BẢN SẮC SÀI GÒN TRONG BỐI CẢNH NAM BỘ. (trích)

1.
Trong quan niệm và ngôn ngữ của người dân đồng bằng sông Cửu Long, “thành phố” gần như là một danh từ riêng để chỉ Sài Gòn, dù miền Tây có nhiều đô thị sầm uất, như Cần Thơ – “Tây đô”, Long Xuyên – thành phố bên bờ sông Hậu, Mỹ Tho bên sông Tiền – một “đại phố” từ thủa mới hình thành… Vị thế “thành phố” của Sài Gòn là từ hoàn cảnh lịch sử của nó.
Như đã nói ở trên, từ đầu thế kỷ XIX vùng Gia Định gồm 5 trấn là Biên Hòa, Phiên An, Định Tường, Vĩnh Thanh và Hà Tiên. Sự trù phú về tự nhiên và phát đạt về kinh tế của năm trấn này được Gia Định thành thông chí miêu tả và liệt kê đầy đủ. Trấn Phiên An (vùng Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định) là trung tâm của Gia Định và là đơn vị hành chính thống quản 5 trấn. Dù không còn là “kinh đô” như thời chúa Nguyễn nhưng Sài Gòn vẫn giữ vai trò quan trọng trong hệ thống chính quyền triều Nguyễn, là đơn vị hành chính đặc biệt trong buổi đầu thống nhất quốc gia. Đặc biệt là vị trí của Gia Định thành trong mối quan hệ (quân sự-chính trị) với Xiêm và Chân Lạp.
Từ cuối thế kỷ XIX, Paul Doumer đã nhận xét về Sài Gòn: “Khó mà so sánh Hà Nội với Sài Gòn, hai thành phố này mang những nét khác nhau và sẽ chẳng bao giờ giống nhau được. Nhưng vào năm 1897, ấn tượng về sự khác nhau rõ nét nhất là Sài Gòn là một thành phố đã hình thành, ta chỉ việc hoàn thiện và làm đẹp cho nó, trong khi Hà Nội là một thành phố mới chỉ được phác họa, vẫn còn rất nhiều thứ phải làm” . Có thể hiểu nguyên nhân của sự khác biệt này là Sài Gòn từ khi khởi lập đã có chức năng và duy trì được chức năng đô thị kinh tế, dù sau đó Thành Gia Định (thành Quy, thành Phụng) bị san bằng, vị trí chính trị mất đi thì vai trò kinh tế không vì thế mà mất theo. Ngược lại do tiếp nhận những phương thức và kỹ thuật mới, nên Sài Gòn nhanh chóng phát triển theo một mô hình đô thị mới.
Đô thị hóa là quá trình biến đổi về phân bố các lực lượng sản xuất, bố trí dân cư, những vùng không phải đô thị trở thành đô thị. Tiền đề cơ bản của đô thị hóa là sự phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ... thu hút nhiều nhân lực từ nông thôn đến sinh sống và làm việc, làm cho tỉ trọng dân cư ở các đô thị tăng nhanh. Đô thị xuất hiện làm tăng sự phát triển giao thông với các vùng nông nghiệp xung quanh và các đô thị khác; phát triển văn hoá và sự phân công lao động theo lãnh thổ, tăng cường thành phần công nhân, tiểu thủ công, trí thức, thương nhân, kĩ thuật viên... Theo đó, quá trình đô thị hóa ở Nam Bộ khá đồng bộ, và trong giai đoạn nào thì Sài Gòn vẫn giữ vị trí và vai trò quan trọng nhất.
2.
Ở Nam Bộ ít có sự phân biệt văn hóa và người Nam Bộ nói chung (ngoại vi) với văn hóa và người Sài Gòn (trung tâm) nói riêng. Nếu không quá khắt khe có thể coi con người và văn hóa Sài Gòn là đại diện cho con người và văn hóa Nam Bộ, từ giọng nói, ngôn ngữ, ẩm thực, tính cách, cách thức làm ăn… Ở Sài Gòn khi thân thiết thì hỏi nhau “quê đâu” mà không hề có ý phân biệt người “tỉnh” hay “thành phố”. Gia phả nhiều dòng họ, gia đình ở Nam bộ phần lớn được ghi nhận “thời ông cố ông sơ” từ miền Trung đi ghe theo biển vô Nam, đầu tiên định cư trên những giồng đất vùng cửa sông… rồi từ đó ngược các nhánh Cửu Long vào sâu vùng ngập trũng, khai phá đồng bằng và khai thác tự nhiên . Công cuộc khai phá này chẳng hề dễ dàng thuận lợi chút nào! Do đó tính thực tiễn được đặt lên hàng đầu: tất cả hướng đến thực tế, không lý thuyết suông, không giáo điều, lấy hiệu quả lao động làm mục đích chính. Không hay than vãn, người Nam bộ thường nói “làm chơi ăn thiệt”. Nhưng đây là thể hiện tư duy giản dị mọi việc, “coi vậy mà hổng phải vậy”, nhìn khó khăn đã qua như một việc chơi chơi, còn kết quả thực sự mới là quan trọng, là đã “có ăn”.
Với hơn 300 năm đi xa “gốc gác” từ đồng bằng sông Hồng, sông Mã làm sợi dây “truyền thống” khép kín càng dãn ra. Những tính chất của không gian “nông thôn làng xã” biến đổi theo thời gian, bị/được đứt gãy do phải thích ứng với không gian địa lý-xã hội khác. Thay vào đó là sự tự lập và tính linh hoạt ứng phó với hoàn cảnh điều kiện mới và từ đó tạo ra truyền thống mới, dám thay đổi cho phù hợp hoàn cảnh, thích nghi nhanh, chịu đổi mới. Quan trọng là không mặc cảm sợ sai và sửa sai nhanh.
Ở Sài Gòn/Nam bộ, “dư luận xã hội” không nặng nề khe khắt với những điều khác lạ, điều mới. Là bởi người Việt trên bước đường lưu chuyển vào đây đã trải nghiệm qua những vùng đất toàn những điều mới lạ. Cùng với sự nhạt đi của tính chất phong kiến gia trưởng, lại luôn cần đùm bọc nhau trong hoàn cảnh mới, tiếp xúc sớm với các giá trị dân chủ, bình đẳng của văn minh phương Tây làm cho người Sài Gòn khá cởi mở trong các mối quan hệ xã hội, cá nhân ít lệ thuộc, phụ thuộc vào cộng đồng và vì thế vai trò và trách nhiệm cá nhân rõ ràng. Có thể nói tính cách người Sài Gòn/Nam Bộ gắn liền với chữ “LÀM”; “làm ăn”, “làm chơi ăn thiệt”, “làm đại”, “dám làm dám chịu”… Sự liên kết gắn bó, hòa trộn những đặc điểm trên tạo nên tính cách người Sài Gòn/Nam Bộ.
Trong tiến trình lịch sử không thể phủ nhận một điều, với vị thế là thương cảng trung tâm kinh tế-văn hóa, có tầm giao lưu và ảnh hưởng đến khu vực rộng hơn, Sài Gòn luôn được coi là thành phố tiêu biểu và đại diện cho Nam Bộ trên tất cả các lĩnh vực. Cũng cần lưu ý rằng, trong một thời gian dài Sài Gòn là thủ phủ của chính quyền thực dân và thủ đô của chính quyền miền Nam trước năm 1975, từng là một trung tâm chính trị. Những yếu tố trên đây hợp thành và tạo nên một đô thị cổ Bến Nghé-Gia Định, một đô thị Sài Gòn-TP.HCM độc đáo khác với Hà Nội hay Huế – hai thành phố cũng là trung tâm của cả nước trong giai đoạn lịch sử khác .
3.
Thời hiện đại, quá trình dân cư của Sài Gòn cũng khác với nhiều đô thị khác: Thời kỳ chiến tranh Sài Gòn là nơi mà nhiều người từ các tỉnh miền Trung đổ vào, từ miền Tây Nam Bộ lên, nhất là khi chiến sự ác liệt. Sau năm 1975 Sài Gòn cũng là nơi có tình trạng thay thế dân cư lớn nhất và kéo dài cho đến nay: Người (thị dân) Sài Gòn ra đi bằng nhiều con đường, lúc ồ ạt khi chẳng mấy ồn ào; người các tỉnh lại liên tục đổ vào Sài Gòn tới nay chưa hề giảm bớt (khác với Hà Nội trong chiến tranh dân cư rời bỏ thành phố đi về tản cư, sơ tán nông thôn, sau chiến tranh mới trở lại thành phố).
Tuy nhiên Hà Nội và Sài Gòn cũng có một số điểm giống nhau: 1/ Sau khi chiến tranh chấm dứt khá nhiều người Hà Nội “gốc” và Sài Gòn “xịn” đã rời thành phố đi nơi khác sinh sống, tạo ra khoảng trống trong cơ cấu dân cư là tầng lớp thị dân lâu đời; 2/ Chính quyền thiết lập sau chiến tranh (Hà Nội năm 1954 và Sài Gòn năm 1975) đều do (hầu hết) những người (kháng chiến) ở nông thôn, rừng núi trở về lãnh đạo, một giai đoạn dài tổ chức chính quyền không kịp thích nghi với đô thị lớn nhất nước; và 3/ hiện nay hai thành phố này có số lượng người nhập cư nhiều nhất, phức tạp nhất.
Những đặc điểm này làm cho Hà Nội và Sài Gòn khó khăn trong việc xây dựng đô thị văn minh hiện đại. Đặc biệt, tình trạng đột biến dân cư nhanh, ồ ạt, sự đứt gãy ký ức cộng đồng của hai đô thị lớn nhất nước đã để lại nhiều ảnh hưởng tiêu cực trong việc gìn giữ lối sống đô thị, bảo vệ và bảo tồn di sản đô thị.
Nam Bộ được nhìn nhận có hai tiểu vùng trên cơ sở hai vùng địa hình: Đông Nam Bộ là lưu vực sông Đồng Nai và Tây Nam Bộ là lưu vực sông Cửu Long. Tuy nhiên, cộng đồng dân cư, kinh tế và văn hóa giữa hai tiểu vùng khá giống nhau. Đây là điều tương đối khác so với miền Trung và miền Bắc. Trên cơ sở đó, Sài Gòn-TP. Hồ Chí Minh được coi là và luôn là đại diện cho Nam Bộ. Chính vì vậy có thể coi những đặc trưng lịch sử-văn hóa của Sài Gòn-TP. Hồ Chí Minh cũng là những đặc trưng của nhiều đô thị ở Nam Bộ. Nguồn vốn di sản đô thị ở TP. Hồ Chí Minh có những loại hình và giá trị thế nào thì các đô thị Nam Bộ cũng có như vậy, tuy mức độ khác nhau.
Photo: Phạm Trần Hải
Ẩn bớt



TÔI KHÔNG NHẬN SỐ TIỀN NÀY!

 Mình vẫn luôn trân trọng và yêu quý chị Ý Nhi - một nhà thơ tài năng, một người có tâm trong sáng và hành xử nhân văn, một phụ nữ dịu dàng và cương nghị!

TÔI KHÔNG NHẬN SỐ TIỀN NÀY!
Y Nguyên (thực hiện)
Bài “Trại sáng tác – một tàn dư của thời bao cấp” đăng trên Thanh Niên ngày 31.12.2007 đã nhận được sự quan tâm của đông đảo nghệ sĩ. Nhà thơ Ý Nhi cũng cho biết bà đã từ chối nhận số tiền đầu tư 25 triệu đồng từ Hội Nhà văn Việt Nam.
* 𝑃ℎ𝑎̂̀𝑛 𝑙𝑜̛́𝑛 𝑣𝑎̆𝑛 𝑛𝑔ℎ𝑒̣̂ 𝑠𝑖̃ đ𝑒̂̀𝑢 𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔 𝑑𝑢̛ 𝑑𝑎̉ 𝑔𝑖̀. 𝑉𝑖̀ 𝑡ℎ𝑒̂́, tâm 𝑙𝑦́ 𝑐ℎ𝑢𝑛𝑔 𝑙𝑎̀ 𝑛𝑒̂́𝑢 đ𝑢̛𝑜̛̣𝑐 𝑁ℎ𝑎̀ 𝑛𝑢̛𝑜̛́𝑐 ℎ𝑜̂̃ 𝑡𝑟𝑜̛̣ 𝑐𝑢̃𝑛𝑔 𝑣𝑎̂̃𝑛 𝑡𝑜̂́𝑡 ℎ𝑜̛𝑛 𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔... 𝑇ℎ𝑒̂́ 𝑣𝑖̀ 𝑠𝑎𝑜 𝑏𝑎̀ 𝑡𝑢̛̀ 𝑐ℎ𝑜̂́𝑖?
– Thực ra tôi đã “đi chỗ khác chơi” – theo cách nói của nhà văn Trang Thế Hy – từ lâu rồi. Tôi rất ngạc nhiên khi nhận được điện thoại của một nhân viên Hội Nhà văn Việt Nam báo tin tôi được “đầu tư chiều sâu” 25 triệu đồng và xin địa chỉ để gửi tiền vào sáng 31.12.2007. Tôi trả lời là tôi rất cảm ơn nhưng xin không nhận tiền. Lý do đơn giản thôi. Cuối năm 1998, khi nhận thông báo đăng ký kế hoạch sáng tác để nhận trợ cấp, tôi đã viết thư cho nhà văn Ma Văn Kháng, Trưởng ban sáng tác của Hội: “Tôi nghĩ, mỗi nhà văn phải tự lo lấy đời sống cũng như công việc viết lách của mình. Tôi không nghĩ lao động nhà văn là cái gì đặc biệt đến độ chúng ta có quyền hưởng số tiền có được từ lao động của hàng triệu người khác, từ thuế của những người nông dân nghèo khó, những người buôn thúng bán bưng... Tôi không nhận số tiền này cũng như bất cứ số tiền nào đầu tư cho sáng tác”. Cuối năm 2000, một lần nữa tôi phải viết thư cho ông Nguyễn Trí Huân, Phó chủ tịch Hội đồng tài trợ sáng tác của Hội Nhà văn, để xin không nhận 3 triệu đồng.
* 𝑁ℎ𝑢̛𝑛𝑔 𝑐𝑜́ 𝑦́ 𝑘𝑖𝑒̂́𝑛 𝑐ℎ𝑜 𝑟𝑎̆̀𝑛𝑔 ℎ𝑜̂̃ 𝑡𝑟𝑜̛̣, đ𝑎̂̀𝑢 𝑡𝑢̛ 𝑐ℎ𝑜 𝑠𝑎́𝑛𝑔 𝑡𝑎́𝑐 𝑙𝑎̀ 𝑡ℎ𝑒̂̉ ℎ𝑖𝑒̣̂𝑛 𝑠𝑢̛̣ 𝑞𝑢𝑎𝑛 𝑡𝑎̂𝑚, 𝑐ℎ𝑎̆𝑚 𝑙𝑜 đ𝑒̂́𝑛 đ𝑜̛̀𝑖 𝑠𝑜̂́𝑛𝑔, 𝑡𝑎̂𝑚 𝑡𝑢̛, 𝑛𝑔𝑢𝑦𝑒̣̂𝑛 𝑣𝑜̣𝑛𝑔 𝑐𝑢̉𝑎 đ𝑜̂𝑛𝑔 đ𝑎̉𝑜 𝑣𝑎̆𝑛 𝑛𝑔ℎ𝑒̣̂ 𝑠𝑖̃, 𝑐𝑢̃𝑛𝑔 𝑙𝑎̀ 𝑚𝑜̣̂𝑡 𝑐𝑎́𝑐ℎ đ𝑒̂̀ 𝑐𝑎𝑜 𝑣𝑎̆𝑛 ℎ𝑜́𝑎 “𝑛𝑒̂̀𝑛 𝑡𝑎̉𝑛𝑔 𝑐𝑢̉𝑎 đ𝑜̛̀𝑖 𝑠𝑜̂́𝑛𝑔 𝑡𝑖𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑎̂̀𝑛”?
– Tôi không hiểu rõ lắm việc đầu tư bảo trợ này. Tôi chỉ hành xử theo nhận thức của riêng tôi mà thôi.
* 𝑁𝑒̂́𝑢 𝑏𝑎̀ 𝑐𝑜́ 𝑚𝑜̣̂𝑡 𝑏𝑎̉𝑛 𝑡ℎ𝑎̉𝑜 𝑡𝑜̂́𝑡, 𝑣𝑎̀ 𝑏𝑎̀ 𝑚𝑢𝑜̂́𝑛 𝑐𝑜̂𝑛𝑔 𝑏𝑜̂́, 𝑛ℎ𝑢̛𝑛𝑔 𝑙𝑎̣𝑖 𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔 𝑐𝑜́ 𝑡𝑖𝑒̂̀𝑛 đ𝑒̂̉ 𝑥𝑢𝑎̂́𝑡 𝑏𝑎̉𝑛 𝑣𝑎̀ 𝑐𝑢̃𝑛𝑔 𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑛 đ𝑢̛𝑜̛̣𝑐 𝑏𝑎̂́𝑡 𝑐𝑢̛́ 𝑠𝑢̛̣ 𝑡𝑟𝑜̛̣ 𝑔𝑖𝑢́𝑝 𝑛𝑎̀𝑜 𝑡ℎ𝑖̀ 𝑏𝑎̀ 𝑐𝑜́ 𝑐𝑎̂̀𝑛 đ𝑒̂́𝑛 𝑠𝑢̛̣ ℎ𝑜̂̃ 𝑡𝑟𝑜̛̣ 𝑐𝑢̉𝑎 𝑁ℎ𝑎̀ 𝑛𝑢̛𝑜̛́𝑐?
– Hiện tôi có một bản thảo đã được phép của Nhà xuất bản Văn Nghệ TP.HCM. Tôi đang nhờ họa sĩ trình bày và sẽ tự lo việc in ấn. Sách in xong, tôi sẽ tìm cách phát hành. Tôi phải dè xẻn chi tiêu để in sách.
* 𝑇𝑢̛́𝑐 𝑙𝑎̀ 𝑏𝑎̀ 𝑐ℎ𝑜 𝑟𝑎̆̀𝑛𝑔 “𝑛ℎ𝑎̀ 𝑣𝑎̆𝑛 𝑐𝑎̂̀𝑚 𝑡𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑐𝑢̉𝑎 𝑁ℎ𝑎̀ 𝑛𝑢̛𝑜̛́𝑐 𝑙𝑎̀ 𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔 𝑙𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑖𝑒̣̂𝑛” – 𝑛ℎ𝑢̛ 𝑐𝑎́𝑐ℎ 𝑛𝑜́𝑖 𝑐𝑢̉𝑎 𝑛ℎ𝑎̀ 𝑣𝑎̆𝑛 𝑁𝑔𝑢𝑦𝑒̂𝑛 𝑁𝑔𝑜̣𝑐?
– Tôi vẫn kiên trì với quan niệm Hội Nhà văn cần được tổ chức như một hội nghề nghiệp thực sự. Các nhà văn phải tự nuôi sống mình, tự bảo vệ thành quả lao động của mình.
* 𝐿𝑎̂𝑢 𝑛𝑎𝑦 𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔 𝑖́𝑡 𝑣𝑎̆𝑛 𝑛𝑔ℎ𝑒̣̂ 𝑠𝑖̃, 𝑘𝑒̂̉ 𝑐𝑎̉ 𝑛ℎ𝑢̛̃𝑛𝑔 𝑏𝑎̣̂𝑐 “𝑙𝑎̃𝑜 𝑙𝑎̀𝑛𝑔” 𝑣𝑎̂̃𝑛 𝑡ℎ𝑎𝑛 𝑟𝑎̆̀𝑛𝑔: 𝑡ạ𝑖 𝑘𝑖𝑛ℎ 𝑝ℎ𝑖́ 𝑒𝑜 ℎ𝑒̣𝑝 𝑚𝑎̀ 𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔 𝑠𝑎́𝑛𝑔 𝑡𝑎̣𝑜 “𝑟𝑎 𝑡𝑎̂́𝑚 𝑟𝑎 𝑚𝑜́𝑛” đ𝑢̛𝑜̛̣𝑐...
– Ai cũng biết, kinh phí là phần không thể thiếu cho việc làm tác phẩm, đặc biệt là các tác phẩm điện ảnh, sân khấu. Nhưng nếu tác phẩm yếu kém thì nguyên nhân đầu tiên không phải do thiếu tiền. Ở các liên hoan điện ảnh lớn, nhiều tác phẩm độc lập tốn rất ít tiền mà vẫn có giá trị, vẫn đạt giải cao. Ở ta, tôi đọc báo, thấy có những tác phẩm điện ảnh được chi nhiều tiền lắm, nghe đâu tới hàng chục tỉ nhưng chất lượng kém. Cảm giác của tôi khi đọc những thông tin này là rất xấu hổ. Riêng phần mình, tôi thấy làm thơ là công việc rất ít tốn kém.
* 𝐶𝑜́ 𝑚𝑜̣̂𝑡 𝑙𝑎̣̂𝑝 𝑙𝑢𝑎̣̂𝑛 𝑝ℎ𝑜̂̉ 𝑏𝑖𝑒̂́𝑛: 𝑣𝑎̆𝑛 ℎ𝑜̣𝑐 𝑛𝑔ℎ𝑒̣̂ 𝑡ℎ𝑢𝑎̣̂𝑡 𝑙𝑎̀ 𝑙𝑜𝑎̣𝑖 ℎ𝑎̀𝑛𝑔 ℎ𝑜́𝑎 đ𝑎̣̆𝑐 𝑏𝑖𝑒̣̂𝑡, 𝑐ℎ𝑢̛́ 𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔 𝑝ℎ𝑎̉𝑖 ℎ𝑎̀𝑛𝑔 ℎ𝑜́𝑎 𝑡ℎ𝑢𝑎̂̀𝑛 𝑡𝑢́𝑦. 𝑉𝑖̀ 𝑡ℎ𝑒̂́, 𝑛𝑒̂́𝑢 “𝑡ℎ𝑎̉ 𝑛𝑜̂̉𝑖” 𝑚𝑎̣̆𝑡 ℎ𝑎̀𝑛𝑔 𝑛𝑎̀𝑦 𝑡ℎ𝑖̀ 𝑠𝑒̃ 𝑘ℎ𝑜́ 𝑡𝑟𝑎́𝑛ℎ 𝑘ℎ𝑜̉𝑖 𝑥𝑢 ℎ𝑢̛𝑜̛́𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑚𝑎̣𝑖 ℎ𝑜́𝑎, 𝑐ℎ𝑎̣𝑦 𝑡ℎ𝑒𝑜 𝑡ℎ𝑖̣ ℎ𝑖𝑒̂́𝑢 𝑑𝑒̂̃ 𝑑𝑎̃𝑖. 𝐷𝑜 𝑣𝑎̣̂𝑦, 𝑁ℎ𝑎̀ 𝑛𝑢̛𝑜̛́𝑐 𝑐𝑎̂̀𝑛 𝑝ℎ𝑎̉𝑖 𝑙𝑎̀ 𝑛ℎ𝑢̛̃𝑛𝑔 “𝑚𝑎̣𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢̛𝑜̛̀𝑛𝑔 𝑞𝑢𝑎̂𝑛”. 𝐾ℎ𝑜̂𝑛𝑔 𝑟𝑖𝑒̂𝑛𝑔 𝑉𝑖𝑒̣̂𝑡 𝑁𝑎𝑚 𝑚𝑎̀ 𝑡𝑟𝑒̂𝑛 𝑡ℎ𝑒̂́ 𝑔𝑖𝑜̛́𝑖, 𝑐𝑜́ 𝑚𝑜̣̂𝑡 𝑠𝑜̂́ 𝑙𝑜𝑎̣𝑖 ℎ𝑖̀𝑛ℎ 𝑛𝑔ℎ𝑒̣̂ 𝑡ℎ𝑢𝑎̣̂𝑡 𝑣𝑎̂̃𝑛 đ𝑢̛𝑜̛̣𝑐 𝑁ℎ𝑎̀ 𝑛𝑢̛𝑜̛́𝑐 𝑏𝑎̉𝑜 𝑡𝑟𝑜̛̣. 𝐵𝑎̀ 𝑛𝑔ℎ𝑖̃ 𝑠𝑎𝑜?
– Vậy thì tiền đâu mà lo cho xuể? Tôi được biết ở các nước, ngay cả ở những nước giàu, nhà nước cũng chỉ có thể đầu tư để bảo vệ một số công trình nghệ thuật, một số loại hình nghệ thuật cổ điển, có giá trị đặc biệt thôi. Tôi đọc ở đâu đó thấy nghệ thuật Kabuki của Nhật Bản được đầu tư rất lớn để bảo vệ, phát triển nó và giáo dục cho người Nhật hiện đại biết thưởng thức nó. Số người đi xem loại hình nghệ thuật này ngày một nhiều. Ở ta, nghệ thuật Hát bội cũng cần được đầu tư như vậy. Cùng với nó là Chèo, là Cồng chiêng, là Quan họ. Còn chuyện tác phẩm văn học - nghệ thuật khi đã là hàng hóa, thì là hàng hóa đặc biệt, nó cũng phải theo quy luật cung - cầu. Vấn đề ở chỗ phải nâng cao trình độ người đọc để họ biết lựa chọn hàng có chất lượng.
* 𝑁ℎ𝑢̛𝑛𝑔 𝑑𝑢̛ 𝑙𝑢𝑎̣̂𝑛 𝑡ℎ𝑖̀ d𝑢̛𝑜̛̀𝑛𝑔 𝑛ℎ𝑢̛ 𝑞𝑢𝑎́ 𝑛𝑜́𝑛𝑔 𝑙𝑜̀𝑛𝑔, 𝑞𝑢𝑎́ 𝑠𝑜̂́𝑡 𝑟𝑢𝑜̣̂𝑡 𝑚𝑜𝑛𝑔 đ𝑜̛̣𝑖 𝑛ℎ𝑢̛̃𝑛𝑔 “𝑡𝑎́𝑐 𝑝ℎ𝑎̂̉𝑚 đ𝑖̉𝑛ℎ 𝑐𝑎𝑜”...
– Sốt ruột, nóng lòng cũng không được. Chúng ta chưa có nhà văn lớn vào lúc này. Phải chờ thôi. Tôi tin một ngày nào đó, văn học Việt Nam sẽ có tác phẩm xứng tầm như người ta thường nói. Mà chắc, ông (hay bà) nhà văn này không cần “đầu tư chiều sâu” gì đâu.
* 𝑇ℎ𝑒𝑜 𝑏𝑎̀, ℎ𝑖̀𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢̛́𝑐 đ𝑎̂̀𝑢 𝑡𝑢̛ ℎ𝑜̂̃ 𝑡𝑟𝑜̛̣ (𝑛𝑒̂́𝑢 𝑐𝑜́) 𝑡ℎ𝑖̀ 𝑛𝑒̂𝑛 𝑡ℎ𝑒𝑜 𝑝ℎ𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑢̛́𝑐 𝑛𝑎̀𝑜 đ𝑒̂̉ 𝑐𝑜́ ℎ𝑖𝑒̣̂𝑢 𝑞𝑢𝑎̉ 𝑐ℎ𝑜 𝑡𝑎́𝑐 𝑔𝑖𝑎̉?
– Đây là việc của các nhà quản lý, tôi không dám lạm bàn. Tôi chỉ nghĩ đơn giản là nếu có nhà văn gặp khó khăn về kinh tế hay đau ốm nặng, nên tài trợ như tài trợ cho một công dân. Còn tác phẩm thì họ sẽ tự lo.
Y.N
(Copy từ FB Nguyen Hong Anh)
Ẩn bớt


P/S. Có một lần mình được dự một cuộc hội thảo của giới Văn nghệ sĩ tại TPHCM. Trong cuộc đó có nhiều tham luận xoay quanh vấn đề "làm sao để có tác phẩm đỉnh cao?". Mình nhớ nhất hai ý kiến sau:
- Các thế hệ nhà văn chống Pháp đã mất gần hết, thế hệ nhà văn chống Mỹ cũng đang mất dần... Vì vậy cần đầu tư nhanh, đầu tư gấp để các nhà văn có thể sáng tác ra tác phẩm đĩnh cao.
- Nhà nước cần đầu tư ít nhất 3 tỷ đồng cho mỗi tác phẩm, như vậy mới có thể có tác phẩm đỉnh cao!
Chả hiểu sao lại có con số 3 tỷ này? A hình như đó là số kinh phí hàng năm cho hoạt động của Hội? Mình thì thầm với Nguyễn Lam Điền (cùng dự họp): này, sao không nói đến các nhà văn chống Tàu, chống Polpot nhỉ? Mà chị thấy nếu có 3 tỷ thì sẽ là thế hệ các nhà văn chống nhau đấy


“HOA SỮA THÔI RƠI...”

 Repost, nhân việc nhiều tuyến đường trồng cây hoa sữa dày đặc gây ra những phản ứng của cư dân.


Từ bao giờ hoa sữa đã trở thành một biểu tượng của Hà Nội - nhất là đối với những người đi xa? Tôi không biết chính xác nhưng tôi nhớ Hà Nội bắt đầu từ một tối mùa thu 1975 chia tay bạn bè trong hương hoa sữa, tôi bắt gặp nỗi nhớ ấy trong bài hát “Hoa Sữa” của Hồng Đăng, và sau đó da diết hơn theo từng câu hát “Em ơi Hà Nội phố… ta còn em mùi hoa sữa” (thơ Phan Vũ), và “hoa sữa thôi rơi em bên tôi một chiều tan lớp...” (nhạc Trương Quý Hải).

Có mặt ở Hà Nội từ thời Pháp nhưng chưa thấy trong biệt thự nào trồng hoa sữa, chỉ có hoàng lan hoặc vài cây nhỏ. Cây hoa sữa được trồng ở vài tuyến phố thuộc khu phố Tây đường lớn vỉa hè rộng rãi chứ phải ở khu phố cổ đường nhỏ vỉa hè cũng nhỏ. Hàng cây cao lớn, lá xanh mướt quanh năm, trồng cách nhau đến hơn mươi mét mà vòm lá vẫn rợp vào nhau. Đây là loại cây xanh phù hợp với đô thị vì là cây lâu năm, thân gỗ, có tán rộng làm bóng mát. Nhưng có lẽ vì “đặc tính” của hương hoa nên người Pháp trồng hoa sữa không dày, phố chỉ có vài cây vừa đủ mùi hương thoang thoảng.

Khi còn ở Hà Nội nhà tôi trên phố Ngô Thời Nhiệm, một quãng phố này và phố Lò Đức gần đó có hàng cây hoa sữa. Vào những ngày cuối thu đầu đông, chiều tối Hà Nội lãng đãng hơi sương, từng chùm hoa trắng sữa tỏa hương đậm đặc đến mức… nhức đầu. Thỉnh thoảng một làn gió thoáng qua là mùi hương lan xa và dịu hẳn. Quãng đường Nguyễn Du ven hồ Thiền Quang cũng vậy, những ngôi biệt thự “kín cổng cao tường” thời Pháp quanh đó như gần gũi và thân thiện hơn với người trong phố khi cùng được đắm mình trong hương hoa sữa…  

Trong không gian giới hạn của một đô thị, với “tuổi đời” gần cùng với tuổi của đô thị Hà Nội kiểu Pháp, những cây hoa sữa trở nên quen thuộc với nhiều người Hà Nội thời kỳ 1950-1960, và “hương hoa sữa” trở thành ký ức chung của những chàng trai, cô gái Hà Nội thập niên 1970-1980 và về sau. Ngay cả những người sống ở Hà Nội từng “khổ sở” vì mùi hương nồng nàn của nó thì khi đi xa, “hoa sữa” đã là một từ khóa (keyword) để mở ra “kho kỷ niệm” về Hà Nội.
***
Phải chăng từ vẻ đẹp quyến rũ của những lời hát về hoa sữa (và cả từ nỗi nhớ của những người Hà Nội đi xa?), khoảng những năm 1990 một số đô thị bắt đầu trồng hoa sữa trên đường phố chính. Hàng hoa sữa mới trồng chỉ cao hơn đầu người, cành còn khẳng khiu đã bắt đầu bung những chùm hoa tỏa hương đậm đặc. Nhưng không như mong đợi, nhiều người bất ngờ vì mùi hương của nó... Chỉ sau vài mùa hoa nhiều nơi đã phải chặt đi trồng cây khác vì không phù hợp với sức khỏe người dân.

Rồi Hà Nội lại trồng hoa sữa trên một số đường mới như Trần Duy Hưng, Nguyễn Chí Thanh... Cũng như nơi khác, vài năm nay với mật độ cây trồng cao trong điều kiện khí hậu thay đổi, cây chưa kịp lớn nhưng hoa sữa đã nở sớm hơn ngay trong những ngày hè... Trước đây vào cuối thu trong tiết trời se lạnh hương hoa sữa nồng nàn như mang chút hơi ấm cho người đi ngoài phố, thì nay trong cái nắng oi mùa hạ người ta khó có thể “lãng mạn” với mùi hương đặc biệt này. Hệ quả tất yếu là hàng cây hoa sữa trên những con đường mới chưa kịp trở thành “ký ức” đã bị chặt bỏ di dời, đành ngậm ngùi chia tay với phố.

Hà Nội có hương hoa sữa trên đường Nguyễn Du, có mùa lá sấu rụng vàng trên phố Phan Đình Phùng... nhưng trước khi hương sắc ấy trở thành ký ức thì Hà Nội đã có hàng cây cổ thụ trăm năm, hàng cây là bóng mát mùa hè đổ lửa, là “nhân chứng” của bao đời người. Việc trồng cây lâu năm ở đô thị là một khoa học vì nó bảo vệ môi trường và sự cộng cảm giữa con người với thiên nhiên. Không thể cứ tùy tiện trồng cây rồi chặt bỏ hay di dời, làm tốn kém nguồn vốn xã hội, gây ra tâm lý bất an và cảm giác không thân thiện trong đời sống đô thị.

Hàng cây luôn gắn bó với những con đường những ngôi nhà, với người thành phố.  Cảnh quan đô thị không thể thiếu những hàng cây cao vút toả bóng mát tạo khoảng xanh bình yên… Mỗi thành phố, vô tình hay hữu ý, có loại cây đặc trưng riêng, như Hải Phòng “thành phố hoa phượng đỏ”, Hà Nội “mùa hoa sữa” và bây giờ là “mùa hoa tím bằng lăng”, Sài Gòn “cánh hoa dầu xoay tít bay bay” “hàng lá me bay”, giờ là mùa hoa bò cạp vàng hay hoa kèn hồng… Trải qua thời gian, đô thị phát triển, loài cây “đặc trưng” sẽ trở thành “thương hiệu” của thành phố ấy.

Sài Gòn 19.7.2019
Nguyễn Thị Hậu





DI SẢN CHIẾN TRANH LÀ CỦA AI (HAY LÀ VIỆC NHÌN LẠI LỊCH SỬ)


Bộ phim “Battle of little bighorn” chiếu trên kênh National Geographic kể về việc tìm hiểu một sự kiện lịch sử nước Mỹ, từ những gì có trong bảo tàng và cả những gì đang lưu giữ ngoài bảo tàng: ký ức, lễ hội phục dựng sự kiện, về cá nhân những người lãnh đạo sự kiện ấy và hậu duệ của họ, những nguyên nhân sâu xa, những sự việc tưởng không liên quan trực tiếp đến sự kiện.
1.
Trận chiến Little Bighorn là một cuộc giao tranh vũ trang giữa các lực lượng phối hợp của người Lakota Sioux và các bộ lạc Arapaho và Trung đoàn Kỵ binh số 7 của Quân đội Hoa Kỳ. Trận chiến dẫn đến sự thất bại của lực lượng Hoa Kỳ, diễn ra vào ngày 25–26 tháng 6 năm 1876, dọc theo Sông Little Bighorntrong Khu dành riêng cho người da đỏ Crow ở đông nam Lãnh thổ Montana. Cuộc chiến là một chiến thắng áp đảo cho Lakota, Bắc Cheyenne và Arapaho, do một số Thủ lĩnh như Crazy Horse và Chief Gall lãnh đạo. Kỵ binh số 7 của Hoa Kỳ, một lực lượng gồm 700 người, do George Armstrong Custer chỉ huy đã thất bại nặng nề và Custer bị giết.
Trong những thập kỷ sau đó, Custer và quân đội của ông luôn được coi là những nhân vật anh hùng trong lịch sử Hoa Kỳ. Đài tưởng niệm Quốc gia Chiến trường Little Bighorn vinh danh những người đã chiến đấu ở cả hai phía. Tuy nhiên cho đến ngày nay trận chiến này và đặc biệt là hành động của Custer, vẫn được các nhà sử học nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân thất bại của quân đội Hoa Kỳ dưới sự chỉ huy của vị chỉ huy “chưa từng thua trận” George Armstrong Custer. Những gì được ghi chép, được trở thành “truyền thuyết”, kể cả những gì hiện diện trong bảo tàng, ở nơi tưởng niệm… liệu có phải là sự thật? hay sự thật là bao nhiêu phần trăm từ những gì hiện nay người ta biết về trận chiến này?
2.
Đầu tiên “nhà sử học” - cũng là “người dẫn chuyện” - đi theo những ghi chép lịch sử như đã nêu vắn tắt ở trên. Không thỏa mãn vì không tìm ra nguyên nhân giải thích một cách hợp lý thất bại to lớn và “kỳ lạ” của quân đội Hoa kỳ, nhà sử học tìm hiểu/tiếp cận từ những hướng khác. Đầu tiên ông đến di tích “chiến trường” xưa. Nơi này được bảo tồn nguyên vẹn cảnh quan, trở thành một địa điểm kỷ niệm với tượng đài và lễ hội liên quan, thu hút rất đông khách tham quan hàng năm. Vào ngày kỷ niệm trận chiến diễn ra nhà sử học đã tham gia vào Lễ hội phục dựng lại trận chiến ngay tại đây. Đây là lễ hội được cộng đồng cư dân địa phương sáng tạo và duy trì từ rất lâu, xuất phát từ lòng ngưỡng mộ vị chỉ huy tài danh George Armstrong Custer.
Tại lễ hội, người ta sử dụng quân trang quân dụng được phục chế đúng như hiện vật trong bảo tàng, phục dựng một phần trình chuẩn bị cho trận chiến để làm tăng “cảm thức xác thực” của người tham gia và tham dự sự kiện. Từ phía đội quân người Crow, cũng theo lễ hội được phục dựng, họ tổ chức một truyền thống nghi lễ lâu đời được gọi là Vũ điệu Mặt trời là sự kiện tôn giáo quan trọng nhất trong năm nhằm tiếp nhận những gì Thần linh báo trước.
Tiếp đến, nhà sử học tìm hiểu về bản thân George Armstrong Custer từ những gì lưu trữ trong bảo tàng. Ông nhận thấy đó là một có tính cách mạnh mẽ, vị chỉ huy quân đội tài giỏi, quyết đoán, nhưng cũng kiêu ngạo và coi thường ý kiến của người khác. Rồi nhà sử học tìm hiểu về Thủ lĩnh của người Crow qua hậu duệ của ông, tìm hiểu về những gì diễn ra trong khu làng ấy khi trận chiến diễn ra và sau đó nữa.
Từ tất cả những hướng tiếp cận đó, nhà sử học tìm ra nguyên nhân thật sự của cuộc tấn công, lý giải nguyên nhân thất bại thảm hại của quân đội Custer, lý giải tâm lý tôn sùng ông từ đó đến mãi về sau, tìm hiểu cả việc cộng đồng người Crow sau đó tan rã nhanh chóng thế nào… Sự thật được “phục dựng” từ nhiều góc độ, chân dung các nhân vật lịch sử góp phần làm sáng tỏ các hành động, hành vi của họ đã tác động và dẫn đến kết quả cuộc chiến.
Mỏ vàng lớn và vùng đất giàu tài nguyên của cộng đồng người bản địa là cái đích mà quân đội Hoa kỳ lúc đó nhắm đến. Sự kháng cự của cộng đồng bản địa làm tăng quyết tâm tiêu diệt toàn bộ “làng Crow” của Custer làm ông bỏ qua những tin tức bất lợi từ trinh sát hay khuyến cáo chờ quân tiếp viện của một số sĩ quan dưới quyền. Về phía cộng đồng bản địa, do luôn cảnh giác và được rèn luyện thường xuyên nên họ không bị bất ngờ trước cuộc tấn công, đồng thời họ cũng có quyết tâm giữ lại đất đai ngàn đời của mình. Tuy nhiên họ đã giết hết đối thủ và cướp đi rất nhiều chiến lợi phẩm, điều đó làm “trái lời thần linh” nên dẫn đến hậu quả là không lâu sau đó, hầu hết người bản địa đã bị đưa vào những “khu bảo tồn người da đỏ” và mất hết đất đai.
Tìm ra nguyên nhân hay lý giải một sự kiện lịch sử chưa đủ, mà còn cần nhận biết “di sản” nó để lại. Như nhà sử học kết thúc bộ phim của mình: đó là “sự va chạm của hai nền văn hóa” và kết quả là “một bên thua trận và bên còn lại mất hết”.
3.
Tham khảo thêm từ Vikipedia: Địa điểm diễn ra trận chiến lần đầu tiên được bảo tồn như một nghĩa trang quốc gia của Hoa Kỳ vào năm 1879 để bảo vệ các ngôi mộ của những người lính Kỵ binh số 7. Năm 1946, nó được chỉ định lại là Đài tưởng niệm Quốc gia Chiến trường Custer, phản ánh sự tôn sùng Custer. Từ đầu những năm 1970, Công viên Quốc gia này lo ngại về cái tên Đài tưởng niệm Quốc gia Chiến trường Custer không phản ánh đầy đủ lịch sử lớn hơn của trận chiến giữa hai nền văn hóa. Các phiên điều trần về việc đổi tên được tổ chức tại Billings vào ngày 10 tháng 6 năm 1991 và trong những tháng tiếp theo, Quốc hội đã đổi tên địa điểm này thành Đài tưởng niệm Quốc gia Chiến trường Little Bighorn.
Gần 100 năm sau, ý tưởng về ý nghĩa của trận chiến đã trở nên bao quát hơn. Chính phủ Hoa Kỳ thừa nhận rằng sự hy sinh của người Mỹ bản địa cũng xứng đáng được công nhận tại địa điểm này. Dự luật năm 1991 đổi tên đài tưởng niệm quốc gia cũng cho phép xây dựng Đài tưởng niệm người da đỏ gần Đồi Last Stand để vinh danh các chiến binh Lakota và Cheyenne. Vào Ngày Tưởng niệm năm 1999, sau khi tham khảo ý kiến ​​của các đại diện bộ lạc, Hoa Kỳ đã bổ sung hai điểm đánh dấu bằng đá granit đỏ trên chiến trường để ghi nhận nơi các chiến binh người Mỹ bản địa ngã xuống.
4.
Sự hành xử của chính quyền/nhà nước/cộng đồng người mới đến một vùng, khu vực, lãnh thổ, nơi đã có những cộng đồng bản địa cư trú lâu đời, có truyền thống lịch sử và văn hóa khác biệt… luôn để lại những bài học đắt giá! Lịch sử là những sự kiện đã diễn ra nhưng bài học của nó không bao giờ là “quá khứ”. Không thể “làm lại lịch sử” nhưng có thể nhận thức và ứng xử với quá khứ một cách khách quan, bằng cách tìm hiểu, lý giải, trưng bày, phục dựng, kỷ niệm sự kiện, lưu giữ ký ức… không định kiến dân tộc đa số/thiểu số, không mặc cảm bên thắng cuộc/ bên thua cuộc, công bằng và nhân văn thì sẽ hòa giải, hòa hợp và thật sự đoàn kết!



ĐỪNG ĐỂ KHẢO CỔ MINH HỌA CHO LỊCH SỬ

Một cuộc trò chuyện rất dài quanh nghề khảo cổ và vài lĩnh vực liên quan. Như mình Com trong FB chủ podcast để giải thích vì sao không nói đến những chuyện xâm hại môi trường gần đây mà người phỏng vấn rất muốn đưa ra: Cô Hậu không nói nhiều đến những vấn đề bức xúc hiện tại như chủ Podcart định đặt ra, là vì 1/đấy không phải là chuyên môn KCH mà cô Hậu muốn giới thiệu ở Ba Chấm. 2/Cô Hậu vẫn nói về những bức xúc nhưng bằng kiểu của cô chứ không bằng giọng của người khác. Ok? 🙂
Các bạn có thời gian rảnh mời nghe và chia sẻ nhé.

----- Từ Nam LB

 Việt Nam đang bước vào giai đoạn tái thiết thần tốc với hàng loạt dự án được tiến hành.

Song song quá trình đó, nhiều người cũng tự đặt câu hỏi liệu bên cạnh sự phát triển về cơ sở hạ tầng, chính phủ và nhà nước sẽ làm thế nào để bảo tồn di sản đô thị? Đây dường như không còn chỉ là bài toán cần lời giải, nó là một cuộc cách mạng mà kết quả sau đó sẽ không thể vãn hồi.
Cuộc trò chuyện với TS Nguyễn Thị Hậu, chuyên gia trong lĩnh vực khảo cổ sẽ đưa chúng ta khám phá những di sản từ quá khứ cho đến hiện tại. Đó là những thành tựu được gây dựng từ thời ông cha và cách hậu thế đối xử với chúng trong thời kỳ này. Cùng với đó là trăn trở của một người truyền dạy kiến thức khảo cổ, lịch sử rất đỗi chân thật.
Với Ba Chấm, tập Podcast này mở đường cho sự ra đời của những nội dung tri thức ít được tìm hiểu tại Việt Nam. Với tôi, bản thân đã vô cùng sung sướng khi có cơ hội được tiếp nhận nguồn tri thức tuyệt vời này.
Cảm ơn TS Nguyễn Thị Hậu đã cởi mở để chia sẻ sự hiểu biết của mình đến với xã hội và nhân loại.
Cảm ơn các thính giả của Ba Chấm vẫn luôn ủng hộ và dõi theo trong suốt những năm qua. Biết ơn các bạn thật nhiều! ❤

PHÍA ĐÔNG VƯỜN ĐỊA ĐÀNG

Hiếm khi có thời gian xem cả seri phim chỉ trong vài ngày, nhưng phim Phía Đông vườn địa đàng là một ngoại lệ. Không chỉ vì những bài viết rất thấu đáo về phim này của Le Hong Lam, không chỉ vì đã nhiều lần đọc cuốn tiểu thuyết này ở những lần xuất bản khác nhau, mà chính vì sức hấp dẫn của bộ phim "dựng lại"này.
Le Hong Lam đã phân tích rất hay rồi (như bài dưới đây), mình chỉ muốn nói thêm, đây là bộ phim mà khi xem nhiều lúc mình phải dừng lại, vì chịu không nổi sự tàn nhẫn/ác độc và cũng chịu không nổi lòng tốt mù quáng đến ngu dại! Trong các nhân vật mình có cảm tình/thương nhất với cậu anh Karl - người bị đẩy đến những hành vi "ác" vì chính sự thiên lệch của cả bố và mẹ cậu, ngay cả người em cậu yêu thương đến thế cũng không hiểu và coi thường cậu. Nhưng điều đó không làm cậu mất đi lòng nhân ái và yêu thương bẩm sinh. Nhất là đoạn cuối, khi người cha mở di chúc của mẹ mà trong đó chỉ đề "cho con trai tôi - Iron", cảm xúc trong mình bùng nổ, vì sự bất công ác độc của Kathy đối với Karl cũng là con của mình. Hay chính vì Karl "giống" cô nên cô yêu Iron hơn - một bản sao dù mờ nhạt của Adam - người mà cô đã làm tổn thương sâu sắc, và bằng cách đề lại tài sản cho Iron cô muốn xin lỗi Adam? Mà ko biết cô ta còn chút lương tâm nào để có thể làm điều đó?
Một gia đình không hề nghèo khó, thậm chí đời sống dư dả, nhưng họ quẩn quanh yêu ghét thù hằn trong mối quan hệ ruột thịt do đối xử và dạy dỗ mang nhiều định kiến của người cha. Người mẹ trong phim vắng bóng, chỉ còn một người đàn bà "bị làm mẹ" hiện diện trong phim. Nhưng có thể nhìn thấy hình bóng một người mẹ khác trong tương lai: nhân ái, dũng cảm và thấu hiểu hơn, trong cô bé người yêu của Iron và sau là của Karl.
Kết phim cho thấy, rốt cuộc, con người có thể thay đổi định mệnh hay không chính từ sự biết nhìn thấy và dám nhận trách nhiệm của bản thân.



BẢN SẮC SÀI GÒN TRONG BỐI CẢNH NAM BỘ. (trích)

1. Trong quan niệm và ngôn ngữ của người dân đồng bằng sông Cửu Long, “thành phố” gần như là một danh từ riêng để chỉ Sài Gòn, dù miền Tây c...