Buổi họp mặt của chúng tôi - lớp Sử khóa 1976–1980 của trường Đại học tổng hợp TPHCM - diễn ra trong một phòng học tại ngôi trường cũ. Không nhiều thủ tục nhưng trang trọng và ấm áp, buổi họp mắt tập hợp những người đã có mặt nửa thế kỷ ở thành phố này. Có người mái tóc đã “muối nhiêu hơn tiêu”, có người đi lại khó khăn. Những gương mặt trẻ năm nào giờ in hằn dấu vết thời gian, gặp lại nhau vẫn ồn ào, vui vẻ, thậm chí tinh nghịch như thời chúng tôi mới bước vào giảng đường đại học.
Năm 1976, đất nước vừa thống nhất, từ nhiều tỉnh thành chúng tôi thi vào
Khoa Sử trường Đại học Văn khoa, sau này trở thành Đại học Tổng hợp TP.HCM và
nay là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM. Hơn
150 sinh viên của lớp Sử khóa ấy có người từ miền Bắc mới vào Nam lần đầu. Có
người từ miền Trung đi tàu mấy ngày mới tới. Rất nhiều anh vừa rời quân ngũ, nguyên
bộ quần áo lính bước vào giảng đường với tuổi đời lớn hơn bạn học vài năm và
những ký ức chiến tranh chưa kịp nguôi ngoai.
Thời đó thành phố này có nhiều điều rất khác bây giờ. Những con đường chưa
chật kín xe hơi xe máy như bây giờ, đường Tôn Đức Thắng còn những hàng cây cổ
thụ rợp bóng mát. Ngôi trường chỉ có một toà nhà 3 tầng xây từ thời Pháp và 2
dãy nhà thấp. Sinh viên sống ở ký túc xá hay ở cùng gia đình cũng đều khó khăn chật
vật. Ngày học hai buổi thì mang theo cơm đựng trong lon guy gô, có khi buổi
trưa chỉ có ổ bánh mì chia nhau. Những khi các thầy cô từ Đại học tổng hợp Hà
Nội vào giảng dạy, sinh viên cả mấy khoá ngồi học chật kín giảng đường lớn, chăm
chú nghe không biết đã chuông hết giờ. Người học sử ngày ấy không nghĩ nhiều
đến lợi ích nghề nghiệp hay danh vị, chúng tôi học với niềm tin giản dị rằng
đất nước vừa thống nhất cần tri thức để dựng xây tương lai.
Thời gian trôi đi nhanh, chớp mắt đã 50 năm. Sau khi tốt nghiệp phần lớn sinh
viên lớp tôi nhận công tác ở các tỉnh thành trong cả nước, nhiều người trở về
quê hương, một phần ở lại TP.HCM. Họ đã lập gia đình ở đây, sinh con đẻ cái,
làm việc rồi nghỉ hưu, và thành phố này từ nơi xa lạ đã thành quê hương thứ
hai. Có người trở thành nhà giáo, nhà nghiên cứu, cán bộ văn hóa, nhà báo, cán
bộ quản lý… Có người lặng lẽ làm một công việc bình thường nhưng nuôi con thành
đạt, sống tử tế và tận tụy như chính cách thế hệ chúng tôi từng được giáo dục. Điều
xúc động nhất trong buổi họp mặt không phải là những lời phát biểu trang trọng,
mà là những câu chuyện nhỏ về tình bạn, việc học hành, sinh hoạt lớp được kể
lại. Nửa thế kỷ đủ dài để một khoá sinh viên với bao buồn vui, hạnh phúc và cả
những mất mát… trở thành một phần ký ức của thành phố.
Trong những câu chuyện về TP.HCM hôm nay thấp thoáng nỗi băn khoăn về sự “hiện
đại hoá” nhanh chóng. Là những người đã chứng kiến thành phố lớn lên từng ngày:
từ thời bao cấp thiếu thốn sang thời mở cửa sôi động, từ những khu nhà cấp 4 thành
khu đô thị nhà cao tầng và biệt thự, từ một đô thị sông nước còn mang nhiều dấu
vết Sài Gòn xưa sang một siêu đô thị đang phát triển hạ tầng với tốc độ chóng
mặt… Chúng tôi vui mừng khi thấy thành phố năng động hơn, đời sống khá hơn, nhiều
cơ hội mở ra cho các thế hệ trẻ. Nhưng bên cạnh đó còn một cảm giác tiếc nuối. Có
người nói rằng thành phố bây giờ giàu sang hơn, hiện đại hơn nhưng cảnh quan quen
thuộc dần biến mất, cuộc sống vội vã quá nên con người không kịp tạo ra ký ức.
Trong cuộc đua phát triển, thành phố đã không kịp giữ lại nhiều chứng tích lịch
sử - văn hoá của chính mình.
Điều mất mát ấy khiến những người học sử cảm nhận rõ hơn ai hết. Bởi vì, thế
hệ sinh viên chúng tôi được các thầy cô truyền lại rằng, học lịch sử không chỉ
để nhớ lại quá khứ, mà còn để hiểu rằng một thành phố, một đất nước nếu chỉ
phát triển bằng tốc độ kinh tế thì sẽ có lúc đánh mất chiều sâu văn hoá của nó.
Một đô thị lớn không chỉ cần những tòa nhà bê tông hay công trình hoành tráng,
mà còn cần ký ức, bản sắc và sự gắn bó của con người với nơi họ sống.
Trong buổi họp mặt, có người nói vui rằng lớp Sử năm xưa giờ ai cũng trở
thành “nhân chứng lịch sử”, nghĩ kỹ thì đúng thật. Chúng tôi đã sống xuyên qua
những biến động lớn nhất của đất nước hiện đại: chiến tranh, hòa bình, thời bao
cấp, đổi mới, đô thị hóa và hội nhập. Mỗi người là một mảnh ghép ký ức của thời
đại. Có lẽ vì vậy mà ở tuổi trên dưới bảy mươi, điều chúng tôi quan tâm hơn là
một thành phố đáng sống không chỉ là nơi có tăng trưởng kinh tế cao, mà còn là
nơi con người cảm thấy bình an, là nơi ký ức của mọi người đều được trân trọng.
TP.HCM hôm nay rộng lớn và hiện đại hơn rất nhiều so với năm 1976. Nhìn kỹ
vào hành trình của nó sau ngày thống nhất, sẽ thấy trong đó có dấu chân của
biết bao người nhập cư như lớp Sử khóa ấy. Họ đến từ nhiều miền quê khác nhau,
mang theo giọng nói, lối sống khác nhau, rồi cùng góp phần tạo nên diện mạo của
thành phố này bằng lao động, tri thức và cả sự gắn bó bền bỉ của đời sống
thường ngày. Có lẽ đó cũng là một đặc điểm rất riêng của Sài Gòn – TP.HCM:
thành phố luôn mở lòng với những người đến đây để sống và cống hiến. Và rồi
chính những con người ấy, sau nhiều năm đã xem nơi này như quê hương thật sự
của mình.






















