Càng thay đổi nhanh, nhu cầu tìm lại cái đã mất càng lớn

 


TS Nguyễn Thị Hậu (bên trái) tham gia ban cố vấn Dự án Heritage Ho Chi Minh City của Hội Di sản Văn hóa TP Hồ Chí Minh.

- Theo bà, những hoạt động bảo tồn, gìn giữ di sản thành phố của các bạn trẻ là một trong những điểm sáng của TP.HCM hiện nay. Qua một số hoạt động bà nhận ra sự sáng tạo cũng như tình yêu di sản của các bạn trẻ được biểu hiện như thế nào?

Người trẻ không chỉ “giữ” di sản mà muốn kể lại di sản bằng ngôn ngữ của mình. Đây có lẽ là điểm sáng nhất. Trước đây, nói đến bảo tồn thường nghĩ đến chuyên gia, bảo tàng, cơ quan quản lý, hồ sơ xếp hạng… Còn người trẻ bước vào bằng những phương tiện rất khác: video ngắn, TikTok, livestream, podcast, nhiếp ảnh, thiết kế, đồ họa, bản đồ số, kể chuyện trên mạng xã hội.

Chương trình “Chạm Di sản – Ký ức đô thị” triển khai tại các không gian Sài Gòn, Bến Thành và Chợ Lớn trong năm 2026 là một ví dụ rất rõ. Các nhà sáng tạo nội dung trẻ dùng livestream để kể về công trình kiến trúc, không gian văn hóa, ẩm thực và những câu chuyện đô thị. Điều thú vị ở đây là Di sản không còn chỉ được “thuyết minh” cho người trẻ nghe; người trẻ đang tự mình trở thành người kể chuyện về di sản. Đây là một sự thay đổi rất quan trọng.

Các bạn trẻ có xu hướng biến di sản thành một trải nghiệm, chứ không chỉ là một “đối tượng để tham quan”: trải nghiệm “cổ phục”, trải nghiệm đời sống các hẻm phố, chợ, các sinh hoạt tín ngưỡng tại di tích... Đây chính là tư duy rất gần với quan niệm “di sản sống”: di sản tồn tại trong đời sống cộng đồng chứ không chỉ nằm trong tủ kính bảo tàng.

- Hoạt động bảo tồn lan tỏa di sản thường thấy ở thế hệ của bà, nhưng rõ ràng trong khoảng 5 năm gần đây, các bạn trẻ thành phố tham gia rất nhiệt tình, bà có thể lý giải nguyên do vì sao?

Sự gia tăng mạnh mẽ của các hoạt động do người trẻ tham gia trong khoảng 5 năm gần đây là kết quả của nhiều thay đổi đồng thời: trong xã hội, công nghệ, giáo dục, cách hiểu về di sản và chính bản thân đời sống đô thị TP.HCM. Theo tôi có một số nguyên do:

Thứ nhất, Cách hiểu về di sản đã thay đổi: di sản đã đi từ “vật thể cần giữ” sang “giá trị cần được sống cùng”.

Thứ hai, Chính tốc độ biến đổi của TP.HCM làm người trẻ bắt đầu… sợ mất ký ức. Đây là một nghịch lý rất thú vị: Thành phố càng thay đổi nhanh, nhu cầu tìm lại cái đã mất càng lớn.

Thứ ba, Mạng xã hội đã biến người trẻ từ “người tiếp nhận” thành “người kể chuyện”, công nghệ tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia vào hoạt động bảo tồn.

Thứ tư, Người trẻ ngày nay có nhu cầu tìm kiếm bản sắc trong một thế giới quá toàn cầu hóa, vì chính sự toàn cầu hóa ấy lại tạo ra một câu hỏi: “Mình là ai và thành phố mình có gì riêng?”

Thứ năm, Giá trị kinh tế và nghề nghiệp của di sản đã trở nên rõ hơn, bảo tồn di sản có thể đồng thời trở thành một nghề, một kỹ năng và một cơ hội sáng tạo.

Thứ sáu, Một nguyên nhân rất đặc biệt: COVID-19 khốc liệt và sự mất mát quá lớn ở TPHCM làm cho nhiều người nhận ra rằng ký ức và những mối liên hệ gần gũi với nơi mình sống có giá trị như thế nào.

- Cách truyền thông, lan tỏa, bảo tồn, giữ gìn di sản của các bạn thế hệ trẻ ngày nay có gì khác biệt với thế hệ đi trước?

Sự sáng tạo của người trẻ nằm ở khả năng kết nối cái cũ với cái mới. Tức là từ di sản truyền thống, bằng phương tiện truyền thông mới tạo ra một cách kể mới về di sản. Đây không phải là bảo tồn theo nghĩa “giữ nguyên”, mà là làm cho di sản tiếp tục có đời sống. Người trẻ không xem công nghệ là thứ đối lập với truyền thống; họ xem công nghệ như một công cụ để cứu truyền thống khỏi nguy cơ bị lãng quên.

Người trẻ đang làm một việc rất có ý nghĩa: đưa di sản ra khỏi “vùng chuyên môn”. Một trong những vấn đề của bảo tồn lâu nay là di sản đôi khi được nói bằng một thứ ngôn ngữ quá chuyên ngành của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, vì vậy người dân bình thường khó tiếp cận. Người trẻ thì làm ngược lại: đơn giản hóa câu chuyện nhưng không làm đơn giản hóa giá trị của di sản, là một cách đưa di sản về gần hơn với cộng đồng.

Điều làm tôi rất tâm đắc là, đằng sau sự sáng tạo ấy là một tình yêu rất “Sài Gòn”, tình yêu di sản của người trẻ thành phố không nhất thiết biểu hiện bằng những khẩu hiệu lớn, mà họ tìm kiến và chủ động lưu giữ ký ức đô thị, từ ký ức của gia đình, của nơi cư trú đến những ký ức chung của cộng đồng cư dân. Đây một sự nối tiếp rất đẹp với đặc trưng văn hóa Sài Gòn: thực tế, cởi mở, thích cái mới nhưng không nhất thiết quay lưng với cái cũ.

- Với vai trò là người đi trước và đã dành cả cuộc đời cho việc bảo tồn giữ ghìn di sản, bà giúp đỡ thế hệ trẻ tiếp nối giá trị đó ra sao?

Điều đáng mừng nhất không chỉ là người trẻ TP.HCM đang quay về với di sản, mà là họ còn đang đưa di sản đi tiếp. Với kinh nghiệm của mình, tôi hướng đến việc “Làm thế nào để trao cho người trẻ quyền được tham gia vào việc kể, diễn giải và sáng tạo những giá trị di sản của chính thành phố mình”? Bảo tồn di sản không chỉ là truyền lại những gì mình biết, mà còn là truyền lại niềm tin và trao cơ hội cho thế hệ sau. Vì vậy không “dạy” người trẻ yêu di sản, mà còn tạo điều kiện để họ tự tìm thấy tình yêu ấy, giúp họ “chìa khóa” để họ kể câu chuyện bằng ngôn ngữ của thế hệ họ. Chỉ ra cơ hội để người trẻ được làm thật giúp họ hiểu rằng bảo tồn không phải là một khái niệm trừu tượng. Quan trọng ở thế hệ chúng tôi là cần chấp nhận để người trẻ làm khác mình, và nhất là cố gắng truyền lại không chỉ kiến thức mà cả tình yêu đối với thành phố, cảm xúc đối với từng di sản của thành phố!

https://nhandan.vn/cang-thay-doi-nhanh-nhu-cau-tim-lai-cai-da-mat-cang-lon-post984771.html?

TRUNG THỰC VÀ DŨNG CẢM - LỜI THỀ CHUNG CHO CÁC NHÀ SỬ HỌC

 (Bài phát biểu của Giáo sư Trần Quốc Vượng tại Hội nghị bàn về phương hướng xây dựng giáo trình Lịch sử Việt Nam và Lịch sử Văn hóa Việt Nam, ngày 24 - 25/6/2002, trong khuôn khổ thực hiện Đề tài độc lập cấp Nhà nước về Lịch sử Việt Nam do GS.TS Nguyễn Quang Ngọc - Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Trường ĐHKHXH&NV làm Chủ nhiệm; in trong Khoa Lịch sử, 55 năm ấy, NXB Thế giới, 2011.)

1. Mỗi giáo trình đại học theo đúng nghĩa phải là một công trình nghiên cứu khoa học chất lượng cao. Chất lượng cao là gì? ở những phần sau sẽ nói, nhưng ở đây cần nói ngay rằng toàn bộ và trong từng phần cuốn sách nó phải là một công trình suy tư - nghiên cứu đã nhiều năm đau thiết của một/những giảng viên đại học có nhân cách khoa học (Personnalité) được xã hội trí thức trong ngoài nước thừa nhận, tuy vẫn có thể được tranh cãi. Tất nhiên là nó phải có tính sư phạm với văn phong khá trường quy.

2. Thời đại mà tất cả các trường đại học trong nước chỉ dùng một giáo trình duy nhất đã qua rồi!. Kinh nghiệm giáo trình Lịch sử Việt Nam là vậy, và giáo trình Cơ sở văn hoá Việt Nam cũng là vậy.

Cái ta sẽ viết là giáo trình cho ĐHKHXH&NV - trước hết là cho Khoa Sử của ĐHQGHN.

Thế thì và nhất là ở thời buổi “đổi mới” hiện nay, ta chẳng ngần ngại gì mà không thừa nhận tính trường phái của giáo trình do Khoa Sử biên soạn, thậm chí tính cạnh tranh trong khoa học, dù ai đó có thể phê phán chúng ta là có tính đố kỵ hay thậm chí là tính biệt phái - hay bè phái.

Miễn là từ tâm - óc, chúng ta trung thực và hoàn toàn tự nguyện tuân thủ phương pháp luận sử học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa mácxit sáng tạo và tư tưởng Hồ Chí Minh sáng tạo và hội nhập với trào lưu sử học tiến bộ của Loài người từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc, theo cách ta Học - Hỏi - Hiểu - Hành.

Chẳng hạn như, nếu cấp trên giao cho tôi chủ biên giáo trình Lịch sử Văn hoá Việt Nam dùng cho Khoa Sử trường ĐHKHXH&NV - ĐHQGHN, tôi phải có quyền lựa chọn các cộng tác viên trong ngoài trường cùng “gu sử học” với tôi. Nếu không, tôi xin đứng ngoài, không thắc mắc gì và chỉ làm những cái gì và với ai mà tôi thích. Trong trường hợp đó xin chớ phê phán tôi là cá nhân, tiêu cực. Trước mắt tôi là con đường về hưu, hưởng thú thanh nhàn cho đến khi từ giã cõi đời giả tạm này.

3. Chúng ta sẽ viết giáo trình chất lượng cao, để đời. Đời sống của nó là một vài chục năm, cứ cho rằng tới khoảng 2020 sẽ “lạc hậu”, quá thời. Và sẽ có một thế hệ khác viết lại. “Il a fait son temps” là một thành ngữ Pháp có tính phổ quát cho mỗi nhà khoa học, cho mỗi công trình khoa học.

3.1. Khối tư liệu dùng để biên soạn nên nó phải phong phú - đa dạng, có tính cập nhật cao.

Như thế, đòi hỏi mỗi người viết sách giáo trình phải cập nhật cao, với trong nước và với quốc tế. Thí dụ về trước Công nguyên, tôi phải đưa vào giáo trình bài Việt ca và một bài thơ có nhắc đến Âu Việt - Lạc Việt cùng sự giải mã của học giả Nhật, học giả Trung Hoa và học giả Việt Nam (tuy họ giải mã khác nhau) cũng như tôi phải đưa vào các tài liệu khảo cổ hữu thể sưu tầm được cho đến 2002 (Lung Leng, Eo Bồng, Trà Kiệu, Lý Nhân, Cần Giờ, Domea...).

3.2. Không chỉ hiện đại về tư liệu mà tôi phải xử lý mối quan hệ biện chứng giữa Phá bỏ - Bảo tồn - Sáng tạo.

Đừng mong hòng một cách ảo tưởng rằng Sử học là một khoa học tuyệt đối khách quan, phát hiện ngay được những quy luật khách quan của sự Vận động lịch sử.

Có Histoire-Réalité và tôi không phải là một kẻ làm sử (Faire Histoire) hư vô chủ nghĩa (annihiliste) hay thực chứng (positiviste). Nhưng cái đó nói như Giáo sư Sử học lớn J. Furet - người tổng kết 200 năm lịch sử cách mạng Pháp (1789-1989) - luôn luôn còn ở phía chân trời của mỗi nhà sử học chân chính. Với đầy lòng kính trọng của một kẻ hậu tử với bậc tiền bối, tôi buộc mình không dối lòng khi nói rằng cụ Trường Chinh chưa phải là người tổng kết lịch sử Cách mạng tháng 8/1945 hay nhất, đúng nhất. Cụ Tảo Trang viết tặng tôi đôi câu đối của đức Phan Bội Châu:

“Hậu tử thường đa tân tuế nguyệt

Tiền trình bất thị ác phong vân."

Tôi vô cùng cảm ơn nhưng vẫn để đấy để ngẫm suy.

Trước mắt chúng ta vẫn chỉ có - và chỉ có thể có - cái Historie Conxience. Lịch sử gắn liền với nhà sử học, với nhân cách và nhận thức của họ.

Viện sĩ Mounier, trong công trình De la connaissane Historique bảo: nhà sử học viết sử cũng chỉ như nhà họa sĩ vẽ chân dung (Portraitriste)! Họa sĩ vẽ chân dung tôi - một hiện thực khách quan đối với ông ta - nhưng cũng đồng thời họ vẽ chân dung họ, theo cách họ hiểu về tôi.

Tôi vừa được đọc một tài liệu mới nhất: Học thuyết Tương đối luận của Albert Einstein cũng chỉ là tương đối mà thôi!

Vì vậy mà hơn một chục năm trước, tôi đã viết bài Giải ảo hiện thực Đống Đa và năm nay tôi đã và sẽ viết bài Giải ảo hiện thực Đồng Đậu cùng bài Giải ảo hiện thực núi Đá Bia (Phú Yên). Tôi không muốn là kẻ quấy nhiễu sân cỏ lịch sử như Neuville quấy nhiễu sân cỏ World cup Korea - Japan.

Số phận tôi là vậy và tôi buộc phải: “đảm đương thân phận”- nói kiểu Từ Chi!

Chẳng hạn, tôi mong các nhà sử học - bạn tôi hãy suy nghĩ và viết lại - chí ít dưới khía cạnh Lịch sử văn hoá Việt Nam - về Triệu Đà (Lê Văn Hưu, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh có viết như ta trong các giáo trình thập kỷ 60, 70 không?), về Sĩ Nhiếp, về Cao Biền. Vì sao Việt điện u linh (1329) - và tâm thức dân gian cùng nhiều nhà sử học khác, gọi ngài là “Sĩ vương” và lập đền thờ cúng. Vì sao trong tờ "thủ chiếu" của đức vua khai sáng nhà Lý, lại gọi “Cao Biền” là “Cao vương”? v.v... Dựa trên suy tưởng của tôi đã có nhà sử học viết rằng: Cái gọi là thời Bắc thuộc về hiển thể chính trị chỉ là quyền tự trị địa phương. Giáo trình mới của Khoa Sử nên xem lại những chuyện đó, dù khuôn nó vào lĩnh vực Histoire mentale (lịch sử tâm thức), một phần của lịch sử văn hoá Việt Nam.

Là một đơn vị được phong tặng danh hiệu cao quý - Đơn vị Anh hùng thời đổi mới, dưới sự chèo chống của ông PGS.TS. Chủ nhiệm Khoa “đức xứng kỳ chức”, với các giáo sư tài ba danh vọng vượt bậc Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang..., tôi chỉ mong toàn Khoa Sử, qua bộ giáo trình mới này, “đổi mới mạnh mẽ và kiên quyết” tư duy Sử học để thế hệ trẻ - như đứa cháu ngoại Phan Quang Anh, tức Bờm của tôi, mới bắt đầu học lớp 9 mà kiên quyết học để được tuyển thẳng vào Khoa Sử - được “phận nhờ” (cháu không chỉ đọc sách giáo khoa phổ thông (“ngắn quá”) mà đã dám đọc Tiến trình lịch sử Việt Nam) và người già như tôi, ông Hãn, ông Lâm cũng sẽ được ngậm cười ở... thế giới bên kia!

4. Giáo trình mới không nên viết, chẳng hạn “Văn hoá Đông Sơn là văn hoá Lạc Việt”, “Trống đồng Đông Sơn là trống đồng Lạc Việt” như giáo trình Đại học Văn khoa thời thầy tôi, cố GS. Đào Duy Anh rồi gắn cái văn hoá đó với thời Văn Lang - Âu Lạc.

Tôi có điên không? Có lẽ tôi cũng có máu điên trong người, nhưng... tôi tự cho là... vẫn còn “tỉnh”.

Học giả ngoại quốc biết bao lần đã nói vào cái “bản mặt” tôi rằng: Cái “giọng” của giới sử các ông Việt Nam rất chi là... “Chauvin”, “nationalist”, tuy... ông là đỡ hơn cả đấy! Ở Đại học Tổng hợp Hà Nội, tôi đã nêu luận điểm từ khi thành lập ngành Khảo cổ: Khi anh/chị nghiên cứu những nền văn hoá tiền - sơ sử thì... hãy tạm thời quên đi những biên giới chính trị của các quốc gia hiện nay. Văn hoá Hoà Bình - Bắc Sơn chẳng hạn là của toàn Đông Nam Á, cả lục địa và hải đảo.

Đến khi được cấp trên chỉ thị thành lập ngành Văn hoá học, tôi lại nêu luận điểm: Không gian văn hoá và không gian chính trị là khác nhau. Và rất thường khi Biên giới chính trị cắt “ngang xương” một không gian văn hoá, ở châu Phi là vậy. Ở Đông Nam Á, ở Việt Nam cũng là vậy.

Khi còn sinh thời GS. Phạm Huy Thông, lúc ông làm Viện trưởng Viện Khảo cổ học, tôi đã nài được ông cho thuyết trình ở Viện rằng: Cái không gian trống đồng loại I Heger là nằm trong một “tam giác đồng” (tôi nhái khái niệm “Tam giác Vàng”) mà 3 đỉnh là Vân Nam - Việt Nam - Lưỡng Quảng ngày nay và nhấn mạnh rằng: ở thời đó nó vẫn là một không gian “Phi Hoa - Phi Ấn”, gọi là “Không gian Việt cổ” cũng được, nhưng Việt cổ là một khái niệm khá mơ hồ, chỉ nhìn “cái răng, cái tóc là góc con người” thì cũng đủ biết: “Người Đông Sơn” vừa búi tóc (tư liệu Việt Khê, Hải Phòng), vừa xoã tóc (tư liệu Đào Thịnh, Yên Bái), vừa tết tóc (tư liệu nhiều dao găm cán hình người Đông Sơn), có răng nhuộm đen, có răng để trắng: Bao nhiêu “mộ thuyền” đã chứng tỏ điều đó.

“Sống xen kẽ giữa các tộc người” ở Việt Nam, dù Nam Á, Nam Đảo hay các ngữ hệ Tạng Miến... gì gì đi nữa đã là một quy luật lịch sử lâu đời để nhà khảo cổ học Thụy Điển, GS. Olov Janse rút ra một kết luận bất hủ: “Vietnam, Carrefour des Peuples et des Civilisations”.

Việt Nam hôm nay có sự thống nhất văn hóa và ngôn ngữ, nhưng cũng có sự đa dạng, nếu không muốn nói “huỵch toẹt” ra là có cái “đa văn hóa” (multicultural) và “đa ngôn ngữ” (multilinguistic).

Thì có sao đâu ở trong một cái khuôn thể chế chính trị thống nhất, dân chủ?

Vậy những người anh hùng ở Khoa Sử nên viết “Lịch sử Việt Nam” chứ không phải là “Lịch sử người Việt” cho dù tộc Kinh - Việt hiện nay là chủ thể quốc gia. Mà cái gọi là người Việt như ta hiểu cũng xuất hiện khá muộn mằn trong lịch sử... và cũng đa dạng lắm, từ Bắc - Trung tới miền Nam đất nước.

Từ lâu, người Pháp đã phân biệt Histoire de France và Histoire des Francais. Ta nên tham khảo họ. Người Nhật (và cả người Hoa) cũng đã nhìn thấy nhiều “văn hoá Trung Hoa” rồi đấy (cùng lắm thì họ gọi là “Một văn hoá Trung Hoa có nhiều local cultures”.

5. Cho nên cách viết “Lịch sử Việt Nam” nói chung, “Lịch sử văn hoá Việt Nam” nói riêng rất nên là cách viết một thời không gian liên tục kiểu A.Einstein, hay, nói theo một hướng tiếp cận hiện đại, là kết hợp nghiên cứu Lịch đại (Diachronic Studies) và nghiên cứu Vùng - Tiểu vùng (Area Studies).

Đừng “lờ” một hiện tượng lịch sử quan trọng và kéo dài “Nam tiến” (The March to the South) hay còn gọi là Migration horizontale của người Kinh - Việt trong khi ở các nhóm H’mong - Yao, thì đó lại là migration vertical (Di cư theo chiều dọc).

Đừng dùng các khái niệm đã mòn, thậm chí cái thủ thuật “đánh tráo khái niệm” bằng ngôn từ điêu xảo. Hãy gọi sự vật bằng chính cái tên của nó.

Nếu có một lời thề chung cho các nhà sử học thì, theo tôi, nên là: “Trung thực và dũng cảm”.

Thư bất tận ngôn. Ngôn bất tận ý!

Hà Nội, 23/6/2002




 

CÓ MỘT CUỘC GẶP GỠ CỦA HAI NGƯỜI VIỆT



                Cám ơn Nguyễn Minh Hòa đã kết nối những người cùng tâm tư.


1. Hôm nay tôi được gặp một người bạn rất đặc biệt.

Một cuộc gặp có lẽ sẽ chẳng có gì đặc biệt nếu giữa chúng tôi không có một khoảng cách của lịch sử: hai người con của Việt Nam, thuộc “thế hệ vùng biên” sinh ra giữa chiến tranh và trưởng thành trong hòa bình, thuộc về hai “phía” khác nhau trong cuộc chiến tranh đã đi qua hơn nửa thế kỷ.

Điều mang lại cho tôi nhiều cảm xúc không chỉ từ sự khác biệt ấy, bởi vì tôi có rất nhiều người bạn xuất thân như anh. Mà là sau 51 năm, hai con người đều đã gần “thất thập”, chưa từng gặp nhau nhưng có thể ngồi trò chuyện như hai người bạn thân lâu ngày gặp lại, nói với nhau rất thật lòng về cuộc chiến, về những mất mát của người Việt Nam ở cả hai phía, và về đất nước hôm nay.

Có những điều chỉ thời gian mới giúp chúng ta nhìn rõ hơn.

Chiến tranh thường chia con người thành những phía khác nhau. Nhưng khi cuộc chiến đã đi qua, điều còn lại trước hết vẫn là những con người cụ thể, với những ký ức, những tổn thương, những tình yêu dành cho quê hương và những mong muốn về tương lai của mình, của gia đình, của đất nước. Tôi nghĩ, hòa bình có lẽ không chỉ là khi ngừng tiếng súng, mà cần được bắt đầu bằng việc mọi người có thể chia sẻ cùng nhau những nghĩ suy, những ước mơ về một quê hương “khi tàn cơn binh lửa”.

Nếu có thể ngồi xuống bên nhau, lắng nghe câu chuyện của nhau mà không vội phán xét, có thể thừa nhận rằng mỗi người có thể mang trong mình một phần sự thật của lịch sử, chúng ta sẽ thể tất với nhau hơn vì hiểu rằng mỗi người có ký ức riêng về quá khứ, mà ngay người cùng “một bên” có thể cũng có những ký ức khác nhau! Khi mỗi người được quyền mang theo ký ức của mình mà không biến ký ức ấy thành vũ khí chống lại người khác, khi đó chúng ta sẽ hiểu rằng, khác nhau về quá khứ không nhất thiết phải khác nhau trong ước mong về tương lai chung của đất nước.

2. Từ rất lâu tôi cứ hay nghĩ về lòng khoan dung của người Việt Nam. Bởi nếu không khoan dung thì rất khó để con người thực sự đồng cảm với hoàn cảnh của người khác. Nhất là với một đất nước chiến tranh liên miên, văn hóa đa dạng và lịch sử có quá nhiều “bước ngoặt”.

Muốn đồng cảm, trước hết cần biết chấp nhận rằng người kia có thể đã sống trong một hoàn cảnh rất khác mình: đã được nuôi dưỡng bởi một gia đình khác, một ký ức khác, một môi trường xã hội khác, thậm chí đã phải đưa ra những lựa chọn mà nếu đặt mình vào hoàn cảnh ấy, chưa chắc ta đã lựa chọn khác họ.

Trong những câu chuyện về chiến tranh, điều này càng quan trọng. Bởi chiến tranh đã đặt hàng triệu con người vào những hoàn cảnh mà họ không phải lúc nào cũng được quyền lựa chọn. Có người ra trận. Có người ở lại. Có người di tản. Có người mất nhà. Có người mất người thân. Có người mang theo ký ức của chiến thắng. Có người mang theo ký ức của thất bại... Và cũng có những người cả đời không thể gọi tên những gì mình đã trải qua. Chiến tranh càng lùi xa ta càng thấy rõ tác động lâu dài của nó đến từng con người, từng gia đình với những mất mát tổn thương cụ thể.

Nếu chỉ nhìn lịch sử bằng những định kiến “phía này” haybên kia”, ta chỉ thấy nhìn Hòa bình một ‘bức tường” bằng phẳng mà không thấy từng “viên gạch” khác nhau được gắn kết với nhau thế nào. Lòng Khoan dung không có nghĩa là phủ nhận hay quên đi quá khứ, là xóa nhòa những mất mát, tổn thương. Khoan dung là khả năng nhìn thấy số phận từng con người phía sau những khác biệt. Nếu Tổ quốc được tập hợp chính từ những gia đình những con người cụ thể thì lòng khoan dung là chất keo kết dính của tập hợp ấy, xoa dịu từng mất mát, bù đắp những tổn thương...  

3. Lòng khoan dung là một dạng “di truyền văn hóa” mà xã hội rất cần. Bởi mỗi thế hệ không chỉ thừa hưởng từ thế hệ trước những ngôi nhà, tài sản, ký ức và câu chuyện gia đình. Chúng ta còn thừa hưởng cả cách nhìn người khác. Ta có thể truyền cho con cháu mình nỗi sợ, sự định kiến và sự thù hận. Nhưng ta cũng có thể truyền cho chúng lòng nhân ái, sự công bằng và khả năng thấu cảm. Tương lai của một cộng đồng phụ thuộc rất nhiều vào quyết định của thế hệ trước lựa chọn điều gì để truyền cho thế hệ tương lai.

Sau 51 năm, hai người chúng tôi thuộc “thế hệ vùng biên” của “hai phía” một cuộc chiến có thể ngồi với nhau và nhận ra rằng giữa chúng tôi có nhiều điều đồng cảm. Đó là một điều nhỏ bé trong dòng chảy rất dài của lịch sử. Nhưng đôi khi, những thay đổi lớn của một dân tộc lại bắt đầu từ những điều rất nhỏ như thế. Nghĩ cho cùng, hòa hợp dân tộc không chỉ là vấn đề của thế hệ đã trải qua chiến tranh, mà còn là cách thế hệ ấy kể về cuộc chiến tranh cho thế hệ sau.

30.8.2026


 

 

 

KIẾN TẠO KHÔNG GIAN VĂN HÓA – XÃ HỘI CỦA ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH MỚI

 

Nguyễn thị Hậu
1.
Việc tổ chức lại đơn vị hành chính tại TPHCM và nhiều tỉnh thành khác từ 1.7.2025 thường được tiếp cận dưới góc độ quản lý nhà nước, quy hoạch không gian và tổ chức bộ máy. Tuy nhiên, mỗi đơn vị hành chính mới không đơn thuần là sự cộng gộp diện tích và dân số. Đó còn là sự gặp gỡ của những cộng đồng cư dân, ký ức địa phương, cảnh quan tự nhiên và những phương thức sinh kế vốn được hình thành qua thời gian. Tức là, việc thành lập các phường mới không chỉ như một đơn vị hành chính mới, mà như sự hình thành của một không gian văn hóa-xã hội mới.
Trong bối cảnh ấy, việc sáp nhập đơn vị hành chính mới thực chất là quá trình kiến tạo một bản sắc văn hóa mới. Nhìn từ góc độ Địa-Văn hóa thì không gian văn hóa được hình thành bởi sự tương tác giữa địa hình, môi trường tự nhiên, lịch sử cư trú và hoạt động của con người. Vì vậy, Quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội không chỉ xem địa giới hành chính là đối tượng chính, mà còn cần chú ý mối liên hệ truyền thống giữa tự nhiên - con người - lịch sử - kinh tế đã tạo nên những bản sắc văn hóa của một vùng. Vấn đề đặt ra là, trong quá trình hiện đại hóa hiện nay không nên chỉ bàn về "định hướng đô thị hóa", mà còn cần "định hướng kiến tạo không gian văn hóa đô thị". Bởi vì, nếu “đô thị hóa” chủ yếu trả lời câu hỏi: xây gì, mở đường gì, phân khu ra sao? Thì “kiến tạo không gian văn hóa đô thị” trả lời câu hỏi: cư dân sẽ sống với nhau như thế nào, ký ức địa phương sẽ được gìn giữ ra sao, và điều gì làm cho các phường mới khác với hàng trăm phường đô thị khác?
2.
Mới đây Ủy ban Nhân dân xã Bình Hưng (TPHCM) tổ chức hội thảo "Tiềm năng phát triển đô thị xã Bình Hưng và định hướng quy hoạch phân khu trong giai đoạn mới". Nội dung hội thảo tập trung bàn về giải pháp phát triển đô thị, nâng cao quản trị công và khơi thông nguồn lực đầu tư. Từ “không gian hành chính” xã Bình Hưng thử phân tích các yếu tố căn bản để “kiến tạo không gian văn hóa mới” trong quá trình phát triển.
Không gian của những lớp địa văn hóa chồng xếp. Dự thảo đề án thành lập Phường Bình Hưng cho biết, địa bàn mới có lịch sử hành chính khá phức tạp, bao gồm vùng cư trú lâu đời của xã Bình Hưng, vùng ven đô xã Phong Phú (huyện Bình Chánh cũ) và một phần không gian đô thị phường... quận 8 cũ. Nếu từ góc độ hành chính, đây là kết quả của quá trình sáp nhập không gian địa lý. Nhưng từ góc nhìn địa-văn hóa thì đây là quá trình giao thoa giữa ba kiểu không gian xã hội: làng ven sông Nam Bộ, vùng nông thôn đang đô thị hóa và khu dân cư đô thị mở rộng. Vì vậy Bình Hưng là một không gian đa văn hóa, nơi các bản sắc khu vực đang tiếp tục được dung hòa và tái cấu trúc.
Sinh thái sông nước vẫn là nền tảng của bản sắc. Mặc dù đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, nền tảng địa lý tự nhiên của Bình Hưng vẫn là vùng đất thấp Nam Bộ. Hệ thống sông ngòi, kênh rạch không chỉ là yếu tố tự nhiên mà còn là "hạ tầng văn hóa", chi phối cách con người tổ chức đời sống. Bởi vậy, trong quá trình phát triển đô thị, việc bảo tồn hệ sinh thái nước không chỉ nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu mà còn là bảo tồn nền tảng của bản sắc địa phương.
Từ xã nông thôn đến cộng đồng đô thị mở. Một hiện tượng đáng chú ý là trong khi tỷ lệ đất nông nghiệp vẫn còn đáng kể thì cơ cấu lao động đã gần như hoàn toàn chuyển sang phi nông nghiệp. Điều đó phản ánh sự lệch pha giữa cảnh quan và đời sống xã hội. Nói cách khác, Bình Hưng không còn là xã hội thuần nông nhưng cũng chưa là đô thị đúng nghĩa. Không gian này đồng thời tồn tại các khu dân cư cũ, khu đô thị mới, khu nhà trọ, các khu vực dịch vụ và các vùng đất đang chuyển đổi. Cộng đồng Bình Hưng ngày càng được tổ chức từ các quan hệ mang tính chất đô thị: nghề nghiệp, dịch vụ, giáo dục và giao thông.
Giao thông và logistics như một yếu tố văn hóa. Trong các nghiên cứu đô thị, giao thông thường chỉ được xem là hạ tầng kỹ thuật. Tuy nhiên đối với Bình Hưng, hạ tầng giao thông không chỉ làm thay đổi kinh tế mà còn làm thay đổi nhịp sống, cấu trúc cư dân và phương thức giao tiếp. Có thể nói, hệ thống giao thông ở đây đã trở thành một thành tố cấu thành bản sắc văn hóa đô thị.
Từ "cộng đồng cư dân" đến "cộng đồng đô thị". Đặc điểm xã hội quan trọng của Bình Hưng là sự đa dạng nguồn gốc cư dân. Cộng đồng hiện nay bao gồm cư dân lâu đời, người nhập cư, người thuê trọ, lao động dịch vụ, người làm việc tại trung tâm thành phố và các khu công nghiệp phía Nam. Điều đó tạo nên một cộng đồng mà sự gắn kết không còn dựa chủ yếu vào huyết thống hay làng xóm, mà dựa vào trường học, nơi làm việc, mạng lưới dịch vụ và các thiết chế đô thị. Đây là một xu hướng phổ biến của các vùng ven TPHCM.
3.
Theo công trình Space and Place: The Perspective of Experience của Yi-Fu Tuan: "Space" (không gian) chỉ trở thành "Place" (nơi chốn) khi con người sống trong đó, gắn bó với nó và trao cho nó ký ức, ý nghĩa và cảm xúc. Nhiều đơn vị hành chính sau sáp nhập mới chỉ là một space về mặt hành chính, nhiệm vụ của phát triển văn hóa và quản trị đô thị là giúp nó trở thành một place – một nơi chốn mà cư dân “cảm thấy thuộc về”. Nếu lấy luận điểm này làm sợi chỉ đỏ cho cho quá trình sáp nhập, chuyển đổi các đơn vị hành chính nói chung, thì quan điểm đô thị hóa không chỉ là gia tăng mật độ xây dựng hay mở rộng hạ tầng kỹ thuật. Mà Đô thị hóa đồng thời là quá trình tái cấu trúc không gian sống và kiến tạo bản sắc văn hóa của một cộng đồng mới.
Vì vậy, việc phát triển các đơn vị hành chính mới cần được đặt trên những nguyên tắc phù hợp với đặc điểm tự nhiên, lịch sử và xã hội của địa phương, của vùng. Trường hợp xã Bình Hưng, quá trình kiến tạo không gian văn hóa mới dựa trên các nguyên tắc:
Thứ nhất, tôn trọng cấu trúc sinh thái sông nước như nền tảng của phát triển đô thị. Hệ thống kênh rạch, vùng đất thấp và các không gian trữ nước không chỉ thực hiện chức năng thoát nước, điều hòa khí hậu mà còn là dấu ấn của lịch sử cư trú Nam Bộ.
Thứ hai, gìn giữ ký ức lịch sử của vùng ven đô. Cộng đồng văn hóa mới cần được nuôi dưỡng từ những ký ức chung. Những địa danh cũ, các tuyến đường, đình, chùa, miếu, chợ truyền thống, các tuyến kênh, câu chuyện về quá trình khai phá hay chuyển đổi nghề nghiệp đều là những "mốc ký ức" giúp cư dân nhận diện nơi mình đang sống.
Thứ ba, xây dựng không gian công cộng mới để tăng cường sự gắn kết xã hội. Các công viên, quảng trường nhỏ, đường đi bộ ven kênh, nhà văn hóa, thư viện cộng đồng hay các không gian sinh hoạt chung sẽ trở thành nơi gặp gỡ của cư dân cũ và mới, các tầng lớp dân cư... góp phần xây dựng ý thức chung cho một cộng đồng mới.
Thứ tư, phát triển kinh tế đô thị gắn với bản sắc địa phương. Việc khai thác cảnh quan sông nước, văn hóa ẩm thực, các tuyến chợ truyền thống, nghề dịch vụ địa phương hay các hoạt động văn hóa cộng đồng sẽ góp phần tạo nên lợi thế cạnh tranh dựa trên bản sắc thay vì chỉ dựa vào hạ tầng.
Thứ năm, văn hóa là một thành phần của quy hoạch đô thị. Các nghiên cứu văn hóa cần tham gia ngay từ giai đoạn quy hoạch nhằm xác định những không gian cần bảo tồn, những giá trị cần phát huy và những yếu tố có thể tạo nên bản sắc của đô thị mới. Việc bảo tồn di sản địa phương góp phần hình thành bản sắc của phường Bình Hưng trong tương lai. Văn hóa vì vậy còn là một nguồn lực phát triển.
4.
Quá trình hình thành các đơn vị hành chính mới cần được nhìn nhận đồng thời từ góc độ tổ chức lãnh thổ và góc độ kiến tạo không gian văn hóa. Nếu quy hoạch là quá trình tổ chức không gian vật chất thì văn hóa là quá trình kiến tạo ý nghĩa cho không gian ấy. Một đơn vị hành chính mới chỉ thực sự trở thành một cộng đồng khi cư dân có thể nhận diện được những giá trị chung được hình thành từ lịch sử, cảnh quan và đời sống đương đại.
Trong quá trình này, khái niệm "không gian văn hóa – xã hội" có thể phát triển thành khái niệm "địa-văn hóa đô thị chuyển tiếp" (transitional urban geoculture). Khái niệm này giải đáp một vấn đề: không gian văn hóa là một cơ sở quan trọng để đề ra những nguyên tắc phát triển đô thị, từ đó có chính sách phù hợp giải quyết thực tiễn và quản lý xã hội.
Quá trình sắp xếp lại đơn vị hành chính tại Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh thành khác không chỉ tạo nên những địa giới quản lý mới, mà còn đặt ra yêu cầu nhận diện các không gian văn hóa đang hình thành trong quá trình đô thị hóa. Quá trình quy hoạch không gian kinh tế-xã hội cần lưu ý đến "không gian văn hóa chuyển tiếp", nơi vốn hội tụ nhiều lớp lịch sử cư trú, nhiều dạng cảnh quan và nhiều cộng đồng xã hội khác nhau từ những đơn vị hành chính cũ. Điều này sẽ góp phần thiết thực cho nghiên cứu và xây dựng chính sách văn hóa-xã hội tại địa phương trong giai đoạn mới.



HỒI HƯƠNG DI SẢN: ĐƯA HIỆN VẬT VỀ NƯỚC HAY ĐƯA TRI THỨC TRỞ LẠI?

 Nguyễn Thị Hậu

1.     Một bước chuyển trong tư duy về di sản

Hồi hương cổ vật là việc làm có ý nghĩa lớn, nhất là ở những quốc gia từng bị thực dân đô hộ như Việt Nam. Nếu ở những năm cuối của thế kỷ 20 dường như chỉ có một mong muốn, một lựa chọn là “đưa trả cổ vật về đúng nơi nó từng được sinh ra”, thì hiện nay trong bối cảnh “số hóa di sản toàn cầu”, một câu hỏi đơn giản nhưng quan trọng cần được đặt ra: Hồi hương di sản thật sự là đưa hiện vật về nước, hay đưa tri thức về hiện vật trở lại với cộng đồng? Vì thế câu chuyện hồi hương di sản cần được nhìn rộng hơn, không chỉ là bản thân hiện vật mà còn là những giá trị phi vật thể: tri thức, ký ức và những câu chuyện về hiện vật trở lại với cộng đồng.

Chủ trương đưa các tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, di sản văn hóa đáp ứng tiêu chí bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm và hiện vật có giá trị đặc biệt của Việt Nam đang ở nước ngoài trở về nước cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản lý di sản. Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là bảo vệ những gì đang có trong lãnh thổ, chống buôn bán trái phép và ngăn chặn cổ vật tiếp tục ra nước ngoài, thì nay Việt Nam bắt đầu đặt vấn đề chủ động tìm lại và hồi hương những phần quan trọng của di sản dân tộc đang phân tán trên thế giới.

Cơ chế được đặt ra có thể bao gồm những ưu đãi về thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng và một số chi phí liên quan đối với các trường hợp đưa hiện vật về Việt Nam không vì mục đích lợi nhuận để trưng bày, hiến tặng hoặc chuyển giao cho Nhà nước. Đây là một hướng đi đáng chú ý, bởi nó mở ra khả năng huy động nguồn lực xã hội thay vì chỉ trông chờ vào ngân sách nhà nước.

2.     Xác định cổ vật nào cần được trở về

Một chính sách hồi hương ở quy mô quốc gia không thể chỉ dựa trên cảm xúc “đó là của mình, phải mang về”. Trước hết cần xác định thế nào là “tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao”, thế nào là hiện vật có ý nghĩa đặc biệt, ai có thẩm quyền xác định và dựa trên những tiêu chí học thuật, pháp lý nào. Bên cạnh đó cũng cần có những danh mục ưu tiên: hiện vật khảo cổ độc bản, bảo vật quốc gia, hiện vật cung đình, những tác phẩm có ý nghĩa đặc biệt đối với lịch sử và bản sắc dân tộc, hay những tư liệu lưu trữ, bản đồ, ảnh, phim có giá trị không thể thay thế. Trên thực tế không phải mọi hiện vật Việt Nam đang ở nước ngoài đều có giá trị như nhau. Và quan trọng hơn, không phải hiện vật nào cũng nhất thiết phải được đưa về bằng mọi giá.

Có lẽ không cần tìm đâu xa một ví dụ cho câu chuyện này. Lịch sử gốm Chu Đậu của Việt Nam đã cho thấy một hiện vật ở nước ngoài đôi khi có thể “trở về” theo một cách khác. Môt chiếc bình gốm hoa lam từng là một manh mối quan trọng giúp giới nghiên cứu nhận diện lại một dòng gốm Việt Nam từng rất phát triển nhưng đã thất truyền trong nhiều thế kỷ. Điều thú vị là câu chuyện về chiếc bình không bắt đầu bằng việc nó được đưa trở lại Việt Nam. Từ dấu tích của một hiện vật đang ở Istanbul, câu chuyện về làng gốm Chu Đậu ở Hải Dương bắt đầu được lần lại. Nói cách khác, chiếc bình không trở về Việt Nam, nhưng tri thức về chiếc bình đã trở về. Và sự trở về ấy có ý nghĩa đặc biệt. Tri thức về kỹ thuật gốm có thể trở về với các nhà khảo cổ học, ký ức về làng nghề có thể trở về với cộng đồng Chu Đậu...

Nếu khi ấy chỉ đặt câu hỏi “Chiếc bình này đang ở Istanbul, làm thế nào để đưa nó về Việt Nam?” thì chúng ta sẽ bỏ qua một câu chuyện lớn hơn. Trong trường hợp này giá trị của chiếc bình không chỉ nằm ở bản thân chiếc bình, mà còn nằm ở khả năng nó dẫn chúng ta trở lại một phần lịch sử đã bị đứt đoạn. Hiện nay cổ vật này được bảo quản tốt, được nghiên cứu nghiêm túc và được giới thiệu đúng bối cảnh, nó vẫn đang làm một công việc quan trọng: đại diện cho văn hóa Việt Nam ở bên ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Trong trường hợp này, câu hỏi không còn đơn giản là “có đưa về hay không?”, mà nếu đưa về thì chúng ta có thể tạo ra giá trị gì lớn hơn không? để lại thì làm thế nào để giá trị Việt Nam của hiện vật được nhận diện, nghiên cứu và kể đúng câu chuyện? Đó là một cách nhìn khó hơn, nhưng trưởng thành hơn.

3.     Một hiện vật trở về chưa phải là một di sản trở về

Di sản là một mạng lưới quan hệ giữa vật thể với con người, ký ức, tri thức, môi trường và đời sống văn hóa. Vì vậy, nếu một hiện vật trở về nhưng không được nghiên cứu, không được số hóa, không được giải thích và không đi vào đời sống cộng đồng, thì chúng ta mới chỉ đưa được vật thể trở về, chưa làm sống lại tinh thần và đời sống của hiện vật.

Từ góc nhìn này, có thể hình dung quá trình hồi hương theo ba tầng:

Hồi hương vật thể → Hồi hương tri thức → Hồi hương và tái tạo ký ức văn hóa.

Tầng thứ nhất là đưa hiện vật về.

Tầng thứ hai là đưa hồ sơ, dữ liệu, nghiên cứu, hình ảnh, bản quét 3D và những tri thức liên quan về với cộng đồng nghiên cứu và công chúng.

Tầng thứ ba mới là khó nhất: làm cho hiện vật trở thành một phần của đời sống hôm nay.

Một bảo vật trở về không chỉ nằm trong tủ kính, mà đi vào trường học, bảo tàng, sách, phim tài liệu, triển lãm, nền tảng số, trò chơi và các sản phẩm sáng tạo. Người dân biết câu chuyện của nó, hiểu vì sao nó quan trọng và nhận ra nó như một phần của ký ức chung. Khi ấy, hồi hương không chỉ là đưa một đồ cổ, một bức tranh, tượng nổi tiếng về là đưa một câu chuyện văn hóa trở về. Từ đây có thể nghĩ tới một khái niệm rộng hơn: hồi hương hệ sinh thái di sản. Hệ sinh thái ấy bao gồm hiện vật, nhưng không dừng ở hiện vật. Nó còn bao gồm tri thức, dữ liệu, ký ức, câu chuyện, công nghệ, cộng đồng và những thiết chế văn hóa làm cho di sản tiếp tục sống. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong thời đại số, bởi vì những tri thức được lưu giữ chuẩn xác sẽ được các thế hệ sau sử dụng và sáng tạo bằng tư duy mới, khoa học kỹ thuật mới, sản phẩm mới và tăng thêm những giá trị mới, kể cả giá trị kinh tế. Đó là “phát triển bền vững” từ di sản văn hóa.

Việt Nam có thể xây dựng một cơ sở dữ liệu quốc gia về các hiện vật Việt Nam đang ở nước ngoài; số hóa hồ sơ; quét 3D; chụp ảnh chất lượng cao; tập hợp và dịch các công trình nghiên cứu; kết nối với các bảo tàng, trường đại học, nhà sưu tập và các tổ chức nghiên cứu quốc tế. Khi đó, ngay cả những hiện vật chưa thể hồi hương về mặt vật chất cũng đã có một phần “trở về”. Tri thức có thể trở thành triển lãm. Dữ liệu có thể trở thành học liệu. Hình ảnh và bản quét có thể trở thành nền tảng số. Những câu chuyện về hiện vật có thể trở thành phim, sách, sản phẩm sáng tạo và trải nghiệm du lịch văn hóa.

Mặt khác đừng để hồi hương trở thành một cuộc chạy đua mua cổ vật. Vì vậy chính sách hồi hương cổ vật cần được thiết kế rất thận trọng để có thể thực thi đúng trong thực tế. Nếu mục tiêu chỉ là “đưa càng nhiều hiện vật về càng tốt”, một số hệ quả ngoài mong muốn có thể xuất hiện: Hiệu ứng truyền thông có thể khiến giá trị biểu tượng lấn át giá trị học thuật. Một hiện vật nổi tiếng có thể được mua với giá rất cao trong khi những bộ sưu tập ít được chú ý hơn nhưng có giá trị nghiên cứu lớn lại bị bỏ qua. Thị trường quốc tế cũng có thể phản ứng bằng cách đẩy giá các hiện vật có nguồn gốc Việt Nam lên cao. Nghiêm trọng hơn, nếu cơ chế kiểm soát không đủ chặt chẽ, chính sách hồi hương có thể vô tình tạo động lực cho việc đưa hiện vật ra nước ngoài rồi tìm cách đưa trở lại dưới danh nghĩa “hồi hương”.

4.     Từ chủ quyền hiện vật đến chủ quyền tri thức

Có lẽ đây là điểm quan trọng nhất cần được suy nghĩ khi xây dựng chính sách hồi hương. Chúng ta thường nói: “Đó là di sản của mình, phải đưa về”. Nhưng trong thế giới ngày nay, có một câu hỏi khác cũng quan trọng không kém: Tri thức về di sản của mình đang ở đâu? Ai đang nghiên cứu nó? Ai đang kể câu chuyện về nó? Và cộng đồng Việt Nam có thể tiếp cận những tri thức ấy đến đâu?

Một hiện vật Việt Nam ở Paris, London hay New York vẫn có thể là một phần của di sản Việt Nam. Vấn đề là Việt Nam có hiện diện trong câu chuyện được kể về hiện vật ấy hay không. Đây chính là sự khác biệt giữa chủ quyền đối với hiện vật chủ quyền đối với tri thức. Không phải mọi hiện vật Việt Nam ở nước ngoài đều cần hồi hương. Nhưng mọi hiện vật Việt Nam ở bất cứ đâu cũng cần được kết nối với hệ tri thức và cộng đồng Việt Nam.

Từ đó, thay vì chỉ xây dựng Đề án hồi hương di sản, có thể xây dựng một Chiến lược hiện diện di sản Việt Nam trên thế giới, với ba trụ cột:

Hồi hương những hiện vật có ý nghĩa đặc biệt về lịch sử, bản sắc và pháp lý.

Hiện diện thông qua hợp tác với các bảo tàng quốc tế để hiện vật Việt Nam được trưng bày, nghiên cứu và kể đúng câu chuyện của mình.

Kết nối bằng một cơ sở dữ liệu quốc gia liên thông với các bảo tàng, trường đại học và tổ chức nghiên cứu trong và ngoài nước.

Trong tranh luận về hồi hương cổ vật, chúng ta thường đặt hai lựa chọn đối lập: hoặc đưa hiện vật về nước, hoặc để nguyên ở nước ngoài. Nhưng còn một cách thứ ba: quản trị một “quốc gia di sản phân tán. Đó là thừa nhận một thực tế lịch sử di sản Việt Nam hiện diện ở nhiều quốc gia, trong nhiều bảo tàng, bộ sưu tập và kho lưu trữ khác nhau. Điều cần thiết là Việt Nam phải có năng lực để biết chúng đang ở đâu; có tiếng nói học thuật về chúng; kết nối dữ liệu và nghiên cứu; lựa chọn trường hợp nào thực sự cần hồi hương; đồng thời kể được câu chuyện Việt Nam thông qua chính những hiện vật ấy. Đây có thể là một hướng đi mới trong chính sách văn hóa phù hợp với thời đại Công nghệ số.

Trong tương lai, sức mạnh di sản không chỉ nằm ở số hiện vật chúng ta sở hữu, mà còn nằm ở khả năng tạo ra, kết nối và lan tỏa tri thức về những hiện vật ấy. Cuối cùng, hồi hương di sản không nên chỉ được hiểu là một hành động “đưa quá khứ trở về”. Mục tiêu sâu xa hơn phải là làm hồi sinh ký ức, để quá khứ tiếp tục có ích cho hiện tại và tương lai, là một hạt nhân tạo ra giá trị mới.

Vì thế, có lẽ điều đáng mong đợi nhất từ một chính sách hồi hương di sản không phải là một ngày nào đó chúng ta có thể thống kê được bao nhiêu cổ vật đã được đưa về Việt Nam. Điều đáng mong đợi hơn là từ mỗi hiện vật trở về, chúng ta có thêm một câu chuyện được kể, một ký ức được đánh thức, một công trình nghiên cứu được mở ra, một thế hệ trẻ hiểu hơn về lịch sử của mình và một cơ hội mới để văn hóa Việt Nam hiện diện trong thế giới.

Đưa một bảo vật trở về nước là đáng quý. Nhưng làm cho cả hệ sinh thái tri thức, ký ức và con người quanh bảo vật ấy được hồi sinh còn đáng quý hơn. Bởi suy cho cùng, hồi hương di sản không phải chỉ là đưa quá khứ trở về nơi nó từng thuộc về, mà là trao cho quá khứ một đời sống mới trong một tương lai “toàn cầu hóa”.

TP Hồ Chí Minh ngày 12/8/2026




NHÂN QUẢ CỦA MỘT XÃ HỘI KHI KỶ CƯƠNG VÀ NIỀM TIN VÀO CÔNG LÝ BỊ BÀO MÒN

Nguyễn Thị Hậu. Từ FB Hậu khảo cổ

1.

Mới đầu tháng bảy âm lịch mà đã có quá nhiều chuyện buồn! Nhiều người đã lên tiếng vì bức xúc, nhiều người đã vịn vào “nhân quả” để tìm cho mình chút hy vọng vào công lý. Những ngày này mình nghĩ nhiều về “nhân quả”: nếu chỉ hiểu như chuyện một người làm ác rồi một ngày nào đó nhận quả báo thì chưa đủ. Hiện trạng còn có một dạng nhân quả xã hội đáng sợ hơn: khi những hành vi sai trái được lặp lại, được dung thứ, được biện minh, hoặc được xử lý bằng một thứ pháp luật méo mó, thì cái giá không còn do riêng người gây ra trả nữa.

Chuyện chiếc xe BMW và gốc cây 55, chuyện cô gái Việt kiều bị xâm hại... những vụ việc khác nhau nhưng đều khiến người ta phẫn nộ vì đều gặp nhau ở một câu hỏi lớn hơn: Điều gì xảy ra khi con người không còn tin rằng đúng – sai sẽ được phân định một cách công bằng? Chúng ta đang chứng kiến những biểu hiện nguy hiểm đang trở thành bình thường:

Người làm sai không còn sợ sai, mà chỉ sợ bị phát hiện. Thậm chí cũng chẳng sợ, vì “mày có biết bố/mẹ/vợ/chồng tao là ai không?”. Người chứng kiến điều sai không còn tin vào việc lên tiếng, vì “có nói cũng chẳng thay đổi được gì”, thậm chí còn bị “gạch đá, dán nhãn” đủ điều... Do đó những người tử tế dần trở nên dè dặt, vì không tin có thể tự bảo vệ mình được. Luật pháp từ một hàng rào bảo vệ công bằng bị biến thành công cụ để người có quyền lực, tiền bạc, quan hệ tùy ý diễn giải theo hướng có lợi cho mình. điều đáng sợ nhất đã xảy ra: tội ác được cân đo đong đếm bù trừ bằng tiền bạc!

Đó chính là lúc mình nghĩ đến chữ “nghiệp” theo một nghĩa rộng hơn nghĩa tôn giáo. Một xã hội liên tục dung dưỡng cái sai sẽ tạo ra nghiệp xã hội. Không phải ông trời trừng phạt cả xã hội theo nghĩa thần bí, mà chính xã hội sẽ phải trả giá bằng những hệ quả do mình tạo ra: mất niềm tin, mất cảm giác an toàn, mất sự tử tế, mất lòng tin vào luật pháp và cuối cùng là mất khả năng phân biệt đúng sai, phân biệt điều gì đáng được tôn trọng hay cần phải lên án, loại trừ.

Nhân quả khi ấy rất cụ thể.

Hôm nay chúng ta làm ngơ trước một sự bất công không liên quan đến mình. Ngày mai một người khác sẽ làm ngơ khi bất công xảy đến với mình. Hôm nay chúng ta chấp nhận một sự gian dối “vì nó có lợi”. Ngày mai chính sự gian dối ấy trở thành môi trường sống của chúng ta. Hôm nay chúng ta cười cợt trước một người yếu thế bị xúc phạm. Ngày mai con cái chúng ta có thể lớn lên trong một xã hội mà sự xúc phạm người khác được xem là chuyện bình thường. Và đó mới là thứ “quả báo” đáng sợ nhất: không phải một cá nhân bị trừng phạt, mà cả cộng đồng phải sống trong hậu quả của những điều sai trái mà mình đã từng dung thứ.

Tháng Bảy âm lịch vốn thường khiến người Việt nghĩ nhiều về nhân – quả, về người đã khuất, về sự biết ơn và những điều thiện lành. Nhưng cũng vì thế mà những chuyện xảy ra trong những ngày này khiến mình nghĩ nhiều hơn về người đang sống. Bởi cúng một nén nhang cho người đã khuất thì dễ. Giữ cho xã hội mà họ để lại một xã hội tử tế mới khó.

Và nếu có một điều đáng sợ trong “nghiệp” của một xã hội, thì có lẽ không phải là xã hội ấy có những người xấu. Bởi vì xã hội nào cũng có người xấu. Điều đáng sợ là đến một lúc nào đó, người tốt không còn tin rằng sự tử tế có ý nghĩa; người bị hại không còn tin rằng công lý sẽ bảo vệ mình; còn người làm sai thì tin rằng họ luôn có cách thoát khỏi hậu quả. Khi ấy, kỷ cương không chỉ suy yếu ở trên giấy. Nó bắt đầu sụp đổ trong tâm thức của con người.

2.

Con cháu chúng ta sẽ sống tiếp trong một xã hội như thế nào? Đối với những người làm cha mẹ, ông bà, đó mới là phần đau nhất của những câu chuyện đang diễn ra.

Bởi người lớn có thể nói: Xã hội vốn phức tạp, chuyện gì cũng có. Nhưng người trẻ đang học cách hiểu xã hội thông qua những gì họ nhìn thấy mỗi ngày. Nếu các em chứng kiến quá nhiều lần rằng: người làm đúng chưa chắc được bảo vệ, người làm sai chưa chắc bị xử lý; sự tử tế đôi khi bị xem là ngây thơ, còn quyền lực và quan hệ có thể đứng cao hơn nguyên tắc, thì nguy cơ không chỉ là các em mất niềm tin vào xã hội. Đáng sợ hơn, các em có thể thay đổi chính hệ giá trị của mình để thích nghi với một xã hội mà các em cho rằng không công bằng.

Một đứa trẻ ban đầu có thể nghĩ “Làm điều đúng vì đó là điều đúng”. Nhưng nếu liên tục nhìn thấy điều ngược lại, nó có thể chuyển thành “Làm điều đúng chỉ khi mình không bị thiệt.” Rồi xa hơn “Ai cũng làm thế, tại sao mình phải khác?”. Và cuối cùng là “Miễn mình không bị bắt là được.” Đó chính là sự truyền nhiễm của cái xấu, là logic của một xã hội không còn kỷ cương. Xã hội ấy không cần một người xấu dạy một đứa trẻ trở thành người xấu, mà chỉ cần nhiều lần cho đứa trẻ thấy rằng cái xấu có thể đem lại lợi ích, cái tốt có thể khiến mình chịu thiệt, và luật pháp không phải lúc nào cũng tạo ra công bằng.

Mình còn nghĩ đến một điều khác, liên quan rất nhiều đến giáo dục. Chúng ta thường nói với trẻ: phải trung thực, phải tôn trọng người khác, phải tuân thủ pháp luật, phải có trách nhiệm với cộng đồng, phải bảo vệ người yếu thế... Nhưng bài học lớn nhất không nằm trong sách giáo khoa hay lời dạy sáo rỗng. Nó nằm ở câu hỏi “Con đã nhìn thấy người lớn thực sự sống như thế nào?”. Nếu bài học trong nhà trường nói một đằng nhưng đời sống xã hội diễn ra một nẻo, thì đứa trẻ sẽ tin vào cái nó nhìn thấy hơn cái nó được nghe giảng. Vì vậy, “nghiệp xã hội” có một tầng rất đáng sợ: nó có thể truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng chính cách chúng ta đối xử với công lý, luật pháp và sự tử tế hôm nay.

Mình cũng không muốn nhìn chuyện này hoàn toàn bi quan. Thế hệ trẻ Gen Z hiện nay có một khả năng rất đặc biệt: họ phản ứng rất mạnh với sự giả dối và bất công. Những tiếng nói của người trẻ trên mạng, những nhóm cộng đồng bảo vệ môi trường, di sản, những người làm thiện nguyện, những bạn trẻ dám lên tiếng trước những bất công, những điều sai trái... cho thấy vẫn có một nguồn năng lượng đạo đức rất lớn. Có lẽ vấn đề của thế hệ chúng ta không chỉ là dạy người trẻ “hãy sống tử tế”, mà còn là phải làm cho họ có thể tin rằng, sống tử tế không phải là tự làm cho mình trở thành người thua cuộc.

Một xã hội có thể để lại cho thế hệ sau rất nhiều công trình hoành tráng “kỷ lục thế giới” và những công nghệ hiện đại. Nhưng nếu không để lại thế hệ trẻ niềm tin vào công lý, vào sự tử tế, không còn khả năng tự bảo vệ mình bằng luật pháp, thì xã hội đó sẽ nhanh chóng đổ vỡ do món nợ quá lớn mà thế hệ trước để lại!  Đó chính là “nhân” mà thế hệ hôm nay đang tạo “quả” cho thế hệ ngày mai.

Nhiều người chúng ta đang buồn không chỉ là vài vụ việc cụ thể. Sâu hơn, đó là nỗi lo của những người đã nhìn xã hội đủ lâu để nhận ra rằng sự xuống cấp của kỷ cương hôm nay có thể trở thành cách sống của ngày mai. Nhưng chính việc chúng ta còn bức xúc, còn đau trước những điều ấy cũng có nghĩa là cái cảm thức về đúng – sai, về tử tế và trách nhiệm vẫn còn rất mạnh. Có lẽ đó cũng là một phần quan trọng của việc trao lại giá trị cho thế hệ trẻ.

Tháng Bảy mới bắt đầu. Mong bản thân giữ được chút bình tâm, để không biến nỗi buồn thành tuyệt vọng mà biến nó thành một tiếng nói tử tế góp với những người tử tế.

 https://www.facebook.com/share/p/1JYFrTLLL8/

Càng thay đổi nhanh, nhu cầu tìm lại cái đã mất càng lớn

  TS Nguyễn Thị Hậu (bên trái) tham gia ban cố vấn Dự án Heritage Ho Chi Minh City của Hội Di sản Văn hóa TP Hồ Chí Minh. - Theo bà, n hững ...