Hậu Khảo cổ
Đi và tìm trong đất... thấy người :)
SÀI GÒN TÌNH NGHĨA – KHI BÁO CHÍ CŨNG LÀ MỘT PHẦN CỦA DI SẢN ĐÔ THỊ
NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU – THỬ NHÌN TỪ KHÔNG GIAN VĂN HOÁ NAM BỘ
1. Không gian văn hóa và ký ức lịch sử
Trong thời đại thông tin, những cuộc tranh luận trên
mạng xã hội bắt đầu và kết thúc với nhiều kiểu khác nhau. Có chuyện nhanh chóng
bùng lên rồi cũng nhanh chóng biến mất, hệt như bong bóng xà phòng phồng to rồi
vỡ tan. Cũng có chuyện sinh từ một chuyện rồi bùng to hơn thành một chuyện hoàn
toàn khác, như một đốm lửa từ tàn thuốc lá lại trở thành đám cháy rừng. Hết
chuyện này đến chuyện khác, mạng xã hội hay kéo người ta vào những cơn sôi sùng
sục… Để rồi khi câu chuyện đi qua, nhiều người nhận ra sự tham gia của mình như
góp vài giọt cát xây lâu đài trên bãi biển.
Tuy nhiên khi quan sát những “cơn sóng” ấy, đôi khi tôi
nhận ra vài điều thú vị. Có những cuộc tranh luận rồi sẽ chìm xuống rất nhanh, nhưng
điều còn đọng lại không phải là câu chuyện đang được viral, mà lại sự đánh thức
một ký ức nào đó, khó nắm bắt khó gọi tên, nhưng thực sự luôn ở trong tâm thức.
Chỉ cần một cái cớ là sẽ hiện diện rõ ràng. Với tôi, câu chuyện quanh vai diễn
Nam Phương Hoàng hậu trong bộ phim Hoàng hậu cuối cùng là một trường hợp
như vậy.
Điều tôi quan tâm không phải là tranh luận diễn viên có
phù hợp với nhân vật hay không, mà là những cách nhìn rất khác nhau về nhân vật lịch sử ấy. Có người ca ngợi,
có người phủ nhận; có người xem bà như biểu tượng của vẻ đẹp, học vấn và phẩm
giá, cũng có người nhìn bà bằng cái nhìn phê phán, thậm chí rất khắt khe, dành
cho giai đoạn cuối của triều Nguyễn, một giai đoạn có những biến động lớn lao,
thử thách sự chọn lựa của những người có một vai trò nhất định trong lịch sử. Điều đó
không riêng đối với Nam Phương Hoàng hậu. Nhưng bà lại là nhân vật chính trong
một bộ phim bỗng nhiên đình đám trên mạng xã hội. Vì vậy, theo tôi, nhiều người
đã nhìn nhận, khen ngợi hay đánh giá, phán xét bà bằng ký ức lịch sử của chính mình,
rộng hơn là của thế hệ mình, từ không gian văn hoá mình từng sinh ra và lớn
lên. Bởi vì, lịch sử bao
giờ cũng được ghi lại bằng tư liệu, nhưng ký ức lịch sử lại được nuôi dưỡng
bằng những câu chuyện trong một không gian văn hoá nhất định.
Có thể hình dung mối liên hệ từ không gian văn hoá đến
ký ức lịch sử của một cộng đồng.
Không gian văn hóa (các yếu tố tự nhiên và nhân văn) đã
tác động vào quá trình hình thành đời sống cộng đồng (kinh tế, văn hoá,
xã hội, chính trị…). Đó là dòng chính của lịch sử cộng đồng. Trải qua
thời gian được lắng đọng thành ký ức, bồi đắp và trao truyền cho nhiều
thế hệ. Những thế hệ tiếp nhận ký ức cũng là tiếp nhận ý nghĩa, giá trị văn
hoá của không gian. Từ đó không gian văn hoá lại tiếp tục nuôi dưỡng bản sắc
cộng đồng, truyền thống lịch sử.
Như vậy, "không gian văn hóa" và "ký ức
lịch sử" thực chất là hai khái niệm không thể tách rời. Từ góc độ di sản
và nghiên cứu đô thị, có thể hiểu mối quan hệ này theo ba cấp độ: không gian
lưu giữ ký ức, không gian tạo ra ký ức và không gian tái tạo ký ức. Không
gian văn hoá có thể là một đô thị, có thể là một làng quê, rộng hơn là một vùng
miền. Nam bộ chính là một không gian văn hoá rộng lớn như vậy.
2. Không gian văn hóa Nam bộ
Nam Bộ là một không gian văn hóa đặc biệt. Được coi là vùng
đất mới “thiên nhiên ưu đãi”, hệ thống sông nước chằng chịt tạo nên những mối
quan hệ giao lưu luôn rộng mở; từ đó phát triển giao thương và sớm hình thành
kinh tế thị trường. Nơi đây có nhiều cộng đồng cùng sinh sống và làm ăn, từ các
tộc người bản địa đến lưu dân khai khẩn, là nơi luôn có những làn sóng nhập cư
lớn và liên tục. Chính vì vậy quan hệ xã hội ít ràng buộc bởi cấu trúc làng xã
khép kín mà quan niệm “tứ hải giai huynh đệ”. Trong không gian ấy, con người
sống với nhau bằng sự nương tựa, chia sẻ, giúp đỡ chứ không phải bằng tước vị
thấp cao. Do đó những giá trị luôn được cộng đồng đề cao là nghĩa tình, hào
sảng, trọng chữ tín, ai có khả năng thì ít nhiều đều giúp người khác. Câu
chuyện về ông Thủ Huồng dựng Nhà Bè trên sông Sài Gòn là một minh chứng.
Đến nửa đầu thế kỷ 20 Nam bộ là vùng đất của những con
sông mở ra biển lớn, của những thương cảng đông đúc, của những con tàu cập bến
từ khắp nơi trên thế giới. Ở đó, truyền thống và hiện đại gặp nhau mỗi ngày.
Những ngôi đình, ngôi chùa nằm không xa nhà thờ, trường học kiểu Pháp bên cạnh
dãy phố buôn bán của người Hoa. Đô thị Sài Gòn là nơi người tứ xứ hội tụ làm
ăn. Một xã hội đang chuyển mình, nơi con người sớm tiếp xúc với văn hoá phương
Tây nhưng vẫn giữ nếp sống trọng nghĩa tình của miền đất mới. Trong bối cảnh ấy
xuất hiện một tầng lớp thượng lưu Nam Kỳ xuất thân từ đại địa chủ, doanh nhân,
những người vừa lưu giữ truyền thống Á Đông trong gia đình và những mối quan hệ
xã hội, đồng thời tiếp thu tri thức kinh tế, kỹ thuật hiện đại, tiếp nhận văn
hoá phương Tây. Họ đã góp phần định hình diện mạo xã hội Nam Bộ nửa đầu thế kỷ
20.
Ký ức cộng đồng luôn có cách lựa chọn rất riêng. Người
Nam Bộ vốn không có truyền thống thần tượng quyền lực, mà thường ghi nhớ rất
lâu những hình tượng “trọng nghĩa khinh tài”, “trọn tình trọn nghĩa”. Trong văn hóa Nam Bộ truyền thống,
sự giàu có ít khi tự nó trở thành đối tượng bị đố kỵ hay nghi ngờ mà điều cộng
đồng quan tâm hơn là người giàu ấy đã sống và ứng xử như thế nào. Vì vậy mà những
tên tuổi như Huyện Sĩ, Quách Đàm và nhiều người khác luôn được nhắc đến, không
phải vì sự giàu có mà vì những gì họ đóng góp cho xã hội: mở chợ, lập phố, xây
đình chùa, nhà thờ, làm cầu, đào kênh… sau này là nuôi giấu cán bộ cách mạng,
làm từ thiện, cứu trợ… Rất
nhiều gia đình Hoa, Việt, Minh Hương, địa chủ, thương nhân... đã góp phần như vậy.
Suốt hơn ba trăm năm khai phá Nam Bộ, hình ảnh
"phú hộ nghĩa hiệp", "điền chủ nhân hậu", "thương gia
yêu nước", "mạnh thường quân" xuất hiện khá nhiều trong ký ức địa
phương. Đương nhiên lịch sử cũng có những địa chủ bóc lột hay thương nhân chỉ
biết tư lợi. Nhưng điều đặc biệt là cộng đồng lưu giữ và truyền lại là những
người đã dùng của cải để tạo dựng lợi ích chung. Chính vì vậy, khi nhắc đến các
nhân vật giàu có trong lịch sử Nam Bộ, ký ức tập thể thường gắn họ với những việc
làm cụ thể cho cộng đồng hơn là chỉ với khối tài sản họ sở hữu. Không hay thù
ghét người giàu mà trọng người giàu tử tế. Có thể coi đó là một nét độc đáo của
văn hoá Nam bộ.
Có một đặc điểm thú vị ở người Nam Bộ, đó là họ kể lịch
sử bằng từng con người, nhớ nhân vật lịch sử hơn nhớ thứ thế triều đại. Bởi vì quá
trình hình thành người Nam bộ trên vùng đất Nam bộ diễn ra gần như trọn vẹn
trong thời Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn. Cùng với sự thờ phụng những vị thần
linh, những tiên hiền, hậu hiền, các anh hùng liệt sĩ, người Nam bộ luôn nhắc nhớ
những con người giàu tử tế, cống hiến tài sản cho cộng đồng, những người có học
mà khiên cung, cống hiến tri thức cho xã hội, những người sống có nhân có nghĩa
như hai nhận vật văn học được yêu thích nhất của người Nam bộ là Lục vân Tiên
và Kiều Nguyệt Nga. Họ không phải là những "anh hùng" nhưng mỗi người
đại diện cho một phẩm chất tốt đẹp mà cộng đồng trân trọng.
Mỗi con người hay mỗi nhân vật lịch sử, đều trở thành
một phần ký ức của một không gian văn hoá cụ thể. Cũng giống như một dòng sông,
một khu chợ hay một con đường cũ, có những con người chỉ cần được nhắc tên là cả
một bối cảnh lịch sử hiện lên. Đó cũng là một di sản của cộng đồng.
3. Nam Phương Hoàng Hậu trong ký ức văn hóa Nam bộ
Nam Phương Hoàng hậu là một nhân vật của lịch sử Việt
Nam hiện đại. Bà sinh ra ở Gò Công (theo một nghiên cứu mới là Gò Công thuộc Thủ
Đức, TPHCM ngày nay), lớn lên trong một gia đình Công giáo giàu có và có ảnh hưởng
ở Nam Kỳ, được giáo dục theo chương trình Pháp từ rất sớm, rồi trở thành hoàng
hậu duy nhất của triều Nguyễn, hoàng hậu đầu tiên và cũng là cuối cùng trong
giai đoạn xã hội Việt Nam có nhiều biến động lớn. Cuộc đời của bà vừa thuộc về
triều đình Huế, vừa thuộc về đại gia đình ở Sài Gòn, lại vừa gắn với nước Pháp.
Nhưng nơi còn lưu giữ nhiều nhất ký ức và cảm xúc lịch sử về bà, theo tôi là
Sài Gòn/Nam Bộ. Vì vậy ký
ức cộng đồng đã "đọc" Nam Phương bằng hệ giá trị Nam Bộ, sự yêu mến
bà không hoàn toàn xuất phát từ lịch sử triều Nguyễn mà xuất phát từ ký ức văn
hóa Nam Bộ.
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình tiêu biểu và điển
hình của tầng lớp thượng lưu, địa chủ Nam bộ có nhiều đóng góp của cải vật chất
cho xã hội, Nam Phương là một trường hợp hội tụ nhiều yếu tố tưởng như đối lập
nhưng lại hoà hợp lạ lùng. Nếu bỏ qua chiếc vương miện, bà vẫn là hình mẫu của
một phụ nữ Nam Bộ nửa đầu thế kỷ 20: được dạy dỗ nghiêm khắc, giáo dục bài bản,
thông thạo ngoại ngữ, tự tin trong môi trường quốc tế và mang theo những giá
trị của gia đình, của đức tin và của phép ứng xử kết hợp nhuần nhuyễn Đông –
Tây. Chính điều ấy khiến nhiều người miền Nam cảm thấy gần gũi với bà hơn là
bởi địa vị Hoàng hậu cao sang.
Trong ký ức của nhiều gia đình Nam Bộ, đặc biệt là giới Công giáo hoặc tầng
lớp trung lưu cũ thường dành nhiều thiện cảm đối với Nam Phương Hoàng hậu. Người
ta ít kể về vị thế cung đình của bà mà thường kể về cô gái Gò Công học giỏi ở
Pháp, tiểu thư nhà giàu nhưng khiêm nhường, về người phụ nữ trọn đạo làm dâu xứ
Huế với những phép tắc nghiêm ngặt, về người vợ nền nã chưa từng gây chuyện
ghen tuông với ông chồng Hoàng đế đào hoa, về mẹ lặng lẽ nuôi dạy các con sau
khi cuộc hôn nhân tan vỡ, không tham gia chính trị, không viết hồi ký để công
kích ai, giữ được phẩm giá trong cuộc sống lưu vong…
Chiếc mũ miện chỉ là một phần rất nhỏ trong cuộc đời
bà. Điều còn lại trong ký ức nhiều người là hình ảnh một người phụ nữ bước qua
những đổi thay lớn của xã hội, của chính cuộc đời mình mà không để mình trở
thành trung tâm của những thị phi và ồn ào lịch sử. Có thể có chi tiết trong cuộc
đời bà cần được kiểm chứng bằng tư liệu. Nhưng điều đáng chú ý là việc chúng
được kể đi kể lại đã làm nên ký ức văn hóa của một cộng đồng. Mặt khác, Nam Phương Hoàng hậu trong
ký ức ấy dường như không chỉ được nhớ như một nhân vật của triều Nguyễn. Bà còn
được nhớ như một "người con của Nam Bộ". Nhắc đến bà, người ta nhớ Gò
Công, nhớ gia đình Huyện Sỹ, nhớ Sài Gòn những năm đầu thế kỷ 20, nhớ những
chuyến tàu vượt biển sang châu Âu, nhớ một thời mà Nam Bộ đang mở cửa với thế
giới bằng thương mại, giáo dục và những khát vọng hiện đại hóa.
Nếu nhìn rộng hơn, Nam Bộ đầu thế kỷ 20 đã sản sinh một
thế hệ phụ nữ rất đặc biệt. Họ không phải những "nữ anh hùng" theo
nghĩa truyền thống, nhưng họ là những người phụ nữ đầu tiên học trường Pháp, biết
ngoại ngữ, đi du học, điều hành
doanh nghiệp, làm báo, hoạt động xã hội, làm từ thiện, gìn giữ nền nếp gia
phong, xuất hiện trong không gian công cộng với tư cách xã hội bình đẳng với
nam giới. Nam Phương là một trong số họ. Cho nên, có thể điều khiến nhiều người
yêu quý bà không phải vì chiếc vương miện, mà vì bà đại diện cho hình ảnh người
phụ nữ Nam Bộ hiện đại: có học thức, có lòng tự trọng, biết ứng xử trong cả
không gian Á Đông lẫn phương Tây.
Có thể nhận thấy những cuộc tranh luận trên mạng xã hội về các nhân vật lịch sử đã thể hiện sự “va chạm” giữa những ký ức tập thể khác nhau. Mỗi cộng đồng, mỗi vùng miền, mỗi thế hệ, thậm chí mỗi gia đình đều mang theo một ký ức lịch sử riêng, những biểu tượng văn hoá khác nhau. Vì vậy, thái độ của từng người hay nhóm người hay một cộng đồng không chỉ phản ánh quan điểm đối với nhân vật lịch sử ấy, mà còn phản ánh ký ức văn hóa của chính họ và cộng đồng, phản ánh điều họ muốn gìn giữ là hệ giá trị của cộng đồng mình.
TP. Hồ Chí Minh 9.7.2026.
Bài viết ngắn gọn hơn trên Tạp chí Tia Sáng :
https://tiasang.com.vn/nam-phuong-hoang-hau-trong-ky-uc-van-hoa-nam-bo-5095949.html
PHÁT TRIỂN KINH TẾ DI SẢN TỪ TẠP CHÍ DU LỊCH
"ÁP LỰC" TỪ MỘT BÀ ĐỠ NGHIÊM KHẮC VÀ TỬ TẾ
Tuổi Trẻ cuối tuần trong tôi.
Tuổi Trẻ Cuối Tuần là
tờ báo tôi được bén duyên rất sớm! Là một người làm công tác nghiên cứu lịch sử
và khảo cổ, khi bắt đầu cộng tác với tờ báo là tôi biết
mình bước vào một không
gian văn hóa và một địa chỉ lan tỏa tri thức. Những cộng
tác viên đồng thời là độc giả lâu năm với tờ báo như tôi hiểu rằng: TTCT dừng lại, không đơn
thuần là sự vắng mặt của một ấn phẩm mà là sự khép lại của một diễn đàn trí
thức đầy bản lĩnh – nơi lịch sử chưa bao giờ bị coi là chuyện của quá khứ
xa xôi mà luôn là mạch ngầm chảy trong đời sống hôm nay.
Nhiều người thường nghĩ viết báo cho đại chúng
là một cuộc dạo chơi nhẹ nhàng của những nhà nghiên cứu. Nhưng với riêng tôi,
mỗi lần nhận lời viết bài cho TTCT là một lần tự đặt mình vào một thử thách,
bởi vì Tòa
soạn không cần những bài luận bàn lý thuyết suông. Áp lực lớn nhất mà các biên
tập viên TTCT luôn đặt ra cho cộng tác viên trước các vấn đề xã hội chính là: Làm
sao để chạm vào số đông? Làm sao để câu chuyện học thuật “cao siêu” trở thành câu chuyện gần gũi của mỗi gia đình?
Với tôi thách thức đó hiện lên ở
mảng đề tài dạy sử và học sử. Trên trang báo TTCT, tòa soạn đã nhiều lần cùng các
chuyên gia đi tìm
lời giải cho câu hỏi nhức nhối: Vì sao học sinh chán sử? Làm sao để việc học sử
không còn là gánh nặng của những mốc thời gian hay những con số khô khốc? Từ câu chuyện nhỏ của một
cậu bé học lớp
5, trước kỳ thi cháu học mãi vẫn không thể thuộc tên các loại rìu đá và nơi
tìm ra chúng. Tôi nhận ra
những kiến thức đời thường khi trở thành lịch sử trong sách giáo khoa lại trở
nên xa lạ và khó hiểu. Khó khăn của người viết lúc này là phải bước ra khỏi
những định kiến thông thường, dùng lăng kính khoa học để lý giải một thực tế:
lịch sử đang tách rời khỏi dòng chảy xã hội và sự quan tâm của người trẻ, nhất
là học sinh phổ thông.
Và cũng từ những trăn trở về
giáo dục ấy, TTCT đã gợi mở, đồng hành cùng tôi đi sâu vào một lát cắt vô cùng
ý nghĩa: Lịch sử gia đình, dòng họ. Các
bài viết của GS Ngô Vĩnh Long, nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân đã mang lại một
cách nhìn mới: lịch sử đất nước không ở đâu xa xôi, nó được viết nên từ lịch sử
của từng ngôi nhà, từ nếp nghĩ, gia phong, và từ chính những góc phố, hàng cây,
ngôi trường cổ mà ông bà, cha mẹ và con cháu cùng từng đi qua. Khi một đứa trẻ
không còn những không gian vật chất để cùng sẻ chia ký ức với thế hệ đi trước,
sợi dây liên kết thiêng liêng với lịch sử dân tộc sẽ bị đứt gãy. Đó chính là
cách học sử tự nhiên và bền vững nhất.
Nhắc lại điều này để thấy, việc bảo tồn không
gian di sản chính là đang bảo tồn một "giáo cụ trực quan" sống động
nhất cho việc học sử và giữ gìn gia phong. Điều này đã khích lệ tôi giới thiệu
cuốn sách tự thuật “Lưu niên ký sự” của ông nội tôi, một công trình ghi chép tỉ
mỉ về một gia đình, qua đó là một dòng họ ở Nam bộ trong giai đoạn cuối thế kỷ
19 – giữa thế kỷ 20. Qua đó góp phần tìm hiểu lịch sử, văn hóa và con người Nam
bộ.
Từ năm
2010 trên trang báo này,
tôi đã chia sẻ về sự biến mất của những "không gian công cảm"
– những không gian công cộng, những công trình kiến trúc cổ nơi lưu dấu ký ức
chung của nhiều thế hệ. Hai nhà báo Phan Cầm và Khổng Loan đã
đặt câu hỏi cho tôi trong bài phỏng vấn đầu tiên về di sản đô thị Sài Gòn: Khi những không gian công cộng, những di sản
vật thể quanh ta bị xóa bỏ, người trẻ sẽ tìm đâu ra cái "neo" để gắn kết với quá khứ? Vai trò
cũa những nhà khảo cổ, nhà nghiên cứu như chúng tôi đang ở đâu trong tình trạng
di sản ngày càng hao hụt, biến dạng? Đó không chỉ là một câu hỏi mà tôi hiểu,
đó là vấn đề trách nhiệm của giới nghiên cứu khi vẫn loay hoay trong không gian
học thuật hàn lâm, mà chưa bước ra tiếp cận thực tiễn và giải quyết các vấn đề
một cách trực diện!
Đáng buồn là nhiều vấn đề được đặt ra từ ngày ấy đến
nay vẫn còn nguyên tính thời sự, thậm chí trở nên “bình
thường” khi tốc độ và quy mô xâm hại di sản thiên nhiên ngày càng lớn, di sản
văn hóa bị khai thác thương mại hóa ngày càng nhiều.
Nhiều năm cộng tác với Tuổi Trẻ Cuối Tuần tôi hiểu viết về di
sản văn hóa chưa bao giờ là việc dễ dàng, bởi vì tòa soạn luôn đòi hỏi một cái
đầu lạnh của người nghiên cứu và một trái tim nóng của người yêu văn hóa. Chính
sự khắt khe ấy đã giúp nâng tầm những bài viết về văn hóa gia đình, về phương
pháp dạy sử từ chỗ tưởng như là góc nhìn cá nhân trở thành một vấn đề xã hội có
tầm ảnh hưởng nhất định. Viết về di sản rất dễ đụng chạm đến vấn đề
bất động sản, nhưng Tòa soạn đã cho những người làm nghiên cứu một điểm tựa
truyền thông vững chắc, để chúng tôi hiểu rằng mình không hề cô độc trong nỗ
lực bảo tồn các di tích lịch sử, chỉ ra nguyên nhân của những
xâm hại phá bỏ di sản... Từ đó đưa những giá trị di
sản gần với
đời sống, về với giá trị cốt lõi của xã hội.
Bên cạnh đó tòa soạn còn
nâng tầm nhiều bài viết không chỉ ở mức thông tin, mà trở thành những tiếng
chuông cảnh tỉnh, góp phần giữ lại từng
di tích, từng lễ hội, từng sinh hoạt cộng đồng với những giá trị nguyên vẹn của
nó. Tôi nhớ mãi TTCT đã đặt tựa cho một bài viết của tôi “Đừng để chìm chợ nổi”
mang tính hấp dẫn của báo chí đồng thời cũng là lời cảnh báo khẩn thiết cho một
di sản văn hóa sông nước ở đồng bằng sông Cửu Long.
Tôi và nhiều người vẫn
quen với thương hiệu TTCT dù báo đã chuyển qua cuối tháng từ đầu năm 2026.
Nhưng rồi TTCT cũng đi đến số cuối, những trang báo in thơm mùi mực, những
trang online quen thuộc rồi sẽ trở thành một phần di sản của báo chí đương đại. Nhưng
với tôi, tinh thần khoa học, sự tử tế và cái tâm giữ gìn "ký ức lịch
sử" mà Tuổi Trẻ Cuối Tuần thắp lên sẽ không bao giờ lụi tàn.
Nó đã kịp bén rễ sâu trong lòng độc giả và trong hành trình nghề nghiệp của
những cộng tác viên. Từng trang báo đã nhắc nhở chính chúng ta cách
ứng xử với quá khứ và đối thoại với tương lai.
Tháng 6. 2026. Nguyễn Thị Hậu
VÀI KỶ NIỆM VỚI BÁO CHÍ TPHCM
Từ tuần trước đến ngày 30.6.2026, những tờ báo ở TPHCM bị giải thể đã xuất bản những tờ báo in số cuối cùng, ngày mai, 30/6/26 sẽ có những số đặc biệt chào tạm biệt bạn đọc. Là một bạn đọc và ít nhiều là cộng tác viên của những tờ báo đó, lại thân thiết với không ít bạn làm báo từ quản lý đến nhà báo, phóng viên... Thật khó có thể chỉ chia sẻ bằng những lời nói với các bạn!
Báo Phụ nữ TP – những lần đầu tiên
Năm 1998 lần đầu tiên tôi được phỏng
vấn là từ báo Phụ nữ Tp, lúc đó tôi vừa bảo về luận án TS.KCH về Cần Giờ xong
thì chủ trì khai quật Lò gốm cổ Hưng Lợi, và được bổ nhiệm làm Phó Giám đốc
BTLS. Có thể coi đó là sự mở đầu của tờ báo này với những cái “đầu tiên” của
tôi. Thật ra truyện ngắn đầu tiên của tôi được PNTP đăng từ 1981 (sau đó... tôi
không viết gì nữa cho đến khoảng 2005 mới bắt đầu viết lại). Báo PNTP cũng là
tờ báo đầu tiên PV tôi về cuốn sách “Đô thị SG-TPHCM Khảo cổ học và bảo tồn di
sản” khi mới xuất bản, và sau đó khi cuốn sách này được giải thưởng của Hội Quy
hoạch phát triển đô thị VN. Một giải thưởng tôi rất quý vì nó đã ghi nhận vai
trò của KCH đô thị đối với bảo tồn di sản trong quy hoạch phát triển các thành
phố ở VN.
Với PNTP tôi còn có nhiều bài trả
lời PV về các vấn đề xã hội và di sản văn hóa, vài tùy bút, tản văn đăng ở đây,
và sau còn được làm giám khảo một cuộc thi viết về TPHCM, kết quả được in thành
sách. Còn sự yêu thích nhất thì tôi khoái đọc “chị Hạnh Dung” vì sự hóm hỉnh,
hồn hậu và cũng rất đàn bà – hiện – đại. Mọi vấn đề cứ nhìn nhận nhẹ nhàng và
rồi sẽ tìm ra cách giải quyết. Phụ nữ rất cần một cách sống như vậy 😊
Báo Pháp luật TP – những mẩu ký ức Sài Gòn
Khi nhà báo Lê Văn Nghĩa rủ, Hậu
ơi anh em mình viết gì về SG nhé, anh giữ một chuyên mục trên PLTP, thì tôi
nhận lời với chút dè dặt. Em viết được không ạ, vì chỉ mới biết về Sg từ sau
1975? Được chứ, em cứ viết như em cảm nhận, SG luôn thay đổi nhưng vẫn giữ bên
trong hồn cốt của nó, nghề của em là phải nhìn ra điều đó! Lời động viên này
của anh Lê Văn Nghĩa đến giờ vẫn giúp tôi động lực để viết về SG, bởi Sài Gòn
đâu của riêng ai, SG càng không giới hạn ai được viết, được thể hiện tình yêu
với nó!
Từ những bài viết nhỏ về SG trên
PLTP tôi có một tập sách cũng nhỏ “Sài Gòn bao giờ cũng thế”, với đoạn cuối của
Lời mở đầu: “Nếu một lần nữa bắt đầu cuộc sống và được lựa chọn nơi mình muốn
sống, tôi vẫn chọn Sài Gòn. Vì bạn biết không, chẳng bao giờ là muộn để ta có
thể nói với thành phố này: TẠ ƠN ĐẤT LÀNH!” [nguyên văn câu cuối là “Sài Gòn –
Em yêu anh!” – biên tập đọc xong đề nghị sửa lại, chứ không thì khối anh đánh
nhau vì chị đấy 😊 ]
Những năm gần đây hầu như Tết nào
tôi cũng có 1 bài về di sản đô thị “hoành tráng” ở ngay trang giữa của cuốn báo
tết PLTP. Tôi rất cám ơn dụng ý của báo muốn nhấn mạnh về ý nghĩa và giá trị
văn hóa của TP! Nếu tôi không nhầm thì PLTP đã đặt vấn đề “phố của sông – sông
của phố” nhấn mạnh giá trị và vai trò của sông SG với TPHCM từ rất sớm! Kiên
trì quảng bá về di sản đô thị và văn hóa TP bên cạnh nội dung chủ yếu của mình,
đó là điều làm tôi luôn quý trọng ở báo PLTP.
Báo Người lao động – nơi cho tôi cơ hội có nhiều giải thưởng báo chí
Từ khi nghỉ hưu tôi mới có dịp
cộng tác với báo Người Lao động, cũng bắt đầu từ mảng văn hóa – xã hội. Năm
2015, từ đặt bài của nhà báo Dương Quang “đã nhiều người viết về TRịnh Công
Sơn, em muốn chị viết một cách khác về TRịnh, và em biết chị viết được, chị
viết nhé!”, bài viết trên NLĐ “Từ ngày mẹ cho” về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từ ký
ức và cảm nhận riêng tôi về nhạc Trịnh, đã được nhiều bạn đọc đồng cảm.
Hàng năm, các anh chị thường
nhắn, báo đang làm chủ đề này này... chị giúp cho một bài nhé. Chủ đề nào cũng
gắn với nghiên cứu và quan tâm của tôi nên tôi chưa từ chối bao giờ 😊 Và nhờ vậy tôi đã có 3 lần đạt Giải báo
chí quốc gia và thành phố từ báo NLĐ, trong các tuyến bài Nghị luận xã hội.
Ngoài ra còn có nhiều bài về khảo cổ đô thị và các vấn đề văn hóa, tôi cũng
luôn được toàn soạn tin tưởng đặt bài. Năm 2026 tôi còn tham gia 2 cuộc thi
viết ngắn do NLĐ tổ chức, để cám ơn sự đồng hành của báo với nhiều vấn đề gai
góc của đời sống hàng ngày. Báo NLĐ cũng là tờ báo tổ chức nhiều sự kiện văn
hóa và hoạt động xã hội mang lại hiệu quả cao! Bữa hôm phát giải cuộc thi
“Thành phố tôi yêu”, chia tay các anh chị ở báo NLĐ mà buồn quá! Thương những
người lao động thành phố sẽ thiếu vắng một món ăn tinh thần bổ ích!
Còn báo Tuổi trẻ, Tuổi trẻ cuối
tuần/tháng, Doanh nhân Sài Gòn thì mình được các anh chị mời viết bài cho số
cuối. Mình sẽ post sau.
Một lời cám ơn riêng tư: khi má mình mất, những người đầu tiên và những vòng hoa gửi đến viếng đầu tiên là từ các tờ báo của TP mà mình có dịp cộng tác. Không bao giờ mình quên điều này! Đó là một ân tình mà mình luôn cố gắng đền đáp, dù có thể đó chỉ là là phép tắc ứng xử thông thường giữa những con người.
CÁM ƠN THÀNH PHỐ THÂN THƯƠNG
TC Xưa và Nay số ra ngày 26.6.2926
Nửa thế
kỷ — một đời người, và cũng là một chương lịch sử đầy thăng trầm nhưng vô cùng
kiêu hãnh của thành phố này. Là một người đã sống và gắn bó trọn vẹn 50 năm
qua tại đây, nghĩ lại quãng đường dài đã qua trong tôi
dâng lên một cảm xúc
khó tả. Đó là sự đan xen từ tự
hào cho đến những khoảng lặng hoài niệm.
Năm
1976, sau những ngày hòa bình đầu tiên đầy xúc động và ngỡ
ngàng, thành
phố bước vào thời kỳ mới sau chiến tranh với muôn vàn khó khăn của
thời bao cấp. Ký ức thời ấy hiện diện trong mỗi người là những xếp hàng rồng rắn mua gạo mua
củi theo sổ hộ
khẩu, là
những chiếc xe đạp cọc cạch chở hàng hóa trên đường phố thưa thớt
ánh đèn, là những xóm nhà lá kênh đen ngay giữa lòng
thành phố, là vùng ngoại
ô ruộng lầy, nước ngập mênh
mông khi triều cường.
50 năm sau, thành
phố bây giờ mở rộng hơn nhiều lần, dân cư đông hơn, đa dạng hơn. Những đại lộ thênh thang,
những tòa nhà cao tầng, hệ thống Metro hiện đại, cảnh
quan thoáng đãng ven nhiều kênh rạch và một nhịp sống số hóa hối hả không ngủ. Một
không gian mới mở ra cả 3 chiều: địa lý – lịch sử và ký ức, mang lại cho TPHCM
một diện mạo mới mẻ. Nhìn lại hành trình 50 năm ấy người ta không khỏi kinh
ngạc. Sự thay đổi không chỉ nằm ở những khối bê tông, những cây cầu vượt, mà là
biểu tượng cho sức sống mãnh liệt, khả năng tự đứng dậy và vươn mình của một
vùng đất.
Tháng
7.1976 cũng là thời điểm thành phố Sài Gòn – Gia Định chính thức mang tên TP.
Hồ Chí Minh. Từ đó đến nay người dân thành phố có niềm
tự hào về "cái chất" suốt 50 năm qua không bao giờ mai một: lòng bao dung và
tinh thần nghĩa hiệp của con người nơi đây.
Người
sống ở đây 50 năm đã chứng kiến thành phố này dang tay đón nhận biết bao cuộc
đại di cư từ khắp mọi miền đất nước. Ai đến đây cũng được thành phố cho một cơ
hội để mưu sinh, để đổi đời. Tự hào làm sao khi đi qua bao nhiêu biến động, từ
những năm tháng gian khó cho đến những ngày gồng mình chống chọi với đại dịch,
cái chất "bầu ơi thương lấy bí cùng", những bình trà đá miễn phí,
những quán cơm xã hội, và tình người ấm áp vẫn cứ thế chảy tràn từ các ngôi
nhà trong con hẻm
nhỏ đến những biệt thự mặt tiền đường lớn. Thành phố không chỉ lớn
hơn về tầm vóc kinh tế, mà còn lớn hơn ở cái tâm thế của một trung tâm văn hóa,
nơi hội tụ và dung hòa mọi sự khác biệt.
Bên
cạnh niềm vui nhìn thấy thành phố phát triển, người sống ở đây nửa thế kỷ không
tránh khỏi những phút giây chạnh lòng, tiếc nuối cho những giá trị cũ dần lùi
xa.
Đó là
nỗi nhớ những kiến trúc và cảnh quan xưa ở trung
tâm - chứng nhân của thời kỳ đầu tiên xây dựng thành phố - nay đã bị
thay thế bằng các
trung tâm thương mại lấp lánh kính và thép.
Những hàng cây cổ thụ hơn trăm tuổi nhường chỗ cho chiếc cầu hiện đại, nhiều di
sản công nghiệp biến thành khu đô thị mới, mai này không ai còn biết thành phố
từng là một trung tâm công nghiệp sớm nhất cả nước... Đó là sự tiếc nuối cho
một nhịp sống có phần thong thả, bình yên ngày xưa, nay thay bằng sự ồn ào
ngày đêm của
kẹt xe, khói bụi và phát triển kinh tế của một đô thị siêu lớn với
các tầng lớp dân cư ngày càng phức tạp.
Nửa thế
kỷ trôi qua, đối với một người đã gắn bó 50 năm như
tôi, thành
phố này không còn là một địa danh trên bản đồ nữa. Nó là
tuổi trẻ, là một phần cuộc đời tôi! Thế hệ chúng tôi - những người sinh ra trong
chiến tranh và lớn lên trong hòa bình – tự hào vì đã góp phần
không nhỏ vào sự đổi thay của thành phố và đất nước!
Vào những dịp lễ lớn, những “người Sài Gòn”
đến từ mọi miền đất nước từ những năm 1975, 1976 sẽ ngồi lại với
nhau một góc
quán quen, nhìn dòng người hối hả ngược xuôi. Không
cần nhiều lời bời vì trong mỗi người luôn có một lời cám ơn: Cảm
ơn Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh vì
đã cùng nhau đi qua giông bão, cảm ơn vì đã lớn mạnh, và cảm ơn vì đã luôn là ngôi nhà đầm ấm, thân thương cho những ai chọn nơi này là quê hương thứ
hai!
SÀI GÒN TÌNH NGHĨA – KHI BÁO CHÍ CŨNG LÀ MỘT PHẦN CỦA DI SẢN ĐÔ THỊ
https://thethaovanhoa.vn/tphcm-di-san-hien-dai-va-nghia-tinh-bai-2-khi-bao-chi-cung-la-mot-phan-cua-di-san-nghia-tinh-do-thi-202607031103294...
-
Người Việt có một số thành ngữ và sự tích liên quan đến cá trê, như truyện Trê Cóc chẳng hạn. Câu chuyện không chỉ là việc Trê tranh giàn...
-
Một người bạn fb bất ngờ ra đi. Post bài thơ rất hay của bạn. Tôi biết Cao Hải Hà qua mạng Yahoo blog và sau là FB. Vài lần gặp Hà ở chỗ ...
-
(Bắt chước tựa “Nhân trường hợp chị thỏ bông” một tản văn nổi tiếng của Thảo Hảo/ Phan Thị Vàng Anh 😊 ) Đây là m ột cuốn sách đang g...

