THƯƠNG NGƯỜI NHƯ THỂ THƯƠNG THÂN...

 

Nhân ngày 21/6 năm nay, tôi xin chúc mừng các anh chị còn được làm nghề “chân vững bút bền” tiếp tục hành trình báo chí. Xin chúc các anh chị phải chuyển đổi công việc có nhiều sức khỏe và nghị lực để tiếp tục cuộc sống dù có thể rất vất vả, thậm chí sẽ thay đổi lớn! Mong rằng gia đình, bạn bè thân thiết luôn ở bên và chia sẻ cùng các anh chị trong giai đoạn mới nhiều khó khăn này!

Đúng là, có chuyện mới biết lòng người. Mấy bữa nay đọc nhiều lời tình cảm chia tay với tờ báo, nghề báo, bạn làm báo, nhưng cũng có những lời phũ phàng nghe có vẻ “lý lẽ”, ví dụ: có báo Thanh Niên, Tiền Phong rồi sao phải có Tuổi trẻ, có PNVN rồi sao cần PNTP... Chưa kể những câu kiểu “700 tờ báo 1 giọng thì dẹp cho rồi!”. Không ít nhà báo đã nghỉ/chuyển nghề nói vậy, và tôi biết ko ít người chẳng bao giờ đọc báo – kể cả báo mạng – mà chỉ đọc FB, hay tệ hơn, chỉ “nghe nói” thôi, cũng nói vậy! Sau tất cả những sáp nhập hay giải thể, sắp xếp hay điều chỉnh... như những biện pháp hành chính, là những con người và cùng với họ còn là gia đình, con cái, chi tiêu hàng ngày, hàng tháng... Những việc không đúng của nghề, người nào làm sai, làm bậy, lẽ ra người cùng nghề phải nói trước, chỉ ra trước, chứ có đâu bây giờ lại đánh đồng cá mè một lứa? Đến bao giờ người trong một nghề - chưa nói một nước – mới “thương người như thể thương thân”?

 Một lần, tôi – người viết báo nghiệp dư – nghe được vài điều không hay về tôi và ba tôi (ông đã mất từ 1985!) từ một nhà báo – không xa lạ với tôi. Tôi quá bất ngờ và sau đó thì buồn quá! Biết những lời nói/suy nghĩ đó là không đúng nên cũng không muốn đôi co qua lại làm gì. Sau đó, tôi vẫn cộng tác với tờ báo mà bạn đó làm việc, vì nghĩ, một cá nhân không phải là cả tòa soạn. Nếu cùng làm được việc tử tế thì cứ tiếp tục. Sau này trong một dịp trò chuyện với một bạn thân thiết cũng là nhà báo, khi nghe tâm sự của tôi, bạn nói: nghề báo nhiều người cũng bạc lắm chị ạ. Khi cần thì nhắn nhe thân thiết, khi không cần hay hết cần thì quay lưng như không quen biết... Chị đừng buồn, coi như chưa từng nghe những lời đó, cho thanh thản.

Nay, nhiều anh chị em nghe những lời phũ phàng chắc cũng chạnh lòng như tôi lúc ấy. Xin chia sẻ với các anh chị em hai câu “thần chú” tôi học được, mỗi khi có chuyện thị phi thì dùng để giữ cho tâm an: 1. Ai nói gì cũng "chúc bạn hạnh phúc". 2. Ai vẫn nói gì đó thì "công đức vô lượng". Tương lai, tôi vẫn tin rằng cái gì đã là quy luật của sự phát triển thì sớm hay muộn cũng trở về đúng quy luật! Còn nói theo tâm thức dân gian thì, đã cầu có cây tre trăm đốt thì sẽ phải khắc nhập khắc xuất thôi! 😊

21/6/2026



DI SẢN TRONG DÒNG CHẢY HIỆN ĐẠI: GHI CHÉP TỪ INDONESIA

 https://nguoidothi.net.vn/di-san-trong-dong-chay-hien-dai-ghi-nhan-tu-indonesia-52955.html

 Nguyễn Thị Hậu

Những chuyến đi của tôi thường không kết thúc khi máy bay hạ cánh, mà thường kéo dài rất lâu trong suy nghĩ, như một lớp trầm tích lặng lẽ bồi đắp thêm ký ức. Chuyến đi đến Bali, Jakarta và Borobudur vừa rồi của tôi cũng vậy. Là một vùng đất có chiều sâu văn hóa, điều đọng lại sau chuyến đi không chỉ là sự hài lòng vì công việc đã hoàn thành, mà là cảm giác được sống giữa những không gian khác nhau của một quốc gia đang chuyển động mạnh mẽ giữa truyền thống và hiện đại.

1.

Ấn tượng đầu tiên của tôi về Jakarta là sự khổng lồ và náo động. Thành phố như không bao giờ ngừng chuyển động. Những dòng xe máy, ô tô ken dày từ sáng đến khuya, tiếng tàu và âm thanh thành phố, ánh đèn và những khối cao ốc kính thép nối tiếp nhau, đúng là một siêu đô thị đang “bung ra” rộng hơn cao hơn với tốc độ chóng mặt. Nhưng điều thú vị là giữa Jakarta hiện đại và ồn ào ấy vẫn tồn tại những khoảng lặng của lịch sử và ký ức.

Khi bước vào khu phố cổ Kota Tua, nhịp điệu thành phố bỗng chậm lại. Những công trình thời thuộc địa Hà Lan với mái ngói đỏ, cửa sổ lớn và quảng trường cũ gợi nhớ một Batavia xa xưa, tiền thân của Jakarta hôm nay. Không gian ấy như một lớp thời gian khác còn sót lại giữa đô thị hiện đại. Nhiều người dừng chân ngồi chơi dưới bóng mát cây xanh, thong thả chụp hình, đạp xe sơn màu sặc sỡ quanh quảng trường. Trong những tòa nhà cổ là quán cà phê, tiệm ăn mang phong cách thời thuộc địa. Một ô kính nhỏ giữ lại dưới lòng đường một đoạn đường sắt đầu tiên của thành phốTất cả cho thấy nỗ lực giữ lại ký ức đô thị giữa áp lực phát triển rất lớn. Từ đó nơi này đã trở thành điểm đến quen thuộc của người Indonesia và du khách.  

Tôi nhớ cảm giác tương phản ở Quảng trường trung tâm Jakarta (Quảng trường Merdeka) có công trình hiện đại nổi tiếng nhất là Đài tưởng niệm Quốc gia cao vút, luôn tấp nập người đến chụp hình và vui chơi ở công viên cạnh đó. Và chỉ sau ít phút đi qua một đường hầm dẫn đến Bảo tàng Lịch sử - xây dựng trong phần chân đế rộng lớn của đài tưởng niệm. Bảo tàng rất mát mẻ và yên tĩnh, trưng bày những bức tranh toàn cảnh tái hiện lịch sử Indonesia.

Tôi nhớ không gian cổ điển và sang trọng của Bảo tàng quốc gia nơi lúc nào cũng có nhiều đoàn học sinh đến học tập. Tôi lang thang cả ngày ở đây vẫn chưa chiêm ngưỡng hết hàng trăm bức tượng Phật giáo, Hindu giáo, hàng ngàn hiện vật về lịch sử - văn hóa, phản ánh sự “đa dạng trong thống nhất” của đất nước được mệnh danh là "xứ sở vạn đảo", một trong những quốc gia đa dạng về sắc tộc nhất thế giới.

2.

Từ Jakarta đến Bali, sự tương phản ấy vẫn tiếp tục nhưng theo một cách khác. Bali không giống một “thành phố du lịch” theo nghĩa thông thường giống một không gian văn hóa truyền thống mở rộng, nơi du lịch được xây dựng trên nền của tín ngưỡng, cảnh quan và ký ức cộng đồng.

 Ở đó, tín ngưỡng bản địa hiện diện khắp nơi, từ trước cổng nhà, bên ruộng bậc thang, dưới gốc cây lớn, đến các công sở, khách sạn sang trọng hay ven biển đẹp nổi tiếng.  Buổi sáng khi đi bộ trên những con phố, tôi thường thấy trước cửa từng ngôi nhà là một khay nhỏ kết bằng lá dừa đặt trên mặt đất, trong đó có vài bông hoa, chút trầm thơm, mấy loại bánh và trái cây của địa phương. Người Bali không “trưng bày” văn hóa cho khách xem mà họ đang sống trong văn hóa ấy mỗi ngày. Những nghi thức giản dị ấy làm cho Bali hấp dẫn hơn vì nhịp sống chậm” mang tinh thần riêng giữa cơn lốc toàn cầu hóa.

Điều làm tôi suy nghĩ nhiều là cách người Bali dung hòa giữa bảo tồn và khai thác du lịch. Một thành phố rất nhiều cây xanh, đường phố và nơi công cộng luôn sạch sẽ, người dân hiền hòa, thân thiện, giọng nói nhẹ nhàng với nụ cười luôn nở trên môi. Biển hiệu các cửa hàng, quán ăn địa phương hầu như không có tiếng Anh, món ăn truyền thống sử dụng bao bì bằng lá dừa, lá chuối, những chiếc lồng bàn kết bằng lá cọ, lá buông nhiều kích cỡ và màu sắc, mang lại sự thích thú cho du khách. Những đền thờ hay ngôi chùa trên mọi đường phố, mỗi ngôi nhà đều có miếu nhỏ phía trước, kiến trúc kiểu “cổng trời” rất đặc trưng được bảo tồn, tôn tạo thường xuyên, trở thành “biểu tượng kiến trúc” của thành phố. Người Bali hiểu rất rõ giá trị kinh tế của di sản, nhưng di sản trong một không gian sống chứ không phải trong “tủ trưng bày” hay ngược lại, thành sân khấu hóa”.

 Dĩ nhiên thương mại hóa vẫn hiện diện. Có những khu vực đông nghịt du khách, trong chợ truyền thống vẫn “nói thách” để du khách phải trả giá nhiều lần, những buổi biểu diễn được “đóng gói” theo giờ tham quan, những quán cà phê với giá không hề rẻ nhìn ra ruộng bậc thang hay bên bờ biển tuyệt đẹp... Nhưng phía sau hoạt động du lịch ấy vẫn một nền văn hóa bản địa đủ mạnh để du khách có thể cảm nhận sự độc đáo chân thực của nó.

3.

Từ Bali, tôi tiếp tục hành trình đến Borobudur - một nơi mà từ lâu tôi chỉ được biết qua phim ảnh và tài liệu nghiên cứu. Mọi hình dung đều trở nên nhỏ bé khi đứng trước công trình vĩ đại này! Borobudur được xây dựng hoàn toàn bằng đá núi lửa với kỹ thuật ghép khối chính xác và hệ thống phù điêu dày đặc. Nhờ kiến trúc còn khá nguyên vẹn nên dù qua trùng tu vài lần, công trình không bị “làm mới” mà mang lại sự hoàn chỉnh và thẩm mỹ cao.

Đến tham quan nơi này du khách được phát một đôi dép upanat làm thủ công từ sợi lá dứa và lá dừa, do người dân địa phương sản xuất. Đôi dép này được thiết kế nhằm mục đích bảo tồn di tích, du khách có thể mang về như một món quà lưu niệm sau chuyến tham quan. Chúng tôi đăng ký tham quan vào sáng sớm. Khi mặt trời lên Borobudur hiện ra giữa màn sương mỏng như một ngọn núi đá khổng lồ, vẻ đồ sộ choáng ngợp nhưng tĩnh lặng rất đặc biệt. Những tầng tháp chồng lên nhau biểu tượng cho hành trình đi lên của tâm thức. Hàng trăm pho tượng Phật, những bức tường phủ kín phù điêu không tạo cảm giác phô trương quyền lực mà như một lời nhắc nhẹ nhàng về sự vô thường của thời gian.

Tôi đi chậm giữa những bậc đá đã in dấu nhiều thế kỷnghĩ đến những công trình tôn giáo lớn của Đông Nam Á như Mỹ Sơn, Đồng Dương, Angkor… Càng hiểu hơn một Đông Nam Á từng là không gian văn hóa rộng lớn, nơi tôn giáo, thương mại và nghệ thuật giao thoa mạnh mẽ để tạo nên những công trình kỳ vĩ. Borobudur không chỉ là di sản của Indonesia, nó còn là một phần ký ức chung của nền văn minh Đông Nam Á.

Điều thú vị là dù đã trở thành điểm du lịch nổi tiếng thế giới, Borobudur vẫn giữ được tính chất thiêng liêng của một không gian tâm linh. Người ta đến đó không chỉ để “check-in”, mà có thể ngồi yên lặng ngắm nhìn bình minh hay hoàng hôn, để đi chậm rãi vòng quanh các tầng và suy tưởng khi chạm tay vào những “câu chuyện trên đá”, càng lên cao càng cảm nhận rất rõ ràng, đời người chỉ là một chớp mắt trong thời gian vô tận...

Đứng giữa Borobudur còn khá nguyên vẹn sau hơn một nghìn năm, tôi nhớ đến Phật viện Đồng Dương ở miền Trung nước ta - một trung tâm Phật giáo lớn của vương quốc Champa xưa, cùng thời với Borobudur. Tuy nhiên hiện nay Borobudur được coi là một “di sản sống trong khi Đồng Dương là một “di sản khảo cổ không còn thực hành. Sự khác biệt không chỉ phản ánh số phận khác nhau của hai di sản Phật giáo mà còn gợi ý về cách mỗi quốc gia ứng xử với ký ức lịch sử của mình sao cho phù hợp.

4.

Đông Nam Á từng là một không gian văn minh liên kết sâu sắc bằng tôn giáo, thương mại và nghệ thuật. Trải qua những biến động lịch sử, nhiều lớp ký ức đã mất đi trước khi kịp được nhận diện đầy đủ giá trị. Có lẽ vì thế khi bước đi giữa Borobudur, tôi không chỉ nhìn thấy Indonesia, thấp thoáng đâu đó còn là những mảnh ký ức bị đứt gãy của di sản Việt Nam. Chúng ta sở hữu vô số cảnh quan tuyệt đẹp, di tích quý giá và truyền thống văn hóa phong phú. Nhưng việc bảo tồn và du lịch vẫn nặng về khai thác nhanh, trùng tu “làm mới”, đưa công trình hiện đại vào cảnh quan di tích một cách phô trương. Làm mất đi điều du khách quốc tế tìm kiếm chính là bản sắc địa phương, chiều sâu văn hóa của di sản và đời sống cộng đồng.

Một di sản hấp dẫn không chỉ vì nó cổ kính mà vì nó kể được câu chuyện của cộng đồng sống cùng nó. Một thành phố du lịch bền vững không chỉ có khách sạn sang trọng hay dịch vụ tốt, mà còn phải giữ được linh hồn nơi chốn. Jakarta cho thấy sức kháng cự của di sản trước hiện đại hóa, Bali cho thấy khả năng gìn giữ bản sắc trong phát triển, còn Borobudur cho con người hôm nay tâm thế hướng về ký ức thời gian của văn minh Đông Nam Á. Bên cạnh những di tích nguyên vẹn, những nơi tôi đến cũng còn nhiều phế tích giống Đồng Dương hay Mỹ Sơn của chúng ta. Hầu hết chúng không được phục dựng nhưng bảo tồn rất tốt và luôn nhiều khách tham quan. Điều đó làm tôi suy nghĩ, có lẽ một phế tích trung thực với lịch sử vẫn có giá trị cao về học thuật và ký ức, thậm chí cao hơn một công trình phục dựng hoàn chỉnh nhưng dựa nhiều trên giả định khoa học hay suy diễn lịch sử.

Indonesia hôm nay đang tồn tại trong hai nhịp sống: một bên là khát vọng hiện đại hóa mạnh mẽ, một bên là nhu cầu giữ lại chiều sâu văn hóa như một điểm tựa tinh thần. Di sản văn hóa ở đây không chỉ là những hiện vật cổ hay đền tháp xưa cũ. Chúng là di sản vì có khả năng mang lại cho con người cảm giác mình thuộc về một dòng chảy liên tục của lịch sử và văn hóa. Nhận thức đó chính là điều quý giá nhất mà chuyến đi này mang lại cho tôi.

TP. Hồ Chí Minh 12.5.2026













NGÀY CUỐI - THƠ VÀ NHẠC

https://www.youtube.com/watch?v=zQy2ef9kmgA

Đây là một bài thơ của mình được Đặng Cao Thắng phổ nhạc. Bạn gửi cho mình cùng lời bình thơ của một bạn nghe nhạc. Cám ơn nhiều những đồng cảm của các bạn <3

LỜI GIỚI THIỆU VỀ BÀI THƠ 

NGÀY CUỐI của Nguyễn Thị Hậu (một tiến sĩ ngành khảo cổ) là một bài thơ ngắn nhưng có độ nén cảm xúc rất cao, mang rõ dấu ấn của một người từng quen với việc “khai quật” ký ức. Chỉ khác, ở đây, đối tượng khai quật không phải là di chỉ văn hóa, mà là những lớp trầm tích của một mối tình đã kết thúc.

 Không gian thời gian trong bài thơ là sự tàn lụi được đo bằng những vật thể cụ thể. Ngay từ những câu mở đầu:

“Tháng mười hai

Cuốn lịch chỉ còn vài tờ

Rượu trong chai cũng không còn nữa…”

Nhà thơ không nói trực tiếp về chia ly, nhưng mọi thứ đều đang cạn dần.

•Thời gian: “cuốn lịch chỉ còn vài tờ” → năm sắp hết.

•Cảm xúc: “rượu trong chai cũng không còn nữa” → men say, nồng ấm đã vơi.

•Con người: “người là quá khứ” → mối quan hệ bị đẩy lùi về phía sau.

Cách viết này rất “khảo cổ” theo nghĩa tinh thần: không tuyên bố, mà để hiện vật tự nói lên sự biến mất của một đời sống.

Hình ảnh “ly vang” là một phát hiện thẩm mỹ đắt giá.

“Ly vang hứng từng giọt mặn

Đỏ bầm đôi môi”

Đây là một trong những câu thơ đẹp và đau. “giọt mặn” vừa là nước mắt, vừa là dư vị của ký ức. “ly vang” là thứ văn minh, sang trọng, nhưng lại chứa đựng nỗi buồn rất riêng tư. “đỏ bầm đôi môi” là một chi tiết thị giác mạnh: không còn là màu đỏ của đam mê, mà là vết thâm của cảm xúc đã bị dồn nén quá lâu. (Câu thơ này có thể trở thành trục cảm xúc chính khi phổ nhạc, một điểm rơi rất “đắt” cho cao trào.)

Cấu trúc cảm xúc của bài thơ là: muốn nói, nhưng không thể.

“Em muốn nói với anh

Em nhớ…

Ngay cả trong mơ…”

Dấu ba chấm ở đây cực kỳ quan trọng. Nó không chỉ là ngập ngừng, mà là ở đây lời nói đã bị nuốt vào trong. Đáng chú ý là “muốn nói nhưng không nói, “nhớ” nhưng không được phép nhớ, “trong mơ” nhưng vẫn bị ý thức kiểm soát. Đây là trạng thái của một tình yêu đã qua ngưỡng có thể cứu vãn, nhưng lại chưa qua được ngưỡng có thể quên.

Trong NGÀY CUỐI, có một cú đảo hình ảnh rất tinh tế.

“Trăng vẫn dưới chân mình”

Thông thường, trăng ở trên cao, biểu tượng của cái đẹp, của lý tưởng. Nhưng ở đây, trăng “dưới chân” → mọi giá trị lãng mạn đã bị đảo chiều. Nó gợi cảm giác rằng những điều từng thiêng liêng nay trở nên bình thường hoặc tệ hơn, bị giẫm lên, bị bỏ lại. Một chi tiết nhỏ nhưng rất có chiều sâu triết lý.

Cái kết của bài thơ: ký ức như vàng mã, mong manh mà không chịu cháy.

“Kỷ niệm xưa

Mong manh vàng mã

Mà khó cháy

Thành tro…”

Đây là đoạn kết rất “đắt” về tư duy hình tượng. “vàng mã” → thứ dành cho quá khứ, cho người đã mất. “mong manh” → tưởng dễ tiêu hủy, nhưng “khó cháy” → ký ức không chịu biến mất. Nghĩa là: tình đã chết, nhưng không thể thiêu. Đây chính là nghịch lý lớn nhất của bài thơ: muốn quên → không quên được, muốn dứt → không dứt nổi. Và vì thế, cái đau không nằm ở mất mát, mà nằm ở sự kéo dài của dư âm.

Ngày cuối không nói về chia tay, mà nói về trạng thái sau chia tay, nơi mọi thứ đã kết thúc về mặt thực tại, nhưng vẫn tiếp tục tồn tại trong ký ức. Một bài thơ không ồn ào, không kịch tính, nhưng có chiều sâu và sức ám lâu dài.

 

NGÀY CUỐI

Tháng mười hai

Cuốn lịch chỉ còn vài tờ

Rượu trong chai cũng không còn nữa

Người là quá khứ

Kỷ niệm thành dĩ vãng xa xôi

Ly vang hứng từng giọt mặn

Đỏ bầm đôi môi

 

Em muốn nói với anh

Em nhớ...

Ngay cả trong mơ...

Trăng vẫn dưới chân mình

Qua quán cũ chiều nay

Em không ngoái lại

Ta đã thành người xa lạ

Kỷ niệm xưa

Mong manh vàng mã

Mà khó cháy

Thành tro...


Photo by Minh Hòa




MỘT NIỀM VUI GIỮA NHỮNG NỖI BUỒN...


Hôm qua trong cuộc gặp mặt của một tạp chí bị giải thể trong đợt này, tất cả chúng tôi đều ngậm ngùi... đã có những giọt nước mắt, đã có những nghẹn ngào, đã có những tiếng thở dài và những ánh mắt tránh nhìn nhau...vì sợ cảm xúc sẽ vỡ ra...
Tuy vậy, mọi chia sẻ, động viên, an ủi nhau của các nhà báo, phóng viên, nhân viên, cộng tác viên... đều kết thúc bằng một “tinh thần lạc quan”: Cánh cửa này đóng lại sẽ có cánh cửa khác mở ra! Và cái gì đã là quy luật thì sẽ trở về đúng theo quy luật. Bình tâm, giữ sức khỏe và tìm những niềm vui để tiếp tục chặng đường mới có nhiều khó khăn!
Giữa không khí ấy, một bạn luật sư trẻ xinh đẹp nhắc lại, bạn từng là sinh viên của tôi. Tôi gặp bạn lần đầu tại cuộc trao giải một cuộc thi của tạp chí này, bạn đã gọi tôi bằng cô và giới thiệu với bạn bè, đây là cô giáo của em. Lúc đó, tôi nghĩ có lẽ bạn học tại trường XHNV, nơi tôi thỉnh thoảng có dạy chuyên đề cho một số khoa. Tôi đã nghĩ, bây giờ mà sinh viên còn nhớ cô giáo chỉ dạy 1 môn ngắn ngủi không liên quan trực tiếp đến ngành học của mình, lại từ mười mấy năm trước, bây giờ lại khá nổi tiếng vì tài năng và xinh đẹp.... thật đáng quý!
Nay gặp lại, em hỏi, cô còn nhớ em không, em là sinh viên của cô. Tôi nói; nhớ chứ, gặp em hôm trao giải mà chưa kịp hỏi, em học khóa nào, khoa nào vậy? Cô không nhớ hết sinh viên của mình 😊 Em nói: em học trường ĐH Luật, khóa ấy... Tôi ngạc nhiên: ô cô chưa dạy ĐH Luật bao giờ em ạ. Không ạ, cô có dạy chứ, em ấn tượng với cô từ khi học và khi gặp lại đã nhận ngay ra cô!
Ôi tôi bắt đầu tự hỏi, không lẽ mình bắt đầu lẫn rồi sao? Một lần nữa trả lời em: thật đấy, cô chưa dạy ĐH Luật bao giờ vì chuyên môn của cô không liên quan, với lại, cô sợ luật sư lắm nên cứ “kính nhi viễn chi”, tôi đùa 😊 Hay là mình là bạn FB nên em thấy quen thuộc?
Cô ơi, cô giáo không nhớ học trò là bình thường, nhưng sinh viên bọn em thì chỉ có ấn tượng với một vài thầy cô thôi, sao em nhầm được ạ?!
Một đồng nghiệp trẻ của tôi ngồi bên đột nhiên hỏi: Cô, hồi covid cô phải tiêm mấy mũi? Bất giác tôi trả lời luôn: 4 mũi! Quay sang hỏi bạn gái kia: còn em, mấy mũi? Dạ 3 ạ. Đấy, 4 mũi nên cô quên hơn 3 mũi là phải rồi! Mọi người cười ồ, tôi cũng cười nhưng vẫn bán tín bán nghi, chả có lẽ...?
Em gái xinh đẹp bèn nói: em phải nhắn tin hỏi bạn cùng lớp ngay, không lẽ em cũng quên như cô? Mà tại sao em luôn nghĩ cô là cô giáo của em, phải có lý do gì chứ nhỉ 😊 Tất nhiên, bạn em xác nhận là chưa từng học tôi! Haiza, tí nữa thì covid bị oan! Thấy chưa, đâu cứ bênh gái đẹp dìm hàng bà già là đúng kkk. Thôi thì, không là cô giáo thì là... chị em, nhiều học trò của tôi sau này cũng gọi tôi là chị cho thân thiết, miễn là trong lòng có chút kỷ niệm về nhau là được.
Nghề giáo, tôi vẫn nghĩ như ông bà xưa đã nói – là nghề đưa đò. Ai qua sông rồi nhớ người lái đò thì thật đáng quý, mà ai không nhớ hay coi thường, thì cũng là bình thường, vì lái đò cũng là một nghề như bao nghề khác. Cứ làm tốt trách nhiệm phận sự thì có niềm vui tự hài lòng với chính mình. Đâu cứ phải cầu sự biết ơn hay ấm ức vì sự lãng quên của người khác với mình?
Nói vậy chứ giữa lúc nhiều người chọn cách quay lưng lại với những nghĩa tình lâu năm, một lời “nhận nhầm” đầy ân nghĩa đã mang lại niềm vui không nhỏ cho tôi và cho mọi người trong buổi gặp gỡ nhiều cảm xúc hôm qua.
Hình thời làm cô giáo - khoảng thời gian mà bạn ấy nhắc 🙂





NỬA THẾ KỶ CHỨNG KIẾN NHỮNG THAY ĐỔI CỦA THÀNH PHỐ


Hơn 50 năm gắn bó với TPHCM, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu đã chứng kiến hành trình chuyển mình mạnh mẽ của thành phố, từ một đô thị còn nhiều khó khăn sau ngày thống nhất trở thành trung tâm kinh tế năng động hàng đầu cả nước. Với bà, bên cạnh những đổi thay về diện mạo và tốc độ phát triển, điều làm nên sức sống bền bỉ của thành phố vẫn là con người, văn hóa và tinh thần cởi mở đã được bồi đắp qua nhiều thế hệ.

50 năm đổi thay

Sinh ra ở Hà Nội, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu thuộc thế hệ “di dân” đầu tiên đến Sài Gòn sau ngày đất nước thống nhất. Từ cô gái 17 tuổi đặt chân đến thành phố năm 1975, bà đã có nửa thế kỷ gắn bó với vùng đất này trên cương vị một nhà khảo cổ, nhà nghiên cứu văn hóa và cũng là một công dân chứng kiến từng bước chuyển mình của đô thị mang tên Bác.

Theo bà, điều dễ nhận thấy nhất là diện mạo thành phố hôm nay đã đổi khác rất nhiều. Nếu trước đây sự phát triển chủ yếu tập trung ở khu vực trung tâm thì ngày nay, quá trình hiện đại hóa đã lan tỏa rộng khắp, từng bước thu hẹp khoảng cách giữa nội thành và vùng ven. “Bây giờ, sự phát triển diễn ra đồng đều hơn rất nhiều. Thành phố hiện đại hơn, mới mẻ hơn và mở rộng hơn rất nhiều so với 50 năm trước” - bà nhận xét.

Không chỉ thay đổi về không gian đô thị, TPHCM còn có những chuyển biến sâu sắc về con người và đời sống xã hội. Những ngày đầu đến đây, bà từng cảm nhận rõ sự khác biệt về ngôn ngữ, nếp sống và văn hóa. Thế nhưng điều khiến bà ấn tượng là sự lịch thiệp, cởi mở và văn minh của người Sài Gòn đối với những người mới đến. Theo thời gian, cùng với các làn sóng di cư, những khác biệt ấy dần được dung hòa, tạo nên một cộng đồng đa dạng nhưng gắn kết. “TPHCM thích nghi rất nhanh với những thay đổi của xã hội, đặc biệt là người trẻ. Chính khả năng thích ứng ấy đã tạo nên sức sống và sự phát triển không ngừng của thành phố” - bà chia sẻ.

Điều khiến choyêu thương mảnh đất này suốt gần nửa thế kỷ qua không phải là những tòa nhà cao tầng hay những con số tăng trưởng kinh tế, mà chính là con người. Nếu Hà Nội thường gợi nhớ đến chiều sâu lịch sử, Huế gắn với di sản và văn hóa cung đình thì khi nhắc đến Sài Gòn, người ta thường nghĩ ngay đến con người. Theo bà, muốn hiểu thành phố này trước hết phải hiểu con người.Trong cảm nhận của bà, người Sài Gòn là sự kết hợp hài hòa giữa nét văn minh của một đô thị lớn với sự chân chất, hào sảng của vùng đất Nam Bộ. Từ lời chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi đến cách ứng xử thường ngày đều toát lên sự tự nhiên, chân thành và gần gũi. “Đó là nét văn hóa đô thị rất đặc trưng của TPHCM - một đô thị hiện đại nhưng vẫn giữ được sự hồn hậu của người miền Nam” - bà nói.

Theo, sức hấp dẫn của TPHCM còn đến từ tính chất của một vùng đất mở, nơi từ lâu đã mang đến cơ hội lập nghiệp cho người dân khắp mọi miền. Nhưng trên hết vẫn là yếu tố “nhân hòa” - những con người nghĩa tình, bao dung và rộng mở. “Người Nam Bộ nói ‘thương’ là nặng tình nặng nghĩa lắm. Càng sống lâu ở đây, tôi càng thương con người thành phố - bà bộc bạch. Bà cho rằng người Sài Gòn sống thực tế nhưng không thực dụng, sẵn sàng giúp đỡ người khác từ lẽ phải và tấm lòng hơn là tính toán thiệt hơn. Chính sự chân thành, nghĩa hiệp và tinh thần bao dung được bồi đắp qua nhiều thế hệ cư dân đã giúp thành phố này luôn rộng mở với người nhập cư, trở thành nơi nhiều người tìm thấy cơ hội phát triển và cảm giác được đón nhận, thuộc về. Đó cũng là lý do khiến TPHCM luôn có sức hút đặc biệt.

Kinh tế phải song hành cùng văn hóa

Theo tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu, việc định hướng TPHCM trở thành đầu tàu kinh tế, trung tâm kinh tế lớn của cả nước là hoàn toàn phù hợp với thế mạnh đã được khẳng định từ trăm năm qua. Tuy nhiên, theo bà, mục tiêu tăng trưởng kinh tế chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng với sự phát triển hài hòa về văn hóa, xã hội và chất lượng sống của người dân.

Bà đánh giá cao những cơ chế, chính sách đặc thù mà Trung ương dành cho TPHCM thời gian qua, như Nghị quyết 98 của Quốc hội, Nghị quyết 260 và gần đây là Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị. Đây là những nền tảng quan trọng giúp thành phố có thêm không gian, động lực và quyền chủ động để phát huy vai trò đầu tàu trong giai đoạn phát triển mới. Tuy nhiên, các cơ chế này cần được triển khai hiệu quả trong thực tiễn và phải được xây dựng trên tầm nhìn dài hạn.

“TPHCM phát triển rất nhanh. Những vấn đề đặt ra hôm nay có thể vài năm nữa đã không còn phù hợp. Vì vậy, cơ chế dành cho thành phố không nên chỉ giải quyết nhu cầu trước mắt mà phải đủ rộng để đáp ứng sự phát triển trong 10 - 20 năm tới, thậm chí xa hơn” - bà nhận định. Theo bà, TPHCM cần một “chiếc áo” thể chế đủ rộng để tiếp tục phát huy thế mạnh về sáng tạo, tính linh hoạt và khả năng thích ứng vốn là những đặc trưng của thành phố.

Bên cạnh vai trò đầu tàu kinh tế, TPHCM cũng cần khẳng định vị thế của một trung tâm văn hóa lớn. Một đô thị hiện đại không chỉ được nhận diện bằng những công trình hạ tầng hay các chỉ số tăng trưởng mà còn bởi chiều sâu văn hóa, bản sắc con người và đời sống tinh thần của người dân. Những năm gần đây, thành phố đã có nhiều nỗ lực trong việc mở rộng công viên, không gian xanh và các khu sinh hoạt công cộng, góp phần cải thiện môi trường sống và nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần cho người dân. Tuy nhiên, để tạo nên bản sắc và sức sống bền vững cho một đô thị lớn, chỉ như vậy là chưa đủ. “Căn cốt văn hóa của một thành phố phải được thể hiện qua các thiết chế văn hóa như bảo tàng, nhà hát, trung tâm nghệ thuật, không gian sáng tạo hay các ngành công nghiệp văn hóa gắn với đặc trưng của TPHCM và vùng Nam Bộ” - bà nói.

Theo đó, thành phố cần tiếp tục đầu tư các công trình văn hóa có tầm vóc, đồng thời xây dựng cơ chế phù hợp để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật, tạo điều kiện cho các đơn vị ngoài công lập, nghệ sĩ và doanh nghiệp văn hóa tham gia phát triển đời sống văn hóa đô thị. Đối với các khu vực vùng ven, có thể bắt đầu từ những mô hình gần gũi như nhà văn hóa đa năng, trung tâm sinh hoạt cộng đồng hay không gian biểu diễn quy mô vừa, giúp người dân có điều kiện tiếp cận văn hóa thường xuyên hơn. Theo bà, văn hóa luôn là một nhu cầu thiết yếu của đô thị hiện đại. Khi được tiếp cận thường xuyên với các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, người dân sẽ dần hình thành thói quen thụ hưởng các loại hình văn hoá, nghệ thuật. Đồng thời nâng cao dần trình độ thưởng thức và thẩm mỹ văn hoá nghệ thuật. Đây một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần đô thị. “TPHCM luôn tự hào về những đóng góp cho nền kinh tế cả nước, nhưng văn hóa cũng phải phát triển song hành với kinh tế, sao cho thành phố không chỉ giàu mạnh mà còn là một đô thị nhân văn giàu có về văn hoá” - nói.

Gìn giữ ký ức đô thị

Theo tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu, khi TPHCM bước vào giai đoạn phát triển mới với không gian đô thị ngày càng mở rộng, một trong những thách thức lớn nhất là làm sao vừa phát triển nhanh, vừa giữ được những giá trị làm nên bản sắc của thành phố. Theo bà, di sản không chỉ là những công trình cổ hay các địa danh nổi tiếng mà còn là những dấu tích ghi lại từng chặng đường phát triển của đô thị, từ kiến trúc, cảnh quan đến những ký ức gắn với đời sống của người dân qua nhiều thế hệ. “Nếu những dấu tích ấy mất đi, thành phố cũng sẽ mất đi một phần lịch sử và ký ức của mình” - bà nói.

Bà cho rằng TPHCM từ lâu đã mang trong mình tinh thần đổi mới sáng tạo. Điều đó không chỉ thể hiện ở vai trò đầu tàu kinh tế mà còn bắt nguồn từ lịch sử của một đô thị cảng thị luôn cởi mở, biết tiếp nhận cái mới và thích ứng với những thay đổi của thời cuộc. Chính tinh thần năng động, dám đổi mới và khả năng hội nhập đã tạo nên sức sống đặc biệt của thành phố trong suốt nhiều thập niên qua.

Tuy nhiên, khi hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo của khu vực, thành phố không thể chỉ dựa vào công nghệ hay tăng trưởng kinh tế mà phải đặt con người và văn hóa ở vị trí trung tâm. Bởi suy cho cùng, mọi đổi mới đều do con người tạo ra và phục vụ cho con người. Văn hóa không đứng ngoài sự phát triển mà chính là nền tảng nuôi dưỡng tư duy sáng tạo, khả năng thích ứng và bản lĩnh của một đô thị hiện đại.

Theo bà, tiềm năng văn hóa của TPHCM còn rất lớn, từ các giá trị lịch sử, truyền thống, sự đa dạng của các loại hình di sản văn hoá đến những ngành công nghiệp văn hóa đã hình thành từ rất sớm như báo chí, xuất bản, nghệ thuật biểu diễn hay giao lưu quốc tế. Điều quan trọng là cần có những cơ chế phù hợp để khơi thông và phát huy đồng thời gìn giữ nguồn lực này, thay vì chỉ nhìn văn hóa dưới góc độ khai thác hiệu quả kinh tế trước mắt.

Kỳ vọng về tương lai, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu mong TPHCM sẽ trở thành một siêu đô thị hiện đại, nhân văn và đáng sống. Thước đo quan trọng nhất của sự phát triển không chỉ là những con số tăng trưởng mà là chất lượng sống của người dân. Đó là khi người dân có cơ hội an cư, được sống trong môi trường an toàn, được chăm sóc sức khỏe tốt, được thụ hưởng các giá trị văn hóa và cảm thấy gắn bó với cộng đồng nơi mình sinh sống. “Tôi mong TPHCM không chỉ là một thành phố giàu mạnh về kinh tế mà còn là nơi người dân cảm thấy an tâm, hạnh phúc và tự hào khi được sống, làm việc và cống hiến” - bà chia sẻ.

https://www.phunuonline.com.vn/nua-the-ky-chung-kien-nhung-doi-thay-cua-thanh-pho-a1584776.html



NHÂN TRƯỜNG HỢP “CHUYỆN VỚI THANH”

 

 (Bắt chước tựa “Nhân trường hợp chị thỏ bông” một tản văn nổi tiếng của Thảo Hảo/ Phan Thị Vàng Anh 😊 )

Đây là một cuốn sách đang gây ra nhiều cuộc tranh luận trên mạng. Được một người chị tặng khi mới xuất bản, tôi đọc ngay vì tò mò với lời giới thiệu cuốn sách và vì thấy sự ngưỡng mộ của nhiều người đối với các “công thần” của FPT. Note này là tôi tự rút ra bài học cho chính mình, từ cuốn sách và từ những gì đang xảy ra với nó.

Tôi tiếp cận văn bản với tư cách là một môn học của đại học, được tác giả/giảng viên viết lại phổ biến rộng rãi ngoài môi trường đại học. Còn sách văn chương thì không nằm trong stt này ạ.

Tôi biết nhiều cuốn sách thực chất có nguồn gốc từ các bài giảng, các cuộc trò chuyện hoặc ghi chép nội bộ. Tuy nhiên, thông thường như kinh nghiệm của nhiều nhà giáo/nhà nghiên cứu thì có thể có 4 cách thức thể hiện cùng chuyển tải một nội dung, đó là Lời giảng/bài giảng, Giáo án, Giáo trình và Sách cho cộng đồng. Nhưng khi chuyển hóa từ loại này sang loại khác, nhất là để trở thành sách dành cho cộng đồng thì bản chất và chức năng của chúng cần phải thay đổi đáng kể. Cơ bản trên hai phương diện là cấu trúc và ngôn ngữ.

I.                  CẤU TRÚC

Có thể hình dung quá trình này như một chuỗi phát triển của tri thức:

Hình thức

Mục đích chính

Đối tượng

Đặc điểm

Lời giảng

Truyền đạt trực tiếp

Người nghe cụ thể

Tính khẩu ngữ, ứng biến, phụ thuộc ngữ cảnh

Giáo án

Hướng dẫn hoạt động dạy học

Giáo viên

Cấu trúc bài học, mục tiêu, phương pháp

Giáo trình

Hệ thống hóa tri thức

Người học

Tính chuẩn hóa, logic, có thể tự học

Sách cho cộng đồng

Chia sẻ tư tưởng, kinh nghiệm, cảm hứng

Công chúng rộng rãi

Tính kể chuyện, tính đối thoại, khả năng đồng cảm

1. Từ lời giảng đến giáo án: từ tri thức sống đến kịch bản sư phạm

Lời giảng là một sự kiện giao tiếp. Người giảng dựa vào đối tượng người nghe, bối cảnh, phản ứng của người học, cảm hứng tại thời điểm nói. Một bài giảng hay thường chứa nhiều yếu tố không thể ghi lại đầy đủ bằng văn bản: ngữ điệu, khoảng dừng, ví dụ ngẫu hứng, tương tác.

Trong khi đó, giáo án là bản thiết kế của bài giảng. Nếu lời giảng là "buổi biểu diễn", thì giáo án là "kịch bản đạo diễn". Giáo án quan tâm đến mục tiêu học tập, trình tự hoạt động, thời lượng, phương pháp đánh giá. Nó không nhằm truyền cảm hứng trực tiếp mà nhằm bảo đảm việc dạy học có thể được tái hiện.

2. Từ giáo án đến giáo trình: từ hoạt động dạy sang hệ thống tri thức

Giáo án trả lời câu hỏi: Hôm nay dạy cái gì và dạy như thế nào?

Giáo trình trả lời câu hỏi: Một lĩnh vực tri thức gồm những gì? Do đó giáo trình phải: có cấu trúc logic, có khái niệm, thuật ngữ, có tính hệ thống, có khả năng sử dụng lâu dài.

 Một giảng viên văn hóa Việt Nam có thể có hàng trăm giờ giảng, hàng chục giáo án, nhưng để viết thành giáo trình cần chọn lọc nội dung, chuẩn hóa khái niệm, xây dựng chương mục, bổ sung tài liệu tham khảo. Nói cách khác, giáo trình là tri thức đã được "đóng khung học thuật".

3. Từ giáo trình đến sách cho cộng đồng: từ tri thức chuẩn hóa đến tri thức có sức sống

Đây là bước chuyển thú vị nhất và cũng khó khăn nhất.

Nhiều người tưởng sách phổ thông là phiên bản đơn giản hóa của giáo trình. Thực ra không hẳn. Một cuốn sách dành cho cộng đồng không chỉ làm cho tri thức dễ hiểu hơn mà còn phải làm cho tri thức đáng quan tâm hơn.

Ví dụ: Giáo trình viết:Văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra. Nhưng sách cho cộng đồng có thể viết:Tại sao người Việt thích ăn cơm chung mâm? Tại sao ngôi làng luôn quan trọng hơn cá nhân? Những điều ấy hé lộ cách người Việt nhìn thế giới. Tức là Tri thức không mất đi, nhưng được chuyển thành: câu chuyện, trải nghiệm, tình huống, đối thoại...

Nếu giáo trình ưu tiên tính chính xác, thì sách cộng đồng phải cân bằng giữa: tính chính xác, sự hấp dẫnkhả năng lan tỏa.

4. Trường hợp Chuyện với Thanh

Tôi nghĩ cuốn Chuyện với Thanh là một ví dụ đáng suy ngẫm vì nó không phải giáo trình, cũng không hoàn toàn là tập hợp bài giảng. Điều nổi bật là cấu trúc đối thoại thầy – trò.

Ở đó, kinh nghiệm sống và tư duy của tác giả được trình bày như những cuộc trò chuyện với một người trẻ. Điều này làm cho tri thức không mang giọng điệu "giảng dạy", không bị ràng buộc bởi cấu trúc học thuật, tạo cảm giác đồng hành hơn là truyền thụ.

Nếu hình dung theo chuỗi trên: lời giảng → giáo án → giáo trình → sách cộng đồng

thì Chuyện với Thanh gần với một hướng phát triển khác: lời giảng → đối thoại → suy ngẫm → sách cộng đồng.

Chính vì vậy mà dễ sa vào tình trạng “sai một từ suy ngàn ý” 😊 cuốn sách này, theo mình, điều được chuyển tải có lẽ không chủ yếu nhằm vào kiến thức “tư tưởng” mà là cách suy nghĩ, thái độ sốngkinh nghiệm cá nhân, là “Học tập và làm theo”.

5. Một cách nhìn khái quát

Có thể tóm tắt sự khác biệt bằng câu hỏi trung tâm của mỗi loại hình:

  • Lời giảng: Tôi nói gì với người nghe lúc này?
  • Giáo án: Tôi tổ chức việc học như thế nào?
  • Giáo trình: Tri thức của lĩnh vực này được hệ thống ra sao?
  • Sách cho cộng đồng: Làm thế nào để tri thức ấy trở thành một phần của đời sống người đọc?

Theo góc nhìn này, giá trị của một cuốn sách cộng đồng không nằm ở việc nó chứa bao nhiêu kiến thức, mà ở khả năng chuyển hóa kiến thức thành trải nghiệm nhận thức cho người đọc. Nói cách khác, giáo trình giúp người ta HIỂU BIẾT SÂU SẮC, còn sách cho cộng đồng thường giúp người ta NGẪM NGHĨ TỪ ĐÓ. Và những cuốn sách có sức sống lâu dài thường đạt được điều thứ hai.

II.               NGÔN NGỮ THỂ HIỆN

Tuy nhiên, vì sao “Chuyện với Thanh” gây ra phản ứng và các phản ứng thường dựa vào một số trích dẫn bị cho là “có ngôn ngữ không phù hợp”?

Nếu nhìn từ góc độ truyền thông tri thức, thì sự khác nhau cốt lõi giữa lời giảng, giáo án, giáo trình và sách cho cộng đồng không chỉ nằm ở nội dung mà còn nằm ở ngôn ngữ. Cùng một tri thức, nhưng mỗi loại hình đòi hỏi một "chế độ ngôn ngữ" khác nhau vì chúng phục vụ những tình huống giao tiếp khác nhau. Có thể hình dung như sau:

Loại hình

Bối cảnh giao tiếp

Đối tượng tiếp nhận

Đặc trưng ngôn ngữ

Lời giảng

Giao tiếp trực tiếp

Người nghe hiện diện

Khẩu ngữ, linh hoạt, giàu cảm xúc

Giáo án

Công cụ tổ chức dạy học

Giáo viên

Kỹ thuật, chỉ dẫn, ngắn gọn

Giáo trình

Truyền đạt tri thức chuẩn hóa

Người học

Chính xác, khái niệm hóa, hệ thống

Sách cộng đồng

Đối thoại với công chúng

Độc giả đa dạng

Gần gũi, kể chuyện, giàu liên tưởng

Ví dụ, cùng một ý tưởng: "Việc học không chỉ là tiếp nhận tri thức mà còn là quá trình tự kiến tạo năng lực tư duy."

Trong lời giảng người thầy có thể nói: Các em thử nghĩ xem, nếu chỉ học thuộc bài thì sau kỳ thi còn lại điều gì? Điều quan trọng hơn là trong quá trình học, các em học được cách suy nghĩ như thế nào. Túc là Ngôn ngữ mang tính đối thoại và tương tác.

Trong giáo án có thể ghi: Hoạt động: Thảo luận vai trò của tư duy phản biện trong quá trình học tập. Tức là Ngôn ngữ thể hiện tính thao tác và điều hành.

Trong giáo trình có thể viết: Học tập được hiểu là quá trình lĩnh hội tri thức đồng thời hình thành năng lực nhận thức và tư duy độc lập của chủ thể. Tức là Ngôn ngữ mang tính khái niệm và chuẩn mực.

Trong sách cho cộng đồng có thể viết: Nhiều người nghĩ học là chất thêm kiến thức vào đầu. Nhưng thực ra điều còn lại sau khi quên kiến thức mới là thứ quan trọng nhất: cách chúng ta nhìn nhận và giải quyết vấn đề. Như vậy Ngôn ngữ hướng tới sự đồng cảm và suy ngẫm.

Nếu liên hệ với trường hợp Chuyện với Thanh, tôi nghĩ đây chính là điểm đáng chú ý. Những ý tưởng của tác giả có thể đã xuất hiện trong các cuộc trò chuyện, các buổi chia sẻ hoặc thậm chí các bài giảng nội bộ. Nhưng khi trở thành sách, ngôn ngữ không còn là ngôn ngữ của người "dạy" nữa mà là ngôn ngữ của người "trò chuyện". Đó là một chuyển đổi rất quan trọng: từ diễn giải sang gợi mở; từ khẳng định sang đối thoại; từ truyền đạt kiến thức sang chia sẻ trải nghiệm; từ thuyết phục bằng lập luận sang thuyết phục bằng sự đồng cảm.

Nói theo ngôn ngữ học, mỗi loại hình văn bản đều có một cộng đồng diễn ngôn (discourse community) riêng. Giáo trình thuộc diễn ngôn học thuật; giáo án thuộc diễn ngôn sư phạm; lời giảng thuộc diễn ngôn giao tiếp trực tiếp; còn sách cho cộng đồng thuộc diễn ngôn công chúng. Khi chuyển từ diễn ngôn này sang diễn ngôn khác, tác giả không chỉ thay đổi cách viết mà còn phải thay đổi cả cách tổ chức tri thức, cách lựa chọn ví dụ, mức độ thuật ngữ và giọng điệu.

Giữa những ồn ào về cuốn sách, tôi nhớ đến thầy Trần Quốc Vượng, tất nhiên, MỌI SỰ SO SÁNH ĐỀU KHẬP KHIỄNG! Trong sự liên tưởng của tôi ấy là năng lực dịch chuyển tri thức giữa các hệ ngôn ngữ và các cộng đồng tiếp nhận khác nhau. Đây thực ra là một kỹ năng rất khó, và những tác giả làm được điều đó thường có ảnh hưởng rộng hơn phạm vi chuyên môn của mình. Bởi vì, một người giảng rất hay chưa chắc viết được giáo trình tốt, người viết giáo trình xuất sắc chưa chắc viết được sách đại chúng hấp dẫn.

Ai từng nghe Thầy giảng và đọc những gì Thầy viết, chắc sẽ đồng ý với tôi rằng, ở Thầy Trần Quốc Vượng chính là khả năng tuyệt vời đó! Tôi nghĩ đây cũng là một trong những lý do khiến ông có sức ảnh hưởng vượt ra ngoài phạm vi chuyên ngành. Điều đặc biệt ở ông không phải chỉ là khối lượng tri thức đồ sộ hay những phát hiện học thuật quan trọng, mà là khả năng làm cho cùng một hệ tư tưởng nghiên cứu có thể tồn tại trong nhiều hình thức diễn đạt khác nhau.

Chúng tôi học ở Thầy điều quan trọng đầu tiên là cẩn trọng khi viết bởi vì “giấy trắng mực đen, bút sa gà chết” 😊 Chắc chắn không phải lúc nào tôi cũng nhớ và thực hành đúng. Trường hợp Chuyện với Thanh một lần nữa nhắc tôi về bài học này!

 


 

THƯƠNG NGƯỜI NHƯ THỂ THƯƠNG THÂN...

  Nhân ngày 21/6 năm nay, tôi xin chúc mừng các anh chị còn được làm nghề “chân vững bút bền” tiếp tục hành trình báo chí. Xin chúc các an...