GIỮ NGỌN ĐÈN Ở NHỮNG TÒA SOẠN

 

https://baodanang.vn/giu-ngon-den-o-nhung-toa-soan-3341117.html

Nguyễn thị Hậu

 

Mỗi năm cứ đến tháng Sáu, những người gắn bó với nghề báo lại có dịp nhìn lại hành trình của bản thân, của tờ báo nơi mình làm việc. Dù tôi không phải là nhà báo chuyên nghiệp, nhưng với tư cách một người nghiên cứu khoa học và nhiều năm cộng tác với các báo, tạp chí bằng những bài viết về văn hóa và di sản, ngày 21 tháng 6 luôn gợi lên cảm xúc đặc biệt.

Những ngày gần đây thông tin về việc sắp xếp, tinh gọn hệ thống báo chí tiếp tục được triển khai mạnh mẽ. Nhiều cơ quan báo chí, tạp chí chuyên ngành sẽ sáp nhập hoặc chấm dứt hoạt động. Đó là một chủ trương lớn nhằm xây dựng nền báo chí tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại hơn trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu quản trị mới. Nhìn từ góc độ quản lý, đây là một xu thế khó tránh khỏi. Tuy nhiên, bên cạnh những con số về tổ chức, nhân sự hay hiệu quả vận hành, có lẽ cũng cần dành một khoảng lặng để nghĩ về những giá trị khó đo đếm bằng thống kê.

Đối với nhiều người nghiên cứu, mỗi tờ báo, mỗi tạp chí không chỉ là một cơ quan truyền thông. Đó còn là không gian đưa học thuật đến với công chúng, một diễn đàn văn hóa, nơi lưu giữ ký ức của cộng đồng. Không ít công trình nghiên cứu được giới thiệu trên những trang báo địa phương. Không ít giá trị di sản tưởng như bị lãng quên được đánh thức từ những bài viết ngắn đăng trên các chuyên trang văn hóa. Nhiều nhà báo bắt đầu viết vài mục tin nhỏ mà trở nên tâm huyết với di sản văn hóa. Là một trong số nhiều nhà nghiên cứu văn hóa và di sản cộng tác với báo chí, tôi biết rằng có nhiều tri thức về lịch sử địa phương, về kiến trúc, về ký ức đô thị đã được phổ biến trên những trang báo. Có câu chuyện về một ngôi đình, một ngôi chợ, một con hẻm hay một nghề thủ công truyền thống đang bị mất đi sẽ không bao giờ được xã hội quan tâm nếu không có các nhà báo kiên trì theo đuổi.

Tôi vẫn nhớ cảm giác hồi hộp của hai mươi năm trước khi bài tùy bút đầu tiên về sự mất mát di sản đô thị được đăng báo. Nhuận bút không nhiều nhưng lượng báo phát hành rất cao, hơn bây giờ nhiều. Điều quý giá nhất là cảm giác có một nơi để những câu chuyện văn hóa được lắng nghe và nhận được sự đồng cảm từ tòa soạn, từ người đọc. Từ bài viết của nhiều nhà nghiên cứu, độc giả đã biết đến những di sản văn hóa nơi mình đang sống, tìm hiểu giá trị các di tích. Các nhà quản lý cũng chú ý hơn đến việc bảo tồn và phát huy giá trị của những di sản may mắn còn hiện hữu trong quá trình đô thị hóa vội vã.

Bởi vậy, khi một tờ báo hay một tạp chí ngừng xuất bản là mất đi một cơ hội cho nhà nghiên cứu đến gần hơn với công chúng bằng các công trình, ý tưởng khoa học của mình. Đó còn là sự khép lại của một không gian đối thoại đã tồn tại hàng chục năm, nơi tiếng nói của nhà nghiên cứu, của cộng đồng và nhà quản lý có thể gặp nhau, dù có tạo ra sự đồng thuận hay không thì vẫn luôn hữu ích. Vì vậy một tờ báo không chỉ là một cơ quan truyền thông mà còn là một phần của hệ sinh thái tri thức.

Tất nhiên, tôi hiểu rằng không thể níu giữ mọi mô hình cũ trong một thời đại mới. Bởi vì công nghệ số đã thay đổi hoàn toàn cách sản xuất và tiếp nhận thông tin. Độc giả hôm nay không còn chờ báo giấy vào mỗi sáng, những bài viết dài đang phải cạnh tranh với các clip hay video ngắn, trí tuệ nhân tạo đang thay đổi và tạo ra vô số nền tảng truyền thông mới. Sự thay đổi là tất yếu. Nhưng chính trong giai đoạn này vai trò cốt lõi của báo chí lại càng trở nên quan trọng. Khi thông tin tràn ngập đến mức dư thừa thì điều xã hội cần là thông tin phải đáng tin cậy hơn. Khi văn hóa truyền thống đứng trước nguy cơ bị hòa tan trong dòng chảy toàn cầu hóa, điều cần thiết không phải chỉ là tốc độ và hình thức quảng bá về di sản, mà là chiều sâu của giá trị và bản sắc văn hóa một đô thị, một quốc gia.

 Điều khiến tôi băn khoăn nhất là số phận của những lĩnh vực vốn không phải "ngôi sao" trong cuộc cạnh tranh thông tin hiện nay: văn hóa, lịch sử, khảo cổ học, bảo tàng học, di sản, văn học địa phương... Những lĩnh vực ấy vốn đã ít không gian xuất hiện trên truyền thông, nay nếu báo chí nói chung và các chuyên trang nói riêng bị thu hẹp, ai sẽ tiếp tục kể những câu chuyện ấy? Ai sẽ dành nhiều kỳ báo để theo đuổi một vụ việc xâm hại di tích? Ai sẽ kiên nhẫn giới thiệu một phát hiện khảo cổ mới? Ai sẽ ghi lại ký ức của những nhân chứng cuối cùng trước khi họ ra đi?

Thuật toán của mạng xã hội không làm công việc đó. Trí tuệ nhân tạo cũng không làm công việc đó. Chỉ có những con người cụ thể và các tờ báo cụ thể mới làm được điều đó. Bởi vậy, số lượng đầu báo giảm đi bao nhiêu không phải là điều đáng lo nhất, mà là liệu sau quá trình sắp xếp, chúng ta có vô tình làm nghèo đi đời sống tri thức và văn hóa của xã hội hay không. Làm sao để những chuyên trang về văn hóa, di sản, khoa học hay giáo dục không bị thu hẹp chỉ vì áp lực lượt xem. Những cây bút tâm huyết về văn hóa vẫn có không gian để viết những điều không thể đo bằng lượng truy cập. Đó là câu hỏi cần có lời giải đáp.

Trong những ngày tháng sáu này tôi nghĩ nhiều đến hình ảnh những tòa soạn báo từng sáng đèn suốt đêm, nghĩ đến những tạp chí âm thầm đồng hành cùng giới nghiên cứu. Tôi nghĩ đến những cộng tác viên như tôi ở khắp mọi miền đất nước vẫn cố gắng góp phần lưu giữ ký ức văn hóa qua từng bài viết. Có thể một số tờ báo sẽ không còn, có thể nhiều nhà báo quen thuộc sẽ làm công việc khác. Nhưng tôi tin rằng sứ mệnh của báo chí vẫn còn nguyên giá trị. Chừng nào xã hội còn cần sự thật, còn cần tri thức, còn cần những tiếng nói nhân văn để bảo vệ và lan tỏa các giá trị văn hóa, chừng đó báo chí vẫn tiếp tục sống trong những hình thức mới.

với tôi, điều đáng trân trọng nhất ở nhiều nhà báo trong thời điểm chuyển mình hôm nay không phải là sự tiếc nuối dành cho cái cũ, mà là trách nhiệm gìn giữ tinh thần của nghề báo, tinh thần phụng sự công chúng, bảo vệ sự thật và nuôi dưỡng những giá trị tốt đẹp. Nếu không có tinh thần ấy, sẽ có ngày chúng ta nhận ra rằng khi những tòa soạn đã tắt đèn không chỉ có những con người rời đi, mà còn mất cả một phần tri thức văn hóa của đất nước. Mong rằng ngọn đèn đó cần được giữ gìn và tỏa sáng, dù tờ báo có thể đổi thay.

TP. Hồ Chí Minh, tháng sáu 2026

TS. Nguyễn Thị Hậu là cộng tác viên thân thiết của nhiều tờ báo.


 

 

 

THƯƠNG NGƯỜI NHƯ THỂ THƯƠNG THÂN...

 

Nhân ngày 21/6 năm nay, tôi xin chúc mừng các anh chị còn được làm nghề “chân vững bút bền” tiếp tục hành trình báo chí. Xin chúc các anh chị phải chuyển đổi công việc có nhiều sức khỏe và nghị lực để tiếp tục cuộc sống dù có thể rất vất vả, thậm chí sẽ thay đổi lớn! Mong rằng gia đình, bạn bè thân thiết luôn ở bên và chia sẻ cùng các anh chị trong giai đoạn mới nhiều khó khăn này!

Đúng là, có chuyện mới biết lòng người. Mấy bữa nay đọc nhiều lời tình cảm chia tay với tờ báo, nghề báo, bạn làm báo, nhưng cũng có những lời phũ phàng nghe có vẻ “lý lẽ”, ví dụ: có báo Thanh Niên, Tiền Phong rồi sao phải có Tuổi trẻ, có PNVN rồi sao cần PNTP... Chưa kể những câu kiểu “700 tờ báo 1 giọng thì dẹp cho rồi!”. Không ít nhà báo đã nghỉ/chuyển nghề nói vậy, và tôi biết ko ít người chẳng bao giờ đọc báo – kể cả báo mạng – mà chỉ đọc FB, hay tệ hơn, chỉ “nghe nói” thôi, cũng nói vậy! Sau tất cả những sáp nhập hay giải thể, sắp xếp hay điều chỉnh... như những biện pháp hành chính, là những con người và cùng với họ còn là gia đình, con cái, chi tiêu hàng ngày, hàng tháng... Những việc không đúng của nghề, người nào làm sai, làm bậy, lẽ ra người cùng nghề phải nói trước, chỉ ra trước, chứ có đâu bây giờ lại đánh đồng cá mè một lứa? Đến bao giờ người trong một nghề - chưa nói một nước – mới “thương người như thể thương thân”?

 Một lần, tôi – người viết báo nghiệp dư – nghe được vài điều không hay về tôi và ba tôi (ông đã mất từ 1985!) từ một nhà báo – không xa lạ với tôi. Tôi quá bất ngờ và sau đó thì buồn quá! Biết những lời nói/suy nghĩ đó là không đúng nên cũng không muốn đôi co qua lại làm gì. Sau đó, tôi vẫn cộng tác với tờ báo mà bạn đó làm việc, vì nghĩ, một cá nhân không phải là cả tòa soạn. Nếu cùng làm được việc tử tế thì cứ tiếp tục. Sau này trong một dịp trò chuyện với một bạn thân thiết cũng là nhà báo, khi nghe tâm sự của tôi, bạn nói: nghề báo nhiều người cũng bạc lắm chị ạ. Khi cần thì nhắn nhe thân thiết, khi không cần hay hết cần thì quay lưng như không quen biết... Chị đừng buồn, coi như chưa từng nghe những lời đó, cho thanh thản.

Nay, nhiều anh chị em nghe những lời phũ phàng chắc cũng chạnh lòng như tôi lúc ấy. Xin chia sẻ với các anh chị em hai câu “thần chú” tôi học được, mỗi khi có chuyện thị phi thì dùng để giữ cho tâm an: 1. Ai nói gì cũng "chúc bạn hạnh phúc". 2. Ai vẫn nói gì đó thì "công đức vô lượng". Tương lai, tôi vẫn tin rằng cái gì đã là quy luật của sự phát triển thì sớm hay muộn cũng trở về đúng quy luật! Còn nói theo tâm thức dân gian thì, đã cầu có cây tre trăm đốt thì sẽ phải khắc nhập khắc xuất thôi! 😊

21/6/2026



DI SẢN TRONG DÒNG CHẢY HIỆN ĐẠI: GHI CHÉP TỪ INDONESIA

 https://nguoidothi.net.vn/di-san-trong-dong-chay-hien-dai-ghi-nhan-tu-indonesia-52955.html

 Nguyễn Thị Hậu

Những chuyến đi của tôi thường không kết thúc khi máy bay hạ cánh, mà thường kéo dài rất lâu trong suy nghĩ, như một lớp trầm tích lặng lẽ bồi đắp thêm ký ức. Chuyến đi đến Bali, Jakarta và Borobudur vừa rồi của tôi cũng vậy. Là một vùng đất có chiều sâu văn hóa, điều đọng lại sau chuyến đi không chỉ là sự hài lòng vì công việc đã hoàn thành, mà là cảm giác được sống giữa những không gian khác nhau của một quốc gia đang chuyển động mạnh mẽ giữa truyền thống và hiện đại.

1.

Ấn tượng đầu tiên của tôi về Jakarta là sự khổng lồ và náo động. Thành phố như không bao giờ ngừng chuyển động. Những dòng xe máy, ô tô ken dày từ sáng đến khuya, tiếng tàu và âm thanh thành phố, ánh đèn và những khối cao ốc kính thép nối tiếp nhau, đúng là một siêu đô thị đang “bung ra” rộng hơn cao hơn với tốc độ chóng mặt. Nhưng điều thú vị là giữa Jakarta hiện đại và ồn ào ấy vẫn tồn tại những khoảng lặng của lịch sử và ký ức.

Khi bước vào khu phố cổ Kota Tua, nhịp điệu thành phố bỗng chậm lại. Những công trình thời thuộc địa Hà Lan với mái ngói đỏ, cửa sổ lớn và quảng trường cũ gợi nhớ một Batavia xa xưa, tiền thân của Jakarta hôm nay. Không gian ấy như một lớp thời gian khác còn sót lại giữa đô thị hiện đại. Nhiều người dừng chân ngồi chơi dưới bóng mát cây xanh, thong thả chụp hình, đạp xe sơn màu sặc sỡ quanh quảng trường. Trong những tòa nhà cổ là quán cà phê, tiệm ăn mang phong cách thời thuộc địa. Một ô kính nhỏ giữ lại dưới lòng đường một đoạn đường sắt đầu tiên của thành phốTất cả cho thấy nỗ lực giữ lại ký ức đô thị giữa áp lực phát triển rất lớn. Từ đó nơi này đã trở thành điểm đến quen thuộc của người Indonesia và du khách.  

Tôi nhớ cảm giác tương phản ở Quảng trường trung tâm Jakarta (Quảng trường Merdeka) có công trình hiện đại nổi tiếng nhất là Đài tưởng niệm Quốc gia cao vút, luôn tấp nập người đến chụp hình và vui chơi ở công viên cạnh đó. Và chỉ sau ít phút đi qua một đường hầm dẫn đến Bảo tàng Lịch sử - xây dựng trong phần chân đế rộng lớn của đài tưởng niệm. Bảo tàng rất mát mẻ và yên tĩnh, trưng bày những bức tranh toàn cảnh tái hiện lịch sử Indonesia.

Tôi nhớ không gian cổ điển và sang trọng của Bảo tàng quốc gia nơi lúc nào cũng có nhiều đoàn học sinh đến học tập. Tôi lang thang cả ngày ở đây vẫn chưa chiêm ngưỡng hết hàng trăm bức tượng Phật giáo, Hindu giáo, hàng ngàn hiện vật về lịch sử - văn hóa, phản ánh sự “đa dạng trong thống nhất” của đất nước được mệnh danh là "xứ sở vạn đảo", một trong những quốc gia đa dạng về sắc tộc nhất thế giới.

2.

Từ Jakarta đến Bali, sự tương phản ấy vẫn tiếp tục nhưng theo một cách khác. Bali không giống một “thành phố du lịch” theo nghĩa thông thường giống một không gian văn hóa truyền thống mở rộng, nơi du lịch được xây dựng trên nền của tín ngưỡng, cảnh quan và ký ức cộng đồng.

 Ở đó, tín ngưỡng bản địa hiện diện khắp nơi, từ trước cổng nhà, bên ruộng bậc thang, dưới gốc cây lớn, đến các công sở, khách sạn sang trọng hay ven biển đẹp nổi tiếng.  Buổi sáng khi đi bộ trên những con phố, tôi thường thấy trước cửa từng ngôi nhà là một khay nhỏ kết bằng lá dừa đặt trên mặt đất, trong đó có vài bông hoa, chút trầm thơm, mấy loại bánh và trái cây của địa phương. Người Bali không “trưng bày” văn hóa cho khách xem mà họ đang sống trong văn hóa ấy mỗi ngày. Những nghi thức giản dị ấy làm cho Bali hấp dẫn hơn vì nhịp sống chậm” mang tinh thần riêng giữa cơn lốc toàn cầu hóa.

Điều làm tôi suy nghĩ nhiều là cách người Bali dung hòa giữa bảo tồn và khai thác du lịch. Một thành phố rất nhiều cây xanh, đường phố và nơi công cộng luôn sạch sẽ, người dân hiền hòa, thân thiện, giọng nói nhẹ nhàng với nụ cười luôn nở trên môi. Biển hiệu các cửa hàng, quán ăn địa phương hầu như không có tiếng Anh, món ăn truyền thống sử dụng bao bì bằng lá dừa, lá chuối, những chiếc lồng bàn kết bằng lá cọ, lá buông nhiều kích cỡ và màu sắc, mang lại sự thích thú cho du khách. Những đền thờ hay ngôi chùa trên mọi đường phố, mỗi ngôi nhà đều có miếu nhỏ phía trước, kiến trúc kiểu “cổng trời” rất đặc trưng được bảo tồn, tôn tạo thường xuyên, trở thành “biểu tượng kiến trúc” của thành phố. Người Bali hiểu rất rõ giá trị kinh tế của di sản, nhưng di sản trong một không gian sống chứ không phải trong “tủ trưng bày” hay ngược lại, thành sân khấu hóa”.

 Dĩ nhiên thương mại hóa vẫn hiện diện. Có những khu vực đông nghịt du khách, trong chợ truyền thống vẫn “nói thách” để du khách phải trả giá nhiều lần, những buổi biểu diễn được “đóng gói” theo giờ tham quan, những quán cà phê với giá không hề rẻ nhìn ra ruộng bậc thang hay bên bờ biển tuyệt đẹp... Nhưng phía sau hoạt động du lịch ấy vẫn một nền văn hóa bản địa đủ mạnh để du khách có thể cảm nhận sự độc đáo chân thực của nó.

3.

Từ Bali, tôi tiếp tục hành trình đến Borobudur - một nơi mà từ lâu tôi chỉ được biết qua phim ảnh và tài liệu nghiên cứu. Mọi hình dung đều trở nên nhỏ bé khi đứng trước công trình vĩ đại này! Borobudur được xây dựng hoàn toàn bằng đá núi lửa với kỹ thuật ghép khối chính xác và hệ thống phù điêu dày đặc. Nhờ kiến trúc còn khá nguyên vẹn nên dù qua trùng tu vài lần, công trình không bị “làm mới” mà mang lại sự hoàn chỉnh và thẩm mỹ cao.

Đến tham quan nơi này du khách được phát một đôi dép upanat làm thủ công từ sợi lá dứa và lá dừa, do người dân địa phương sản xuất. Đôi dép này được thiết kế nhằm mục đích bảo tồn di tích, du khách có thể mang về như một món quà lưu niệm sau chuyến tham quan. Chúng tôi đăng ký tham quan vào sáng sớm. Khi mặt trời lên Borobudur hiện ra giữa màn sương mỏng như một ngọn núi đá khổng lồ, vẻ đồ sộ choáng ngợp nhưng tĩnh lặng rất đặc biệt. Những tầng tháp chồng lên nhau biểu tượng cho hành trình đi lên của tâm thức. Hàng trăm pho tượng Phật, những bức tường phủ kín phù điêu không tạo cảm giác phô trương quyền lực mà như một lời nhắc nhẹ nhàng về sự vô thường của thời gian.

Tôi đi chậm giữa những bậc đá đã in dấu nhiều thế kỷnghĩ đến những công trình tôn giáo lớn của Đông Nam Á như Mỹ Sơn, Đồng Dương, Angkor… Càng hiểu hơn một Đông Nam Á từng là không gian văn hóa rộng lớn, nơi tôn giáo, thương mại và nghệ thuật giao thoa mạnh mẽ để tạo nên những công trình kỳ vĩ. Borobudur không chỉ là di sản của Indonesia, nó còn là một phần ký ức chung của nền văn minh Đông Nam Á.

Điều thú vị là dù đã trở thành điểm du lịch nổi tiếng thế giới, Borobudur vẫn giữ được tính chất thiêng liêng của một không gian tâm linh. Người ta đến đó không chỉ để “check-in”, mà có thể ngồi yên lặng ngắm nhìn bình minh hay hoàng hôn, để đi chậm rãi vòng quanh các tầng và suy tưởng khi chạm tay vào những “câu chuyện trên đá”, càng lên cao càng cảm nhận rất rõ ràng, đời người chỉ là một chớp mắt trong thời gian vô tận...

Đứng giữa Borobudur còn khá nguyên vẹn sau hơn một nghìn năm, tôi nhớ đến Phật viện Đồng Dương ở miền Trung nước ta - một trung tâm Phật giáo lớn của vương quốc Champa xưa, cùng thời với Borobudur. Tuy nhiên hiện nay Borobudur được coi là một “di sản sống trong khi Đồng Dương là một “di sản khảo cổ không còn thực hành. Sự khác biệt không chỉ phản ánh số phận khác nhau của hai di sản Phật giáo mà còn gợi ý về cách mỗi quốc gia ứng xử với ký ức lịch sử của mình sao cho phù hợp.

4.

Đông Nam Á từng là một không gian văn minh liên kết sâu sắc bằng tôn giáo, thương mại và nghệ thuật. Trải qua những biến động lịch sử, nhiều lớp ký ức đã mất đi trước khi kịp được nhận diện đầy đủ giá trị. Có lẽ vì thế khi bước đi giữa Borobudur, tôi không chỉ nhìn thấy Indonesia, thấp thoáng đâu đó còn là những mảnh ký ức bị đứt gãy của di sản Việt Nam. Chúng ta sở hữu vô số cảnh quan tuyệt đẹp, di tích quý giá và truyền thống văn hóa phong phú. Nhưng việc bảo tồn và du lịch vẫn nặng về khai thác nhanh, trùng tu “làm mới”, đưa công trình hiện đại vào cảnh quan di tích một cách phô trương. Làm mất đi điều du khách quốc tế tìm kiếm chính là bản sắc địa phương, chiều sâu văn hóa của di sản và đời sống cộng đồng.

Một di sản hấp dẫn không chỉ vì nó cổ kính mà vì nó kể được câu chuyện của cộng đồng sống cùng nó. Một thành phố du lịch bền vững không chỉ có khách sạn sang trọng hay dịch vụ tốt, mà còn phải giữ được linh hồn nơi chốn. Jakarta cho thấy sức kháng cự của di sản trước hiện đại hóa, Bali cho thấy khả năng gìn giữ bản sắc trong phát triển, còn Borobudur cho con người hôm nay tâm thế hướng về ký ức thời gian của văn minh Đông Nam Á. Bên cạnh những di tích nguyên vẹn, những nơi tôi đến cũng còn nhiều phế tích giống Đồng Dương hay Mỹ Sơn của chúng ta. Hầu hết chúng không được phục dựng nhưng bảo tồn rất tốt và luôn nhiều khách tham quan. Điều đó làm tôi suy nghĩ, có lẽ một phế tích trung thực với lịch sử vẫn có giá trị cao về học thuật và ký ức, thậm chí cao hơn một công trình phục dựng hoàn chỉnh nhưng dựa nhiều trên giả định khoa học hay suy diễn lịch sử.

Indonesia hôm nay đang tồn tại trong hai nhịp sống: một bên là khát vọng hiện đại hóa mạnh mẽ, một bên là nhu cầu giữ lại chiều sâu văn hóa như một điểm tựa tinh thần. Di sản văn hóa ở đây không chỉ là những hiện vật cổ hay đền tháp xưa cũ. Chúng là di sản vì có khả năng mang lại cho con người cảm giác mình thuộc về một dòng chảy liên tục của lịch sử và văn hóa. Nhận thức đó chính là điều quý giá nhất mà chuyến đi này mang lại cho tôi.

TP. Hồ Chí Minh 12.5.2026













NGÀY CUỐI - THƠ VÀ NHẠC

https://www.youtube.com/watch?v=zQy2ef9kmgA

Đây là một bài thơ của mình được Đặng Cao Thắng phổ nhạc. Bạn gửi cho mình cùng lời bình thơ của một bạn nghe nhạc. Cám ơn nhiều những đồng cảm của các bạn <3

LỜI GIỚI THIỆU VỀ BÀI THƠ 

NGÀY CUỐI của Nguyễn Thị Hậu (một tiến sĩ ngành khảo cổ) là một bài thơ ngắn nhưng có độ nén cảm xúc rất cao, mang rõ dấu ấn của một người từng quen với việc “khai quật” ký ức. Chỉ khác, ở đây, đối tượng khai quật không phải là di chỉ văn hóa, mà là những lớp trầm tích của một mối tình đã kết thúc.

 Không gian thời gian trong bài thơ là sự tàn lụi được đo bằng những vật thể cụ thể. Ngay từ những câu mở đầu:

“Tháng mười hai

Cuốn lịch chỉ còn vài tờ

Rượu trong chai cũng không còn nữa…”

Nhà thơ không nói trực tiếp về chia ly, nhưng mọi thứ đều đang cạn dần.

•Thời gian: “cuốn lịch chỉ còn vài tờ” → năm sắp hết.

•Cảm xúc: “rượu trong chai cũng không còn nữa” → men say, nồng ấm đã vơi.

•Con người: “người là quá khứ” → mối quan hệ bị đẩy lùi về phía sau.

Cách viết này rất “khảo cổ” theo nghĩa tinh thần: không tuyên bố, mà để hiện vật tự nói lên sự biến mất của một đời sống.

Hình ảnh “ly vang” là một phát hiện thẩm mỹ đắt giá.

“Ly vang hứng từng giọt mặn

Đỏ bầm đôi môi”

Đây là một trong những câu thơ đẹp và đau. “giọt mặn” vừa là nước mắt, vừa là dư vị của ký ức. “ly vang” là thứ văn minh, sang trọng, nhưng lại chứa đựng nỗi buồn rất riêng tư. “đỏ bầm đôi môi” là một chi tiết thị giác mạnh: không còn là màu đỏ của đam mê, mà là vết thâm của cảm xúc đã bị dồn nén quá lâu. (Câu thơ này có thể trở thành trục cảm xúc chính khi phổ nhạc, một điểm rơi rất “đắt” cho cao trào.)

Cấu trúc cảm xúc của bài thơ là: muốn nói, nhưng không thể.

“Em muốn nói với anh

Em nhớ…

Ngay cả trong mơ…”

Dấu ba chấm ở đây cực kỳ quan trọng. Nó không chỉ là ngập ngừng, mà là ở đây lời nói đã bị nuốt vào trong. Đáng chú ý là “muốn nói nhưng không nói, “nhớ” nhưng không được phép nhớ, “trong mơ” nhưng vẫn bị ý thức kiểm soát. Đây là trạng thái của một tình yêu đã qua ngưỡng có thể cứu vãn, nhưng lại chưa qua được ngưỡng có thể quên.

Trong NGÀY CUỐI, có một cú đảo hình ảnh rất tinh tế.

“Trăng vẫn dưới chân mình”

Thông thường, trăng ở trên cao, biểu tượng của cái đẹp, của lý tưởng. Nhưng ở đây, trăng “dưới chân” → mọi giá trị lãng mạn đã bị đảo chiều. Nó gợi cảm giác rằng những điều từng thiêng liêng nay trở nên bình thường hoặc tệ hơn, bị giẫm lên, bị bỏ lại. Một chi tiết nhỏ nhưng rất có chiều sâu triết lý.

Cái kết của bài thơ: ký ức như vàng mã, mong manh mà không chịu cháy.

“Kỷ niệm xưa

Mong manh vàng mã

Mà khó cháy

Thành tro…”

Đây là đoạn kết rất “đắt” về tư duy hình tượng. “vàng mã” → thứ dành cho quá khứ, cho người đã mất. “mong manh” → tưởng dễ tiêu hủy, nhưng “khó cháy” → ký ức không chịu biến mất. Nghĩa là: tình đã chết, nhưng không thể thiêu. Đây chính là nghịch lý lớn nhất của bài thơ: muốn quên → không quên được, muốn dứt → không dứt nổi. Và vì thế, cái đau không nằm ở mất mát, mà nằm ở sự kéo dài của dư âm.

Ngày cuối không nói về chia tay, mà nói về trạng thái sau chia tay, nơi mọi thứ đã kết thúc về mặt thực tại, nhưng vẫn tiếp tục tồn tại trong ký ức. Một bài thơ không ồn ào, không kịch tính, nhưng có chiều sâu và sức ám lâu dài.

 

NGÀY CUỐI

Tháng mười hai

Cuốn lịch chỉ còn vài tờ

Rượu trong chai cũng không còn nữa

Người là quá khứ

Kỷ niệm thành dĩ vãng xa xôi

Ly vang hứng từng giọt mặn

Đỏ bầm đôi môi

 

Em muốn nói với anh

Em nhớ...

Ngay cả trong mơ...

Trăng vẫn dưới chân mình

Qua quán cũ chiều nay

Em không ngoái lại

Ta đã thành người xa lạ

Kỷ niệm xưa

Mong manh vàng mã

Mà khó cháy

Thành tro...


Photo by Minh Hòa




MỘT NIỀM VUI GIỮA NHỮNG NỖI BUỒN...


Hôm qua trong cuộc gặp mặt của một tạp chí bị giải thể trong đợt này, tất cả chúng tôi đều ngậm ngùi... đã có những giọt nước mắt, đã có những nghẹn ngào, đã có những tiếng thở dài và những ánh mắt tránh nhìn nhau...vì sợ cảm xúc sẽ vỡ ra...
Tuy vậy, mọi chia sẻ, động viên, an ủi nhau của các nhà báo, phóng viên, nhân viên, cộng tác viên... đều kết thúc bằng một “tinh thần lạc quan”: Cánh cửa này đóng lại sẽ có cánh cửa khác mở ra! Và cái gì đã là quy luật thì sẽ trở về đúng theo quy luật. Bình tâm, giữ sức khỏe và tìm những niềm vui để tiếp tục chặng đường mới có nhiều khó khăn!
Giữa không khí ấy, một bạn luật sư trẻ xinh đẹp nhắc lại, bạn từng là sinh viên của tôi. Tôi gặp bạn lần đầu tại cuộc trao giải một cuộc thi của tạp chí này, bạn đã gọi tôi bằng cô và giới thiệu với bạn bè, đây là cô giáo của em. Lúc đó, tôi nghĩ có lẽ bạn học tại trường XHNV, nơi tôi thỉnh thoảng có dạy chuyên đề cho một số khoa. Tôi đã nghĩ, bây giờ mà sinh viên còn nhớ cô giáo chỉ dạy 1 môn ngắn ngủi không liên quan trực tiếp đến ngành học của mình, lại từ mười mấy năm trước, bây giờ lại khá nổi tiếng vì tài năng và xinh đẹp.... thật đáng quý!
Nay gặp lại, em hỏi, cô còn nhớ em không, em là sinh viên của cô. Tôi nói; nhớ chứ, gặp em hôm trao giải mà chưa kịp hỏi, em học khóa nào, khoa nào vậy? Cô không nhớ hết sinh viên của mình 😊 Em nói: em học trường ĐH Luật, khóa ấy... Tôi ngạc nhiên: ô cô chưa dạy ĐH Luật bao giờ em ạ. Không ạ, cô có dạy chứ, em ấn tượng với cô từ khi học và khi gặp lại đã nhận ngay ra cô!
Ôi tôi bắt đầu tự hỏi, không lẽ mình bắt đầu lẫn rồi sao? Một lần nữa trả lời em: thật đấy, cô chưa dạy ĐH Luật bao giờ vì chuyên môn của cô không liên quan, với lại, cô sợ luật sư lắm nên cứ “kính nhi viễn chi”, tôi đùa 😊 Hay là mình là bạn FB nên em thấy quen thuộc?
Cô ơi, cô giáo không nhớ học trò là bình thường, nhưng sinh viên bọn em thì chỉ có ấn tượng với một vài thầy cô thôi, sao em nhầm được ạ?!
Một đồng nghiệp trẻ của tôi ngồi bên đột nhiên hỏi: Cô, hồi covid cô phải tiêm mấy mũi? Bất giác tôi trả lời luôn: 4 mũi! Quay sang hỏi bạn gái kia: còn em, mấy mũi? Dạ 3 ạ. Đấy, 4 mũi nên cô quên hơn 3 mũi là phải rồi! Mọi người cười ồ, tôi cũng cười nhưng vẫn bán tín bán nghi, chả có lẽ...?
Em gái xinh đẹp bèn nói: em phải nhắn tin hỏi bạn cùng lớp ngay, không lẽ em cũng quên như cô? Mà tại sao em luôn nghĩ cô là cô giáo của em, phải có lý do gì chứ nhỉ 😊 Tất nhiên, bạn em xác nhận là chưa từng học tôi! Haiza, tí nữa thì covid bị oan! Thấy chưa, đâu cứ bênh gái đẹp dìm hàng bà già là đúng kkk. Thôi thì, không là cô giáo thì là... chị em, nhiều học trò của tôi sau này cũng gọi tôi là chị cho thân thiết, miễn là trong lòng có chút kỷ niệm về nhau là được.
Nghề giáo, tôi vẫn nghĩ như ông bà xưa đã nói – là nghề đưa đò. Ai qua sông rồi nhớ người lái đò thì thật đáng quý, mà ai không nhớ hay coi thường, thì cũng là bình thường, vì lái đò cũng là một nghề như bao nghề khác. Cứ làm tốt trách nhiệm phận sự thì có niềm vui tự hài lòng với chính mình. Đâu cứ phải cầu sự biết ơn hay ấm ức vì sự lãng quên của người khác với mình?
Nói vậy chứ giữa lúc nhiều người chọn cách quay lưng lại với những nghĩa tình lâu năm, một lời “nhận nhầm” đầy ân nghĩa đã mang lại niềm vui không nhỏ cho tôi và cho mọi người trong buổi gặp gỡ nhiều cảm xúc hôm qua.
Hình thời làm cô giáo - khoảng thời gian mà bạn ấy nhắc 🙂





GIỮ NGỌN ĐÈN Ở NHỮNG TÒA SOẠN

  https://baodanang.vn/giu-ngon-den-o-nhung-toa-soan-3341117.html Nguyễn thị Hậu   Mỗi năm cứ đến tháng Sáu, những người gắn bó với ng...