(Bài phát biểu của Giáo sư Trần Quốc Vượng tại Hội nghị bàn về phương hướng xây dựng giáo trình Lịch sử Việt Nam và Lịch sử Văn hóa Việt Nam, ngày 24 - 25/6/2002, trong khuôn khổ thực hiện Đề tài độc lập cấp Nhà nước về Lịch sử Việt Nam do GS.TS Nguyễn Quang Ngọc - Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Trường ĐHKHXH&NV làm Chủ nhiệm; in trong Khoa Lịch sử, 55 năm ấy, NXB Thế giới, 2011.)
1. Mỗi giáo trình đại
học theo đúng nghĩa phải là một công trình nghiên cứu khoa học chất lượng cao.
Chất lượng cao là gì? ở những phần sau sẽ nói, nhưng ở đây cần nói ngay rằng
toàn bộ và trong từng phần cuốn sách nó phải là một công trình suy tư - nghiên
cứu đã nhiều năm đau thiết của một/những giảng viên đại học có nhân cách khoa
học (Personnalité) được xã hội trí thức trong ngoài nước thừa nhận, tuy vẫn có
thể được tranh cãi. Tất nhiên là nó phải có tính sư phạm với văn phong khá
trường quy.
2. Thời đại mà tất cả
các trường đại học trong nước chỉ dùng một giáo trình duy nhất đã qua rồi!.
Kinh nghiệm giáo trình Lịch sử Việt Nam là vậy, và giáo trình Cơ sở văn hoá
Việt Nam cũng là vậy.
Cái ta sẽ viết là giáo
trình cho ĐHKHXH&NV - trước hết là cho Khoa Sử của ĐHQGHN.
Thế thì và nhất là ở
thời buổi “đổi mới” hiện nay, ta chẳng ngần ngại gì mà không thừa nhận tính
trường phái của giáo trình do Khoa Sử biên soạn, thậm chí tính cạnh tranh trong
khoa học, dù ai đó có thể phê phán chúng ta là có tính đố kỵ hay thậm chí là
tính biệt phái - hay bè phái.
Miễn là từ tâm - óc,
chúng ta trung thực và hoàn toàn tự nguyện tuân thủ phương pháp luận sử học duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa mácxit sáng tạo và tư tưởng Hồ
Chí Minh sáng tạo và hội nhập với trào lưu sử học tiến bộ của Loài người từ
Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc, theo cách ta Học - Hỏi - Hiểu - Hành.
Chẳng hạn như, nếu cấp
trên giao cho tôi chủ biên giáo trình Lịch sử Văn hoá Việt Nam dùng cho Khoa Sử
trường ĐHKHXH&NV - ĐHQGHN, tôi phải có quyền lựa chọn các cộng tác viên
trong ngoài trường cùng “gu sử học” với tôi. Nếu không, tôi xin đứng ngoài,
không thắc mắc gì và chỉ làm những cái gì và với ai mà tôi thích. Trong trường
hợp đó xin chớ phê phán tôi là cá nhân, tiêu cực. Trước mắt tôi là con đường về
hưu, hưởng thú thanh nhàn cho đến khi từ giã cõi đời giả tạm này.
3. Chúng ta sẽ viết
giáo trình chất lượng cao, để đời. Đời sống của nó là một vài chục năm, cứ cho
rằng tới khoảng 2020 sẽ “lạc hậu”, quá thời. Và sẽ có một thế hệ khác viết lại.
“Il a fait son temps” là một thành ngữ Pháp có tính phổ quát cho mỗi nhà khoa học,
cho mỗi công trình khoa học.
3.1. Khối tư liệu dùng
để biên soạn nên nó phải phong phú - đa dạng, có tính cập nhật cao.
Như thế, đòi hỏi mỗi
người viết sách giáo trình phải cập nhật cao, với trong nước và với quốc tế.
Thí dụ về trước Công nguyên, tôi phải đưa vào giáo trình bài Việt ca và một bài
thơ có nhắc đến Âu Việt - Lạc Việt cùng sự giải mã của học giả Nhật, học giả
Trung Hoa và học giả Việt Nam (tuy họ giải mã khác nhau) cũng như tôi phải đưa
vào các tài liệu khảo cổ hữu thể sưu tầm được cho đến 2002 (Lung Leng, Eo Bồng,
Trà Kiệu, Lý Nhân, Cần Giờ, Domea...).
3.2. Không chỉ hiện đại
về tư liệu mà tôi phải xử lý mối quan hệ biện chứng giữa Phá bỏ - Bảo tồn -
Sáng tạo.
Đừng mong hòng một cách
ảo tưởng rằng Sử học là một khoa học tuyệt đối khách quan, phát hiện ngay được
những quy luật khách quan của sự Vận động lịch sử.
Có Histoire-Réalité và
tôi không phải là một kẻ làm sử (Faire Histoire) hư vô chủ nghĩa (annihiliste)
hay thực chứng (positiviste). Nhưng cái đó nói như Giáo sư Sử học lớn J. Furet
- người tổng kết 200 năm lịch sử cách mạng Pháp (1789-1989) - luôn luôn còn ở
phía chân trời của mỗi nhà sử học chân chính. Với đầy lòng kính trọng của một
kẻ hậu tử với bậc tiền bối, tôi buộc mình không dối lòng khi nói rằng cụ Trường
Chinh chưa phải là người tổng kết lịch sử Cách mạng tháng 8/1945 hay nhất, đúng
nhất. Cụ Tảo Trang viết tặng tôi đôi câu đối của đức Phan Bội Châu:
“Hậu tử thường đa tân
tuế nguyệt
Tiền trình bất thị ác
phong vân."
Tôi vô cùng cảm ơn
nhưng vẫn để đấy để ngẫm suy.
Trước mắt chúng ta vẫn
chỉ có - và chỉ có thể có - cái Historie Conxience. Lịch sử gắn liền với nhà sử
học, với nhân cách và nhận thức của họ.
Viện sĩ Mounier, trong
công trình De la connaissane Historique bảo: nhà sử học viết sử cũng chỉ như
nhà họa sĩ vẽ chân dung (Portraitriste)! Họa sĩ vẽ chân dung tôi - một hiện
thực khách quan đối với ông ta - nhưng cũng đồng thời họ vẽ chân dung họ, theo
cách họ hiểu về tôi.
Tôi vừa được đọc một
tài liệu mới nhất: Học thuyết Tương đối luận của Albert Einstein cũng chỉ là
tương đối mà thôi!
Vì vậy mà hơn một chục
năm trước, tôi đã viết bài Giải ảo hiện thực Đống Đa và năm nay tôi đã và sẽ
viết bài Giải ảo hiện thực Đồng Đậu cùng bài Giải ảo hiện thực núi Đá Bia (Phú
Yên). Tôi không muốn là kẻ quấy nhiễu sân cỏ lịch sử như Neuville quấy nhiễu
sân cỏ World cup Korea - Japan.
Số phận tôi là vậy và
tôi buộc phải: “đảm đương thân phận”- nói kiểu Từ Chi!
Chẳng hạn, tôi mong các
nhà sử học - bạn tôi hãy suy nghĩ và viết lại - chí ít dưới khía cạnh Lịch sử
văn hoá Việt Nam - về Triệu Đà (Lê Văn Hưu, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh có viết
như ta trong các giáo trình thập kỷ 60, 70 không?), về Sĩ Nhiếp, về Cao Biền.
Vì sao Việt điện u linh (1329) - và tâm thức dân gian cùng nhiều nhà sử học
khác, gọi ngài là “Sĩ vương” và lập đền thờ cúng. Vì sao trong tờ "thủ
chiếu" của đức vua khai sáng nhà Lý, lại gọi “Cao Biền” là “Cao vương”?
v.v... Dựa trên suy tưởng của tôi đã có nhà sử học viết rằng: Cái gọi là thời
Bắc thuộc về hiển thể chính trị chỉ là quyền tự trị địa phương. Giáo trình mới
của Khoa Sử nên xem lại những chuyện đó, dù khuôn nó vào lĩnh vực Histoire
mentale (lịch sử tâm thức), một phần của lịch sử văn hoá Việt Nam.
Là một đơn vị được
phong tặng danh hiệu cao quý - Đơn vị Anh hùng thời đổi mới, dưới sự chèo chống
của ông PGS.TS. Chủ nhiệm Khoa “đức xứng kỳ chức”, với các giáo sư tài ba danh
vọng vượt bậc Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang..., tôi chỉ mong toàn Khoa Sử, qua bộ
giáo trình mới này, “đổi mới mạnh mẽ và kiên quyết” tư duy Sử học để thế hệ trẻ
- như đứa cháu ngoại Phan Quang Anh, tức Bờm của tôi, mới bắt đầu học lớp 9 mà
kiên quyết học để được tuyển thẳng vào Khoa Sử - được “phận nhờ” (cháu không
chỉ đọc sách giáo khoa phổ thông (“ngắn quá”) mà đã dám đọc Tiến trình lịch sử
Việt Nam) và người già như tôi, ông Hãn, ông Lâm cũng sẽ được ngậm cười ở...
thế giới bên kia!
4. Giáo trình mới không
nên viết, chẳng hạn “Văn hoá Đông Sơn là văn hoá Lạc Việt”, “Trống đồng Đông
Sơn là trống đồng Lạc Việt” như giáo trình Đại học Văn khoa thời thầy tôi, cố
GS. Đào Duy Anh rồi gắn cái văn hoá đó với thời Văn Lang - Âu Lạc.
Tôi có điên không? Có
lẽ tôi cũng có máu điên trong người, nhưng... tôi tự cho là... vẫn còn “tỉnh”.
Học giả ngoại quốc biết
bao lần đã nói vào cái “bản mặt” tôi rằng: Cái “giọng” của giới sử các ông Việt
Nam rất chi là... “Chauvin”, “nationalist”, tuy... ông là đỡ hơn cả đấy! Ở Đại
học Tổng hợp Hà Nội, tôi đã nêu luận điểm từ khi thành lập ngành Khảo cổ: Khi
anh/chị nghiên cứu những nền văn hoá tiền - sơ sử thì... hãy tạm thời quên đi
những biên giới chính trị của các quốc gia hiện nay. Văn hoá Hoà Bình - Bắc Sơn
chẳng hạn là của toàn Đông Nam Á, cả lục địa và hải đảo.
Đến khi được cấp trên
chỉ thị thành lập ngành Văn hoá học, tôi lại nêu luận điểm: Không gian văn hoá
và không gian chính trị là khác nhau. Và rất thường khi Biên giới chính trị cắt
“ngang xương” một không gian văn hoá, ở châu Phi là vậy. Ở Đông Nam Á, ở Việt
Nam cũng là vậy.
Khi còn sinh thời GS.
Phạm Huy Thông, lúc ông làm Viện trưởng Viện Khảo cổ học, tôi đã nài được ông
cho thuyết trình ở Viện rằng: Cái không gian trống đồng loại I Heger là nằm
trong một “tam giác đồng” (tôi nhái khái niệm “Tam giác Vàng”) mà 3 đỉnh là Vân
Nam - Việt Nam - Lưỡng Quảng ngày nay và nhấn mạnh rằng: ở thời đó nó vẫn là
một không gian “Phi Hoa - Phi Ấn”, gọi là “Không gian Việt cổ” cũng được, nhưng
Việt cổ là một khái niệm khá mơ hồ, chỉ nhìn “cái răng, cái tóc là góc con
người” thì cũng đủ biết: “Người Đông Sơn” vừa búi tóc (tư liệu Việt Khê, Hải
Phòng), vừa xoã tóc (tư liệu Đào Thịnh, Yên Bái), vừa tết tóc (tư liệu nhiều
dao găm cán hình người Đông Sơn), có răng nhuộm đen, có răng để trắng: Bao
nhiêu “mộ thuyền” đã chứng tỏ điều đó.
“Sống xen kẽ giữa các
tộc người” ở Việt Nam, dù Nam Á, Nam Đảo hay các ngữ hệ Tạng Miến... gì gì đi
nữa đã là một quy luật lịch sử lâu đời để nhà khảo cổ học Thụy Điển, GS. Olov
Janse rút ra một kết luận bất hủ: “Vietnam, Carrefour des Peuples et des
Civilisations”.
Việt Nam hôm nay có sự
thống nhất văn hóa và ngôn ngữ, nhưng cũng có sự đa dạng, nếu không muốn nói
“huỵch toẹt” ra là có cái “đa văn hóa” (multicultural) và “đa ngôn ngữ”
(multilinguistic).
Thì có sao đâu ở trong
một cái khuôn thể chế chính trị thống nhất, dân chủ?
Vậy những người anh
hùng ở Khoa Sử nên viết “Lịch sử Việt Nam” chứ không phải là “Lịch sử người
Việt” cho dù tộc Kinh - Việt hiện nay là chủ thể quốc gia. Mà cái gọi là người
Việt như ta hiểu cũng xuất hiện khá muộn mằn trong lịch sử... và cũng đa dạng
lắm, từ Bắc - Trung tới miền Nam đất nước.
Từ lâu, người Pháp đã
phân biệt Histoire de France và Histoire des Francais. Ta nên tham khảo họ.
Người Nhật (và cả người Hoa) cũng đã nhìn thấy nhiều “văn hoá Trung Hoa” rồi
đấy (cùng lắm thì họ gọi là “Một văn hoá Trung Hoa có nhiều local cultures”.
5. Cho nên cách viết
“Lịch sử Việt Nam” nói chung, “Lịch sử văn hoá Việt Nam” nói riêng rất nên là
cách viết một thời không gian liên tục kiểu A.Einstein, hay, nói theo một hướng
tiếp cận hiện đại, là kết hợp nghiên cứu Lịch đại (Diachronic Studies) và
nghiên cứu Vùng - Tiểu vùng (Area Studies).
Đừng “lờ” một hiện
tượng lịch sử quan trọng và kéo dài “Nam tiến” (The March to the South) hay còn
gọi là Migration horizontale của người Kinh - Việt trong khi ở các nhóm H’mong
- Yao, thì đó lại là migration vertical (Di cư theo chiều dọc).
Đừng dùng các khái niệm
đã mòn, thậm chí cái thủ thuật “đánh tráo khái niệm” bằng ngôn từ điêu xảo. Hãy
gọi sự vật bằng chính cái tên của nó.
Nếu có một lời thề
chung cho các nhà sử học thì, theo tôi, nên là: “Trung thực và dũng cảm”.
Thư bất tận ngôn. Ngôn
bất tận ý!
Hà Nội, 23/6/2002

