Nguyễn Thị Hậu
1.
Người Sài Gòn xưa hay kể về một nhân vật với cái tên đời thường là chú
Hỏa. Không phải ai cũng nhớ rõ tiểu sử nhưng nhiều người biết ngôi nhà lớn giữa
trung tâm thành phố - nay là Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh - từng là
của gia đình ông, Hui Bon Hoa. Ngôi nhà không được xây để “lưu giữ quá khứ”, nó
được xây cho một hiện tại rất cụ thể: để ở, để tiếp khách, để khẳng định một vị
thế giữa đô thị Sài Gòn hồi đầu thế kỷ 20.
Ở khu đất số 1 đường Lý Thái Tổ cũng có một cụm bảy căn biệt thự của chú
Hỏa, tạo thành cả một “quần thể sống” giữa không gian đô thị, nơi tiếp nối đời
sống của một gia tộc nổi tiếng. Những căn biệt thự ấy nếu nhìn bằng con mắt hôm
nay có thể chỉ là bất động sản có giá trị “kim cương”. Nhưng nếu nhìn từ lịch
sử đô thị ta có thể nhận ra một điều: một cá nhân không chỉ xây nhà, mà có thể
còn định hình một không gian của thành phố.
Khu đất có 7 biệt thự kể trên hay toà nhà như Bảo tàng Mỹ Thuật, khi được
tổ chức như vậy thì đã vượt khỏi giá trị vật chất là tài sản riêng của một cá
nhân. Nó bắt đầu có giá trị di sản bởi mang cấu trúc đặc trưng của đô thị: tạo
nên dấu ấn kiến trúc của một con đường, một khu vực, định hình cách cư trú của
một tầng lớp thị dân, và quan trọng hơn, nó âm thầm ảnh hưởng đến ký ức của
những người nhìn ngắm nó hay chỉ đi ngang qua nó, suốt nhiều thế hệ.
Có thể nhận thấy một điều, phần lớn những người để lại dấu ấn cho đô thị
thường không phải là những người “thực hành bảo tồn”. Họ là những người làm ăn,
buôn bán, tích lũy và rồi xây dựng nhà cửa, dãy phố, chợ, bệnh viện, trường
học, cả đình chùa hay nhà thờ nữa… như một phần của công việc kinh doanh và đời
sống. Đô thị Sài Gòn – Chợ Lớn từng có một lớp người như vậy: ông Hui Bon Hoa,
ông Quách Đàm, ông Huyện Sỹ... Người Hoa với những dãy nhà phố nối nhau, vừa ở
vừa buôn bán, người Việt những căn nhà vườn rồi chuyển dần thành phố thị, người
Pháp với biệt thự và công sở. Mỗi nhóm người, mỗi lựa chọn xây dựng dù mục đích
là gì cũng đã góp phần phát triển đô thị.
Trải qua thời gian họ để lại những
công trình mang dấu ấn đô thị. Đó chính là thứ mà sau này chúng ta gọi là di
sản. Bởi vì di sản có được không chỉ bắt đầu từ ý định giữ lại cái cũ mà phải
bắt đầu từ việc làm cho cái hiện tại trở nên tốt đẹp, đủ hữu dụng và có thể tồn
tại lâu dài, hơn cả một đời người. Cứ nhìn những công trình di sản mà xem, dù
là công sở, công trình công cộng hay nhà ở tư nhân thì đều được xây bằng vật
liệu tốt và kỹ thuật cao cấp ở thời đại ấy, kiến trúc công trình và toàn bộ nội
thất được chăm chút ở mức tối đa về chức năng, mỹ thuật trang trí mang tính
tiêu biểu cho một trường phái, một xu hướng của thời đại. Một không gian được
tính toán để có thể sử dụng lâu dài, linh hoạt, gần như không phải cơi nới cải
tạo dù qua nhiều đời người. Và đặc biệt các công trình ấy đều cho biết nó thuộc
về nơi nào, không lẫn với bất cứ đâu!
Tất cả điều đó tạo nên sự hoàn hảo của công trình trong một không - thời
gian nhất định. Từ yếu tố kỹ thuật, sự hoàn hảo luôn là sự hợp lý. Chính vì vậy
mà các công trình tồn tại lâu dài, từ đó những giá trị lịch sử, giá trị văn
hoá, giá trị sử dụng thực tiễn có điều kiện tích luỹ ngày càng dày thêm!
2.
Đi giữa thành phố hôm nay đôi khi ta có cảm giác, nhiều công trình rất
hiện đại rất tốn kém nhưng không giúp con người có thể hình dung chúng sẽ tồn
tại trong ký ức của thành phố như thế nào sau vài chục năm nữa? Chúng được xây dựng
vội vã để khai thác nhanh, tối ưu “lợi nhuận” trong một vòng đời ngắn ngủi, có
thể để đáp ứng nhu cầu của một tầng lớp thị dân luôn muốn phô trương sự giàu có
nhanh chóng. Điều đó có vẻ như là một “quy luật” của “hiện đại hoá”! Nhưng một
đô thị nếu chỉ có những công trình được xây dựng không dựa trên giá trị cốt lõi
mà chỉ nhằm đáp ứng lợi ích nhất thời thì sẽ không thể tạo ra chiều sâu lịch sử
của đô thị. Thành phố lớn lên chỉ như một cái bong bóng khổng lồ, màu mè phô
trương, lơ lửng đâu đó ngoài sự ghi nhớ của con người. Thành phố đó là một nơi
không có gì tạo ra ký ức.
Vì sao một đô thị “hiện đại” lại tạo
ra cảm giác đó? Câu
trả lời không chỉ ở bối cảnh xã hội mà còn ở các cá nhân. Trước hết, những công
trình xưa được xây với giả định tồn tại qua nhiều thế hệ. Ngày nay, quan hệ đất
đai làm cho vòng đời của công trình thường chỉ tính bằng vài chục năm nên không
có đầu tư cho sự lâu dài. Từ đó logic kinh tế đã thay đổi, công
trình được tính toán để tối ưu lợi nhuận trong thời gian ngắn chứ không phải để
tích lũy giá trị qua thời gian. Vì vậy cái “đẹp bền vững” thường thua cái “hiệu
quả ngay”. Những người như chú Hỏa, ông Quách Đàm, ông Huyện Sỹ và gia
tộc của họ đã sống, làm ăn và gắn bó cả đời với chính nơi họ xây dựng. Ngày
nay, nhiều công trình được đầu tư bởi những chủ thể không thực sự “sống ở đó”
mà họ chỉ đến và đầu tư, khai thác. Đó chính là sự đứt gãy giữa cá nhân và
không gian sống. Khi không có sự gắn bó
và trải nghiệm thì rất khó để lại ký ức.
Và cuối cùng, đó là sự
thiếu vắng một tầm nhìn văn hóa. Xây một công trình có
thể chỉ cần tiền. Nhưng để một công trình có khả năng trở thành ký ức phải có
thêm những thứ khác: cảm nhận về cái đẹp, ý thức về sự bền vững, sự hiểu biết
về lịch sử và trách nhiệm với thành phố. Xây dựng là chuyện của hiện tại. Nhưng
di sản chỉ xuất hiện khi trong cách xây dựng ấy đã có sẵn một ý thức về sự nối
tiếp quá khứ và tương lai.
3.
Những người thuộc lớp “đại gia” của Sài Gòn xưa, có lẽ điều làm người ta
nhớ đến họ không chỉ vì sự giàu có mà vì cuộc sống của họ thực sự phản ánh đời
sống thành phố. Họ xây nhà cho mình nhưng ngôi nhà ấy đã trở thành một phần của
thành phố. Những ngôi chợ, nhà thờ, trường học, bệnh viên… mà họ để lại đều là những
công trình hiện diện lâu dài, mang lại lợi ích trong đời sống chung nên mới có
cơ hội trở thành ký ức trong cộng đồng. Vậy nhưng cho đến nay ở thành phố
chúng ta hầu như chưa có một sự ghi nhận đáng kể nào đối với chủ nhân những
công trình ấy!
Có thể là một gian trưng bày trong Bảo tàng thành
phố, nhà lưu niệm hay một công viên nhỏ, một con đường kế bên công trình được mang
tên họ... Bình dị thôi nhưng là sự ghi nhận những đóng góp của các thế hệ thị
dân thành phố. Bởi vì đô thị Sài Gòn không chỉ được hình thành từ các bản quy hoạch tổng thể của chính quyền, mà còn có được “hồn vía” nhờ những quyết định mang tính chất cá
nhân, như chủ nhân của các công trình nay đã trở thành di sản.
Trong quá trình phát triển của thành phố, nếu có điều gì đáng lo thì
không phải là thành phố thiếu những công trình mới và hoành tráng, mà là thiếu vắng
những công trình có khả năng “ở lại với thời gian” bằng tâm thức của cộng đồng.
Nói một cách khác, thành phố
chỉ thực sự “phát triển bền vững” khi có các công trình bền vững và những ký ức bền vững. Và như vậy, liệu
chúng ta có đang khuyến khích xây cái “ở lại” không, hay chỉ khuyến khích những cái chỉ
là “quay vòng nhanh”?
TP.
Hồ Chí Minh ngày 23.3.2026







.jpg)

.png)