NHỊ HÒA – NƠI HIỆN HỮU KÝ ỨC LÀNG QUÊ NAM BỘ


 Có những nơi người ta đến để xem, để chụp ảnh, để “trải nghiệm”. Nhưng cũng có những nơi, chỉ cần bước chân vào, ta bỗng thấy mình đang đi chậm lại như thể không gian đã giữ hộ một nhịp sống khác. Nhị Hòa, với tôi, là một nơi như thế.

Khi làng không “trình diễn” mà kể chuyện

Đó là một ngôi làng nhỏ ngay bên đường quốc lộ, thời chiến tranh là vùng thường xảy ra chiến sự. Hòa bình rồi nhưng nhiều năm trước nơi này vẫn là vùng sâu vùng xa, xung quanh bốn bề sông nước. Con trẻ đi học có khi quá giang ghe, xuồng qua lại, mà thường xuyên “chỉ có cuốn tập cột với cái áo trên đầu, lội qua sông mà đi học”. Nay Nhị Hòa đã có một con đường bê tông rộng rãi chạy cặp theo con sông, xuyên từ đầu đến cuối làng. Khách đến chơi có thể đi đường bộ mà cũng có thể đi đường sông. Bên đường, những ngôi nhà nhỏ nằm giữa vườn rộng rợp cây xanh, có những vườn xưa mương dừa đã cạn, những cây dừa lão nghiêng ngả, lá dừa rơi dày trên lớp đất đen ngai ngái mùi bùn.

Làng du lịch vào ngày cuối tuần nhưng cũng không quá đông. Chỉ có vài bảng hiệu giản dị nhưng vui mắt ở đầu làng, còn lại trong làng cuộc sống vẫn như ngày thường. Những hoạt động du lịch ở từng nhà được chuẩn bị lỹ lưỡng nhưng không mang tính dàn dựng “trình diễn”, cả làng hiện ra trước hết bằng những thứ rất quen của miền Tây: vườn cây, hàng rào trồng bông bụt, bông giấy, vài cây mái đã nở vàng, mái nhà thấp thoáng sau hàng cây, tiếng chào hỏi từ hiên nhà... Ở đó, các hoạt động du lịch không phải như người khách tham quan, mà như người thân quen đang ghé lại trò chuyện với chủ nhà, cùng tham gia vào sinh hoạt đời thường. Ở nhà này thì cùng thưởng thức mấy loại bánh mứt làm vào dịp tết, nhà kia là các loại trái cây, nhà nữa thì xem anh chủ dùng lá dừa đan thành mấy con vật ngộ nghĩnh... Du khách cứ thoải mái ghé chơi, thử ăn các món dân dã, và thích thì mua chút quà quê màng về thành phố.

Cũng như nhiều làng du lịch cộng đồng, khách đến tham quan không phải là đến một điểm tham quan cụ thể, mà là để được đắm mình vào cảm giác hòa mình vào đời sống như nó vẫn vậy. Ở Nhị Hòa đã không có sự tách biệt rạch ròi giữa “không gian du lịch” và “không gian cư trú”, người “làm du lịch” và người làng đang làm vườn, nấu ăn, trò chuyện, sinh hoạt. Ở Nhị Hòa du khách là người đến cùng chia sẻ nhịp sống ấy. Ở đây, du lịch cộng đồng không được sân khấu hóa thành tiết mục chỉn chu mà tồn tại trong những chi tiết nhỏ: ngôi nhà còn nguyên bàn thờ với những bức hình của ông bà chắc cũng gần trăm năm trước; cách bày mâm cơm, cách tiếp khách, cách gọi nhau bằng những đại từ thân mật, cách mở cửa nhà như một thói quen tự nhiên của làng quê Nam Bộ... Những điều ấy tưởng như bình thường, nhưng chính là lớp trầm tích của ký ức văn hóa mà không nhiều người còn lưu giữ được.

Làng như một cảnh quan văn hóa sống

Tính chất cộng đồng ở Nhị Hòa được “bảo tồn” trong du lịch ở điểm mấu chốt: người dân vẫn duy trì công việc làm ăn, sinh hoạt hàng ngày, công việc du lịch nhưng chưa bị tách rời khỏi cuộc sống đời thường Nhưng nếu chỉ dừng ở khái niệm ấy thì chưa đủ để chạm đến cảm giác thật khi đứng trong không gian làng. Bởi điều đáng nói hơn không phải là “mô hình du lịch” mà là việc một ngôi làng Nam Bộ đang tồn tại như một di sản sống, đang lưu giữ ký ức trong sinh hoạt thường ngày. Chính điều này ở Nhị Hòa đã mang lại cho nhiều người một cảm giác quen thuộc “như được trở về quê nội quê ngoại vậy!”. Trong bối cảnh nhiều điểm du lịch cộng đồng bị “sân khấu hóa”, Nhị Hòa may mắn chưa bị mất đi sự hồn nhiên chất phác của người dân miệt vườn Nam bộ. Và chính sự hồn nhiên ấy làm nên giá trị học thuật đặc biệt, nó cho thấy một cộng đồng đang sống với di sản của mình, chứ không chỉ trình diễn di sản cho người ngoài xem.

Nhị Hòa có thể được xem là một cấu trúc điển hình của làng quê Nam Bộ miệt vườn. Ở đó, không gian sinh thái, không gian xã hội và không gian văn hóa đan cài chặt chẽ. Vườn cây không chỉ là sinh kế, mà còn là ký ức canh tác. Sông và kênh rạch không chỉ là cảnh quan, mà là trục giao thông và ký ức sông nước. Ngôi nhà không chỉ là nơi ở, mà là không gian lưu giữ nếp sống gia đình nhiều thế hệ. Khi du khách bước đi giữa những lớp không gian ấy, họ không chỉ “tham quan”, mà đang đi qua một hệ thống ký ức vật chất và phi vật chất tích tụ qua thời gian. Đó là dạng di sản không dễ nhận diện bằng tiêu chí di tích, nhưng lại có giá trị bền vững hơn — bởi nó gắn với đời sống.

Nhị Hòa cho thấy một cách tiếp cận đáng chú ý: bảo tồn không bằng cách “đóng băng” làng, mà bằng cách tạo sinh kế từ/gắn với chính đời sống văn hóa của cộng đồng. Khi mỗi hộ dân trở thành một mắt xích trong chuỗi trải nghiệm, du lịch không còn là hoạt động ngoại lai mà trở thành một phần của cấu trúc kinh tế – xã hội làng. Đây là mô hình bảo tồn mềm (soft conservation), tức là không xây dựng công trình du lịch quy mô lớn, không phá vỡ cấu trúc làng hiện hữu đồng thời khai thác giá trị từ chính sinh hoạt bản địa. Cách làm này phù hợp với nguyên lý bảo tồn di sản sống. Bởi vì di sản chỉ có thể tồn tại bền vững khi cộng đồng còn sống với nó, chứ không phải khi nó bị tách khỏi đời sống để trưng bày.

 Ký ức làng quê trong thời đại chuyển đổi nông thôn

Nam Bộ đang thay đổi nhanh chóng do quá trình đô thị hóa lan rộng, nông nghiệp chuyển dịch, lao động trẻ rời làng lên thành phố, đến các khu công nghiệp. Trong bối cảnh ấy cấu trúc làng truyền thống đang bị biến dạng hoặc mai một. Vì thế Nhị Hòa không chỉ là một điểm du lịch mới mà còn là không gian đang giữ lại ký ức của một kiểu làng quê đang hiếm dần.

Ký ức ấy không nằm ở những sự kiện lịch sử lớn, mà ở đời sống thường nhật: đó là ký ức về những bữa cơm gia đình, cuộc trò chuyện ở hiên nhà khi chiều xuống, về con đường làng rợp bóng cây, về con sông luôn có bóng dáng ghe xuồng qua lại, là ký ức về sự hiếu khách chân tình, rất Nam Bộ... Những yếu tố này được gọi là di sản đời sống (everyday heritage), rất khó bảo tồn bằng biện pháp hành chính nhưng lại có thể được duy trì thông qua từng người dân. Nếu du lịch cộng đồng nếu được tổ chức đúng hướng thì loại di sản này càng có điều kiện lưu giữ lâu dài.

Khi đặt Nhị Hòa trong mối liên hệ với không gian đô thị Nam Bộ, đặc biệt là TP.HCM, ta sẽ thấy một đối sánh thú vị. Trong đô thị, ký ức thường bị nén lại, thay thế nhanh bởi các lớp phát triển mới. Những không gian cộng cư truyền thống, nhịp sống chậm, quan hệ láng giềng thân mật dần bị suy giảm. Trong khi đó ở Nhị Hòa, ký ức làng quê vẫn được duy trì trong đời sống hàng ngày. Đây là một hiện tượng đang diễn ra trong “cấu trúc văn hóa vùng” Nam Bộ trong thời kỳ chuyển đổi. Theo nghĩa ấy, trường hợp Nhị Hòa không chỉ là một làng du lịch mà còn thể hiện sự “đối trọng ký ức” của vùng đô thị hóa mạnh.

Trải nghiệm cá nhân thường mang tính cảm xúc. Cảm giác bình yên, thân thuộc khi đến Nhị Hòa không chỉ là cảm xúc chủ quan mà phản ánh sự hiện diện của một hệ sinh thái văn hóa còn nguyên vẹn. Tuy nhiên, cũng cần cảnh báo một cách tỉnh táo: bất kỳ mô hình du lịch cộng đồng nào khi phát triển đều đối diện nguy cơ thương mại hóa ký ức. Khi lượng khách tăng, đời sống có thể bị điều chỉnh để phù hợp với kỳ vọng du lịch, những gì tự nhiên có thể dần trở thành “chuẩn hóa” để phục vụ thị trường. Do đó, vấn đề cần đặt ra không chỉ là “Nhị Hòa có hấp dẫn hay không?” mà quan trọng hơn, mô hình này sẽ giữ được tính xác thực văn hóa dài hạn hay không?

Rời Nhị Hòa, điều còn lại không phải là một danh sách điểm tham quan, mà là một cảm giác về nhịp sống. Một ngôi làng không quá xa, nhưng đủ khác để khiến người đô thị nhận ra mình đã quen với tốc độ nhanh đến mức nào. Đến Nhị Hòa, người ta nhận ra nơi ấy là một không gian còn giữ được “nhịp sống chậm” - thứ đang dần trở nên hiếm trong xã hội đương đại. Ở Nhị Hòa mình được tạm dừng cuộc đua vất vả nơi phố thị mà nghỉ ngơi theo nhịp võng thong thả bên hiên nhà.

Có lẽ, giá trị lớn nhất của những làng du lịch cộng đồng không nằm ở việc trở thành một điểm đến nổi tiếng mà ở khả năng nhắc cho chúng ta nhớ rằng, di sản không chỉ là những gì cổ xưa và tĩnh tại, mà còn là đời sống bình dị đang tiếp diễn mỗi ngày. Khi du lịch được tổ chức như một sự chia sẻ thay vì khai thác thì làng quê không bị biến thành sản phẩm, mà trở thành một không gian đối thoại giữa ký ức và hiện tại.

Đấy cũng là điều mà tôi muốn được chia sẻ với anh - người bạn quý mến, người luôn dành hết tâm huyết cho sự phát triển du lịch và văn hóa tại vùng quê xinh đẹp, hiền hòa và giàu tiềm năng của mình.

 Nguyễn Thị Hậu 



TC DU LỊCH TP.HCM

https://tcdulichtphcm.vn/du-khao/nhi-hoa-noi-hien-huu-ky-uc-lang-que-nam-bo-c14a110166.html?fbclid=IwY2xjawQDQrNleHRuA2FlbQIxMQBzcnRjBmFwcF9pZBAyMjIwMzkxNzg4MjAwODkyAAEexzWps918J4AqDmMfnkHwV7hj_7wwt9X2jWW5KnIncKNgJzLySZFdMQyGqus_aem_ESp8wV3d6zAlSWZlpBveAg

MÙA XUÂN SÀI GÒN RẤT GẦN VÀ BÌNH YÊN

 Tản văn, Nguyễn thị Hậu

Một buổi sáng cuối năm tôi ngồi trong quán cà phê quen thuộc. Quán nhỏ trong con hẻm vắng, không bày biện “Mừng giáng sinh” hay “Chúc mừng năm mới”, không nhạc xuân rộn ràng như nhiều quán lớn mặt tiền đường phố, chỉ có mùi thơm cà phê, vài chiếc bàn gỗ đã sẫm màu theo năm tháng. Nhưng tôi vẫn thấy mùa xuân đang đến, không phải ở cảnh sắc ngoài phố mà trong cảm giác bâng khuâng của lòng người.

Sài Gòn có nhiều quán cà phê như thế, không nổi tiếng nhưng luôn là nơi người ta tìm đến để ghi dấu một chuyến đi, ghi nhớ một câu chuyện, thương nhớ một con người. Chỉ là một con hẻm trên con đường có hai hàng cây sao cao vút, tán không còn đều, rễ đội lên mặt vỉa hè những vết nhăn thời gian. Buổi sáng xe cộ vẫn ồn ào qua lại, cả ngày cũng chẳng khi nào vắng. Con hẻm nhỏ cũng như cả thành phố này, cuộc sống ở đây không phô bày, nó sống động, bình thản và giản dị.  Sống ở Sài Gòn đã 50 năm, tôi luôn nhận ra mùa xuân ở Sài Gòn hiếm khi được nhận ra bằng thời tiết. Nó không đến bằng cái rét cuối cùng hay những đợt nắng ấm đầu tiên. Xuân đến bằng tín hiệu rất mỏng: buổi sáng nào đó bước chân ra đường phố, bỗng một cảm giác bồi hồi là lạ rất khó gọi tên, như thành phố chợt chậm lại một nhịp thở sau một năm dài sôi động.

Vào buổi sáng như sáng nay, quán cà phê vẫn như mọi ngày nhưng đã nghe mùa xuân ghé vào quán nhỏ, tạo nên một nhịp điệu rất riêng. Người ra vào không vội, câu chuyện cũng không cần kết thúc. Mỗi người ngồi đó đều như đang tạm dừng trong “khoảng giữa” năm cũ và năm mới, giữa điều đã qua và điều chưa kịp tới. Tôi nhận ra, mùa xuân có lẽ đã “chạm” vào mỗi người chính ở khoảng giữa ấy. Mỗi lần ngồi trong quán cà phê quen tôi đều nghĩ rằng, Sài Gòn chính là những quán cà phê như thế này. Không cần trang trí theo mùa, không cố tái tạo vẻ cổ xưa cũng không quá hào hứng với cái mới. Nó để mọi thứ cùng tồn tại một cách tự nhiên. Bàn cũ đứng cạnh bàn mới, người trẻ ngồi bên người già, khách mới trò chuyện cùng khách quen… Ký ức và hiện tại không tranh giành không gian, chỉ lặng lẽ đan xen vào nhau, chồng xếp lên nhau. Sài Gòn đã được “giữ lại” bằng cách đó.

Vào khoảng thời gian giao mùa, năm cũ gần qua năm mới đang đến, nhiều thành phố chào đón bằng lễ hội, bằng bông hoa trang trí rực rỡ và những náo nhiệt thúc giục người ta đổ ra đường phố... Nhưng Sài Gòn luôn đón xuân bằng thói quen uống cà phê mỗi sáng, thói quen ghé quán quen trước khi bắt đầu một ngày mới, thói quen ngồi yên vài phút giữa dòng chảy vội vã của đô thị. Mùa xuân ở Sài Gòn vì thế không làm người ta quá nôn nao mà làm lòng người mềm lại. Sau một năm bươn chải, người ta cho phép mình chậm hơn một nhịp, cho phép mình nhớ lại những việc đã qua, những điều chưa kịp làm, những dự định từng được viết ra rồi gấp lại. Nhưng nghĩ đến những điều ấy lúc này không thấy nặng nề. Ngồi quán cà phê lúc này, dễ tha thứ. Tha thứ cho những chậm trễ, cho những thiếu sót, cho cả những giấc mơ chưa kịp gọi tên. Xuân làm người ta nhân ái hơn với chính mình, với mọi người.

Tôi ngồi lắng nghe con phố dài xao xác lá ngoài kia, nhận ra, dù Sài Gòn đổi thay từng ngày nhưng có những thứ rất khó mất, như cách người ta chào nhau bằng ánh mắt, bằng nụ cười, bằng lời nhắc nhau trên đường, bằng câu xin lỗi, cám ơn. Tất cả điều đó mang lại cảm giác rằng dù thành phố có lớn đến đâu thì mỗi người vẫn có một chỗ để quay về. Đô thị nào cũng phát triển, cũng phức tạp khó lường, nhưng không phải đô thị nào cũng như Sài Gòn, giữ được những khoảng dừng cho từng con người khi thành công và cả khi thất bại. Những quán cà phê quen thuộc chính là một khoảng dừng như thế. Ở đó, người ta không cần phải trở thành ai khác, không cần phải nhanh hơn, giỏi hơn hay mới hơn. Chỉ cần ngồi xuống, gọi một ly cà phê, và để thành phố đi ngang qua chính mình.

Mỗi năm, mùa xuân ghé lại những quán nhỏ ở thành phố này, khẽ khàng, dịu dàng. Không báo trước không gõ cửa, chỉ ngồi xuống cạnh bạn giữa tiếng thìa chạm vào ly và tiếng xe ngoài đường phố. Chỉ chạm nhẹ vào bạn bằng hơi gió dịu mát để nhắc rằng một năm nữa sắp bắt đầu. Mùa xuân không đòi hỏi bạn phải đổi mới, nó chỉ cần bạn đủ mở lòng. Và thế là ta chợt thấy lòng nhẹ đi một chút. Chỉ một chút thôi, đủ để tin rằng năm mới luôn đáng để chúng ta bước tiếp.

Trên những con đường khắp Sài Gòn vẫn luôn sống động, vội vã mà vẫn ung dung. Người giao hàng dừng xe trước tiệm tạp hoá đầu hẻm. Một bà cụ bán vé số ngồi nép dưới tán cây. Quán hủ tiếu bên đường đang đông khách… Thành phố không đợi Tết để nhộn nhịp, cũng không thúc giục người ta bước sang năm mới. Nó cứ đi, đều đặn và bền bỉ, như cách nó đã đi suốt hàng trăm năm qua, dung chứa đủ mọi nhịp sống, đủ mọi phận người.

Khi ly cà phê cạn dần, tôi đứng lên và bước ra đường. Thành phố vẫn thế, không khác buổi sáng hôm qua, không khác những buổi sáng đã qua, nhưng lòng người thì đã nhẹ hơn một chút. Mùa xuân đến mang lại cho người Sài Gòn cảm giác chờ đợi những cuộc đoàn tụ, gặp gỡ và kết nối... Sài Gòn vào xuân không ồn ào, không hứa hẹn mà là sự bình an để người ta tin rằng, mình có thể bước tiếp chậm rãi nhưng vững vàng, trong một năm mới đang chờ phía trước.

Ở Sài Gòn, đôi khi ta chỉ cần một khoảnh khắc giao hòa giữa hương thơm ly cà phê, hơi gió chướng rất nhẹ và ý nghĩ phiêu lãng rất riêng. Ấy là mùa xuân đã đến trong lòng mình trước khi hiện diện trên thành phố. Đó là một đặc ân mà Sài Gòn luôn rộng rãi mang đến cho mỗi người.

Sài Gòn 5.1.2026




For the day after Valentine's day

 (1)

Họ thường xuyên liên lạc với nhau nên nó có thói quen khi xem đồng hồ luôn cộng thêm 1, vì đó là giờ nơi anh ở. Những số giờ cộng 1 làm cho thời gian trôi nhanh hơn, họ như gần nhau hơn. 

Một ngày khi xem đồng hồ nó chợt nhớ ra bây giời thời gian nhanh chậm không còn ý nghĩa gì nữa, dù anh vẫn ở nơi đấy thôi. Bây giờ 12 giờ chỉ là 12 giờ.


(2)
Nhiều năm sau cô trở lại Paris. Ở cầu tình yêu cô không sao tìm thấy ổ khóa của anh và cô ngày trước. Có lẽ nó đã bị lấy đi để nhường chỗ cho khóa của những cặp tình nhân khắp thế giới đến đây mỗi ngày.
Cô lại khóa vào cây cầu một chiếc khóa mới, chìa khóa không vứt xuống sông Seine mà cẩn thận lồng sợi giây và đeo vào cổ. Đây là khóa cô dành cho Paris, thành phố của mối tình đã qua…

(3)

Bây giờ cái gì cũng cần mật khẩu: thẻ tín dụng, máy tính, điện thoại, tài khoản ngân hàng, email, mạng xã hội... Dùng nhiều thì mật khẩu thuộc lòng. Ít dùng sẽ quên mật khẩu, có khi phải phải đổi mật khẩu để bảo mật.
Một ngày cô đột ngột ra đi. Nhìn căn nhà trống vắng anh chợt nhận ra từ lâu mình đã quên “mật khẩu” đăng nhập vào trái tim cô.
Đơn giản chỉ là “anh yêu em”.

(4)
Rất lâu rồi vợ chồng hình như chẳng còn nói lời ngọt ngào với nhau. Một ngày kia theo trò chơi của bạn bè, cô lấy điện thoại nhắn cho chồng “Em yêu anh!”. Nhớ lại "mật khẩu" ngày xưa của hai người cô bỗng bồi hồi...
Chồng trả lời ngay “Làm sao thế, điên à? Hay nhắn nhầm cho thằng nào?!”
Cô giật mình, tưởng vừa đăng nhập sai tài khoản.

(5)

Cửa hàng bán những chiếc bình đẹp bằng pha lê và thủy tinh. Bình thủy tinh bán chạy hơn vì nhìn cũng giống pha lê, nhưng giá rẻ, vỡ cũng không tiếc.
Ít người mua bình pha lê, nhưng đã mua thì giữ gìn cẩn thận, không chỉ vì đắt tiền mà vì hiểu giá trị hoàn mỹ của bình pha lê như một tác phẩm nghệ thuật.
Tình yêu như pha lê còn những gì giống như tình yêu chỉ là thủy tinh.

#truyen100chu for the day after Valentine's day 🙂



NHỮNG MẢNH VỠ [không dành cho các bạn đang yêu :) ]

 Cà phê không đường

Tôi hay đến quán nhỏ gần một ngã tư, ngồi một mình, lặng lẽ với cảm giác bình yên, ly café không đường để lại một dư vị thật ngọt ngào…

 Rồi em đến. Em đã phá vỡ không gian riêng tư của tôi bằng những vần thơ mềm mại đến nao lòng… Tưởng như em và tôi, chúng ta có thể bên nhau đi đến cùng trời cuối đất.

Để khi em ngập ngừng không dám cùng tôi uống ly café không đường của cuộc sống, quán cũ chiều nay café bỗng dưng đắng ngắt.

Không đề

Trời mưa. Cô mơ màng: bây giờ ngồi quán với một cốc cà phê sữa nóng và nghe nhạc thì tuyệt. Anh lắc đầu: trời mát thế này nhậu thịt chó mắm tôm là nhất!

… Thế là tan vỡ một mối tình!

……..

 Vợ chồng “khắc khẩu”, bất cứ chuyện gì cũng biến thành cuộc đấu khẩu triền miên.

Rồi họ ly dị. Rồi cả hai đều lấy người khác “hợp khẩu” hơn.

Từ đấy đứa con trở nên khắc khẩu với cả cha và mẹ nó.

MÙA ĐÔNG ẤM ÁP

Dự báo thời tiết: mùa đông năm nay sẽ ấm hơn mọi năm. Anh mừng lắm: cuối năm ra công tác chắc em sẽ không bệnh vì lạnh như mọi lần nữa.

Giữa tháng chạp em ra Hà Nội, mang theo thiệp hồng từ vùng nắng ấm.

Mùa đông năm nay với anh không còn những ngày ấm áp…

Sống mòn

Chiều cuối năm. Quán nhỏ, ly café đen nguội, ly café đá tan hết. Họ chỉ yên lặng. Cuối cùng:

- Anh hãy dịu dàng hơn với cô ấy nhé. Đàn bà chúng em yêu bằng tai mà.

Chị mỉm cười nhưng lòng anh nhói đau.

- Em cũng đừng cả nghĩ nhé. Đàn ông bọn anh ai cũng có lúc vô tâm.

Chị nhìn lá rơi ngoài kia qua đôi vai mệt mỏi của anh.

Chị về, biết mình sẽ đếm thời gian.

Anh đứng đó, nhìn theo ngút mắt.

KHÓA TÌNH YÊU

Cầu cũ chi chít những chiếc khóa nhiều lọai nhiều màu. Chàng và nàng trịnh trọng bấm ổ khóa có khắc tên hai người vào thành cầu, chìa khóa – theo phong tục – được vứt xuống sông. Họ thề thốt: không ai có thể chia lìa hai ta.

Nhưng chỉ vài tháng sau họ chia tay. Lý do: bữa đó vứt nhầm chùm chìa khóa nhà nên cãi nhau mãi vì chuyện ấy. Bèn ra cầu vứt nốt chìa khóa tình yêu xuống sông rồi đường ai nấy đi.

Vết đau

Hồi yêu nhau. Có lần gọt trái cây cho nàng, anh bị đứt tay. Nàng mặt mày tái mét, ôm cả cánh tay anh hốt hoảng  đòi đưa đi … bác sĩ!

Lấy nhau rồi. Một lần thấy tấm hình cưới sắp bị rớt, anh mang búa đinh ra sửa. Loay hoay búa đập vào tay. Máu tóe ra. Anh xúyt xoa nhờ nàng lấy giùm bông băng, nàng bực bội: Sao anh vụng thế! Chồng với chả con!

Vết đứt tay ngày xưa giờ bỗng thấm đau, đau thấy 36 ông trời!

Cầu Ô thước

Trước khi anh đi công tác xa họ tổ chức đám cưới đúng vào tháng bảy âm lịch. Cha mẹ hai bên lo lắng vợ chồng họ sẽ như “Ngưu lang Chức nữ”. Họ cười, bây giờ có internet, email, chát chit, điện thọai, webcam… có xa xôi gì đâu khi hàng ngày gặp nhau trên mạng?

 Vài năm qua. Anh trở về. Sống chung dưới một mái nhà mà bỗng nghe xa ngái…

Chẳng ai muốn bắc Cầu Ô thước dù đã nhiều tháng bảy mưa ngâu…

VỈA HÈ 

Vỉa hè quán café quen vừa được lát gạch. Những viên gạch vuông màu đỏ sẫm được xếp cạnh nhau tạo thành hoa văn sặc sỡ vui mắt. Nhưng chỉ được vài bữa nhiều viên gạch đã bong tróc, khập khiễng, rồi vỡ mẻ. Ông chủ quán bảo: họ làm ẩu lắm, lát gạch mà chỉ có cát và chút xíu xi măng…

… Ngẫm lại, anh và em, và những mối quan hệ của chúng ta cũng giống như những viên gạch trên cái vỉa hè nọ mà thôi…

Một số truyện 100 chữ của tôi trích từ tập truyện NGẮN & RẤT NGẮN 




TRẠM DỪNG, ĐỂ RỒI BƯỚC TIẾP

 Tản văn, Nguyễn Thị Hậu

 

Những ngày cuối năm, nhịp sống ở đâu cũng hối hả hơn. Các cơ quan, công ty chạy nước rút những kế hoạch chỉ tiêu, dòng xe cộ trên đường phố cũng đông hơn vội vã hơn... Ai cũng cảm thán “nhanh quá, mới đó đã sắp hết một năm”, nhưng không thể “chậm lại” một giây, dường như tất cả đều bị mọi thứ xung quanh cuốn đi không sao cưỡng lại được...

Vậy nhưng ai cũng có lúc nhìn lại một năm đã qua của mình. Phút lắng lòng bên ly cà phê buổi sáng, ngồi một mình để cảm nhận khoảng thời gian chậm như từng giọt cà phê, sau đó tiếp tục ra đường với bao công việc đang chờ. Hay lúc đêm về, đối diện với màn hình máy tính dày đặc các files công việc trong năm, chợt thấy mỗi file như một sự kiện của cuộc đời, có việc đã khép lại, có việc còn dở dang không biết bao giờ mới có thể kết thúc... Thường xuyên hơn là khoảnh khắc “dừng lại” khi mỏi mệt lúc cô đơn mỗi ngày. Những giây phút như thế tựa như một “trạm dừng” của cuộc đời, dù muốn hay không ai cũng đã trải qua.

Đó có thể là trạm thất bại, khi một cánh cửa tưởng như chắc chắn bỗng khép lại. Lúc ấy, ta đứng giữa khoảng trống, nhìn con đường mình tin là đúng bỗng trở nên mơ hồ. Dừng ở trạm này, nhiều người mới hiểu: thất bại không lấy đi điều gì, nó chỉ buộc ta bỏ những ảo tưởng không cần thiết. Có sự đổi hướng quan trọng trong đời không đến từ can đảm, mà đến từ việc chấp nhận mình đã sai. Có thể trạm mất mát. Đó là khi một người ra đi, khi một mối quan hệ kết thúc, khi một phiên bản quen thuộc của chính mình không còn nữa. Ở trạm ấy thời gian không chữa lành ngay, nhưng chính trong những ngày tưởng như không thể đi tiếp, ta học được cách sống chậm hơn, nói ít hơn và nghe nhiều hơn. Dừng lại ở trạm thất bại hay mất mát, con người không mạnh lên theo cách dễ nhận biết, mà sâu hơn là một sự vững vàng trong tâm hồn.

Rồi có những trạm rất lạ: mọi thứ bên ngoài đều ổn nhưng lòng thì không yên. Công việc ổn định, đời sống không thiếu thốn, vây mà mỗi sáng thức dậy lại có cảm giác trống rỗng khó gọi tên. Đó là trạm lặng, nơi nhiều người chọn cách đi nhanh hơn để quên, thay vì dừng lại để nhớ. Nếu đủ can đảm ở lại trạm này sẽ phải đối diện với câu hỏi không dễ trả lời: mình đang sống cuộc đời của ai? Câu hỏi ấy, dù đau, lại là khởi đầu của những thay đổi thật sự. Tất cả các trạm dừng ấy, sau đổ vỡ hay thất bại, khi thành công lúc hạnh phúc… đều làm ta suy nghĩ nhiều hơn về việc sẽ đi tiếp như thế nào, bằng cách nào, theo con đường nào để thoát khỏi tình trạng tiêu cực hay để giữ được trạng thái tích cực.

Nhưng trước khi nói đến chuyện đi tiếp, có lẽ ít người tự hỏi: mình đã dừng lại đủ chưa? Bởi vì dừng không chỉ vì mỏi mệt hay phấn khích, mà dừng để nhìn lại mình, để hiểu những gì đã qua không chỉ là chuỗi sự kiện nối nhau một cách vô tình. Đó là những “nhân quả” ở mức độ khác nhau trong cuộc đời mỗi người. Từng có lúc ta đi rất nhanh. Nhanh vì nghĩ rằng không được phép dừng, vì sợ bị bỏ lại, nhanh vì nghĩ rằng thành công chỉ dành cho những ai không ngoái đầu. Nhưng rồi trong hành trình ấy, có những thời điểm buộc ta phải dừng chân, không theo kế hoạch, không báo trước, và cũng không xin phép. Sau “trạm dừng” ấy ta vẫn tiếp tục bước đi, dù lòng đầy hoang mang. Bởi vì sau cả thành công hay thất bại, không ai có thể đứng mãi ở “đỉnh cao hay vực sâu” mà cần phải đi tiếp, bằng một con đường khác, hay ít nhất bằng một cách khác! Đó là chính là “khúc ngoặt” của dòng chảy cuộc đời.

Không phải ai cũng dám dừng. Bởi dừng lại đồng nghĩa với việc nhìn thẳng vào những điều mình né tránh. Nhưng ai đã dừng dù chỉ ở một vài trạm, thường sẽ đi tiếp rất khác. Họ không còn chạy theo mọi lời so sánh, họ chọn kỹ hơn những gì đáng giữ. Họ hiểu rằng không phải thay đổi nào cũng cần ồn ào có những đổi thay chỉ cần đủ lòng trung thực. Dám dừng lại ở một vài trạm không khiến ta chậm hơn người khác mà chỉ giúp ta đi đúng hướng hơn với chính mình. Sự thay đổi đến sau những lần dừng lại thường không phô trương nhưng bền chắc. Ta thay đổi cách làm việc, cách lựa chọn, cách đối xử với người khác, và quan trọng nhất là cách đối xử với bản thân. Sự trưởng thành đến từ những lần dám dừng chân để sau đó vững vàng bước tiếp.

Giữa thời điểm chuyển giao của năm cũ và năm mới, có lẽ điều đáng chúc nhất cho nhau không chỉ là thành công, mà là đủ bình tĩnh để dừng lại khi cần, và đủ can đảm để thay đổi khi đã hiểu mình. Cuộc đời không đòi hỏi chúng ta phải luôn tiến lên hàng đầu” không ngừng nghỉ. Đôi khi nó cần ta dám đứng lại ở một trạm, nhắm mắt lại và hít thở thật sâu, rồi từ từ đi tiếp, với tâm thế nhẹ nhõm hơn, rõ ràng hơn, và có thể mỉm cười với chính mình.

Cuối năm là một trạm đặc biệt, vì nó cho phép ta nhìn lại mà không bị xem là yếu đuối. Trong những ngày ấy nhiều người nhận ra: mình đã được giúp đỡ nhiều hơn mong muốn, đã được bao dung nhiều hơn mình nghĩ, mình đã tử tế hơn mình có thể, nhờ đó đã đi xa hơn những gì từng hy vọng. Nhận ra điều đó, ta bước sang một trạm khác: trạm biết ơn, biết ơn người biết ơn đời. Và ở trạm này con người không còn quá bận tâm chứng minh những điều được mất mà học cách trân trọng hơn với những gì mình đang có!

 

TP. Hồ Chí Minh 20.12.2025







 

NHỊ HÒA – NƠI HIỆN HỮU KÝ ỨC LÀNG QUÊ NAM BỘ

  Có những nơi người ta đến để xem, để chụp ảnh, để “trải nghiệm”.   Nhưng cũng có những nơi, chỉ cần bước chân vào, ta bỗng thấy mình đan...