MÙA XUÂN SÀI GÒN RẤT GẦN VÀ BÌNH YÊN

 Tản văn, Nguyễn thị Hậu

Một buổi sáng cuối năm tôi ngồi trong quán cà phê quen thuộc. Quán nhỏ trong con hẻm vắng, không bày biện “Mừng giáng sinh” hay “Chúc mừng năm mới”, không nhạc xuân rộn ràng như nhiều quán lớn mặt tiền đường phố, chỉ có mùi thơm cà phê, vài chiếc bàn gỗ đã sẫm màu theo năm tháng. Nhưng tôi vẫn thấy mùa xuân đang đến, không phải ở cảnh sắc ngoài phố mà trong cảm giác bâng khuâng của lòng người.

Sài Gòn có nhiều quán cà phê như thế, không nổi tiếng nhưng luôn là nơi người ta tìm đến để ghi dấu một chuyến đi, ghi nhớ một câu chuyện, thương nhớ một con người. Chỉ là một con hẻm trên con đường có hai hàng cây sao cao vút, tán không còn đều, rễ đội lên mặt vỉa hè những vết nhăn thời gian. Buổi sáng xe cộ vẫn ồn ào qua lại, cả ngày cũng chẳng khi nào vắng. Con hẻm nhỏ cũng như cả thành phố này, cuộc sống ở đây không phô bày, nó sống động, bình thản và giản dị.  Sống ở Sài Gòn đã 50 năm, tôi luôn nhận ra mùa xuân ở Sài Gòn hiếm khi được nhận ra bằng thời tiết. Nó không đến bằng cái rét cuối cùng hay những đợt nắng ấm đầu tiên. Xuân đến bằng tín hiệu rất mỏng: buổi sáng nào đó bước chân ra đường phố, bỗng một cảm giác bồi hồi là lạ rất khó gọi tên, như thành phố chợt chậm lại một nhịp thở sau một năm dài sôi động.

Vào buổi sáng như sáng nay, quán cà phê vẫn như mọi ngày nhưng đã nghe mùa xuân ghé vào quán nhỏ, tạo nên một nhịp điệu rất riêng. Người ra vào không vội, câu chuyện cũng không cần kết thúc. Mỗi người ngồi đó đều như đang tạm dừng trong “khoảng giữa” năm cũ và năm mới, giữa điều đã qua và điều chưa kịp tới. Tôi nhận ra, mùa xuân có lẽ đã “chạm” vào mỗi người chính ở khoảng giữa ấy. Mỗi lần ngồi trong quán cà phê quen tôi đều nghĩ rằng, Sài Gòn chính là những quán cà phê như thế này. Không cần trang trí theo mùa, không cố tái tạo vẻ cổ xưa cũng không quá hào hứng với cái mới. Nó để mọi thứ cùng tồn tại một cách tự nhiên. Bàn cũ đứng cạnh bàn mới, người trẻ ngồi bên người già, khách mới trò chuyện cùng khách quen… Ký ức và hiện tại không tranh giành không gian, chỉ lặng lẽ đan xen vào nhau, chồng xếp lên nhau. Sài Gòn đã được “giữ lại” bằng cách đó.

Vào khoảng thời gian giao mùa, năm cũ gần qua năm mới đang đến, nhiều thành phố chào đón bằng lễ hội, bằng bông hoa trang trí rực rỡ và những náo nhiệt thúc giục người ta đổ ra đường phố... Nhưng Sài Gòn luôn đón xuân bằng thói quen uống cà phê mỗi sáng, thói quen ghé quán quen trước khi bắt đầu một ngày mới, thói quen ngồi yên vài phút giữa dòng chảy vội vã của đô thị. Mùa xuân ở Sài Gòn vì thế không làm người ta quá nôn nao mà làm lòng người mềm lại. Sau một năm bươn chải, người ta cho phép mình chậm hơn một nhịp, cho phép mình nhớ lại những việc đã qua, những điều chưa kịp làm, những dự định từng được viết ra rồi gấp lại. Nhưng nghĩ đến những điều ấy lúc này không thấy nặng nề. Ngồi quán cà phê lúc này, dễ tha thứ. Tha thứ cho những chậm trễ, cho những thiếu sót, cho cả những giấc mơ chưa kịp gọi tên. Xuân làm người ta nhân ái hơn với chính mình, với mọi người.

Tôi ngồi lắng nghe con phố dài xao xác lá ngoài kia, nhận ra, dù Sài Gòn đổi thay từng ngày nhưng có những thứ rất khó mất, như cách người ta chào nhau bằng ánh mắt, bằng nụ cười, bằng lời nhắc nhau trên đường, bằng câu xin lỗi, cám ơn. Tất cả điều đó mang lại cảm giác rằng dù thành phố có lớn đến đâu thì mỗi người vẫn có một chỗ để quay về. Đô thị nào cũng phát triển, cũng phức tạp khó lường, nhưng không phải đô thị nào cũng như Sài Gòn, giữ được những khoảng dừng cho từng con người khi thành công và cả khi thất bại. Những quán cà phê quen thuộc chính là một khoảng dừng như thế. Ở đó, người ta không cần phải trở thành ai khác, không cần phải nhanh hơn, giỏi hơn hay mới hơn. Chỉ cần ngồi xuống, gọi một ly cà phê, và để thành phố đi ngang qua chính mình.

Mỗi năm, mùa xuân ghé lại những quán nhỏ ở thành phố này, khẽ khàng, dịu dàng. Không báo trước không gõ cửa, chỉ ngồi xuống cạnh bạn giữa tiếng thìa chạm vào ly và tiếng xe ngoài đường phố. Chỉ chạm nhẹ vào bạn bằng hơi gió dịu mát để nhắc rằng một năm nữa sắp bắt đầu. Mùa xuân không đòi hỏi bạn phải đổi mới, nó chỉ cần bạn đủ mở lòng. Và thế là ta chợt thấy lòng nhẹ đi một chút. Chỉ một chút thôi, đủ để tin rằng năm mới luôn đáng để chúng ta bước tiếp.

Trên những con đường khắp Sài Gòn vẫn luôn sống động, vội vã mà vẫn ung dung. Người giao hàng dừng xe trước tiệm tạp hoá đầu hẻm. Một bà cụ bán vé số ngồi nép dưới tán cây. Quán hủ tiếu bên đường đang đông khách… Thành phố không đợi Tết để nhộn nhịp, cũng không thúc giục người ta bước sang năm mới. Nó cứ đi, đều đặn và bền bỉ, như cách nó đã đi suốt hàng trăm năm qua, dung chứa đủ mọi nhịp sống, đủ mọi phận người.

Khi ly cà phê cạn dần, tôi đứng lên và bước ra đường. Thành phố vẫn thế, không khác buổi sáng hôm qua, không khác những buổi sáng đã qua, nhưng lòng người thì đã nhẹ hơn một chút. Mùa xuân đến mang lại cho người Sài Gòn cảm giác chờ đợi những cuộc đoàn tụ, gặp gỡ và kết nối... Sài Gòn vào xuân không ồn ào, không hứa hẹn mà là sự bình an để người ta tin rằng, mình có thể bước tiếp chậm rãi nhưng vững vàng, trong một năm mới đang chờ phía trước.

Ở Sài Gòn, đôi khi ta chỉ cần một khoảnh khắc giao hòa giữa hương thơm ly cà phê, hơi gió chướng rất nhẹ và ý nghĩ phiêu lãng rất riêng. Ấy là mùa xuân đã đến trong lòng mình trước khi hiện diện trên thành phố. Đó là một đặc ân mà Sài Gòn luôn rộng rãi mang đến cho mỗi người.

Sài Gòn 5.1.2026




For the day after Valentine's day

 (1)

Họ thường xuyên liên lạc với nhau nên nó có thói quen khi xem đồng hồ luôn cộng thêm 1, vì đó là giờ nơi anh ở. Những số giờ cộng 1 làm cho thời gian trôi nhanh hơn, họ như gần nhau hơn. 

Một ngày khi xem đồng hồ nó chợt nhớ ra bây giời thời gian nhanh chậm không còn ý nghĩa gì nữa, dù anh vẫn ở nơi đấy thôi. Bây giờ 12 giờ chỉ là 12 giờ.


(2)
Nhiều năm sau cô trở lại Paris. Ở cầu tình yêu cô không sao tìm thấy ổ khóa của anh và cô ngày trước. Có lẽ nó đã bị lấy đi để nhường chỗ cho khóa của những cặp tình nhân khắp thế giới đến đây mỗi ngày.
Cô lại khóa vào cây cầu một chiếc khóa mới, chìa khóa không vứt xuống sông Seine mà cẩn thận lồng sợi giây và đeo vào cổ. Đây là khóa cô dành cho Paris, thành phố của mối tình đã qua…

(3)

Bây giờ cái gì cũng cần mật khẩu: thẻ tín dụng, máy tính, điện thoại, tài khoản ngân hàng, email, mạng xã hội... Dùng nhiều thì mật khẩu thuộc lòng. Ít dùng sẽ quên mật khẩu, có khi phải phải đổi mật khẩu để bảo mật.
Một ngày cô đột ngột ra đi. Nhìn căn nhà trống vắng anh chợt nhận ra từ lâu mình đã quên “mật khẩu” đăng nhập vào trái tim cô.
Đơn giản chỉ là “anh yêu em”.

(4)
Rất lâu rồi vợ chồng hình như chẳng còn nói lời ngọt ngào với nhau. Một ngày kia theo trò chơi của bạn bè, cô lấy điện thoại nhắn cho chồng “Em yêu anh!”. Nhớ lại "mật khẩu" ngày xưa của hai người cô bỗng bồi hồi...
Chồng trả lời ngay “Làm sao thế, điên à? Hay nhắn nhầm cho thằng nào?!”
Cô giật mình, tưởng vừa đăng nhập sai tài khoản.

(5)

Cửa hàng bán những chiếc bình đẹp bằng pha lê và thủy tinh. Bình thủy tinh bán chạy hơn vì nhìn cũng giống pha lê, nhưng giá rẻ, vỡ cũng không tiếc.
Ít người mua bình pha lê, nhưng đã mua thì giữ gìn cẩn thận, không chỉ vì đắt tiền mà vì hiểu giá trị hoàn mỹ của bình pha lê như một tác phẩm nghệ thuật.
Tình yêu như pha lê còn những gì giống như tình yêu chỉ là thủy tinh.

#truyen100chu for the day after Valentine's day 🙂



NHỮNG MẢNH VỠ [không dành cho các bạn đang yêu :) ]

 Cà phê không đường

Tôi hay đến quán nhỏ gần một ngã tư, ngồi một mình, lặng lẽ với cảm giác bình yên, ly café không đường để lại một dư vị thật ngọt ngào…

 Rồi em đến. Em đã phá vỡ không gian riêng tư của tôi bằng những vần thơ mềm mại đến nao lòng… Tưởng như em và tôi, chúng ta có thể bên nhau đi đến cùng trời cuối đất.

Để khi em ngập ngừng không dám cùng tôi uống ly café không đường của cuộc sống, quán cũ chiều nay café bỗng dưng đắng ngắt.

Không đề

Trời mưa. Cô mơ màng: bây giờ ngồi quán với một cốc cà phê sữa nóng và nghe nhạc thì tuyệt. Anh lắc đầu: trời mát thế này nhậu thịt chó mắm tôm là nhất!

… Thế là tan vỡ một mối tình!

……..

 Vợ chồng “khắc khẩu”, bất cứ chuyện gì cũng biến thành cuộc đấu khẩu triền miên.

Rồi họ ly dị. Rồi cả hai đều lấy người khác “hợp khẩu” hơn.

Từ đấy đứa con trở nên khắc khẩu với cả cha và mẹ nó.

MÙA ĐÔNG ẤM ÁP

Dự báo thời tiết: mùa đông năm nay sẽ ấm hơn mọi năm. Anh mừng lắm: cuối năm ra công tác chắc em sẽ không bệnh vì lạnh như mọi lần nữa.

Giữa tháng chạp em ra Hà Nội, mang theo thiệp hồng từ vùng nắng ấm.

Mùa đông năm nay với anh không còn những ngày ấm áp…

Sống mòn

Chiều cuối năm. Quán nhỏ, ly café đen nguội, ly café đá tan hết. Họ chỉ yên lặng. Cuối cùng:

- Anh hãy dịu dàng hơn với cô ấy nhé. Đàn bà chúng em yêu bằng tai mà.

Chị mỉm cười nhưng lòng anh nhói đau.

- Em cũng đừng cả nghĩ nhé. Đàn ông bọn anh ai cũng có lúc vô tâm.

Chị nhìn lá rơi ngoài kia qua đôi vai mệt mỏi của anh.

Chị về, biết mình sẽ đếm thời gian.

Anh đứng đó, nhìn theo ngút mắt.

KHÓA TÌNH YÊU

Cầu cũ chi chít những chiếc khóa nhiều lọai nhiều màu. Chàng và nàng trịnh trọng bấm ổ khóa có khắc tên hai người vào thành cầu, chìa khóa – theo phong tục – được vứt xuống sông. Họ thề thốt: không ai có thể chia lìa hai ta.

Nhưng chỉ vài tháng sau họ chia tay. Lý do: bữa đó vứt nhầm chùm chìa khóa nhà nên cãi nhau mãi vì chuyện ấy. Bèn ra cầu vứt nốt chìa khóa tình yêu xuống sông rồi đường ai nấy đi.

Vết đau

Hồi yêu nhau. Có lần gọt trái cây cho nàng, anh bị đứt tay. Nàng mặt mày tái mét, ôm cả cánh tay anh hốt hoảng  đòi đưa đi … bác sĩ!

Lấy nhau rồi. Một lần thấy tấm hình cưới sắp bị rớt, anh mang búa đinh ra sửa. Loay hoay búa đập vào tay. Máu tóe ra. Anh xúyt xoa nhờ nàng lấy giùm bông băng, nàng bực bội: Sao anh vụng thế! Chồng với chả con!

Vết đứt tay ngày xưa giờ bỗng thấm đau, đau thấy 36 ông trời!

Cầu Ô thước

Trước khi anh đi công tác xa họ tổ chức đám cưới đúng vào tháng bảy âm lịch. Cha mẹ hai bên lo lắng vợ chồng họ sẽ như “Ngưu lang Chức nữ”. Họ cười, bây giờ có internet, email, chát chit, điện thọai, webcam… có xa xôi gì đâu khi hàng ngày gặp nhau trên mạng?

 Vài năm qua. Anh trở về. Sống chung dưới một mái nhà mà bỗng nghe xa ngái…

Chẳng ai muốn bắc Cầu Ô thước dù đã nhiều tháng bảy mưa ngâu…

VỈA HÈ 

Vỉa hè quán café quen vừa được lát gạch. Những viên gạch vuông màu đỏ sẫm được xếp cạnh nhau tạo thành hoa văn sặc sỡ vui mắt. Nhưng chỉ được vài bữa nhiều viên gạch đã bong tróc, khập khiễng, rồi vỡ mẻ. Ông chủ quán bảo: họ làm ẩu lắm, lát gạch mà chỉ có cát và chút xíu xi măng…

… Ngẫm lại, anh và em, và những mối quan hệ của chúng ta cũng giống như những viên gạch trên cái vỉa hè nọ mà thôi…

Một số truyện 100 chữ của tôi trích từ tập truyện NGẮN & RẤT NGẮN 




TRẠM DỪNG, ĐỂ RỒI BƯỚC TIẾP

 Tản văn, Nguyễn Thị Hậu

 

Những ngày cuối năm, nhịp sống ở đâu cũng hối hả hơn. Các cơ quan, công ty chạy nước rút những kế hoạch chỉ tiêu, dòng xe cộ trên đường phố cũng đông hơn vội vã hơn... Ai cũng cảm thán “nhanh quá, mới đó đã sắp hết một năm”, nhưng không thể “chậm lại” một giây, dường như tất cả đều bị mọi thứ xung quanh cuốn đi không sao cưỡng lại được...

Vậy nhưng ai cũng có lúc nhìn lại một năm đã qua của mình. Phút lắng lòng bên ly cà phê buổi sáng, ngồi một mình để cảm nhận khoảng thời gian chậm như từng giọt cà phê, sau đó tiếp tục ra đường với bao công việc đang chờ. Hay lúc đêm về, đối diện với màn hình máy tính dày đặc các files công việc trong năm, chợt thấy mỗi file như một sự kiện của cuộc đời, có việc đã khép lại, có việc còn dở dang không biết bao giờ mới có thể kết thúc... Thường xuyên hơn là khoảnh khắc “dừng lại” khi mỏi mệt lúc cô đơn mỗi ngày. Những giây phút như thế tựa như một “trạm dừng” của cuộc đời, dù muốn hay không ai cũng đã trải qua.

Đó có thể là trạm thất bại, khi một cánh cửa tưởng như chắc chắn bỗng khép lại. Lúc ấy, ta đứng giữa khoảng trống, nhìn con đường mình tin là đúng bỗng trở nên mơ hồ. Dừng ở trạm này, nhiều người mới hiểu: thất bại không lấy đi điều gì, nó chỉ buộc ta bỏ những ảo tưởng không cần thiết. Có sự đổi hướng quan trọng trong đời không đến từ can đảm, mà đến từ việc chấp nhận mình đã sai. Có thể trạm mất mát. Đó là khi một người ra đi, khi một mối quan hệ kết thúc, khi một phiên bản quen thuộc của chính mình không còn nữa. Ở trạm ấy thời gian không chữa lành ngay, nhưng chính trong những ngày tưởng như không thể đi tiếp, ta học được cách sống chậm hơn, nói ít hơn và nghe nhiều hơn. Dừng lại ở trạm thất bại hay mất mát, con người không mạnh lên theo cách dễ nhận biết, mà sâu hơn là một sự vững vàng trong tâm hồn.

Rồi có những trạm rất lạ: mọi thứ bên ngoài đều ổn nhưng lòng thì không yên. Công việc ổn định, đời sống không thiếu thốn, vây mà mỗi sáng thức dậy lại có cảm giác trống rỗng khó gọi tên. Đó là trạm lặng, nơi nhiều người chọn cách đi nhanh hơn để quên, thay vì dừng lại để nhớ. Nếu đủ can đảm ở lại trạm này sẽ phải đối diện với câu hỏi không dễ trả lời: mình đang sống cuộc đời của ai? Câu hỏi ấy, dù đau, lại là khởi đầu của những thay đổi thật sự. Tất cả các trạm dừng ấy, sau đổ vỡ hay thất bại, khi thành công lúc hạnh phúc… đều làm ta suy nghĩ nhiều hơn về việc sẽ đi tiếp như thế nào, bằng cách nào, theo con đường nào để thoát khỏi tình trạng tiêu cực hay để giữ được trạng thái tích cực.

Nhưng trước khi nói đến chuyện đi tiếp, có lẽ ít người tự hỏi: mình đã dừng lại đủ chưa? Bởi vì dừng không chỉ vì mỏi mệt hay phấn khích, mà dừng để nhìn lại mình, để hiểu những gì đã qua không chỉ là chuỗi sự kiện nối nhau một cách vô tình. Đó là những “nhân quả” ở mức độ khác nhau trong cuộc đời mỗi người. Từng có lúc ta đi rất nhanh. Nhanh vì nghĩ rằng không được phép dừng, vì sợ bị bỏ lại, nhanh vì nghĩ rằng thành công chỉ dành cho những ai không ngoái đầu. Nhưng rồi trong hành trình ấy, có những thời điểm buộc ta phải dừng chân, không theo kế hoạch, không báo trước, và cũng không xin phép. Sau “trạm dừng” ấy ta vẫn tiếp tục bước đi, dù lòng đầy hoang mang. Bởi vì sau cả thành công hay thất bại, không ai có thể đứng mãi ở “đỉnh cao hay vực sâu” mà cần phải đi tiếp, bằng một con đường khác, hay ít nhất bằng một cách khác! Đó là chính là “khúc ngoặt” của dòng chảy cuộc đời.

Không phải ai cũng dám dừng. Bởi dừng lại đồng nghĩa với việc nhìn thẳng vào những điều mình né tránh. Nhưng ai đã dừng dù chỉ ở một vài trạm, thường sẽ đi tiếp rất khác. Họ không còn chạy theo mọi lời so sánh, họ chọn kỹ hơn những gì đáng giữ. Họ hiểu rằng không phải thay đổi nào cũng cần ồn ào có những đổi thay chỉ cần đủ lòng trung thực. Dám dừng lại ở một vài trạm không khiến ta chậm hơn người khác mà chỉ giúp ta đi đúng hướng hơn với chính mình. Sự thay đổi đến sau những lần dừng lại thường không phô trương nhưng bền chắc. Ta thay đổi cách làm việc, cách lựa chọn, cách đối xử với người khác, và quan trọng nhất là cách đối xử với bản thân. Sự trưởng thành đến từ những lần dám dừng chân để sau đó vững vàng bước tiếp.

Giữa thời điểm chuyển giao của năm cũ và năm mới, có lẽ điều đáng chúc nhất cho nhau không chỉ là thành công, mà là đủ bình tĩnh để dừng lại khi cần, và đủ can đảm để thay đổi khi đã hiểu mình. Cuộc đời không đòi hỏi chúng ta phải luôn tiến lên hàng đầu” không ngừng nghỉ. Đôi khi nó cần ta dám đứng lại ở một trạm, nhắm mắt lại và hít thở thật sâu, rồi từ từ đi tiếp, với tâm thế nhẹ nhõm hơn, rõ ràng hơn, và có thể mỉm cười với chính mình.

Cuối năm là một trạm đặc biệt, vì nó cho phép ta nhìn lại mà không bị xem là yếu đuối. Trong những ngày ấy nhiều người nhận ra: mình đã được giúp đỡ nhiều hơn mong muốn, đã được bao dung nhiều hơn mình nghĩ, mình đã tử tế hơn mình có thể, nhờ đó đã đi xa hơn những gì từng hy vọng. Nhận ra điều đó, ta bước sang một trạm khác: trạm biết ơn, biết ơn người biết ơn đời. Và ở trạm này con người không còn quá bận tâm chứng minh những điều được mất mà học cách trân trọng hơn với những gì mình đang có!

 

TP. Hồ Chí Minh 20.12.2025







 

Giữ cho lòng nhân trong sáng


            Có những giá trị truyền thống không mất đi, nhưng trong bối cảnh xã hội mới có thể bị thay đổi ít nhiều, nhất là biểu hiện của nó. Lòng nhân ái của người Việt là một giá trị như thế. Trong dòng chảy gấp gáp của đời sống hiện đại và dưới sự soi chiếu của mạng xã hội, chúng ta buộc phải đặt ra một câu hỏi “làm thế nào để lòng nhân ái tiếp tục được nuôi dưỡng và phát triển đúng với bản chất của nó”?

Nhân ái là một truyền thống hơn là một phong trào

Nhân ái trong văn hóa Việt Nam là một truyền thống được truyền từ đời này qua đời khác, bằng lời ăn tiếng nói hàng ngày, bằng những hành xử tử tế khi hữu sự. Lòng nhân ái thường giản dị, thầm lặng, không phô trương, không hô hào lớn tiếng. Nó như dòng sông chảy mãi được tiếp thêm từ những nguồn mạch của đời sống. Sự nhân ái bắt đầu từ lòng trắc ẩn “thương người như thể thương thân”, biết cảm nhận nỗi đau, sự thiệt thòi, biết nhận ra sự thiếu thốn, cùng quẫn của người khác. Từ đó có những chia sẻ nhỏ bé mà ấm áp “một miếng khi đói bằng một gói khi no", bằng thói quen giúp nhau khi “tối lửa tắt đèn”, bằng sự im lặng rất tự nhiên sau mỗi lần cho đi, bằng một nụ cười cảm thông mỗi khi chìa tay giúp đỡ.

Người Việt Nam từ lâu hiểu rằng, giúp người không chỉ là trao đi vật chất, mà còn là giữ gìn cảm giác an toàn và lòng tự trọng người được giúp. Vì thế, lòng tốt thường kín đáo, không cần sự chứng kiến và tung hô của đám đông. Thậm chí, lòng nhân ái còn ngại ngần trước “sự biết ơn” và ca ngợi thái quá, bởi như vậy là biến lòng nhân ái, sự tử tế thành “bất thường”, hạ thấp cả người trao tặng và người tiếp nhận. Vì thế, Nhân ái ở đây là một hành vi văn hóa chứ không phải một hành động khác thường để gây chú ý.

Sự phát triển của công nghệ hiện đại đã mang đến cho lòng nhân ái một không gian mới. Bên cạnh không gian truyền thống là “đời thực”, lòng nhân ái còn hiện diện trên một không gian mới: “mạng ảo mà không ảo”. Chưa bao giờ việc kêu gọi và kết nối sự giúp đỡ lại nhanh và rộng rãi như hôm nay. Chỉ trong một thời gian ngắn, hàng nghìn người xa lạ có thể cùng chung tay vì một hoàn cảnh khó khăn. Nhưng cũng từ đây, những việc làm xuất phát từ lòng nhân ái bắt đầu bước vào “vùng ánh sáng mạnh”: Những con số, hình ảnh, lời kể, sự theo dõi của cộng đồng với nhiều trường hợp khiến lòng nhân ái đứng trước lằn ranh mong manh giữa việc giúp người hoạn nạn với sự thử thách lòng tin của con người. Những câu chuyện gây băn khoăn về hoạt động từ thiện trong thời gian gần đây có thể xem như những “vệt mờ” trong quá trình chuyển biến của “môi trường từ thiện”. Chúng không đủ để phủ nhận truyền thống nhân ái, nhưng đủ để nhắc nhở rằng lòng tốt cũng có thể bị lợi dụng và tổn thương.

Lòng nhân ái trở thành một hiện tượng xã hội luôn được theo sát, đánh giá, so sánh… mà bên cạnh sự khách quan nhìn nhận cũng không thiếu những chủ quan và thiên kiến. Nhận thức được sự thay đổi này thì cả ở người trao tặng sự tử tế và người nhận được đều cần có một ý thức văn hóa cao hơn, ứng xử ăn hóa phù hợp hơn. Bởi vì, điều làm xã hội trăn trở không hẳn là đúng, sai của từng câu chuyện cụ thể, mà là cảm giác bất an: liệu nhân ái có đang bị đặt nhầm chỗ? liệu sự giúp đỡ có còn giữ được sự t tế vốn có? Khi sự nghi ngờ len vào cả những hành động thiện chí, khi lòng tốt liên tục bị đòi hỏi phải tự chứng minh, thì đó là dấu hiệu cho thấy niềm tin vào lòng nhân ái đang bị lung lay, cần được bảo vệ và chăm sóc lại.

Lòng nhân ái là niềm tin vào con người

Lòng nhân ái ở người Việt Nam không chỉ là đạo đức mà đó còn là một cơ chế tự bảo vệ xã hội, được hình thành qua quá trình lịch sử luôn phải đối phó với thiên tai, chiến tranh và đói nghèo. Hàng ngàn năm trôi qua với bao cơn lũ lụt bao kỳ hạn hán, hàng chục cuộc chiến tranh kéo dài ác liệt gây ra bao biến động xã hội, nền kinh tế nông nghiệp chịu rủi ro cao trước sự bất thường của thời tiết... Trong bối cảnh đó không có lòng nhân ái thì cộng đồng không thể tồn tại được, bởi vì giúp người hôm nay” cũng là “cứu mình ngày mai”. Lòng nhân ái không viển vông trìu tượng xuất phát từ thực tế và có giá trị thực tiễn.

Là “bản năng cộng đồng” nên truyền thống nhân ái tồn tại bền bỉ qua những biến động lịch sử. Mỗi xã hội đều có những giá trị cần được bảo vệ bằng sự tỉnh táo và công bằng. Với người Việt Nam, nhân ái là một giá trị quý giá như vậy. Giữ cho lòng nhân ái được bình yên vì nó không cần được thổi phồng hay tô màu lòe loẹt, cần được trả về đúng không gian văn hóa của mình: lặng lẽ, bền bỉ và chân thành. Tuy nhiên, để ngăn ngừa và loại trừ một vài cá nhân đã lợi dụng hoàn cảnh và niềm tin của các nhà hảo tâm, lòng nhân ái cũng cần có những “điều kiện” nhất định để đảm bảo cho lòng nhân không bị biến dạng và giữ vững niềm tin vào con người: Trong thời đại internet, lòng nhân ái cần là hành xử trên nền tảng văn hóa và luật pháp của nhà nước, không chỉ là cảm xúc bộc phát, nhất thời.

Có lẽ it người nói điều này, đó là hành xử nhân ái là để người được giúp không thấy mình bị mang ơn mắc nợ, nhưng ngược lại cũng không nên coi sự giúp đỡ mình là “đương nhiên”, là nghĩa vụ của người khác. Người tốt dễ mở lòng nhưng rất nhạy cảm với sự giả dối, họ sẵn sàng giúp đỡ nhưng không ai muốn không bị lợi dụng, không chấp nhận bị coi thường. Đặc biệt, những người “trung gian” giữa người giúp và người được giúp càng cần lòng trung thực và sự minh bạch. Họ là cây cầu nối của những tấm lòng, vì vậy nếu cây cầu “mục nát” thì hậu quả khôn lường! Khi lòng tốt của cộng đồng bị biến thành công cụ đánh bóng tên tuổi cá nhân hay một tổ chức nào đó, khi nỗi đau của người khác bị biến thành công cụ kiếm lợi bất chính thì xã hội sẽ phản ứng. Sự “khủng hoảng niềm tin” làm xã hội có những phản ứng khôn lường.

***

Lòng nhân ái là giá trị và hành xử cần được bảo vệ chứ không chỉ được ca ngợi. Nó cần được nuôi dưỡng bằng sự tử tế chứ không bằng lời tung hô. Sau những ngày thiên tai nặng nề ở miền Trung vừa qua, khi nhìn lại những hoạt động cứu trợ của xã hội, có lẽ điều dễ nhận thấy nhất là lòng nhân ái của nhân dân ta vẫn vẹn nguyên và trong sáng, thực sự là một di sản quý báu! Giữ cho nhân ái được trong sạch bắt đầu từ niềm tin vào con người, đó không chỉ là trách nhiệm của những tổ chức hay cá nhân làm từ thiện, mà là trách nhiệm và văn hóa ứng xử của cả cộng đồng. Bởi một xã hội mất niềm tin vào lòng tốt là một xã hội đang nghèo đi về nhân cách!

  Nguyễn Thị Hậu

BÁO XUÂN BÍNH NGỌ 2026 NGƯỜI LAO ĐỘNG




 

TRƯỚC TẾT VỀ VỚI CỘI RỄ

https://tuoitre.vn/truoc-tet-ve-voi-coi-re-2026020808104696.htm 

Năm nào cũng vậy, khoảng sau rằm tháng chạp là gia đình tôi luôn nhắn hỏi nhau: ngày nào cùng đi tảo mộ. Đi tảo mộ là về quê viếng mộ ông bà nội ngoại, đến nhà thờ họ thắp nhang, rồi mới về viếng ở nghĩa trang thành phố, nơi có các bác, ba má tôi và nhiều người khác trong gia đình.

Khác với bối cảnh nông thôn, nơi nghĩa địa thường tồn tại ổn định, gắn bó lâu dài với cộng đồng cư trú, tại các thành phố nhiều nghĩa địa đã di dời, thu hẹp hoặc chuyển đổi công năng để phát triển đô thị. Quá trình này, dưới góc độ sinh hoạt văn hóa tinh thần, đã kéo theo những đứt gãy đáng kể trong thực hành nghi lễ và ký ức không gian của cộng đồng. Dù vậy, lễ tảo mộ trước Tết vẫn được duy trì như một thực hành văn hóa bền bỉ, có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì tình cảm gia đình và cộng đồng. Đây không chỉ là một phong tục truyền thống, mà còn là một “cơ chế ký ức” giúp con người đô thị kết nối với nguồn cội trong điều kiện không gian sống và điều kiện sinh hoạt ngày càng phân tán.

Từ nhiều năm nay nhịp sống thành phố ngày càng bận rộn, thời gian trước Tết luôn là những ngày sôi động nhất vì bộn bề công việc cuối năm. Ngày tảo mộ ở thành phố thường được “linh động” thực hiện vào ngày cuối tuần. Vào dịp này, các nghĩa trang luôn đông người lui tới, nhất là vào buổi sáng. Các nghĩa trang cũng được dọn dẹp sạch sẽ, khang trang, có nơi còn trưng bày hoa làm cho không gian ấm áp hơn. Giữa không khí cuối năm hối hả, lễ tảo mộ như một điều nhắc nhở: có những đời người đã đi qua, có ông bà cha mẹ để mình có mặt hôm nay. Cảm giác đó mang lại cảm giác ấm áp như ngày nào còn được ngồi bên ông bà, cha mẹ và người thân.

Khi đứng trước ngôi mộ của ông bà cha mẹ, thời gian bỗng đi chậm lại. Mọi lo toan của một năm dài dừng lại nhường cho sự tưởng nhớ những người thân yêu. Khi sửa sang lau dọn phần mộ là lúc mọi người lại nhớ những câu chuyện lúc ông bà, cha mẹ còn sống, cả những câu nhắc nhở hay rầy la của họ... Khi đó, dường như ai cũng lặng thầm soi lại chính mình xem đã sống thế nào. Có khi trong vô thức cũng “tự kiểm”, rằng vừa rồi mình làm chuyện này việc kia không đúng, nếu còn cha mẹ sẽ nói sao? Vì vậy, tảo mộ trước Tết không chỉ là một nghi lễ, mà là cách mỗi người khép lại năm cũ bằng cách trở lại với cội rễ, với đạo đức gia đình, để thêm sức mạnh tinh thần bước vào năm mới vững vàng hơn, tốt đẹp hơn.

Lễ tảo mộ có thể được xem là một nghi lễ trong khoảng thời gian ranh giới giữa năm cũ và năm mới, giữa đời sống thường nhật và thế giới của tổ tiên. Việc đến các nghĩa trang để thăm viếng người nhà hay để tưởng nhớ những người có công với đất nước chính là thể hiện sự tái lập ký ức trong bối cảnh hiện đại, nhất là ở các thành phố. Những nghĩa trang không chỉ là nơi nằm lại của thế hệ trước mà còn là một “không gian lưu trữ ký ức”, nơi lịch sử gia đình được khắc ghi bằng tên họ, niên đại và các câu chuyện truyền miệng luôn được “tái bản” trong mỗi lần tảo mộ. Tảo mộ cho thấy gia đình không chỉ là quan hệ huyết thống, mà là đơn vị bảo tồn văn hóa. Giữ được gia phong, ký ức gia đình cũng là một dạng gìn giữ di sản.

Trong xã hội đô thị hiện nay, lễ tảo mộ trước Tết còn như một sự “đề kháng văn hóa, khi mà các nghi lễ truyền thống luôn có nguy cơ lu mờ, biến mất trong quá trình hiện đại hóa. Nhất là trong thời đại của AI, khi mà nhiều hành vi của con người hoàn toàn có thể thay thế bởi AI, thì nghi lễ tảo mộ vẫn đòi hỏi sự hiện diện thân thể của mỗi con người, sự tham gia trực tiếp và cảm xúc của từng gia đình. Chính yếu tố đó giúp ký ức không bị trừu tượng hóa mà tiếp tục tồn tại như một trải nghiệm sống, truyền thống gia đình, truyền thống dân tộc được duy trì bền vững.

Tảo mộ trước hết là để tưởng nhớ những người đã khuất, nhưng tục lệ này còn là một thực hành văn hóa giúp người còn sống trở nên hướng thiện và tốt đẹp hơn. Bởi vì khi đứng giữa quá khứ và hiện tại, giữa đời sống cá nhân và ký ức tập thể (gia đình, cộng đồng), những gì tốt đẹp luôn được nhắc đến, luôn được coi là một trách nhiệm và nghĩa vụ của con cháu đối với ông cha.  

Nguyễn Thị Hậu






 


MÙA XUÂN SÀI GÒN RẤT GẦN VÀ BÌNH YÊN

  Tản văn, Nguyễn thị Hậu Một buổi sáng cuối năm tôi ngồi trong quán cà phê quen thuộc. Quán nhỏ trong con hẻm vắng, không bày biện “Mừng...