TỪ LIÊN THÀNH NGHĨ VỀ NHỮNG CÁI TÊN VIỆT

  

Nhân dịp dự buổi kỷ niệm Công ty nước mắm Liên Thành tròn 120 năm tuổi, tôi bỗng dừng lại khá lâu trước hai chữ ấy: Liên Thành.

Một cái tên Việt. Không cầu kỳ, không pha trộn ngoại ngữ, cũng không cố gắng tạo cảm giác quốc tế. Nó mang ý nghĩa rất cụ thể: “Tên Liên Thành, tức thành hoa sen, là tên cũ của Bình Thuận, được chọn để thể hiện lòng tự hào với miền đất, biểu tượng con voi đỏ được chọn để thể hiện mong muốn thức tỉnh dân tộc, vừa bằng tập tính bầy đàn, vừa bằng sức mạnh của loài voi”. Từ ý nghĩa ấy thương hiệu Liên Thành đã đi qua hơn một thế kỷ, vượt qua thời thuộc địa, chiến tranh chia cắt và những biến động dữ dội của lịch sử để tồn tại đến hôm nay. Điều đáng suy ngẫm không chỉ nằm ở tuổi đời của một thương hiệu, mà còn ở lựa chọn của những người sáng lập cách đây 120 năm.

Đó là thời kỳ đất nước còn là thuộc địa của thực dân Pháp. Tiếng Pháp là ngôn ngữ của chính quyền, của trường học, của tầng lớp có điều kiện tiếp cận quyền lực và tri thức. Thế nhưng những doanh nhân Việt Nam đầu thế kỷ 20 – những trí thức Hán học, Tây học vẫn đặt tên cơ sở của mình bằng tiếng Việt, bằng từ ngữ gắn với văn hóa và khát vọng dân tộc: Liên Thành, Nam Đồng Thư Xã, Đông Kinh Nghĩa Thục, Minh Tân, hay giản dị như Xà bông Cô Ba... Những cái tên ấy không chỉ để gọi một cơ sở kinh doanh hay một tổ chức xã hội, mà là lời khẳng định về sự hiện diện ý chí và tinh thần người Việt trên chính quê hương mình.

Sau này, trong những thập niên giữa thế kỷ 20 khi ảnh hưởng văn hóa phương Tây ngày càng sâu rộng, ở miền Nam người ta vẫn bắt gặp vô số thương hiệu mang tên Việt. Những cái tên ấy hiện diện trên bảng hiệu cửa hàng, trong các xưởng sản xuất, trên những sản phẩm đi vào đời sống hằng ngày. Chúng vừa là dấu hiệu nhận diện thương mại, vừa là một phần của ký ức đô thị: nước khoáng Vĩnh Hảo, nước ngọt Chương Dương, bia Con Cọp, nước tương Nam Dương, Con Mèo Đen, cà ri Việt Ấn, bột ngọt Vị Hương Tố, bột Bích Chi, bông Bạch Tuyết, mì ăn liền Hai tôm... Dù ảnh hưởng văn hóa Mỹ ngày càng mạnh, các doanh nghiệp vẫn không thấy cần phải khoác lên mình một cái tên ngoại quốc để chứng minh đẳng cấp. Ngược lại, những cái tên Việt tạo nên sự thân thiện với thị trường rộng lớn khắp miền Nam.

Ngày này nhiều khách sạn, cửa hàng, quán cà phê, nhà hàng, tiệm bánh, cửa hiệu thời trang mang những cái tên hoàn toàn bằng tiếng Anh hoặc một ngôn ngữ nước ngoài nào đó. Chưa kể các khu chung cư căn hộ, khu đô thị mới phần lớn đều mang tên nước ngoài... Điều này không có thể không sai trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Một doanh nghiệp hướng đến thị trường toàn cầu có thể lựa chọn một thương hiệu dễ tiếp cận với khách hàng nhiều quốc gia. Nhưng với những sản phẩm chủ yếu phục vụ người Việt và thị trường trong nước, những cái tên nước ngoài đôi lúc làm người ta tự hỏi: phải chăng ở đâu đó đang tồn tại tâm lý cho rằng một cái tên ngoại quốc sẽ hiện đại hơn, sang trọng hơn hoặc dễ thu hút khách hang hơn? Vì sao không để tên Việt và có thể để tên nước ngoài phía dưới và chữ nhỏ hơn, như nhiều quốc gia khác vẫn làm?

Câu hỏi ấy càng trở nên thú vị khi nhìn sang các nước láng giềng trong khu vực. Tôi nhớ lần đi Indonesia gần đây. Tại các thành phố lớn và các khu du lịch, hầu hết bảng hiệu cửa hàng, nhà hàng, quán ăn, cơ sở dịch vụ đều mang những cái tên Indonesia. Ngoại trừ một số khách sạn quốc tế lớn hoặc các thương hiệu toàn cầu, rất hiếm gặp tình trạng phố xá phủ kín những cái tên tiếng Anh như ở nhiều đô thị Việt Nam hiện nay. Thế nhưng điều đó không hề cản trở du lịch Indonesia phát triển. Du khách quốc tế vẫn đến rất đông. Họ vẫn tìm được khách sạn, nhà hàng, điểm tham quan và các dịch vụ cần thiết. Không ai đòi hỏi người Indonesia phải đổi tên cửa hàng của mình thành tiếng Anh để trở nên hấp dẫn hơn trong mắt thế giới. Ngược lại, chính những cái tên bản địa ấy lại góp phần tạo nên cảm giác về một đất nước có bản sắc riêng. Du khách tìm đến một vùng đất không chỉ để ngắm cảnh đẹp mà còn để trải nghiệm sự khác biệt. Và ngôn ngữ chính là một phần quan trọng của sự khác biệt ấy.

Ngẫm rộng ra, nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới cũng không hề từ bỏ ngôn ngữ của mình khi xây dựng thương hiệu. Người Nhật Bản, người Hàn Quốc, người Pháp hay người Ý đều mang những cái tên bản địa ra thế giới. Họ không che giấu nguồn gốc của mình. Trái lại, họ biến bản sắc ấy thành giá trị. Điều làm nên sức mạnh của một thương hiệu chưa bao giờ nằm ở việc cái tên ấy được phát âm theo ngôn ngữ nào. Điều quan trọng hơn là chất lượng sản phẩm, sự tử tế trong kinh doanh và niềm tin mà thương hiệu ấy tạo dựng được với cộng đồng. khi những giá trị đó đã được khẳng định, cái tên lại trở thành một phần của ký ức xã hội, của văn hóa kinh doanh và của lịch sử dân tộc.

Thương hiệu bằng tiếng Việt không hề cản trở sự phát triển và cải tiến kỹ thuật mà ngược lại, nhờ ứng dụng kỹ thuật khoa học mới, nhiều thương hiệu Việt ngày càng có những sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và quốc tế. Vì thế, câu chuyện 120 năm của công ty Liên Thành không chỉ là câu chuyện về một hãng nước mắm lâu đời. Nó còn gợi nhắc về một thời mà những doanh nhân Việt, dù sống trong hoàn cảnh xã hội thuộc địa nhưng vẫn tự tin để đặt tên doanh nghiệp bằng tiếng nói của dân tộc mình. Điều đó thể hiện lòng tự trọng của một doanh nghiệp.

Giữa những bảng hiệu rực sáng của thời đại toàn cầu hóa hôm nay, những cái tên như Liên Thành vẫn nhắc chúng ta rằng bản sắc không phải là thứ cản trở hội nhập. Trái lại, có thể đó là điều khiến một thương hiệu được nhớ lâu hơn, một thành phố, một địa phương thể hiện được cá tính riêng và một quốc gia trở nên khác biệt hơn giữa thế giới ngày càng có nhiều điều “nhân bản vô tính” giống nhau.

Bởi vậy tôi ước ao, biết đâu một ngày nào đó điều khiến du khách nước ngoài thích thú không phải là những bảng hiệu tiếng Anh xuất hiện ở khắp nơi, mà là những cái tên Việt đủ hay, đủ đẹp và đủ tự tin để du khách muốn dừng lại, hỏi nghĩa của nó và học cách phát âm cho thật đúng. Không biết điều này có phải là viển vông?

Nguyễn Thị Hậu, Ngày 6 tháng 6 năm 2026

https://nguoidothi.net.vn/tu-lien-thanh-nghi-ve-nhung-cai-ten-viet-53009.html






BẢO TÀNG TRONG MỘT THÀNH PHỐ ĐANG LỚN LÊN

 https://tcdulichtphcm.vn/suy-ngam/bao-tang-trong-mot-thanh-pho-dang-lon-len-c8a114280.html

Nguyễn Thị Hậu

1.

Một buổi sáng cuối tuần, tôi gặp một nhóm sinh viên đứng trước cổng một Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh. Thấy các em đang tranh luận nên vào bảo tàng nào để tìm hiểu về lịch sử Sài Gòn, bất chợt tôi tự hỏi, nếu có một người bạn mới đến thành phố, tôi sẽ giới thiệu cho bạn đi xem bảo tàng nào để có thể hình dung tương đối đầy đủ hành trình lịch sử và văn hóa của thành phố? Câu hỏi tưởng đơn giản nhưng hóa ra không dễ trả lời.

TP.HCM hiện có một hệ thống bảo tàng đa dạng và phong phú, bao gồm 9 Bảo tàng công lập thuộc Sở Văn hóa và Thể thao TP. Một số bảo tàng thuộc sự quản lý của một số ngành khác, một số Di tích lịch sử có thể coi là bảo tàng tại chỗ như Dinh Độc Lập, Địa đạo Củ Chi, Di tích khảo cổ Giồng Cá Vồ... Ngoài ra còn có các bảo tàng ngoài công lập như Bảo tàng Y học, Bảo tàng áo dài, Bảo tàng Phở, Bảo tàng vũ khí cổ, Bảo tàng gốm sứ Minh Long... 

Tuy nhiên, nếu muốn biết về khảo cổ học, có một nơi. Muốn tìm hiểu về cuộc kháng chiến, có một nơi khác. Muốn biết về phụ nữ Nam bộ, về mỹ thuật hay áo dài, lại phải đến những địa chỉ khác nữa... Chưa kể hiện nay khi mở rộng không gian gồm cả Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, TP.HCM không còn được nhìn nhận đơn thuần như một đô thị trung tâm mà đang dần mang dáng dấp của một "siêu đô thị" với nhiều cực phát triển. Vậy làm thế nào để người dân và du khách có thể tìm hiểu về một “siêu đô thị” khi mà các bảo tàng còn phân tán về không gian và thiếu tính kết nối, vẫn vận hành theo mô hình truyền thống “khép kín”, thiên về trưng bày hiện vật hơn là kể chuyện và diễn giải hiện vật, dẫn đến sự rời rạc trong cách tái hiện lịch sử và mờ nhạt về văn hóa thành phố?

2.

Bảo tàng không chỉ là nơi cất giữ hiện vật. Điều công chúng tìm kiếm khi bước vào bảo tàng hôm nay là những câu chuyện. Họ muốn hiểu vì sao một hiện vật tồn tại, nó liên quan gì đến cuộc đời của những con người đã sống trên mảnh đất này và nó còn có ý nghĩa gì đối với hiện tại. Đó cũng là lý do nhiều bảo tàng trên thế giới đang thay đổi cách tiếp cận. Họ không còn xem bảo tàng là một tòa nhà khép kín mà là một phần của đời sống đô thị. Những khu phố cũ, bến cảng, chợ truyền thống, làng nghề hay không gian cộng đồng đều có thể trở thành những "phòng trưng bày" mở rộng của thành phố.

Sài Gòn vốn có lợi thế đặc biệt để làm điều đó. Ít nơi nào có một hệ thống ký ức đô thị phong phú như thành phố này. Từ những con hẻm cũ ở Chợ Lớn, các khu cư xá hình thành từ giữa thế kỷ XX, những làng nghề ven sông cho đến các khu công nghiệp hiện đại ở Bình Dương hay không gian biển của Vũng Tàu, tất cả đều kể những câu chuyện khác nhau về quá trình hình thành và phát triển của một vùng đất năng động nhất cả nước. Hiện nay người xem có thể đến nhiều bảo tàng nhưng vẫn khó nhìn thấy bức tranh toàn cảnh của thành phố. Mỗi nơi kể một phần lịch sử, nhưng thiếu một sợi dây kết nối để từ những mảnh ghép riêng lẻ ấy hiện lên diện mạo chung của siêu đô thị mang tên TPHCM.

Có lẽ đã đến lúc nghĩ về hệ thống bảo tàng như một mạng lưới thay vì những địa chỉ độc lập. Trong mạng lưới ấy, TP.HCM sẽ là nơi kể câu chuyện trung tâm về bản sắc đô thị; Bình Dương có thể kể câu chuyện công nghiệp hóa và các làng nghề; Bà Rịa - Vũng Tàu kể về biển, cảng thị và những cuộc giao lưu quốc tế. Mỗi địa phương giữ một phần ký ức riêng nhưng cùng góp vào một câu chuyện lớn hơn về vùng đất Đông Nam bộ đang chuyển mình mạnh mẽ. Và khi đó, bảo tàng sẽ không còn chỉ nằm sau những cánh cửa trưng bày.

Chợ Bến Thành, Chợ Bình Tây, những khu phố cổ, những xóm nghề ven sông hay các không gian sinh hoạt cộng đồng cũng có thể trở thành những "bảo tàng sống" của thành phố. Ở đó, di sản không nằm trong tủ kính mà hiện diện trong nhịp sống hàng ngày của cư dân. Từ đời sống hình thành các bảo tàng chuyên đề (Thematic Museums) được tổ chức theo các trục nội dung riêng biệt như nghệ thuật, chiến tranh, di cư, hay kinh tế đô thị... Mỗi bảo tàng tập trung vào một trọng tâm để tránh trùng lặp và tạo chiều sâu trong diễn giải các hiện vật và sự kiện lịch sử.

Đặc biệt, trong thời đại số thì một Bảo tàng số (Digital Layer) là cực kỳ quan trọng. Nó đóng vai trò kết nối toàn bộ hệ sinh thái thông qua bản đồ di sản, công nghệ thực tế ảo (AR/VR) và cơ sở dữ liệu mở. Đây không chỉ là công cụ hỗ trợ mà là một lớp hạ tầng thiết yếu, cho phép mở rộng trải nghiệm và tiếp cận công chúng mới.

3.

Cuối cùng nhóm các em sinh viên vẫn vào tham quan bảo tàng đó và cùng hẹn nhau tuần tới sẽ đi đến các bảo tàng khác. Tôi rất mừng vì các em không “bỏ cuộc” trong hành trình tìm về quá khứ của nơi các em được sinh ra và lớn lên. Với một lớp trẻ ham hiểu biết như vậy, bảo tàng càng cần trở thành một thiết chế văn hóa có trách nhiệm cao hơn với thế hệ tương lai.

Tôi nhớ những chuyến đi của tôi đến nhiều thành phố trên thế giới. Đến đâu tôi cũng tham quan các bảo tàng, bởi vì một thành phố lớn là nơi có nhiều bảo tàng mang lại cho người dân và du khách những hiểu biết về lịch sử - văn hóa của thành phố và của quốc gia. Đến với bảo tàng không chỉ để được biết về quá khứ, mà còn có thể hiểu thành phố đó đang và sẽ phát triển như thế nào.

Trong cách hiểu truyền thống bảo tàng như một thiết chế độc lập gắn với một tòa nhà và bộ sưu tập hiện vật cụ thể. Ngày nay trong bối cảnh đô thị hiện đại các thiết chế này dần bộc lộ những giới hạn. Xu hướng chuyển từ mô hình “bảo tàng như thiết chế” sang “mạng lưới bảo tàng”, trong đó bảo tàng là nơi lưu giữ và trưng bày hiện vật, đồng thời giữ vai trò kết nối giữa không gian xã hội, cộng đồng và công nghệ. Việc phát huy giá trị di sản thông qua hệ thống bảo tàng đòi hỏi một cách tiếp cận mới, vượt ra khỏi khuôn khổ hành chính và hướng tới mô hình hệ sinh thái đa trung tâm, thích ứng với thực trạng của TP HCM hôm nay và trong tương lai.

 


 

 

 

“ĐÔ THỊ ĐẶC BIỆT” CỦA TÔI

 https://nld.com.vn/cuoc-thi-toi-yeu-thanh-pho-cua-toi-do-thi-dac-biet-cua-toi-196260530013435507.htm

Nguyễn Thị Hậu

Những ngày tháng Năm năm 2026, khi Nghị quyết 09/2026 về xây dựng và phát triển TP HCM trong kỷ nguyên mới của Bộ Chính trị, Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt được nhắc đến trên các diễn đàn, người ta nói nhiều về cơ chế, về phân quyền, về kinh tế đêm, về không gian ngầm, về những “động lực tăng trưởng mới”. Nhưng phía sau những thuật ngữ quản trị ấy, điều khiến tôi nghĩ nhiều hơn lại là một câu hỏi rất giản dị: thành phố này rồi sẽ trở thành nơi như thế nào cho những thế hệ mai sau?

Từ những ngày đầu tiên tôi đến thành phố này – với tư cách “trở về quê hương, Sài Gòn đã mang lại cho tôi cảm giác gần gũi, thân quen mà không xô bồ, có khoảng cách mà không hờ hững. Thành phố hiện diện không bằng những tòa cao ốc hay những đại lộ sáng đèn tấp nập ngày đêm, mà đó là một thành phố của những nụ cười. Nụ cười từ tiếng rao khuya khi người bán gặp người mua, nụ cười bên bến sông đông đúc khi lỡ va chạm vào nhau, nụ cười trong quán cà phê khi bất chợt nhìn thấy một người quen, hay nụ cười trao nhau khi nghe câu nói người qua đường nhắc bạn “gạt chân chống xe”. Những nụ cười ấy luôn đi cùng ánh mắt thân thiện của những người luôn tin rằng nơi này cho họ một cuộc sống và cơ hội để bắt đầu những điều mới mẻ.

Quả thật, đây là một “đô thị đặc biệt”! Đặc biệt không chỉ ở sự phát triển kinh tế bất chấp nhiều rào cản từ bên ngoài và từ chính bản thân mình, mà sự đặc biệt nhất nằm ở một không gian tinh thần cởi mở, dung hòa mọi số phận và chia đều mọi cơ hội, miễn là bạn sống tử tế với nơi này! Điều đó đã tạo nên những lớp “ký ức đô thị” nặng dày qua nhiều thế hệ, kết nối tính đa dạng văn hóa, năng lực sáng tạo xã hội và sự gắn kết cộng đồng. Đó là một không gian sống đầy nhân văn giữa thời đại mà người ta thường đo sự phát triển bằng tốc độ xây dựng và những con số GDP. Sự phát triển của thành phố mang lại một suy nghĩ, một đô thị đặc biệt không chỉ được tạo nên bởi quy mô kinh tế hay hạ tầng hiện đại, mà đầu tiên phải từ những con người đặc biệt!

Năm 1986 bắt đầu thoát khỏi “thời bao cấp”, bốn mươi năm qua thành phố đã luôn chuyển động nhanh như thể sợ mình bị bỏ lại phía sau trong tiến trình hiện đại hóa và hội nhập toàn cầu. Sự thay đổi là tất yếu của một đô thị đang lớn lên. Nhưng nếu một ngày nào đó, thành phố chỉ còn những con đường giống nhau, những khu phố giống nhau, những dòng sông giống nhau, cả đến những ký ức cũng như một lớp “đồng phục” thì liệu người ta còn nhận ra, còn nhớ rằng đây là “thành phố của tôi”?

Điều lo ngại này không phải là lo xa! Vì thế mà việc kiên trì đề xuất bảo vệ “không gian ký ức đô thị” như gìn giữ chợ truyền thống, cảnh quan sông nước, hay những không gian cư trú cộng đồng... trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Một thành phố có thể tồn tại bằng bê tông và kính thép, nhưng nó chỉ thật sự sống bằng ký ức của người dân về nơi ấy.

Điều làm tôi hy vọng ở Nghị quyết 09 và Luật Đô thị đặc biệt không chỉ là những chính sách vượt trội dành cho TP.HCM, mà là tinh thần dám nghĩ khác về hiện tại và tương lai của thành phố. Một thành phố được dựng lên không chỉ từ các nhà quy hoạch, mà còn bởi những con người đến từ mọi miền đất nước, tham gia vào “thị trường lao động” đa dạng nhiều tầng lớp. Họ góp phần tạo nên sức sống mãnh liệt của thành phố nhưng cũng tự nuôi dưỡng giấc mơ mang theo từ mọi miền quê. Một đô thị đặc biệt thật sự không chỉ là nơi giàu có, mà phải là nơi con người cảm thấy mình thuộc về, khi họ có thể thực hiện giấc mơ của họ, dù bình dị nhất.

Tôi thích hình dung về tương lai thành phố như một dòng sông. Dòng sông ấy luôn trôi chảy nhưng cũng không rời xa nguồn cội. Những tuyến metro mới sẽ chạy qua lòng đất, nhưng phía trên vẫn còn những hàng cây cổ thụ. Những khu kinh tế đêm sẽ rực rỡ ánh sáng, nhưng không biến thành những bản sao vô hồn của bất kỳ đô thị nào khác. Những công trình mới sẽ mọc lên, nhưng vẫn nhường chỗ cho tiếng đàn trong các không gian nghệ thuật nhỏ, cho những quán ăn gia truyền còn giữ hương vị cũ, cho những khu chợ nơi người ta vẫn gọi nhau bằng cái tình Nam Bộ chân chất.

Tất cả những điều đó chính là nguồn vốn xã hội vô tận, cần được xem như một dạng hạ tầng mềm của đô thị. Hạ tầng giao thông giúp người ta đi nhanh hơn, nhưng chính sự tử tế và gắn kết cộng đồng mới khiến con người muốn ở lại lâu hơn. Truyền thống của thành phố này luôn mở lòng với người đến sau, nó khiến một người miền Trung, miền Bắc hay miền Tây, sau vài năm sinh sống, đều có thể nói một câu rất tự nhiên “tui là người Sài Gòn”, bởi vì họ đã được tiếp nối ký ức của những người ở đây, những người đến trước!

Những chính sách hôm nay đang tạo nên các điều luật cho một đô thị đặc biệt về mặt cơ học. Nhưng sâu xa hơn, các điều luật ấy cần góp phần trả lời câu hỏi: con cháu chúng ta sẽ sống trong một thành phố như thế nào? Một nơi chỉ đầy những khối bê tông lạnh lẽo, nơi con người đến kiếm sống rồi ra đi? Hay một nơi mà giữa nhịp sống hiện đại hối hả, người ta vẫn được trở về một mái nhà ấm áp tình người, một không gian bình yên của một đô thị có bề dày lịch sử?

          Thành phố Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục lớn lên. Không chỉ cao hơn, rộng hơn, giàu hơn, mà còn sâu hơn trong bản sắc và nhân văn hơn trong sự phát triển. Thành phố ấy rồi sẽ bước vào tương lai bằng đôi chân của công nghệ và kinh tế, nhưng trái tim vẫn luôn ấm áp bởi được nuôi dưỡng từ ký ức và nghĩa tình của những thế hệ cư dân thành phố.

Hình ảnh: NAG Minh Hòa: Công viên số 1 Lý Thái Tổ - một giọt nước nghĩa tình cho ký ức thành phố



 

DI SẢN BÁO CHÍ CỦA SÀI GÒN

 1.

Sài Gòn, ngoài nhiều loại hình di sản đô thị còn có một loại di sản độc đáo và quý giá: di sản báo chí. Có thể xếp báo chí vào di sản phi vật thể, bởi phương tiện thể hiện của nó chủ yếu bằng ngôn ngữ - ngôn ngữ báo chí, dù trên tờ báo in hay trên báo mạng, “nền tảng số”.

Đó là một di sản không nằm yên trong viện bảo tàng, cũng không là một công trình kiến trúc dễ gây chú ý. hiện diện hàng ngày trong đời sống: trong những sạp báo cũ, trong tiếng rao báo buổi sớm, trên bàn nhỏ trong quán cà phê... Nó hiện diện bằng mùi giấy in còn thơm mực, bằng những ánh đèn xuyên đêm trong các tòa soạn. Và đặc biệt, nó hiện diện trong lối sống của người Sài Gòn là luôn muốn biết đời sống quanh mình hôm nay thế nào?

Ít nơi nào ở Việt Nam mà lịch sử báo chí lại gắn sâu với lịch sử đô thị như ở Sài Gòn. Từ giữa thế kỷ 19, Gia Định Báo ra đời tại Sài Gòn năm 1865, thường được xem là dấu mốc mở đầu cho báo chí quốc ngữ Việt Nam. Không chỉ là một tờ báo mang lại tin tức mà còn mở ra cách người Việt tiếp cận thông tin bằng chữ quốc ngữ, đưa đời sống xã hội, thương mại, học thuật và quảng cáo bước vào không gian công cộng hiện đại. Từ đó, có thể nói, Sài Gòn dần trở thành một “thủ phủ báo chí”, đến mức đã có một đúc kết mang tính đặc trưng “văn Bắc báo Nam”.

Có thể coi báo chí Sài Gòn là một “di sản sống” (Living heritage): do đất và người Sài Gòn sáng tạo, lưu truyền, thực hành và luôn thích ứng với đời sống đương đại.

2.

Có giai đoạn, sáng sớm chỉ cần đi trên đường thành phố là có thể cảm nhận nhịp sống báo chí khắp nơi: xe chở báo đi về các tỉnh miền Tây lúc trời còn chưa rạng sáng, người chở hàng chồng báo mới phân phát đi mọi nơi, rồi những người bán báo dạo có mặt trên mọi con đường, các quán cà phê nơi người ta đọc báo và trao đổi về thời cuộc. Mùa Word Cup những tờ phụ bản chuyên về tin bóng đá đắt hơn tôm tươi! Bất cứ sự kiện chính trị - xã hội nào báo chí Sài Gòn cũng kịp thời đưa tin với nhiều góc nhìn độc đáo, rất nhiều tiếng nói của người dân đã được báo chí quan tâm phản ánh... Báo chí ở Sài Gòn chưa bao giờ chỉ là nghề, nó là một phần tính cách của đô thị này.

Một thành phố cởi mở luôn cần và luôn có một nền báo chí mạnh, bởi báo chí không chỉ đưa tin. Nó tạo ra đối thoại, tranh luận, phản biện... Người Sài Gòn thích làm báo, đọc báo, nhưng không quá “tôn sùng” báo chí vì đã quen với việc đọc nhiều lung thông tin, nhận biết nhịp sống đa dạng của đời sống đô thị qua nhiều tờ báo, quen với việc tờ báo sáng nay có thể làm thay đổi một cuộc trò chuyện của ngày hôm qua và cả công chuyện làm ăn của ngày hôm nay.

Nhưng khi nói tới di sản báo chí, có lẽ cần nhìn thêm một khía cạnh khác: các tờ báo lớn của Sài Gòn không chỉ là cơ quan truyền thông, mà còn là những tài sản rất lớn của thành phố, cả vật chất lẫn tinh thần. Một thương hiệu báo chí được xây dựng qua hàng chục năm không thể đo lường đơn giản bằng doanh thu hay số lượng phát hành. Đó là uy tín xã hội, là niềm tin của độc giả, là mạng lưới cộng tác viên, là kho tư liệu đồ sộ về đời sống đô thị, là văn hóa nghề nghiệp được tích lũy qua nhiều thế hệ.

Một tờ báo lớn thực chất là một “thiết chế ký ức”. Từ các thế hệ nhà báo giàu kinh nghiệm, giỏi nghề, trải qua những giai đoạn vô cùng khó khăn họ đã bươi chải và gây dựng nên tên tuổi tờ báo, tên tuổi của nhiều nhà báo khác... Trong kho lưu trữ của các tòa soạn có lịch sử thành phố thời ngày đầu hòa bình đến vượt qua thời bao cấp, phát triển trong thời mở cửa và hiện đại hóa... Có sự kiện từng ngày tác động đến đời sống từng người dân: những trận ngập lớn, những đợt dịch bệnh, các công trình hạ tầng đầu tiên, những biến động kinh tế, những đổi thay của xã hội... Đó chính là một “lịch sử xã hội” được ghi nhận từ góc nhìn báo chí, một nguồn sử liệu quan trọng, kịp thời và khá toàn diện, vô cùng cần thiết cho sử học hiện đại!

Nếu các tòa soạn không còn, thứ biến mất không chỉ là một cơ quan báo chí, mà còn là một phần bộ nhớ xã hội của đô thị. Sau 1975 khi nhiều tờ báo ngừng hoạt động, thành phố cũng đã mất đi một phần lịch sử và ký ức báo chí!

Thiệt hại vật chất cũng không hề nhỏ. Đằng sau một thương hiệu báo chí là hệ thống tòa soạn, công nghệ, đội ngũ nhân sự, dữ liệu, quan hệ bạn đọc và cả giá trị thương hiệu được gây dựng qua nhiều thập niên. Trong kinh tế hiện đại, thương hiệu chính là tài sản. Một tờ báo có uy tín cao nhiều khi giá trị lớn nhất nằm ở sự tin cậy mà công chúng dành cho nó, thứ cần rất nhiều năm để tạo dựng nhưng có thể mất đi rất nhanh. Với TP.HCM, nếu các thương hiệu báo chí lâu đời dần tan biến hoặc bị hòa lẫn đến mức mất bản sắc, thành phố sẽ mất đi một phần “vốn mềm” rất quan trọng. Một đô thị lớn không thể chỉ mạnh về tài chính hay hạ tầng; nó còn cần những định chế văn hóa đủ mạnh để tạo ảnh hưởng xã hội và giữ ký ức cộng đồng.

Còn với nền báo chí nói chung, sự mất mát ấy cũng đáng kể không kém. Bởi báo chí không chỉ cần công nghệ mới, mà còn cần các thương hiệu có chiều sâu lịch sử để duy trì chuẩn mực nghề nghiệp. Những tờ báo lớn giống như các “trường học nghề” tự nhiên, nơi nhiều thế hệ phóng viên được đào tạo bằng thực tế, bằng văn hóa tòa soạn, bằng áp lực phải giữ uy tín của một thương hiệu lâu năm. Nếu những thương hiệu ấy mất đi, báo chí có thể vẫn còn các nền tảng thông tin mới, nhưng sẽ thiếu đi các cột mốc văn hóa nghề nghiệp đã từng định hình chuẩn mực làm báo trong xã hội, thiếu đi “cảm xúc nghề nghiệp” được lan truyền giữa những con người!

3.

Có lẽ vì luôn nhìn mọi việc với chút hoài niệm của người yêu di sản và đang cố gắng giữ lại chút gì đó cho Sài Gòn, tôi tự hỏi: những sạp báo cũ đã mất đi, thói quen đọc tờ báo cũng chỉ còn ở lớp người lớn tuổi, nay nếu những tòa soạn biến mất, kỹ năng và ký ức nghề báo tan vào nền tảng số, thì Sài Gòn có mất đi một phần bản sắc? Đó là lúc tôi nhận ra báo chí cũng là một di sản văn hóa của Sài Gòn! Không phải di sản theo nghĩa hoài niệm đơn thuần mà là di sản phản ánh tinh thần đô thị: tinh thần khai mở, tinh thần đối thoại, khả năng tiếp nhận cái mới, và khát vọng được kết nối với thế giới.

Di sản báo chí Sài Gòn không chỉ nằm ở những tờ báo nổi tiếng hay những nhà báo tên tuổi, nó còn nằm ở cộng đồng. Đó là văn hóa đọc báo của người dân, là quán cà phê, tiệm làm tóc giữ lại tờ báo mới và chồng tạp chí cũ cho khách rảnh rỗi ngồi đọc. Là những phóng viên chạy xe trong đêm mưa để kịp bản tin sáng hôm sau. Là một tòa soạn thức trắng khi thành phố xảy ra biến cố. Tất cả những điều đó tạo nên “hồn báo chí” của Sài Gòn.

Có thể trong tương lai, báo giấy sẽ không còn, tòa soạn sẽ số hóa những bài báo, phát thanh và truyền hình sẽ hợp nhất vào các nền tảng truyền thông mới. Nếu vậy thì thành phố càng cần phải gìn giữ ký ức báo chí của mình từ kho lưu trữ, không gian tòa soạn đến câu chuyện nghề báo, bởi đó là truyền thống của nền báo chí Sài Gòn nhanh nhạy, linh hoạt và luôn trực diện trong mọi vấn đề. Một thành phố hiện đại có thể được tạo nên bằng bê tông, cao ốc hay hai, ba con số tăng trưởng. Nhưng một thành phố hiện đại và nhân văn phải được tạo nên bằng những gì thành phố từng viết một cách trung thực về chính mình.

 

Nguyễn Thị Hậu, 29.5.2026

--------

PS. Di sản Sài Gòn đang mất dần. Khi một tòa nhà, một địa danh, mội phương ngữ mất đi... nhiều người vẫn chưa thấy mất. Thật ra báo chí Sài Gòn cũng đã “mất dần” từ nhiều năm rồi... Cho đến bây giờ. Chỉ là chút nghĩ ngợi của một người làm nghề bảo tồn di sản, lại cũng có dây dưa chút ít với nghề báo và nhiều bạn làm báo tử tế. Nếu anh chị nào không cùng suy nghĩ thì lướt qua và không cần phải nói qua nói lại. Công đức vô lượng!

 


TỪ LIÊN THÀNH NGHĨ VỀ NHỮNG CÁI TÊN VIỆT

    Nhân dịp dự buổi kỷ niệm Công ty nước mắm Liên Thành tròn 120 năm tuổi, tôi bỗng dừng lại khá lâu trước hai chữ ấy : Liên Thành. Mộ...