https://nld.com.vn/hoa-hop-cho-tuong-lai-196260429201158224.htm
1.
“Có những đường biên
đã được xóa khỏi bản đồ từ rất lâu, nhưng phải mất nhiều thập niên con người
mới học cách xóa chúng ngay trong lòng mình.” Đó là một thực tế sau chiến tranh
của nhiều quốc gia. Những cũng từ thực tế ấy Việt Nam đã có bài học hữu ích. Sau
năm mươi mốt năm hoà bình thống nhất đất nước, trong một không gian không còn
bị chia cắt về lãnh thổ, Việt Nam bắt đầu một hành trình dài hơn, khó khăn hơn,
đó là hàn gắn những “vết thương chiến tranh” không chỉ trên mặt đất, trên da
thịt con người, mà còn là sự khác biệt trong ký ức cá nhân, trong lịch sử gia
đình, trong trải nghiệm chiến tranh ở mỗi vùng miền, và trong cách mỗi người
Việt nhìn về nhau, “định danh” nhau.
Nếu chấm dứt chiến
tranh là một sự kiện, thì thống nhất và hòa hợp là một tiến trình xã hội, âm
thầm nhưng bền bỉ, kéo dài qua nhiều thế hệ. Sau nửa thế kỷ tiến trình ấy không
chỉ là câu chuyện nhìn về quá khứ mà đang trở thành một phần quan trọng trong định
hướng phát triển quốc gia. Những năm sau 1975, Việt Nam đối diện với một thực
tế phức tạp hơn nhiều so với các khẩu hiệu mang tính bao quát: một dân tộc
thống nhất về lãnh thổ nhưng ký ức và hậu quả chiến tranh còn quá nặng nề, đã tạo
nên những khoảng cách âm thầm nhưng dai dẳng không chỉ trong phạm vi quốc gia
mà còn tồn tại trong từng gia đình, từng thế hệ. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều người
Việt Nam không chọn cách phủ nhận hay “làm phẳng” những khác biệt đó, mà từng
bước thấu hiểu và nhìn nhận một cách khoan hoà hơn. Có thể nói đó là quá trình tự hòa giải về nhận thức và tâm lý.
Từ phía nhà nước, một
dấu mốc quan trọng là Nghị quyết 36-NQ/TW (năm 2004) về Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Nghị quyết đã khẳng định
người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là nguồn lực quan
trọng của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đồng thời nhấn mạnh xóa bỏ định kiến, gắn
kết kiều bào với quê hương, khuyến khích cống hiến, và bảo vệ quyền lợi chính
đáng cho người Việt xa xứ. Đây không chỉ là một chính sách đối ngoại mà là đổi
mới tư duy, phản ánh cách nhìn nhân văn, phù hợp với thực tiễn hội nhập quốc
tế. Từ phân tách sang bao dung, từ khoảng cách sang kết nối, khái niệm “kiều
bào” dần được mở rộng thành một cách hiểu mới: người Việt toàn cầu. Một bước
tiến về tư duy quốc gia mang lại những chính sách mới.
2.
Từ mục tiêu chính sách của Đảng
và nhà nước là xóa bỏ định kiến, tăng cường đoàn kết, gắn kết
cộng đồng người Việt ở nước ngoài với quê hương. Từ những giải pháp cụ
thể để hỗ trợ và điều kiện thuận lợi để kiều
bào về thăm quê hương, đầu tư, kinh doanh, hỗ trợ giữ gìn tiếng Việt và văn hóa
dân tộc… chủ trương hòa hợp không chỉ diễn ra bằng những
tuyên bố mà bằng những thay đổi cụ thể, tích lũy theo thời gian. Từ sau thời kỳ
“Mở cửa” sự kết nối cộng đồng người Việt ở nước ngoài bắt đầu bằng chính sách
thị thực, sở hữu nhà ở, đầu tư… ngày càng cởi mở. Nhiều chương trình kết nối,
gặp gỡ được tổ chức thường xuyên ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, nhất là vào dịp
tết cổ truyền như “Xuân Quê hương”, trại hè thanh niên kiều bào, mạng lưới trí
thức Việt toàn cầu… Đó là những hoạt động không chỉ mang tính biểu tượng mà tạo
ra các không gian gặp gỡ thực chất, trao đổi thẳng thắn và cùng hướng đến một
mục tiêu chung: vì tương lai của đất nước.
Có thể nhận thấy chủ
lưu của quá trình kết nối này là dòng chảy kinh tế và tri thức ngày càng mạnh. Kiều
hối duy trì ở mức cao trong nhiều năm. Ngày càng có nhiều chuyên gia, doanh
nhân, trí thức người Việt ở nước ngoài tham gia vào các dự án kinh tế, nghiên
cứu khoa học và giảng dạy tại các trường đại học trong nước. Đây không chỉ là
nguồn lực tài chính mà còn là nguồn lực mạng lưới và tri thức mang tính toàn
cầu, góp phần kéo gần khoảng cách giữa Việt Nam và thế giới về kinh tế và khoa
học kỹ thuật.
Thay đổi trong đời
sống xã hội và văn hóa được nhận thấy rõ ràng nhất: đó là ngày càng có nhiều
người Việt ở nước ngoài thuộc thế hệ tham gia chiến tranh trở về thăm quê, tìm
lại gia đình, tìm lại ký ức một thời đã qua. Người Việt thuộc thế hệ “hậu
chiến” ra đi khi còn quá nhỏ hoặc được sinh ra ở nước ngoài, nhiều người trong
số họ đã thành danh bằng những công trình khoa học, vị thế chính trị - xã hội
hay tác phẩm văn học nghệ thuật… và họ luôn tự hào “là người Việt Nam”. Văn hóa
đại chúng (âm nhạc, điện ảnh, ẩm thực…) đã trở thành “cầu nối” giữa các cộng
đồng. Hòa hợp không còn là khái niệm chính trị mà đi vào đời sống thường ngày
với từng người Việt một cách cụ thể, gần gũi. Tình cảm với quê
hương là điểm khởi đầu, nhưng để người Việt toàn cầu thực sự gắn bó, điều cần
hơn là một hệ sinh thái đủ cởi mở để họ thấy mình thuộc về đất nước.
Một thực tế là các thế
hệ sinh sau chiến tranh và lớn lên trong bối cảnh hội nhập – dù ở trong hay
ngoài nước – dần dần ít bị chi phối hơn bởi
những phân tuyến lịch sử cũ. Họ luôn tôn trọng ký ức của thế hệ ông bà, cha mẹ,
nhưng trong bối cảnh thế giới mới, trong những quan hệ kinh tế - xã hội mới, họ
trở thành lực lượng thực hiện và thúc đẩy hòa hợp một cách tự nhiên, bắt đầu từ
tâm thế của thế hệ “toàn cầu hoá”.
Những sự thay đổi ấy
diễn ra tuy không rầm rộ nhưng ngày càng bền chặt và đi vào chiều sâu. Đó là sự
dịch chuyển trong cách hình dung về cộng đồng dân tộc. Nếu vào thập niên cuối
thế kỷ 20 người Việt ở nước ngoài thường được nhìn như những người luôn “hướng
về quê hương”, thì ngày nay cách nhìn đó đang dần thay đổi, người Việt ở đâu cũng
đang ở trong một Việt Nam mở rộng, không bị giới hạn bởi địa lý. Trong một thế
giới vận hành bằng mạng lưới, cộng đồng người Việt toàn cầu là một trong những
mạng lưới tự nhiên quan trọng nhất của đất nước. Dựa trên bản sắc văn hoá chung
và khát vọng tương lai chung, kết nối Việt Nam với tri thức, công nghệ, thị
trường và văn hóa quốc tế. Hòa hợp dân tộc vì thế không chỉ là vấn đề “hoà
giải” với tình cảm hay lịch sử như ở giai đoạn hậu chiến, mà còn là một chiến
lược phát triển trong “kỷ nguyên mới” của đất nước.
3.
Sau nửa thế kỷ đất
nước được nối liền bằng một đường biên thống nhất, thách thức hiện nay lớn hơn
là làm sao để có thể nối liền những không gian ký ức, những trải nghiệm khác
biệt, những cộng đồng phân tán trên toàn cầu.
Một trong những ngộ
nhận lớn nhất về hòa giải là “phải quên đi quá khứ”. Nhưng lịch sử đã cho thấy,
không một dân tộc nào có thể quên đi lịch sử của mình. Cũng từ bài học của
nhiều quốc gia, “hoà hợp” là không xoá bỏ khác biệt mà chấp nhận rằng có nhiều
trải nghiệm khác nhau về cùng một thời kỳ, có nhiều ký ức cùng tồn tại, và những
ký ức ấy không nhất thiết phải triệt tiêu nhau. Do đó, cùng với nhiều tiến
triển tích cực song hòa hợp dân tộc vẫn trong quá trình thay đổi nhận thức còn
nhiều khó khăn.
Trong thực tế, còn
đó những khác biệt trong cách nhìn về lịch sử, những khoảng cách giữa các thế
hệ và giới hạn trong đối thoại và niềm tin. Nhưng điều đáng ghi nhận là cách xã
hội Việt Nam hôm nay đang đối diện với những vấn đề ấy: nhiều người (thuộc các
thế hệ khác nhau) đã nhìn nhận sự khác biệt mà không còn cực đoan đẩy thành
“đối lập”, họ bình tĩnh và cởi mở hơn trong tìm hiểu đối thoại, thực tế và cụ
thể hơn khi đưa ra giải pháp. Bởi vì ngày càng nhiều người Việt Nam hiểu rằng,
để có hòa hợp thực sự là cần tạo ra một không gian chung, nơi các khác biệt có
thể cùng tồn tại mà không dẫn đến chia rẽ và triệt tiêu nhau. Khi tất cả những
khác biệt ấy cùng hiện diện thì mới tạo nên lịch sử Việt Nam một cách khách
quan và công bằng. Khách quan và công bằng đối với quá khứ chính là con đường
cao tốc đi đến tương lai.
Người Việt Nam không
quên lịch sử đau thương nhưng cũng cần hiểu rõ hòa hợp không chỉ là mục tiêu
phải đạt tới mà cần trở thành một trạng thái bình thường của đời sống. Đó mới
là một nền Hoà Bình thật sự của Việt Nam. Khi ít đi những ranh giới cứng nhắc,
nhiều hơn những cuộc trở về, những kết nối và hợp tác, thì thế hệ trẻ lớn lên
không còn phải mang “gánh nặng” hậu quả tinh thần của chiến tranh. Khi đó mới
là thống nhất bền vững vì không chỉ liền một dải trên bản đồ mà liền mạch trong
ý thức hướng đến tương lai chung của mọi người Việt nam.
Năm mươi năm là một khoảng thời gian đủ dài để nhìn lại, nhưng đến khi nào đủ để “khép lại” mọi vết cắt của lịch sử? Đó là khi người Việt, dù ở lứa tuổi nào không còn cảm thấy mình đứng ở “một phía” bên đường ranh vô hình do chiến tranh tạo ra, khi người Việt ở trong hay ngoài nước không còn cảm thấy mình “ở ngoài”, mà là đang “ở trong” một Việt Nam rộng lớn và nhân văn, lúc đó non sông mới thực sự liền một dải, không chỉ trên không gian địa lý mà từ ý thức dân tộc. Bởi vì tất cả chúng ta đang đứng trong cùng một câu chuyện – câu chuyện của một dân tộc đã anh dũng đi qua chiến tranh và đang học cách sống cùng hòa bình, bắt đầu từ sự hoà hợp dân tộc. Và chỉ như vậy giá trị của chiến thắng, của thống nhất mới thực sự trở thành động lực phát triển để đất nước ta “sánh vai cùng các cường quốc năm châu”.
TP. Hồ Chí Minh ngày 21.4.2026
Báo NGƯỜI LAO ĐỘNG 30.4.2026






