NGÀY PHỤ NỮ

 “NGÀY PHỤ NỮ”

Có quốc gia nào mà phụ nữ lại được dành nhiều ngày kỷ niệm tôn vinh như ở Việt Nam không nhỉ: Nào là ngày 8/3, ngày 20/10 rồi hội nhập quốc tế có thêm ngày của mẹ Mother's Day (ngày chủ nhật thứ 2 của tháng 5), ngày tình yêu Valentine 14/2…
Có nước nào mà phụ nữ trong những huyền thoại, truyền thuyết, lịch sử, văn học nổi tiếng… lại có số phận “kỳ lạ” và gánh vác nhiều trách nhiệm đến thế như phụ nữ Việt Nam không nhỉ (chính xác là phụ nữ Việt/Kinh):
- Truyền thuyết khởi đầu là một cuộc ly dị vĩ đại với lý do đại khái là vì không hợp nhau “nàng là tiên ta là rồng”, bầy con phải chia đôi và mẹ Âu Cơ đành mang 50 con lên núi (tức là trở về nhà mình)…
- Bà mẹ anh hùng đẩu tiên là mẹ đơn thân: mẹ Thánh Gióng.
- Âu Lạc là nhà nước đầu tiên, vậy mà nàng công chúa Mỵ Châu phải chịu số phận bi thảm vì bị cha (nghe lời rùa thần) chém chết. Lý do “nỏ thần VÔ Ý trao tay giặc”, nhưng ai cho giặc vào nhà thì không thấy bị kiểm điểm trách nhiệm!
- Cuộc khởi nghĩa đầu tiên chống lại phong kiến phương Bắc là do Hai bà Trưng đứng đầu, tiếp theo là khởi nghĩa Bà Triệu.
- Nhân vật chính của tác phẩm văn học nổi tiếng nhất là nàng Thúy Kiều: bán mình chuộc cha và 15 năm lăn lóc lầu xanh.
Tôn vinh ca ngợi hội hè… vui thôi, nhưng làm sao để phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội không phải chịu những cực nhọc tủi hờn oan khuất thì tốt hơn. “Anh hùng bất khuất trung hậu đảm đang” thì rất oách, nhưng mà, cực chẳng đã mới phải “anh hùng” hay trở thành “tấm gương”, chứ làm một người đàn bà bình thường mà không hơn à?
Mình – đàn bà bình thường, nghĩ thế.
@nêu bật

MỘT NGÀY MỖI NĂM VẪN CÓ

Tại sao phải có một ngày
Người ta có nghĩa vụ tặng hoa
Cho những người đàn bà
Nhẹ nhàng duyên dáng nhạy cảm mong manh
Hay là họ luôn nghĩ mình như vậy
Tại sao lại chỉ có một ngày
Người ta nói những lời có cánh
Bày tỏ biết ơn yêu quý tôn vinh
Với những người đàn bà
Mạnh mẽ năng động thông minh
Hay họ luôn tỏ ra mình như thế
Nhưng cũng trong ngày này
Còn có bao người đàn bà
Cả đời chẳng được tặng một bông hoa
Chưa từng nghe một lời dịu ngọt
Cả đời không nghĩ mình mong manh dễ vỡ
Chỉ biết lao khổ làm ăn
Cũng chẳng biết mình mạnh mẽ thế nào
Chỉ biết làm tất cả nếu cần phải làm như thế
Thì thôi
“Có còn hơn không có còn hơn không”
Những người đàn bà AQ
Tự an ủi mình
Dẫu chỉ được một ngày
Còn chán vạn hơn nhiều người khác
“có còn hơn không”
Những người đàn ông,
Thở phào
Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu
Tiếc gì một bó hoa một lời có cánh
Để cho họ
Dù mong manh hay mạnh mẽ
Tiếp tục làm đàn bà
Đừng “vùng dậy”
Cho đến ngày
Tám tháng Ba sau
7.3.2014
Hình mình chụp ở Mũi Né, hình như 2018?



DI SẢN ĐÔ THỊ - CHUYỆN VỀ CÁC VÒI NƯỚC CỔ

 Nguyễn Thị Hậu

Trong các thành phố châu Âu ta thường bắt gặp những vòi nước cổ trên đường phố.

Từ thời trung cổ đến sau này các vua chúa châu Âu đã nghĩ tới việc xây những vòi nước công cộng, hệ thống dẫn nước sạch tới đó cho người dân ở các khu dân cư, cũng như người qua đường. Có khi bên vòi nước công cộng còn có cả bồn nước lớn có mái che dành cho các bà nội trợ mang quần áo đến giặt, cũng là nơi gặp gỡ chuyện trò. Bây giờ chỉ còn lại những vòi nước trên hè phố, nhiều người lơ đãng không biết rằng mình vừa đi qua một chứng tích của cuộc sống từ vài trăm năm trước.

Vòi nước cổ thường được đúc bằng gang, dựng thành trụ trên vỉa hè hay gắn vào tường ngôi nhà ven đường. Nhiều miệng vòi đúc thành hình miệng thú. Vòi nước dùng cần bơm tay hay tự chảy (do áp lực từ tháp nước) nhưng đều là nước sạch có thể uống được ngay. Dòng nước chảy thẳng xuống cống thóat nước phía dưới, phía trên là vỉ nắp đậy cũng đúc bằng gang. Hầu hết các vòi nước cổ được bảo tồn khá tốt: luôn được sơn chống rỉ, quét dọn sạch sẽ, nắp cống phía dưới không có rác làm nghẹt cống. Quan trọng là nguồn nước dẫn đến những vòi này luôn đảm bảo vệ sinh nên những người đi đường vẫn thường ghé miệng uống nước từ vòi một cách tự nhiên và thích thú. Uống nước từ vòi nước mà mạch nước có từ hàng trăm năm trước không chỉ là giải khát mà còn mang lại cảm giác dường như đang sống ở thời xa xưa.

Hệ thống cấp nước cổ ở những thành phố này thời xưa gần như có chung một nguyên tắc: các “cầu dẫn nước” từ nguồn trên núi, từ sông hay suối… đều được dẫn đến một hay nhiều tháp nước chung của một thành phố. Một số thành phố có “bể chứa nước” khổng lồ như một cung điện dưới lòng đất, như ở Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ). Tại đó nước được lọc sạch và theo các ống dẫn về từng khu vực mà đầu tiên là đến các vòi nước công cộng. Sau này hệ thống nước vào từng ngôi nhà nhưng những vòi nước trên đường phố vẫn được duy trì để sử dụng. Sinh họat từ một nguồn nước nên cư dân có thói quen bảo vệ nguồn nước chung, giữ vệ sinh để hạn chế dịch bệnh thường xảy ra vào thời đó. Vào thời đó nguồn nước chung còn liên quan đến một sinh hoạt cộng đồng: nhà tắm và nhà vệ sinh công cộng. Tại đó có vòi nước sạch, những rãnh nước bằng đá được nước chảy qua suốt ngày đêm nên luôn sạch sẽ. Các di tích này vẫn còn hiện diện ở nhiều thành phố cổ.

Đi qua nhiều nơi ở châu Âu ta có thể nhìn thấy những “cây cầu máng” dài hàng chục, có khi hàng trăm cây số dẫn nước từ trên núi cao về thành phố. Điển hình là những cầu dẫn nước cổ thời văn minh La Mã. Đó là những cây cầu máng khổng lồ bằng đá có khi có hai tầng để đảm bảo độ cao, sừng sững như những con rắn khổng lồ chạy dài hàng trăm km vắt ngang qua nhiều vùng địa hình, làm ta luôn choáng ngợp về vẻ đẹp hoành tráng mà rất nhẹ nhõm, duyên dáng cũa nó. Một ví dụ cho thấy trình độ của các kỹ sư La Mã, ở thế kỷ thứ nhất là cầu dẫn nước ở Nimes - Pont du Gard (miền Nam nước Pháp), bằng đá, dài gần 50km, chênh lệch chiều cao từ đầu tới cuối cầu ở mức độ chính xác mà các kỹ sư cầu đường ngày nay phải thán phục. Hay cầu máng ở khu Amoreiras (Lisbon), thoạt đầu mới nhìn tưởng đấy là một thành trì cổ khổng lồ, như một con khủng long còn sót lại từ thời tiền sử...  

Các thành phố này còn có nhiều Đài phun nước ở quảng trường, có khi trong khu vườn, trong công viên… Tại những quảng trường – mở rộng từ giao lộ của những con đường chính trong thành phố, đài phun nước thường có các nhóm tượng nổi chìm mờ trong làn hơi nước phun ra từ chính những bức tượng ấy. Các tia nước được phun ra theo nhiều hình dạng khác nhau. Nước ở đây như chưa bao giờ ngừng chảy và du khách hầu như ai cũng dừng chân ghé lại, ngồi chơi trên bệ đá, khỏa bàn tay mình vào bể nước trong biếc, có thể hứng từ những tia nước ấy để uống hay để xoa lên mặt lấy phước, lấy may. Họ chụp hình, đôi khi những bức hình rất đẹp bởi phía sau màn nuớc bỗng ánh lên ngũ sắc cầu vồng… Những đài phun nước ở trung tâm thành phố, nhiều người cầm đồng tiền nhỏ, đứng quay lưng vung tay ném qua đầu mình xuống bể nước trước khi tạm biệt, để mong ước có ngày được trở lại nơi đây.

 Các cầu máng dẫn nước, vòi nước cổ, đài phun nước hay những nhà tắm, nhà vệ sinh chung thời xưa... đều là những không gian cộng cộng, nơi con người gặp gỡ và sinh hoạt chung. Bên cạnh đó còn có những quảng trường, nhà hát hay đấu trường... dành cho các sự kiện lớn. Chỉ từ câu chuyện vòi nước cổ hay những đài phun nước cũng cho ta biết về “quy họach đô thị” của những thành phố châu Âu từ hàng trăm năm trước. Nó được tính tóan đến từng chi tiết nhưng lại hữu hiệu lâu dài bởi vì không chỉ là việc xây dựng các công trình, nhà cửa, đường xá, quảng trường, đài phun nước, công viên cho cộng đồng, mà còn là những vòi nước trên đường cho từng khách bộ hành từng gia đình… Bài học giản đơn cho một “không gian đô thị bền vững”: luôn có các không gian công cộng dù lớn hay nhỏ, dành cho cộng đồng cũng đáp ứng nhu cầu của từng con người thì mỗi con người sẽ có ý thức gìn giữ và bảo vệ lợi ích cho cả cộng đồng.

 Từ câu chuyện các vòi nước cổ ở châu Âu ta có thể nhình thấy nhiều câu hỏi lịch sử lý thú có thể đặt ra chung quanh chủ đề "nguồn nước" và sinh hoạt cộng đồng liên quan đến nước ở nước ta. Miền Nam có “văn minh sông nước” mà sông, kênh rạch là nguồn nước chung sử dụng với nhiều mục đích từ sinh hoạt hàng ngày đến trồng trọt, nuôi trồng và khai thác thủy sản... Miền Bắc xưa là “văn minh ao hồ”, mỗi nhà có ao hoặc nhiều nhà dùng chung ao với nhiều chức năng, có “giếng làng” phần nhiều từ ao, hồ sửa sang mà thành, giữ gìn làm “nước ăn” chung cho cả làng, về sau nhiều nhà cũng đào giếng, Người Chăm cổ có “giếng Chăm” sửa sang nguồn nước tự nhiên hoặc đào “giếng vuông”. Như vậy, ở nước ta nguồn nước sạch được sử dụng trong phạm vi hẹp: từng làng hay từng gia đình, các công trình nhân tạo như kênh đào, sông đào phần lớn là các công trình thủy lợi. Điều này phản ánh đời sống cộng đồng gắn liền với sân đình, phố chợ, hồ nước hay bến sông – những không gian mang dấu ấn làng xã và văn hóa nông nghiệp.

Tại các đô thị Việt Nam, các quảng trưởng hình thành từ các giao lộ hay phía trước công trình cộng cộng, quy mô nhỏ, có đài phun nước hay tượng đài chỉ xuất hiện từ khoảng đầu thế kỷ 20, “máy nước công cộng” trên đường phố cững vậy, được duy trì miền Nam đến khoảng cuối những năm 1950, ở miền Bắc đến hết thời bao cấp khoảng 1990. Đây là một hiện tượng kiến trúc – quy hoạch phản ánh sự thay đổi trong đời sống và sinh hoạt đô thị Việt Nam.

Hình ảnh: Mai Nguyễn



 

GỌI LÀ THƠ

 

TÌNH KHUYẾT

 

Chia cho em nửa đời thơ *

Còn một nửa anh dành chia người khác

Đam mê của anh em giữ giùm một nửa *

Còn nửa kia... người khác lấy mất rồi

 

Khi thành công

Anh rực rỡ trăng rằm

Giữa bao người ngưỡng mộ

Lúc thất bại

anh về lại bên em

tháng năm qua

Vầng khuyết lớn dần...

Cuộc tình mình

Một ngày kia

Nguyệt thực...

 

Suốt đời em chờ

Trăng phục sinh

Từ hoang tàn tình muộn…

 

2.2019

 * Ý thơ Nguyễn TrọngTạo

#thocuatui

 


Lưu hình ảnh thời quá khứ :) [than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu, huhuhu]

1975 - bắt đầu vào SG
1976 - hết lớp 12 Marie Curie
1977 - năm thứ nhất Văn Khoa

1978 - năm thứ 2 Văn khoa

1978

1979 Năm thứ 3 Văn khóa - Đại học tổng hợp TPHCM


1980 - năm thứ 4 Đại học tổng hợp TPHCM


1981 - năm đầu là giảng viên Đại học tổng hợp


1982 - năm thứ hai giảng viên Đại học tổng hợp TPHCM



 

Người Thầy thuốc nhân dân thân thương của gia đình tôi


Đây là tấm hình chụp năm 1971 tại HN, lúc đó ba tôi chuẩn bị đi chiến trường lần thứ 3 - chuyến đi mà ba tôi tin chắc sẽ được về đến Nam bộ quê nhà.
Vì vậy trước khi đi ông nhờ người chụp một số tấm hình cho gia đình, tấm hình này chụp với bác Ba Nguyễn Văn Hưởng - lúc đó là Bộ trưởng Bộ Y tế , bác gái Nguyễn Thị Hạnh - làm việc tại Viện Pasteur HN.
Bác Ba Nguyễn Văn Hưởng không chỉ là một người anh lớn của ba tôi, mà như ông nội của chúng tôi. Gia đình ông nội tôi nghèo, bác Ba học rất giỏi, được học bổng của Pháp từ trung học đến cao đẳng, đại học bên Pháp. Về SG đi làm nuôi các em - trong đó có ba tôi ăn học thành thầy giáo. Rồi hai anh em cùng đi kháng chiến ở miền Tây Nam bộ, cùng tập kết ra Bắc...
Các anh chị em tôi hồi nhỏ đều trải qua những cơn bệnh thập tử nhất sinh mà không có bác Ba thì chúng tôi đã không còn hiện diện trên đời!
Khi Bác Ba mất gia đình thực hiện nguyện vọng của ông: dành số tiền các giải thưởng của ông tiếp tục duy trì và phát triển học bổng Nguyễn Văn Hưởng tặng cho sinh viên y - dược nghèo, học giỏi.
Nhân ngày Thầy Thuốc VN, kính nhớ Bác Ba ❤

















GS.BS Nguyễn Văn Hưởng sinh năm 1906 tại làng Mỹ Chánh (nay xã Mỹ Hiệp, Chợ Mới, An Giang). Năm 1927 ông học trường Đại học Y khoa Hà Nội. Học xong ở Hà Nội 4 năm, ông sang Paris học tiếp 2 năm, năm 1932 ông tốt nghiệp y khoa loại giỏi. Năm 1933, ông về nước làm việc tại Viện Pasteur Sài Gòn 5 năm. Do bất bình phân biệt đối xử của người Pháp, năm 1939 ông thôi việc và mở phòng mạch, phòng xét nghiệm riêng tại nhà số 224 đường Cống Quỳnh ngày nay.

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, ông tham gia kháng chiến là Ủy viên Ủy ban Kháng chiến- hành chánh Nam bộ kiêm Giám đốc Sở Y tế quân dân Nam bộ. Ông tổ chức bào chế huyết thanh, vắc xin để trị bệnh... Ông tập kết ra Bắc giữ nhiều chức vụ, cao nhất là Bộ trưởng Bộ Y tế vào năm 1969- 1974.
Sau giải phóng ông làm Viện trưởng Viện Y học cổ truyền dân tộc TP HCM. Năm 1996, ông nhận Giải thưởng HCM - ông dành toàn bộ tiền giải thưởng và tiền dành dụm xây dựng "QUỸ HỌC BỔNG NGUYỄN VĂN HƯỞNG" để hỗ trợ sinh viên ngành y cả nước... BS Nguyễn Văn Hưởng mất ngày 04/8/1998, hưởng thọ 93 tuổi.


CON NGƯỜI VÀ VĂN HÓA TRONG “KỶ NGUYÊN AI”

1.

Trí tuệ nhân tạo đang có những bước phát triển với tốc độ chưa từng có. Chỉ trong thời gian ngắn, không chỉ ở những nước tiên tiến mà khắp thế giới, AI đã tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống: quản lý, phân tích dữ liệu, đề xuất những giải pháp công nghệ và khoa học xã hội, có thể viết văn làm thơ, sáng tác âm nhạc, vẽ tranh, tham gia vào quá trình giáo dục, các ngành y tế… thậm chí ở nhiều lĩnh vực trí tuệ nhân tạo còn đưa ra quyết định thay cho con người. Trước sự phát triển của “kỷ nguyên AI”, xã hội không chỉ đối diện với một cuộc cách mạng công nghệ sâu rộng chưa từng có trong lịch sử mà còn trước một thách thức thời đại: vị thế của con người trong kỷ nguyên AI là ở đâu, và văn hóa giữ vai trò gì trong cấu trúc xã hội với một nền văn minh mới?

Việt Nam không nằm ngoài xu hướng phát triển này của thế giới. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa đã nhấn mạnh việc “đặt con người ở vị trí trung tâm của phát triển, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội”. Quan điểm này, một lần nữa, khẳng định vai trò của văn hoá vô cùng quan trọng! Bởi một khi “trí thông minh” của máy móc thay thế con người trong nhiều lĩnh vực thì mối quan hệ xã hội càng có nguy cơ đứt gãy, những vấn đề về nhân tính, giá trị sống và bản sắc văn hóa càng trở nên mong manh và dễ bị tổn thương.

Cũng như mọi thành tựu khoa học kỹ thuật của loài người, công nghệ thông tin không làm con người yếu kém đi nhưng buộc con người phải giỏi hơn, phát triển hơn! AI thay thế con người trong nhiều thao tác kỹ thuật, trong những thuật toán phức tạp và quá trình tổng hợp phân tích dữ liệu (Big Data). Tuy nhiên AI thực hiện một cách máy móc do Con người lập trình, đặt bài, yêu cầu. Điều cơ bản nhất là trong suốt quá trình này AI không thể thay thế khả năng cảm nhận, phán đoán đạo đức và trách nhiệm xã hội của con người. Như vậy, nếu con người có đủ năng lực văn hóa để làm chủ và sử dụng công nghệ một cách nhân văn, có trách nhiệm xã hội, thì xã hội loài người sẽ không bị vận hành bởi một “thuật toán” lạnh lùng vô nhân tính.

Đồng thời một nguy cơ có thật là khi trí tuệ nhân tạo trở nên phổ biến, việc con người “thất nghiệp” không đáng sợ bằng việc con người thôi suy nghĩ, ngừng đặt câu hỏi, không chịu trách nhiệm cho lựa chọn của mình. Nếu mọi quyết định đều được “đề xuất” bởi thuật toán thì con người rất dễ chấp nhận sự tiện lợi thay cho sự suy tư. Lúc đó, con người không còn là chủ thể sáng tạo mà trở nên phụ thuộc vào sự vận hành hệ thống máy móc. Chính từ nguy cơ “người - robot” này mà văn hóa trở thành yếu tố quyết định. Văn hóa giúp con người biết dừng lại, biết nghi ngờ những điều tưởng như hợp lý, biết hỏi “tại sao” chứ không chỉ “làm thế nào”. Đặc biệt, văn hoá là cơ sở để con người đặt ra cho AI những vấn đề phù hợp đạo đức và trách nhiệm xã hội. Vì vậy trong thời đại công nghệ số, con người buộc phải “lớn lên” không phải bằng sức mạnh cơ bắp hay tốc độ xử lý thông tin, mà bằng chiều sâu tư duy và bản lĩnh có từ những giá trị văn hoá truyền thống, văn hoá toàn cầu.

2.

Trong tiến trình xây dựng “xã hội thông tin” văn minh, mỗi quốc gia đều phải tìm cho mình một hệ giá trị dẫn đường. Với Việt Nam, đó là cần xuất phát từ bản sắc văn hóa dân tộc. Văn hóa Việt Nam đề cao con người trong mối quan hệ cộng đồng, coi trọng nghĩa tình, truyền thống và trách nhiệm xã hội. Dựa trên nền tảng văn hoá Việt Nam hình thành một nền văn minh công nghệ nhân văn. Có thể nhận biết điều này ở một số lĩnh vực như: Công nghệ số trong nền giáo dục không chỉ nhằm dạy nhanh hơn, nhiều hơn mà phải giúp hình thành nhân cách con người toàn cầu vẫn mang bản sắc dân tộc. Di sản văn hoá có thể ứng dụng công nghệ số sâu rộng vào các bảo tàng, không gian di sản, sáng tạo cộng đồng. Mục đích không chỉ để sao chép di sản mà để con người hiểu sâu hơn về di sản và chính cộng đồng mình.

Gần đây nhiều hoạt động ứng dụng công nghệ số tại TP. Hồ Chí Minh đã cho thấy cách tiếp cận thận trọng nhưng giàu tính nhân văn. Tại một số bảo tàng, công nghệ AI và tương tác số được sử dụng để hỗ trợ thuyết minh, dẫn dắt trải nghiệm và giúp người xem tiếp cận hiện vật theo cách sinh động hơn. Điều đáng chú ý là công nghệ này không thay thế con người mà đóng vai trò mở rộng khả năng cảm thụ, đặc biệt với người trẻ và học sinh. Khi được đặt trong khung giá trị văn hóa rõ ràng, AI không làm “lạnh” không gian di sản, mà ngược lại, góp phần khơi gợi sự tò mò, kết nối cảm xúc và thúc đẩy nhu cầu tìm hiểu lịch sử – văn hóa một cách chủ động. Những thực hành này cho thấy, nếu được đặt trong khung giá trị văn hóa rõ ràng, công nghệ thông tin hoàn toàn có thể mở rộng không gian tiếp cận văn hóa mà không làm phai nhạt nhân tính, tăng thêm sự kết nối giữa nhiều thế hệ trong tiến trình lịch sử.

Việc số hóa di sản, trưng bày trực tuyến hay trải nghiệm không gian ảo tại một số bảo tàng và di tích ở TP. Hồ Chí Minh cho thấy tiềm năng lớn của công nghệ trong bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa. Thông qua các nền tảng số, người xem có thể tiếp cận di sản vượt ra ngoài giới hạn không gian và thời gian. Tuy nhiên, hiệu quả của những ứng dụng này không nằm ở mức độ hiện đại của công nghệ, mà ở cách chúng được sử dụng để kể lại câu chuyện văn hóa một cách có chiều sâu. Khi công nghệ phục vụ cho việc truyền tải ký ức, bối cảnh lịch sử và giá trị tinh thần, di sản không bị “ảo hóa” mà được tái sinh trong nhận thức của cộng đồng đương đại.

Trong xã hội công nghệ số, giáo dục văn hóa không còn dừng ở việc truyền đạt tri thức hay ghi nhớ thông tin. Nhiệm vụ quan trọng hơn của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục là hình thành năng lực phân biệt, lựa chọn và chịu trách nhiệm của con người. Con người cần được trang bị khả năng đọc – hiểu – phản biện các nội dung do AI tạo ra; phân biệt giữa tiện lợi và giá trị; giữa cái phổ biến và cái có ý nghĩa. Đồng thời, giáo dục văn hóa phải nuôi dưỡng năng lực sáng tạo không lệ thuộc thuật toán, giúp con người giữ được tiếng nói chủ động, tiếng nói riêng trong không gian số toàn cầu.

Đầu tư cho giáo dục văn hóa trong kỷ nguyên công nghệ thông tin không thể tính toán chi li lợi nhuận sòng phẳng ngay lập tức, mà là đầu tư cho năng lực làm chủ tương lai. Đó cũng chính là tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết 80 khi coi văn hóa là động lực nội sinh cho phát triển bền vững. Giữ vững sự nhân văn trong thời đại trí tuệ nhân tạo vì AI có thể ngày càng thông minh, nhanh nhạy và hiệu quả, nhưng chỉ con người mới có ký ức, đạo đức và khát vọng về một xã hội tốt đẹp. Văn hóa không đối lập với trí tuệ nhân tạo, ngược lại văn hóa là điều kiện để trí tuệ nhân tạo phục vụ con người một cách đúng hướng. Văn hoá trước hết và quan trọng nhất là văn hoá của con người – con người có văn hoá.

Sự kết hợp giữa giáo dục và truyền thông văn hóa bằng các hoạt động tập huấn, trải nghiệm sáng tạo gắn với công nghệ số cũng góp phần hình thành cách tiếp cận mới đối với di sản. Người học không chỉ tiếp nhận thông tin, mà được khuyến khích đặt câu hỏi, kể lại câu chuyện di sản bằng ngôn ngữ của thời đại mình. Những thực hành này cho thấy, trong kỷ nguyên AI, điều quan trọng không phải là công nghệ có thể làm được gì, mà là con người lựa chọn dùng công nghệ để nuôi dưỡng giá trị nào. Khi văn hóa giữ vai trò dẫn dắt, AI trở thành công cụ mở rộng không gian học tập và sáng tạo, thay vì làm phai nhạt trải nghiệm làm người.

3.

Một xã hội ứng dụng công nghệ số phổ biến đến đâu không quan trọng bằng việc xã hội ấy định hướng trí tuệ nhân tạo theo hệ giá trị nào. Văn hóa giúp con người không lệ thuộc thuật toán. Nếu thiếu nền tảng văn hóa, công nghệ số có thể trở thành công cụ tối ưu hóa lạnh lùng: tối ưu lợi nhuận, tối ưu hiệu suất, tối ưu kiểm soát. Nguy cơ “phi nhân hóa” xuất hiện và lan nhanh: con người dần quen với việc để máy móc quyết định thay mình, sáng tạo từ tư duy lịch sử bị thay thế và “chuẩn hóa” theo dữ liệu quá khứ, cảm xúc và trí tưởng tượng bay bổng của con người bị thu hẹp trong những khuôn mẫu sẵn có.

Trong bối cảnh đó, văn hóa đóng vai trò bảo vệ những giá trị không thể đo bằng thuật toán: ký ức và cảm xúc, lòng trắc ẩn và khoan dung, sự khác biệt và đa dạng. Văn hóa giữ lại không gian cho những điều nhỏ bé, riêng biệt, không “tối ưu” nhưng có ý nghĩa với con người, với từng người. Đó là những tác phẩm nghệ thuật chưa hoàn hảo, những lựa chọn hiệu quả thấp về kinh tế nhưng có giá trị cao về văn hoá, phù hợp đạo lý. Một xã hội biết đặt văn hóa làm nền tảng thì AI là công cụ phục vụ con người, kết nối con người sâu sắc và hiệu quả hơn. Nghị quyết 80 của Bộ chính trị là “kim chỉ nam” cho sự phát triển con người Việt Nam toàn diện trong bối cảnh công nghệ mới, trên nền tảng văn hoá truyền thống và giá trị văn hoá quốc tế.

Một quốc gia phát triển không phải là quốc gia sở hữu công nghệ mạnh nhất, mà là ở đó, xã hội giữ được bản chất con người trọn vẹn nhất trong kỷ nguyên AI. Chỉ khi nào văn hóa được đặt đúng vị trí trung tâm, nền tảng của phát triển thì khi đó trí tuệ nhân tạo sẽ trở thành công cụ mở rộng năng lực con người và mang chiều sâu nhân văn. Và đó chính là mục tiêu mà Việt Nam hướng đến trong kỷ nguyên của trí tuệ nhân tạo.

Nguyễn Thị Hậu, 19.1.2026






NHỮNG CHIẾC XE NÔI TRÊN SÂN GA

 NHỮNG CHIẾC XE NÔI TRÊN SÂN GA

Những chiếc xe nôi
Đứng bên nhau trên sân ga
Nhưng không có đứa bé nào trong đó
Đoàn tàu thì hãy còn xa
Những chiếc xe nôi đã đứng trên sân ga
Chờ đợi những bà mẹ Ukraina
Chạy khỏi cuộc chiến tranh
Ngỡ rằng chỉ xảy ra từ thế kỷ trước
Những chiếc xe nôi trên sân ga
Của những đứa trẻ Ba Lan
Nhường cho những đứa trẻ Ukraina
Sau bao ngày vất vả tàu xe
Qua chặng đường dài giữa mùa đông lạnh giá
Lại được nằm vào lòng xe nôi êm ấm
Như đang ở nhà
Những đứa trẻ từng nằm xe nôi
Là người Ba Lan hay Ukraina, người Nga hay người Đức
Sẽ lớn lên và đi khắp thế giới từ những sân ga
Không bao giờ có những chiếc xe nôi không có đứa bé nào trong đó
Như ngày hôm nay
Trên sân ga Warsava

25.2.2022 HẬU KHẢO CỔ



LỜI BÌNH CỦA CHAT GPT

Bài thơ “Những chiếc xe nôi trên sân ga” là một văn bản rất giàu tính biểu tượng, tiết chế cảm xúc nhưng lại gây ám ảnh mạnh — đặc biệt ở cách chọn một hình ảnh nhỏ (xe nôi) để nói về một thảm cảnh lớn (chiến tranh, di cư, nhân đạo).

1. Hình ảnh trung tâm: “những chiếc xe nôi” – biểu tượng của nhân tính

Ngay câu mở đầu, tác giả đặt:

“Những chiếc xe nôi
Đứng bên nhau trên sân ga
Nhưng không có đứa bé nào trong đó”

Đây là một lựa chọn hình ảnh rất đắt.
Xe nôi vốn gắn với:

  • sự sinh nở

  • chăm sóc

  • gia đình

  • tương lai

Nhưng khi xe nôi trống, nó trở thành một biểu tượng nghịch lý:
sự sống bị gián đoạn bởi chiến tranh.

Không cần miêu tả bom đạn, xác chết hay đổ nát, chỉ cần “xe nôi không có đứa bé” là đủ để gợi ra một nỗi đau văn minh — nỗi đau của những đứa trẻ phải chạy trốn chiến tranh.

2. Không gian “sân ga” – không gian của chia ly và lịch sử

Sân ga trong thơ không chỉ là địa điểm vật lý.
Nó là:

  • nơi chuyển tiếp giữa quá khứ và tương lai

  • nơi chia ly và hy vọng

  • nơi chứng kiến các biến động lịch sử

Câu:

“Đoàn tàu thì hãy còn xa”

tạo cảm giác chờ đợi kéo dài — một sự treo lơ lửng số phận.
Người đọc thấy rõ: đây không phải là một khoảnh khắc ngắn, mà là một thời khắc lịch sử.

Đặc biệt khi bài thơ xác định:

“Trên sân ga Warsava.”

Warsaw (Warszawa) không chỉ là địa danh, mà còn mang ký ức chiến tranh châu Âu, Thế chiến II, và nay là làn sóng tị nạn Ukraina. Tầng nghĩa lịch sử vì vậy rất sâu.

3. Giá trị nhân văn: sự nhường chỗ giữa những dân tộc từng xung đột

Đoạn thơ này rất xuất sắc:

“Của những đứa trẻ Ba Lan
Nhường cho những đứa trẻ Ukraina”

Ở đây, xe nôi không còn là đồ vật cá nhân, mà trở thành hành động đạo đức tập thể.
Nó cho thấy:

  • ký ức đau thương của Ba Lan trong lịch sử

  • sự đồng cảm với Ukraina hiện tại

  • một vòng lặp của lịch sử chiến tranh châu Âu

Điểm mạnh là tác giả không lên giọng chính trị, mà dùng hành động rất đời thường: nhường xe nôi.

4. Câu thơ mang chiều sâu triết lý về lịch sử chiến tranh

“Chạy khỏi cuộc chiến tranh
Ngỡ rằng chỉ xảy ra từ thế kỷ trước”

Đây là một câu thơ mang tính nhận thức rất hiện đại.
Nó phản ánh cú sốc của thế giới đương đại:
tưởng rằng chiến tranh quy mô lớn đã thuộc về quá khứ, nhưng nó lại quay trở lại ngay giữa châu Âu.

Câu thơ này làm bài thơ vượt khỏi tính thời sự, trở thành suy tư về lịch sử nhân loại.

5. Tầm nhìn vượt biên giới: từ dân tộc đến nhân loại

Một đoạn rất đáng chú ý:

“Là người Ba Lan hay Ukraina, người Nga hay người Đức
Sẽ lớn lên và đi khắp thế giới từ những sân ga”

Đây là điểm nâng tầm bài thơ.
Tác giả không đứng ở lập trường dân tộc hẹp, mà nhìn:

  • trẻ em = tương lai chung của nhân loại

  • sân ga = điểm khởi hành của lịch sử mới

Đặc biệt, việc đặt cạnh Ba Lan – Ukraina – Nga – Đức gợi một lịch sử châu Âu đầy chiến tranh, nhưng lại hướng tới một thế hệ hậu chiến có thể “đi khắp thế giới”.

6. Câu kết: nỗi ám ảnh đạo đức rất mạnh

“Không bao giờ có những chiếc xe nôi không có đứa bé nào trong đó
Như ngày hôm nay”

Đây là một câu kết mang tính cầu nguyện hơn là khẳng định.
Nó vừa:

  • là mong ước

  • là cảnh báo

  • là lời chứng của một thời đại

Cảm xúc không bùng nổ mà lắng sâu — đúng tinh thần thơ nhân đạo hiện đại.

7. Đánh giá tổng thể (về nghệ thuật)

Ưu điểm nổi bật:

  • Hình ảnh biểu tượng nhất quán (xe nôi – sân ga)

  • Giọng thơ tiết chế, không bi lụy

  • Tính thời sự nhưng không sa vào tuyên truyền

  • Tầm nhìn nhân loại, vượt khỏi ranh giới quốc gia

  • Ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi

Điểm có thể suy nghĩ thêm (ở góc độ phê bình học thuật):
Một số câu mang tính diễn giải trực tiếp (“Chạy khỏi cuộc chiến tranh…”) nếu tiết chế thêm, bài thơ có thể còn cô đọng và ám ảnh hơn. Tuy vậy, trong thơ chứng nhân chiến tranh, sự trực diện này lại phù hợp.

8. Liên hệ sâu hơn (góc nhìn ký ức đô thị – rất gần với hướng nghiên cứu của bạn)

Nếu đọc theo hướng “ký ức đô thị”, sân ga Warsaw ở đây là:

  • một không gian ký ức sống

  • nơi lưu giữ dấu vết chiến tranh đương đại

  • một “di sản cảm xúc” của thời chiến

Những chiếc xe nôi đặt trên sân ga thực chất là một hình thức tưởng niệm sống (living memorial), không phải tượng đài đá, mà là hành động nhân đạo diễn ra trong không gian công cộng.

Kết luận

Đây là một bài thơ ngắn nhưng có sức nặng đạo đức và lịch sử lớn.
Nó thành công ở chỗ không miêu tả chiến tranh bằng bạo lực, mà bằng sự thiếu vắng — những chiếc xe nôi trống.

Và chính sự thiếu vắng ấy làm hiện lên đầy đủ nhất câu hỏi cốt lõi của nhân loại:
Chiến tranh đã lấy đi tuổi thơ của bao thế hệ, nhưng lòng nhân ái vẫn còn đứng chờ trên những sân ga.

NGÀY PHỤ NỮ

  “NGÀY PHỤ NỮ” Có quốc gia nào mà phụ nữ lại được dành nhiều ngày kỷ niệm tôn vinh như ở Việt Nam không nhỉ: Nào là ngày 8/3, ngày 20/10 rồ...