau. Đây thực ra là một kỹ năng rất khó, và những tác giả làm được điều đó thường có ảnh hưởng rộng hơn phạm vi chuyên môn của mình. Bởi vì, một người giảng rất hay chưa chắc viết được giáo trình tốt, người viết giáo trình xuất sắc chưa chắc viết được sách đại chúng hấp dẫn.

Ai từng nghe Thầy giảng và đọc những gì Thầy viết, chắc sẽ đồng ý với tôi rằng, ở Thầy Trần Quốc Vượng chính là khả năng tuyệt vời đó! Tôi nghĩ đây cũng là một trong những lý do khiến ông có sức ảnh hưởng vượt ra ngoài phạm vi chuyên ngành. Điều đặc biệt ở ông không phải chỉ là khối lượng tri thức đồ sộ hay những phát hiện học thuật quan trọng, mà là khả năng làm cho cùng một hệ tư tưởng nghiên cứu có thể tồn tại trong nhiều hình thức diễn đạt khác nhau.

Chúng tôi học ở Thầy điều quan trọng đầu tiên là cẩn trọng khi viết bởi vì “giấy trắng mực đen, bút sa gà chết” 😊 Chắc chắn không phải lúc nào tôi cũng nhớ và thực hành đúng. Trường hợp Chuyện với Thanh một lần nữa nhắc tôi về bài học này!

 


 

TỪ LIÊN THÀNH NGHĨ VỀ NHỮNG CÁI TÊN VIỆT

  

Nhân dịp dự buổi kỷ niệm Công ty nước mắm Liên Thành tròn 120 năm tuổi, tôi bỗng dừng lại khá lâu trước hai chữ ấy: Liên Thành.

Một cái tên Việt. Không cầu kỳ, không pha trộn ngoại ngữ, cũng không cố gắng tạo cảm giác quốc tế. Nó mang ý nghĩa rất cụ thể: “Tên Liên Thành, tức thành hoa sen, là tên cũ của Bình Thuận, được chọn để thể hiện lòng tự hào với miền đất, biểu tượng con voi đỏ được chọn để thể hiện mong muốn thức tỉnh dân tộc, vừa bằng tập tính bầy đàn, vừa bằng sức mạnh của loài voi”. Từ ý nghĩa ấy thương hiệu Liên Thành đã đi qua hơn một thế kỷ, vượt qua thời thuộc địa, chiến tranh chia cắt và những biến động dữ dội của lịch sử để tồn tại đến hôm nay. Điều đáng suy ngẫm không chỉ nằm ở tuổi đời của một thương hiệu, mà còn ở lựa chọn của những người sáng lập cách đây 120 năm.

Đó là thời kỳ đất nước còn là thuộc địa của thực dân Pháp. Tiếng Pháp là ngôn ngữ của chính quyền, của trường học, của tầng lớp có điều kiện tiếp cận quyền lực và tri thức. Thế nhưng những doanh nhân Việt Nam đầu thế kỷ 20 – những trí thức Hán học, Tây học vẫn đặt tên cơ sở của mình bằng tiếng Việt, bằng từ ngữ gắn với văn hóa và khát vọng dân tộc: Liên Thành, Nam Đồng Thư Xã, Đông Kinh Nghĩa Thục, Minh Tân, hay giản dị như Xà bông Cô Ba... Những cái tên ấy không chỉ để gọi một cơ sở kinh doanh hay một tổ chức xã hội, mà là lời khẳng định về sự hiện diện ý chí và tinh thần người Việt trên chính quê hương mình.

Sau này, trong những thập niên giữa thế kỷ 20 khi ảnh hưởng văn hóa phương Tây ngày càng sâu rộng, ở miền Nam người ta vẫn bắt gặp vô số thương hiệu mang tên Việt. Những cái tên ấy hiện diện trên bảng hiệu cửa hàng, trong các xưởng sản xuất, trên những sản phẩm đi vào đời sống hằng ngày. Chúng vừa là dấu hiệu nhận diện thương mại, vừa là một phần của ký ức đô thị: nước khoáng Vĩnh Hảo, nước ngọt Chương Dương, bia Con Cọp, nước tương Nam Dương, Con Mèo Đen, cà ri Việt Ấn, bột ngọt Vị Hương Tố, bột Bích Chi, bông Bạch Tuyết, mì ăn liền Hai tôm... Dù ảnh hưởng văn hóa Mỹ ngày càng mạnh, các doanh nghiệp vẫn không thấy cần phải khoác lên mình một cái tên ngoại quốc để chứng minh đẳng cấp. Ngược lại, những cái tên Việt tạo nên sự thân thiện với thị trường rộng lớn khắp miền Nam.

Ngày này nhiều khách sạn, cửa hàng, quán cà phê, nhà hàng, tiệm bánh, cửa hiệu thời trang mang những cái tên hoàn toàn bằng tiếng Anh hoặc một ngôn ngữ nước ngoài nào đó. Chưa kể các khu chung cư căn hộ, khu đô thị mới phần lớn đều mang tên nước ngoài... Điều này không có thể không sai trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Một doanh nghiệp hướng đến thị trường toàn cầu có thể lựa chọn một thương hiệu dễ tiếp cận với khách hàng nhiều quốc gia. Nhưng với những sản phẩm chủ yếu phục vụ người Việt và thị trường trong nước, những cái tên nước ngoài đôi lúc làm người ta tự hỏi: phải chăng ở đâu đó đang tồn tại tâm lý cho rằng một cái tên ngoại quốc sẽ hiện đại hơn, sang trọng hơn hoặc dễ thu hút khách hang hơn? Vì sao không để tên Việt và có thể để tên nước ngoài phía dưới và chữ nhỏ hơn, như nhiều quốc gia khác vẫn làm?

Câu hỏi ấy càng trở nên thú vị khi nhìn sang các nước láng giềng trong khu vực. Tôi nhớ lần đi Indonesia gần đây. Tại các thành phố lớn và các khu du lịch, hầu hết bảng hiệu cửa hàng, nhà hàng, quán ăn, cơ sở dịch vụ đều mang những cái tên Indonesia. Ngoại trừ một số khách sạn quốc tế lớn hoặc các thương hiệu toàn cầu, rất hiếm gặp tình trạng phố xá phủ kín những cái tên tiếng Anh như ở nhiều đô thị Việt Nam hiện nay. Thế nhưng điều đó không hề cản trở du lịch Indonesia phát triển. Du khách quốc tế vẫn đến rất đông. Họ vẫn tìm được khách sạn, nhà hàng, điểm tham quan và các dịch vụ cần thiết. Không ai đòi hỏi người Indonesia phải đổi tên cửa hàng của mình thành tiếng Anh để trở nên hấp dẫn hơn trong mắt thế giới. Ngược lại, chính những cái tên bản địa ấy lại góp phần tạo nên cảm giác về một đất nước có bản sắc riêng. Du khách tìm đến một vùng đất không chỉ để ngắm cảnh đẹp mà còn để trải nghiệm sự khác biệt. Và ngôn ngữ chính là một phần quan trọng của sự khác biệt ấy.

Ngẫm rộng ra, nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới cũng không hề từ bỏ ngôn ngữ của mình khi xây dựng thương hiệu. Người Nhật Bản, người Hàn Quốc, người Pháp hay người Ý đều mang những cái tên bản địa ra thế giới. Họ không che giấu nguồn gốc của mình. Trái lại, họ biến bản sắc ấy thành giá trị. Điều làm nên sức mạnh của một thương hiệu chưa bao giờ nằm ở việc cái tên ấy được phát âm theo ngôn ngữ nào. Điều quan trọng hơn là chất lượng sản phẩm, sự tử tế trong kinh doanh và niềm tin mà thương hiệu ấy tạo dựng được với cộng đồng. khi những giá trị đó đã được khẳng định, cái tên lại trở thành một phần của ký ức xã hội, của văn hóa kinh doanh và của lịch sử dân tộc.

Thương hiệu bằng tiếng Việt không hề cản trở sự phát triển và cải tiến kỹ thuật mà ngược lại, nhờ ứng dụng kỹ thuật khoa học mới, nhiều thương hiệu Việt ngày càng có những sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và quốc tế. Vì thế, câu chuyện 120 năm của công ty Liên Thành không chỉ là câu chuyện về một hãng nước mắm lâu đời. Nó còn gợi nhắc về một thời mà những doanh nhân Việt, dù sống trong hoàn cảnh xã hội thuộc địa nhưng vẫn tự tin để đặt tên doanh nghiệp bằng tiếng nói của dân tộc mình. Điều đó thể hiện lòng tự trọng của một doanh nghiệp.

Giữa những bảng hiệu rực sáng của thời đại toàn cầu hóa hôm nay, những cái tên như Liên Thành vẫn nhắc chúng ta rằng bản sắc không phải là thứ cản trở hội nhập. Trái lại, có thể đó là điều khiến một thương hiệu được nhớ lâu hơn, một thành phố, một địa phương thể hiện được cá tính riêng và một quốc gia trở nên khác biệt hơn giữa thế giới ngày càng có nhiều điều “nhân bản vô tính” giống nhau.

Bởi vậy tôi ước ao, biết đâu một ngày nào đó điều khiến du khách nước ngoài thích thú không phải là những bảng hiệu tiếng Anh xuất hiện ở khắp nơi, mà là những cái tên Việt đủ hay, đủ đẹp và đủ tự tin để du khách muốn dừng lại, hỏi nghĩa của nó và học cách phát âm cho thật đúng. Không biết điều này có phải là viển vông?

Nguyễn Thị Hậu, Ngày 6 tháng 6 năm 2026

https://nguoidothi.net.vn/tu-lien-thanh-nghi-ve-nhung-cai-ten-viet-53009.html






NỬA THẾ KỶ CHỨNG KIẾN NHỮNG THAY ĐỔI CỦA THÀNH PHỐ

Hơn 50 năm gắn bó với TPHCM, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu đã chứng kiến hành trình chuyển mình mạnh mẽ của thành phố , từ một đô thị còn nhiều ...