Hôm nay 17/2/2025, đăng lại bài này của nhà báo Huy Đức (Trương Huy San), người đang trong vòng lao lý
BIÊN GIỚI THÁNG HAI - Tác giả: HUY ĐỨC
THÊM MỘT CĂN NHÀ CHO GIA ĐÌNH HOÀNG SA
1, Đỗ Thanh Triều– Vietcombank TP.HCM – số TK 0071001176816 cho tiên đồng VN (VND) Vietcombank TP.HCM số TK 0071370974455 cho dollar
2, Trường hợp chuyển tiền mặt xin gửi: Đỗ Thanh Triều, báo Tuổi Trẻ, 60A Hoàng Văn Thụ, quận Phú Nhuận, điện thoại: 0903383994.
3, Tài khoản Paypal: nhipcauhoangsa@gmail.com
4, Những người ở Mỹ có thể gửi check cho “Thai Thai Dinh” (tức Đinh Quang Anh Thái ) địa chỉ 14771 Moran Street, Westminster, CA 92683, USA ; với memo “Đóng góp cho quĩ Nhịp Cầu Hoàng Sa”
OSIN HUY ĐỨC




14/3/1988 : GẠC MA - CO LIN - LEN ĐAO!
Cuộc toạ đàm BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỊCH SỬ CỦA CÁC CUỘC CHIẾN TRANH BẢO VỆ BIÊN GIỚI, HẢI ĐẢO VÀ CHỦ QUYỀN QUỐC GIA THỜI HIỆN ĐẠI do Hội KHLSVN tổ chức tại HN dự định tổ chức vào ngày 17/2/2014 nhưng… phải lùi đến này chủ nhật 9/3/2014!
Tại cuộc toạ đàm này, sau rất nhiều ý kiến, phát biểu của các GS,TS, những người đương chức và cả người “nguyên là”… về những vấn đề liên quan đến “sử liệu” của các cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam 1987, biên giới phía Bắc 1979, Hoàng Sa 1974, Trường Sa 1988, về việc đưa nội sung lịch sử này vào trưng bày tại bảo tàng, vào sách giáo khoa… (nội dung cuộc toạ đàm các bạn có thể xem ở FB Chú Tuễ-TS Nguyễn Xuân Diện), gần cuối giờ mình ráng “đòi” được nói. Vị GS.TSKH, một trong ba vị chủ trì Toạ đàm, đồng ý, vì “đại biểu từ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ra, lại là phụ nữ mà hôm nay mới là mùng 9/3, chúng ta dành cho TS Ng Thị Hậu một món quà là dành cho chị 5 phút trước khi Chủ toạ tổng kết Toạ đàm".
Đây là ý kiến của mình, viết lại mạch lạc hơn khi phát biểu, nhưng vẫn là những ý đã nói.
Muốn "bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử..." như nội dung cuộc toạ đàm nêu ra, tôi tán thành ý kiến của các SG, các nhà khoa học đã nói. Ngoài ra tôi đề nghị 4 vấn đề sau:
1. Về sử liệu: Cần công bố những tư liệu, tài liệu lịch sử có liên quan đến các cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc ở biên giới Tây Nam, Tây Bắc và biển Đông. Hiện nay tình trạng tư liệu lịch sử không được công bố làm cho việc nghiên cứu rất khó khăn. Những tư liệu tài liệu chữ viết nào đã đến thời hạn “giải mã” thì cần “bạch hoá” và tập trung tại các cơ quan có chức năng nghiên cứu lịch sử, như Viện Sử học, Viện Lịch sử quân sự, Viện Hán Nôm. Đặc biệt Viện Hán Nôm phải là nơi lưu trữ các văn bản gốc thời Nguyễn liên quan đến quản lý, khai thác và bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa. Việc chuyển tài liệu cho các cơ quan khoa học là để hiện nay nghiên cứu, công bố, đồng thời cũng để đời sau tiếp tục nghiên cứu. Tránh tình trạng tài liệu bị thất lạc, biến mất hay “tam sao thất bản”, như vậy không thể nào viết lại lịch sử một cách khách quan và khoa học được. Những cơ quan khác, khi cần, có thể sử dụng bản sao.
2. Về việc đưa nội dung này vào sách giáo khoa: chắc chắn phải đưa vào, nhưng đưa vào như thế nào, đến đâu… tôi nghĩ sẽ là một quá trình không ngắn. Trước mắt để giáo dục con em về sự toàn vẹn lãnh thổ, tôi đề nghị một việc mà Hội Sử VIỆT NAM, các hội địa phương đều có thể phối hợp cùng ngành giáo dục làm được. Đó là trang bị cho mội lớp học một tấm bản đồ VIỆT NAM có đầy đủ đường biên giới hiện nay, đầy đủ các đảo và quần đảo HS-TS. Mỗi trường phổ thông cần có một bộ bản đồ VIỆT NAM từ thời NGuyễn đến nay minh chứng tính thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ VIỆT NAM. Giáo dục trực quan, hàng ngày như thế sẽ làm cho học sinh ý thức ngay từ nhỏ việc bảo vệ chủ quyền tổ quốc.
3. Cần thành lập một cơ quan nghiên cứu Biển Đông về tất cả các lĩnh vực địa chất địa lý, tài nguyên môi trường, kinh tế, văn hoá… nhằm tránh sự manh mún, tản mạn và khó liên kết giữa các ngành trong mục tiêu cùng nghiên cứu biển Đông. Nếu chưa thể thành lập cơ quan nghiên cứu cấp Trung Ương thì nên thành lập tại 1 tỉnh duyên hải, như Đà Nẵng, để nơi đây là cơ quan tập hợp và có tiếng nói khoa học chính thức. Hiện nay các cơ quan khoa học có rất ít thông tin trên mạng về lịch sử, tình hình biển Đông, trong khi đó TQ có hàng chục cơ quan nghiên cứu biển Nam hải, họ công bố dồn dập tài liệu, thật giả ta không thể biết. Trong khi đó ta chậm công bố và ít công bố tài liệu liên quan. Chưa kể việc ta đưa rất ít nhà khoa học đi dự HT quốc tế về vấn đề này.
4. Cần có chính sách rõ ràng và nhất quán về truyền thông các vấn đề liên quan đến lịch sử vùng biên giới và biển Đông. Đành rằng về ngoại giao thì nhà nước không thể hay chưa thể nói, nếu các báo, đài chính thống chưa được nói thì nên để các hội , đoàn lên tiếng. tế nhị về ngoại giao nhưng với nhân dân cũng cần tế nhị, vì dân là người giữ nước, một mình chính quyền không thể giữ nước. Mặt khác, nhân dân lên tiếng về việc này là thể hiện sức mạnh. Khi chúng ta có chính kiến rõ ràng thì điều này cũng tạo nên sự sức mạnh đoàn kết của cả người Việt trong và ngoài nước.
Từ những tấm bản đồ cổ
THÁI ĐỘ VỚI DI TÍCH LÀ THÁI ĐỘ VỚI LỊCH SỬ
NGÀY NÀY NĂM TRƯỚC
Hà Nội (ảnh Mai Kỳ)
và Sài Gòn (ảnh Viễn Sự)
Blog của tôi tràn ngập hình ảnh bạn bè, những gương mặt trẻ già dễ thương rạng ngời tình yêu Tổ quốc, những gương mặt trong sáng đầy vẻ cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia. Họ bày tỏ lòng yêu nước một cách hồn nhiên, không vụ lợi, không suy tính, không đao to búa lớn. Họ là những người bạn của tôi, là những người tôi không quen bíêt, nhưng tất cả đều là những con người chân chính, là đồng bào của tôi! Nâng thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân - Lời người xưa dặn đó!
Tình yêu Tổ quốc là tình cảm thiêng liêng của mỗi con người, của mỗi dân tộc. Tình yêu đó thiêng liêng bởi vì nó xuất phát từ trái tim trong sáng, tình yêu Tổ quốc không có chỗ cho những gì giả trá. Ngày hôm nay nhân dân đã làm nên một “Hội nghị Diên Hồng” ở Hà Nội , ở Sài Gòn và kết nối hàng triệu trái tim.
Hôm nay tôi đã được chứng kiến những giờ phút giao hòa của mỗi con người với Hồn thiêng sông núi!
Trường Sa của tôi
http://www.baomoi.com/Home/DuLich/www.thanhnien.com.vn/Truong-Sa-cua-toi/8454635.epi
13/05/2012 3:32Chuyến đi Trường Sa của tôi có thể coi là “hành trình xanh”, bởi từ đầu đến cuối chuyến đi nhìn đâu cũng thấy một màu xanh bất tận.
Những ngày tháng tư âm lịch vẫn còn trong thời gian thuận lợi cho những chuyến đi biển dài ngày, gió nhẹ, nắng nóng. Ra khỏi cửa Cần Giờ là biển hiện ra một màu xanh hiền hòa. Cứ vậy suốt gần ba ngày đầu của hành trình xung quanh là sắc biển xanh biến đổi khôn lường. Mỗi sáng, mỗi chiều, nhìn gần, nhìn xa… biển xanh nhạt, xanh thẫm, xanh tím, xanh đen… Vào lúc bình minh và hoàng hôn mặt trời đỏ rực phía chân trời, biển chuyển màu vàng cam nhưng chỉ thoáng chốc lại trở về với sắc xanh bất tận của mình.Hành trình miệt mài trên biển cứ ngong ngóng khi một chấm, rồi một dải xanh mờ hiện lên, rõ dần, mọi người lại nôn nao... Đảo của ta đấy, những tên đảo đã thân quen tự khi nào mà bây giờ mới được tận mắt nhìn thấy: Song Tử Tây, Đá Nam, Đá Thị, Sơn Ca, Sinh Tồn, Len Đao, Đá Lát, Đá Tây, Trường Sa lớn… Đảo nổi đảo chìm xanh màu lá trên nền xanh của biển của trời. Ca nô cặp sát tàu đưa từng nhóm vào đảo.
|
Đảo Song Tử Tây - Ảnh: Nguyễn Thị Hậu |
Đảo nổi còn có lớp cát san hô mỏng trên mặt nhưng các đảo chìm thì chỉ có nhà xây nổi trên mặt nước. Vậy mà đảo nào cũng xanh trên từng mét vuông mặt đất hay trên giàn treo nho nhỏ lấn ra biển cả. Rau trồng bằng hạt theo từng luống nhỏ xíu: rau muống, rau cải, mồng tơi... chăm sóc từng cây. Hầu như đảo nào cũng trồng rau muống, lính ta nói đùa “rau muống còn thì đảo ta còn, đảo ta còn thì biển trời ta còn”. Đảo Song Tử Tây còn có chuối, ớt, lá lốt, rau ngót... Đảo Sinh Tồn Đông có cả giàn bầu trái sai lúc lỉu, đảo chìm trồng cả sả, riềng và lá mơ. Có nơi phải đóng dàn rồi dùng ni lông quấn xung quanh vườn rau nhỏ để tránh gió mang hơi nước mặn làm cháy hết lá. Ngay trên nhà giàn DK1, trong cái vuông đất nhỏ xíu cao hàng chục mét chênh vênh trên mặt biển còn trồng cả hành và thìa là nữa (món cá biển làm sao thiếu rau thìa là?). Nước tiết kiệm qua nhiều lần dùng và lần cuối để tưới rau. Mà cũng đâu được tưới thoải mái. Rau cũng như người, chắt chiu từng giọt nước ngọt hứng từ cơn mưa đỏng đảnh thất thường ở Trường Sa hay dành dụm từ những thùng nước ngọt theo tàu từ đất liền ra đảo. Ở nơi đảo xa này mới thấy quý từng giọt nước, từng nắm đất, mới càng hiểu hơn hai chữ ĐẤT NƯỚC thiêng liêng!
Màu xanh Trường Sa của biển cả, của ngọn rau quê nhà, là gương mặt tỉnh táo người lính đảo dõi canh biển trời, là ánh mắt vời vợi người mẹ, người em gửi thương gửi nhớ… Hành trình của chúng tôi đi theo màu xanh Trường Sa đầy sức sống mãnh liệt mà bình dị. “Tấc đất ngọn rau ơn Chúa, tài bồi cho nước nhà ta; bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó” *. Hàng ngàn năm lịch sử mỗi tấc đất, mỗi tấc biển đảo là mồ hôi nước mắt, là xương máu tiền nhân.
|
Vườn rau trên nhà giàn DK1 |
Bàn tay người lính
Đi trong mênh mông trời biển, khi nào nghe thấy tiếng còi tàu rúc lên là biết đã gần tới đảo. Hồi còi báo hiệu tràn ngập niềm vui. Mọi người đổ ra boong ngóng về phía xa để được nhìn thấy một chấm nhỏ hay một vệt mờ hiện ra, rõ dần, lớn dần… Kìa ngọn đèn biển vươn cao vững chãi, kìa những cánh quạt gió như những cánh chim chấp chới, kìa màu xanh của cây bàng trái vuông, của cây bão táp, phi lao… Có đi biển dài ngày mới hiểu nỗi bồi hồi khi thấy đảo như thấy đất liền. Ba hồi còi tàu rúc lên, đã nhìn thấy áo trắng áo xanh của lính đảo nơi cầu tàu.
|
Đàn gà trên đảo Song Tử Tây |
Trên đảo Song Tử Tây, phía sau doanh trại có mấy cái chuồng gà, khi được thả ra chúng đập cánh đua nhau gáy ầm ĩ làm lũ vịt đang nằm tránh nắng dưới bóng cây nhao nhao đứng dậy. Hỏi một người lính: sao toàn là gà trống thế hả cháu?
Chú lính trẻ vui vẻ trả lời:
- Gà mái đi tàu ra đảo bị say sóng chả sống được cô ạ.
- Thật à? Khổ thân bọn gà trống.
Lỡ lời đùa rồi tôi ân hận ngay khi nghe chú lính nửa đùa nửa thật:
- Sao cô chả khổ thân bọn cháu, cả năm có nhìn thấy bóng dáng con gái đâu hả cô?
Nhưng cũng cậu lính ấy tếu táo: không sao cô ạ, bọn gà trống ghê lắm, chúng nó toàn đi “yêu” bọn vịt đấy. Không tin cô chờ tí nữa mà xem.
|
Hát cùng lính đảo - Ảnh: Nguyễn Thị Hậu |
Để vào được mấy đảo chìm, tàu phải neo đậu xa hơn. Bước lên bờ là bước vào “nhà”, cũng đủ nhà bếp, phòng ngủ, phòng khách. Đứng bên mấy cô ca sĩ trẻ trên ban công đón gió biển, bàn tay anh lính vụng về mà trìu mến đội cho cô gái chiếc mũ hải quân rồi bối rối khi cô kế bên chụp hình lưu niệm. Mắt tôi nhòe đi… Bao giờ bàn tay kia được cài vòng hoa cô dâu lên đầu một người con gái?
Và chúng tôi hát, không phân biệt đâu là lính, đâu là ca sĩ, đâu già, đâu trẻ. Vừa rối rít nhận đồng hương đấy, nhưng khi cất tiếng hát tất cả đều là đồng đội. Có người lính trẻ đứng trong công sự mắt dõi nhìn biển trời mà bàn chân anh vẫn vô tình nhịp theo bài tình ca quen thuộc.
Thời gian trên đảo qua nhanh lắm, chưa kịp ấm bàn tay đã nghe còi bùi ngùi nhắc trở về tàu. Ca nô quay mũi, những bàn tay vẫy. Sẽ còn gặp lại, sẽ còn gặp lại. Lời chào chung cũng là niềm hy vọng của mỗi người.
Đi qua vùng biển Len Đao -Cô Lin - Gạc Ma và vùng biển trên thềm lục địa, mọi con tàu đều tổ chức lễ tưởng niệm những người lính đã hy sinh bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc. Buổi lễ thiêng liêng không chỉ là nghi thức mà là tình cảm thật sự của những người còn sống dành cho các anh. Khi vòng hoa đỏ và những bông cúc vàng được thả xuống biển xanh, trong mờ ảo khói nhang trầm, các anh như đang hiển hiện quanh đây… Ba hồi còi tàu vang lên: Các anh không bao giờ mất, những người lính đã nằm lại với biển Đông hay ngã xuống nơi biên giới phía Bắc, chừng nào chúng ta còn nhớ đến họ, còn tiếp tục những công việc mà họ đã làm.
Đất nước trọn vẹn một màu xanh. Xanh núi xanh sông xanh rừng xanh biển, bởi trong màu xanh bất tận ấy có màu máu đỏ của biết bao con người…
TP.HCM 7.5.2012
Nguyễn Thị Hậu
Tiếng kẻng báo động trên “vùng trời bình yên”
CÔN ĐẢO, TỪ “ĐỊA NGỤC” ĐẾN “THIÊN ĐƯỜNG”
TRƯỜNG SA (1)
BÌNH MINH
NGÀY MỚI
CÂY PHONG BA
Trên vùng biên đảo của đất nước tất cả đều là chứng tích lịch sử về chủ quyền.
CÔNG DÂN TRƯỜNG SA
ĐẢO XA THÂN YÊU
TRÁI BÀNG VUÔNG Ở TRƯỜNG SA
LÍNH HÁT KHÔNG THUA CA SĨ CHUYÊN NGHIỆP
BIỂN CỦA TA TRỜI CỦA TA
TƯỞNG NIỆM
HOA BÀNG VUÔNG
CÁC ANH NẰM LẠI BIỂN XANH...
HÒANG HÔN
"KHAI QUẬT" TRẦM TÍCH VĂN HÓA BIỂN
“Khai quật” trầm tích văn hóa biển
TTCT - Tôi cứ băn khoăn tự hỏi mãi, vì sao khi những bản tin thời tiết lại dùng từ “khẩn cấp” chỉ khi bão đổ vào đất liền và dùng từ “bão xa” khi ngay lúc ấy, cả ngàn ngư dân Việt Nam trên biển đã phải đối mặt và chịu thiệt hại về người và của?
Nơi biển cả mà từ đất liền, ta thấy là mênh mông khôn cùng, từ ngàn đời nay những ngư dân đã để lại một bề dày trầm tích văn hóa...
| Thuyền bè trên sông Fai Fô (Hội An). Tranh phụ bản trong cuốn Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792-1793) của J.Barrow |
Dọc dài hơn 3.000km bờ biển từ Móng Cái đến Kiên Giang là hàng trăm ngàn kilômet vuông thềm lục địa, hàng trăm đảo, quần đảo lớn nhỏ. Vùng duyên hải Việt Nam là nơi làm ra loại gia vị độc đáo từ cá là nước mắm - gia vị chủ đạo để chế biến những thức ăn đặc biệt Việt Nam, theo một cách nấu cũng không nơi nào có: món kho!
Những cá kho, thịt kho, đậu kho, trứng kho, rau củ (trám, củ cải, măng...) cũng kho - loại thức ăn mặn mòi vị muối từ biển, có thể để dành bữa sau, ngày mai... cũng không bị thiu hỏng trong tiết nhiệt đới nóng nực. Và đấy chỉ là một trong vô vàn yếu tố văn hóa biển hiện hữu trong cuộc sống hằng ngày của người dân ta.
Những dấu tích nguyên vẹn
| Từ thời xa xưa, những tộc người sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay đã biết khai thác nguồn lợi từ biển, thông thạo buôn bán, trao đổi bằng đường biển, phát triển nghề đi biển và tiến ra khai thác các đảo và quần đảo. Các đô thị ven biển cũng hình thành tính chất đa văn hóa, pha trộn, giao lưu và cởi mở... |
Tài liệu khảo cổ học cho biết đã có những di tích người nguyên thủy sinh sống ở các miền ven biển cách đây 6.000-3.000 năm, hình thành các văn hóa khảo cổ như văn hóa Hạ Long (Quảng Ninh), Cái Bèo (Hải Phòng), Đa Bút, Hoa Lộc (Thanh Hóa), văn hóa Quỳnh Văn (Nghệ An), Thạch Lạc (Hà Tĩnh), Bàu Tró (Quảng Bình)...
Các nền văn hóa ven biển này có nhiều yếu tố gần gũi với văn hóa Hòa Bình - Bắc Sơn ở miền núi và thung lũng, có niên đại 12.000-8.000 năm cách ngày nay. Dấu tích thức ăn của con người để lại là lớp vỏ ốc dày hàng mét trong các hang động miền núi, vỏ sò điệp tạo thành cồn dài hàng chục mét ven biển, trong đó còn có mộ táng, công cụ đá mài, mảnh gốm, bếp và than tro lẫn xương thú, xương cá...
Động vật thủy sinh là nguồn thức ăn đạm động vật phổ biến của những lớp cư dân cổ. Những nhóm cư dân miền núi và ven biển này là những cộng đồng cư dân sinh sống bằng nghề trồng trọt sơ khai và khai thác sản phẩm tự nhiên từ rừng núi, từ sông, từ biển. Phải chăng sự thật lịch sử này đã được huyền thoại hóa thành truyền thuyết khởi nguyên của người Việt “con rồng cháu tiên”, con cháu nửa lên núi, nửa xuống biển khai phá mở mang đất - nước?
| Bếp gốm dùng trên ghe xuồng (đồ tùy táng tìm được trong mộ chum ở Cần Giờ, TP.HCM). Ngày nay cư dân Đông Nam Á vẫn dùng loại bếp này |
Vào khoảng nửa sau thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, hoạt động giao thông đường biển đã phát triển ở Việt Nam, tạo điều kiện cho việc đi lại, tiếp xúc, trao đổi giữa các nhóm cư dân ven biển nước ta với khu vực hải đảo Đông Nam Á. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng trên mặt trống đồng Đông Sơn có khắc hình chiếc thuyền lớn với hình người cùng những nghi lễ, đầy đủ lương thực, vũ khí... chính là hình dáng của những con thuyền của tổ tiên ta vươn ra khai thác sông biển từ rất sớm.
Ở phía Nam, văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung và văn hóa Đồng Nai ở vùng cửa biển Cần Giờ đã để lại nhiều dấu ấn của những đoàn thương thuyền đến từ Ấn Độ, như đồ trang sức bằng ngọc, bằng thủy tinh, bằng vàng... Dấu tích thương mại Trung Hoa là những đồng tiền Ngũ Thù, gương đồng, bình gốm thời Hán tìm thấy khá nhiều ở một số di tích khảo cổ ven biển.
Quan hệ buôn bán với Ấn Độ và Trung Quốc diễn ra ở vùng ven biển từ rất sớm, khoảng 1-2 thế kỷ trước Công nguyên. Đặc biệt đồ gốm trong mộ táng chum vò của văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Đồng Nai rất giống đồ gốm trong các di tích mộ táng ở Philippines, mà các nhà khảo cổ cho rằng đó là bằng chứng của sự trao đổi sản phẩm và kỹ thuật sản xuất giữa cư dân vùng ven biển và hải đảo.
| Hiện vật gốm thương mại của Việt Nam trên tàu đắm tại Cù Lao Chàm |
Một nền văn hóa biển cởi mở
Đến đầu Công nguyên, các vương quốc cổ Phù Nam, Champa ở phía Nam hình thành và phát triển thành những vương quốc giàu mạnh nhờ khai thác thủy hải sản, lâm sản, nông nghiệp và nhất là nhờ có hệ thống cảng thị ven biển để buôn bán và làm dịch vụ cho con đường thương mại trên biển nối liền lục địa Ấn Độ đến lục địa Trung Hoa.
Ở phía Bắc, từ đầu thế kỷ thứ 10, quốc gia Đại Việt giành được nền độc lập tự chủ. Các triều đại Lý - Trần bắt đầu mở cảng Vân Đồn tiếp nhận thương thuyền nước ngoài. Đến thời Lê, Dư địa chí của Nguyễn Trãi còn nhắc đến các cửa biển Càn Hải, Hội Thống (Nghệ An), Hồi Triều (Thanh Hóa)... Từ thế kỷ 17, chính quyền Chúa Nguyễn Đàng Trong tiếp tục phát triển Đại Chiêm hải khẩu thành cảng thị Fai Fô - Hội An, xây dựng cảng Bến Nghé mở đường ra biển cho vùng Gia Định - Đồng Nai.
Từ khoảng thế kỷ 8-12, 13 và sau đó, biển Đông của Việt Nam không chỉ là nơi trung chuyển mà còn tích cực tham gia con đường thương nghiệp biển. Con đường tơ lụa, con đường gốm sứ trên biển nhộn nhịp quanh năm. Ven biển Đông Nam Á, khảo cổ học đã khai quật được nhiều tàu đắm chở hàng hóa xuất xứ từ nhiều nước.
Thương nghiệp đường biển mang đến Đông Nam Á sự du nhập tôn giáo và ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, hình thành các đô thị thương nghiệp (cửa biển, bến cảng) - những đô thị phát triển nhanh mà lụi tàn cũng nhanh một khi mất chức năng cảng thị; phát triển dịch vụ thương nghiệp, nghề đóng và sửa chữa tàu. Các đô thị ven biển cũng hình thành tính chất đa văn hóa, pha trộn, giao lưu và cởi mở.
| Bình gốm tứ giác ven biển Quảng Ninh (văn hóa Phùng Nguyên 4.000-3.000 năm cách ngày nay) khắc vạch hoa văn sóng nước - Ảnh tư liệu |
Tất cả những điều trên cho thấy từ thời xa xưa những tộc người sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay đã biết khai thác nguồn lợi từ biển, thông thạo buôn bán, trao đổi bằng đường biển, phát triển nghề đi biển và tiến ra khai thác các đảo và quần đảo. Đường bờ biển dài chính là một lợi thế của Việt Nam: đây là “mặt tiền” nhìn, hướng ra biển Đông, một vùng giàu tài nguyên và là đường giao thông quan trọng của khu vực Đông Nam Á và châu Á.
Khai thác lòng biển, thềm lục địa không chỉ có tài nguyên thiên nhiên, mà còn có tài nguyên văn hóa chứa đựng nhiều giá trị. Đó là việc ngành khảo cổ học phát hiện và khai quật di tích tàu đắm trong vùng biển nước ta, những con tàu chở đồ gốm xuất khẩu của Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan, mà nay những cổ vật gốm này có giá trị không chỉ về lịch sử - văn hóa mà còn về kinh tế.
Ta còn thấy những di sản văn hóa phi vật thể như lễ cầu ngư và nhiều lễ hội khác, những phong tục tập quán lối sống của cư dân vùng ven biển chứa đựng nhiều yếu tố văn hóa Đông Nam Á ... Tất cả đều góp phần tạo nên lớp trầm tích quý giá của truyền thống văn hóa - lịch sử nước Việt Nam đa dạng và thống nhất.
Bởi vậy nói đến văn hóa Việt Nam và Đông Nam Á không chỉ là “văn hóa, văn minh lúa nước” mà còn là văn hóa biển: thương nghiệp, cảng thị, giao lưu. Do những hoàn cảnh lịch sử, nhiều quốc gia Đông Nam Á phát triển nông nghiệp trồng lúa với tộc người chiếm đa số cư trú ở trung du, đồng bằng. Văn hóa nông nghiệp trồng trọt dần trở thành chủ đạo, “văn hóa biển” còn lưu lại dấu ấn trong nhiều yếu tố truyền thống.
Truyền thống văn hóa biển của khu vực Đông Nam Á cũng cần được coi là cơ sở dữ liệu để nghiên cứu vấn đề lịch sử và pháp lý liên quan biển Đông. Cái nhìn từ góc độ lịch sử có thể coi là một “sự nhắc nhớ” về việc khai thác nguồn lợi của biển Đông không chỉ trong lòng biển, dưới thềm lục địa mà còn ngay trên mặt biển. Sự có mặt của những đội thương thuyền cũng như tàu đánh bắt cá xa, gần bờ thể hiện một cách cụ thể chủ quyền của mình ở vùng biển này.
Nên không thể không “đứng trước biển” với tâm thức của người sống nhờ biển, sống vì biển như đã sống nhờ đất, vì đất.
TS NGUYỄN THỊ HẬU
(Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM)
TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)
https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...
-
Trích phần 3 của bài đăng trên tạp chí Di sản văn hóa số 3(15) 2023 3. Bảo tồn và phát triển nghệ thuật gốm Chăm ở Bàu Trúc trong bối cảnh ...
-
Một người bạn fb bất ngờ ra đi. Post bài thơ rất hay của bạn. Tôi biết Cao Hải Hà qua mạng Yahoo blog và sau là FB. Vài lần gặp Hà ở chỗ ...
-
Người Việt có một số thành ngữ và sự tích liên quan đến cá trê, như truyện Trê Cóc chẳng hạn. Câu chuyện không chỉ là việc Trê tranh giàn...









