Nguyễn Thị Hậu
Hậu Khảo cổ
Đi và tìm trong đất... thấy người :)
SÂN KHẤU KỊCH NÓI KIM CƯƠNG - MỘT “DI SẢN ĐÔ THỊ”
CON NGƯỜI – VỐN QUÝ NHẤT CỦA TP. HỒ CHÍ MINH
Báo SÀI GÒN GIẢI PHÓNG XUÂN BÍNH NGỌ 2026
Nguyễn Thị Hậu
Nhìn từ trên cao,
Thành phố Hồ Chí Minh hiện lên như một cơ thể đang không ngừng chuyển động. Sông Sài Gòn là điểm tựa để thành phố vươn ra biển
Đông. Hệ thống chi lưu, phụ lưu của nó cùng hàng ngàn kênh rạch lớn nhỏ tạo
thành mạng lưới thông thương từ lâu đời. Ngày nay, hệ thống đường giao thông,
tuy còn chưa đáp ứng nhu cầu nhưng đã kết nối dày đặc như mạch máu của đô thị. Trên không gian rộng lớn đó, những con người thành phố đã tạo ra nhịp sống sôi động không ngừng, những câu chuyện chan hòa, tử tế, rất bình dị mà chan chứa tình người.
Từ “vùng đất mới” đến “người Sài Gòn” cởi mở, nghĩa tình
Sài Gòn từ khi hình thành đến nay luôn là “vùng đất mở”. Từng đoàn lưu dân từ mọi miền đất nước đã tìm đến đây trong nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau. Họ mang theo lối sống, tập quán, tín ngưỡng từ quê hương, mang cả nỗi lo mưu sinh và khát vọng sống mới. Từ hành trình đó đã hình thành những lớp người
có chung tố chất đặc biệt: dám đi để mở rộng tầm
mắt, dám làm những điều mới
mẻ, vừa biết dung hòa những khác biệt và sẻ chia cơ hội làm ăn với nhau. “Người Sài Gòn” ra đời từ nguồn gốc ấy. Sài Gòn trở thành “đất lành chim đậu”.
Hơn 300 năm qua Sài Gòn không còn là “vùng đất mới”.
Quá trình khai khẩn này đã biến vùng đất hoang vu thành làng xóm đông đúc, bến
sông tấp nập. Từ đó đô thị Sài Gòn được hình thành, những đoàn lưu dân người
Việt, người Hoa và các cộng đồng khác đã cùng dựng phố, lập chợ, xây dựng hãng xưởng, trường
học, bệnh viện, bến cảng nhà
kho... Bao lớp người không chỉ đổ mồ hôi, máu và nước mắt để xây dựng thành phố mà còn truyền lại tinh thần khai phóng, sáng tạo và bao dung của “người Sài Gòn”.
Đó chính là “vốn quý nhất của Thành phố Hồ Chí Minh”. Vốn quý ấy nằm trong chất người Sài
Gòn – năng động, dám nghĩ điều
mới, dám làm điều khác, dám vượt qua những rào cản định kiến, bảo thủ, luôn hướng tới hiệu quả của
“công chuyện làm ăn” mà vẫn giữ được nghĩa khí và lòng trắc ẩn.
Người Sài Gòn không phân biệt “gốc gác” mà coi trọng cách hành xử.
Dù là ai từ đâu đến, cao sang hay nghèo hèn, nhưng nếu ứng xử chính trực, nghĩa
tình thì nghiễm nhiên trở thành “người Sài Gòn”. Nghĩa tình là luôn giúp nhau
khi hữu sự, ai gặp khó khăn cũng nhận được sự chia sẻ ít nhiều. Từ chuyện bình
trà đá miễn phí bên đường đến bữa cơm 2 ngàn, bữa “cơm treo” trong các quán ăn
cho người thiếu đói, rồi hàng năm bão lũ ngoài Trung, ngoài Bắc cả thành phố cùng góp công góp của cứu trợ khẩn trương. Đặc biệt trong
Đại dịch covid-19 đã có hàng ngàn bếp ăn thiện nguyện mọc lên; hàng trăm sáng
kiến khắc phục khó khăn cứu giúp người bệnh, trợ giúp các nhân viên y tế, người
dân giúp nhau từ bó rau cân gạo đến từng bình oxy... “Sài Gòn bao thương” là một truyền thống được bồi đắp qua hàng trăm năm trên mảnh đất này.
Ngày nay, nhịp sống
hiện đại và có phần xô bồ làm nhiều người lo rằng những giá trị ấy sẽ phai nhạt dần. Nhưng mỗi khi thành phố gặp thử thách – như đợt dịch bệnh
khốc liệt vừa qua – con người Sài Gòn lại chứng minh họ vẫn là “vốn quý”, là
sức mạnh giúp thành phố đứng vững và hồi sinh. Không chỉ bằng lòng trắc ẩn mà
bằng năng lực tổ chức, tinh thần tự nguyện và sự sáng tạo trong hành động.
Năng động và sáng tạo – “người Sài
Gòn” mang bản sắc của thời đại mới
Nếu “nghĩa tình” là đôi chân vững vàng, thì “năng động –
sáng tạo” là đôi tay tài năng của người Sài Gòn. Trong hơn 300 năm hình thành, chưa bao giờ Sài Gòn
ngừng biến chuyển. Từ thương cảng Bến Nghé xưa đến đô thị thông minh hôm nay, thành phố luôn là “cái nôi”
của đổi mới từ kinh tế đến văn hóa – xã hội. Người Sài Gòn không ngại thay đổi. Họ
có thể vừa bán hàng rong vừa livestream; vừa làm nông dân vừa trở thành nhà
sáng chế nhỏ; vừa giữ phong tục cũ vừa tiếp nhận lối sống mới một cách tự
nhiên.
Luôn thực tế, linh hoạt
và dũng cảm “dám làm dám chịu”, hành
trình đổi mới bắt đầu từ tư duy “có thể làm được”. Chính vì thế, “phát triển Thành phố Hồ
Chí Minh trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, sáng tạo của khu vực” không chỉ về những dự án hạ tầng hay
khu công nghệ cao, mà trước hết là nuôi dưỡng những thế hệ cư dân mang bản sắc tốt đẹp của Người Sài Gòn, có tri thức, có tinh thần cộng đồng, có bản lĩnh hội nhập mà không đánh
mất mình.
Trong thời đại “hiện đại hóa - đô thị hóa” diễn ra nhanh chóng, Sài Gòn đối mặt
với nhiều thách thức: phá hủy di sản, mất
mảng xanh và không gian
công cộng, quá tải giao thông, ngập nước, chênh lệch giàu
nghèo, áp lực di dân... Nhưng điều đáng lo ngại hơn chính là nguy cơ đánh mất “con người Sài Gòn”, khi mà lối sống thực dụng và cạnh
tranh bất chấp trở thành “bài
học làm giàu”, khi mức độ tiền bạc là “thước đo” giá trị con người, khi nghi kỵ
và định kiến làm phai nhạt nghĩa khí và sự bao dung... Đấy là dấu hiệu cho thấy sự suy giảm những giá trị tốt đẹp vốn là nền tảng phát triển của thành phố này.
Nhìn lại hành trình hơn ba thế kỷ, ta thấy rõ: dù
trải qua bao biến động, từ chiến tranh đến hòa bình, từ khủng hoảng đến phục
hồi, thì con người Sài Gòn luôn là yếu tố quyết định. Chính họ đã biến đô thị
này trở thành một thành phố năng động bậc nhất cả nước; chính họ đã biến những
khó khăn thành cơ hội, biến thử thách thành động lực để đi tới. Vì thế mỗi khi
nói về Sài Gòn, điều làm người ta nhớ đến đầu tiên là con người nơi đây, những
con người làm nên tất cả bằng tinh thần quyết liệt mà phóng khoáng, thực tiễn
mà nhân hậu, bao dung.
Đồng thuận lòng người làm nên tương lai thành phố
Thành phố Hồ Chí
Minh (TP.HCM) sau sáp nhập có khoảng 14 triệu dân. Tại buổi bế mạc Đại hội đảng
bộ TP.HCM nhiệm kỳ I (2025 – 2030), đồng chí Bí thư Thành ủy có nói đại ý: con
người TP.HCM chính là nguồn lực tinh thần vô giá của thành phố.
Ngay sau đó sự quan tâm đến “nguồn lực con
người” đã được cụ thể hóa. Vừa qua, Thường trực Thành ủy đã thống nhất chủ trương dừng dự án thương mại tại khu vực Bến Nhà
Rồng để quy hoạch thành công viên, kết hợp mở rộng đường Nguyễn Tất Thành và
phát triển các dịch vụ công cộng, tạo không gian sinh hoạt văn hóa ven sông,
kết nối với trung tâm thành phố. Cùng với đó là khu đất số 1 Lý Thái Tổ trước là Nhà khách chính phủ, nay sẽ được chỉnh trang thành công viên đa năng, nơi đặt tượng đài tưởng niệm
người dân TP.HCM mất vì đại dịch COVID-19, tăng diện tích không gian xanh, giảm
áp lực giao thông và tạo điểm nhấn văn hóa giữa trung tâm.
Quyết định giữ lại hai không gian cảnh quan đô
thị tiêu biểu và đậm nét ký ức của người Sài Gòn là hiện thực hóa sự trân trọng
những con người đã góp phần quan trọng cho sự sinh tồn và phát triển thành phố.
Thành phố Hồ Chí Minh “văn minh – hiện đại – nghĩa tình” thì “nghĩa tình” chính là đặc trưng của người Sài Gòn, là chiều sâu
lịch sử - văn hóa của thành phố. Nếu thiếu bản sắc độc đáo riêng có này thì văn minh hiện đại chỉ là cái vỏ bên ngoài của một thành phố vô hồn.
Con người Sài Gòn - vốn quý của TP.HCM luôn phải là
trung tâm của mọi chính sách, là chuẩn mực phong cách và hiệu quả lãnh đạo
thành phố. Khi Con người và Văn hóa Sài Gòn được thấu hiểu và trân trọng thì truyền
thống đổi mới, tiên phong đột phá từ vùng đất này sẽ được duy trì và phát huy
mạnh mẽ, Thành phố HCM sẽ phát triển hài hòa và bền vững. Bởi vì, như nhận định của các nhà nghiên cứu xã hội
đô thị, “không phải những con đường, không phải những tòa nhà cao tầng, mà
chính con người mới là linh hồn của một thành phố”.
TP. Hồ Chí Minh, tháng 11.2025
“ĐIỂM LẶNG” QUÝ GIÁ GIỮA LÒNG SIÊU ĐÔ THỊ
Làng nghề – di sản sống giữa đô thị
Nếu có lần nào đó
bạn đi ra vùng ngoại ô thành phố, có thể bạn sẽ nhận ra mình đang đi qua một làng nghề truyền thống.
Đó là khi bỗng thấy trong gió sớm mùi nhang mới se, hay nghe tiếng va đập kim loại lách cách vọng ra từ một căn nhà cũ bên đường. Trên một con
đường khác, khuất sau những khối bê tông và bảng hiệu, chợt hiện ra không gian thoáng đãng có những giàn
phơi bánh tráng trải dài. Hay tình cờ nhìn qua dòng xe hối hả bạn nhận ra một lò gốm cổ đứng trầm
tư bên đường... Những mùi vị, âm thanh, hình ảnh ấy gợi lên cảm giác bồi hồi, giữa
cuộc sống hiện đại vẫn còn đó một lớp trầm tích văn hóa quý giá, đó là các làng nghề truyền thống.
TP. Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ là một thay đổi về
địa giới hành chính. Đó là sự mở rộng của không gian sống, của nhịp điệu đô thị và những mối quan hệ
xã hội mới. Thành phố mới rộng hơn về không gian, có thêm những
làng nghề truyền thống làm ra những sản phẩm tiêu dùng quen thuộc từ hàng trăm
năm nay: làm gốm, làm mộc, chế biến thủy hải sản, làm muối, đóng sửa tàu
thuyền... Trong hình dung quen thuộc của chúng ta, làng nghề thường gắn với
vùng nông thôn nhưng ở TP. Hồ Chí Minh hôm nay, làng nghề không còn nguyên vẹn
trong khuôn hình ấy. Chúng tồn tại theo cách khác, lặng lẽ, phân tán, khiêm
nhường nhưng bền bỉ với thời gian.
Trong cơn lốc đô thị hóa hàng chục năm
nay, làng nghề truyền
thống không biến mất mà vẫn hiện diện trong nhịp điệu riêng, trở thành những “điểm lặng” quý giá trong thành phố đang trở thành một “siêu đô thị”. Làng nghề không còn là “làng” theo nghĩa xưa, không ranh giới rõ rệt cũng không tập trung với mật độ cao... Thay vào đó là những không gian làm nghề nhỏ hẹp hơn như
một dãy nhà liền kề cùng làm nhang, một cụm hộ gia đình quanh một lò gốm còn
giữ nghề làm gốm, một số hộ gia đình lao động trên những ruộng muối nơi xã đảo,
vài gia đình làm “đèn trung thu” chỉ trong vài tháng để đón mùa trăng tròn...
Làng nghề trở thành di sản không phải “để trưng
bày” mà vẫn tồn tại trong đời
sống thường nhật. Là di sản sống, làng nghề ngày
nay có thể không còn
đẹp theo kiểu lãng mạn vì hòa lẫn trong khói bụi, trong tiếng máy móc, trong những lo toan mưu sinh. Nhưng
chính sự “không hoàn hảo” đó làm nên giá trị thật của làng nghề nơi đô thị: giá trị của
ký ức đang được thực hành, của kỹ năng còn được truyền tay, của một nếp sống
chưa bị thay đổi hoàn toàn. Trong bối cảnh đô thị mở rộng, truyền
thống dễ bị lãng quên. Nhưng chừng nào còn người làm nghề thủ công, chừng đó
truyền thống còn được tiếp nối. Làng nghề vì thế không chỉ là đối tượng bảo tồn
mà còn là “chủ thể” kể lại câu chuyện lịch sử - văn hóa thành phố.
2. Làng nghề - sức
sống của các cộng đồng đô thị
Không gian đô thị mở rộng TP. Hồ Chí Minh là kết quả
của nhiều đợt di dân. Từ Bến Nghé – Gia Định – Sài Gòn – Chợ Lớn rồi nay
thêm Bình Dương – Bà Rịa – Vũng Tàu... Mỗi khu vực đều có những làng nghề được
hình thành theo bước chân của những đoàn lưu dân trong nhiều thế kỷ trước,
những lớp người nhập cư từ thế kỷ 20 đến nay. Người đến mang theo nghề, nghề theo người mà bén rễ, đáp ứng nhu cầu sinh tồn đa dạng của các cộng đồng.
Có những nghề gắn với môi trường sông nước Nam Bộ như làm nước nước mắm, làm cá khô, làm muối, đóng ghe thuyền. Có những nghề theo chân lưu dân từ miền Trung, miền Bắc,
hay cộng đồng Hoa kiều, như nghề làm gốm, đúc đồng, nghề mộc, sơn mài, làm nhang, làm đèn trung thu... Tất cả phát triển nhờ đô thị mở rộng, nhờ kinh
tế thị trường nhạy bén và linh hoạt. Làng nghề ở thành phố vì thế không thuần nhất. Nó là kết quả của sự giao thoa giữa kỹ thuật và
thị trường, giữa truyền thống và thích nghi. Ở TP. Hồ Chí Minh mới, hiếm có
làng nghề nào “đứng yên”. Nghề thay đổi theo người, người thay đổi theo sự phát triển của thành phố.
Đô thị hóa mang lại cơ hội nhưng cũng
tạo ra sức ép lớn với các làng nghề. Quy hoạch thay đổi, giá đất tăng, yêu cầu
môi trường ngày càng khắt khe. Làng nghề truyền thống vốn dĩ cần không gian, cần sự ổn định nơi sản xuất gắn với thị trường. Vì vậy, từ nhiều năm qua có làng nghề phải thu hẹp quy mô, có làng nghề buộc phải di dời, có làng nghề tồn tại trong tình trạng “tạm bợ kéo dài”. Nhưng cũng chính trong những điều kiện ngặt nghèo ấy,
các “làng nghề” bộc lộ khả năng thích ứng đáng kinh ngạc. Một xưởng nhỏ
thay thế cho cả một làng, một vài gia đình gánh trên vai ký ức của nhiều thế hệ.
Cũng có những “làng nghề” mới xuất hiện, với diện mạo và
quy mô mới, do kỹ thuật sản xuất hiện đại hơn. Làng nghề không còn là không gian địa lý cụ thể mà trở thành “không gian tinh thần” của đô thị hiện đại.
Làng nghề chính là một phần ký ức đô thị - di sản văn hóa phi vật thể. Mỗi sản phẩm thủ công đều mang trong nó câu chuyện về nơi chốn, về thời
gian, về con người. Một bó nhang không chỉ để đốt mà là duy trì tín ngưỡng kết nối với tổ tiên. Một chiếc lư đồng không chỉ là vật dụng thờ cúng mà gắn với gian thờ của mỗi gia đình, với không gian đình chùa đền miếu, với sự linh thiêng. Những chiếc đèn trung thu không chỉ là đồ chơi, mà là một trời ký ức thời
thơ ấu...
Ngày nay, không
phải làng nghề nào cũng có thể sống bằng sản xuất thuần túy, bởi vì bối cảnh xã
hội ngày càng hiện đại, thị trường truyền thống và nhu cầu tiêu dùng thay đổi.
Nhiều làng nghề đứng trước ngã rẽ: hoặc biến mất, hoặc cần “hiện đại hóa”. Hiện
đại hóa không có nghĩa là đánh mất bản sắc mà đó là sự chuyển biến, thay đổi
trên nền truyền thống, là cách để bản sắc tiếp tục tồn tại trong hình thức mới.
Khi làng nghề gắn với thiết kế sáng tạo, với du lịch trải nghiệm, với giáo dục
văn hóa, thì làng nghề không chỉ tạo ra sản phẩm mà còn tạo ra giá trị văn hóa,
giá trị tri thức bản địa. Lúc ấy, làng nghề bước sang vai trò mới: là nguồn lực
mềm của đô thị, thông qua đó đóng góp tích cực cho việc tăng giá trị di sản văn
hóa.
3. Làng nghề - “bến đậu” của đời sống thành phố
Hiện nay, quan
niệm “bảo tồn mâu thuẫn với phát triển” đã trở nên lạc hậu, mà bảo tồn di sản văn
hóa vật thể hay phi vật thể đều là cách thức đặc biệt để phát triển bền vững –
nhất là trong các đô thị, siêu đô thị. Những làng nghề của TP. Hồ Chí Minh hôm nay, nếu đòi hỏi phải “bảo tồn nguyên vẹn” là điều bất khả. Vì vậy điều cần giữ không phải là hình thức “làng” mà là cốt lõi: kỹ thuật, tri thức,
tinh thần nghề, cộng đồng làm nghề. Bảo tồn làng nghề vì
thế cần một tư duy khác: bảo tồn động, bảo tồn trong chuyển hóa. Đó không chỉ
là trách nhiệm của các nghệ nhân mà trước hết là trách nhiệm của chính quyền và sau đó, là của cộng đồng đô thị. Một thành phố muốn phát triển bền vững thì không thể cắt đứt ký ức của chính mình, làng nghề là một trong nhiều yếu tố tạo thành lịch sử thành phố.
TP. Hồ Chí Minh mở rộng giống như một dòng sông lớn. Cuộc sống thành phố trôi đi rất nhanh. Trong dòng chảy ấy có thể coi làng nghề là những “bến đậu” cho đời sống đô thị, là “điểm neo” của ký ức cộng đồng. Làng nghề, cũng
như những không gian truyền thống khác như chợ dân sinh, đình, chùa, đền miếu...
không phải là yếu tố cản ngăn dòng chảy cuộc sống mà là để giúp con người không bị cuốn trôi hoàn toàn khỏi quá
khứ.
Khi bước vào một không gian làng nghề, dù chỉ là một
căn nhà nhỏ còn giữ nghề cũ, bất giác ta luôn bước chậm lại, vì trong khoảnh khắc ấy ta nhận ra, thành phố không chỉ được tạo nên bởi những tòa nhà cao
tầng mà còn bởi những bàn tay thô ráp, những kỹ năng được truyền qua nhiều thế
hệ. Có thể một ngày nào
đó, nhiều làng nghề sẽ không còn tồn tại như hôm nay. Nhưng nếu biết cách trân
trọng và chuyển hóa, chúng vẫn sẽ để lại dấu ấn sâu sắc trong ký ức đô thị, như những lớp phù sa âm thầm bồi đắp
cho thành phố. Và chính nhờ những lớp phù sa ấy, TP. Hồ Chí Minh mới có thể ngày càng phát
triển nhưng vẫn được nuôi dưỡng từ cội nguồn truyền thống.
TP. Hồ Chí Minh,
1/2026
Tạp chí DU LỊCH TPHCM số XUÂN BÍNH NGỌ 2026
Nguyễn Thị Hậu
SÂN KHẤU KỊCH NÓI KIM CƯƠNG - MỘT “DI SẢN ĐÔ THỊ”
Nguyễn Thị Hậu Di sản văn hóa đô thị không chỉ là những công trình vật chất – văn hóa vật thể, mà còn là những di sản phi vật thể, trong đ...
-
Người Việt có một số thành ngữ và sự tích liên quan đến cá trê, như truyện Trê Cóc chẳng hạn. Câu chuyện không chỉ là việc Trê tranh giàn...
-
Một người bạn fb bất ngờ ra đi. Post bài thơ rất hay của bạn. Tôi biết Cao Hải Hà qua mạng Yahoo blog và sau là FB. Vài lần gặp Hà ở chỗ ...
-
Khi mới làm quen với FB Lặng lẽ nước Nga, tôi đã mạo muội đề nghị được xem lại bộ phim “Con đường đau khổ” – phim truyền hình 13 tập dựa t...



