DI SẢN CHIẾN TRANH LÀ CỦA AI (HAY LÀ VIỆC NHÌN LẠI LỊCH SỬ)


Bộ phim “Battle of little bighorn” chiếu trên kênh National Geographic kể về việc tìm hiểu một sự kiện lịch sử nước Mỹ, từ những gì có trong bảo tàng và cả những gì đang lưu giữ ngoài bảo tàng: ký ức, lễ hội phục dựng sự kiện, về cá nhân những người lãnh đạo sự kiện ấy và hậu duệ của họ, những nguyên nhân sâu xa, những sự việc tưởng không liên quan trực tiếp đến sự kiện.
1.
Trận chiến Little Bighorn là một cuộc giao tranh vũ trang giữa các lực lượng phối hợp của người Lakota Sioux và các bộ lạc Arapaho và Trung đoàn Kỵ binh số 7 của Quân đội Hoa Kỳ. Trận chiến dẫn đến sự thất bại của lực lượng Hoa Kỳ, diễn ra vào ngày 25–26 tháng 6 năm 1876, dọc theo Sông Little Bighorntrong Khu dành riêng cho người da đỏ Crow ở đông nam Lãnh thổ Montana. Cuộc chiến là một chiến thắng áp đảo cho Lakota, Bắc Cheyenne và Arapaho, do một số Thủ lĩnh như Crazy Horse và Chief Gall lãnh đạo. Kỵ binh số 7 của Hoa Kỳ, một lực lượng gồm 700 người, do George Armstrong Custer chỉ huy đã thất bại nặng nề và Custer bị giết.
Trong những thập kỷ sau đó, Custer và quân đội của ông luôn được coi là những nhân vật anh hùng trong lịch sử Hoa Kỳ. Đài tưởng niệm Quốc gia Chiến trường Little Bighorn vinh danh những người đã chiến đấu ở cả hai phía. Tuy nhiên cho đến ngày nay trận chiến này và đặc biệt là hành động của Custer, vẫn được các nhà sử học nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân thất bại của quân đội Hoa Kỳ dưới sự chỉ huy của vị chỉ huy “chưa từng thua trận” George Armstrong Custer. Những gì được ghi chép, được trở thành “truyền thuyết”, kể cả những gì hiện diện trong bảo tàng, ở nơi tưởng niệm… liệu có phải là sự thật? hay sự thật là bao nhiêu phần trăm từ những gì hiện nay người ta biết về trận chiến này?
2.
Đầu tiên “nhà sử học” - cũng là “người dẫn chuyện” - đi theo những ghi chép lịch sử như đã nêu vắn tắt ở trên. Không thỏa mãn vì không tìm ra nguyên nhân giải thích một cách hợp lý thất bại to lớn và “kỳ lạ” của quân đội Hoa kỳ, nhà sử học tìm hiểu/tiếp cận từ những hướng khác. Đầu tiên ông đến di tích “chiến trường” xưa. Nơi này được bảo tồn nguyên vẹn cảnh quan, trở thành một địa điểm kỷ niệm với tượng đài và lễ hội liên quan, thu hút rất đông khách tham quan hàng năm. Vào ngày kỷ niệm trận chiến diễn ra nhà sử học đã tham gia vào Lễ hội phục dựng lại trận chiến ngay tại đây. Đây là lễ hội được cộng đồng cư dân địa phương sáng tạo và duy trì từ rất lâu, xuất phát từ lòng ngưỡng mộ vị chỉ huy tài danh George Armstrong Custer.
Tại lễ hội, người ta sử dụng quân trang quân dụng được phục chế đúng như hiện vật trong bảo tàng, phục dựng một phần trình chuẩn bị cho trận chiến để làm tăng “cảm thức xác thực” của người tham gia và tham dự sự kiện. Từ phía đội quân người Crow, cũng theo lễ hội được phục dựng, họ tổ chức một truyền thống nghi lễ lâu đời được gọi là Vũ điệu Mặt trời là sự kiện tôn giáo quan trọng nhất trong năm nhằm tiếp nhận những gì Thần linh báo trước.
Tiếp đến, nhà sử học tìm hiểu về bản thân George Armstrong Custer từ những gì lưu trữ trong bảo tàng. Ông nhận thấy đó là một có tính cách mạnh mẽ, vị chỉ huy quân đội tài giỏi, quyết đoán, nhưng cũng kiêu ngạo và coi thường ý kiến của người khác. Rồi nhà sử học tìm hiểu về Thủ lĩnh của người Crow qua hậu duệ của ông, tìm hiểu về những gì diễn ra trong khu làng ấy khi trận chiến diễn ra và sau đó nữa.
Từ tất cả những hướng tiếp cận đó, nhà sử học tìm ra nguyên nhân thật sự của cuộc tấn công, lý giải nguyên nhân thất bại thảm hại của quân đội Custer, lý giải tâm lý tôn sùng ông từ đó đến mãi về sau, tìm hiểu cả việc cộng đồng người Crow sau đó tan rã nhanh chóng thế nào… Sự thật được “phục dựng” từ nhiều góc độ, chân dung các nhân vật lịch sử góp phần làm sáng tỏ các hành động, hành vi của họ đã tác động và dẫn đến kết quả cuộc chiến.
Mỏ vàng lớn và vùng đất giàu tài nguyên của cộng đồng người bản địa là cái đích mà quân đội Hoa kỳ lúc đó nhắm đến. Sự kháng cự của cộng đồng bản địa làm tăng quyết tâm tiêu diệt toàn bộ “làng Crow” của Custer làm ông bỏ qua những tin tức bất lợi từ trinh sát hay khuyến cáo chờ quân tiếp viện của một số sĩ quan dưới quyền. Về phía cộng đồng bản địa, do luôn cảnh giác và được rèn luyện thường xuyên nên họ không bị bất ngờ trước cuộc tấn công, đồng thời họ cũng có quyết tâm giữ lại đất đai ngàn đời của mình. Tuy nhiên họ đã giết hết đối thủ và cướp đi rất nhiều chiến lợi phẩm, điều đó làm “trái lời thần linh” nên dẫn đến hậu quả là không lâu sau đó, hầu hết người bản địa đã bị đưa vào những “khu bảo tồn người da đỏ” và mất hết đất đai.
Tìm ra nguyên nhân hay lý giải một sự kiện lịch sử chưa đủ, mà còn cần nhận biết “di sản” nó để lại. Như nhà sử học kết thúc bộ phim của mình: đó là “sự va chạm của hai nền văn hóa” và kết quả là “một bên thua trận và bên còn lại mất hết”.
3.
Tham khảo thêm từ Vikipedia: Địa điểm diễn ra trận chiến lần đầu tiên được bảo tồn như một nghĩa trang quốc gia của Hoa Kỳ vào năm 1879 để bảo vệ các ngôi mộ của những người lính Kỵ binh số 7. Năm 1946, nó được chỉ định lại là Đài tưởng niệm Quốc gia Chiến trường Custer, phản ánh sự tôn sùng Custer. Từ đầu những năm 1970, Công viên Quốc gia này lo ngại về cái tên Đài tưởng niệm Quốc gia Chiến trường Custer không phản ánh đầy đủ lịch sử lớn hơn của trận chiến giữa hai nền văn hóa. Các phiên điều trần về việc đổi tên được tổ chức tại Billings vào ngày 10 tháng 6 năm 1991 và trong những tháng tiếp theo, Quốc hội đã đổi tên địa điểm này thành Đài tưởng niệm Quốc gia Chiến trường Little Bighorn.
Gần 100 năm sau, ý tưởng về ý nghĩa của trận chiến đã trở nên bao quát hơn. Chính phủ Hoa Kỳ thừa nhận rằng sự hy sinh của người Mỹ bản địa cũng xứng đáng được công nhận tại địa điểm này. Dự luật năm 1991 đổi tên đài tưởng niệm quốc gia cũng cho phép xây dựng Đài tưởng niệm người da đỏ gần Đồi Last Stand để vinh danh các chiến binh Lakota và Cheyenne. Vào Ngày Tưởng niệm năm 1999, sau khi tham khảo ý kiến ​​của các đại diện bộ lạc, Hoa Kỳ đã bổ sung hai điểm đánh dấu bằng đá granit đỏ trên chiến trường để ghi nhận nơi các chiến binh người Mỹ bản địa ngã xuống.
4.
Sự hành xử của chính quyền/nhà nước/cộng đồng người mới đến một vùng, khu vực, lãnh thổ, nơi đã có những cộng đồng bản địa cư trú lâu đời, có truyền thống lịch sử và văn hóa khác biệt… luôn để lại những bài học đắt giá! Lịch sử là những sự kiện đã diễn ra nhưng bài học của nó không bao giờ là “quá khứ”. Không thể “làm lại lịch sử” nhưng có thể nhận thức và ứng xử với quá khứ một cách khách quan, bằng cách tìm hiểu, lý giải, trưng bày, phục dựng, kỷ niệm sự kiện, lưu giữ ký ức… không định kiến dân tộc đa số/thiểu số, không mặc cảm bên thắng cuộc/ bên thua cuộc, công bằng và nhân văn thì sẽ hòa giải, hòa hợp và thật sự đoàn kết!



ĐỪNG ĐỂ KHẢO CỔ MINH HỌA CHO LỊCH SỬ

Một cuộc trò chuyện rất dài quanh nghề khảo cổ và vài lĩnh vực liên quan. Như mình Com trong FB chủ podcast để giải thích vì sao không nói đến những chuyện xâm hại môi trường gần đây mà người phỏng vấn rất muốn đưa ra: Cô Hậu không nói nhiều đến những vấn đề bức xúc hiện tại như chủ Podcart định đặt ra, là vì 1/đấy không phải là chuyên môn KCH mà cô Hậu muốn giới thiệu ở Ba Chấm. 2/Cô Hậu vẫn nói về những bức xúc nhưng bằng kiểu của cô chứ không bằng giọng của người khác. Ok? 🙂
Các bạn có thời gian rảnh mời nghe và chia sẻ nhé.

----- Từ Nam LB

 Việt Nam đang bước vào giai đoạn tái thiết thần tốc với hàng loạt dự án được tiến hành.

Song song quá trình đó, nhiều người cũng tự đặt câu hỏi liệu bên cạnh sự phát triển về cơ sở hạ tầng, chính phủ và nhà nước sẽ làm thế nào để bảo tồn di sản đô thị? Đây dường như không còn chỉ là bài toán cần lời giải, nó là một cuộc cách mạng mà kết quả sau đó sẽ không thể vãn hồi.
Cuộc trò chuyện với TS Nguyễn Thị Hậu, chuyên gia trong lĩnh vực khảo cổ sẽ đưa chúng ta khám phá những di sản từ quá khứ cho đến hiện tại. Đó là những thành tựu được gây dựng từ thời ông cha và cách hậu thế đối xử với chúng trong thời kỳ này. Cùng với đó là trăn trở của một người truyền dạy kiến thức khảo cổ, lịch sử rất đỗi chân thật.
Với Ba Chấm, tập Podcast này mở đường cho sự ra đời của những nội dung tri thức ít được tìm hiểu tại Việt Nam. Với tôi, bản thân đã vô cùng sung sướng khi có cơ hội được tiếp nhận nguồn tri thức tuyệt vời này.
Cảm ơn TS Nguyễn Thị Hậu đã cởi mở để chia sẻ sự hiểu biết của mình đến với xã hội và nhân loại.
Cảm ơn các thính giả của Ba Chấm vẫn luôn ủng hộ và dõi theo trong suốt những năm qua. Biết ơn các bạn thật nhiều! ❤

PHÍA ĐÔNG VƯỜN ĐỊA ĐÀNG

Hiếm khi có thời gian xem cả seri phim chỉ trong vài ngày, nhưng phim Phía Đông vườn địa đàng là một ngoại lệ. Không chỉ vì những bài viết rất thấu đáo về phim này của Le Hong Lam, không chỉ vì đã nhiều lần đọc cuốn tiểu thuyết này ở những lần xuất bản khác nhau, mà chính vì sức hấp dẫn của bộ phim "dựng lại"này.
Le Hong Lam đã phân tích rất hay rồi (như bài dưới đây), mình chỉ muốn nói thêm, đây là bộ phim mà khi xem nhiều lúc mình phải dừng lại, vì chịu không nổi sự tàn nhẫn/ác độc và cũng chịu không nổi lòng tốt mù quáng đến ngu dại! Trong các nhân vật mình có cảm tình/thương nhất với cậu anh Karl - người bị đẩy đến những hành vi "ác" vì chính sự thiên lệch của cả bố và mẹ cậu, ngay cả người em cậu yêu thương đến thế cũng không hiểu và coi thường cậu. Nhưng điều đó không làm cậu mất đi lòng nhân ái và yêu thương bẩm sinh. Nhất là đoạn cuối, khi người cha mở di chúc của mẹ mà trong đó chỉ đề "cho con trai tôi - Iron", cảm xúc trong mình bùng nổ, vì sự bất công ác độc của Kathy đối với Karl cũng là con của mình. Hay chính vì Karl "giống" cô nên cô yêu Iron hơn - một bản sao dù mờ nhạt của Adam - người mà cô đã làm tổn thương sâu sắc, và bằng cách đề lại tài sản cho Iron cô muốn xin lỗi Adam? Mà ko biết cô ta còn chút lương tâm nào để có thể làm điều đó?
Một gia đình không hề nghèo khó, thậm chí đời sống dư dả, nhưng họ quẩn quanh yêu ghét thù hằn trong mối quan hệ ruột thịt do đối xử và dạy dỗ mang nhiều định kiến của người cha. Người mẹ trong phim vắng bóng, chỉ còn một người đàn bà "bị làm mẹ" hiện diện trong phim. Nhưng có thể nhìn thấy hình bóng một người mẹ khác trong tương lai: nhân ái, dũng cảm và thấu hiểu hơn, trong cô bé người yêu của Iron và sau là của Karl.
Kết phim cho thấy, rốt cuộc, con người có thể thay đổi định mệnh hay không chính từ sự biết nhìn thấy và dám nhận trách nhiệm của bản thân.



Phục dựng chùa Báo Ân bên cạnh Hồ Gươm?!

 Dưới góc nhìn của một người làm chuyên môn, TS.Nguyễn Thị Hậu, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử TP.HCM nhận định việc phục dựng, tái hiện di tích chùa Báo Ân cần có sự cân nhắc và thận trọng trong việc nghiên cứu về quy mô, hình thức phục dựng để đảm bảo sự hài hòa của công trình đối với cảnh quan chung của Hồ Gươm cũng như tổng thể các công trình trong khu vực.

Theo TS.Nguyễn Thị Hậu, trải qua hàng trăm năm với những biến chuyển của cảnh quan, quy hoạch trong khu vực, tính cho đến thời điểm hiện tại, khu vực Bưu điện Hà Nội, nơi vốn là địa điểm tọa lạc của ngôi chùa Báo Ân đã có nhiều thay đổi qua quá trình xây dựng, cải tạo. Do đó, trong phương án quy hoạch được đưa ra, do phải giữ lại một số công trình có giá trị lịch sử, văn hóa trong khu vực Bưu điện, nếu phục dựng ngôi chùa Báo Ân thì sẽ có một quy mô nhỏ hơn nhiều lần so với nguyên bản.
“Chúng tôi cho rằng việc phục dựng ngôi chùa Báo Ân cần được xem xét cẩn trọng. Vấn đề phục dựng theo hình thức nào, tỷ lệ ra sao, lựa chọn hạng mục nào để phục dựng,… cần được cân nhắc kỹ lưỡng, trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu khảo cổ học, sử học... Chỉ riêng phần cổng tam quan ngôi chùa Báo Ân thôi đã có quy mô rất đồ sộ, do đó, nếu không tính toán một cách phù hợp, công trình phục dựng có thể trở nên khập khiễng so với tổng thể xung quanh, đặc biệt phải đảm bảo tính hài hòa với Hồ Gươm, trọng tâm của toàn bộ quy hoạch”, TS.Nguyễn Thị Hậu chia sẻ.
Cũng theo bà, hiện nay, việc ứng dụng công nghệ hiện đại như trình chiếu 3D, mô phỏng cảnh quan vào trong phục dựng di tích được rất nhiều nước trên thế giới thực hiện, do đó, trong việc hoạch định phương án phục dựng chùa Báo Ân, chúng ta hoàn toàn có thể cân nhắc việc sử dụng kết hợp song song các hình thức phục dựng, trong đó có ứng dụng công nghệ hiện đại để “tái hiện công trình” thay vì chỉ áp dụng đơn nhất một hình thức “phục dựng” công trình thật trong không gian hạn hẹp.

P/s. Ý kiến của mình trong bài báo này, khi trả lời mình nghĩ chắc sẽ không đăng báo, vì có vẻ "ngược" với phong trào "phục dựng, trùng tu"đang rầm rộ hiện nay. Cám ơn nhà báo.



ĐỪNG ĐỂ DI SẢN CHỈ LÀ “KHOẢN CHI” CỦA NHÀ NƯỚC


Di sản văn hóa lâu nay thường được nhìn trước hết như một đối tượng cần bảo vệ. Nhà nước đầu tư ngân sách để trùng tu, tôn tạo; các cơ quan chuyên môn quản lý; người dân tham quan, thưởng ngoạn. Cách tiếp cận ấy cần thiết, nhưng nếu chỉ dừng ở đó, di sản rất dễ trở thành một “khoản chi” thường xuyên của xã hội, trong khi những giá trị kinh tế, sáng tạo và xã hội mà nó có thể tạo ra vẫn chưa được khai thác tương xứng. Đồng thời mang lại một cách nhìn sai lầm “di sản là gánh nặng của nền kinh tế”.
Trong bối cảnh phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo, đã đến lúc cần đặt vấn đề: Làm thế nào để di sản không chỉ được bảo tồn bằng nguồn lực xã hội, mà còn có thể tạo ra nguồn lực để tự nuôi sống và tái đầu tư cho chính mình? Đây không phải là câu chuyện biến di sản thành hàng hóa bằng mọi giá. Ngược lại, đó là yêu cầu tìm ra một mô hình bảo tồn thích ứng và phát triển bền vững, trong đó giá trị kinh tế phải được tạo ra trên nền tảng của giá trị lịch sử, văn hóa và tính xác thực của di sản.
1- Không thể “đóng băng” di sản
Một trong những thay đổi quan trọng nhất về tư duy bảo tồn hiện nay là từ bỏ quan niệm rằng bảo tồn đồng nghĩa với việc giữ nguyên hiện trạng và hạn chế tối đa mọi hoạt động mới. Di sản, nếu chỉ được đặt trong “tủ kính”, sẽ dần tách khỏi đời sống. Bảo tồn cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn: bảo tồn để di sản tiếp tục sống. Có thể coi Hội An là một trường hợp điển hình.
Từ năm 1998, thành phố bắt đầu thực hiện đề án tái hiện “Đêm phố cổ Hội An đầu thế kỷ XX”. Không phải dựng một sân khấu riêng biệt để biểu diễn cho du khách, mà là biến chính không gian phố cổ thành một không gian văn hóa sống: hạn chế ánh sáng hiện đại, sử dụng đèn lồng, phục hồi những hoạt động văn hóa truyền thống, tổ chức bài chòi, dân ca, trò chơi dân gian… “Đêm phố cổ” sau đó trở thành một sản phẩm du lịch đặc trưng của Hội An. Điều đáng chú ý là giá trị kinh tế được tạo ra bằng cách làm cho đời sống văn hóa của di sản trở nên hấp dẫn hơn. Các hoạt động này tạo thêm việc làm và thu nhập cho người dân qua nghề làm đèn lồng, ẩm thực, dịch vụ du lịch, bán quà lưu niệm… Đồng thời, chính nguồn lợi kinh tế ấy tạo thêm động lực để cộng đồng giữ gìn không gian và các thực hành văn hóa truyền thống.
Đó chính là logic của mô hình “bảo tồn động” hay “di sản sống” đáng để nhiều địa phương khác nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn.
2- Bảo tồn để phát triển và phát triển để có thêm nguồn lực bảo tồn
Mỗi di sản đều chứa đựng một lượng “vốn” đặc biệt: vốn lịch sử, vốn tri thức, vốn thẩm mỹ, vốn biểu tượng, vốn ký ức và vốn xã hội. Từ những nguồn vốn ấy có thể tạo ra giá trị kinh tế nếu được khai thác đúng cách. Hội An, Cố đô Huế là các minh chứng của việc biết bảo tồn đúng giá trị cốt lõi, chính giá trị văn hóa trở thành nền tảng của kinh tế địa phương, là phát triển từ “vốn văn hóa”.
Nhưng khai thác di sản luôn đi kèm với bài toán quản trị. Một nguyên tắc quan trọng trong kinh tế di sản: Lợi nhuận từ kinh tế di sản không thể coi là “tiền tươi thóc thật và ngay lập tức”. Bởi vì nền kinh tế di sản lành mạnh phải trở thành vòng tuần hoàn: Từ di sản tạo ra sản phẩm (du lịch, văn hóa), tạo ra doanh thu. Nguồn thu trở lại cho đời sống cộng đồng và công tác bảo tồn, làm gia tăng giá trị di sản và tiếp tục có những sản phẩm mới. Nếu dòng tiền chảy ra khỏi cộng đồng và ra khỏi không gian di sản thì đó không còn là kinh tế di sản.
Tuy nhiên một trong những điểm nghẽn lớn của bảo tồn hiện nay là tư duy Nhà nước phải làm gần như tất cả: đầu tư, trùng tu, vận hành, tổ chức hoạt động, quảng bá và khai thác. Trong khi đó, nguồn lực ngân sách luôn hữu hạn, còn số lượng di sản cần bảo vệ là rất lớn. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy “Nhà nước bao cấp toàn bộ” sang mô hình hợp tác nhiều chủ thể. Doanh nghiệp có thể tham gia đầu tư và vận hành dịch vụ. Cộng đồng địa phương tham gia quản lý và cung cấp sản phẩm, dịch vụ. Các nhà sáng tạo khai thác chất liệu di sản để tạo ra sản phẩm mới. Các tổ chức xã hội và quỹ văn hóa có thể tham gia huy động nguồn lực. Nhà nước khi đó không rút khỏi bảo tồn, mà chuyển mạnh sang vai trò kiến tạo thể chế, đặt ra chuẩn mực, giám sát và bảo vệ những giá trị không thể đánh đổi.
TP.HCM hiện đang đứng trước cơ hội rất lớn theo hướng này. Thành phố đã xác định việc hình thành các sản phẩm du lịch văn hóa – lịch sử đặc trưng, đồng thời khuyến khích các mô hình đầu tư và kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa. Đặc biệt, trong không gian thành phố mới từ sau 1/7/2025, các “đô thị cổ” như Sài Gòn, Chợ Lớn, Thủ Dầu Một, Lái Thiêu hay Vũng tàu... cần có một hướng tiếp cận khác với kiểu “di tích hóa” đô thị. Ở đó, di sản không chỉ nằm trong một công trình được xếp hạng. Di sản tồn tại trong mạng lưới chùa, hội quán, nhà phố, ẩm thực, ngôn ngữ, tín ngưỡng, nghề nghiệp, tập quán và đời sống của cộng đồng. Đó chính là hướng bảo tồn một hệ sinh thái văn hóa, chứ không chỉ bảo tồn từng công trình riêng lẻ.
3- Khi nghiên cứu di sản trở thành nguyên liệu cho công nghiệp văn hóa
Trường hợp tiêu biểu là “Khu di sản thế giới Hoàng thành Thăng Long”. Ở đây câu chuyện không chỉ là bảo vệ những nền móng, di tích và hiện vật khảo cổ. Giá trị của di sản còn nằm ở việc nghiên cứu, diễn giải, tái hiện và kể lại lịch sử cho công chúng bằng những hình thức mới. Các kết quả nghiên cứu khoa học đang được sử dụng như nền tảng để “hồi sinh” di sản thông qua các hoạt động diễn giải và phát triển công nghiệp văn hóa. Thực tế này phản ánh một thay đổi rất quan trọng về tư duy. Đó là nghiên cứu khảo cổ không kết thúc ở báo cáo khoa học. Bảo tồn không kết thúc ở việc che mái bảo vệ hố khai quật. Trưng bày không kết thúc ở những tủ kính. Toàn bộ tri thức ấy có thể tiếp tục được chuyển hóa thành câu chuyện, trải nghiệm, phim ảnh, sản phẩm giáo dục, thiết kế, xuất bản, công nghệ số và các sản phẩm sáng tạo khác.
Ở nhiều quốc gia như Trung quốc, Anh, Pháp... đã có nhiều kinh nghiệm từ phát hiện khảo cổ đi qua một “chuỗi giá trị” để trở thành nguyên liệu cho nhiều loại hình CNVH: Từ phát hiện, nghiên cứu, bảo tồn đến diễn giải, trải nghiệm, sáng tạo. Những sản phẩm văn hóa mang lại doanh thu để rồi tiếp tục tái đầu tư cho nghiên cứu và bảo tồn. Đây chính là nơi mà khảo cổ học, bảo tồn di sản và công nghiệp văn hóa có thể gặp nhau vì cùng đi đến mục đích cuối cùng.
Đến đây cần thống nhất một quan điểm, nếu chỉ có một nguồn thu chủ yếu từ bán vé tham quan di sản thì rất khó tạo ra một nền kinh tế di sản thực sự, mà phải hướng tới xây dựng chuỗi giá trị. Làm sao để từ một di sản có thể hình thành các sản phẩm trải nghiệm, chương trình nghệ thuật, show diễn thực cảnh, ẩm thực, sản phẩm thủ công, quà tặng thiết kế, tour chuyên đề, lưu trú, giáo dục trải nghiệm… Công nghệ có thể mở rộng “biên giới” của di sản. Những kỹ thuật hiện đại đã làm cho một di sản không chỉ tồn tại ở địa điểm vật lý. Hoa văn, kiến trúc, truyền thuyết, âm nhạc, hình ảnh, tư liệu, tri thức dân gian… đều có thể được số hóa, chuẩn hóa và xây dựng thành nguồn dữ liệu phục vụ sáng tạo. Hàn Quốc là một trường hợp đáng tham khảo khi kết hợp di sản với công nghệ và công nghiệp văn hóa, đưa chất liệu truyền thống vào game, phim ảnh, thời trang và các sản phẩm sáng tạo.
Việt Nam hoàn toàn có thể làm điều tương tự với kho tàng hoa văn, kiến trúc, truyện kể, âm nhạc, trang phục, hiện vật và tư liệu của mình. Khi ấy, di sản không chỉ có một đời sống vật lý, mà có thêm một đời sống số và một đời sống sáng tạo.
4- Kinh tế di sản, CNVH không phải là “thương mại hóa di sản”
Đưa kinh tế vào bảo tồn không có nghĩa là đặt lợi nhuận lên trên giá trị di sản. Ngược lại, chính vì di sản có giá trị đặc biệt nên hoạt động kinh tế quanh nó phải được điều tiết bằng những nguyên tắc đặc biệt. Không phải công trình nào cũng được phép cải tạo tùy ý, không gian nào cũng có thể tổ chức sự kiện hiện đại. Không phải câu chuyện lịch sử - văn hóa nào cũng có thể khai thác thương mại mà không tính đến quyền của cộng đồng, không phải nơi nào lượng khách càng đông thì di sản càng thành công. Bài học của nhiều quốc gia là một di sản được khai thác tốt khi qua quá trình khai thác, giá trị cốt lõi của nó vẫn còn, cộng đồng được hưởng lợi và nguồn lực bảo tồn được tăng lên. Đó mới là thước đo của “kinh tế di sản”.
Để di sản văn hóa thực sự trở thành một ngành kinh tế, cần đi xa hơn từng dự án đơn lẻ của từng di sản, bởi vì tổng giá trị của cả hệ thống di sản văn hóa cao hơn nhiều lần giá trị của từng di sản, quan trọng hơn nó mang lại sự bền vững cho kinh tế di sản. Để đạt được điều này, trước hết là hoàn thiện thể chế và cơ chế tài chính. Có thể nghiên cứu cơ chế ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp đầu tư cho bảo tồn; xây dựng các quỹ phát triển di sản với nguồn vốn đa dạng từ ngân sách, doanh nghiệp, cộng đồng và nguồn thu du lịch. Tiếp theo là xây dựng chuỗi sản phẩm và dịch vụ dựa trên di sản, đồng thời đào tạo một thế hệ nhân lực mới: những người không chỉ hiểu lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật và bảo tồn, mà còn biết quản trị, truyền thông, marketing, công nghệ và kinh doanh sáng tạo. Cuối cùng là công nghệ. AR, VR, 3D, mapping, bảo tàng số, dữ liệu mở… có thể giúp di sản tiếp cận những nhóm công chúng mới, đặc biệt là giới trẻ, đồng thời tạo ra những mô hình trải nghiệm và nguồn doanh thu mới.
Tuy nhiên, công nghệ hiện đại chỉ là công cụ, số hóa di sản phải có mục đích tối thượng là bảo tồn một cách khoa học, khách quan những giá trị xác thực của di sản. Từ đó các thế hệ sau có thể vận dụng nhiều ngành kinh tế để khai thác giá trị cốt lõi, cơ bản của di sản, tiếp tục tạo ra những sản phẩm mới, tăng thêm “vốn văn hóa” cho kinh tế di sản.
Điều quan trọng nhất là xây dựng được một hệ sinh thái kinh tế – văn hóa trong đó nhiều ngành cùng hưởng lợi từ di sản, đồng thời cùng có trách nhiệm đầu tư trở lại cho di sản văn hóa. Khi vòng tuần hoàn ấy vận hành, bảo tồn di sản không còn là một hoạt động “tiêu tiền”, mà như một khoản đầu tư dài hạn vào vốn văn hóa của quốc gia. Đó cũng là lúc câu chuyện công nghiệp văn hóa không còn là một khẩu hiệu lớn, mà bắt đầu đi vào từng di tích, từng bảo tàng, từng khu phố, từng làng nghề và từng câu chuyện văn hóa. Di sản không phải là quá khứ nằm im phía sau chúng ta. Di sản là nguồn vốn của quá khứ mà hiện tại có trách nhiệm làm cho nó tiếp tục sinh ra giá trị – cho hôm nay và cho cả những thế hệ mai sau.

TS. Nguyễn Thị Hậu - Nhà khảo cổ học - Tổng Thư ký Hội Sử học TP.HCM
TẠP CHÍ NGƯỜI TIÊU DÙNG 8/2026



Ghi chú nhân tọa đàm về một công trình của nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Tiến


Tối 1/10 mình tham dự (online) tọa đàm MA CÀ RỒNG – MA QUỈ, TƯỞNG TƯỢNG VÀ BẢN SẮC, XÃ HỘI THÁI cùng nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Tiến, do Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam (VSC), Trường Đại học Fulbright Việt Nam tổ chức. Vì thời gian có hạn nên chỉ chăm chú lắng nghe dù có nhiều điều muốn chia sẻ cùng tác giả - một học giả trẻ mà mình rất nể phục sức làm việc và những công trình khoa học của anh.
Nhà Dân tộc học Nguyễn Mạnh Tiến là tác giả của một số chuyên khảo được xuất bản gần đây, và đều là những cuốn sách nổi tiếng ngay khi vừa ra mắt độc giả. Các tác phẩm nổi bật của anh viết về văn hóa, con người và các dân tộc thiểu số ở Việt Nam gồm:
• Những Đỉnh Núi Du Ca - Một Lối Tìm Về Cá Tính H'Mông: Công trình nghiên cứu đầu tay ra mắt năm 2014 và được tái bản nhiều lần, khắc họa đời sống và cá tính của người H'Mông qua nhiều năm đi thực địa.
• Sống Đời Của Chợ: Tác phẩm xuất bản năm 2017 viết về không gian văn hóa chợ phiên vùng cao.
• Khai Nguyên Rồng Tiên: Tác phẩm nghiên cứu về các huyền thoại nguồn gốc tộc người.
• Ma Cà Rồng – Ma Quỷ, Tưởng Tượng Và Bản Sắc Xã Hội Thái: Khảo cứu sâu sắc về thế giới tinh thần, quan niệm ma quỷ và bản sắc của người Thái.
Mình đã đọc những công trình này, chủ yếu để được có thêm những kiến thức về dân tộc học – nhân học, cũng như học thêm cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu liên ngành rất điển hình từ các công trình của Nguyễn Mạnh Tiến. Các công trình của anh lấy chủ đề về cộng đồng tộc người ở miền núi phía Bắc nhưng không lặp lại những gì mà nhiều công trình về dân tộc học trước đây đã thể hiện. Anh chọn những đề tài tưởng như không có gì to tát, mà nếu là người nghiên cứu kiểu “kinh nghiệm chủ nghĩa” thì sẽ nói, “a tưởng gì, cái đấy thì như thế như thế... hoặc, cái đấy ai mà chả biết...” Tuy nhiên, những cái “như thế như thế, ai chả biết” dưới góc nhìn “tinh tướng” nhưng sâu sắc của anh lại có quá nhiều điều không “như thế” nên nếu có ai đó “biết rồi” cũng chỉ “tưởng là biết” mà thôi.
Nay ghi lại vài ý nảy ra trong quá trình nghe tác giả trình bày, vừa như tự hiểu ra, vừa như một góc nhìn tham góp cùng tác giả.
1.
Điều tâm đắc đầu tiên của mình, đó là Nguyễn Mạnh Tiến thực hiện bằng phương pháp cơ bản DÂN TỘC CHÍ một cách nghiêm ngặt. Với hai giai đoạn Khảo sát điền dã và thực hiện khảo luận, Nguyễn Mạnh Tiến đã thể hiện trong các công trình một cách mẫu mực!
Đây là phương pháp mình được học hỏi từ khoảng 2005 – 2010 khi viết các bài nghiên cứu về KCH theo kiểu “bình dân” (1), nó đòi hỏi công việc khảo sát điền dã phải cẩn thận, kỹ càng, “đi đi lại lại, hỏi đi hỏi lại, xem đi xem lại” như thầy Trần Quốc Vượng đã dạy. Đồng thời cũng đòi hỏi người nghiên cứu cần “quên đi” các định kiến có trước (từ sách vờ, vốn sống kinh nghiệm...) để có thể khách quan và bình tĩnh tiếp nhận những thông tin mới (kiểu định kiến “Nam bộ thiên nhiên ưu đãi, Nam bộ làm chơi ăn thiệt” như từ 300 năm trước!). Hay như Nguyễn Mạnh Tiến nói trong buổi tọa đàm hôm qua, đại ý: cần bỏ lại những lý thuyết, những cái khung có sẵn để bước vào một thực tiễn mới và tiếp nhận nó khi nhà nghiên cứu “là một tờ giấy trắng”. Không để sự hấp dẫn của các lý thuyết dẫn dắt đi quá xa trong quá trình diễn giải thực tiễn.
Đúng rồi, nếu không vậy rất có thể sẽ có kiểu quan sát, điền dã “kẻ cả”, sẽ diễn giải, giải thích những hiện tượng mới tiếp nhận theo chủ quan, nhất là sẽ có tâm lý và ứng xử “bất bình đẳng” với cộng đồng bản địa – nguồn tài liệu sống và vô cùng phong phú, đa dạng. Từ vị thế “người của cộng đồng” (hay góc nhìn “từ dưới lên”) nên ngôn ngữ của công trình khoa học của Nguyễn Mạnh Tiến rất sinh động, hấp dẫn, giàu hình ảnh, mang lại cảm giác thân thiện với bạn đọc mọi thành phần.
2.
Phương pháp Dân tộc ký còn đòi hỏi – đồng thời mang lại lợi thế, là cần hiểu địa bàn nghiên cứu, hiểu sâu sắc trong sự đối sánh với những thực tiễn khác. Nguyễn Mạnh Tiến cho rằng, sự hiểu biết này còn quan trọng hơn các “khung lý thuyết”. Mình hiểu là, khung lý thuyết cần phải có để định hướng nghiên cứu nhưng không phải để “đóng gói” những nhận thức từ thực tiễn cho vừa khung ấy. Không có lý thuyết thì không đi xa được, nhưng câu nệ lý thuyết thì nghiên cứu không thể hiện thực tiễn và đáp ứng những câu hỏi nảy sinh từ thực tiễn.
Quá trình nghiên cứu về Di sản đô thị Sài Gòn – TPHCM (2) của mình cũng như vậy, nhờ xuất phát từ thực tiễn TPHCM nên những đề xuất giải pháp hay phản biện của mình mang tính khả thi, đúng với nhu cầu, không sa vào “lý thuyết suông”, đảm bảo tính khoa học của KCH đô thị và bảo tồn di sản, tránh được tình trạng “đúng (lý thuyết) mà không trúng (thực tiễn)”. [Tuy nhiên, trong một số HTKH những bài nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn cụ thể mà ít trình bày lý thuyết từ nước ngoài thường ít được BTC HT quan tâm! 😊].
Phương pháp Dân tộc chí cũng như điều tra khảo sát KCH, luôn chú ý và tôn trọng tính ĐA DIỆN, ĐA ĐIỂM. Xuất phát từ các thực tiễn khác nhau nên không thể khái quát hóa vội vã, không nên coi có một “hình mẫu bất biến” cho mọi thực tiễn dù cùng một chủ đề/một hiện tượng văn hóa. Ở một góc khác, không thể “tưởng tượng ra văn hóa một nơi này từ một nơi khác” hay từ một trung tâm văn hóa. Bởi vì ĐA DẠNG VĂN HÓA thể hiện trong mọi thành tố và hiện tượng văn hóa của mọi cộng đồng và mọi vùng miền.
Đúng vậy, trải nghiệm của mình khi nghiên cứu lịch sử - văn hóa Nam bộ điều này thấy rất rõ, người Việt ở Nam bộ có những nét tính cách, lối sống, sinh hoạt khác biệt với vùng miền khác, mà nếu lấy một “chuẩn” từ nơi khác sẽ nhận xét, đánh giá phiến diện, hời hợt, thậm chí mang tính áp đặt, hạ thấp. Cách nhìn như vậy vô hình chung tạo nên sự bất bình đẳng giữa các cộng đồng đa số và thiểu số, đồng bằng và miền núi... chưa kể nếu còn mang thêm quan điểm chính trị khác.
Vậy vì sao vẫn có những công trình chứa đựng những cách nhìn như vậy ở mức độ khác nhau? Nguyễn Mạnh Tiến nêu ra 2 nguyên nhân:
- Nhiều công trình của nhà nước thì kinh phí có hạn, thời gian nghiên cứu có hạn.
- Chủ nghĩa kinh nghiệm, coi việc biết vài cái cây đã là hiểu cả khu rừng. (Thật sự, ở nhiều người nghiên cứu KHXHNV thường có tư duy điều này).
Mình muốn nêu thêm một nguyên nhân, đó là quan niệm về sự “thống nhất”/ đồng nhất (chính trị) đã tồn tại (và chỉ đạo?) NCKH XHNV hướng đến xây dựng mô hình “phổ quát” mà bỏ qua, bỏ quên những mô hình Đặc thù / Đặc biệt, thậm chí không cho phép tồn tại mô hình Cá biệt / Riêng biệt hay mang tính Cục bộ / Bộ phận.
3.
Trong công trình mới nhất của Nguyễn Mạnh Tiến – cũng là chủ đề của buổi tọa đàm hôm qua, có một vấn đề mình còn thắc mắc: đó là vì sao Ma Cà Rổng ở người/xã hội người Thái lại chỉ là PHỤ NỮ/PHỤ NỮ ĐẸP? Trong sách và tác giả có giải thích là vì xã hội PHỤ QUYỀN nên muốn hạ thấp phụ nữ. Mình nghĩ, có khi đó là tâm thức “cảnh giác cao độ” trước phụ nữ đẹp, nhỉ? 😊
Thực tế, trước khi chuyển qua xã hội Phụ quyền thì xã hội Mẫu hệ tồn tại rất dài và do vậy cũng để lại nhiều “tàn dư” bền chặt ở nhiều cộng đồng, như vai trò và quyền năng của phụ nữ trong sinh hoạt, lao động và đời sống tinh thần. Có lẽ, những phụ nữ đẹp hoặc có sự khác biệt, nổi bật – kiểu “lệch chuẩn” so với số đông – cũng được/bị coi là có quyền lực (ngầm) nào đó. Vì vậy họ bị gán cho những hành vi hút máu hay ăn nội tạng, ăn những con vật dơ bẩn... vào ban đêm, vì đó là những hành vi “tà thuật” đen tối, độc ác theo quan niệm của cộng đồng. Cũng là cách để cộng đồng có thể “đồng nhất” trong một “khung” chung (tâm lý và hành vi) chăng?
Nguyễn Mạnh Tiến còn nghiên cứu ma Cà Rồng ở nhiều nơi Đông – Tây trên thế giới. Hóa ra ở đâu cũng có nỗi sợ hãi ma Cà Rồng như nhau (dù đó là ma nam hay ma nữ). Bất giác mình nghĩ, không biết có ai nghiên cứu xem cái sự “tự hào” một cách toàn diện, đỉnh cao, mọi lúc mọi nơi... ở ta có gì giống và khác so với những nơi khác? 😊
Cám ơn nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Tiến đã mang lại cho người đọc và riêng mình nhiều tri thức “bình dân” nhưng mới lạ, sâu sắc, qua đó giúp mình hiểu và học thêm nhiều điều, từ sự LIÊN NGÀNH mà anh đã thể hiện nhuần nhuyễn và hấp dẫn trong các công trình của anh!
----
(1) Khảo cổ học bình dân Nam bộ VN - từ thực nghiệm đến lý thuyết, NXB Tổng hợp TPHCM, 2010
(2) Đô thị SG – TPHCM khảo cổ học và bảo tồn di sản. NXB Tổng hợp 2017, tái bản 2019



Làm bà

 

Mình có thêm một cháu ngoại. Một đứa trẻ bé xíu bước vào cuộc đời, và cùng với cháu, mình tiếp tục làm bà lần nữa, nhưng cảm giác vẫn như lần đầu. Thật lạ, chỉ một tiếng “bà” thôi mà nghe lòng mình thay đổi.

Làm bà thật tuyệt! Vẫn là thứ tình yêu của người mẹ, vẫn những nỗi lo rất nhỏ: cháu có ngủ ngon không, có ăn đủ không, có bị lạnh không, có điều gì làm cháu khó chịu không… Nhưng hình như làm bà khác làm mẹ. Tình yêu ấy bây giờ sâu hơn, chậm hơn và đằm thắm hơn. Ngày làm mẹ, mình luôn ở trong những bận rộn của việc nuôi con lớn. Lo con ốm, lo con học, lo con đi đâu, lo con nên người. Tình yêu khi ấy nhiều khi đi cùng với sự sốt ruột, với những điều phải làm, phải dạy, phải nhắc. Mình yêu con bằng tất cả bản năng của một người mẹ, và cũng vì thế mà đôi khi yêu trong lo lắng. Còn bây giờ, khi đã là bà ngoại, mình có thể ngồi thật lâu bên cháu, chẳng cần làm gì cả, chỉ để nhìn một khuôn mặt bé xíu đang ngủ.

Có một hôm, cháu nằm trong vòng tay bà. Bàn tay nhỏ xíu vô thức nắm lấy một ngón tay bà. Cháu chẳng biết gì về những năm tháng đã đi qua, nhưng bà thì bỗng thấy cả một vòng đời đang nối lại trong cái nắm tay rất khẽ ấy. Bà nhìn cháu và chợt nhớ đến mẹ của cháu ngày còn bé. Cũng đôi mắt ấy. Cũng làn da mềm ấy. Cũng một sinh linh nhỏ bé từng nằm trong vòng tay mình. Chỉ khác là ngày ấy mình là mẹ, tất tả với bao nhiêu lo toan. Còn hôm nay, mình là bà, có thể chậm rãi ngồi yên, nghe tiếng thở của cháu và mỉm cười.

Có lẽ đó chính là điều làm tình yêu của người bà trở nên khác: thương con nhưng xót cháu, ông bà xưa nói chẳng sai!

Mình lo lắng nhiều hơn, bởi càng đi qua nhiều năm tháng, mình càng hiểu cuộc đời không phải lúc nào cũng bằng phẳng. Nhưng mình lại ít muốn can thiệp hơn. Mình thương cháu nhiều, muốn được giữ cháu thật gần, muốn bảo vệ cháu, nhưng cũng hiểu rằng cháu cần tự mình lớn lên, tự mình khám phá thế giới và có một cuộc đời của riêng mình. Thấy cháu có những nét giống mẹ nó, mình vui. Một ánh mắt, một cái miệng, một cử chỉ quen thuộc có thể làm ký ức về những ngày con gái còn bé bất chợt trở về. Nhưng cháu không phải là một “phiên bản” của mẹ nó. Cháu là một con người mới, với một tính cách riêng, và sẽ có những lựa chọn riêng và một con đường riêng.

Và mình, với tư cách một người bà, có lẽ không cần phải đi cùng cháu trên tất cả con đường ấy. Mình chỉ cần ở đây, bây giờ. Để khi cháu cần, bà có thể dang tay. Khi cháu vui, bà có thể vui cùng. Khi cháu buồn, bà có thể ngồi bên cạnh. Và khi cháu lớn lên, bước ra khỏi vòng tay bà, bà vẫn có thể mỉm cười nhìn theo. Có lẽ sau bao nhiêu năm làm mẹ, đến lúc làm bà, mình mới hiểu thêm một điều rất giản dị: Yêu một đứa trẻ không phải là giữ nó thật gần mình, mà là cho nó một nơi đủ ấm để lớn lên và một tình yêu đủ rộng để khi nó đi xa, nó vẫn biết mình có một nơi để trở về.

Làm bà, vì thế, không chỉ là thêm một vai trò trong cuộc đời. Mà là được nhìn thấy tình yêu của mình tiếp tục nảy mầm ở một thế hệ khác. Trong một đứa trẻ bé xíu, mình vừa nhìn thấy con gái của những ngày thơ bé, vừa nhìn thấy chính mình của những năm tháng làm mẹ, lại vừa nhìn thấy một tương lai mà mình chưa thể biết sẽ đi về đâu. Chỉ biết rằng từ hôm nay, trong trái tim mình có thêm một chỗ dành cho một người rất nhỏ. Một chỗ mà có lẽ, càng về sau, sẽ càng sâu. Và có lẽ đó là món quà dịu dàng nhất của tuổi này: được làm bà, nhất là bà ngoại của SAM SAM và SU SU! 






DI SẢN CHIẾN TRANH LÀ CỦA AI (HAY LÀ VIỆC NHÌN LẠI LỊCH SỬ)

Bộ phim “Battle of little bighorn” chiếu trên kênh National Geographic kể về việc tìm hiểu một sự kiện lịch sử nước Mỹ, từ những gì có trong...