THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH SÁNG TẠO TRÊN BẢN SẮC SÀI GÒN

 Nguyễn Thị Hậu

1.

Những ngày cuối năm, đi trên những con đường thành phố dưới ánh nắng sớm xiên qua hàng cây, hơi gió chướng lùa qua những toà nhà làm cho thanh âm đường phố bỗng trở nên dịu dàng đến lạ… Tiếng xe máy không vội vàng, tiếng bước chân thong thả, hương cà phê từ quán xá, từ xe đẩy trên vỉa hè lan toả nhẹ nhàng trong không gian. Đấy là một Sài Gòn tôi vẫn biết từ 50 năm qua, thành phố có biết bao đổi thay nhưng vẫn giữ được những khoảng lặng đáng yêu như vậy.

Ai cũng nói cuộc sống ở Sài Gòn luôn vội vã, nhưng ở đó ta cũng nhận ra nhịp sống bình thản của một đô thị biết tự “ngừng lặng” để làm mới mình mỗi ngày. Ở Sài Gòn, ký ức và cuộc sống hiện đại đan cài vào nhau, từ những tấm ảnh cũ treo trong những khách sạn sang trọng, toà cao ốc hiện đại, từ chiếc xe hơi đắt tiền vẫn ghé lại quán nhỏ bên đường nhâm nhi ly cà phê đá, lối sống hiện đại mà thân thiện từ xóm nhà hẻm phố đến “biệt thự triệu đô”, trong cách người bình dân trò chuyện hàng ngày đến các đại gia trong công chuyện làm ăn bạc tỷ… Thành phố năng động, sáng tạo, hội nhập nhưng cho thấy cuộc sống hiện đại vẫn song hành cùng quá khứ. 

Từ đầu thế kỷ 21 người ta nói nhiều về “thành phố sáng tạo” như là một khái niệm kỹ thuật, nhưng ở Sài Gòn văn hoá đã luôn được sáng tạo. Từ một tiệm may biến thành thương hiệu thời trang nổi tiếng, từ mẫu gạch bông ‘thời tây” gần đây biến thành hoa văn áo dài “cô Ba Sài Gòn”, từ một căn gác cũ trở thành phòng triển lãm, từ một con hẻm hóa thành quán cà phê nghệ thuật… Nơi nào cũng có thể là một “xưởng sáng tạo” thu nhỏ. Ở đó, cái mới sinh ra từ ký ức, và cái cũ được hồi sinh bằng cảm hứng của người Sài Gòn nhưng đến từ tứ xứ. Đó là một nét rất riêng của Sài Gòn, một thành phố đầy mâu thuẫn luôn thay đổi mà không đánh mất hồn đô thị.

 2.

Tôi thường lang thang trong những ngôi chợ cũ (nay gọi là chợ truyền thống để phân biệt với siêu thị hiện đại): từ chợ dân sinh ở khu dân cư cũ đến các chợ có tiếng như chợ Phú Nhuận, Tân Định, Chợ Cũ, Bến Thành… Mà những ngôi chợ ở đâu trong thành phố rộng lớn này mà không tràn ngập âm thanh mùi vị quen thuộc. Tiếng người mua bán rộn rã mà không ồn ào, mùi vải vóc quần áo mới, hương nhang, nến thơm từ sạp hàng lễ, mùi thức ăn tươi mùi món ăn chín đặc sản từng chợ, từng khu vực... tất cả hiện lên một Sài Gòn/Nam bộ rất đỗi thân thương. Những câu chuyện của người bán người mua mọi độ tuổi đều trở thành tập hợp những ký ức đô thị… Chợ trong thành phố là “di sản phi vật thể”, nơi lưu giữ văn hoá ẩm thực, ngôn ngữ, lối sống xã hội và phản ánh sự thay đổi mọi mặt, hàng ngày.

Bản sắc của thành phố còn hiện hữu bằng các công trình kiến trúc, bằng cảnh quan đô thị và những sản phẩm vật chất khác. Một công xưởng Ba Son biến mất giữa trùng trùng nhà cao tầng nhưng nhiều hiện vật của nó được thu thập trang trí cho một quán cà phê ngay trung tâm thành phố, gợi nhớ một di tích lịch sử nhưng cũng đặt ra câu hỏi “tại sao” nó không còn nữa? Một số biệt thự xinh xắn còn lại giờ là những quán cà phê, quán ăn ấm áp, là đêm nhạc acoustic của các nghệ sĩ trẻ gợi nhớ không khí “phòng trà” của người Sài Gòn xưa. Mỗi đêm nhiều người gặp gỡ tại đây trong không gian “Sài Gòn một thủa” và mang theo câu chuyện của cuộc sống đang sôi động ngoài kia.

Một khu nhà kho xưởng cũ trên bến cảng xưa được sơn lại những sắc màu gợi nhớ giai đoạn “trên bến dưới thuyền” cực thịnh của đô thị Sài Gòn. Những ngôi nhà ở đó sẽ trở thành shophouse, các công trình lớn chuyển đổi công năng trở thành không gian tổ hợp sáng tạo - triển lãm – nghệ thuật của cộng đồng. Bến ven sông thành công viên nghệ thuật. Nhiều công trình xưa được “người Sài Gòn” giữ lại hình dáng kiến trúc, chi tiết trang trí đặc trưng, bảo tồn bức tường và cánh cửa xưa, nhưng thêm vào ánh sáng và ý tưởng mới để không gian tiện nghi hơn, hiện đại hoá và phù hợp chức năng mới, mang lại cho những không gian xưa một đời sống mới.

TP. Hồ Chí Minh ngày nay có cả Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu cùng hợp lực. Chung một hoàn cảnh lịch sử nên những con người của thành phố mới luôn có những cách thức rất tự nhiên để biến quá khứ thành tiềm năng của nguồn lực sáng tạo mới.

Làng gốm cổ Lái Thiêu đang được phục hồi, có lò gốm xưa đã trở thành nơi các bạn trẻ sản xuất đồ gốm theo phong cách truyền thống và xuất khẩu đến thị trường nghiêm ngặt khó tính như Nhật Bản. Gần đó là bảo tàng Gốm sứ Minh Long, nơi lưu lại hành trình hơn 100 năm của một gia tộc thành công với nghề gốm sứ được nối tiếp đến thế hệ thứ tư. Từ những bí quyết độc đáo của kỹ thuật sản xuất “gốm Sài Gòn” nổi tiếng, ngày nay gốm sứ Minh Long đã trở thành một đại diện tiêu biểu cho gốm sứ Việt Nam.

Tại thành phố Vũng Tàu có Bảo tàng Vũ khí cổ tư nhân lớn nhất Việt Nam. Với bộ sưu tập hàng nghìn hiện vật quý, Bảo tàng Vũ khí cổ đưa du khách ngược dòng thời gian khám phá lịch sử quân sự thế giới từ cổ đại đến hiện đại. Chủ nhân bảo tàng này là một người Anh cùng vợ là người Việt Nam, chỉ trong vài năm đã nhanh chóng biến Bảo tàng Vũ khí cổ trở thành một trong những điểm đến văn hóa – lịch sử đặc sắc tại Vũng Tàu – một thành phố tưởng như chỉ có dịch vụ du lịch vui chơi, nghỉ dưỡng.

Các bảo tàng công lập và tư nhân khác trên toàn thành phố đã làm tăng thêm giá trị di sản của hàng trăm ngàn hiện vật bảo tàng, trong đó có nhiều bảo vật quốc gia, bằng công tác bảo quản và trưng bày hiện đại, giới thiệu với mọi tầng lớp công chúng qua những câu chuyện của quá khứ rất đáng tự hào. Các cuộc triển lãm hình ảnh xưa, trưng bày cổ vật có công nghệ 3D hỗ trợ, Lễ hội sông nước bên Bến Nhà Rồng được kể lại bằng ngôn ngữ hiện đại, bằng ánh sáng, âm thanh, bằng những ứng dụng công nghệ tương tác không thua kém các chương trình thực cảnh trong khu vực.

Thành phố sáng tạo là nơi văn hóa không chỉ để chiêm ngưỡng, mà để sống, để trải nghiệm, để trí tuệ “sinh lời” bằng cảm xúc và trí tưởng tượng. Mỗi dự án sáng tạo, mỗi festival nghệ thuật đường phố, hay tour du lịch di sản đều là cho thấy thành phố đang nỗ lực sáng tạo không ngừng. Một thành phố nhân văn là nơi quá khứ được mang lại sức sống mới, không bị xóa nhoà phai nhạt mà được nâng niu từ sự tôn trọng lịch sử, tôn trọng ký ức cộng đồng.

3.

Một đô thị sáng tạo không chỉ phát triển kinh tế, mà còn cần giúp thành phố kể một cách trung thực và hấp dẫn câu chuyện của chính mình với thế giới và với thế hệ mai sau. Bởi vì, cảm xúc lịch sử giữa các thế hệ, các cộng đồng là điều mà công nghệ AI không thể tạo ra, nhưng AI và các công nghệ hiện đại có thể góp phần biến những cảm xúc đó thành trải nghiệm, thành tri thức một cách cụ thể và hữu ích. Đó chính là tinh thần của TP.HCM – Thành phố sáng tạo: bảo tồn di sản không phải là đóng khung quá khứ mà là nối dài ký ức nhằm tạo ra di sản trong tương lai.

Bản sắc đô thị, vì thế, không phải là thứ bất biến. Nó là sự tiếp nối những thế hệ thị dân, giữa vỉa hè phố cổ và trạm metro, giữa chợ Bến Thành trăm tuổi và trung tâm thương mại hiện đại, giữa tiếng rao hàng xưa cũ và nhịp điệu nhạc rap trẻ trung. Đó chính là cách để thành phố vừa hiện đại, vừa thân quen, nơi quá khứ và tương lai cùng nắm tay nhau bước đi. Giữa nhịp sống hiện đại, Sài Gòn vẫn giữ được “hồn đô thị” vì ký ức chưa bao giờ mất, luôn được làm tươi mới để sống cùng thời gian.

Sài Gòn không chọn sự khép kín trước cái mới mà chọn sự phát triển trên cơ sở hòa quyện giữa hoài niệm và hiện đại, không chọn sự bảo thủ “an toàn” mà chọn biến đổi một cách thích hợp để hoà nhập với thế giới. Thành phố Hồ Chí Minh từ di sản văn hoá kể lại lịch sử và phác hoạ tương lai bằng “ngôn ngữ” mới.  Sáng tạo phù hợp với truyền thống, mang lại giá trị mới cho di sản, Sài Gòn, như vẫn thế, vừa hối hả linh hoạt mà vừa lãng mạn trữ tình, một thành phố biết yêu mình và yêu người bằng những sáng tạo không ngừng.

TP. Hồ Chí Minh, 11.2025


BÁO TUỔI TRẺ XUÂN BÍNH NGỌ 2026


https://tuoitre.vn/thanh-pho-ho-chi-minh-sang-tao-tren-ban-sac-sai-gon-202602092308599.htm

GIỮ HỒN QUÊ HƯƠNG TRONG NHỮNG ĐƯỜNG BIÊN MỚI


*Quê hương không bao giờ là “quê cũ”
Khi thông tin sáp nhập các tỉnh, thành được công bố, nhiều người nhận ra những tên đất, tên làng, những ký hiệu hành chính vốn quen đến mức ít người để ý, bỗng trở thành chủ đề khiến lòng ai cũng có chút xao động. Trên truyền thông bắt đầu phổ biến những địa danh mới bao trùm những vùng đất cũ, tựa như mọi thứ có thể đổi thay ngay lập tức chỉ bằng một đường kẻ mới, bằng một dòng chữ khác… Nhưng sâu trong ký ức của mỗi người mỗi cộng đồng, tên làng tên tỉnh không chỉ là những chữ cái vô hình, nó là ký ức là lịch sử, đâu có thể dễ dàng sắp xếp thay đổi như trên một văn bản, một tấm bản đồ.
Người bạn tôi sống ở nước ngoài đã vài chục năm, nhưng trong tâm tưởng của chị, quê nhà vẫn là dòng kinh với cây cầu dừa, những ngôi nhà sàn ven sông luôn mấp mé mặt nước vào mùa nước nổi, ngôi nhà lồng chợ tuy nhỏ nhưng luôn đầy ắp cá tôm và những loại rau trái tươi ngon… Ngôi đình dựng từ thủa mở làng lập ấp đến nay trên dưới hai trăm năm, vẫn đều đặn Lễ Khai hạ Lễ Kỳ yên đúng thời đúng khắc. Chỉ cần nhắc đến một địa danh là tất cả những hình ảnh ấy liền hiện hữu. Địa danh nào phong cảnh ấy. Bởi vậy, khi chị nhắn hỏi và tôi trả lời về tên mới của quê chị, dù cách nhau nửa vòng trái đất tôi vẫn nghe thấy chị lặng đi…
Công cuộc cải cách hành chính từ việc sáp nhập các tỉnh thành lần này không phải là lần đầu tiên. Sau mỗi lần “nhập tách” đều để lại một vấn đề cốt lõi: đó là những giá trị văn hóa đặc hữu của từng vùng không dễ chìm khuất trong một bản đồ rộng lớn hơn nhưng đã bị hao hụt, tổn thương. Khi địa danh hành chính thay đổi kéo theo rất nhiều thứ khác thay đổi theo, người nghe không dễ định vị một khu vực theo cách gọi mới, không dễ hình dung ngay bản sắc văn hóa một đơn vị hành chính mới. Những ngày miền Trung bị lũ lụt vừa qua, bên cạnh bao nỗi lo lắng và sự vất vả chống đỡ của những người dân quê để bảo vệ sinh mạng, tài sản có nguy cơ bị dòng nước hung dữ cuốn đi, những người xa quê lại luôn thảng thốt hỏi nhau khi nghe tin tức: địa danh tỉnh đó mà cụ thể là ở chỗ nào? Có phải là quê mình không?
Trong việc làm của các cơ quan quản lý văn hóa luôn có kế hoạch kiểm kê di sản, gìn giữ lễ hội, tu bổ công trình cổ… Bên cạnh những nỗ lực ấy, còn một phần di sản vô hình chỉ tồn tại trong lòng người. Đó là cách bà dạy cháu một điệu ru xưa, là nếp nhà nhỏ vẫn giữ bàn thờ tổ với tấm hoành phi sẫm màu thời gian, là việc mỗi nhóm thợ, mỗi dòng họ vẫn gìn giữ quy ước truyền thống như một món nợ ân tình với quê cha đất tổ. Bởi với người dân bình thường, bảo tồn di sản không phải là làm cho đông người biết đến, không phải ở con số “có bao nhiêu di sản”, mà là giữ cho được những truyền thống của cha ông, để sau này con cháu còn biết quê hương, dòng họ, và dù đi đến đâu cũng luôn nhớ về đất nước mình!
Sáp nhập có thể mang lại nhiều điều mới: thuận lợi trong quản lý, phát triển kinh tế, hạ tầng mở rộng. Nhưng đổi thay không đồng nghĩa với lãng quên. Trên bước đường hiện đại hóa, mỗi người dân lại trở thành một người giữ lửa. Họ giữ trong tiếng nói, trong món ăn, trong câu chuyện kể, những điều mà không bản đồ hành chính nào có thể gom vào hay tách ra được. Quê hương không nằm trong tên gọi cũ hay đường biên cũ, mà nằm trong cách chúng ta tiếp tục kể về nó, tiếp tục sống với nó, tiếp tục gìn giữ nó bằng tất cả sự trân trọng.
Và khi những giá trị ấy được giữ gìn, quê hương, dẫu có đổi tên, vẫn không bao giờ là “quê cũ”.
*“Quê mới” và nhu cầu an cư – an tâm
Ở tầng sâu của xã hội, mọi cải cách hành chính chỉ bền vững khi đáp ứng được hai nhu cầu nền tảng mà cộng đồng mong đợi: an cư trong đời sống vật chất và an tâm trong cảm nhận tinh thần.
An cư là câu chuyện của đời sống thường ngày. Người dân nhận biết hiệu quả của cải cách hành chính một cách giản dị: thủ tục có thuận tiện không, đi lại có gần hơn không, dịch vụ công có tốt hơn không. Tổ chức chính quyền chỉ thật sự mang lại ý nghĩa khi nó cải thiện trải nghiệm sống thường nhật. Khoảng cách đến bệnh viện tuyến tỉnh hay trung tâm hành chính có rút ngắn? Con trẻ có thêm cơ hội học tập? Hệ thống xe buýt liên vùng, đường giao thông, nước sạch, xử lý rác thải có được đầu tư đồng bộ hơn? Những điều này tác động trực tiếp đến chất lượng cuộc sống, đầu tiên là ở quy mô gia đình, sau mới đến quy mô tỉnh thành.
Một nỗi lo phổ biến từ những đợt “nhập, tách” trước đó là sự chênh lệch phân bổ nguồn lực. Người dân ở khu vực xa trung tâm thường e ngại mình sẽ bị “lép vế” vì nguồn lực sẽ dồn về một điểm và vùng sâu xa bị quên lãng. Đây không phải cảm xúc nhất thời mà là từ thực tế ở không ít địa phương. Vì vậy, để người dân an cư, cải cách cần đi kèm các bảo đảm cụ thể: hạ tầng giao thông liên kết vùng, cơ chế đầu tư cân bằng và dịch vụ công cần phủ rộng đến mọi vùng dân cư.
Sáp nhập kéo theo điều chỉnh quy hoạch, đôi khi tác động đến giá đất và thị trường lao động, vì vậy yếu tố sinh kế cần được tính toán cụ thể. Những gia đình thu nhập trung bình hoặc người lao động tự do luôn nhạy cảm với sự thay đổi này. Nếu thiếu thông tin minh bạch người dân dễ cảm thấy bấp bênh, điều đó tác động làm giảm niềm tin vào chủ trương, chính sách.
Bên cạnh sự An cư là An tâm. Đây là nhu cầu tinh thần tưởng nhẹ mà rất nặng nhưng thường ít nhận được những chính sách cụ thể. Ngoài đời sống vật chất, sự an tâm của người dân lại chịu ảnh hưởng mạnh từ những điều rất trừu tượng: bản sắc, ký ức đô thị hay làng quê, tên gọi quen thuộc, đặc biệt là cảm giác “mình thuộc về đâu”. Nhiều địa danh tồn tại hàng trăm năm, chứa đựng bao lớp lịch sử, phong tục, lối sống. Khi một nơi được sáp nhập và đổi tên, người dân đôi khi có cảm giác như một phần ký ức bị đặt lại chỗ khác. Đó không phải là phản ứng bảo thủ mà đó là biểu hiện của căn tính cộng đồng, một yếu tố quan trọng giúp một vùng đất duy trì sự ổn định xã hội.
Chính quyền chủ trương sáp nhập để nâng cao hiệu quả quản lý, nhưng người dân ghi nhớ địa danh quê quán như một phần của đời mình. Do đó, để người dân “an tâm” thì chính sách về văn hoá – an sinh cần tinh tế và kiên nhẫn hơn nhiều so với việc trình bày các chỉ tiêu kinh tế. Trong sâu thẳm mỗi con người, mỗi cộng đồng luôn có những câu hỏi, cũng là những trách nhiệm mà người dân có quyền được biết: Lợi ích của sự thay đổi là gì? Điều gì cần thay điều gì cần đổi, và điều gì cần được giữ nguyên? Bản sắc địa phương có được bảo toàn, vị thế cộng đồng có được tôn trọng?
Những nỗi lo này không phải là trở ngại mà là dấu hiệu giúp chính quyền thiết kế chính sách tốt hơn. Nói cách khác, người dân không đòi hỏi điều gì quá lớn lao, họ mong sự thay đổi đem lại giá trị đủ rõ ràng để giảm nguy cơ bất ổn. Từ những vấn đề này khi người dân cảm nhận được sự minh bạch và tôn trọng, họ sẽ đồng hành cùng chính quyền vượt qua những thay đổi khó khăn nhất. Đó là một trong những động lực để phát triển bền vững.
*Có những “đường biên” mà AI không thể xóa
Không chỉ là những người đi xa, mà ngay người sống tại quê nhà cũng luôn mang trong mình những hoài niệm về quê hương gắn liền với tên gọi cũ bởi vì đấy là ký ức tuổi thơ, là câu chuyện của ông bà, cha mẹ, là mối tình đầu thời thanh xuân, là tình nghĩa sâu nặng lúc tuổi xế chiều... Khi những tên gọi ấy không còn, nhiều người cảm giác như mất đi một phần gốc rễ. Cuộc sống hiện đại với nhiều vấn đề hiện ra rồi biến mất nhanh chóng, nhưng sự lưu luyến với những gì thân thuộc vẫn hiện diện dai dẳng trong tâm thức con người. Đó là điều mà không trí tuệ nhân tạo nào có thể thay thế được!
Chúng ta đều biết AI có thể tối ưu mọi quy trình, phân tích dữ liệu hay đề xuất mô hình tổ chức hiệu quả. AI rất giỏi trong việc tổng hợp các nhóm dữ liệu: vùng kinh tế, mật độ dân số, mạng lưới giao thông. Nhưng con người không sống như những tập dữ liệu nên AI không thể đo chính xác nỗi băn khoăn của người dân khi đối diện sự xáo trộn lớn trong đời sống, AI không thể đánh giá đúng cảm giác lo lắng khi văn hoá một vùng quê có nguy cơ bị mai một… “Đường biên ký ức” là thứ không thể xóa bằng thuật toán. AI giúp con người rất nhiều trong đề xuất chính sách, nhưng nếu chỉ dựa vào AI, chính sách sẽ thiếu chiều sâu nhân văn.
Mặt khác, AI có thể dự báo và thiết kế xã hội bằng nhiều mô hình khác nhau, có thể lập trình những biểu hiện yêu ghét đồng thuận chối từ trong các robot… Nhưng dù thông minh đến mấy AI không thể thấu được nỗi đau, không cảm nhận được sự lo lắng khi bản sắc cộng đồng bị mai một trong biến động xã hội, AI không thể hiểu vì sao con người từ thế hệ này sang thế hệ khác luôn gắn bó với truyền thống quê hương. Cho đến nay những cảm xúc từ tâm hồn là vùng mà công nghệ phải đứng ngoài, và chỉ có thể vượt qua “đường biên” mơ hồ ấy bằng chính cảm xúc của con người!
Chính vì vậy, dù có sự hỗ trợ của AI về kỹ thuật nhưng con người phải giữ quyền quyết định các chính sách cho con người. Trong thời đại trí tuệ nhân tạo, con người có thể vẽ lại bản đồ nhanh hơn, chính xác hơn, có thể thiết kế những bản đồ mới trong tương lai.... Nhưng có những đường biên không nằm trên bản đồ. Đó là ranh giới của ký ức, của căn tính và cảm xúc. Những đường biên ấy, dù công nghệ phát triển đến đâu, vẫn cần được con người nhận diện, tôn trọng và gìn giữ.
Bởi vì loài người không bao giờ muốn để lại hậu duệ là những thế hệ robot có thể vô cùng thông minh nhưng không biết lưu giữ cảm xúc về ký ức và lịch sử, điều mà khi được nhắc nhớ chỉ có trái tim của con người mới có thể rưng rưng…

Nguyễn thị Hậu

LÊN ĐƯỜNG ĐỂ ĐẾN TÂM AN


Mùa xuân cũng là mùa lễ hội. Phong tục tổ chức lễ hội vào thời gian “nông nhàn” khiến cho trong Nam ngoài Bắc khắp đình, chùa, đền, miếu... tấp nập người đi lễ. Ngày xưa lễ hội những ngày này, dù vào “tháng Giêng ăn chơi” nhưng không nặng tính thực dụng mà chủ yếu để giải trí, du xuân gặp gỡ mọi người và thăm viếng nơi danh lam thắng cảnh. Những lời khấn cầu đầu năm ngoài sự mong muốn những điều may mắn tốt lành còn nhằm bày tỏ lòng thành tâm thiện với Thần, Phật.

Trải qua mấy chục năm chiến tranh, ở miền Bắc nhiều phong tục tập quán liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo bị xóa bỏ vì coi là “mê tín dị đoan”. Nhưng sau chiến tranh, nhất là từ khi “đổi mới” về kinh tế, trong xã hội “làm giàu” trở thành mục tiêu của nhiều người thì nhiều tục lệ đã phục hồi và ngày càng phát triển theo hướng thực dụng.

Điều đáng nói là việc cầu xin tài lộc chức tước lan tràn mọi lúc mọi nơi, đến mức không thể kiểm soát! Bây giờ vào ngày lễ tết đền chùa nào cũng mù mịt khói nhang tràn ngập đồ lễ vàng mã tiền lẻ rải như rác... Người ta cho rằng lễ càng “hoành tráng” thì thần, phật càng chứng giám phù hộ, cơ may như những hợp đồng làm ăn béo bở, chức tước danh vị sẽ vào tay mình, tránh được những rủi ro thậm chí nếu vi phạm luật pháp sẽ không bị phát hiện và được bao che khỏi sự trừng trị của cơ quan chức năng...

Từ đó đã nảy sinh hiện tượng “buôn thần bán thánh”, “mua chuộc thần phật”, “kinh doanh tâm linh”... Phục vụ cho nhu cầu này nên chùa chiền được trùng tu, xây mới tràn lan, ngày càng hoành tráng, truyền thông rầm rộ về những ngôi chùa xác lập một “kỷ lục” nào đó về quy mô kiến trúc trang trí, sự có mặt của các vị quan chức thăm viếng cúng dường, tổ chức lễ hội cấp quốc gia... Chùa càng to càng “giàu có” thì càng đông “tín đồ”, tiếng đồn “linh nghiệm” càng nhiều. Người ta ồ ạt theo những tour “du lịch tâm linh” vội vã chạy từ chùa này sang chùa khác cho đủ mấy “kiểng chùa” mà không có nơi nào đủ thời gian mà lắng lòng thanh tịnh.

Trong khi đó ở đâu cũng có chùa làng. Những ngôi chùa đơn sơ giản dị, gần gũi với dân cư trong vùng, nhiều chùa nuôi trẻ mồ côi người già cơ nhỡ... nhưng ít người thăm viếng, thỉnh thoảng có người “từ thiện” đến giúp đỡ chút đỉnh. “Phật tại tâm” sao còn phân biệt chùa giàu chùa nghèo, phân biệt chùa lớn chùa nhỏ? Sự phân hóa “đẳng cấp” một cách sâu sắc không chỉ có ngoài xã hội mà đã hiện diện trong các ngôi chùa phản ánh nhu cầu tâm linh đã bị tâm lý “thực dụng” lấn át. Xưa trong truyện cổ tích khi khó khăn người ta thường cầu xin ông Bụt giúp đỡ, nay lại coi Phật như ông Bụt vạn năng có thể giúp cô Tấm trở thành hoàng hậu hay giúp anh nông dân có cây tre trăm đốt để trả thù phú ông nên người ta lên chùa cầu xin không thiếu thứ gì... Và phải chăng vì quan niệm “Bụt chùa nhà không thiêng” nên hay phải đi cầu Phật chùa xa cho “linh”?

          Nhiều người đã biết rằng, đi lễ chùa đầu năm hay vào ngày rằm, mùng một hàng tháng là để tỏ lòng thành kính với Đức Phật, con người đến với Phật không phải để cầu xin ban phát lợi lộc vật chất cho mình mà tìm đến giáo lý Phật Giáo để giác ngộ, xuất phát từ bản thân làm việc thiện “tu nhân tích đức”... Trong xã hội ai cũng hướng thiện và làm việc đức thì ngày càng có nhiều điều tốt đẹp cho tất cả mọi người, trong đó có mỗi người. Đó là tâm thức cần có khi đến với các tôn giáo trong đó có Phật giáo.

Mùa lễ hội nào cũng kết thúc, mọi người lại trở về với công việc và sinh hoạt thường ngày. Nhưng điều quan trọng là sau mỗi lần lên chùa vào đền thành kính khấn vái, chúng ta có hành xử tử tế, làm ăn lương thiện và chăm chỉ hơn không, bởi vì nói cho cùng, lười biếng thì không Thần nào cứu giúp, ác tâm thì không Phật nào độ trì... Có tâm có đức thì mới linh. Vô tâm thất đức thì dù có cầu cúng đến đâu cũng không thể mang lại sự bình an trong tâm hồn. Tâm bất an là nguyên nhân mọi sự bất ổn của cá nhân và xã hội.

Nguyễn Thị Hậu , repost




NHỊ HÒA – NƠI HIỆN HỮU KÝ ỨC LÀNG QUÊ NAM BỘ


 Có những nơi người ta đến để xem, để chụp ảnh, để “trải nghiệm”. Nhưng cũng có những nơi, chỉ cần bước chân vào, ta bỗng thấy mình đang đi chậm lại như thể không gian đã giữ hộ một nhịp sống khác. Nhị Hòa, với tôi, là một nơi như thế.

Khi làng không “trình diễn” mà kể chuyện

Đó là một ngôi làng nhỏ ngay bên đường quốc lộ, thời chiến tranh là vùng thường xảy ra chiến sự. Hòa bình rồi nhưng nhiều năm trước nơi này vẫn là vùng sâu vùng xa, xung quanh bốn bề sông nước. Con trẻ đi học có khi quá giang ghe, xuồng qua lại, mà thường xuyên “chỉ có cuốn tập cột với cái áo trên đầu, lội qua sông mà đi học”. Nay Nhị Hòa đã có một con đường bê tông rộng rãi chạy cặp theo con sông, xuyên từ đầu đến cuối làng. Khách đến chơi có thể đi đường bộ mà cũng có thể đi đường sông. Bên đường, những ngôi nhà nhỏ nằm giữa vườn rộng rợp cây xanh, có những vườn xưa mương dừa đã cạn, những cây dừa lão nghiêng ngả, lá dừa rơi dày trên lớp đất đen ngai ngái mùi bùn.

Làng du lịch vào ngày cuối tuần nhưng cũng không quá đông. Chỉ có vài bảng hiệu giản dị nhưng vui mắt ở đầu làng, còn lại trong làng cuộc sống vẫn như ngày thường. Những hoạt động du lịch ở từng nhà được chuẩn bị lỹ lưỡng nhưng không mang tính dàn dựng “trình diễn”, cả làng hiện ra trước hết bằng những thứ rất quen của miền Tây: vườn cây, hàng rào trồng bông bụt, bông giấy, vài cây mái đã nở vàng, mái nhà thấp thoáng sau hàng cây, tiếng chào hỏi từ hiên nhà... Ở đó, các hoạt động du lịch không phải như người khách tham quan, mà như người thân quen đang ghé lại trò chuyện với chủ nhà, cùng tham gia vào sinh hoạt đời thường. Ở nhà này thì cùng thưởng thức mấy loại bánh mứt làm vào dịp tết, nhà kia là các loại trái cây, nhà nữa thì xem anh chủ dùng lá dừa đan thành mấy con vật ngộ nghĩnh... Du khách cứ thoải mái ghé chơi, thử ăn các món dân dã, và thích thì mua chút quà quê màng về thành phố.

Cũng như nhiều làng du lịch cộng đồng, khách đến tham quan không phải là đến một điểm tham quan cụ thể, mà là để được đắm mình vào cảm giác hòa mình vào đời sống như nó vẫn vậy. Ở Nhị Hòa đã không có sự tách biệt rạch ròi giữa “không gian du lịch” và “không gian cư trú”, người “làm du lịch” và người làng đang làm vườn, nấu ăn, trò chuyện, sinh hoạt. Ở Nhị Hòa du khách là người đến cùng chia sẻ nhịp sống ấy. Ở đây, du lịch cộng đồng không được sân khấu hóa thành tiết mục chỉn chu mà tồn tại trong những chi tiết nhỏ: ngôi nhà còn nguyên bàn thờ với những bức hình của ông bà chắc cũng gần trăm năm trước; cách bày mâm cơm, cách tiếp khách, cách gọi nhau bằng những đại từ thân mật, cách mở cửa nhà như một thói quen tự nhiên của làng quê Nam Bộ... Những điều ấy tưởng như bình thường, nhưng chính là lớp trầm tích của ký ức văn hóa mà không nhiều người còn lưu giữ được.

Làng như một cảnh quan văn hóa sống

Tính chất cộng đồng ở Nhị Hòa được “bảo tồn” trong du lịch ở điểm mấu chốt: người dân vẫn duy trì công việc làm ăn, sinh hoạt hàng ngày, công việc du lịch nhưng chưa bị tách rời khỏi cuộc sống đời thường Nhưng nếu chỉ dừng ở khái niệm ấy thì chưa đủ để chạm đến cảm giác thật khi đứng trong không gian làng. Bởi điều đáng nói hơn không phải là “mô hình du lịch” mà là việc một ngôi làng Nam Bộ đang tồn tại như một di sản sống, đang lưu giữ ký ức trong sinh hoạt thường ngày. Chính điều này ở Nhị Hòa đã mang lại cho nhiều người một cảm giác quen thuộc “như được trở về quê nội quê ngoại vậy!”. Trong bối cảnh nhiều điểm du lịch cộng đồng bị “sân khấu hóa”, Nhị Hòa may mắn chưa bị mất đi sự hồn nhiên chất phác của người dân miệt vườn Nam bộ. Và chính sự hồn nhiên ấy làm nên giá trị học thuật đặc biệt, nó cho thấy một cộng đồng đang sống với di sản của mình, chứ không chỉ trình diễn di sản cho người ngoài xem.

Nhị Hòa có thể được xem là một cấu trúc điển hình của làng quê Nam Bộ miệt vườn. Ở đó, không gian sinh thái, không gian xã hội và không gian văn hóa đan cài chặt chẽ. Vườn cây không chỉ là sinh kế, mà còn là ký ức canh tác. Sông và kênh rạch không chỉ là cảnh quan, mà là trục giao thông và ký ức sông nước. Ngôi nhà không chỉ là nơi ở, mà là không gian lưu giữ nếp sống gia đình nhiều thế hệ. Khi du khách bước đi giữa những lớp không gian ấy, họ không chỉ “tham quan”, mà đang đi qua một hệ thống ký ức vật chất và phi vật chất tích tụ qua thời gian. Đó là dạng di sản không dễ nhận diện bằng tiêu chí di tích, nhưng lại có giá trị bền vững hơn — bởi nó gắn với đời sống.

Nhị Hòa cho thấy một cách tiếp cận đáng chú ý: bảo tồn không bằng cách “đóng băng” làng, mà bằng cách tạo sinh kế từ/gắn với chính đời sống văn hóa của cộng đồng. Khi mỗi hộ dân trở thành một mắt xích trong chuỗi trải nghiệm, du lịch không còn là hoạt động ngoại lai mà trở thành một phần của cấu trúc kinh tế – xã hội làng. Đây là mô hình bảo tồn mềm (soft conservation), tức là không xây dựng công trình du lịch quy mô lớn, không phá vỡ cấu trúc làng hiện hữu đồng thời khai thác giá trị từ chính sinh hoạt bản địa. Cách làm này phù hợp với nguyên lý bảo tồn di sản sống. Bởi vì di sản chỉ có thể tồn tại bền vững khi cộng đồng còn sống với nó, chứ không phải khi nó bị tách khỏi đời sống để trưng bày.

 Ký ức làng quê trong thời đại chuyển đổi nông thôn

Nam Bộ đang thay đổi nhanh chóng do quá trình đô thị hóa lan rộng, nông nghiệp chuyển dịch, lao động trẻ rời làng lên thành phố, đến các khu công nghiệp. Trong bối cảnh ấy cấu trúc làng truyền thống đang bị biến dạng hoặc mai một. Vì thế Nhị Hòa không chỉ là một điểm du lịch mới mà còn là không gian đang giữ lại ký ức của một kiểu làng quê đang hiếm dần.

Ký ức ấy không nằm ở những sự kiện lịch sử lớn, mà ở đời sống thường nhật: đó là ký ức về những bữa cơm gia đình, cuộc trò chuyện ở hiên nhà khi chiều xuống, về con đường làng rợp bóng cây, về con sông luôn có bóng dáng ghe xuồng qua lại, là ký ức về sự hiếu khách chân tình, rất Nam Bộ... Những yếu tố này được gọi là di sản đời sống (everyday heritage), rất khó bảo tồn bằng biện pháp hành chính nhưng lại có thể được duy trì thông qua từng người dân. Nếu du lịch cộng đồng nếu được tổ chức đúng hướng thì loại di sản này càng có điều kiện lưu giữ lâu dài.

Khi đặt Nhị Hòa trong mối liên hệ với không gian đô thị Nam Bộ, đặc biệt là TP.HCM, ta sẽ thấy một đối sánh thú vị. Trong đô thị, ký ức thường bị nén lại, thay thế nhanh bởi các lớp phát triển mới. Những không gian cộng cư truyền thống, nhịp sống chậm, quan hệ láng giềng thân mật dần bị suy giảm. Trong khi đó ở Nhị Hòa, ký ức làng quê vẫn được duy trì trong đời sống hàng ngày. Đây là một hiện tượng đang diễn ra trong “cấu trúc văn hóa vùng” Nam Bộ trong thời kỳ chuyển đổi. Theo nghĩa ấy, trường hợp Nhị Hòa không chỉ là một làng du lịch mà còn thể hiện sự “đối trọng ký ức” của vùng đô thị hóa mạnh.

Trải nghiệm cá nhân thường mang tính cảm xúc. Cảm giác bình yên, thân thuộc khi đến Nhị Hòa không chỉ là cảm xúc chủ quan mà phản ánh sự hiện diện của một hệ sinh thái văn hóa còn nguyên vẹn. Tuy nhiên, cũng cần cảnh báo một cách tỉnh táo: bất kỳ mô hình du lịch cộng đồng nào khi phát triển đều đối diện nguy cơ thương mại hóa ký ức. Khi lượng khách tăng, đời sống có thể bị điều chỉnh để phù hợp với kỳ vọng du lịch, những gì tự nhiên có thể dần trở thành “chuẩn hóa” để phục vụ thị trường. Do đó, vấn đề cần đặt ra không chỉ là “Nhị Hòa có hấp dẫn hay không?” mà quan trọng hơn, mô hình này sẽ giữ được tính xác thực văn hóa dài hạn hay không?

Rời Nhị Hòa, điều còn lại không phải là một danh sách điểm tham quan, mà là một cảm giác về nhịp sống. Một ngôi làng không quá xa, nhưng đủ khác để khiến người đô thị nhận ra mình đã quen với tốc độ nhanh đến mức nào. Đến Nhị Hòa, người ta nhận ra nơi ấy là một không gian còn giữ được “nhịp sống chậm” - thứ đang dần trở nên hiếm trong xã hội đương đại. Ở Nhị Hòa mình được tạm dừng cuộc đua vất vả nơi phố thị mà nghỉ ngơi theo nhịp võng thong thả bên hiên nhà.

Có lẽ, giá trị lớn nhất của những làng du lịch cộng đồng không nằm ở việc trở thành một điểm đến nổi tiếng mà ở khả năng nhắc cho chúng ta nhớ rằng, di sản không chỉ là những gì cổ xưa và tĩnh tại, mà còn là đời sống bình dị đang tiếp diễn mỗi ngày. Khi du lịch được tổ chức như một sự chia sẻ thay vì khai thác thì làng quê không bị biến thành sản phẩm, mà trở thành một không gian đối thoại giữa ký ức và hiện tại.

Đấy cũng là điều mà tôi muốn được chia sẻ với anh - người bạn quý mến, người luôn dành hết tâm huyết cho sự phát triển du lịch và văn hóa tại vùng quê xinh đẹp, hiền hòa và giàu tiềm năng của mình.

 Nguyễn Thị Hậu 



TC DU LỊCH TP.HCM

https://tcdulichtphcm.vn/du-khao/nhi-hoa-noi-hien-huu-ky-uc-lang-que-nam-bo-c14a110166.html?fbclid=IwY2xjawQDQrNleHRuA2FlbQIxMQBzcnRjBmFwcF9pZBAyMjIwMzkxNzg4MjAwODkyAAEexzWps918J4AqDmMfnkHwV7hj_7wwt9X2jWW5KnIncKNgJzLySZFdMQyGqus_aem_ESp8wV3d6zAlSWZlpBveAg

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH SÁNG TẠO TRÊN BẢN SẮC SÀI GÒN

  Nguyễn Thị Hậu 1. Những ngày cuối năm, đi trên những con đường thành phố dưới ánh nắng sớm xiên qua hàng cây, hơi gió chướng lùa qua những...