Thương nhớ những hàng cây

https://tuoitre.vn/thuong-nho-nhung-hang-cay-20240512091631695.htm 

Nguyễn Thị Hậu

Những ngày này ở TP.HCM và nhiều nơi khác, có những con đường với hàng cây cao lớn bị tỉa cành chặt nhánh vì sắp vào mùa mưa, một số đường có cây xanh bị chặt từ lâu để làm hạ tầng nhưng đến nay vẫn chưa trồng lại, hoặc cây mới trồng còn quá nhỏ đang héo hắt trong mùa nắng. Giữa những ngày nắng nóng này, những tin tức về chặt tỉa nhưng làm cây xanh trụi lủi hay hàng trăm cây xanh sắp bị chặt hạ để làm hạ tầng khiến tôi và nhiều người khác vô cùng tiếc nuối.

Ở đô thị, cây xanh gắn liền với các tuyến đường tạo ra mảng xanh để cân bằng cảnh quan với những khối gạch đá bê tông kính thép, điều hòa không khí tạo sự trong lành và tươi mát cho không gian hạn hẹp của đô thị. Sự sinh động muôn màu sắc hình dáng của cây xanh tạo nên vẻ đẹp tự nhiên mà không bàn tay con người nào có thể làm được. Một đô thị không thể thiếu cây xanh, công viên, thiếu những hàng cây cổ thụ với mùa đâm chồi nảy lộc, mùa lá bay như níu bước chân người.

Tôi cứ hay lần dở những tài liệu về cây xanh theo chiều dài lịch sử đô thị. Hơn trăm năm trước Sài Gòn rất đẹp vì “đường phố rợp bóng cây, tất cả như chìm ngập trong một đại dương xanh. Nhìn từ trên cao xuống, từ chòi quan sát trên nóc một con tàu hoặc từ các tháp của nhà thờ, Sài Gòn hiện ra như một công viên rộng lớn”. Trong thời kỳ đầu tiên quy hoạch và xây dựng đô thị thì “phần lớn cây trồng đều được Sở Cầu đường lấy từ vườn ươm trong vườn Bách thảo” tạo nên  hệ thống cây xanh đường phố mà đến nay vài con đường còn những hàng cây cổ thụ cao vút. 

Thành phố càng phát triển, dân số càng tăng lên thì đúng ra diện tích cây xanh càng phải tăng gấp nhiều lần. Tuy nhiên số lượng mảng xanh và không gian chung đang dần bị thu hẹp trước sự “bành trướng” của các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và đô thị mới. Chỉ xét riêng về mật độ cây xanh, trung bình người dân ở các thành phố lớn như TP.HCM hay Hà Nội được thụ hưởng diện tích mảng xanh còn thấp hơn so với chỉ tiêu quy hoạch và với tiêu chí 9m2 cây xanh/người mà theo WHO là cần thiết để được sống khoẻ mạnh và cân bằng.

Và cứ trước mùa mưa là cây bị chặt cành mé nhánh đế trơ trụi, dù qua mùa nắng gắt cây chưa kịp phát triển tán lá, tầng nước ngầm chưa đủ cung cấp cho bộ rễ hồi phục. Trong khi đó việc trồng cây xanh không đủ đền bù cho nhiều cây xanh lâu năm bị chặt hạ để xây dựng hạ tầng giao thông. Tôi cứ tiếc ngẩn ngơ những hàng cổ thụ ở đường Tôn Đức Thắng cao vút và xanh um trước đây. Khi hàng cây bị chặt để nhường chỗ làm đường kết nối cầu Ba Son, đã có những lời hứa về việc trồng lại cây xanh. Nhưng cho đến nay, cây trồng lại thưa thớt và không lớn nổi, con đường vẫn nắng chang chang…

Tại các thành phố, hàng ngày cây xanh cần được chăm sóc theo đặc điểm của từng loại, khi cây “bị bệnh” thì chữa trị ngay. Cũng như các di tích kiến trúc cần được kiểm tra theo dõi, sửa chữa thường xuyên, phải trùng tu ngay nếu hư hỏng... Ngay cả việc xây dựng một công trình mới nếu liên quan đến số phận của nhiều cây xanh cũng cần cân nhắc, một mức độ nào đó phải được xem xét như phải di dời một tòa nhà cổ nhường chỗ cho công trình hiện đại, vì hiện nay cây xanh ở đô thị cũng được coi là một loại “cổ tích”. Một đô thị hiện đại văn minh không thể vắng thiên nhiên và di sản mà cây xanh lại đồng thời có cả hai đặc tính đó.

Thời gian sắp tới ở TP.HCM và nhiều đô thị khác sẽ xây dựng nhiều trục giao thông mới. Bộ mặt giao thông đô thị cần phải khởi sắc và phát triển, nhưng điều đó không có nghĩa là đi liền với việc đốn đi những hàng cây xanh. Những con đường và công trình hạ tầng luôn có tuổi vì không tồn tại lâu dài, nhưng những hàng cổ thụ thì không có tuổi, vẫn tồn tại mãi. Aai ai cũng tiếc khi đốn hạ cây xanh thì hãy tìm những giải pháp thay thế để duy trì những hàng cây, góp phần tạo ra TP xanh có môi trường sống xanh và sạch cho con người.

 


 

Bảo tồn di sản trong 'cơn lốc' đô thị hóa

Tiến sĩ khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu - Tổng Thư ký Hội Khoa học lịch sử TPHCM.

Việc bảo tồn di sản kiến trúc đô thị có thành công hay không phụ thuộc vào việc kết hợp và dung hòa giữa bảo tồn và phát triển. Người trẻ, bằng những tình cảm nuôi dưỡng thông qua di sản ký ức, có thể đóng góp trong việc gìn giữ và bảo tồn các di sản đô thị.

Dung hòa giữa bảo tồn và phát triển

Trong buổi giao lưu chuyên đề “Đánh thức di sản đô thị” do NXB Tổng hợp TPHCM phối hợp cùng Trường Cao đẳng Du lịch Sài Gòn tổ chức, TS khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu cho biết, TPHCM hiện có 188 di tích đã được xếp hạng, gồm: 2 di tích quốc gia đặc biệt, 58 di tích quốc gia, 128 di tích cấp thành phố.

Trong số đó, loại hình di sản đô thị là nơi lưu giữ dấu ấn và ký ức gắn với lịch sử hình thành và phát triển của đô thị Sài Gòn - TPHCM. Tuy nhiên, với “cơn lốc” đô thị hóa, nhiều di tích đang đứng trước nguy cơ bị xâm hại hoặc xóa sổ. Nhiều công trình di sản bị hư hỏng và phá bỏ (như Thương xá Tax), từng bị lên kế hoạch phá bỏ (như Dinh Thượng Thơ), một số di tích từng bị lấn chiếm, xâm hại như Di tích cấp quốc gia Lò gốm cổ Hưng Lợi (Quận 8).

Đô thị hóa là một hệ quả tất yếu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đô thị. Đó là quy luật chung của các thành phố đang phát triển. Trong quá trình phát triển đô thị, các di sản kiến trúc bị xâm hại làm vấn đề bảo tồn di sản gặp nhiều khó khăn.

“Bài toán được đặt ra là làm thế nào để giải quyết hài hòa bài toán giữa bảo tồn di sản đô thị và phát triển kinh tế? Bởi bảo tồn chính là một phương thức đặc biệt để phát triển bền vững”, TS Hậu đặt vấn đề.

TPHCM được xem là thành phố thân thiện cả về tính cách con người lẫn yếu tố cảnh quan. Tiềm năng cùng giá trị bền vững của du lịch đến từ di sản, dựa vào đặc trưng lợi thế của Sài Gòn - TPHCM như: Đô thị sông nước, hướng biển; trung tâm kinh tế, dịch vụ; đô thị đa dạng văn hóa, tộc người; đô thị được quy hoạch và xây dựng theo kiểu phương Tây. Các loại hình di sản đô thị gồm di tích khảo cổ học; di tích cảnh quan đô thị; công trình kiến trúc nghệ thuật; di tích tín ngưỡng - tôn giáo; nhà cổ và cảnh quan biệt thự.

Theo TS Hậu, tất cả những di sản này đều có thể trở thành sản phẩm du lịch. Đời sống du lịch của cộng đồng có nhiều mặt thú vị như ẩm thực, đi dạo đêm, cảnh quan công cộng sinh hoạt ở những điểm văn hóa… Vì vậy, cần nhận biết đây là nguồn tài nguyên quý giá cần tìm hiểu kỹ lưỡng để bảo tồn di sản đô thị Sài Gòn - TPHCM trong cơn lốc đô thị hóa.

Vai trò của thế hệ trẻ

Trong sách Đô thị Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh: Khảo cổ học và bảo tồn di sản (2009), TS Hậu nhấn mạnh: “Lịch sử mỗi đô thị cũng như chuỗi vòng xoắn ADN kéo dài vô tận mà trong đó sự ‘phát triển’ kinh tế và sức sống mới từ những tế bào nhân đôi, nhưng ‘bảo tồn’ di sản văn hóa lại giữ vai trò cấu trúc ổn định của chuỗi vòng xoắn.

Khi cấu trúc này bị phá vỡ, đô thị không còn bản sắc riêng. Một đô thị không có bản sắc riêng thì nó sẽ biến mất trong nhận thức và ký ức cộng đồng, sớm hay muộn mà thôi”.

Ngoài vai trò quan trọng của chính quyền và nhà đầu tư trong việc quyết định gìn giữ những công trình di sản, việc bảo tồn di sản đô thị cần có sự lên tiếng của các nhà nghiên cứu, cộng đồng để chung tay, khẳng định giá trị của di sản.

“Vai trò của cộng đồng đối với di sản đô thị rất quan trọng, vì cộng đồng là người hưởng lợi trực tiếp từ di sản nếu như di sản đó được bảo tồn và sử dụng đúng cách. Cũng chính cộng đồng là người sẽ phải chịu ảnh hưởng trực tiếp nếu như di sản đó bị phá đi”, TS Hậu chia sẻ.

Là thành viên trong cộng đồng, giới trẻ có vai trò rất lớn đối với việc bảo tồn di sản. Với thế mạnh trong việc tiếp cận nhiều nguồn kiến thức, thông tin và các phương tiện truyền thông, những người trẻ bằng những tình cảm nuôi dưỡng thông qua di sản ký ức có thể đóng góp trong việc gìn giữ và bảo tồn các di sản đô thị.

Tiến sĩ Nguyễn Đức Hiệp, chuyên gia khoa học về khí quyển và biến đổi khí hậu ở Bộ Môi trường và Di sản Australia cho biết, từ khoảng 1975 - 2010 chưa có sự quan tâm của giới trẻ đến các di sản đô thị. Đến khi quá trình đô thị hóa diễn ra trở thành “cơn lốc”, các công trình di sản bị phá, những hàng cây bị chặt… nhiều người mới bắt đầu quan tâm và lên tiếng mạnh mẽ tạo nên phong trào bảo vệ di sản đô thị.

Tại TPHCM, nhóm các bạn trẻ liên quan đến kiến trúc về di sản đã xuất bản được sách. Họ có kiến thức và tích cực tham gia vào các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Còn có những nhóm trẻ khác liên quan đến môi trường, du lịch cùng nhau tổ chức tham quan ở những di sản đô thị khắp thành phố, được đông đảo các bạn trẻ tham gia hưởng ứng. Điều đó cho thấy, nhận thức của thế hệ trẻ về giá trị của di sản đô thị thông qua giáo dục, đào tạo và các hoạt động truyền thông đã có những phản hồi tích cực.

Nguyễn Phan Bảo Toàn, 21 tuổi, sinh viên Trường Cao đẳng Du lịch Sài Gòn chia sẻ, sinh ra và lớn lên tại TPHCM, em nhận thức được trách nhiệm người trẻ và khám phá được nhiều vai trò mới của thế hệ trẻ trong việc tìm ra hướng đi khoa học hơn trong vấn đề bảo tồn di sản đô thị của thành phố.

“Phát triển không mâu thuẫn với bảo tồn mà luôn song hành cùng nhau. Người trẻ nói chung và sinh viên ngành du lịch nói riêng cần hiểu rõ quan điểm bảo tồn và phát triển di sản đô thị, từ đó làm cơ sở, tự nâng cấp kiến thức để vận dụng vào thực tiễn, phục vụ ngành nghề sau khi ra trường. Kết nối di sản đô thị với tiềm năng du lịch là cầu nối giữa bảo tồn giữ gìn quá khứ hào hùng và phát huy cho tương lai phát triển tươi sáng”, Toàn nói.

“Di sản văn hóa đô thị cần được coi là tài sản, nguồn vốn xã hội quan trọng và lâu dài chứ không phải là một ‘gánh nặng’ do phải bảo tồn, trùng tu hay là sự cản trở quá trình hiện đại hóa do không thể lấy vị trí của di sản để xây công trình mới. Kinh nghiệm của thế giới cho biết lợi nhuận từ di sản sẽ đạt được bằng cả kinh tế và văn hóa, lợi nhuận ấy là bền vững và sẽ tích lũy theo giá trị lịch sử của di sản” - TS Nguyễn Thị Hậu.


Các tác phẩm gắn với di sản và đô thị gần đây của TS Nguyễn Thị Hậu.


DI SẢN LỊCH SỬ - VĂN HÓA CÁC ĐÔ THỊ NAM BỘ NHÌN TỪ GIA ĐỊNH THÀNH THÔNG CHÍ CỦA TRỊNH HOÀI ĐỨC

Vài nét về công trình Gia Định thành thông chí

Gia Định thành thông chí (嘉定城通志) còn có tên Gia Định thông chí (嘉定通志), là một quyển địa chí do Trịnh Hoài Đức (1765-1825) biên soạn, viết về địa lý-lịch sử-văn hóa của miền đất Gia Định (Nam Bộ ngày nay).

           Công trình Gia Định thành thông chí là cơ sở của nhiều bộ thông sử của triều Nguyễn, là tài liệu cơ bản và quan trọng để nghiên cứu lịch sử Nam bộ, Việt Nam thời cận đại và nhất là nghiên cứu các vấn đề về triều Nguyễn. Nội dung của công trình đề cập một cách toàn diện, chi tiết các lĩnh vực địa lý, lịch sử, văn hóa, con người… của vùng đất Gia Định xưa thời nhà Nguyễn (lúc đó gồm 5 trấn Biên Hòa, Phiên An, Định Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên).  Các thị tứ, các trấn được khảo tả chi tiết và sinh động, toàn diện các lĩnh vực như kinh tế - xã hội – văn hóa – con người – xây dựng đô thị... Đặc biệt hệ thống địa danh dân gian và hành chính ghi chép trong Gia Định Thành thông chí là vốn tư liệu quý giá về ngôn ngữ, về đời sống cộng đồng, về quá trình hành chánh hóa vùng đất Gia Định.

     Đây là công trình khoa học mẫu mực của thể CHÍ. Đặc biệt cách tiếp cận và tâm thức của Trịnh Hoài Đức thể hiện trong công trình vừa từ góc độ “bên ngoài” – ông gốc người Minh hương, có khác biệt nhất định về văn hóa lối sống để có những nhận biết rất tinh tế và khách quan; vừa từ góc độ “bên trong” – ông với tư cách một đại thần triều Nguyễn - để phân tích, đánh giá, nhận xét một cách sâu sắc.

     Đã có nhiều bản dịch và giới thiệu về công trình này. Năm 2019 Nhà xuất bản Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh xuất bản bản dịch mới của Phạm Hoàng Quân. Bản dịch này phân tích kỹ văn bản gốc, chú giải và khảo chứng, qua đó đính chính được rất nhiều chỗ sai lầm hoặc giải thích chưa rõ của các bản dịch trước. Bản dịch của Phạm Hoàng Quân đưa công trình đến gần độc giả hiện nay hơn, vì giúp độc giả hiểu rõ về địa lý – lịch sử Nam bộ nói chung và từng địa điểm, địa danh dược ghi chép trong công trình Gia Định thành thông chí nói riêng.

Chúa Nguyễn mở mang vùng đất Gia Định

     Giai đoạn Chúa Nguyễn mở mang vùng đất Nam bộ cũng là giai đoạn họat động ngọai thương ở khu vực Đông Nam Á khởi sắc. Ngòai thương cảng Hội An nổi tiếng từ thế kỷ XVI, các trung tâm thương nghiệp mới như Cù Lao Phố (Biên Hòa, Đồng Nai), Mỹ Tho, Hà Tiên... cũng phát triển nhờ lợi thế của hệ thống giao thông đường thủy (cảng biển, sông rạch...).

      Mùa xuân Mậu Dần 1698, năm thứ 8 của chúa Nguyễn Phúc Chu, triều đình sai Thống suất Chưởng cơ lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, “ông lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, đặt xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, xứ Sài Gòn đặt là huyện Tân Bình, dựng dinh phiên Trấn…”. Phủ Gia Định lúc này bao gồm khắp miền Đông Nam Bộ, có một phủ, hai huyện, hai dinh. Mỗi dinh đều đặt các chức lưu thủ, cai bạ, ký lục để quản lý, các cơ độ thuyền thủy bộ tinh binh và thuộc binh. Mở rộng đất đai hơn nghìn dặm, dân hơn 4 vạn hộ, chiêu mộ lưu dân từ châu Bố Chánh đến lập nghiệp, lập ra xã thôn phường ấp, phân định địa giới, trưng thu ruộng đất, định mức tô thuế, lập sổ đinh sổ điền[1]. Kể từ thời điểm này nền hành chính tại Gia Định được thiết lập, tính pháp lý về chủ quyền quốc gia được xác lập trên vùng đất này.

     Từ đầu thế kỷ 18, chính quyền chúa Nguyễn đã chiêu mộ thêm dân để đẩy mạnh tiến trình khai hoang, mặt khác khuyến khích những người giàu có tại các vùng ở Đàng Trong di cư vào đất Gia Định. Mặt khác, chúa Nguyễn tạo điều kiện dễ dàng cho việc khai khẩn bằng chính sách thả nổi cho lưu dân tự chiếm đất hoang để trồng lúa, trồng cau, lập vườn, xây nhà mà không phải qua một thủ tục hành chính nào cả. “Đất Nông Nại xưa vốn nhiều đầm ao rừng rú, buổi đu mới lập ra ba dinh, mộ dân đến lập nghiệp, phép tắc hãy còn khoan dung giản dị... không hề ràng buộc, cốt sao khiến cho dân khai hoang mở đất cho thành ruộng, lập nên thôn xã mà thôi”.[2]

Từ năm 1790 Thành Gia Định từ một trung tâm chính trị mau chóng trở thành thương cảng lớn của Đàng Trong và trong khu vực Đông Nam Á. Đến thời nhà Nguyễn, Gia Định thành là một đô thị có vai trò sánh ngang Thăng Long và Phú Xuân, nhưng khác với Thăng Long và Phú Xuân vai trò chủ yếu là trung tâm chính trị, Sài Gòn – Gia Định được nhìn nhận vai trò kinh tế quan trọng (nông sản, thương nghiệp, thủ công nghiệp) bên cạnh vai trò trung tâm chính trị - văn hóa của Đàng Trong.

Diện mạo các đô thị ở Nam bộ khoảng đầu thế kỷ 19

Năm 1808, vua Gia Long đổi trấn Gia Định thành Gia Định Thành, bao gồm 5 trấn: Phiên An (địa hạt Gia Định), Biên Hòa, Vĩnh Thanh (sau chia ra Vĩnh Long và An Giang), Vĩnh Tường (sau này là Định Tường) và Hà Tiên.      

Gia định thành thông chí đã cho biết các trấn thời Nguyễn ở Nam bộ vào đầu thế kỷ XIX đã là những trung tâm kinh tế sầm uất, cùng thành trì là trung tâm hành chính thì nhà cửa phố xá bến chợ luôn được nhắc đến như một thành phần quan trọng của một trấn. Sau đây là vài miêu tả trong phần Thành trì chí.

Trấn Phiên An có Chợ phố Bến trước thành, phố chợ, nhà cửa rất trù mật... tụ tập hàng trăn thứ hàng hóa, dọc bến sống thuyền buôn lớn nhỏ đi lại sn sát (tr.553). Phố Sài Gòn (Chợ Lớn) đường phố lớn, thẳng suốt ba đường giáp đến bến sông... đan xuyên nhau như chữ điền, phố xá liền mái, người Việt và người Trung quốc cùng sinh sống... Hai bên nam - bắc bến sông không thứ gì là không có (tr.559); Ngoài ra còn có các chợ khác cũng nổi tiếng như Chợ Khung Dong (chợ cây da còm), Chợ Điều Khiển, phố chợ Lịch Tân (chợ Bến Sỏi), chợ Tân Kiểng...

Trấn Biên Hòa có phố lớn Nông Nại – cù lao Đại Phố. mái ngói tường vôi, lầu quán cao ngất, dòng sông rực rỡ, ánh nhật huy hoàng, liền nhau tới 5 dặm, chia làm 3 đường phố, đường phố lớn lát đá trắng, đường phố ngang lót đá ong, đường phố nhỏ lót đá xanh, toàn thể đường bằng phẳng như đá mài, kẻ buôn tụ tập, thuyền đi biển, đi sông đều đến cuốn buồm neo đậu, đầu đuôi thuyền đậu kế tiếp nhau, thật là một chỗ đô hội… (tr.568)

Trấn Định Tường có chợ và phố lớn Mỹ Tho, mái ngói cột chạm phủ, đình cao, nha thự rộng, thuyền bè sông biển ra vào, buồm thuyền trông như mắc cửi, thật là nơi đô hội lớn phồn hoa huyên náo. (tr.571)

Trấn Vĩnh Thanh có chợ Vĩnh Thanh, chợ Long Hồ phố xá liền nhau hàng hóa cả trăm món, dài đến 5 dặm ghe thuyền đầu suốt bến, miếu thần, đình làng mọc lên, đờn ca náo nhiệt, là chợ phố lớn của trấn. Chợ Sa Đéc: phố chợ nằm dọc theo bờ sông, mái nối mái liền nhau đối nhau san sát như vảy cá... trên bờ dưới sông có hàng trăm thứ hàng hóa tốt đẹp, nhìn ngợp mắt thỏa lòng, quả là chốn phồn hoa. (tr.576)

Trấn Hà Tiên: đường xá giao nhau, phố xá nối liền. Người Việt người Hoa người Cao Miên người Chà Và tụ họp chia ở, thuyền biển ghe sông qua lại như mắc cửi, thất là nơi đô hội góc biển vậy. (tr.576)

Như vậy, từ những ghi chép, khảo tả của Gia Định Thành thông chí, có thể nhận biết ngay từ khi khởi lập, các đô thị Nam bộ luôn ở trung tâm của mạng lưới giao thông đường thủy từng khu vực, tận dụng sự thuận tiện của hệ thống sông, kênh rạch, đường biển và chế độ thủy triều… Từ những bến – chợ đã hình thành các cảng thị như Sài Gòn, Cù Lao Phố, Mỹ Tho, Ba Vát (Bến Tre), Hà Tiên…sau này có Cần Thơ, Long Xuyên, Sa Đéc… Giữa các tỉnh hầu như đều có ranh giới tự nhiên là những giòng sông lớn nhỏ, trên trục lộ chính cứ qua một bến phà (nay là một cây cầu) là vào địa phận một thành phố lớn/trung tâm một tỉnh.

Có thể nói tính chất của đô thị Nam bộ là “đô thị sông nước”, người ta biết đến đô thị không chỉ là những thành trì, các công trình hành chính hay tôn giáo mà còn được biết đến vì cảnh quan “trên bến dưới thuyền”. Nếu ở vùng nông thôn “dưới thuyền” quan trọng vì hàng hóa nông sản nhờ ghe thương hồ chuyên chở, lưu thông thì tại các thị tứ, “trên bến” dần hình thành những cảng thị (sông, biển) nổi tiếng với sự phong phú của hàng hóa, sự giao lưu trao đổi buôn bán trù mật, sự đông đúc đa dạng của cư dân.  

Từ thị tứ trở thành các Trấn khi được bổ sung thêm chức năng hành chính, chính trị và quân sự. Trung tâm hành chính của các Trấn ở Nam bộ thời Nguyễn đã là những đô thị sầm uất phát triển thương mại, gắn liền với đường sông và đường biển. Do vậy các đô thị ở Nam bộ hình thành có phần khác biệt so với Thăng Long/Hà Nội, Huế hay Phố Hiến, Hội An… Tuy bước đầu hình thành các đô thị này mang tính chất là trung tâm hành chính – quân sự nhưng không thể thiếu cơ sở quan trọng là kinh tế - yếu tố này trong quá trình phát triển ngày càng nổi bật.

Tính chất đô thị rõ nét qua đường phố, nhà cửa, chợ búa, phố nghề/phố chuyên doanh… Gắn bó chặt chẽ với vùng nông thôn xung quanh nhưng không làm “nông thôn hóa” mà ngược lại luôn có xu hướng “đô thị hóa” cho vùng xung quanh. Tính chất kết nối với các đô thị khác rất cao theo sông nước, do là những trung tâm kinh tế và tính chất thị trường.

Dân cư – con người vùng đất Gia Định

Đến cuối thế kỷ 17 ở Gia Định, “con cháu người Hoa ở Trấn Biên thì lập thành xã Thanh Hà, ở Phiên Trấn thì lập thành xã Minh Hương, đều biên vào hộ tịch”, đây là bộ phận người Hoa đã sớm có mặt cùng người Việt, người Khmer, người Chăm và các tộc người bản địa khác chung sống và xây dựng vùng đất Sài Gòn nói riêng và vùng Nam Bộ nói chung. Chính quyền của chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã xem người Hoa như thần dân của mình và họ đã trở thành một bộ phận hữu cơ của cư dân Nam Bộ, góp phần tạo dựng phát triển kinh tế thương nghiệp và thủ công nghiệp.

Từ khi Gia Định trở thành trung tâm của Đàng Trong thời Chúa Nguyễn, nơi đây đã là nơi dân tứ xứ thường xuyên đổ về. Trong Gia Định thành thông chí, mục Phong tục chí ghi chép như sau: “Vùng Gia Định nước Việt đất rộng lương nhiều, không lo nạn đói lạnh, nên ít dự trữ, dân quen thói xa hoa, sĩ phu phong khí phấn phát. Do người bốn phương tự cư nên mỗi nhà đều có tục lệ riêng”. “Gia Định là cõi Nam nước Việt, lúc mới khai thác, lưu dân nước ta cùng người Đường (...), người Tây dương (...) Cao Miên, Đồ Bà (...) đến ngụ cư đông đúc xen lẫn, mà người các nước ấy thì y phục đồ dùng đều theo kiểu của dân tộc họ”[3]. 

 “Gia Định ở về phương Nam, gần ánh sáng mặt trời, người phần đông có tánh trung dũng khí tiết, coi nặng việc nghĩa coi nhẹ tiền tài, cho dù phụ nữ cũng vậy”, “Ở Gia Định khi có khách đến nhà, đầu tiên gia chủ bày trầu cau, sau đó dọn cơm bánh, tiếp đãi chu đáo đầy đủ. Bất kể là người thân hay sơ, quen hay lạ, tông tích ở đâu, đã đến thì phải đón tiếp đãi đằng. Nên nhiều người đi chơi không cần mang theo lương thực, nhưng lại khiến người né xâu trốn thuế đến xứ này nhiều, bởi có chỗ ăn chỗ ở”.[4]

Trải qua hai trăm năm với bao biến cố xã hội nhưng tính cách, lối sống đặc trưng của người Gia Định vẫn không thay đổi mà ngày càng được duy trì đậm nét. Cho đến nay, người nhập cư vẫn là thành phần hữu cơ của TP. Hồ Chí Minh. Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh luôn là nơi được nhắc đến bởi những việc làm thiện nguyện của các tổ chức xã hội, các cá nhân, là nơi luôn đi đầu trong những đợt cứu trợ “nhường cơm xẻ áo” cho các địa phương khác khi gặp thiên tai, cũng là nơi đùm bọc sẻ chia mọi cơ hội việc làm cho “người tứ xứ”. Sự hội tụ nhân lực từ mọi miền, mọi nguồn gốc, cùng với nhiều thế hệ dân cư ở Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh đã duy trì, phát triển sức sống trẻ trung, phát huy những phẩm chất, truyền thống tốt đẹp của thành phố.

Truyền thống cần lưu giữ và lan tỏa

Truyền thống của một vùng đất, một cộng đồng là những gì được lắng đọng và lưu truyền qua quá trình lịch sử dài lâu, hình thành từ sự thích ứng với thiên nhiên và tính cách văn hóa của cộng đồng. Cũng có thể coi những đặc điểm trên đây của các đô thị và con người Gia Định hồi đầu thế kỷ 19, qua công trình của Trịnh Hoài Đức, là một truyền thống quý giá và đặc sắc của vùng đất Nam bộ.

Trong quá trình đô thị hóa – hiện đại hóa, quá trình quy hoạch phát triển các đô thị ở Nam bộ cần chú ý những đặc điểm của “thị tứ, trấn” của vùng Gia Định đã được chỉ ra trong Gia Định Thành thông chí. Đó là sự thích ứng, thích nghi với Phong, Thủy, Thổ của vùng đất, là sự chủ động, sáng tạo của con người vùng đất này. Bên cạnh đó cần thiết phải nhận diện những đặc trưng văn hóa, lối sống, tính cách của con người vùng Gia Định để lưu giữ, lưu truyền và lan tỏa cho những thế hệ dân cư đến sau đang sinh sống trên vùng đất Nam bộ.

Đặc biệt cần sưu tầm, lưu giữ các địa danh dân gian và địa danh hành chánh đã được ghi chép trong Gia Định thành thông chí. Nên bảo tồn và trong nhiều trường hợp cần khôi phục địa danh cổ, ví như ở Đồng Nai – Biên Hòa (nơi có khu mộ Trịnh Hoài Đức – một di tích lịch sử quốc gia) có các địa danh đã đi vào lịch sử và tâm thức cộng đồng một cách bền vững và thân thương như Cù Lao Phố (nay là phường Hiệp Hòa), Cầu Gành (nay gọi là Cầu Ghềnh)... Hệ thống địa danh là di sản văn hóa vì phản ánh và tích hợp giá trị lịch sử - văn hóa, nguồn gốc và quá trình dân cư… Hệ thống di sản qua địa danh cho biết vùng đất Gia Định, Nam bộ có quá trình lịch sử lâu dài, có nền văn hóa độc đáo và nhân văn. Vì vậy cần có những nhận thức, quan điểm và ứng xử phù hợp với con người và vùng đất Nam bộ.

Trước mắt, cần đưa công trình Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức vào giảng dạy trong phần “lịch sử địa phương” ở tất cả các tỉnh Nam bộ, bằng hình thức giới thiệu nội dung và giá trị của công trình này. Từ đó lớp trẻ được tiếp nhận kiến thức, tri thức lịch sử - văn hóa của quê hương ngay từ sử liệu gốc. Truyền thống lịch sử - văn hóa mang tính bền vững, được truyền lại và bổ sung qua từng giai đoạn, trở thành “sợi chỉ đỏ xuyên” suốt từ quá khứ đến hiện tại và tương lai của một cộng đồng, một vùng đất.  

 

TP. Hồ Chí Minh, tháng 4.2024

 Nguyễn Thị Hậu


[1] Trịnh Hoài Đức, 2019, Gia Định thành thông chí. Phạm Hoàng Quân dịch, chú và khảo chứng. NXB Tổng hợp TPHCM và Saigonbooks. Tr.289

[2] Trịnh Hoài Đức, 2019, sđd, tr.292

[4] Gia định thành thông chí, sđd, tr.495








LÀNG NGHỀ SÀI GÒN MỘT THỦA VANG DANH

  (Người Đô Thị Xuân Giáp Thìn 2024)

Nguyễn Thị Hậu

Sài gòn là một đô thị từ khi khởi lập. Tính chất đô thị của Sài Gòn không chỉ ở chức năng hành chính – chính trị mà còn là trung tâm kinh tế thương mại và tiểu thủ công nghiệp. Tài liệu lịch sử cho biết, khoảng cuối thế kỷ 18 ở Sài Gòn đã có tầng lớp thợ thủ công đông đảo nhiều ngành nghề, tập hợp trong các “ty thợ” của nhà nước. Có đến 62 ty thợ sản xuất hầu hết những sản phẩm phục vụ mọi mặt đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu của giới quan lại, người giàu có đến thường dân...  

Bên cạnh đó còn có hàng trăm “phường thợ” tập hợp những người sản xuất tự do trong những làng nghề khắp vùng Bến Nghé – Sài Gòn. Hệ thống địa danh ngành nghề được ghi lại trong sử sách phản ánh tính chuyên nghiệp trong sản xuất và tính thị trường cao trong lưu thông sản phẩm. Có thể kể đến những địa danh như Hàng Đinh, Xóm Chiếu, đường Thợ Tiện, cầu Muối, xóm Cốm, xóm Lá (buông), xóm Lò rèn, xóm Câu, xóm Dầu, xóm Đệm buồm, xóm Bột, xóm Đường, xóm Chỉ, xóm Lụa...

Quá trình đô thị hóa từ nửa sau thế kỷ 19 đến nay đã làm mất đi nhiều xóm nghề trong đô thị Sài Gòn – Chợ Lớn, đồng thời lại làm hình thành và phát triển một số “làng nghề“ mới, do nhu cầu mới của thị trường và do luôn tiếp nhận luồng di dân và những kỹ thuật mới.

***

Bắt đầu xóm Lò Gốm với sản phẩm “gốm Sài Gòn”, ngày nay đây là loại cổ vật quý hiếm trong nhiều sưu tập tư nhân và các bảo tàng. Cho đến nay vẫn còn những tên đường Lò Gốm, Lò Siêu, Xóm Đất, cầu Lò Chén, các chành lu, chành chén dọc bến Lò Gốm, rạch Lò Gốm, kênh Lò Gốm... ở khu vực quận 6, quận 8. Quận 11 có khu lò gốm Cây Mai được người Pháp ghi nhận rất sớm, làm cho địa danh này trở thành tên gọi của một dòng gốm mỹ nghệ và trang trí kiến trúc tinh xảo và độc đáo. Dấu tích cuối cùng của “xóm Lò gốm” là lò gốm cổ Hưng Lợi ở quận 8. Kết quả khai quật cho biết mức độ sản xuất và các loại hình sản phẩm của lò Hưng Lợi và nhu cầu tiêu dùng của xã hội thay đổi khá nhanh từ thế kỷ 18 đến giữa thế kỷ 20.

Đến cuối thế kỷ 20, khu vực xung quanh lò gốm cổ Hưng Lợi chỉ còn một xóm làm bếp lò ở gần đó. Thực ra chỉ có 7-8 gia đình làm nghề “nắn ông lò”, thợ chính là người trong nhà và mướn thêm một số thợ phụ là bà con hàng xóm. Thợ chính làm mọi khâu kỹ thuật cơ bản: xử lý nguyên liệu, tạo dáng và đốt lò nung. Thợ phụ làm công đoạn tạo miếng chắn lò, vận chuyển sản phẩm vào, ra lò, bọc thân lò bằng thiếc trước khi đưa ra thị trường. Sản phẩm có lúc bán ra tận Ninh Thuận, Bình Thuận, từ tháng 10 nhà nào cũng tăng thêm thợ vì nhu cầu bếp lò tăng nhanh vào dịp Tết.

Nhiều năm nay dân cư thành phố và nhiều vùng nông thôn hầu như không còn sử dụng than, củi nữa nên nhu cầu bếp lò giảm nhiều. Cũng may vẫn còn một tục lệ rất hay khi năm hết tết đến: ngày 23 cúng ông Táo xong, ông lò cũ được cho ra vườn nghỉ ngơi bên gốc cây hay ven bờ kinh, gia đình mua ông lò mới về và đốt bếp mới cầu mong mọi sự bình an trong năm mới. Nhờ vậy chắc con cháu còn biết loại bếp “ông lò” và nghề gốm một thủa vang danh của đất Sài Gòn.

***

Trên đường Cách mạng tháng Tám – một trong hai con đường thiên lý xưa nhất của thành phố - có hai làng nghề nổi tiếng trong hai giai đoạn lịch sử. Từ quận 1 qua khỏi bùng binh ngã sáu Dân Chủ là đến khu vực Hòa Hưng. Nơi này có một làng nghề đúc đồng hình thành từ nửa sau thế kỷ 20. Khoảng năm 1954, một số người dân làng đúc đồng Ngũ Xá (Hà Nội) vào sinh sống ở khu vực này, họ cùng nhau mưu sinh bằng nghề truyền thống mang theo từ quê hương, dần dần hình thành làng nghề đúc đồng Hòa Hưng với sản phẩm chủ yếu là đồ đồng tam khí nổi tiếng và phổ biến ở phía Nam. Gần 70 năm qua làng nghề đúc đồng Hòa Hưng một thời hưng thịnh nay chỉ những người hoài cổ biết đến.  

Đây cũng là tình trạng của làng đúc đồng An Hội (Gò Vấp). Thời kỳ phát đạt, làng có đến hơn 40 lò đúc đồng. Những ngày cận Tết trong làng lúc nào cũng tấp nập người mua kẻ bán xe chở hàng đi khắp nơi. Sản phẩm nhiều loại nhưng nhiều nhất vẫn là đồ thờ cúng: lư hương, chân đèn, bát nhang... nhiều kiểu dáng truyền thống và độc đáo. Đến nay đồ thờ cúng đúc đồng thủ công với độ tinh xảo, “độc bản” thì giá thành cao nên khó cạnh tranh với đồ đồng sản xuất hàng loạt. Những nghệ nhân sống và gắn bó với làng đúc An Hội cả trăm năm đều rất trăn trở với việc giữ và truyền nghề, vì không còn thợ trẻ và con cái cũng không theo nghề nữa.

Cuối đường Cách mạng tháng Tám, qua khỏi bệnh viện Thống nhất là đến vùng Bảy Hiền, nơi người Quảng vô Sài Gòn đã lập ra làng dệt Bảy Hiền nổi tiếng, nơi những người sành ăn thường xuống chợ Bà Hoa ở đây để thưởng thức mì Quảng và nghe giọng Quảng đậm đặc như chưa hề có vài chục năm xa quê. Vào thời hưng thịnh làng dệt Bảy Hiền như một khu công nghiệp thật sự. Cả khu vực vang động tiếng máy dệt, mỗi năm sản xuất hàng triệu mét vải, có sức cạnh tranh rất mạnh so với vải của người Hoa ở Chợ Lớn hay vải nhập khẩu.

Nhưng từ đầu những năm 2000, sản phẩm của làng dệt Bảy Hiền mất dần chỗ đứng trên thị trường do hàng ngoại tràn ngập lấn át về giá thành và mẫu mã. Làng dệt có “thương hiệu mạnh” một thời nay chỉ còn một số nghệ nhân duy trì vài máy dệt sản xuất nhỏ lẻ để giữ nghề truyền thống như giữ một giá trị văn hóa của đô thị Sài Gòn.

***

Trong vùng Chợ Lớn có một Hội quán đặc biệt: Lệ Châu hội quán, nhà thờ tổ nghề thợ bạc tại Sài Gòn và cả Nam Bộ. Hội quán ra đời sớm nhất và gắn liền với ngành sản xuất và kinh doanh kim hoàn của người Hoa tại đây, sau này phát triển ra nhiều tỉnh thành Nam bộ. Qua bao thăng trầm, ngày nay địa điểm này đã trở thành một trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng, nơi hội ngộ và giao lưu kinh nghiệm của nhiều hội nhóm, nghiệp đoàn trong lĩnh vực kim hoàn.

Vào cuối thế kỷ 19, tại khu vực Chợ Lớn nghề kim hoàn và chế tác nữ trang rất phát triển, lúc bấy giờ đã có hơn 30 lò thợ bạc hành nghề. Đến giữa thế kỷ 20 Chợ Lớn là một trung tâm thủ công nghiệp nói chung và nghề kim hoàn nói riêng. Chợ Thiếc là ngôi chợ truyền thống lâu đời chuyên mua bán các mặt hàng vàng bạc. Đặc biệt đây là chợ kim hoàn lớn nhất của thành phố, vừa là “công xưởng” chuyên chế tác, gia công, sửa chữa đồ trang sức, vừa là chợ mua bán vàng, bạc, đá quý, đồ trang sức với mức độ lớn. Đặc biệt ngay trên tầng 1 của chợ là một "trường học nghề" chuyên về mỹ nghệ - kim hoàn. Sự gắn bó, liên kết chặt chẽ từ nơi sản xuất, thị trường mua bán đến truyền nghề kim hoàn trong trường hợp Chợ Thiếc thể hiện một hình thái kinh tế khá độc đáo của đô thị Sài Gòn: nơi sản xuất và phố buôn bán sản phẩm đặc trưng liên kết thành một thể thống nhất.

Khái niệm “làng nghề truyền thống” gắn sản xuất thủ công với làng cổ - hình thức cư trú truyền thống. Nhưng quá trình đô thị hóa đã biến các làng cổ thành phố phường, thợ sản xuất là thị dân. Vì vậy sự hình thành và phát triển những “phố chuyên doanh” ở TP. Hồ Chí Minh chính là sự tiếp nối “làng nghề” ở một hình thức mới để thích ứng và đáp ứng nhanh nhu cầu xã hội. Mối liên hệ này thúc đẩy và điều chỉnh quy mô sản xuất của làng nghề, mức độ nào đó góp phần bảo tồn nghề và sản phẩm thủ công truyền thống. Đặc biệt với nghề gốm, nghề đúc đồng, nghề mộc...  các sản phẩm dễ bị thay thế bởi chất liệu hiện đại, sản xuất hàng loạt nên khó tồn tại và phát triển.

***

Cuối năm nhu cầu mua sắm tăng hơn, nhất là những mặt hàng truyền thống phục vụ Tết âm lịch. Vào dịp này tại công viên Gia Định (quận Gò Vấp) thường tổ chức hội chợ hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống. Những năm trước các gian hàng nổi bật là nghề mộc truyền thống với sản phẩm đồ gỗ gia dụng nhiều kiểu dáng. Năm nay hội chợ có gần 300 gian hàng trưng bày đa dạng các mặt hàng từ đặc sản ẩm thực tới hàng gia dụng, trang sức, quần áo… của TP.HCM và các tỉnh thành, vùng miền khác. Tuy nhiên các gian hàng “làng nghề” của TP. Hồ Chí Minh khá khiêm tốn nếu không chú tâm tìm kiếm.

Hiện nay TPHCM còn nhiều “làng nghề” truyền thống khác: làng nghề bánh tráng, làng nghề đan lát, làng nghề mành trúc, làng làm lồng đèn, làng nghề đan giỏ trạc, làng nghề se nhang, làng nghề làm muối; nhiều cơ sở chế biến khô thủy sản... cả “phố đông y” Hải Thượng Lãn Ông cũng có thể coi là làng nghề sản xuất nhiều loại thuốc Bắc. Những “làng nghề” này đã có thị trường nhất định, nhưng TP. Hồ Chí Minh là nơi nhiều nguồn hàng hóa đổ về, nếu “làng nghề truyền thống” không gắn liền với một khu vực “chuyên doanh” như đầu mối lớn nhất, các cơ sở sản xuất và ngành quản lý không tổ chức hình thức chuyên doanh và quảng bá mới, thì tiêu thụ sản phẩm sẽ gặp khó khăn trong bối cảnh xã hội thay đổi nhanh chóng về mọi mặt, nhất là nhu cầu tiêu dùng cả về loại hình và chất liệu hàng tiêu dùng. Nguy cơ các làng nghề thu hẹp sản xuất và mất dần nghề truyền thống, cũng là mất đi một loại hình di sản phi vật thể gắn liền và phản ánh quá trình lịch sử vùng đất Sài Gòn.

 https://nguoidothi.net.vn/lang-nghe-sai-gon-mot-thuo-vang-danh-42562.html




NỖI ÁM ẢNH CỦA QUÁ KHỨ

 Trần Quốc Vượng

 Nước Việt Nam ta hiện là một quốc gia kém phát triển về mọi mặt, vừa lạc hậu, vừa lạc điệu với một thế giới nhìn chung đã và đang phát triển rất nhanh, đặc biệt từ nửa sau thế kỷ 20.

Tạm bỏ qua một bên mọi sự “giải thích”, nào đổ tội cho phong kiến đế quốc, thực dân bành trướng, thiên tai, địch hoạ, chiến tranh, cách mạng, nào viện dẫn sai lầm chủ quan của những người cầm nắm vận mệnh quốc gia mấy chục năm qua, v.v. tình trạng ấy là không bình thường, gây nên một bức xúc tâm lý, một nỗi đau thân thể, một nhức nhối thân xác và tâm linh, buộc KẺ SĨ và NGƯỜI DÂN, vừa gian khổ kiếm sống, vừa suy nghĩ đêm ngày, tìm cách khắc phục và vượt qua tình trạng tủi nhục này…

Có ĐỘC LẬP rồi chăng, nhưng hoạ LỆ THUỘC vẫn luôn luôn mai phục, cả về mô hình chính trị và sự phát triển kinh tế…

Có THỐNG NHẤT rồi chăng, nhưng mầm CHIA RẼ mọc rễ sâu xa, nào Bắc / Nam, nào Cộng sản / không Cộng sản…

Điều chắc chắn, là NHÂN DÂN chưa có HẠNH PHÚC, TỰ DO thực sự.

Với biết bao hệ luỵ của một cuộc chiến kéo dài, buộc ràng tới 3 thế hệ người Việt Nam (và rất nhiều quốc gia liên đới), lạ một điều (mà sao lại là lạ nhỉ?), là từ “người thua” đến “kẻ thắng”, giờ đây, ai ai cũng mang một mặc cảm hoành đoạt (complexe de frustration), nói nôm na là MẤT MÁT. Trước hết là NGƯỜI DÂN THƯỜNG.

Người ra đi hàng triệu, bỏ xác ngoài biển khơi hàng ngàn, vạn, biết bao em gái ta, chị ta, cả mẹ ta nữa… bị kẻ hải tặc khốn kiếp dày vò làm nhục! Chưa nói đến của cải, ai còn sống thì đều cảm thấy mất quê hương!

Người ở lại, hàng chục triệu nông dân bỗng dưng cảm thấy mất đất, không có quyền tự do hành xử trên “mảnh đất ông bà”, trong khuôn viên do chính tay mình tạo dựng; hàng triệu công nhân mất việc, thất nghiệp hay bị kém sử dụng (sous-emploi), sống ngất ngư, lây lất qua ngày…

Trí thức, thì tản mác, bị lãng phí thảm hại, trừ một số rất ít kẻ xu thời (đời nào chẳng có?), người nào cũng cảm thấy mất tự do tư tưởng và sáng tạo.

Một tình trạng như thế, chỉ có lợi cho lũ gian manh. Một cuộc “đổi đời” kỳ cục như thế, mà nếu cứ nhất định muốn gọi nó, muốn gọi đó, là “cách mạng”, thì là một cuộc cách mạng đã mất phương hướng. Phương hướng là cái tiêu ngữ trên mỗi đầu trang giấy, từ sau Tháng Tám 1945: ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC.

Cho nên phải nghĩ lại, phải bình tâm mà nghĩ lại, nói theo thời thượng từ giữa thập kỷ 80, là phải ĐỔI MỚI TƯ DUY.

Tư duy là công việc của mỗi CON NGƯỜI, vì về bản chất, con người là một sinh vật có tư duy, có ý thức và vì có tư duy, có ý thức mà được / phải có quyền tự do lựa chọn mô hình hành động, cho chính mình (tự do cá nhân), cho chính cộng đồng mình (nhà mình, làng mình, nước mình…) và phải / được chịu trách nhiệm về chính sự lựa chọn đó.

Tôi rất thân và rất quí Nguyễn Huy Thiệp, hẳn thế, nhưng chính vì thế mà tôi không thể nào đồng ý với anh khi anh trả lời phỏng vấn báo Libération là “Tôi đã sống như một con thú”. Con thú làm sao mà biết viết, biết in Tướng về hưu, Phẩm tiết…? Lẽ tất nhiên là tôi hiểu cái “ý tại ngôn ngoại” của anh: Cái mặt bằng kinh tế xã hội của một Việt Nam hiện nay trên đó “anh phải sống”, sự ràng buộc của “cơ chế”? v.v.

Tôi nhớ lại, ngày 12-1-1983, trong buổi họp kỷ niệm 40 năm ra đời “Đề cương Văn hoá Việt Nam”, ông Trường Chinh – tác giả chính của cái “Đề cương” đó – đã nói với các “nhà khoa học xã hội” Việt Nam: “Nếu không có một điều kiện tối thiểu về vật chất để sinh sống thì con người có thể trở thành con thú!”. Điều đó chẳng có gì mới lạ, vì bằng kinh nghiệm nghiệm sinh, nhiều nhà trí thức chúng tôi đã nghĩ và nói thế từ lâu; điều mới và lạ, là cho đến tận lúc ấy, một vị lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam mới nói ra như thế! Mà con người, nhất là người trí thức Việt Nam, đâu chỉ đói rét vì miếng cơm manh áo? Đói tự do tư tưởng cũng có thể trở thành con thú! Vì con thú, như con trâu, con bò, dù có no cỏ thì cũng chỉ biết theo đuôi! Theo đuôi con đầu đàn! Bao năm qua, có biết bao con người Việt Nam chỉ biết theo đuổi kẻ cầm quyền, hoặc khốn khổ thay, là chỉ được theo đuôi người lãnh đạo và lại được “khen” là “có ý thức tổ chức, kỷ luật” và vì vậy được vào Đảng, được “đề bạt” làm kẻ “cầm quyền” bậc sơ trung cấp, để, nói cho cùng, cũng chỉ thành kẻ “chấp hành”, “thừa hành”, nhưng có được chút “quyền”: dối trên và nịnh trên, lừa dưới và nạt dưới!

Tôi nhớ lại, khoảng mười năm trước đây, một người học trò và là bạn bè của tôi, trước khi đi Nga làm luận án Phó tiến sĩ sử học, trong buổi “tiệc bia” tiễn biệt thầy trò, bè bạn, đã ngỏ với tôi lời “khuyên” tâm sự: “Nếu như thầy mà cũng “đầu hàng cơ chế” nữa là bọn em mất nhờ đấy!”. Anh ấy ở Nga 4 năm, về nước với bằng xanh Phó tiến sĩ, thẻ đỏ đảng viện và, gia nhập “cơ chế”, trở thành “người lãnh đạo” của tôi hôm nay! Tôi chẳng buồn mà cũng chẳng vui. Tôi chọn lựa cho mình một hướng đi: Gia nhập “Câu lạc bộ những người thích đùa”. Tôi thường nói đùa như người Hà Nội vẫn thường đùa anh ấy:

– Cậu là đảng viên nhưng mà tốt!

Câu nói đùa, mà “nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào” và hơn nữa, với câu nói ấy, có thể bị “quy chụp” là “phản động”.

Tôi có một anh bạn, phải nói là rất thân, học với nhau từ thuở “hàn vi”, lại cũng làm việc dưới một mái trường Đại Học trên ba chục năm trường, cùng “leo thang” rất chậm, từ “tập sự trợ lý” đến full professor, chair-department; anh là con “quan lớn”, em của “nguỵ lớn” nhưng “có đức có tài”, được chọn làm “hàng mẫu không bán” kiểu như ông Bùi Tín vừa làm ồn ào giới truyền thông một dạo – nhưng khác ông ta là cho đến nay anh không gửi “kiến nghị” kiến nghiếc gì, nói năng với TRÊN, với DƯỚI bao giờ cũng “chừng mực”, chẳng “theo đuôi” mà cũng chẳng là “dissident” của chế độ. Anh thường bảo tôi: thì về cơ bản cũng nghĩ như cậu thôi. Nhưng cậu thông cảm, mỗi người một tính một nết, một hoàn cảnh. Cậu “thành phần tốt”, ăn nói táo tợn thì quá lắm người ta chỉ bảo cậu là “bất mãn cá nhân” thôi. Tớ “thành phần xấu”, ăn nói bằng 1/10 cậu thôi cũng đủ bị “quy” là “phản ứng giai cấp” rồi! O.K.! Anh cứ sống kiểu anh, tôi cứ sống kiểu tôi. Chỉ có mỗi một điều thôi, là vì vậy và vì nhiều lý do sâu xa khác nữa – nên nước ta chỉ có những nhà trí thức (intellectuals) chứ không có giới trí thức (intelligentsia).

Vậy thua thiệt thì Dân ráng chịu!

Bi kịch, nỗi bất hạnh của trí thức Việt Nam, của nước Việt Nam là ở đó…

* * *

Báo Đoàn kết của một cộng đồng người Việt Nam bên Pháp đưa tin: Vào cuối năm ngoái (1990), có một ông Ủy viên Bộ chính trị kiêm Bí thư thường trực Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam nhân sang Paris dự Đại hội Đảng Cộng sản Pháp, có tập hợp Việt kiều lại để nói chuyện. Trong khoảng 2 tiếng, ông chỉ “nói” mà không “nghe”, lại còn bảo: “Sống ở nước ngoài, biết gì chuyện trong nước, tuổi 40-50 trở xuống – nghĩa là vào hạng tuổi con cháu ông – biết gì mà góp ý kiến!”. Xem chừng bà con Việt kiều, nhất là anh chị em “trí thức”, bực mình với ông lắm.

Tôi là “trí thức” ở trong nước, ở Hà Nội nữa, nghe những lời lẽ ấy “quen tai” rồi.

Cũng ông ấy, lúc còn làm “Bí thư Thành uỷ” Hà Nội, khi thấy báo Quân đội nhân dân 1987 công bố “Bức thư ngỏ gởi ông Chủ tịch thành phố Hà Nội” của tôi, nói về việc “Phá hoại các di tích lịch sử của Thủ đô” đã cho triệu tôi lên trụ sở Thành uỷ và “thân mật” bảo – Nếu anh là công nhân, anh nói (nôm na, tục tằn) kiểu đó tôi còn hiểu được, đằng này anh là Giáo sư, là trí thức, sao lại nói (nôm na, “toạc móng heo, treo móng giò”) kiểu - Nếu anh nói thế, “tôi” thì “tôi” nghe được, nhưng những “người khác”, họ không nghe được! Từ nay anh nên “thay đổi” cái “giọng nói” của anh đi!

– Đảng bảo: “Trí thức là của Công Nông và cũng là Công Nông”, vậy nếu công nhân – theo ông – nói được như vậy thì trí thức cũng nói được như vậy. Có gì – theo ông – là khác nhau giữa giọng “trí thức” và giọng “công nhân”?

– Ông không khác gì người khác. Nếu theo ông, ông “nghe được” vậy thì người khác cũng phải nghe được. Vậy tôi chả việc gì phải “đổi giọng” cả!

Thực ra, tôi biết thừa cái “giọng tôi” chính ông nghe không được nên ông mới “góp ý” cho tôi, nhưng ông lại cố tình đổ cho là người khác nghe không được, hơn nữa ông lại cố tách “tôi” ra khỏi công nhân, “đề cao” tôi là “trí thức”, để chỉ cốt răn dạy tôi: Với vị thế của anh, anh không được ăn nói với chúng tôi (những nhà lãnh đạo) bằng cái giọng như vậy! Bà xã tôi lúc ấy còn sống và là giáo viên Trường Trung học Trưng Vương nổi danh ở Hà Nội – nghe tin tôi được / bị phải gọi lên Thành uỷ, lấy làm lo lắng lắm, bảo tôi (“giọng” bà ấy bao giờ cũng vậy, con gái nhà “tư sản Hà Nội” mà): Anh lên đấy, liệu mà ăn mà nói! Anh có sao, chỉ khổ vợ con! Chùa Một Cột có bị phá để làm Bảo tàng Lăng Bác, nếu có hại thì hại cả nước, đâu dính gì đến riêng anh mà anh cứ “la làng” lên, một con én chẳng làm nổi mùa xuân, “ăn cái giải gì” mà cứ nói, chỉ khổ vào thân; có cái giấy Úc mời sang kỷ niệm 200 năm nước “nó” đấy, khéo các “bố” ấy lại không cho đi, vợ con Ôi, làm “thằng người Việt Nam”, làm “trí thức Việt Nam” biết bao là “hệ luỵ”.

Tôi đưa chuyện HỌC TRÒ, BÈ BẠN, VỢ CON dàn trải trên mặt giấy đâu phải để “nói xấu” họ, nhất là nói về vợ tôi – nay đã mất, cầu cho linh hồn bà ấy tiêu diêu miền cực lạc – mà trong tâm khảm tôi, bao giờ tôi cũng cảm thấy mình xấu tính hơn bè bạn - vợ con - học trò. Tôi chỉ muốn nói về thân phận trí thức ở cái nước Việt Nam mang cái nhãn hiệu Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa mà thực ra là còn đang rất kém phát triển này: ông Ủy viên Bộ chính trị ấy, kiêm Bí thư Trung ương này, kiêm Bí thư thành phố này… ai chả nghĩ là ông ấy cộng sản hơn ai hết nhưng thực ra thì ứng xử của ông ấy từ Hà Nội đến Paris lại “gia trưởng”, “nho giáo cuối mùa” hơn ai hết!

Khổ vậy đó, Cho nên giáo sư Alexander Woodside, từ góc trời tây bắc của xứ tuyết Canada mới hạ một câu về cách mạng Việt Nam: “The spiritual and cultural milieu from which the vietnamese revolution sprang was both confucian and comunist” (Cái môi trường tâm linh và văn hoá mà từ đấy cách mạng Việt Nam phóng tới là cả Khổng Nho và Cộng sản).

* * *

Ông giáo sư Từ Chi một trong những bạn bè thân thiết của tôi từ một cậu tú ở Huế đi Nam tiến ngay sau ngày 23 tháng 9 và trở thành cộng sản rồi năm 54 trở về học đại học để trở thành một nhà dân tộc học. Ông đi làm chuyên gia ở Tây Phi, thương một người con gái Hà Nội nhà nghèo vì chiến tranh mà lưu lạc mãi sang tận bờ sông Niger. Ông quyết đưa người phụ nữ bất hạnh đó trở về Tổ quốc chỉ bằng cách kết hôn với nhau, dù ông biết trước rằng hành động dấn thân ấy ông phải về nước trước thời hạn. Và cho đến 25 năm sau, ông không bao giờ được ra nước ngoài, dù ông, không có bất cứ một hành vi gì phạm pháp. Cái án được phán quyết không theo “Luật hôn nhân và gia đình” của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ban hành năm 1960, mà là theo đạo lý hủ Nho.

Về nước năm 65 qua ngã Moscow ông dừng chân ở đó 5 ngày. Gặp tôi ở quán cà phê Sính, ông rỉ tai tôi: “Chế độ Xô Viết không thể nào viable” (nguyên văn có nghĩa: không thể “thọ” được). Đấy là lời tiên tri đúng trước 1/4 thế kỷ! Vì sao NƯỚC và ĐẢNG có những người trí thức giỏi đến thế mà bây giờ cả NƯỚC, cả ĐẢNG đều lâm vào tình huống “khủng hoảng toàn diện”?

Từ năm 65, cứ mỗi lần nghe thấy lời khuyến dụ tôi vào Đảng, ông lại bảo tôi: “Tuỳ ông đấy, nhưng… nếu ông có vào thì đừng để người ta đuổi ông ra!”. Ông biết kỷ luật của Đảng ông là “kỷ luật sắt” mà tôi thì ông cũng biết quá rõ tôi là người “tự do”, tính ưa phóng khoáng, là người “bất cơ” (không chịu ràng buộc) theo chữ dùng để đánh giá mình của nhà sử gia họ Tư Mã bên Tàu!

Tôi hỏi ý kiến ông về tính chất Cách mạng Việt Nam. Ông trả lời: Cụ Hồ bảo nước mình là một nước nông nghiệp, dân tộc mình là một dân tộc nông dân. Cứ đấy mà suy, thì cuộc “Cách mạng” bây giờ hẳn vẫn là một cuộc khởi nghĩa nông dân. Khác chăng là trước, khởi nghĩa nông dân do một số nhà nho xuất thân nông dân như Quận He, như Cao Bá Quát cầm đầu, bây giờ là do những người cộng sản cũng xuất thân ở nông thôn và có căn tính nhà nho, như cụ Hồ, như ông Trường Chinh… lãnh đạo. Ông đọc bài ông Nguyễn Khắc Viện rồi chứ, Confucianisme et Marxisme (La Pensée, No 105, Octobre 1962). Ông Viện là cộng sản và là con cụ nghè Nguyễn Khắc Niêm đấy!

Đầu thế kỷ XX, trong xã hội yêu nước vẫn âm ỉ một chủ nghĩa yêu nước xóm làng (village patriotism, chữ của Alexander Woodside). Yêu nước chống Pháp kiểu Nho của cụ Phan Bội Châu thất bại ở 2 thập kỷ đầu của thế kỷ XX. Và dòng trí thức Nho gia tàn lụi. Một số con cháu nhà Nho, một số con cháu nông dân, một số con cháu nhà công thương mới trở thành lớp trí thức Tây học. Một số ấy chấp nhận le fait colonial và trở thành công chức cho Tây, như ông cụ ông Kỹ sư canh nông, như ông cụ tôi (Bác sĩ)… Một số khác, yêu nước hơn, mong áp dụng ở Việt Nam những lý tưởng Mác-Lê thế kỷ XIX.

Cái chủ nghĩa quốc gia của kiểu tư sản mà ông Nguyễn Thái Học, ông Xứ Nhu, kể cả cậu ruột ông đã khởi xướng ở Việt Nam Quốc dân đảng thì đã bị thực dân vùi dập khủng bố tan hoang từ thập kỷ 30. Còn lại cái chủ nghĩa quốc tế của Mác Lê mà Nguyễn Ái Quốc và những nhà cộng sản mang về áp dụng vào một xã hội nông dân châu Á nghèo khổ, khác hẳn cơ địa xã hội tư sản Tây Âu, nơi hình thành chủ nghĩa Marxisme. Người cộng sản Việt Nam có căn tính nông dân – Nho giáo đã gần Dân hơn người tiểu tư sản Tây học ở thành thị. Họ đã vận động và tổ chức được phong trào nông dân và toàn dân đánh Pháp, đuổi Nhật, làm cách mạng tháng Tám thành công. Kháng chiến là sự nối dài của Cách mạng tháng Tám.

Kháng chiến đã thắng lợi. Chủ nghĩa thực dân phương Tây đã bị hoá giải.

* * *

Dưới thời quân chủ – nông dân – nho giáo, ở Viễn Đông, có một ước mơ ĐẠI ĐỒNG. “Thế giới ĐẠI ĐỒNG, thiên hạ vi CÔNG”. Ở đầu thập kỷ 20, trong một bài viết, Nguyễn Ái Quốc cho rằng cái chủ nghĩa ĐẠI ĐỒNG của Khổng Nho ấy rất gần với chủ nghĩa Cộng sản. Alexander Woodside nhận xét: Ông Mao phê phán rất dữ dằn Khổng Nho còn ông Hồ rất nhẹ nhàng với Nho Khổng. Xây “đời sống mới” năm 46, ông Hồ nêu khẩu hiệu của Nho Khổng: CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH CHÍ CÔNG VÔ TƯ. Dạy đạo đức cho cán bộ, ông Hồ lấy câu Nho Tống: “Tiên ưu hậu lạc”. Về giáo dục xã hội, ông cũng dùng câu có sẵn của Khổng Mạnh, đại loại như “Bất hoạn bần nhi hoạn bất quân…” (Không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng…) hay là “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”, v.v. và v.v. Đến di chúc, ông cũng đưa vào một câu trích dẫn của Đỗ Phủ đời Đường: “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”. Thơ chữ Hán của ông, có nhiều câu, y phỏng theo Đường thi…

Nhưng cái mô hình xã hội chủ nghĩa kiểu Stalin hay kiểu Mao (Staline Mao hoá) dù đã ít nhiều Hồ hoá, Việt Nam hoá cũng tỏ ra không thành công trước thực tiễn “bướng bỉnh” của một nước Việt Nam nhỏ bé – tiểu nông.

Người Cộng sản Việt Nam đã lầm khi tưởng rằng dù với cơ cấu kỹ thuật cũ, ít thay đổi, cứ làm đại việc công hữu hoá (quốc hữu hoá, tập thể hoá, hợp tác hoá…) thì vẫn xoá bỏ được áp bức bóc lột, cải tạo xã hội chủ nghĩa thành công. Hoá ra là một công thức đơn giản hơn:

CÔNG HỮU HOÁ + CHUYÊN CHÍNH (VÔ SẢN) = (QUÁ ĐỘ sang) CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Tôi và ông Từ Chi bàn mãi về chuyện này. Sau thời công xã nguyên thuỷ, chế độ áp bức bóc lột đầu tiên nảy sinh ở đất Việt với chế độ “thủ lĩnh địa phương”, lang đạo, phia tạo (tiếng Anh tạm dịch là local chieftains) khi ruộng đất còn gần như y nguyên là “của công” nhưng “dân đen” là tiểu nông tản mạn còn thủ lĩnh giữ quyền “thế tập” theo dòng máu. Dân gian nói giản dị:

Trống làng ai đánh thì thùng

Của chung ai khéo vẫy vùng thành riêng!

Thì giờ đây, ruộng hợp tác, của kho hợp tác, bọn bí thư, chủ nhiệm, kiểm soát đều ở trong một cơ sở Đảng chuyên chính, chúng sẽ “vẫy vùng” thành riêng thôi! Ba năm liền 76-79 tôi đi Định Công Thanh Hoá, khảo cổ (ngày), khảo kim (đêm). Và 3 ngày liền cuối năm 79, tôi thuyết trình trước Tỉnh ủy Thanh Hoá về sự phá sản của mô hình làng Định Công (người ta tuyên bố “Định Công hoá” toàn tỉnh Thanh Hoá, với bài báo tràng giang “Bài học Định Công” của Bí thư Trung ương Tố Hữu). Thính giả cứ bỏ dần trước sự “vắng mặt” của Bí thư, Phó bí thư Tỉnh uỷ (người ta phải “nhìn Trên” để định thế ứng xử). Còn một ông thường vụ phụ trách tuyên huấn kiên trì nghe 3 ngày, để sau này khi Định Công phá sản hoàn toàn, đã khoa trương tuyên bố, chứng tỏ ta đây sáng suốt hơn các nhà lãnh đạo khác:

– “Lúc bấy giờ (79), ai dám nghe Trần Quốc Vượng nói, ngoài tôi?” (ông ấy bây giờ là Bí thư Đảng uỷ Bộ Văn hoá Thông tin).

Năm 82 tôi đi Liên Xô thuyết trình khoa học. Bài viết của tôi bằng tiếng Việt, Dương Tường dịch sang tiếng Anh, Từ Chi dịch sang tiếng Pháp, bà Nona Nguyễn Tài Cẩn dịch sang tiếng Nga. Bà Nona bảo: bài của anh hay lắm, nhưng thuyết trình ở Paris thì hợp hơn, nói với trí thức nước tôi (Liên Xô), họ không hoan nghênh đâu! Mà quả nhiên!

Về nước, tôi briefing cho bạn bè nghe về Liên Xô và nói lén qua hơi men: “Dứt khoát hỏng!” Và đấy là lần duy nhất tôi “được” đi Liên Xô. Đầu năm 83, giáo sư Phạm Huy Thông cho đăng bài của tôi lên trang đầu Tập san Khảo cổ học (1). Đảng uỷ Uỷ ban Khoa học Xã hội viết bản báo cáo dài lên Ban Tuyên huấn Trung ương quy kết tôi 4 tội:

– Chống chủ nghĩa Mác-Lê: vì tôi bảo: Công hữu hoá có thể đẻ ra bóc lột.

– Chống công nghiệp hoá: vì tôi bảo: Nông nghiệp phải / còn là mặt trận sản xuất hàng đầu.

– Chống đấu tranh giai cấp: vì tôi bảo: Nông dân khởi nghĩa – ngay cả ăn cướp – cũng không đánh vào người làng mà chủ yếu đi cướp nơi khác và đánh vào Quan.

– Chống chuyên chính vô sản: vì tôi bảo: Chuyên quyền đẻ ra tham nhũng.

Vụ án “văn tự” này kéo dài 3 năm, không có kết luận. 3 năm tôi được “ngồi nhà”, khỏi đi Tây và nói tiếng Tây! Cuối năm 86, khi Đại hội VI đảng Cộng sản Việt Nam kết luận lại trong nghị quyết là Nông nghiệp là “mặt trận hàng đầu”, Giáo sư Phạm mỉa mai ở trụ sở Uỷ ban Khoa học Xã hội: Thế bây giờ Đảng uỷ đúng hay Trần Quốc Vượng đúng?

Nhưng “nỗi ám ảnh của quá khứ” vẫn không tha người làm Sử như tôi (mà nói theo nhà Phật thì kiếp này còn là “quả” của kiếp trước kia mà). Năm 85, nhân năm “quốc tế người già”, ông Nguyễn Hữu Thọ nhờ người nói tôi viết bài “Truyền thống người già Việt Nam”. Báo Đại đoàn kết của ông không “đoàn kết” nổi bài của tôi, tôi nhờ báo Tổ quốc của ông Nguyễn Xiển đăng dùm. Rồi năm 86 có hội Khoẻ Phù Đổng của Đoàn Thanh niên, ông Bí thư T.N. nhờ tôi viết bài “Phù Đổng khoẻ”. Mùa hè nóng bỏng 86, trước Đại hội VI 5 tháng, ông Bí thư Trung ương Đảng phụ trách tư tưởng H.T. đem hai bài của tôi ra “chửi bới” giữa Hội nghị mở rộng Ban Chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam, đề bạt Nguyễn Khắc Viện, Trần Quốc Vượng, Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng là 4 trí thức chống đối. Ông Giàu, thầy học cũ của tôi, đâm thư kiện. Ông H.T. biên thư trả lời (tôi còn giữ làm “chứng từ thanh toán”) bảo: Tôi không động đến anh, tôi chỉ động đến Trần Quốc Vượng, vì anh ta viết “Các vua Trần nhường ngôi” ám chỉ đòi chúng tôi rút lui, và viết “Thánh Gióng bay lên trời” ám thị chúng tôi đánh giặc xong còn cứ ngồi lại giành quyền vị…! Khốn khổ, vì sao các ông ấy cứ “mỗi lời là một vận vào khó nghe” như vậy? Hay là tại dân gian “nói cạnh” các cụ: Có tật giật mình?

* * *

Xã hội Việt Nam truyền thống cũ có nhiều nét hay, vẻ đẹp nên ở cạnh nước lớn, bị xâm lăng, đô hộ, đè nén hàng ngàn năm vẫn trỗi dậy phục hưng dân tộc, “trở thành chính mình”. Nhưng xã hội quân chủ – nông dân – nho giáo từ sau thế kỷ XV có nhiều “khuyết tật trong cấu trúc” – nói theo các nhà khoa học hôm nay:

Ở trong NHÀ thì có thỏi GIA TRƯỞNG, tuy tâm niệm “con hơn cha là nhà có phúc” mà vẫn không thích “ngựa non háu đá”, “trứng khôn hơn vịt”.

Ở trong LÀNG thì có nạn CƯỜNG HÀO, với tinh thần ngôi thứ, chiếu trên, chiếu dưới, “miếng giữa làng hơn sàng xó bếp”.

Ở trong VÙNG thì có nạn SỨ QUÂN, thủ lĩnh vùng thích “nghênh ngang một cõi”, gặp dịp là sẵn sàng “rạch đôi sơn hà”.

Ở cả NƯỚC thì có nạn QUAN LIÊU, quan tham nhũng, tân quan tân chính sách, luật không bằng lệ, kiện thì cứ kiện nhưng “chờ được vạ má đã sưng”, nên chỉ cứng đầu thì dại, “không ngoan” nhất là “luồn cúi” và trí thức “lớn” thì cũng tự an ủi “gặp thời thế thế thời phải thế”. Vì ngoài thì “bế môn toả cảng”, trong thì “chuyên quyền độc đoán”, cho nên sĩ khí ắt phải bạc nhược.

Thế giới giờ đây thay đổi đã nhiều. Song trong nước mình thì chưa đổi được bao nhiêu. “Nỗi ám ảnh của Quá khứ” vẫn còn đè nặng.

Chỉ còn một cách để “đổi đời” cho DÂN, cho NƯỚC: Đó là xây dựng một chế độ dân chủ, một nhà nước pháp quyền, một nền kinh tế công - nông nghiệp với thị trường tự do, một tư tưởng cởi mở, rộng dung, khoáng đạt, tự do, một nền văn hoá đa dạng, giữ cho được bản sắc tốt đẹp của dân tộc nhưng biết hoà nhập với thế giới, với nhân gian…

Tóm một chữ thì không phải là chữ “ĐẤU” mà là chữ “HOÀ”: HOÀ BÌNH, HOÀ HỢP, HOÀ THUẬN, HOÀ GIẢI…

Chẳng những NHÂN HOÀ mà cả NHIÊN HOÀ (hoà hợp với thiên nhiên, tự nhiên)

“Hoà nhi bất đồng”… mong lắm thay!

 Trích từ sách Trong cõi - GS Trần Quốc Vượng








Thương nhớ những hàng cây

https://tuoitre.vn/thuong-nho-nhung-hang-cay-20240512091631695.htm   Nguyễn Thị Hậu Những ngày này ở TP. HCM và nhiều nơi khác , có những ...