Hiển thị các bài đăng có nhãn đồ gốm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đồ gốm. Hiển thị tất cả bài đăng

GỐM QUẢNG ĐỨC – MỘT DÒNG GỐM ĐỘC ĐÁO VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA


Bảo tàng lịch sử - văn hóa trường Đại học khoa học xã hội nhân văn TP.HCM có một số hiện vật gốm Quảng Đức được sưu tập từ nhiều nguồn. Nổi bật trong số đó là 04 chóe gốm do ông Võ Văn Hưng (Thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai cũ) trao tặng năm 2023. Các chóe còn nguyên vẹn (1 chiếc miệng vỡ một chút), có màu men nâu còn in nhiều dấu vết vỏ sò, miệng loe có vành miệng, cổ đứng, vai hơi phình và thân thon dần vào đáy. Trên vai chóe có 4 tai nhỏ. Kích thước khá đồng nhất: Cao từ 50,3 cm đến 53,7 cm, đường kính miệng từ 16,0 cm đến 18,4 cm, đường kính đáy từ 14,7 cm đến 17,0 cm. Đây là loại hình tiêu biểu của Gốm Quảng Đức. Nhân có sưu tập này chúng tôi đã có đợt khảo sát vào tháng 5/2025 tại thôn Quảng Đức, xã An Thạch huyện Tuy An (tỉnh Phú Yên cũ).

Gốm Quảng Đức (Phú Yên) là một dòng gốm độc đáo bởi nguyên liệu, kỹ thuật nung và hình thức sản phẩm khi hoàn chỉnh. Gốm Quảng Đức phổ biến nhất là loại hình chóe và bình vôi, ngoài ra còn nhiều sản phẩm đất nung dân dụng khác. Có thể nhận ra Gốm Quảng Đức ở màu men nâu sắt (chóe) hoặc hỏa biến xanh lam, đỏ huyết (bình vôi), đặc biệt những dấu in của vỏ sò bị nung cháy ngay trên bề mặt sản phẩm. Một số công trình nghiên cứu bước đầu về Gốm Quảng Đức đã nhìn nhận, vỏ sò có vai trò rất đặc biệt trong quá trình nung gốm Quảng Đức và trở thành đặc trưng kỹ thuật của dòng gốm này, bởi vì vỏ sò có vai trò là vật liệu truyền thống, trong quy trình nung gốm, và tạo nên đặc trưng mỹ thuật sản phẩm.

Khảo sát và nghiên cứu nhiều sưu tập gốm Quảng Đức với hàng trăm sản phẩm chủ yếu là chóe và bình vôi nhiều kích thước, qua trao đổi về kỹ thuật sản xuất với một số nghệ nhân làm gốm và nhà sưu tập, chúng tôi nhận biết đặc trưng cơ bản của Gốm Quảng Đức bắt đầu từ một loại nguyên liệu độc đáo tham gia vào quá trình sản xuất, đó là vỏ sò (mà người địa phương cho rằng đó là loại sò huyết đánh bắt từ đầm Ô Loan – một đặc sản địa phương).

Vỏ sò biển được sử dụng trong quá trình nung như một loại chất đệm – kỹ thuật hiếm thấy ở các dòng gốm khác. Trong quá trình xếp sản phẩm vào lò nung, người thợ lót vỏ sò giữa các sản phẩm để tránh chúng dính vào nhau khi nhiệt độ cao làm men chảy. Vỏ sò có khả năng chịu nhiệt tốt, tạo lớp đệm cách nhiệt tự nhiên, giúp phân bố đều nhiệt lượng trong lò. Khi nung, vỏ sò tạo nên hiệu ứng men tự nhiên, loang khói và hằn dấu lên bề mặt sản phẩm – trở thành một “dấu ấn nhận diện” riêng của gốm Quảng Đức.

Gốm Quảng Đức được tạo bề mặt thẩm mỹ độc đáo: từ đất, lửa, vỏ sò. Khi nung, tro vỏ sò (chứa canxi cacbonat - CaCO₃) phản ứng với thành phần men gốm, tạo nên vệt loang, chảy men tự nhiên hoặc để lại dấu hằn của vỏ sò trên bề mặt. Gốm không tráng men công nghiệp mà tận dụng hiệu ứng nhiệt – khói – tro của quá trình nung tạo ra lớp men mộc mạc có “hoa văn” là dấu tích vỏ sò, tạo nên mỗi sản phẩm đều là “độc bản”. Đây là đặc điểm “thủ pháp mỹ thuật ngẫu hứng” của gốm Quảng Đức, tạo nên vẻ mộc mạc, cổ xưa và không cái nào giống cái nào. Giá trị của mỗi sản phẩm trở nên độc đáo hơn, giá trị cả dòng gốm cao hơn do tính khác biệt với các dòng gốm khác.

Chính yếu tố kỹ thuật này đã làm cho gốm Quảng Đức mang giá trị bản địa và tri thức dân gian: Người thợ Quảng Đức dùng nguồn vỏ sò từ biển đầm Ô Loan, một nguyên liệu tự nhiên sẵn có trong vùng. Việc sử dụng vỏ sò thể hiện tri thức thủ công dân gian, tận dụng tài nguyên địa phương, có sự giao thoa giữa yếu tố “biển” và “đất”, thể hiện “văn hoá biển” trong một đời sống của cư dân vùng ven biển. Gốm Quảng Đức mang giá trị xã hội – cộng đồng vì đây là nghề truyền thống gắn với sinh kế của cư dân địa phương. Nếu được phục hồi và phát triển sẽ là nguồn tài nguyên dồi dào cho du lịch, giáo dục văn hóa và nghiên cứu khoa học.

Tuy nhiên, từ góc độ kỹ thuật có một số vấn đề đặt ra nhưng chưa được giải đáp thỏa đáng. Đó là: Vỏ sò có vai trò là những “con kê”/”bao nung” tự nhiên chống dính giữa các sản phẩm trong quá trình nung ở nhiệt độ cao. Vậy tỷ lệ thế nào là “vừa đủ” để tạo “hỏa biến” và còn lại dấu tích trên bề mặt đồ gốm? Liệu số lượng vỏ sò có thể nhiều hơn và trở thành vôi - một “sản phẩm phụ” của quá trình nung gốm? Và có phải từ sự “ngẫu nhiên” mà tạo nên những màu men “hoả biến”? Lúc đầu, các sản phẩm còn dính nhiều vỏ sò có phải là “thứ phẩm” nhưng rồi do độc bản mà trở thành độc đáo, rồi được ghi nhận cách tạo ra sản phẩm mới để trở thành chính phẩm?

Những vấn đề này cần được làm rõ để có thể đánh giá giá trị gốm Quảng Đức toàn diện hơn, đặc biệt là để quy trình kỹ thuật sản xuất gốm Quảng Đức được “chính thức hóa” cùng những kiến giải khoa học. Từ đó nghiên cứu phục dựng quá trình sản xuất gốm Quảng Đức, “truyền nghề” một cách bài bản. Có vậy mới duy trì và phát triển làng nghề như một di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của địa phương.

Có thể nói hiện nay gốm Quảng Đức đang “biến mất” vì tại địa phương không còn nghề sản xuất gốm. Gần như không còn thế hệ nghệ nhân nào thực hành trọn vẹn kỹ thuật truyền thống, thiếu lớp kế thừa; chính quyền chưa có chính sách cụ thể hỗ trợ gìn giữ nghề, sự cạnh tranh với đồ gốm công nghiệp, các loại hình truyền thống như bình, chậu... được làm bằng chất liệu khác, thị trường tiêu thụ thu hẹp... Quan trọng nhất là tình trạng mất mát tri thức dân gian, nghề truyền thống nếu không có can thiệp bảo tồn khẩn cấp.

Cũng trong đợt khảo sát này, chúng tôi nhận thấy các lò gốm sản xuất theo kỹ thuật truyền thống không còn nữa, các hộ làm gốm đã thay đổi việc sản xuất gốm bằng sản xuất chậu đúc bằng xi măng. Tuy nhiên tại khu vực “làng gốm” vẫn còn nhận ra dấu tích của một số lò gốm thủ công. Đó là những gò đất tự nhiên cao hơn mặt bằng chung khoảng 1,5 – 2m, thấp dần về phía bờ sông. Dấu tích mảnh gốm, mảnh sành, những phế phẩm dày đặc khắp gò đất, thậm chí vẫn còn vài hàng gạch là dấu tích vách lò nung.

Chúng tôi đã đề nghị Bảo tàng Phú Yên tổ chức khai quật di tích các lò gốm cổ này, đồng thời cần đề xuất Đề án nghiên cứu phục hồi kỹ thuật sản xuất gốm Quảng Đức và bảo tồn di sản làng nghề gốm Quảng Đức, với mục tiêu cơ bản là:

- Khảo cứu, hệ thống hóa các kỹ thuật sản xuất gốm truyền thống Quảng Đức (tạo hình, phối liệu, nung, hoa văn, men màu…).

- Phục dựng các quy trình kỹ thuật truyền thống đã thất truyền hoặc đang mai một.

- Đề xuất mô hình bảo tồn làng nghề gắn với đào tạo truyền nghề và phát triển kinh tế văn hóa địa phương.

- Xây dựng cơ sở dữ liệu và tư liệu hóa các tri thức nghề truyền thống.

Với những giá trị độc đáo, gốm Quảng Đức xứng đáng là “di sản văn hóa” của tỉnh Phú Yên và trong hợp lưu các dòng gốm Việt Nam nói chung.

Nguyễn Thị Hậu, Trường Đại học KHXHNV. TPHCM









LÀNG GỐM BÀU TRÚC (NINH THUẬN) BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI MỚI

 Trích phần 3 của bài đăng trên tạp chí Di sản văn hóa số 3(15) 2023

3. Bảo tồn và phát triển nghệ thuật gốm Chăm ở Bàu Trúc trong bối cảnh kinh tế - xã hội mới

 3.1 Xác định những “ADN của làng gốm Chăm Bàu Trúc”.

Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta.[1] Chính vì vậy, cộng đồng là chủ thể sáng tạo, lưu giữ, trao truyền và phát triển di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa phi vật thể - các nghề truyền thống nói riêng.

Nghệ thuật làm gốm truyền thống của người Chăm làng Bàu Trúc được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2017. Đến nay Nghệ thuật làm gốm truyền thống của người Chăm đã được UNESCO đưa vào “Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp”. Cần lưu ý là chỉ trong 5 năm nghề làm gốm của người Chăm vừa được tôn vinh trong nước và trên thế giới, đồng thời cũng được đưa vào tình trạng cảnh báo sự suy giảm và biến mất của một nghề thủ công truyền thống. Chính vì vậy, cần phải có những giải pháp khẩn cấp và lâu dài, các biện pháp thiết thực và hiệu quả nhằm bảo tồn, vực dậy sức sống của di sản Gốm Chăm, tạo thêm nguồn lực cho bảo tồn và phát huy giá trị di sản, hỗ trợ phát triển kinh tế, văn hóa theo hướng bền vững ở địa phương và cộng đồng dân cư.

Từ ba hướng tiếp cận và từ quá trình lịch sử có thể nhận thấy làng gốm Bàu Trúc có ba đặc trưng cơ bản, quan trọng nhất:

-       Gắn liền với cộng đồng Chăm làng Bàu Trúc

-       Sản xuất thủ công truyền thống từ nguyên liệu địa phương

-       Sản phẩm phản ánh văn hóa Chămpa.

Đây là ba ADN tạo nên bản sắc và dấu ấn riêng của Gốm Bàu Trúc. Nếu thiếu những ADN này thì gốm Bàu Trúc sẽ mất đi lợi thế trong quảng bá và cạnh tranh ở thị trường trong và ngoài nước. Để bảo tồn nghề gốm Chăm làng Bàu Trúc thì cần bảo vệ những yếu tố tác động tích cực đến việc duy trì những ADN, đồng thời loại bỏ hoặc hạn chế những yếu tố tác động tiêu cực làm sự thay đổi hoặc biến mất những ADN.

 Cấu trúc, tổ chức và những điều kiện sinh sống của cộng đồng người Chăm làng Bàu Trúc cần giữ được sự ổn định, tránh sự thay đổi nhanh, lớn về dân cư. Không chỉ là tăng dân số (không thuộc cộng đồng người Chăm) mà còn là giảm dân số hay tình trạng “dân số già”,  mà trường hợp phổ biến là những người trẻ đi làm ăn và sinh sống ở nơi khác. Cùng với đó là tình trạng thế hệ trẻ không muốn tiếp nhận nghề truyền thống nhất là như một sinh kế. Tình trạng này làm cho khả năng lưu giữ và trao truyền nghề giảm sút và có nguy cơ thất truyền.

3.2 Bảo tồn làng gốm Chăm “từ bên trong/bên dưới”

Quá trình đô thị hóa là một trong những nguyên nhân tác động vào cấu trúc và tình trạng dân cư của các làng nghề. Không chỉ vậy, đô thị hóa còn làm thay đôi môi trường và những điều kiện tự nhiên cung cấp nguyên liệu cho làng nghề làm gốm: diện tích nguồn nguyên liệu bị thu hẹp hoặc không thuộc về cộng đồng (chuyển đổi mục đích sử dụng, chuyển quyền sử dụng cho nhà đầu tư). Khi không còn nguồn nguyên liệu hoặc khai thác khó khăn, làng nghề hoặc phải nhập nguyên liệu từ nơi khác, hoặc thu hẹp sản xuất về quy mô và mức độ.

Ngược lại, khi nhu cầu sản phẩm tăng cao, nhất là với những sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu của đời sống đương đại thì quy mô sản xuất được mở rộng, kỹ thuật sản xuất có xu hướng thay đổi “hiện đại hóa”, như làm gốm bằng bàn xoay và nung gốm trong lò chẳng hạn. Yếu tố kỹ thuật mới phù hợp sản xuất hàng loạt, có phần giảm thiểu tỷ lệ phế phẩm, tăng năng xuất… Nhưng sẽ làm biến mất tính chất “thủ công, đơn chiếc” từ quá trình nặn tay và nung thô sơ ngoài trời. Đồng thời, vai trò của người thợ tạo dáng – phụ nữ - sẽ mất đi vị thế quan trọng trong quá trình sản xuất gốm. Một trong những điều hấp dẫn của nghề làm gốm Chăm, một biểu trưng văn hóa “mẫu hệ Chăm” sẽ mai một.

Có thể tăng năng xuất và quy mô sản xuất đồ gốm mà không làm thay đổi tính chất thủ công truyền thống được không? Có thể được! Bằng cách thay thế máy móc, phân công lao động, chuyên môn hóa một số công đoạn trong quy trình làm gốm như công đoạn khai thác và xử lý nguyên liệu, ủ và nhào trộn nguyên liệu. Còn các công đoạn khác thì cần được bảo tồn, nhất là nặn gốm bằng tay và nung ngoài trời.

Một phương thức khác: duy trì kỹ thuật thủ công truyền thống cho những sản phẩm mỹ nghệ độc bản hoặc theo đơn đặt hàng. Giá thành tất nhiên sẽ cao để đảm bảo chất lượng của sự khác biệt. Còn những sản phẩm khác có thể sản xuất hàng loạt để giảm giá thành và phổ biến rộng rãi kiểu “hàng chợ”. Tuy nhiên, điều quyết định để tồn tại và phát triển là là sản phẩm vẫn phải có sự khác biệt, độc đáo!

Đây chính là ADN thứ ba: thể hiện bản sắc cộng đồng Chăm, của văn hóa Chămpa. “Nghệ thuật làm gốm truyền thống của người Chăm” là sự tích hợp của tất cả các yếu tố: chủ nhân, không gian và văn hóa Cham. Quan trọng nhất, nếu không thể hiện được những yếu tố của “văn hóa Champa” từ truyền thống đến hiện đại thì nghề gốm, làng gốm Chăm sẽ mãi ở tình trạng “bảo vệ khẩn cấp”.

Để bảo toàn “tính bản địa” thì với nghề làm gốm Chăm, trước mắt là cần sự đầu tư tri thức từ các nghệ nhân, họa sĩ, nhà thiết kế… để có những mẫu mã, chủng loại sản phẩm mang đậm bản sắc “văn hóa Chăm” nhưng vẫn đáp ứng nhu cầu của thị trường, hay cao hơn, tạo ra những sản phẩm hấp dẫn thị trường. Hiện nay, việc đào tạo nghề gốm phải được coi là cấp thiết nhất. Song song với việc duy trì lễ hội thờ cúng ông tổ nghề gốm, cần bắt đầu ngay từ giáo dục lịch sử địa phương về giá trị và ý nghĩa những di sản văn hóa Champa, đào tạo kỹ năng các nghề thủ công (làm gốm, dệt thổ cẩm) tại các trường dạy nghề chuyên nghiệp. Đặc biệt là vai trò của các nghệ nhân “truyền dạy” tại cơ sản sản xuất. Cần thiết liên kết chặt chẽ với các ngành nghề liên quan như mỹ thuật công nghiệp, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, lịch sử - văn hóa… Có vậy những người thợ gốm mới phát triển khả năng sáng tạo lâu dài. Đồng thời khắc phục tình trạng thế hệ thợ gốm trẻ kế tiếp đang ngày càng ít do chưa hiểu biết đến nơi đến chốn về giá trị (lịch sử, văn hóa, kinh tế) của nghề gốm (truyền thống kết hợp với hiện đại).

3.3 Bảo tồn làng gốm Chăm “từ bên ngoài/ bên trên”

Để nghề gốm truyền thống có thể tồn tại và phát triển, quan trọng nhất là quan điểm, chủ trương và định hướng của chính quyền tập trung phát triển nghề gốm, thể hiện từ Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến quy hoạch các lĩnh vực, ngành nghề. Tại địa phương ngành Công thương phối hợp với ngành Văn hóa, Du lịch liên kết chặt chẽ tạo điều kiện cho nghề gốm truyền thống phát triển: đề xuất và triển khai các chính sách hỗ trợ như tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ các doanh nghiệp ngành gốm tham gia các hội chợ triển lãm trong và ngoài nước nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu; xây dựng điểm du lịch cộng đồng - làng nghề, thống nhất quan điểm Nghề gốm là một tài nguyên văn hóa bản địa, là di sản văn hóa có vai trò quan trọng trong phát triển bền vững.[2]

Trong thời kỳ công nghiệp 4.0 phát triển tài nguyên bản địa nói chung và các nghề thủ công truyền thống nói riêng không thể tách rời sự đầu tư trí thức và công nghệ liên quan từ sản xuất, chế biến đến quảng bá, tiêu thụ, xuất khẩu… Nếu không có tri thức và công nghệ mới hỗ trợ thì tài nguyên dù giàu có đến đâu cũng vẫn chỉ ở dạng “tiềm năng”, thậm chí còn làm trở ngại cho thay đổi tư duy phát triển bền vững.

Theo một chuyên gia, “tính bản địa” là một trong bảy từ khóa quan trọng nhất đối với người tiêu dùng thế kỷ 21 (tiết kiệm, bền vững, công nghệ, bản địa, sức khỏe, đơn giản, tự do) [3]. Chú trọng tính bản địa (tài nguyên, tri thức, văn hóa) để phát triển bền vững, thích nghi với biến đổi khí hậu, xây dựng xã hội nhân bản. Tài nguyên bản địa luôn có tiềm năng trở thành sản phẩm mang giá trị văn hóa cao. Từ sản phẩm kinh tế có thể trở thành di sản văn hóa nếu tính bản địa được coi trọng cùng với sự đầu tư tri thức, công nghệ và nguồn lực ngay từ bước đầu khởi nghiệp.

Để duy trì và mở rộng quy mô sản xuất, để sản phẩm mang tính bản địa, bản sắc cộng đồng thì việc đầu tiên là nên chăng, sản phẩm của địa phương cần được ưu tiên sử dụng tại địa phương. Sản phẩm gốm và thổ cẩm của đồng bào Chăm Ninh Thuận nên được sử dụng phổ biến trong tỉnh, tại các công sở, nhà hàng, khách sản, công trình công cộng khác như bệnh viện, trường học… Sản phẩm còn có thể sử dụng làm quà biếu tặng, lưu niệm có giá trị. Điều này không phải là “độc quyền” sản phẩm mà là sự đánh giá cao một sản phẩm kinh tế của địa phương, thể hiện hiểu biết giá trị và bản sắc văn hóa riêng của tỉnh nhà. Tất nhiên, với mỗi không gian, đối tượng sử dụng khác nhau sản phẩm gốm, thổ cầm cần có chất lượng cao, mẫu mã thích hợp và mang tính mỹ nghệ cao, vừa truyền thống nhưng không thể thiếu tính hiện đại.

Trong chuyến công tác tại Ai Cập gần đây, tôi được nghe nhiều lần từ những hướng dẫn viên, nhà nghiên cứu, nhà quản lý người Ai Cập… một quan điểm xuyên suốt và nhất quán của Bộ Du lịch và Di sản Ai Cập: “Di sản văn hóa là sản phẩm có lợi thế cạnh tranh hấp dẫn nhất trong tất cả các sản phẩm mà Ai Cập có thể cung cấp trên toàn cầu”. Ở một mức độ nào đó, tôi cho rằng di sản văn hóa phi vật thể nghệ thuật Gốm Chăm và những di sản văn hóa của VN cũng cần được xác định và đánh giá như vậy. Đến với thế giới bằng những di sản mang bản sắc riêng độc đáo chứ không phải bằng những thứ “di sản sao chép”, có vậy mới bảo tồn được di sản của chính mình và phát triển bền vững từ tài nguyên văn hóa.



[1] Luật Di sản văn hóa Việt Nam 2001 và 2013

[2] Nguyễn Thị Hậu, 2023, Gốm Cây Mai - Gốm Sài Gòn: Truyền thống và phát triển. ). Kỷ yếu HTKH Nghề gốm cổ Ninh Bình: Truyền thống và Hiện đại. Ninh Bình 4.2023. Tr. 9

[3] Nguyễn Phi Vân, 2017. Chuyên gia thương hiệu Nguyễn Phi Vân: Bảy từ khóa đối với người tiêu dùng tương lai. https://theleader.vn/chuyen-gia-thuong-hieu-nguyen-phi-van-bay-tu-khoa-doi-voi-nguoi-tieu-dung-tuong-lai-20170808085431712.htm

 






VÀI NÉT VỀ GỐM NAM BỘ - DẤU ẤN TRĂM NĂM

Các bạn có thể xem lại buổi trò chuyện tại đây https://thuviennguyenanninh.vn/sach/di-tich-khao-co-va-dau-an-gom-sai-gon-trong-dong-chay-lich-su/Video.html

VÀI NÉT VỀ GỐM NAM BỘ

Quá trình khai phá vùng đất mới Nam Bộ từ thế kỷ XVII cho đến ngày nay cũng là quá trình hình thành một loại gốm mới ở miền Đông Nam bộ. Vùng phân bố của loại gốm cổ này nay nằm trong địa bàn của Thành phố Hồ Chí Minh và hai tỉnh lân cận là Đồng Nai và Bình Dương. Từ khoảng đầu thế kỷ 20, khu lò gốm Cây Mai và xóm Lò Gốm Sài Gòn dần ngưng hoạt động. Do quá trình đô thị hóa khu vực Sài Gòn, Chợ Lớn, các lò gốm lần lượt chuyển ra các tỉnh lân cận, nhiều nhất là vùng Biên Hòa (Đồng Nai) và Lái Thiêu (Bình Dương). Nửa sau thế kỷ 20, gốm gia dụng và gốm mỹ nghệ Biên Hòa, Lái Thiêu đã dần thay thế vai trò của gốm Sài Gòn.

So sánh với vùng gốm Bắc bộ (gốm Chu Đậu, Bát Tràng…) và Trung bộ (Gò Sành, Châu Ổ, Quảng Đức…) thì vùng Gốm Nam bộ có sự khác biệt về loại hình sản phẩm, kỹ thuật và quy mô sản xuất và thị trường tiêu thụ. Quá trình phát triển của nghề làm gốm truyền thống ở khu vực miền Đông Nam bộ cho ra đời các loại gốm được biết dưới các tên gọi là gốm Sài Gòn/gốm Cây Mai, gốm Biên Hòa và gốm Lái Thiêu. Đây cũng là ba dòng gốm cổ có mối liên hệ mật thiết từ những đặc trưng chung về kỹ thuật sản xuất mang tính chất “văn hóa vùng”. Đồng thời phát triển và tạo nên những đặc trưng riêng từ sản phẩm, kiểu dáng, màu men, hoa văn…

Gốm Sài Gòn: Gốm Cây Mai (khu lò Cây Mai ở khu vực gò Cây Mai quận 11), Xóm Lò Gốm (làng Hòa Lục, Phú Định quận 6, quận 8); Sài Gòn là địa danh xưa chỉ khu vực Chợ Lớn ngày nay – nơi có Xóm Lò Gốm ghi trên bản đồ và trong sử sách.

Gốm Biên Hòa: làng gốm Tân Vạn (khu lò lu, lò sành)…; gốm từ trường Mỹ nghệ Biên Hòa, muộn hơn là những cơ sở sản xuất gốm hiện nay.

Gốm Lái Thiêu: làng gốm Lái Thiêu, Tân Phước Khánh và Chánh Nghĩa... sau này là gốm Minh Long và những lò gốm thủ công hiện còn sản xuất.

Những tên gọi này tương đương như tên gọi của Gốm Bát Tràng, Gốm Chu Đậu, gốm Đông Triều... ở miền Bắc, gốm Gò Sành, Châu Ổ ở miền Trung... Vừa chỉ địa danh dân gian cụ thể, vừa cho biết không gian của một “vùng gốm cổ”. Mỗi vùng gốm có đặc trưng riêng và thịnh đạt vào những thời điểm khác nhau, song như những chi lưu tất cả cùng hòa vào và tạo nên dòng chảy “Gốm Nam Bộ”, có thể đối sánh với những vùng sản xuất gốm nổi tiếng khác trong nước. Mặt khác, khái niệm hành chính “Nam bộ” xuất hiện muộn hơn nghề làm gốm ở đây, vì vậy cần phân định rõ “gốm Nam bộ là 3 dòng gốm cổ: gốm Sài Gòn, Biên Hòa, Lái Thiêu”, để phân biệt với gốm sản xuất tại các tỉnh Nam bộ từ nửa sau thế kỷ 20.

Sản phẩm gốm Nam bộ mang tính ứng dụng cao, đáp ứng mọi nhu cầu của xã hội, nhu cầu hàng ngày của giới bình dân và cả tầng lớp cao hơn. Đó là nhóm đồ gốm dùng chứa đựng (lu, hũ, khạp, chậu…), nấu nướng (nồi, ơ, siêu, ấm…), ăn uống (đĩa, bát, tô, bình trà bình rượu, ly, cốc, ống nhổ, ống đũa…), nhóm đồ dùng trong sinh hoạt tinh thần (tượng thờ, chân đèn, đèn gốm, lư hương, mâm bồng, ống bút…), nhóm gốm trang trí nội ngoại thất (đôn, chậu, gạch bông gió, lan can, tượng thú…), nhóm xây dựng, trang trí kiến trúc (gạch, ống nước, quần thể tượng gốm, phù điêu…). Loại hình, kiểu dáng của sản phẩm gốm kiểu dáng phong phú, đa dạng và có xu hướng “hiện đại”.

Những bộ sưu tập gốm Sài Gòn hay gốm Lái Thiêu, Biên Hòa đều cho thấy hầu hết sản phẩm rất đẹp nhưng đều có dấu vết đã qua sử dụng. Tức là, sản phẩm từ lúc làm ra cho đến khi người ta chứng minh được giá trị của nó xứng đáng để sưu tập đồ cổ thì luôn được “tham gia vào cuộc sống” chứ không tách ra riêng biệt “để thưởng ngoạn” như một số dòng gốm khác. Điều này thể hiện tính cách, cá tính của người Nam Bộ là làm bất cứ một vật gì cũng hướng đến tính ứng dụng thực tế, chứ không trưng bày, trang trí thuần túy.

Sản phẩm, trang trí và kỹ thuật sản xuất từ gốm Sài Gòn đến gốm Biên Hòa, Lái Thiêu thể hiện cụ thể “Đất nào, nước nào phong thổ nào thì con người đó, mà con người nào thì sản phẩm đó. Người Nam Bộ làm ra gốm Nam Bộ, cởi mở đón nhận nhưng vẫn giữ được nét đặc sắc vốn có của mình”. Tính chất cởi mở, tiếp nhận kỹ thuật mới và sáng tạo sản phẩm mới đã góp phần vào sự phát triển kinh tế thị trường từ rất sớm của vùng đất Nam bộ. Nhiều đồ gốm có hiệu đề còn cho biết tên lò, người đặt hàng hay các tiệm bán đồ gốm, có minh văn phản ánh ước mong một cuộc sống sung túc, bình an.

Gốm Nam bộ phản ánh một giai đoạn lịch sử ở Nam bộ: từ những sản phẩm dành cho người bình dân phổ biến ở giai đoạn khai phá (thế kỷ 18) đến các loại sản phẩm cao cấp hơn kiểu Trung quốc, kiểu Pháp (thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20) phục vụ giới thượng lưu hoặc dịp đặc biệt của giới bình dân khi xã hội phát triển… Dù bình dân hay cao cấp thì kỹ thuật tạo dáng và tạo hoa văn, màu men… trên mỗi sản phẩm đều phản ánh nhu cầu thưởng lãm của mỗi tầng lớp.

Các sưu tập cổ vật chỉ thực sự có giá trị khi nó đến được với nhiều người. Cuộc trưng bày "Du xuân - Cổ ngoạn" Xuân Giáp Thìn 2024 của Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những cuộc trưng bày về Gốm Nam bộ được công chúng nhiệt tình đón nhận. Những hiện vật được trưng bày có giá trị cao về lịch sử - văn hóa, giúp quảng bá, giới thiệu gốm cổ Nam Bộ tới với đông đảo công chúng. Nhờ vậy những giá trị quý báu của di sản văn hóa Nam bộ được phổ biến rộng rãi hơn trong xã hội

TS. Nguyễn Thị Hậu. Trong sách DU XUÂN - CỔ NGOẠN - của Bảo tàng TPHCM.


TRIỂN LÃM GỐM NAM BỘ CÓ TÍCH HỢP ỨNG DỤNG QR ĐẦU TIÊN TẠI THƯ VIỆN SỐ NGUYỄN AN NINH - CHUYÊN ĐỀ NAM BỘ🎉
🗓️Từ ngày 24/5 đến 31/5/2025, trên website chính thức của Thư viện số Nguyễn An Ninh, triển lãm hình ảnh và tài liệu với chủ đề “Đất Lành Hoá Ngọc” sẽ chính thức diễn ra.
🧭Triển lãm là lời mời dành cho bạn đọc và khách tham quan bước vào hành trình khám phá những dòng gốm đặc trưng của Nam Bộ: từ Gốm Sài Gòn, Gốm Cây Mai - Đề Ngạn, Gốm Biên Hoà, Gốm Lái Thiêu cho đến Gốm Vĩnh Long, Gốm An Giang.
🖼️Toàn bộ nội dung triển lãm được thể hiện qua hệ thống poster trực quan, kết hợp với các mã QR tích hợp, cho phép người xem dễ dàng tiếp cận thêm nguồn tư liệu số mở rộng: bài viết nghiên cứu, hình ảnh minh hoạ, tư liệu nghe – nhìn và bộ sưu tập chuyên sâu. Tất cả đều được lưu trữ và truy cập trực tiếp trên nền tảng số của thư viện.
💻Với hình thức triển lãm trực tuyến, “Đất Lành Hoá Ngọc” mang đến một trải nghiệm đa tầng kết hợp yếu tố truyền thống và hiện đại, giúp người xem không chỉ dừng lại ở việc “thưởng lãm”, mà còn có thể tiếp cận chiều sâu của gốm Nam Bộ ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào.
👉Bạn đọc hãy đón chờ và cùng khám phá triển lãm trên website chính thức của Thư viện số Nguyễn An Ninh từ ngày 24/5 tới nhen!
------------------
TVNAN | GỐM NAM BỘ - DẤU ẤN TRĂM NĂM
📅 Thời gian: 24/5 - 31/5/2025
📍 Địa điểm: Đường Sách TP. Hồ Chí Minh
🎟️ Sự kiện hoàn toàn MIỄN PHÍ, mở cửa cho tất cả mọi người.
🇻🇳 Khuyến khích tham gia trải nghiệm gốm và các hoạt động văn hóa độc đáo.




SÔNG GỐM (Văn hóa Quảng Nam xuân 2024)


Tản văn, Nguyễn Thị Hậu
Hà Nội một chiều cuối năm, tôi rủ bạn: ra sông gốm chơi đi. Bạn ngạc nhiên, sông gốm? ở đâu? Ừ, cứ đi đi đã…
Theo con đê nay gọi là “con đường gốm sứ”, bạn và tôi rẽ xuống làng Tứ Liên. Dọc đường làng đã bê tông hóa không còn thấy những gian nhà lá êm đềm giữa những vườn rau mà thay vào đó là những ngôi nhà cao tầng, vài biệt thự kín cổng cao tường, thi thoảng một ngôi nhà cổ (giả cổ) hiện ra thấp thoáng sau mảnh vườn có vẻ hoang sơ… Chiều nắng hanh khô, có chiếc xe bò lọc cọc trên đoạn đường đất mấp mô dẫn ra bến sông… A, bạn thốt lên, sông gốm là đây…
Mùa này bãi sông Hồng nước cạn, hai bên bờ bãi ngô xanh mướt trổ bắp xen lẫn những mảnh ruộng ngô cây đã khô vàng. Khi tôi còn nhỏ nơi này hoang vắng lắm, nhưng khoảng hai chục năm nay bãi sông Hồng dọc theo các làng Phú Thượng, Tứ Liên, An Dương đã hình thành một bến tập kết hàng gốm, sứ từ các vùng gốm Đông Triều, Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng, Hương Canh... tạo nên một làng gốm trên sông nhộn nhịp, nhất là vào dịp cuối năm. Những chiếc thuyền lớn chất đầy gốm sứ, đủ màu đủ kiểu san sát dọc bến sông. Đứng trên bờ nhìn xuống tưởng như cả dòng sông lấp lánh ánh men sứ sang trọng, đằm thắm màu men gốm ấm áp. Làng gốm ven sông như tách biệt khỏi nhịp sống vội vã xô bồ của thành phố, ở đây dòng sông gốm chảy lặng lẽ mang lại cho đời những vẻ đẹp sản sinh từ lòng đất mẹ.
Đi dọc sông Hồng và nhiều con sông khác ta dễ dàng nhìn thấy những lò gốm, lò gạch ngói nhô lên trên bãi, dưới bến. Các làng gốm cổ bao giờ cũng nằm ven sông, con sông dù lớn hay nhỏ đều là nguồn sữa không chỉ nuôi sống những đồng lúa mà còn nuôi sống những làng gốm sứ, làng sành đất nung. Nguồn đất sét mỗi nơi tạo ra những loại gốm khác nhau từ chất liệu đến hình thức, từ sản phẩm cao cấp đến bình dân, từ đồ gốm sứ gia dụng đến đồ mỹ nghệ trang trí, cần thiết cho con người từ lúc chào đời cho đến khi nhắm mắt xuôi tay… Dòng sông mang nguyên liệu, chất đốt về làng rồi lại chuyên chở sản phẩm đi các nơi. Đồ gốm cứng cáp qua lửa nung nhưng vẫn nhờ dòng sông nương nhẹ sự mỏng manh của mình, để có thể mang đến cho con người vẻ đẹp hoàn thiện do những người thợ gốm tài năng mà bình dị sáng tạo ra.
Vào những ngày gần Tết đoạn sông gốm này tấp nập từ sáng đến tối, hàng về la liệt xếp trên bãi đủ sắc màu: màu men xanh thẫm của những chiếc độc bình cao ngang đầu người, màu trắng màu hồng mịn màng của bình hoa, màu nâu của hàng chồng chậu cây lớn nhỏ, màu xanh ngọc của bát, đĩa, ấm, chén, màu xanh vàng đỏ tía của những con giống ngộ nghĩnh, ấm chén bình lọ hoa văn cúc dây, sen vịt, song ngư giả đồ gốm Chu Đậu nổi tiếng hồi thế kỷ XV-XVI... Trên bãi dưới thuyền thoăn thoắt bước chân của những thanh niên chuyển hàng, tiếng nói cười râm ran của mấy chị quang gánh lấy hàng đem về bán lẻ, người lau chuốt cho hàng sạch sẽ, người chằng buộc chậu cây, độc bình... cẩn thận lên xe thồ để chở vào phố.
Trải dài bến sông là dãy hàng chưa bán được phủ những tấm bạt tránh nắng che mưa. Có thể tìm thấy bất kỳ một sản phẩm gốm, sứ từ các làng gốm nổi tiếng trong các khoang thuyền ngay trên bến sông này, kể cả gốm Biên Hòa, Lái Thiêu từ phía Nam... Đi dọc bến sông thỉnh thoảng bắt gặp những đống hàng đủ loại đủ màu, còn mới nguyên chỉ vì một chút sứt mẻ mà phải nằm lại đây… Vẫn biết đồ gốm sứ sẽ hư hỏng rồi cũng bị vứt bỏ, nhưng chợt thấy ngậm ngùi cho những sản phẩm chưa kịp bước vào cuộc sống đã vội trở thành phế phẩm do một giây bất cẩn của con người.
Đứng từ bãi sông nhìn lên, tầm mắt bị những ngôi nhà hình hộp lô nhô che chắn. Giá mà những ngôi nhà ấy đừng xấu như thế! Cái xấu từ việc xây dựng lộn xộn, kiểu dáng màu sắc phô trương đã phá vỡ không gian hài hòa vốn có ở làng quê này. Tự nhủ, thôi thì hãy đắm mình vào màu xanh bãi ngô, hương thơm của vườn rau thì là để già lấy hạt, luống cây mùi tàu cho nồi nước tắm gội chiều 30 Tết, thôi thì hãy nhắm mắt lại mà tận hưởng sự bình yên của những vườn quất, vườn đào phai còn sót lại trong cơn lốc đô thị hóa làng quê chưa biết bao giờ mới ngừng lặng.
Chiều loang trên sông, thoảng khói bếp tím trên những chiếc thuyền. Triền bãi vắng dần, hàng chồng gốm nằm im yên ngủ để ngày mai lại tiếp tục theo người vào phố. Chỉ còn tiếng lọc cọc chiếc xe bò vội vã chở ngô về làng… Ô này, mùi ngô nếp ngậm sữa đang trở mình trên bếp than hồng… Chợt bạn hỏi khẽ như một tiếng thở dài, mai này làng Tứ Liên có còn sông gốm…?
Báo Văn hóa Quảng Nam #tet2024







Một phim về gốm Nam bộ

 Mình có tham gia ý kiến trong phim tài liệu này, ngoài vài nhận xét được trích còn một số nhận xét khác chưa được sử dụng trong phim. Theo mình quan trọng nhất trong gốm Nam bộ là gốm Nam bộ luôn tiếp nhận nhanh chóng và thành công những yếu tố mới: kỹ thuật mới từ chất liệu, tạo dáng, men, màu, nung... đến các loại hình sản phẩm đáp ứng nhu cầu của đời sống xã hội. Điều đó tạo sức sống cho gốm Nam bộ vì luôn gắn liền với thời đại.

Điều đó được các nghệ nhân gốm hiện nay tiếp nối, thể hiện trong gốm Nam bộ hiện đại, như trong phim đã giới thiệu.


Mình cũng viết nhiều bài về gốm Nam bộ, các bạn có thể tìm đọc trên mạng :)






CON LỢN ĐẤT – MÓN QUÀ TẾT DÂN DÃ


Lợn là một trong vài con vật được người thuần dưỡng thành “gia súc” từ thời nguyên thủy. Trong nhiều di tích khảo cổ học cách nay hơn 2000 năm đã tìm thấy xương lợn nuôi, tức là từ khi ấy lợn đã là một loài vật quen thuộc với con người.
Con lợn (tiếng miền Nam: con heo) còn được gọi là ỉn (vì nó kêu ủn ỉn?) là trư (vì được “nhân hóa” thành Trư Bát Giới trong tiểu thuyết nổi tiếng Tây Du Ký). Nó đứng cuối cùng làm “em út” trong 12 con giáp, lại là con vật được gán cho khá nhiều tính cách, từ tốt đến xấu.
Hãy tạm kể những “tính xấu” của lợn: nào là phàm ăn, bẩn thỉu ô uế, lười biếng chỉ ăn rồi ngủ, nào là ngu như lợn, xấu như lợn... Thế mà nó lại trở thành biểu trưng cho sự “sung sướng” vì không phải làm gì mà vẫn được ăn no, cho sự phồn thực và tính dục (không hiểu sao người ta gọi “phim con heo” mà không là “phim con lợn”?).
Nhưng, với hình dáng tròn trịa bụng to, dễ nuôi, cho gì cũng ăn, mau lớn, mắn đẻ, đẻ nhiều con... nên con lợn còn là biểu trưng cho sự tích lũy của cải nhanh chóng, dễ dàng. Nông thôn Việt Nam trước kia hầu như nhà nào cũng có chuồng lợn, nuôi lợn tận dụng được thức ăn dư thừa và nhiều thứ phẩm trong nông nghiệp. Nuôi lợn như phương thức để dành, tích lũy dần thành một món tiền lớn khi đàn lợn được “xuất chuồng”.
Nuôi lợn còn là cách “để dành” thực phẩm cho những ngày lễ hội và ngày Tết, bởi vì một con lợn có thể cung cấp nhiều thịt đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho nhiều người. Không có bữa ăn hội hè đình đám nào mà thiếu món ăn từ thịt lợn, chưa kể “thủ lợn” “đầu heo” còn là vật cúng quan trọng trong nhiều nghi lễ gia đình và xã hội.
Ở nhiều nước khi ngành công nghiệp chăn nuôi ra đời thì lợn cũng là con vật được nuôi theo kiểu chuồng trại và thức ăn công nghiệp sớm nhất. Từ đó cung cấp thịt lợn nhiều hơn, ổn định và chất lượng tốt hơn cho con người.
Tuy được con người nuôi rất sớm nhưng con lợn bị coi là “không có tình cảm gắn bó với người” như con chó - con vật đứng trước nó trong 12 con giáp. Tuy vậy trong văn hóa Việt Nam, tranh Tết dân gian Đông Hồ có hình ảnh đàn lợn có lợn mẹ béo tròn dáng tần tảo, nhiều lợn con mũm mĩm nhanh nhẹn vui tươi xúm quanh... Bức tranh thể hiện ước mong sung túc, no đủ, hạnh phúc, năm mới gặp nhiều may mắn, con đàn cháu đống, phúc lộc đầy nhà.
***
Trong những loại đồ chơi truyền thống của trẻ em Việt Nam thì con lợn đất (ống heo) là thứ mà nhiều trẻ em có được. Không biết lợn đất có từ khi nào nhưng vào dịp Tết thì người lớn thường mua tặng con trẻ để khuyến khích sự cần kiệm, dành dụm. Trẻ em háo hức đón nhận và cho lợn đất “ăn” ngay những đồng tiền mừng tuổi mới tinh.
Lợn đất làm bằng đất nung, to tròn và thường tô màu đỏ rực rỡ, đôi mắt đen tròn xoe lông mi dài cong, cái mũi đỏ hồng, cái mõm ngắn xinh xinh, bốn chân chỉ là bốn cái núm nhỏ, lại được vẽ thêm cái đuôi ngắn quăn lên. Đặc biệt trên sống lưng có một khe hẹp chỉ bỏ lọt đồng xu hay tờ tiền giấy gấp lại. Đấy là “hộp tiết kiệm” của trẻ em, từ tiền “lì xì” lấy hên đầu năm, tiền cha mẹ cho nhưng không tiêu xài hay tiền các em kiếm được nhờ lao động... Mỗi khi cho thêm tiền vào bụng lợn đất thì đứa trẻ nào cũng lắc lắc để nghe tiếng đồng xu va vào nhau, để xem lợn đã “nặng” chưa. Người lớn hay hỏi đùa: lợn ăn no chưa, chắc béo rồi nhỉ? Làm thịt được chưa?
Lợn đất thường được “nuôi” từ Tết này đến Tết mới, cũng có khi lâu hơn. Khi đầy thì mới “mổ” (đập) ra. Trẻ em háo hức ngồi đếm xem được bao nhiêu tiền, cha mẹ thường cho các em lấy tiền đó mua quần áo mới hay mua sách vở, đồ dùng mà các em cần. Có trường hợp nhà túng thiếu nên người lớn đành phải “mượn tạm” tiền trong lợn đất của con. Lại có nhà kia đập lợn nhưng tiền trong đó không có bao nhiêu vì đã bị ai đó... moi trộm. Những lúc đó rất thương chủ nhân của con lợn đất, đứa trẻ bần thần rơm rớm nước mắt, có đứa còn òa khóc. Lợn đất rất gắn bó với trẻ em chứ không vô tâm như lợn nuôi trong chuồng.
Gắn bó thân thương là vậy nhưng có nhiều em nhỏ đã tình nguyện đập lợn đất lấy tiền giúp bạn nghèo, giúp người gặp tai nạn. Hình ảnh những em bé nhỏ xíu ôm lợn đất đến nơi quyên góp, đập ra và cẩn thận nhặt từng đồng trao cho cô chú tiếp nhận ủng hộ người nghèo thật cảm động. Lợn đất đã trở thành biểu tượng của sự chia sẻ đùm bọc, của lòng nhân ái ở trẻ em.
***
Hầu như làng gốm truyền thống nào cũng làm lợn đất, như một sản phẩm phụ vì có thể tận dụng nguyên liệu dư thừa. Nặn lợn đất không khó vì hình dáng đơn giản, ít chi tiết. Ngày trước lợn đất làm bằng tay nên không hoàn toàn giống nhau, như bầy lợn nuôi trong chuồng nhà con béo con hơi gầy, con dài con ngắn... đều xinh xắn dễ thương. Nay làm bằng khuôn nên kích thước hình dáng giống nhau như bầy lợn nuôi ở trang trại công nghiệp. Màu sắc, hoa văn của lợn đất được người thợ vẽ tay để tạo ra sự khác nhau, không chỉ có màu đỏ “may mắn” mà còn nhiều màu tươi tắn khác, người lớn nhìn còn vui mắt huống chi trẻ con. Bây giờ có những con lợn đất rất to, không biết nuôi đến bao giờ mới đầy, ngày Tết thường được bày trong nhà như cầu mong sự no đủ.
Những năm gần đây, cùng với lợn đất thì nhiều con giáp khác cũng được làm thành ống tiết kiệm, như con chó, con hổ, con trâu… Có lúc người ta làm ống tiết kiệm bằng đồng (cho bền?) hình con gà mái có cái bụng tròn to tư thế nằm ấp. Gà hay lợn đều giống nhau ở đặc điểm sinh đẻ nhiều và dễ dàng, thể hiện ước muốn “sinh sôi nảy nở” của đồng tiền. Hình ảnh “con gà đẻ trứng vàng” còn dùng làm biểu tượng khuyến khích gửi tiền tiết kiệm “ích nước lợi nhà”.
Bây giờ trẻ em có nhiều loại đồ chơi hiện đại, ống tiết kiệm cũng nhiều hình dáng, chất liệu gỗ hay kim loại, đẹp đẽ, có cả chiếc khóa nhỏ xíu xinh xinh… Nhưng ở nhiều gia đình thành phố con lợn đất vẫn thân thuộc với trẻ em, bởi vì ngoài chức năng “bỏ ống” thì lợn đất còn là hình ảnh làng quê nơi có ruộng lúa dòng sông… Mỗi chú lợn đất còn là sản phẩm từ bàn tay người thợ gốm yêu nghề làm ra để lưu truyền nét độc đáo của một món quà Tết Việt Nam.
Nguyễn Thị Hậu
Trong hình ảnh có thể có: món ănKhông có mô tả ảnh.

TRIỂN LÃM MỸ THUẬT ỨNG DỤNG SẢN PHẨM GỐM NAM BỘ


(Từ ngày 3.8 đến 9.8.2017 tại 92 Lê Thánh Tôn quận 1 TP. Hồ Chí Minh)
Sau lần đầu tiên triển lãm tại bảo tàng Mỹ thuật Hà Nội vào năm 2015, đây là lần thứ hai các nhà sưu tập ở cả hai miền tham gia triển lãm về GỐM NAM BỘ với số lượng lên đến gần 500 hiện vật của hơn 90 nhà sưu tập phần lớn ở phía Nam và có một số ở các tỉnh thành phía bắc như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định… Cuộc hội tụ lần này ở chính nơi mà dòng Gốm Nam bộ đã sinh ra, phát triển và tạo dựng được tiếng tăm từ thế kỷ trước. Điều đó cho thấy giá trị của dòng gốm này tuy được các nhà nghiên cứu phát hiện và quảng bá từ những năm 1990 nhưng cho đến gần đây càng được khẳng định và được cộng đồng nói chung và giới sưu tầm nói riêng đánh giá cao.
Gốm Nam bộ là tên gọi chung cho các vùng gốm phát triển ở khu vực Đông Nam bộ từ cuối thế kỷ 18 đến nay, trong đó giai đoạn cực thịnh là giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20. Đó là vùng gốm Sài Gòn (Đề NGạn) với khu lò Cây Mai nổi tiếng sản phẩm gốm trang trí và kiến trúc, vùng gốm Biên Hòa với những khu lò lu, lò sành và nổi tiếng với sản phẩm gốm của trường Mỹ Nghệ Biên Hòa và gốm Thành Lễ, vùng gốm Lái Thiêu nổi tiếng đồ gốm gia dụng mang dấu ấn truyền thống kỹ thuật làm gốm Quảng Đông, Triều Châu… Mỗi vùng gốm có đặc trưng riêng và thịnh đạt vào những thời điểm khác nhau, song như những chi lưu tất cả cùng hòa vào và tạo nên dòng chảy chính “Gốm Nam Bộ”, có thể đối sánh với những nơi sản xuất gốm nổi tiếng khác trong nước.
Từ những vùng gốm đó cuộc triển lãm này quy tụ nhiều loại hình sản phẩm của gốm Nam bộ: Trong ba nhóm sản phẩm cơ bản: Gốm dùng để xây dựng và trang trí kiến trúc; gốm trang trí nội ngoại thất; gốm dùng trong sinh hoạt hàng ngày… cho thấy màu sắc, hoa văn, kiểu dáng khá phong phú, đa dạng và có xu hướng “hiện đại”. Hầu hết những sản phẩm nhìn rất đẹp nhưng đều có dấu vết đã qua sử dụng. Tức là, sản phẩm từ lúc làm ra cho đến khi người ta chứng minh được giá trị của nó xứng đáng để sưu tập đồ cổ thì luôn luôn được “tham gia vào cuộc sống” chứ không tách ra riêng biệt. Điều này thể hiện tính cách, cá tính của người Nam Bộ là làm bất cứ một vật gì cũng hướng đến tính ứng dụng thực tế, chứ không chỉ mang tính trưng bày, trang trí thuần túy.
Tuy vậy thì ngoài việc thỏa mãn nhu cầu hữu dụng, nghệ nhân gốm Nam bộ cũng tìm cách thể hiện nhu cầu thẩm mĩ của sản phẩm bằng cách phối màu sắc bắt mắt, tạo ra màu men mới lạ, dùng nhiều thủ pháp trang trí khác lạ… ít có sản phẩm nào màu men trơn mà hầu hết được trang trí phủ kín, buộc người xem phải chú ý ngắm nhìn để rồi tìm ra, nhìn ra những đồ án hoa văn hay “câu chuyện” từ sản phẩm gốm Nam Bộ. Có thể nói đây là một đặc trưng của dòng gốm này.
Vẻ đẹp của gốm cổ Nam Bộ là vẻ đẹp giản dị, bình dân, gần gũi với cuộc sống hằng ngày chứ không phải là vẻ đẹp xa vời, cách biệt. Đất nào, nước nào phong thổ nào thì con người đó, mà con người nào thì sản phẩm đó. Người Nam Bộ làm ra gốm Nam Bộ, cởi mở đón nhận nhưng vẫn giữ được nét đặc sắc vốn có của mình. Các nhà sưu tập đã dày công sức sưu tầm và hội tụ trong cuộc triển lãm để giới thiệu cho công chúng những cổ vật mang giá trị lịch sử - văn hóa – nghệ thuật – kinh tế của Gốm Nam Bộ.
Cùng với việc sưu tầm thì các nhà sưu tập cần luôn là tác nhân quan trọng góp phần gìn giữ di sản văn hóa gốm, không chỉ là những hiện vật đơn lẻ lưu lạc trong dân gian, mà còn là tác phẩm điêu khắc, kiến trúc tại các công trình tín ngưỡng – tôn giáo hay công trình dân dụng. Vì hơn ai hết, chúng ta hiểu rằng, di sản có giá trị cao nhất là ở nơi nó được sinh ra và đảm nhận chức năng trang trí hay nghi lễ, là nơi nó được “sống cùng” với di tích và tham gia vào đời sống của người dân. Nhất là với Gốm Nam bộ mang tính ứng dụng rất cao - khi bị tách ra khỏi đời sống thì vô tình chúng ta đã làm mất đi giá trị đặc biệt của nó!
Nguyễn Thị Hậu

 Không có văn bản thay thế tự động nào.

Gốm cổ Nam Bộ: Hồn đất và người Nam Bộ

http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&CategoryID=41&News=8730


Vũ Hải An ghi

Tượng Tiêu Diện (hóa thân
của Phật Bà Quan Âm),
gốm Cây Mai, men nhiều màu,
thế kỷ 19. Ảnh Lê Thiết Cương

Từ ngày 8 đến 16/5, triển lãm “Gốm Nam Bộ và cổ vật trong các sưu tập tư nhân” đã ra mắt công chúng tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Hà Nội, trưng bày khoảng 200 hiện vật thuộc bốn dòng gốm tiêu biểu: Cây Mai, Lái Thiêu, Biên Hòa, Thành Lễ. TS khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu1 và họa sĩ Lê Thiết Cương đã có cuộc trò chuyện xung quanh lai lịch, sự thăng trầm và bản sắc của từng dòng gốm.

Tôn vinh vẻ đẹp gốm cổ Nam Bộ 

TS. Nguyễn Thị Hậu: Thuật ngữ “Gốm Nam Bộ” là do các nhà sưu tầm đặt ra, để chỉ một khu vực gốm có địa lý liền nhau: Sài Gòn, Lái Thiêu (Bình Dương), Biên Hòa. Tên gọi này còn hợp lý ở chỗ cả gốm Lái Thiêu, Biên Hòa đều có nguồn gốc từ gốm Sài Gòn (do quá trình đô thị hóa, các lò gốm ở Sài Gòn phải chuyển ra các vùng lân cận như Bình Dương, Biên Hòa). Còn thông thường, gốm Nam Bộ phổ biến với tên gọi của từng dòng gốm tiêu biểu, như gốm Cây Mai, gốm Lái Thiêu, gốm Biên Hòa, gốm Thành Lễ. 

Trong bốn dòng gốm này, Cây Mai là dòng gốm nổi tiếng của Sài Gòn - Chợ Lớn từ giữa thế kỷ 18 cho tới tận thế kỷ 19, 20. Tên gọi Cây Mai bắt nguồn từ địa danh khu lò gốm Cây Mai (thuộc quận 11). Đây là dòng gốm mỹ thuật do các nghệ nhân người Hoa của Chợ Lớn chế tạo, với những lò quen thuộc như Đồng Hòa, Bửu Nguyên, Mai Sơn… Thế mạnh của dòng gốm này là sản xuất các đồ tự khí (thờ cúng), đồ dùng cao cấp, với những kỹ thuật tinh xảo, cầu kỳ, chú ý từng chi tiết.

Khoảng cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, do quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, gốm Cây Mai dần dần không còn đất để phát triển ở Sài Gòn nên chuyển sang các vùng lân cận khác như Lái Thiêu (Bình Dương), Biên Hòa. 

Khoảng thời gian những năm đầu thế kỷ 20, dòng gốm Lái Thiêu phát triển nở rộ với các lò nổi tiếng như Quảng Hòa Xương, Hưng Lợi, Thái Xương Hòa, Quảng Hiệp Hưng (gốm Quảng Đông), Duyệt An, Đào Xương, Vinh Phát, Hương Thành (gốm Triều Châu)… Dòng gốm này tập trung vào đồ gốm gia dụng, từ đồ thờ tự đến các sản phẩm phục vụ nhu cầu hằng ngày của giới bình dân (như tô, chén, đĩa, hũ, hộp, ống nhổ, ơ, thố, ấm hay các sản phẩm sân vườn như đôn, chậu, bình bông, chóe, khạp, lu, đồ thờ cúng tượng, bát nhang, đèn…). 

Họa sĩ Lê Thiết Cương: Trong khi đó, khoảng thời gian từ năm 1925 đến những năm 1950 lại đánh dấu thời hoàng kim của dòng gốm mỹ nghệ Biên Hòa - khởi đầu từ Trường Mỹ nghệ thực hành Biên Hòa do hai ông bà người Pháp là Balick phụ trách. Qua nhiều thử nghiệm, cùng với các cộng sự người Việt, ông bà Balick đã tìm ra các loại men như: men ta (men làm từ tro), men màu xanh đồng (vert de Bien Hoa), men đá đổ (từ đá ong Biên Hòa) để chế tác các sản phẩm gốm trang trí nhiều màu, chạm khắc hoa văn đặc sắc (kế thừa kỹ thuật khắc lộng, đắp nổi), chinh phục thị trường không những ở trong nước mà còn ở cả nước ngoài như: Pháp, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia. 

TS. Nguyễn Thị Hậu: Năm 1950 thì ông bà Balick về nước, HTX Mỹ nghệ tách ra khỏi Trường Mỹ nghệ thực hành Biên Hòa, một số thợ của HTX hình thành xưởng nhỏ tại nhà. Đến năm 1958, ông Nguyễn Thành Lễ mở thêm xưởng gốm Thành Lễ bên cạnh xưởng sơn mài, mời nhóm thợ của HTX Mỹ nghệ Biên Hòa sang làm cố vấn, tập trung sản xuất các sản phẩm gốm chất lượng để xuất khẩu. 

Họa sĩ Lê Thiết Cương: Có thể nói, thời kì phát triển rực rỡ nhất của gốm cổ Nam Bộ nói chung kéo dài khoảng 100 năm, từ giữa thế kỷ 19 cho đến khoảng gần giữa thế kỷ 20. Với dòng gốm Thành Lễ, tuy ra đời muộn, thời gian hoạt động chỉ vẻn vẹn khoảng 10 năm (từ 1958-1968) nhưng trên cơ sở kế thừa tinh hoa gốm mỹ nghệ Biên Hòa, dòng gốm này vẫn có đặc trưng riêng biệt không lẫn với những dòng gốm khác. Nhiều đề tài lịch sử và đề tài về truyền thống dân tộc như Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo… được lấy làm chất liệu trong tạo hình và trang trí nên cũng được xếp vào những dòng tiêu biểu của gốm cổ Nam Bộ.

TS. Nguyễn Thị Hậu: Đánh giá chung về triển lãm thì đây là cuộc triển lãm đầu tiên về gốm cổ Nam Bộ được tập hợp ở khu vực phía Bắc, cụ thể là ở Hà Nội, cũng là triển lãm đầu tiên chỉ có các nhà sưu tầm (khoảng hơn 30 nhà sưu tầm phía Nam và một số nhà sưu tầm ở Hải Phòng, Hà Nội) góp hiện vật mà không có bất kì hiện vật nào của bảo tàng. Một triển lãm cổ vật thành công nhất từ trước đến nay, cả về chuyên môn lẫn góc độ xã hội.

Họa sĩ Lê Thiết Cương: Đúng là về chuyên môn không có dấu ấn nghiệp dư và, lâu lắm rồi, tôi mới thấy một triển lãm tư nhân làm được kĩ như thế. Cái kĩ đầu tiên phải kể đến là về mặt kĩ thuật, đó là có các bảng thuyết minh đi kèm hiện vật. Ngoài một bài chung về gốm cổ Nam Bộ là những bài riêng giới thiệu từng dòng gốm, chú thích các hiện vật tỉ mỉ, chi tiết. Cái kĩ thứ hai là cách sắp đặt, bài trí hiện vật đảm bảo được tính thẩm mĩ trong một không gian với ánh sáng, bục bệ lựa chọn phù hợp, tôn lên vẻ đẹp hiện vật trưng bày. 

TS. Nguyễn Thị Hậu: Phải khẳng định rằng cuộc chơi gìn giữ di sản qua cổ vật là cuộc chơi vô cùng sang trọng, và chỉ có những nhà sưu tầm tư nhân mới có thể có được những hiện vật phong phú, đặc trưng như vậy để giới thiệu ra công chúng. Xét ở góc độ xã hội, đây là cách thức hữu hiệu nhằm quảng bá, giới thiệu gốm cổ Nam Bộ tới người xem, một hướng mới trong việc cộng đồng cùng tham gia giữ gìn bảo tồn, phát huy giá trị di sản của chính ông cha mình.

Họa sĩ Lê Thiết Cương: Đúng như vậy, một bộ sưu tập chỉ thực sự có giá trị khi nó đến được với nhiều người. Thành công nhất của triển lãm là, thông qua các hiện vật gốm trưng bày, hồn văn hóa Nam Bộ xưa đã đến được với đông đảo công chúng, đặc biệt là công chúng Hà Nội.

Cởi mở đón nhận nhưng vẫn giữ được nét đặc sắc vốn có

Họa sĩ Lê Thiết Cương: Nói thêm về gốm cổ Nam Bộ, nó được hình thành bởi sự hợp lưu của ba “dòng sông” - ba nhóm chính: một là người bản địa, hai là người Minh Hương (người Hoa ở Nam Bộ), ba là người Pháp, nhưng chủ đạo vẫn là người bản địa. Người Minh Hương (chủ yếu gốc Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông) và người Pháp (ông bà Balick) khi đến vùng đất Nam Bộ đã mang theo kĩ thuật làm gốm (về lò, về than củi, về men) rất tiến bộ, chuyên nghiệp song sản phẩm của tất cả các dòng gốm nói trên vẫn thể hiện văn hóa người Việt ở Nam Bộ một cách rất đậm nét.

TS. Nguyễn Thị Hậu: Trong ba nhóm sản phẩm cơ bản: Gốm dùng để xây dựng và trang trí trong xây dựng; gốm trang trí nội ngoại thất; gốm dùng trong sinh hoạt (chén, bát, nồi, ơ…) thì về màu sắc, trang trí hoa văn, cách thức tạo dáng không khác nhau nhiều. Ngay cả những sản phẩm nhìn rất đẹp nhưng đều thấy dấu vết đã qua sử dụng. Tức là, sản phẩm từ lúc làm ra cho đến khi người ta chứng minh được giá trị của nó xứng đáng để sưu tập đồ cổ thì luôn luôn được “tham gia vào cuộc sống” chứ không tách ra riêng biệt. Điều này thể hiện tính cách, cá tính của người Nam Bộ là làm bất cứ một vật gì cũng hướng đến tính ứng dụng thực tế, chứ không chỉ mang tính trưng bày, trang trí thuần túy. 
Tuy vậy thì ngoài việc thỏa mãn nhu cầu hữu dụng, họ cũng tìm cách thỏa mãn cả nhu cầu thứ hai, đó là về mặt thẩm mĩ của sản phẩm, nhiều màu sắc bắt mắt: “xanh xanh, đỏ đỏ cho em nhỏ nó mừng” như người Nam Bộ thường nói.

Họa sĩ Lê Thiết Cương: Dù có du nhập kĩ thuật của người Hoa, người Pháp nhưng với phong thổ, khí hậu Nam Bộ thì gốm cổ được làm ở đây không thể là thứ gốm giống hệt gốm của người Hoa, người Pháp. Thổ nhưỡng Nam Bộ không thể cung cấp nguồn nguyên liệu tinh khiết với các mỏ cao lanh dồi dào như ở Trung Quốc - khi nung chịu được nhiệt độ cao, sản phẩm làm ra thường nhẹ. Mà nguyên liệu ở ta chủ yếu là đất sét, đất pha cát nhiều (đất nhẹ lửa) nên chỉ thích hợp với lò nung nhiệt độ thấp, do đó các sản phẩm làm ra thường dày, nặng, chắc chắn.

Hơn nữa vì đất làm gốm nhẹ lửa, nên men gốm cũng phải nhẹ lửa, và những men màu xanh, đỏ, nâu, vàng… rất phù hợp với yêu cầu này. Trong bốn dòng gốm trưng bày ở triển lãm, không tìm được sản phẩm nào đơn sắc cả. Nó khác hẳn với gốm khu vực Bắc Bộ hay Trung Bộ, men gốm của hai khu vực này, tỉ lệ màu đơn sắc luôn chiếm ưu thế.

TS. Nguyễn Thị Hậu: Cùng với men gốm, dáng và hình vẽ (họa tiết trên bề mặt sản phẩm) cũng là những yếu tố cơ bản để phân biệt, nhận diện các sản phẩm gốm. Tuy nhiên người Nam Bộ không chú trọng đến hình dáng sản phẩm bằng men và hình vẽ. Một số thủ pháp như vẽ chìm, chạm thủng (đục thủng), đắp nổi hoa văn bên ngoài sản phẩm được áp dụng... Từ màu sắc cho đến họa tiết, như họa sĩ Lê Thiết Cương từng nói, là “không có chỗ cho người ta nghỉ mắt”. 

Họa sĩ Lê Thiết Cương: Vẻ đẹp của gốm cổ Nam Bộ là vẻ đẹp giản dị, bình dân, gần gũi với cuộc sống hằng ngày chứ không phải là vẻ đẹp xa vời, cách biệt. Sự hội tụ của ba yếu tố đất, nước, lửa với điều kiện, môi trường sống ở đây đã tạo ra chính vẻ đẹp đặc trưng này. Đất nào, nước nào thì người đó, mà con người nào thì sản phẩm đó. Người Nam Bộ làm ra gốm Nam Bộ, cởi mở đón nhận nhưng vẫn giữ được nét đặc sắc vốn có của mình. 

  

TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...