Nguyễn Thị Hậu
Trong
các thành phố châu Âu ta thường
bắt
gặp những vòi nước cổ trên đường phố.
Từ
thời trung cổ đến sau này các vua chúa châu Âu đã nghĩ tới việc xây những vòi
nước công cộng, hệ thống dẫn nước sạch tới đó cho người dân ở các khu dân cư,
cũng như người qua đường. Có
khi
bên vòi nước công cộng còn có cả bồn nước lớn có mái che dành cho các bà nội trợ
mang quần áo đến giặt, cũng là nơi gặp gỡ chuyện trò. Bây giờ chỉ còn lại những
vòi nước trên hè phố, nhiều người lơ đãng không biết rằng mình vừa đi qua một
chứng tích của cuộc sống từ vài trăm năm trước.
Vòi
nước cổ thường được đúc bằng gang, dựng thành trụ trên vỉa hè hay gắn vào tường
ngôi nhà ven đường. Nhiều miệng
vòi đúc thành hình miệng thú. Vòi
nước dùng cần bơm tay hay tự chảy (do áp lực từ tháp nước) nhưng đều là nước sạch
có thể uống được ngay. Dòng
nước chảy thẳng xuống cống thóat nước phía dưới, phía trên là vỉ nắp đậy cũng đúc bằng gang. Hầu hết các vòi nước cổ được bảo tồn khá tốt:
luôn được sơn chống rỉ, quét dọn sạch sẽ, nắp cống phía dưới không có rác
làm nghẹt cống. Quan trọng là nguồn nước dẫn đến những vòi này luôn đảm bảo vệ
sinh nên những người đi đường vẫn thường ghé miệng uống nước từ vòi một cách tự
nhiên và thích thú. Uống nước từ vòi nước mà mạch nước có từ hàng
trăm năm trước không chỉ là giải khát mà còn mang lại cảm giác dường
như đang sống ở thời xa xưa.
Hệ
thống cấp nước cổ ở
những thành phố này thời xưa gần như có chung một nguyên tắc: các “cầu dẫn nước” từ nguồn trên núi, từ
sông hay suối… đều được dẫn đến một
hay nhiều tháp nước chung của một thành phố. Một số thành phố có “bể chứa nước” khổng lồ như một cung
điện dưới lòng đất, như ở Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ). Tại đó nước được lọc
sạch và theo các ống dẫn về từng khu vực mà đầu tiên là đến các vòi nước công cộng.
Sau này hệ thống nước vào từng ngôi nhà nhưng những vòi nước trên đường phố vẫn
được duy trì để sử dụng. Sinh họat từ một nguồn nước nên cư dân có thói quen bảo
vệ nguồn nước chung, giữ vệ sinh để
hạn chế dịch bệnh thường xảy ra vào thời đó. Vào thời đó nguồn nước chung còn
liên quan đến một sinh hoạt cộng đồng: nhà tắm và nhà vệ sinh công cộng. Tại đó
có vòi nước sạch, những rãnh nước bằng đá được nước chảy qua suốt ngày đêm nên
luôn sạch sẽ. Các di tích này vẫn còn hiện diện ở nhiều thành phố cổ.
Đi qua nhiều nơi ở châu Âu ta có thể nhìn thấy những “cây
cầu máng” dài hàng chục, có khi hàng trăm cây số dẫn nước từ trên núi cao về
thành phố. Điển hình là những cầu dẫn nước cổ thời văn minh La Mã. Đó là những
cây cầu máng khổng lồ bằng đá có khi có hai tầng để đảm bảo độ cao,
sừng sững như những con rắn khổng lồ chạy dài hàng trăm
km vắt ngang qua nhiều vùng địa hình, làm ta luôn choáng ngợp về vẻ đẹp hoành
tráng mà rất nhẹ nhõm, duyên dáng cũa nó. Một ví dụ cho thấy trình độ của các kỹ
sư La Mã, ở thế kỷ thứ nhất là cầu dẫn nước ở Nimes - Pont du Gard (miền Nam nước
Pháp), bằng đá, dài gần 50km, chênh lệch chiều cao từ đầu tới cuối cầu ở mức độ
chính xác mà các kỹ sư cầu đường ngày nay phải thán phục. Hay cầu máng ở khu
Amoreiras (Lisbon), thoạt đầu mới nhìn tưởng đấy là một thành trì cổ khổng lồ, như
một con khủng long còn sót lại từ thời tiền sử...
Các thành phố này còn có nhiều Đài phun nước ở quảng
trường, có khi trong khu vườn, trong công viên… Tại những quảng trường – mở rộng
từ giao lộ của những con đường chính trong thành phố, đài phun nước thường có
các nhóm tượng nổi chìm mờ trong làn hơi nước phun ra từ chính những bức tượng ấy.
Các tia nước được phun ra theo nhiều hình dạng khác nhau. Nước ở đây như chưa
bao giờ ngừng chảy và du khách hầu như ai cũng dừng chân ghé lại, ngồi chơi
trên bệ đá, khỏa bàn tay mình vào bể nước trong biếc, có thể hứng từ những tia
nước ấy để uống hay để xoa lên mặt lấy phước, lấy may. Họ chụp hình, đôi khi những
bức hình rất đẹp bởi phía sau màn nuớc bỗng ánh lên ngũ sắc cầu vồng… Những đài
phun nước ở trung tâm thành phố, nhiều người cầm đồng tiền nhỏ, đứng quay lưng
vung tay ném qua đầu mình xuống bể nước trước khi tạm biệt, để mong ước có ngày
được trở lại nơi đây.
Các
cầu máng dẫn nước, vòi nước cổ, đài phun nước hay những nhà tắm, nhà vệ sinh
chung thời xưa... đều là những không gian cộng cộng, nơi con người gặp gỡ và
sinh hoạt chung. Bên cạnh đó còn có những quảng trường, nhà hát hay đấu trường...
dành cho các sự kiện lớn. Chỉ từ câu chuyện vòi nước cổ hay những đài phun nước
cũng cho ta biết về “quy họach đô thị” của những thành phố châu Âu từ hàng trăm
năm trước. Nó được tính tóan đến từng chi tiết nhưng lại hữu hiệu lâu dài bởi
vì không chỉ là việc xây dựng các công trình, nhà cửa, đường xá, quảng trường,
đài phun nước, công viên cho cộng đồng, mà còn là những vòi nước trên đường cho
từng khách bộ hành từng gia đình… Bài học giản đơn cho một “không gian đô thị bền
vững”: luôn có các không gian công cộng dù lớn hay nhỏ, dành cho cộng đồng cũng
đáp ứng nhu cầu của từng con người thì mỗi con người sẽ có ý thức gìn giữ và bảo
vệ lợi ích cho cả cộng đồng.
Từ câu chuyện các
vòi nước cổ ở châu Âu ta có thể nhình thấy nhiều
câu hỏi lịch sử lý thú có thể đặt ra chung quanh chủ đề "nguồn nước" và sinh hoạt cộng đồng
liên quan đến nước ở nước ta. Miền Nam có “văn minh sông nước” mà sông, kênh rạch
là nguồn nước chung sử dụng với nhiều mục đích từ sinh hoạt hàng ngày đến trồng
trọt, nuôi trồng và khai thác thủy sản... Miền Bắc xưa là “văn minh ao hồ”, mỗi
nhà có ao hoặc nhiều nhà dùng chung ao với nhiều chức năng, có “giếng làng” phần
nhiều từ ao, hồ sửa sang mà thành, giữ gìn làm “nước ăn” chung cho
cả làng, về sau nhiều nhà cũng đào giếng, Người Chăm cổ có “giếng Chăm” sửa
sang nguồn nước tự nhiên hoặc đào “giếng vuông”. Như vậy, ở nước ta nguồn nước
sạch được sử dụng trong phạm vi hẹp: từng làng hay từng gia đình, các công
trình nhân tạo như kênh đào, sông đào phần lớn là các công trình thủy lợi. Điều này phản ánh đời sống cộng đồng gắn liền với sân
đình, phố chợ, hồ nước hay bến sông – những không gian mang dấu ấn làng xã và
văn hóa nông nghiệp.
Tại các đô thị Việt Nam,
các quảng trưởng hình thành từ các giao lộ hay phía trước công trình cộng cộng,
quy mô nhỏ, có đài phun nước hay tượng đài chỉ xuất hiện từ khoảng đầu thế kỷ
20, “máy nước công cộng” trên đường phố cững vậy, được duy trì miền Nam đến khoảng
cuối những năm 1950, ở miền Bắc đến hết thời bao cấp khoảng 1990.
Đây là một hiện tượng kiến trúc – quy hoạch phản ánh sự thay đổi trong đời sống và sinh hoạt
đô thị Việt Nam.
Hình ảnh: Mai Nguyễn






.jpg)

.png)

