TÔI KHÔNG NHẬN SỐ TIỀN NÀY!

 Mình vẫn luôn trân trọng và yêu quý chị Ý Nhi - một nhà thơ tài năng, một người có tâm trong sáng và hành xử nhân văn, một phụ nữ dịu dàng và cương nghị!

TÔI KHÔNG NHẬN SỐ TIỀN NÀY!
Y Nguyên (thực hiện)
Bài “Trại sáng tác – một tàn dư của thời bao cấp” đăng trên Thanh Niên ngày 31.12.2007 đã nhận được sự quan tâm của đông đảo nghệ sĩ. Nhà thơ Ý Nhi cũng cho biết bà đã từ chối nhận số tiền đầu tư 25 triệu đồng từ Hội Nhà văn Việt Nam.
* 𝑃ℎ𝑎̂̀𝑛 𝑙𝑜̛́𝑛 𝑣𝑎̆𝑛 𝑛𝑔ℎ𝑒̣̂ 𝑠𝑖̃ đ𝑒̂̀𝑢 𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔 𝑑𝑢̛ 𝑑𝑎̉ 𝑔𝑖̀. 𝑉𝑖̀ 𝑡ℎ𝑒̂́, tâm 𝑙𝑦́ 𝑐ℎ𝑢𝑛𝑔 𝑙𝑎̀ 𝑛𝑒̂́𝑢 đ𝑢̛𝑜̛̣𝑐 𝑁ℎ𝑎̀ 𝑛𝑢̛𝑜̛́𝑐 ℎ𝑜̂̃ 𝑡𝑟𝑜̛̣ 𝑐𝑢̃𝑛𝑔 𝑣𝑎̂̃𝑛 𝑡𝑜̂́𝑡 ℎ𝑜̛𝑛 𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔... 𝑇ℎ𝑒̂́ 𝑣𝑖̀ 𝑠𝑎𝑜 𝑏𝑎̀ 𝑡𝑢̛̀ 𝑐ℎ𝑜̂́𝑖?
– Thực ra tôi đã “đi chỗ khác chơi” – theo cách nói của nhà văn Trang Thế Hy – từ lâu rồi. Tôi rất ngạc nhiên khi nhận được điện thoại của một nhân viên Hội Nhà văn Việt Nam báo tin tôi được “đầu tư chiều sâu” 25 triệu đồng và xin địa chỉ để gửi tiền vào sáng 31.12.2007. Tôi trả lời là tôi rất cảm ơn nhưng xin không nhận tiền. Lý do đơn giản thôi. Cuối năm 1998, khi nhận thông báo đăng ký kế hoạch sáng tác để nhận trợ cấp, tôi đã viết thư cho nhà văn Ma Văn Kháng, Trưởng ban sáng tác của Hội: “Tôi nghĩ, mỗi nhà văn phải tự lo lấy đời sống cũng như công việc viết lách của mình. Tôi không nghĩ lao động nhà văn là cái gì đặc biệt đến độ chúng ta có quyền hưởng số tiền có được từ lao động của hàng triệu người khác, từ thuế của những người nông dân nghèo khó, những người buôn thúng bán bưng... Tôi không nhận số tiền này cũng như bất cứ số tiền nào đầu tư cho sáng tác”. Cuối năm 2000, một lần nữa tôi phải viết thư cho ông Nguyễn Trí Huân, Phó chủ tịch Hội đồng tài trợ sáng tác của Hội Nhà văn, để xin không nhận 3 triệu đồng.
* 𝑁ℎ𝑢̛𝑛𝑔 𝑐𝑜́ 𝑦́ 𝑘𝑖𝑒̂́𝑛 𝑐ℎ𝑜 𝑟𝑎̆̀𝑛𝑔 ℎ𝑜̂̃ 𝑡𝑟𝑜̛̣, đ𝑎̂̀𝑢 𝑡𝑢̛ 𝑐ℎ𝑜 𝑠𝑎́𝑛𝑔 𝑡𝑎́𝑐 𝑙𝑎̀ 𝑡ℎ𝑒̂̉ ℎ𝑖𝑒̣̂𝑛 𝑠𝑢̛̣ 𝑞𝑢𝑎𝑛 𝑡𝑎̂𝑚, 𝑐ℎ𝑎̆𝑚 𝑙𝑜 đ𝑒̂́𝑛 đ𝑜̛̀𝑖 𝑠𝑜̂́𝑛𝑔, 𝑡𝑎̂𝑚 𝑡𝑢̛, 𝑛𝑔𝑢𝑦𝑒̣̂𝑛 𝑣𝑜̣𝑛𝑔 𝑐𝑢̉𝑎 đ𝑜̂𝑛𝑔 đ𝑎̉𝑜 𝑣𝑎̆𝑛 𝑛𝑔ℎ𝑒̣̂ 𝑠𝑖̃, 𝑐𝑢̃𝑛𝑔 𝑙𝑎̀ 𝑚𝑜̣̂𝑡 𝑐𝑎́𝑐ℎ đ𝑒̂̀ 𝑐𝑎𝑜 𝑣𝑎̆𝑛 ℎ𝑜́𝑎 “𝑛𝑒̂̀𝑛 𝑡𝑎̉𝑛𝑔 𝑐𝑢̉𝑎 đ𝑜̛̀𝑖 𝑠𝑜̂́𝑛𝑔 𝑡𝑖𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑎̂̀𝑛”?
– Tôi không hiểu rõ lắm việc đầu tư bảo trợ này. Tôi chỉ hành xử theo nhận thức của riêng tôi mà thôi.
* 𝑁𝑒̂́𝑢 𝑏𝑎̀ 𝑐𝑜́ 𝑚𝑜̣̂𝑡 𝑏𝑎̉𝑛 𝑡ℎ𝑎̉𝑜 𝑡𝑜̂́𝑡, 𝑣𝑎̀ 𝑏𝑎̀ 𝑚𝑢𝑜̂́𝑛 𝑐𝑜̂𝑛𝑔 𝑏𝑜̂́, 𝑛ℎ𝑢̛𝑛𝑔 𝑙𝑎̣𝑖 𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔 𝑐𝑜́ 𝑡𝑖𝑒̂̀𝑛 đ𝑒̂̉ 𝑥𝑢𝑎̂́𝑡 𝑏𝑎̉𝑛 𝑣𝑎̀ 𝑐𝑢̃𝑛𝑔 𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑛 đ𝑢̛𝑜̛̣𝑐 𝑏𝑎̂́𝑡 𝑐𝑢̛́ 𝑠𝑢̛̣ 𝑡𝑟𝑜̛̣ 𝑔𝑖𝑢́𝑝 𝑛𝑎̀𝑜 𝑡ℎ𝑖̀ 𝑏𝑎̀ 𝑐𝑜́ 𝑐𝑎̂̀𝑛 đ𝑒̂́𝑛 𝑠𝑢̛̣ ℎ𝑜̂̃ 𝑡𝑟𝑜̛̣ 𝑐𝑢̉𝑎 𝑁ℎ𝑎̀ 𝑛𝑢̛𝑜̛́𝑐?
– Hiện tôi có một bản thảo đã được phép của Nhà xuất bản Văn Nghệ TP.HCM. Tôi đang nhờ họa sĩ trình bày và sẽ tự lo việc in ấn. Sách in xong, tôi sẽ tìm cách phát hành. Tôi phải dè xẻn chi tiêu để in sách.
* 𝑇𝑢̛́𝑐 𝑙𝑎̀ 𝑏𝑎̀ 𝑐ℎ𝑜 𝑟𝑎̆̀𝑛𝑔 “𝑛ℎ𝑎̀ 𝑣𝑎̆𝑛 𝑐𝑎̂̀𝑚 𝑡𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑐𝑢̉𝑎 𝑁ℎ𝑎̀ 𝑛𝑢̛𝑜̛́𝑐 𝑙𝑎̀ 𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔 𝑙𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑖𝑒̣̂𝑛” – 𝑛ℎ𝑢̛ 𝑐𝑎́𝑐ℎ 𝑛𝑜́𝑖 𝑐𝑢̉𝑎 𝑛ℎ𝑎̀ 𝑣𝑎̆𝑛 𝑁𝑔𝑢𝑦𝑒̂𝑛 𝑁𝑔𝑜̣𝑐?
– Tôi vẫn kiên trì với quan niệm Hội Nhà văn cần được tổ chức như một hội nghề nghiệp thực sự. Các nhà văn phải tự nuôi sống mình, tự bảo vệ thành quả lao động của mình.
* 𝐿𝑎̂𝑢 𝑛𝑎𝑦 𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔 𝑖́𝑡 𝑣𝑎̆𝑛 𝑛𝑔ℎ𝑒̣̂ 𝑠𝑖̃, 𝑘𝑒̂̉ 𝑐𝑎̉ 𝑛ℎ𝑢̛̃𝑛𝑔 𝑏𝑎̣̂𝑐 “𝑙𝑎̃𝑜 𝑙𝑎̀𝑛𝑔” 𝑣𝑎̂̃𝑛 𝑡ℎ𝑎𝑛 𝑟𝑎̆̀𝑛𝑔: 𝑡ạ𝑖 𝑘𝑖𝑛ℎ 𝑝ℎ𝑖́ 𝑒𝑜 ℎ𝑒̣𝑝 𝑚𝑎̀ 𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔 𝑠𝑎́𝑛𝑔 𝑡𝑎̣𝑜 “𝑟𝑎 𝑡𝑎̂́𝑚 𝑟𝑎 𝑚𝑜́𝑛” đ𝑢̛𝑜̛̣𝑐...
– Ai cũng biết, kinh phí là phần không thể thiếu cho việc làm tác phẩm, đặc biệt là các tác phẩm điện ảnh, sân khấu. Nhưng nếu tác phẩm yếu kém thì nguyên nhân đầu tiên không phải do thiếu tiền. Ở các liên hoan điện ảnh lớn, nhiều tác phẩm độc lập tốn rất ít tiền mà vẫn có giá trị, vẫn đạt giải cao. Ở ta, tôi đọc báo, thấy có những tác phẩm điện ảnh được chi nhiều tiền lắm, nghe đâu tới hàng chục tỉ nhưng chất lượng kém. Cảm giác của tôi khi đọc những thông tin này là rất xấu hổ. Riêng phần mình, tôi thấy làm thơ là công việc rất ít tốn kém.
* 𝐶𝑜́ 𝑚𝑜̣̂𝑡 𝑙𝑎̣̂𝑝 𝑙𝑢𝑎̣̂𝑛 𝑝ℎ𝑜̂̉ 𝑏𝑖𝑒̂́𝑛: 𝑣𝑎̆𝑛 ℎ𝑜̣𝑐 𝑛𝑔ℎ𝑒̣̂ 𝑡ℎ𝑢𝑎̣̂𝑡 𝑙𝑎̀ 𝑙𝑜𝑎̣𝑖 ℎ𝑎̀𝑛𝑔 ℎ𝑜́𝑎 đ𝑎̣̆𝑐 𝑏𝑖𝑒̣̂𝑡, 𝑐ℎ𝑢̛́ 𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔 𝑝ℎ𝑎̉𝑖 ℎ𝑎̀𝑛𝑔 ℎ𝑜́𝑎 𝑡ℎ𝑢𝑎̂̀𝑛 𝑡𝑢́𝑦. 𝑉𝑖̀ 𝑡ℎ𝑒̂́, 𝑛𝑒̂́𝑢 “𝑡ℎ𝑎̉ 𝑛𝑜̂̉𝑖” 𝑚𝑎̣̆𝑡 ℎ𝑎̀𝑛𝑔 𝑛𝑎̀𝑦 𝑡ℎ𝑖̀ 𝑠𝑒̃ 𝑘ℎ𝑜́ 𝑡𝑟𝑎́𝑛ℎ 𝑘ℎ𝑜̉𝑖 𝑥𝑢 ℎ𝑢̛𝑜̛́𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑚𝑎̣𝑖 ℎ𝑜́𝑎, 𝑐ℎ𝑎̣𝑦 𝑡ℎ𝑒𝑜 𝑡ℎ𝑖̣ ℎ𝑖𝑒̂́𝑢 𝑑𝑒̂̃ 𝑑𝑎̃𝑖. 𝐷𝑜 𝑣𝑎̣̂𝑦, 𝑁ℎ𝑎̀ 𝑛𝑢̛𝑜̛́𝑐 𝑐𝑎̂̀𝑛 𝑝ℎ𝑎̉𝑖 𝑙𝑎̀ 𝑛ℎ𝑢̛̃𝑛𝑔 “𝑚𝑎̣𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢̛𝑜̛̀𝑛𝑔 𝑞𝑢𝑎̂𝑛”. 𝐾ℎ𝑜̂𝑛𝑔 𝑟𝑖𝑒̂𝑛𝑔 𝑉𝑖𝑒̣̂𝑡 𝑁𝑎𝑚 𝑚𝑎̀ 𝑡𝑟𝑒̂𝑛 𝑡ℎ𝑒̂́ 𝑔𝑖𝑜̛́𝑖, 𝑐𝑜́ 𝑚𝑜̣̂𝑡 𝑠𝑜̂́ 𝑙𝑜𝑎̣𝑖 ℎ𝑖̀𝑛ℎ 𝑛𝑔ℎ𝑒̣̂ 𝑡ℎ𝑢𝑎̣̂𝑡 𝑣𝑎̂̃𝑛 đ𝑢̛𝑜̛̣𝑐 𝑁ℎ𝑎̀ 𝑛𝑢̛𝑜̛́𝑐 𝑏𝑎̉𝑜 𝑡𝑟𝑜̛̣. 𝐵𝑎̀ 𝑛𝑔ℎ𝑖̃ 𝑠𝑎𝑜?
– Vậy thì tiền đâu mà lo cho xuể? Tôi được biết ở các nước, ngay cả ở những nước giàu, nhà nước cũng chỉ có thể đầu tư để bảo vệ một số công trình nghệ thuật, một số loại hình nghệ thuật cổ điển, có giá trị đặc biệt thôi. Tôi đọc ở đâu đó thấy nghệ thuật Kabuki của Nhật Bản được đầu tư rất lớn để bảo vệ, phát triển nó và giáo dục cho người Nhật hiện đại biết thưởng thức nó. Số người đi xem loại hình nghệ thuật này ngày một nhiều. Ở ta, nghệ thuật Hát bội cũng cần được đầu tư như vậy. Cùng với nó là Chèo, là Cồng chiêng, là Quan họ. Còn chuyện tác phẩm văn học - nghệ thuật khi đã là hàng hóa, thì là hàng hóa đặc biệt, nó cũng phải theo quy luật cung - cầu. Vấn đề ở chỗ phải nâng cao trình độ người đọc để họ biết lựa chọn hàng có chất lượng.
* 𝑁ℎ𝑢̛𝑛𝑔 𝑑𝑢̛ 𝑙𝑢𝑎̣̂𝑛 𝑡ℎ𝑖̀ d𝑢̛𝑜̛̀𝑛𝑔 𝑛ℎ𝑢̛ 𝑞𝑢𝑎́ 𝑛𝑜́𝑛𝑔 𝑙𝑜̀𝑛𝑔, 𝑞𝑢𝑎́ 𝑠𝑜̂́𝑡 𝑟𝑢𝑜̣̂𝑡 𝑚𝑜𝑛𝑔 đ𝑜̛̣𝑖 𝑛ℎ𝑢̛̃𝑛𝑔 “𝑡𝑎́𝑐 𝑝ℎ𝑎̂̉𝑚 đ𝑖̉𝑛ℎ 𝑐𝑎𝑜”...
– Sốt ruột, nóng lòng cũng không được. Chúng ta chưa có nhà văn lớn vào lúc này. Phải chờ thôi. Tôi tin một ngày nào đó, văn học Việt Nam sẽ có tác phẩm xứng tầm như người ta thường nói. Mà chắc, ông (hay bà) nhà văn này không cần “đầu tư chiều sâu” gì đâu.
* 𝑇ℎ𝑒𝑜 𝑏𝑎̀, ℎ𝑖̀𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢̛́𝑐 đ𝑎̂̀𝑢 𝑡𝑢̛ ℎ𝑜̂̃ 𝑡𝑟𝑜̛̣ (𝑛𝑒̂́𝑢 𝑐𝑜́) 𝑡ℎ𝑖̀ 𝑛𝑒̂𝑛 𝑡ℎ𝑒𝑜 𝑝ℎ𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑢̛́𝑐 𝑛𝑎̀𝑜 đ𝑒̂̉ 𝑐𝑜́ ℎ𝑖𝑒̣̂𝑢 𝑞𝑢𝑎̉ 𝑐ℎ𝑜 𝑡𝑎́𝑐 𝑔𝑖𝑎̉?
– Đây là việc của các nhà quản lý, tôi không dám lạm bàn. Tôi chỉ nghĩ đơn giản là nếu có nhà văn gặp khó khăn về kinh tế hay đau ốm nặng, nên tài trợ như tài trợ cho một công dân. Còn tác phẩm thì họ sẽ tự lo.
Y.N
(Copy từ FB Nguyen Hong Anh)
Ẩn bớt


P/S. Có một lần mình được dự một cuộc hội thảo của giới Văn nghệ sĩ tại TPHCM. Trong cuộc đó có nhiều tham luận xoay quanh vấn đề "làm sao để có tác phẩm đỉnh cao?". Mình nhớ nhất hai ý kiến sau:
- Các thế hệ nhà văn chống Pháp đã mất gần hết, thế hệ nhà văn chống Mỹ cũng đang mất dần... Vì vậy cần đầu tư nhanh, đầu tư gấp để các nhà văn có thể sáng tác ra tác phẩm đĩnh cao.
- Nhà nước cần đầu tư ít nhất 3 tỷ đồng cho mỗi tác phẩm, như vậy mới có thể có tác phẩm đỉnh cao!
Chả hiểu sao lại có con số 3 tỷ này? A hình như đó là số kinh phí hàng năm cho hoạt động của Hội? Mình thì thầm với Nguyễn Lam Điền (cùng dự họp): này, sao không nói đến các nhà văn chống Tàu, chống Polpot nhỉ? Mà chị thấy nếu có 3 tỷ thì sẽ là thế hệ các nhà văn chống nhau đấy


“HOA SỮA THÔI RƠI...”

 Repost, nhân việc nhiều tuyến đường trồng cây hoa sữa dày đặc gây ra những phản ứng của cư dân.


Từ bao giờ hoa sữa đã trở thành một biểu tượng của Hà Nội - nhất là đối với những người đi xa? Tôi không biết chính xác nhưng tôi nhớ Hà Nội bắt đầu từ một tối mùa thu 1975 chia tay bạn bè trong hương hoa sữa, tôi bắt gặp nỗi nhớ ấy trong bài hát “Hoa Sữa” của Hồng Đăng, và sau đó da diết hơn theo từng câu hát “Em ơi Hà Nội phố… ta còn em mùi hoa sữa” (thơ Phan Vũ), và “hoa sữa thôi rơi em bên tôi một chiều tan lớp...” (nhạc Trương Quý Hải).

Có mặt ở Hà Nội từ thời Pháp nhưng chưa thấy trong biệt thự nào trồng hoa sữa, chỉ có hoàng lan hoặc vài cây nhỏ. Cây hoa sữa được trồng ở vài tuyến phố thuộc khu phố Tây đường lớn vỉa hè rộng rãi chứ phải ở khu phố cổ đường nhỏ vỉa hè cũng nhỏ. Hàng cây cao lớn, lá xanh mướt quanh năm, trồng cách nhau đến hơn mươi mét mà vòm lá vẫn rợp vào nhau. Đây là loại cây xanh phù hợp với đô thị vì là cây lâu năm, thân gỗ, có tán rộng làm bóng mát. Nhưng có lẽ vì “đặc tính” của hương hoa nên người Pháp trồng hoa sữa không dày, phố chỉ có vài cây vừa đủ mùi hương thoang thoảng.

Khi còn ở Hà Nội nhà tôi trên phố Ngô Thời Nhiệm, một quãng phố này và phố Lò Đức gần đó có hàng cây hoa sữa. Vào những ngày cuối thu đầu đông, chiều tối Hà Nội lãng đãng hơi sương, từng chùm hoa trắng sữa tỏa hương đậm đặc đến mức… nhức đầu. Thỉnh thoảng một làn gió thoáng qua là mùi hương lan xa và dịu hẳn. Quãng đường Nguyễn Du ven hồ Thiền Quang cũng vậy, những ngôi biệt thự “kín cổng cao tường” thời Pháp quanh đó như gần gũi và thân thiện hơn với người trong phố khi cùng được đắm mình trong hương hoa sữa…  

Trong không gian giới hạn của một đô thị, với “tuổi đời” gần cùng với tuổi của đô thị Hà Nội kiểu Pháp, những cây hoa sữa trở nên quen thuộc với nhiều người Hà Nội thời kỳ 1950-1960, và “hương hoa sữa” trở thành ký ức chung của những chàng trai, cô gái Hà Nội thập niên 1970-1980 và về sau. Ngay cả những người sống ở Hà Nội từng “khổ sở” vì mùi hương nồng nàn của nó thì khi đi xa, “hoa sữa” đã là một từ khóa (keyword) để mở ra “kho kỷ niệm” về Hà Nội.
***
Phải chăng từ vẻ đẹp quyến rũ của những lời hát về hoa sữa (và cả từ nỗi nhớ của những người Hà Nội đi xa?), khoảng những năm 1990 một số đô thị bắt đầu trồng hoa sữa trên đường phố chính. Hàng hoa sữa mới trồng chỉ cao hơn đầu người, cành còn khẳng khiu đã bắt đầu bung những chùm hoa tỏa hương đậm đặc. Nhưng không như mong đợi, nhiều người bất ngờ vì mùi hương của nó... Chỉ sau vài mùa hoa nhiều nơi đã phải chặt đi trồng cây khác vì không phù hợp với sức khỏe người dân.

Rồi Hà Nội lại trồng hoa sữa trên một số đường mới như Trần Duy Hưng, Nguyễn Chí Thanh... Cũng như nơi khác, vài năm nay với mật độ cây trồng cao trong điều kiện khí hậu thay đổi, cây chưa kịp lớn nhưng hoa sữa đã nở sớm hơn ngay trong những ngày hè... Trước đây vào cuối thu trong tiết trời se lạnh hương hoa sữa nồng nàn như mang chút hơi ấm cho người đi ngoài phố, thì nay trong cái nắng oi mùa hạ người ta khó có thể “lãng mạn” với mùi hương đặc biệt này. Hệ quả tất yếu là hàng cây hoa sữa trên những con đường mới chưa kịp trở thành “ký ức” đã bị chặt bỏ di dời, đành ngậm ngùi chia tay với phố.

Hà Nội có hương hoa sữa trên đường Nguyễn Du, có mùa lá sấu rụng vàng trên phố Phan Đình Phùng... nhưng trước khi hương sắc ấy trở thành ký ức thì Hà Nội đã có hàng cây cổ thụ trăm năm, hàng cây là bóng mát mùa hè đổ lửa, là “nhân chứng” của bao đời người. Việc trồng cây lâu năm ở đô thị là một khoa học vì nó bảo vệ môi trường và sự cộng cảm giữa con người với thiên nhiên. Không thể cứ tùy tiện trồng cây rồi chặt bỏ hay di dời, làm tốn kém nguồn vốn xã hội, gây ra tâm lý bất an và cảm giác không thân thiện trong đời sống đô thị.

Hàng cây luôn gắn bó với những con đường những ngôi nhà, với người thành phố.  Cảnh quan đô thị không thể thiếu những hàng cây cao vút toả bóng mát tạo khoảng xanh bình yên… Mỗi thành phố, vô tình hay hữu ý, có loại cây đặc trưng riêng, như Hải Phòng “thành phố hoa phượng đỏ”, Hà Nội “mùa hoa sữa” và bây giờ là “mùa hoa tím bằng lăng”, Sài Gòn “cánh hoa dầu xoay tít bay bay” “hàng lá me bay”, giờ là mùa hoa bò cạp vàng hay hoa kèn hồng… Trải qua thời gian, đô thị phát triển, loài cây “đặc trưng” sẽ trở thành “thương hiệu” của thành phố ấy.

Sài Gòn 19.7.2019
Nguyễn Thị Hậu





DI SẢN CHIẾN TRANH LÀ CỦA AI (HAY LÀ VIỆC NHÌN LẠI LỊCH SỬ)


Bộ phim “Battle of little bighorn” chiếu trên kênh National Geographic kể về việc tìm hiểu một sự kiện lịch sử nước Mỹ, từ những gì có trong bảo tàng và cả những gì đang lưu giữ ngoài bảo tàng: ký ức, lễ hội phục dựng sự kiện, về cá nhân những người lãnh đạo sự kiện ấy và hậu duệ của họ, những nguyên nhân sâu xa, những sự việc tưởng không liên quan trực tiếp đến sự kiện.
1.
Trận chiến Little Bighorn là một cuộc giao tranh vũ trang giữa các lực lượng phối hợp của người Lakota Sioux và các bộ lạc Arapaho và Trung đoàn Kỵ binh số 7 của Quân đội Hoa Kỳ. Trận chiến dẫn đến sự thất bại của lực lượng Hoa Kỳ, diễn ra vào ngày 25–26 tháng 6 năm 1876, dọc theo Sông Little Bighorntrong Khu dành riêng cho người da đỏ Crow ở đông nam Lãnh thổ Montana. Cuộc chiến là một chiến thắng áp đảo cho Lakota, Bắc Cheyenne và Arapaho, do một số Thủ lĩnh như Crazy Horse và Chief Gall lãnh đạo. Kỵ binh số 7 của Hoa Kỳ, một lực lượng gồm 700 người, do George Armstrong Custer chỉ huy đã thất bại nặng nề và Custer bị giết.
Trong những thập kỷ sau đó, Custer và quân đội của ông luôn được coi là những nhân vật anh hùng trong lịch sử Hoa Kỳ. Đài tưởng niệm Quốc gia Chiến trường Little Bighorn vinh danh những người đã chiến đấu ở cả hai phía. Tuy nhiên cho đến ngày nay trận chiến này và đặc biệt là hành động của Custer, vẫn được các nhà sử học nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân thất bại của quân đội Hoa Kỳ dưới sự chỉ huy của vị chỉ huy “chưa từng thua trận” George Armstrong Custer. Những gì được ghi chép, được trở thành “truyền thuyết”, kể cả những gì hiện diện trong bảo tàng, ở nơi tưởng niệm… liệu có phải là sự thật? hay sự thật là bao nhiêu phần trăm từ những gì hiện nay người ta biết về trận chiến này?
2.
Đầu tiên “nhà sử học” - cũng là “người dẫn chuyện” - đi theo những ghi chép lịch sử như đã nêu vắn tắt ở trên. Không thỏa mãn vì không tìm ra nguyên nhân giải thích một cách hợp lý thất bại to lớn và “kỳ lạ” của quân đội Hoa kỳ, nhà sử học tìm hiểu/tiếp cận từ những hướng khác. Đầu tiên ông đến di tích “chiến trường” xưa. Nơi này được bảo tồn nguyên vẹn cảnh quan, trở thành một địa điểm kỷ niệm với tượng đài và lễ hội liên quan, thu hút rất đông khách tham quan hàng năm. Vào ngày kỷ niệm trận chiến diễn ra nhà sử học đã tham gia vào Lễ hội phục dựng lại trận chiến ngay tại đây. Đây là lễ hội được cộng đồng cư dân địa phương sáng tạo và duy trì từ rất lâu, xuất phát từ lòng ngưỡng mộ vị chỉ huy tài danh George Armstrong Custer.
Tại lễ hội, người ta sử dụng quân trang quân dụng được phục chế đúng như hiện vật trong bảo tàng, phục dựng một phần trình chuẩn bị cho trận chiến để làm tăng “cảm thức xác thực” của người tham gia và tham dự sự kiện. Từ phía đội quân người Crow, cũng theo lễ hội được phục dựng, họ tổ chức một truyền thống nghi lễ lâu đời được gọi là Vũ điệu Mặt trời là sự kiện tôn giáo quan trọng nhất trong năm nhằm tiếp nhận những gì Thần linh báo trước.
Tiếp đến, nhà sử học tìm hiểu về bản thân George Armstrong Custer từ những gì lưu trữ trong bảo tàng. Ông nhận thấy đó là một có tính cách mạnh mẽ, vị chỉ huy quân đội tài giỏi, quyết đoán, nhưng cũng kiêu ngạo và coi thường ý kiến của người khác. Rồi nhà sử học tìm hiểu về Thủ lĩnh của người Crow qua hậu duệ của ông, tìm hiểu về những gì diễn ra trong khu làng ấy khi trận chiến diễn ra và sau đó nữa.
Từ tất cả những hướng tiếp cận đó, nhà sử học tìm ra nguyên nhân thật sự của cuộc tấn công, lý giải nguyên nhân thất bại thảm hại của quân đội Custer, lý giải tâm lý tôn sùng ông từ đó đến mãi về sau, tìm hiểu cả việc cộng đồng người Crow sau đó tan rã nhanh chóng thế nào… Sự thật được “phục dựng” từ nhiều góc độ, chân dung các nhân vật lịch sử góp phần làm sáng tỏ các hành động, hành vi của họ đã tác động và dẫn đến kết quả cuộc chiến.
Mỏ vàng lớn và vùng đất giàu tài nguyên của cộng đồng người bản địa là cái đích mà quân đội Hoa kỳ lúc đó nhắm đến. Sự kháng cự của cộng đồng bản địa làm tăng quyết tâm tiêu diệt toàn bộ “làng Crow” của Custer làm ông bỏ qua những tin tức bất lợi từ trinh sát hay khuyến cáo chờ quân tiếp viện của một số sĩ quan dưới quyền. Về phía cộng đồng bản địa, do luôn cảnh giác và được rèn luyện thường xuyên nên họ không bị bất ngờ trước cuộc tấn công, đồng thời họ cũng có quyết tâm giữ lại đất đai ngàn đời của mình. Tuy nhiên họ đã giết hết đối thủ và cướp đi rất nhiều chiến lợi phẩm, điều đó làm “trái lời thần linh” nên dẫn đến hậu quả là không lâu sau đó, hầu hết người bản địa đã bị đưa vào những “khu bảo tồn người da đỏ” và mất hết đất đai.
Tìm ra nguyên nhân hay lý giải một sự kiện lịch sử chưa đủ, mà còn cần nhận biết “di sản” nó để lại. Như nhà sử học kết thúc bộ phim của mình: đó là “sự va chạm của hai nền văn hóa” và kết quả là “một bên thua trận và bên còn lại mất hết”.
3.
Tham khảo thêm từ Vikipedia: Địa điểm diễn ra trận chiến lần đầu tiên được bảo tồn như một nghĩa trang quốc gia của Hoa Kỳ vào năm 1879 để bảo vệ các ngôi mộ của những người lính Kỵ binh số 7. Năm 1946, nó được chỉ định lại là Đài tưởng niệm Quốc gia Chiến trường Custer, phản ánh sự tôn sùng Custer. Từ đầu những năm 1970, Công viên Quốc gia này lo ngại về cái tên Đài tưởng niệm Quốc gia Chiến trường Custer không phản ánh đầy đủ lịch sử lớn hơn của trận chiến giữa hai nền văn hóa. Các phiên điều trần về việc đổi tên được tổ chức tại Billings vào ngày 10 tháng 6 năm 1991 và trong những tháng tiếp theo, Quốc hội đã đổi tên địa điểm này thành Đài tưởng niệm Quốc gia Chiến trường Little Bighorn.
Gần 100 năm sau, ý tưởng về ý nghĩa của trận chiến đã trở nên bao quát hơn. Chính phủ Hoa Kỳ thừa nhận rằng sự hy sinh của người Mỹ bản địa cũng xứng đáng được công nhận tại địa điểm này. Dự luật năm 1991 đổi tên đài tưởng niệm quốc gia cũng cho phép xây dựng Đài tưởng niệm người da đỏ gần Đồi Last Stand để vinh danh các chiến binh Lakota và Cheyenne. Vào Ngày Tưởng niệm năm 1999, sau khi tham khảo ý kiến ​​của các đại diện bộ lạc, Hoa Kỳ đã bổ sung hai điểm đánh dấu bằng đá granit đỏ trên chiến trường để ghi nhận nơi các chiến binh người Mỹ bản địa ngã xuống.
4.
Sự hành xử của chính quyền/nhà nước/cộng đồng người mới đến một vùng, khu vực, lãnh thổ, nơi đã có những cộng đồng bản địa cư trú lâu đời, có truyền thống lịch sử và văn hóa khác biệt… luôn để lại những bài học đắt giá! Lịch sử là những sự kiện đã diễn ra nhưng bài học của nó không bao giờ là “quá khứ”. Không thể “làm lại lịch sử” nhưng có thể nhận thức và ứng xử với quá khứ một cách khách quan, bằng cách tìm hiểu, lý giải, trưng bày, phục dựng, kỷ niệm sự kiện, lưu giữ ký ức… không định kiến dân tộc đa số/thiểu số, không mặc cảm bên thắng cuộc/ bên thua cuộc, công bằng và nhân văn thì sẽ hòa giải, hòa hợp và thật sự đoàn kết!



ĐỪNG ĐỂ KHẢO CỔ MINH HỌA CHO LỊCH SỬ

Một cuộc trò chuyện rất dài quanh nghề khảo cổ và vài lĩnh vực liên quan. Như mình Com trong FB chủ podcast để giải thích vì sao không nói đến những chuyện xâm hại môi trường gần đây mà người phỏng vấn rất muốn đưa ra: Cô Hậu không nói nhiều đến những vấn đề bức xúc hiện tại như chủ Podcart định đặt ra, là vì 1/đấy không phải là chuyên môn KCH mà cô Hậu muốn giới thiệu ở Ba Chấm. 2/Cô Hậu vẫn nói về những bức xúc nhưng bằng kiểu của cô chứ không bằng giọng của người khác. Ok? 🙂
Các bạn có thời gian rảnh mời nghe và chia sẻ nhé.

----- Từ Nam LB

 Việt Nam đang bước vào giai đoạn tái thiết thần tốc với hàng loạt dự án được tiến hành.

Song song quá trình đó, nhiều người cũng tự đặt câu hỏi liệu bên cạnh sự phát triển về cơ sở hạ tầng, chính phủ và nhà nước sẽ làm thế nào để bảo tồn di sản đô thị? Đây dường như không còn chỉ là bài toán cần lời giải, nó là một cuộc cách mạng mà kết quả sau đó sẽ không thể vãn hồi.
Cuộc trò chuyện với TS Nguyễn Thị Hậu, chuyên gia trong lĩnh vực khảo cổ sẽ đưa chúng ta khám phá những di sản từ quá khứ cho đến hiện tại. Đó là những thành tựu được gây dựng từ thời ông cha và cách hậu thế đối xử với chúng trong thời kỳ này. Cùng với đó là trăn trở của một người truyền dạy kiến thức khảo cổ, lịch sử rất đỗi chân thật.
Với Ba Chấm, tập Podcast này mở đường cho sự ra đời của những nội dung tri thức ít được tìm hiểu tại Việt Nam. Với tôi, bản thân đã vô cùng sung sướng khi có cơ hội được tiếp nhận nguồn tri thức tuyệt vời này.
Cảm ơn TS Nguyễn Thị Hậu đã cởi mở để chia sẻ sự hiểu biết của mình đến với xã hội và nhân loại.
Cảm ơn các thính giả của Ba Chấm vẫn luôn ủng hộ và dõi theo trong suốt những năm qua. Biết ơn các bạn thật nhiều! ❤

PHÍA ĐÔNG VƯỜN ĐỊA ĐÀNG

Hiếm khi có thời gian xem cả seri phim chỉ trong vài ngày, nhưng phim Phía Đông vườn địa đàng là một ngoại lệ. Không chỉ vì những bài viết rất thấu đáo về phim này của Le Hong Lam, không chỉ vì đã nhiều lần đọc cuốn tiểu thuyết này ở những lần xuất bản khác nhau, mà chính vì sức hấp dẫn của bộ phim "dựng lại"này.
Le Hong Lam đã phân tích rất hay rồi (như bài dưới đây), mình chỉ muốn nói thêm, đây là bộ phim mà khi xem nhiều lúc mình phải dừng lại, vì chịu không nổi sự tàn nhẫn/ác độc và cũng chịu không nổi lòng tốt mù quáng đến ngu dại! Trong các nhân vật mình có cảm tình/thương nhất với cậu anh Karl - người bị đẩy đến những hành vi "ác" vì chính sự thiên lệch của cả bố và mẹ cậu, ngay cả người em cậu yêu thương đến thế cũng không hiểu và coi thường cậu. Nhưng điều đó không làm cậu mất đi lòng nhân ái và yêu thương bẩm sinh. Nhất là đoạn cuối, khi người cha mở di chúc của mẹ mà trong đó chỉ đề "cho con trai tôi - Iron", cảm xúc trong mình bùng nổ, vì sự bất công ác độc của Kathy đối với Karl cũng là con của mình. Hay chính vì Karl "giống" cô nên cô yêu Iron hơn - một bản sao dù mờ nhạt của Adam - người mà cô đã làm tổn thương sâu sắc, và bằng cách đề lại tài sản cho Iron cô muốn xin lỗi Adam? Mà ko biết cô ta còn chút lương tâm nào để có thể làm điều đó?
Một gia đình không hề nghèo khó, thậm chí đời sống dư dả, nhưng họ quẩn quanh yêu ghét thù hằn trong mối quan hệ ruột thịt do đối xử và dạy dỗ mang nhiều định kiến của người cha. Người mẹ trong phim vắng bóng, chỉ còn một người đàn bà "bị làm mẹ" hiện diện trong phim. Nhưng có thể nhìn thấy hình bóng một người mẹ khác trong tương lai: nhân ái, dũng cảm và thấu hiểu hơn, trong cô bé người yêu của Iron và sau là của Karl.
Kết phim cho thấy, rốt cuộc, con người có thể thay đổi định mệnh hay không chính từ sự biết nhìn thấy và dám nhận trách nhiệm của bản thân.



Phục dựng chùa Báo Ân bên cạnh Hồ Gươm?!

 Dưới góc nhìn của một người làm chuyên môn, TS.Nguyễn Thị Hậu, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử TP.HCM nhận định việc phục dựng, tái hiện di tích chùa Báo Ân cần có sự cân nhắc và thận trọng trong việc nghiên cứu về quy mô, hình thức phục dựng để đảm bảo sự hài hòa của công trình đối với cảnh quan chung của Hồ Gươm cũng như tổng thể các công trình trong khu vực.

Theo TS.Nguyễn Thị Hậu, trải qua hàng trăm năm với những biến chuyển của cảnh quan, quy hoạch trong khu vực, tính cho đến thời điểm hiện tại, khu vực Bưu điện Hà Nội, nơi vốn là địa điểm tọa lạc của ngôi chùa Báo Ân đã có nhiều thay đổi qua quá trình xây dựng, cải tạo. Do đó, trong phương án quy hoạch được đưa ra, do phải giữ lại một số công trình có giá trị lịch sử, văn hóa trong khu vực Bưu điện, nếu phục dựng ngôi chùa Báo Ân thì sẽ có một quy mô nhỏ hơn nhiều lần so với nguyên bản.
“Chúng tôi cho rằng việc phục dựng ngôi chùa Báo Ân cần được xem xét cẩn trọng. Vấn đề phục dựng theo hình thức nào, tỷ lệ ra sao, lựa chọn hạng mục nào để phục dựng,… cần được cân nhắc kỹ lưỡng, trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu khảo cổ học, sử học... Chỉ riêng phần cổng tam quan ngôi chùa Báo Ân thôi đã có quy mô rất đồ sộ, do đó, nếu không tính toán một cách phù hợp, công trình phục dựng có thể trở nên khập khiễng so với tổng thể xung quanh, đặc biệt phải đảm bảo tính hài hòa với Hồ Gươm, trọng tâm của toàn bộ quy hoạch”, TS.Nguyễn Thị Hậu chia sẻ.
Cũng theo bà, hiện nay, việc ứng dụng công nghệ hiện đại như trình chiếu 3D, mô phỏng cảnh quan vào trong phục dựng di tích được rất nhiều nước trên thế giới thực hiện, do đó, trong việc hoạch định phương án phục dựng chùa Báo Ân, chúng ta hoàn toàn có thể cân nhắc việc sử dụng kết hợp song song các hình thức phục dựng, trong đó có ứng dụng công nghệ hiện đại để “tái hiện công trình” thay vì chỉ áp dụng đơn nhất một hình thức “phục dựng” công trình thật trong không gian hạn hẹp.

P/s. Ý kiến của mình trong bài báo này, khi trả lời mình nghĩ chắc sẽ không đăng báo, vì có vẻ "ngược" với phong trào "phục dựng, trùng tu"đang rầm rộ hiện nay. Cám ơn nhà báo.



ĐỪNG ĐỂ DI SẢN CHỈ LÀ “KHOẢN CHI” CỦA NHÀ NƯỚC


Di sản văn hóa lâu nay thường được nhìn trước hết như một đối tượng cần bảo vệ. Nhà nước đầu tư ngân sách để trùng tu, tôn tạo; các cơ quan chuyên môn quản lý; người dân tham quan, thưởng ngoạn. Cách tiếp cận ấy cần thiết, nhưng nếu chỉ dừng ở đó, di sản rất dễ trở thành một “khoản chi” thường xuyên của xã hội, trong khi những giá trị kinh tế, sáng tạo và xã hội mà nó có thể tạo ra vẫn chưa được khai thác tương xứng. Đồng thời mang lại một cách nhìn sai lầm “di sản là gánh nặng của nền kinh tế”.
Trong bối cảnh phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo, đã đến lúc cần đặt vấn đề: Làm thế nào để di sản không chỉ được bảo tồn bằng nguồn lực xã hội, mà còn có thể tạo ra nguồn lực để tự nuôi sống và tái đầu tư cho chính mình? Đây không phải là câu chuyện biến di sản thành hàng hóa bằng mọi giá. Ngược lại, đó là yêu cầu tìm ra một mô hình bảo tồn thích ứng và phát triển bền vững, trong đó giá trị kinh tế phải được tạo ra trên nền tảng của giá trị lịch sử, văn hóa và tính xác thực của di sản.
1- Không thể “đóng băng” di sản
Một trong những thay đổi quan trọng nhất về tư duy bảo tồn hiện nay là từ bỏ quan niệm rằng bảo tồn đồng nghĩa với việc giữ nguyên hiện trạng và hạn chế tối đa mọi hoạt động mới. Di sản, nếu chỉ được đặt trong “tủ kính”, sẽ dần tách khỏi đời sống. Bảo tồn cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn: bảo tồn để di sản tiếp tục sống. Có thể coi Hội An là một trường hợp điển hình.
Từ năm 1998, thành phố bắt đầu thực hiện đề án tái hiện “Đêm phố cổ Hội An đầu thế kỷ XX”. Không phải dựng một sân khấu riêng biệt để biểu diễn cho du khách, mà là biến chính không gian phố cổ thành một không gian văn hóa sống: hạn chế ánh sáng hiện đại, sử dụng đèn lồng, phục hồi những hoạt động văn hóa truyền thống, tổ chức bài chòi, dân ca, trò chơi dân gian… “Đêm phố cổ” sau đó trở thành một sản phẩm du lịch đặc trưng của Hội An. Điều đáng chú ý là giá trị kinh tế được tạo ra bằng cách làm cho đời sống văn hóa của di sản trở nên hấp dẫn hơn. Các hoạt động này tạo thêm việc làm và thu nhập cho người dân qua nghề làm đèn lồng, ẩm thực, dịch vụ du lịch, bán quà lưu niệm… Đồng thời, chính nguồn lợi kinh tế ấy tạo thêm động lực để cộng đồng giữ gìn không gian và các thực hành văn hóa truyền thống.
Đó chính là logic của mô hình “bảo tồn động” hay “di sản sống” đáng để nhiều địa phương khác nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn.
2- Bảo tồn để phát triển và phát triển để có thêm nguồn lực bảo tồn
Mỗi di sản đều chứa đựng một lượng “vốn” đặc biệt: vốn lịch sử, vốn tri thức, vốn thẩm mỹ, vốn biểu tượng, vốn ký ức và vốn xã hội. Từ những nguồn vốn ấy có thể tạo ra giá trị kinh tế nếu được khai thác đúng cách. Hội An, Cố đô Huế là các minh chứng của việc biết bảo tồn đúng giá trị cốt lõi, chính giá trị văn hóa trở thành nền tảng của kinh tế địa phương, là phát triển từ “vốn văn hóa”.
Nhưng khai thác di sản luôn đi kèm với bài toán quản trị. Một nguyên tắc quan trọng trong kinh tế di sản: Lợi nhuận từ kinh tế di sản không thể coi là “tiền tươi thóc thật và ngay lập tức”. Bởi vì nền kinh tế di sản lành mạnh phải trở thành vòng tuần hoàn: Từ di sản tạo ra sản phẩm (du lịch, văn hóa), tạo ra doanh thu. Nguồn thu trở lại cho đời sống cộng đồng và công tác bảo tồn, làm gia tăng giá trị di sản và tiếp tục có những sản phẩm mới. Nếu dòng tiền chảy ra khỏi cộng đồng và ra khỏi không gian di sản thì đó không còn là kinh tế di sản.
Tuy nhiên một trong những điểm nghẽn lớn của bảo tồn hiện nay là tư duy Nhà nước phải làm gần như tất cả: đầu tư, trùng tu, vận hành, tổ chức hoạt động, quảng bá và khai thác. Trong khi đó, nguồn lực ngân sách luôn hữu hạn, còn số lượng di sản cần bảo vệ là rất lớn. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy “Nhà nước bao cấp toàn bộ” sang mô hình hợp tác nhiều chủ thể. Doanh nghiệp có thể tham gia đầu tư và vận hành dịch vụ. Cộng đồng địa phương tham gia quản lý và cung cấp sản phẩm, dịch vụ. Các nhà sáng tạo khai thác chất liệu di sản để tạo ra sản phẩm mới. Các tổ chức xã hội và quỹ văn hóa có thể tham gia huy động nguồn lực. Nhà nước khi đó không rút khỏi bảo tồn, mà chuyển mạnh sang vai trò kiến tạo thể chế, đặt ra chuẩn mực, giám sát và bảo vệ những giá trị không thể đánh đổi.
TP.HCM hiện đang đứng trước cơ hội rất lớn theo hướng này. Thành phố đã xác định việc hình thành các sản phẩm du lịch văn hóa – lịch sử đặc trưng, đồng thời khuyến khích các mô hình đầu tư và kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa. Đặc biệt, trong không gian thành phố mới từ sau 1/7/2025, các “đô thị cổ” như Sài Gòn, Chợ Lớn, Thủ Dầu Một, Lái Thiêu hay Vũng tàu... cần có một hướng tiếp cận khác với kiểu “di tích hóa” đô thị. Ở đó, di sản không chỉ nằm trong một công trình được xếp hạng. Di sản tồn tại trong mạng lưới chùa, hội quán, nhà phố, ẩm thực, ngôn ngữ, tín ngưỡng, nghề nghiệp, tập quán và đời sống của cộng đồng. Đó chính là hướng bảo tồn một hệ sinh thái văn hóa, chứ không chỉ bảo tồn từng công trình riêng lẻ.
3- Khi nghiên cứu di sản trở thành nguyên liệu cho công nghiệp văn hóa
Trường hợp tiêu biểu là “Khu di sản thế giới Hoàng thành Thăng Long”. Ở đây câu chuyện không chỉ là bảo vệ những nền móng, di tích và hiện vật khảo cổ. Giá trị của di sản còn nằm ở việc nghiên cứu, diễn giải, tái hiện và kể lại lịch sử cho công chúng bằng những hình thức mới. Các kết quả nghiên cứu khoa học đang được sử dụng như nền tảng để “hồi sinh” di sản thông qua các hoạt động diễn giải và phát triển công nghiệp văn hóa. Thực tế này phản ánh một thay đổi rất quan trọng về tư duy. Đó là nghiên cứu khảo cổ không kết thúc ở báo cáo khoa học. Bảo tồn không kết thúc ở việc che mái bảo vệ hố khai quật. Trưng bày không kết thúc ở những tủ kính. Toàn bộ tri thức ấy có thể tiếp tục được chuyển hóa thành câu chuyện, trải nghiệm, phim ảnh, sản phẩm giáo dục, thiết kế, xuất bản, công nghệ số và các sản phẩm sáng tạo khác.
Ở nhiều quốc gia như Trung quốc, Anh, Pháp... đã có nhiều kinh nghiệm từ phát hiện khảo cổ đi qua một “chuỗi giá trị” để trở thành nguyên liệu cho nhiều loại hình CNVH: Từ phát hiện, nghiên cứu, bảo tồn đến diễn giải, trải nghiệm, sáng tạo. Những sản phẩm văn hóa mang lại doanh thu để rồi tiếp tục tái đầu tư cho nghiên cứu và bảo tồn. Đây chính là nơi mà khảo cổ học, bảo tồn di sản và công nghiệp văn hóa có thể gặp nhau vì cùng đi đến mục đích cuối cùng.
Đến đây cần thống nhất một quan điểm, nếu chỉ có một nguồn thu chủ yếu từ bán vé tham quan di sản thì rất khó tạo ra một nền kinh tế di sản thực sự, mà phải hướng tới xây dựng chuỗi giá trị. Làm sao để từ một di sản có thể hình thành các sản phẩm trải nghiệm, chương trình nghệ thuật, show diễn thực cảnh, ẩm thực, sản phẩm thủ công, quà tặng thiết kế, tour chuyên đề, lưu trú, giáo dục trải nghiệm… Công nghệ có thể mở rộng “biên giới” của di sản. Những kỹ thuật hiện đại đã làm cho một di sản không chỉ tồn tại ở địa điểm vật lý. Hoa văn, kiến trúc, truyền thuyết, âm nhạc, hình ảnh, tư liệu, tri thức dân gian… đều có thể được số hóa, chuẩn hóa và xây dựng thành nguồn dữ liệu phục vụ sáng tạo. Hàn Quốc là một trường hợp đáng tham khảo khi kết hợp di sản với công nghệ và công nghiệp văn hóa, đưa chất liệu truyền thống vào game, phim ảnh, thời trang và các sản phẩm sáng tạo.
Việt Nam hoàn toàn có thể làm điều tương tự với kho tàng hoa văn, kiến trúc, truyện kể, âm nhạc, trang phục, hiện vật và tư liệu của mình. Khi ấy, di sản không chỉ có một đời sống vật lý, mà có thêm một đời sống số và một đời sống sáng tạo.
4- Kinh tế di sản, CNVH không phải là “thương mại hóa di sản”
Đưa kinh tế vào bảo tồn không có nghĩa là đặt lợi nhuận lên trên giá trị di sản. Ngược lại, chính vì di sản có giá trị đặc biệt nên hoạt động kinh tế quanh nó phải được điều tiết bằng những nguyên tắc đặc biệt. Không phải công trình nào cũng được phép cải tạo tùy ý, không gian nào cũng có thể tổ chức sự kiện hiện đại. Không phải câu chuyện lịch sử - văn hóa nào cũng có thể khai thác thương mại mà không tính đến quyền của cộng đồng, không phải nơi nào lượng khách càng đông thì di sản càng thành công. Bài học của nhiều quốc gia là một di sản được khai thác tốt khi qua quá trình khai thác, giá trị cốt lõi của nó vẫn còn, cộng đồng được hưởng lợi và nguồn lực bảo tồn được tăng lên. Đó mới là thước đo của “kinh tế di sản”.
Để di sản văn hóa thực sự trở thành một ngành kinh tế, cần đi xa hơn từng dự án đơn lẻ của từng di sản, bởi vì tổng giá trị của cả hệ thống di sản văn hóa cao hơn nhiều lần giá trị của từng di sản, quan trọng hơn nó mang lại sự bền vững cho kinh tế di sản. Để đạt được điều này, trước hết là hoàn thiện thể chế và cơ chế tài chính. Có thể nghiên cứu cơ chế ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp đầu tư cho bảo tồn; xây dựng các quỹ phát triển di sản với nguồn vốn đa dạng từ ngân sách, doanh nghiệp, cộng đồng và nguồn thu du lịch. Tiếp theo là xây dựng chuỗi sản phẩm và dịch vụ dựa trên di sản, đồng thời đào tạo một thế hệ nhân lực mới: những người không chỉ hiểu lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật và bảo tồn, mà còn biết quản trị, truyền thông, marketing, công nghệ và kinh doanh sáng tạo. Cuối cùng là công nghệ. AR, VR, 3D, mapping, bảo tàng số, dữ liệu mở… có thể giúp di sản tiếp cận những nhóm công chúng mới, đặc biệt là giới trẻ, đồng thời tạo ra những mô hình trải nghiệm và nguồn doanh thu mới.
Tuy nhiên, công nghệ hiện đại chỉ là công cụ, số hóa di sản phải có mục đích tối thượng là bảo tồn một cách khoa học, khách quan những giá trị xác thực của di sản. Từ đó các thế hệ sau có thể vận dụng nhiều ngành kinh tế để khai thác giá trị cốt lõi, cơ bản của di sản, tiếp tục tạo ra những sản phẩm mới, tăng thêm “vốn văn hóa” cho kinh tế di sản.
Điều quan trọng nhất là xây dựng được một hệ sinh thái kinh tế – văn hóa trong đó nhiều ngành cùng hưởng lợi từ di sản, đồng thời cùng có trách nhiệm đầu tư trở lại cho di sản văn hóa. Khi vòng tuần hoàn ấy vận hành, bảo tồn di sản không còn là một hoạt động “tiêu tiền”, mà như một khoản đầu tư dài hạn vào vốn văn hóa của quốc gia. Đó cũng là lúc câu chuyện công nghiệp văn hóa không còn là một khẩu hiệu lớn, mà bắt đầu đi vào từng di tích, từng bảo tàng, từng khu phố, từng làng nghề và từng câu chuyện văn hóa. Di sản không phải là quá khứ nằm im phía sau chúng ta. Di sản là nguồn vốn của quá khứ mà hiện tại có trách nhiệm làm cho nó tiếp tục sinh ra giá trị – cho hôm nay và cho cả những thế hệ mai sau.

TS. Nguyễn Thị Hậu - Nhà khảo cổ học - Tổng Thư ký Hội Sử học TP.HCM
TẠP CHÍ NGƯỜI TIÊU DÙNG 8/2026



TÔI KHÔNG NHẬN SỐ TIỀN NÀY!

  Mình vẫn luôn trân trọng và yêu quý chị Ý Nhi - một nhà thơ tài năng, một người có tâm trong sáng và hành xử nhân văn, một phụ nữ dịu dàng...