Hiển thị các bài đăng có nhãn biển đảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn biển đảo. Hiển thị tất cả bài đăng

BIÊN GIỚI THÁNG HAI - Tác giả: HUY ĐỨC

 Hôm nay 17/2/2025, đăng lại bài này của nhà báo Huy Đức (Trương Huy San), người đang trong vòng lao lý

BIÊN GIỚI THÁNG HAI
Tác giả: HUY ĐỨC
Tháng Hai, những cây đào cổ thụ trước cổng đồn biên phòng Lũng Cú, Hà Giang, vẫn chưa có đủ hơi ấm để đâm hoa; những khúc quanh trên đèo Tài Hồ Sìn, Cao Bằng, vẫn mịt mù trong sương núi. Sáng 7-2 nắng lạnh, vợ chồng ông Nguyễn Văn Quế, 82 tuổi, nhà ở khối Trần Quang Khải 1, thị xã Lạng Sơn, ngồi co ro kể lại cái chết 30 năm trước của con trai mình, anh Nguyễn Văn Đài. Năm ấy, Đài 22 tuổi. Ông Quế nói: “Để ghi nhớ ngày ấy, chúng tôi lấy Dương lịch, 17-2, làm đám giỗ cho con”. Năm 1979, vào lúc 5giờ 25 phút sáng ngày 17-2, Trung Quốc nổ súng trên toàn tuyến biên giới Việt Nam, đánh chiếm từ Phong Thổ, Lai Châu, tới địa đầu Móng Cái.
“NHỮNG ĐÔI MẮT”
Hôm ấy, ông Quế không có nhà, vợ ông, bà Dự, bị dựng dậy khi bên ngoài trời hãy còn rất tối. Bà nghe tiếng pháo chát chúa ở hướng Đồng Đăng và phía dốc Chóp Chài, Lạng Sơn. Bà Dự đánh thức các con dậy, rồi 4 mẹ con dắt díu nhau chạy về xuôi. Tới ki-lô-mét số 10, đã quá trưa, bà rụng rời khi hay tin, anh Đài đã bị quân Trung Quốc giết chết. Anh Đài là công nhân đường sắt, thời điểm ấy, các anh đương nhiên trở thành tự vệ bảo vệ đoạn đường sắt ở Hữu Nghị Quan. Anh em công nhân trong đội của Đài bị giết gần hết ngay từ sáng sớm. Đài thuộc trong số 3 người kịp chạy về phía sau, nhưng tới địa bàn xã Thanh Hòa thì lại gặp Trung Quốc, thêm 2 người bị giết. Người sống sót duy nhất đã báo tin cho bà Dự, mẹ Đài.
Cùng thời gian ấy, ở bên núi Trà Lĩnh, Cao Bằng, chị Vương Thị Mai Hoa, một giáo viên cấp II, người Tày, mới ra trường, cũng bị giật dậy lúc nửa đêm rồi theo bà con chạy vào hang Phịa Khóa. Hàng trăm dân làng trú trong hang khi pháo Trung Quốc gầm rú ở bên ngoài, rồi lại gồng gánh theo nhau vào phía Lũng Pùa, chạy giặc. Chị Hoa không bao giờ có thể quên “từng đôi mắt” của dòng người gồng gánh ấy. Giờ đây, ngồi trong một cửa hàng bán băng đĩa trên phố Kim Đồng, thị xã Cao Bằng, chị Hoa nhớ lại: “Năm ấy, tôi 20 tuổi. Tôi nghĩ, tại sao mình lại chạy!”. Chị quay lại, sau khi thay quần áo giáo viên bằng bộ đồ chàm vì được những người chạy sau cho biết, rất nhiều người dân ăn mặc như cán bộ đã bị quân Trung Quốc giết chết. Từ trên đồi, chị Hoa thấy quân Trung Quốc gọi nhau ý ới và tiến vào từng đoàn.
“CUỘC CHIẾN 16 NGÀY”
Ngày 15-2-1979, Đại tá Hà Tám, năm ấy là trung đoàn trưởng trung đoàn 12, thuộc lực lượng Biên phòng, trấn ở Lạng Sơn, được triệu tập. Cấp trên của ông nhận định: “Ngày 22 tháng 2, địch sẽ đánh ở cấp sư đoàn”. Ngay trong ngày 15, ông ra lệnh cấm trại, “Cấp chiến thuật phải sẵn sàng từ bây giờ”, ông nói với cấp dưới. Tuy nhiên, ông vẫn chưa nghĩ là địch sẽ tấn công ngay. Đêm 16-2, chấp hành ý kiến của Tỉnh, ông sang trại an dưỡng bên cạnh nằm dưỡng sức một đêm bởi vì ông bị mất ngủ vì căng thẳng sau nhiều tháng trời chuẩn bị. Đêm ấy, Trung Quốc đánh.
Ở Cao Bằng, sáng 16 tháng 2, tất cả các đồn trưởng Biên phòng đều được triệu tập về thị xã Cao Bằng nhận lệnh, sáng hôm sau họ tìm về đơn vị triển khai chiến đấu khi Trung Quốc đã tấn công rồi. Sáng 17-2, Tỉnh Cao Bằng ra lệnh “sơ tán triệt để khỏi thị xã”; đại đội 22 của thị xã Cao Bằng được trang bị thêm 17 khẩu súng chống tăng B41. Ngày 18-2, một chiếc tăng Trung Quốc có “Việt gian” dẫn đường lọt tới Cao Bằng và bị tiêu diệt. Nhiều nơi, chỉ khi nhìn thấy chữ “Bát Nhất”, người dân mới nhận ra đấy là tăng Trung Quốc. Đại tá Hà Tám công nhận: “Về chiến lược ta đánh giá đúng nhưng về chiến thuật có bất ngờ”. Tuy nhiên, Đại tá Hoàng Cao Ngôn, Tỉnh đội trưởng Cao Bằng thời kỳ 17-2, nói rằng, cho dù không có bất ngờ thì tương quan lực lượng là một vấn đề rất lớn. Phần lớn quân chủ lực của Việt Nam đang ở chiến trường Campuchia. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều. Lực lượng cầm chân Trung Quốc ở tuyến một, hướng Cao Bằng, chủ yếu là địa phương quân, chỉ có khoảng hơn 2 trung đoàn.
Trong khi, theo tài liệu từ Trung Quốc, chỉ riêng ở Cao Bằng trong ngày 17-2, Trung Quốc sử dụng tới 6 sư đoàn; ở Lạng Sơn 3 sư và Lào Cai 3 sư. Hôm sau, 18-2, Trung Quốc tăng cường cho hướng Cao Bằng 1 sư đoàn và 40 tăng; Lạng Sơn, một sư và 40 tăng; Lào Cai, 2 trung đoàn và 40 tăng. Lực lượng Trung Quốc áp sát Biên giới vào ngày 17-2 lên tới 9 quân đoàn chủ lực. Ngày 17-2, Trung quốc tiến vào Bát xát, Lao Cai; chiều 23-2, Trung Quốc chiếm Đồng Đăng; 24-2, Trung Quốc chiếm thị xã Cao Bằng; ngày 27-2, ở Lạng Sơn, Trung Quốc đánh vào thị xã.
Thế nhưng, bằng một lực lượng nhỏ hơn rất nhiều, các đơn vị Biên giới đã nhanh chóng tổ chức chiến đấu. Theo cuốn “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt”, xuất bản lần đầu năm 1993 của NXB Đại học Tứ Xuyên, quân Trung Quốc đã gọi con đường tiến vào thị xã Cao Bằng của họ là những “khe núi đẫm máu”. Đặc biệt, tiểu đoàn Đặc công 45, được điều lên sau ngày 17-2, chỉ cần đánh trận đầu ở kilomet số 3, đường từ Cao Bằng đi về xuôi qua đèo Tài Hồ Sìn, cũng đã khiến cho quân Trung Quốc khiếp vía. Những người dân Biên giới cho đến hôm nay vẫn nhớ mãi hình ảnh “biển người” quân Trung Quốc bị những cánh quân của ta cơ động liên tục, đánh cho tan tác. Đầu tháng 3-1979, trong khi hai sư đoàn 346, Cao Bằng và 338, Lạng Sơn, thọc sâu đánh những đòn vu hồi. Từ Campuchia, sau khi đuổi Pol Pốt khỏi Phnompênh, hai quân đoàn tinh nhuệ của Việt Nam được điều ra phía Bắc. Ngay sau khi Quân đoàn II đặt những bước chân đầu tiên lên Đồng Mỏ, Lạng Sơn; Quân Đoàn III tới Na Rì; Chủ tịch Nước ra lệnh “Tổng Động viên”… ngày 5-3-1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân về nước.
Lào Cai, Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn… bị phá tan hoang. Tại Cao Bằng, quân Trung Quốc phá sạch sẽ từng ngôi nhà, từng công trình, ốp mìn cho nổ tung từng cột điện. Nếu như, ở Bát Xát, Lao Cai, hàng trăm phụ nữ trẻ em bị hãm hiếp, bị giết một cách dã man ngay trong ngày đầu tiên quân Trung Quốc tiến sang. Thì, tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9-3, trước khi rút lui, quân Trung Quốc đã giết 43 người, gồm 21 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai. Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. Mười người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.
LẶNG LẼ HOA ĐÀO
Ngồi đợi ông Nguyễn Thanh Loan, người trông giữ nghĩa trang Vị Xuyên, Hà Giang, chúng tôi nhìn ra xa. Tháng Hai ở đây mới là mùa hoa đào nở. Nghĩa trang có 1680 ngôi mộ. Trong đó, 1600 mộ là của các liệt sỹ hy sinh trong cuộc chiến tranh từ ngày 17-2. Ở Vị Xuyên, tiếng súng chỉ thật sự yên vào đầu năm 1990. Năm 1984, khi Trung Quốc nổ súng trở lại hòng đánh chiếm hơn 20 cao điểm ở Thanh Thủy, Vị Xuyên, bộ đội đã phải đổ máu ở đây để giành giật lấy từng tấc đất. Rất nhiều chiến sỹ đã hy sinh, đặc biệt là hy sinh khi tái chiếm đỉnh cao 1509. Ông Loan nhớ lại, cứ nửa đêm về sáng, xe GAT 69 lại chở về, từng túi tử sỹ xếp chồng lên nhau. Trong số 1600 liệt sỹ ấy, chủ yếu chết trong giai đoạn 1984, 1985, có người chết 1988, còn có 200 ngôi mộ chưa xác định được là của ai. Sau khi hoàn thành việc phân giới cắm mốc, cái pháo đài trên đỉnh 1509 mà Trung Quốc dành được và xây dựng trong những năm 80, vẫn còn. Họ nói là để làm du lịch. Từ 1509, có thể nhìn thấu xuống thị xã Hà Giang. Năm 1984, từ 1509 pháo Trung Quốc đã bắn vào thị xã.
Trên đường lên Mèo Vạc, sương đặc quánh ngoài cửa xe. Từng tốp, từng tốp trai gái H’mông thong thả cất bước du xuân. Có những chàng trai đã tìm được cho mình cô gái để cầm tay. Một biên giới hữu nghị và hòa bình là vô cùng quý giá. Năm 1986, vẫn có nhiều người chết vì đạn pháo Trung Quốc nơi đoạn đường mà chúng tôi vừa đi, nơi các cô gái, hôm nay, để cho các chàng trai cầm tay kéo đi với gương mặt tràn trề hạnh phúc.
Quá khứ, rất cần khép lại để cho những hình ảnh như vậy đâm chồi. Nhưng cũng phải trân trọng những năm tháng đã thuộc về quá khứ. Tháng Hai, đứng ở bên này cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn, nhìn sang bên kia, thấy lừng lững một tượng đài đỏ rực mà theo các sỹ quan Biên phòng, Trung Quốc gọi là “đài chiến thắng”. Trở lại Lạng Sơn, những chiếc xe tăng Trung Quốc bị quân và dân ta bắn cháy hôm 17-2 vốn vẫn nằm bên bờ sông Kỳ Cùng, giờ đã được bán sắt vụn cho các khu gang thép. Ở Cao Bằng, chúng tôi đã cố nhờ mấy người dân địa phương chở ra kilomet số 3, theo hướng đèo Tài Hồ Sìn, tìm tấm bia ghi lại trận đánh diệt 18 xe Trung Quốc của tiểu đoàn đặc công 45, nhưng không thấy. Trở lại Tổng Chúp, phải nhờ đến ông Lương Đức Tấn, Bí thư Chi bộ, nguyên huyện đội phó Hòa An, đưa ra cái giếng mà hôm 9-3-1979, quân Trung Quốc giết 43 thường dân Việt Nam. Ông Tấn cũng chính là một trong những người đầu tiên trở về làng, trực tiếp đỡ từng xác phụ nữ, trẻ em, bị chặt bằng búa, bằng dao rồi quăng xuống giếng. Cái giếng ấy bây giờ nằm sâu trong vườn riêng của một gia đình, không có đường đi vào. Hôm ấy, anh Tấn phải kêu mấy thanh niên đi theo chặt bớt cành tre cho chúng tôi chụp hình bia ghi lại sự kiện mà giờ đây đã chìm trong gai tre và lau lách.
----
* Nguồn: Blog Osin.
* Bài gốc đăng trên báo Sài Gòn Tiếp Thị vào đầu tháng 2/2009, nhưng đến ngày 09/2/2009 thì bị … 404.
* Bài lấy lại từ FB Trần Đức Anh Sơn với lời bình của ông: Có rất nhiều người ở Việt Nam hiện nay không biết ngày 17/2/1979 có sự kiện gì (tôi đã hỏi 10 người là: phó chủ tịch quận, trung tá công an, thiếu tá bộ độ biên phòng, chủ tịch hội đồng trường của một trường đại học công lập, trưởng phòng điều độ điện lực, công chức viện kiểm sát cấp quận, hai tiến sĩ trưởng khoa của hai trường đại học công lập, một trưởng phòng của ủy ban kiểm tra thành ủy… trong một cuộc nhậu [vô tình] tổ chức trùng ngày 17/2 vào năm 2020 trong một khu chung cư tạ Đà Nẵng, nhưng chỉ có một người biết sự kiện này. Vì thế, hàng năm, vào ngày 17/2, tôi đều đăng các bài viết liên quan đến sự kiện này. Ai muốn tìm hiểu thêm, xin đọc ở đây: https://vi.wikipedia.org/.../Chi%E1%BA%BFn_tranh_bi%C3...



THÊM MỘT CĂN NHÀ CHO GIA ĐÌNH HOÀNG SA

Sáng 19-1-2016, đại diện 5 gia đình có người hy sinh trong trận Hải chiến Hoàng Sa ngày 19-1-1974, cựu binh Trần Văn Hà - có mặt trên hộ tống hạm Nhựt Tảo ngày hôm đó - và các thành viên Nhịp Cầu Hoàng Sa đã đến phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, Sài Gòn, gặp mặt tưởng niệm 42 năm ngày Hoàng Sa rơi vào tay quân Trung Quốc xâm lược và mừng gia đình bà quả phụ Hải quân thiếu tá Nguyễn Thành Trí có nhà mới.
Và đặc biệt, đây là lần đầu tiên, chúng tôi liên lạc được với bà quả phụ Hải quân đại úy Huỳnh Duy Thạch (nhũ danh Lê Kim Chiêu). Bà Chiêu đã đến từ Gò Công.
Hải quân thiếu tá Nguyễn Thành Trí - Hạm phó Hộ tống hạm Nhựt Tảo - tử trận tại Hoàng Sa ngày 19-1-1974 khi vợ ông, bà Ngô Thị Kim Thanh, mới 28 tuổi, đang mang thai người con thứ hai; con trai, được đặt tên là Nguyễn Thanh Triết, tự Hoàng Sa.
Như phần lớn các góa phụ Hoàng Sa khác, suốt 42 năm qua, bà Ngô Thị Kim Thanh vẫn ở vậy thờ chồng và làm dâu trong căn nhà 2B đường Bà Triệu, quận 5. Năm 2000, nhà chồng bán nhà chia cho 8 anh chị em, bà dùng số tiền này mua được một căn hộ chung cư 40 mét vuông, sống cùng hai con (người con gái đầu, Nguyễn Thị Thanh Thảo, sinh năm 1969). Kể từ 7-2014, Nguyễn Thanh Triết cưới vợ, căn hộ càng trở nên chật chội.
Để cải thiện chỗ ở, gia đình bà Thanh đã phải bán căn hộ đang ở với giá 1,090 tỷ, Nhịp Cầu Hoàng Sa góp 650 triệu; cùng với phần dành dụm lâu nay, gia đình bà đã mua căn nhà này với giá 2,1 tỷ VND.
Đây là ngôi nhà thứ 5 mà Chương trình Nhịp Cầu Hoàng Sa góp phần xây cho các gia đình tử sỹ Hoàng Sa và cựu binh Gạc Ma.
Trước đó, Nhịp Cầu Hoàng Sa đã góp 1.114.292.981 VND để cùng bà quả phụ Hải quân Trung tá Ngụy Văn Thà mua một căn hộ ở chung cư Nguyễn Kim - quận 10, Sài Gòn - trị giá 1.343.797.981 VNĐ (tân gia ngày 11-7-2014); Chi 432 triệu VND giúp cựu binh Gạc Ma Lê Hữu Thảo mua đất xây nhà ở Hà Tĩnh (tân gia ngày 5-2-2015); Chi 400 triệu giúp vợ và con trai tử sĩ Hoàng Sa Nguyễn Thành Trọng chuộc lại nhà (30-4-2015); Chi 400 triệu giúp cụ Phan Thị Thê, mẹ của trung sĩ Phạm Ngọc Đa - tử trận tại Hoàng Sa - xây nhà (15-8-2015)
Chương trình NCHS còn tặng cụ Phan Thị Thê một sổ tiết kiệm trị giá 150 triệu đồng. Vừa qua, khi cụ Thê bị bệnh, phải can thiệp nong động mạch vành, NCHS cũng đã chi 112 triệu để hỗ trợ gia đình trang trải các chi phí thuốc men và bệnh viện.
Ngoài ra, Chương trình còn chi 10 phần quà Tết 2014 cho 5 gia đình Hoàng Sa & 5 gia đình Gạc Ma (trị giá 5 triệu/phần quà); Chi 20 triệu cùng với blogger Cu Làng Cát giúp bà Hồ Thị Đức, mẹ anh hùng liệt sỹ Gạc Ma Trần Văn Phương, sửa nhà ở Quảng Binh; Chi 40 triệu giúp cựu binh Gạc Ma Phạm Xuân Trường hoàn thiện nhà ở Hương Sơn, Hà Tĩnh; Mua tặng trung sĩ Việt Nam Cộng Hòa Phan Văn Phải (quận 10, Sài Gòn) một xe Wave Alpha trị giá 19,3 triệu VND; Giúp cựu binh Gạc Ma Hồ Văn Ba (Bố Trạch, Quảng Bình) 50 triệu trả khoản nợ ngân hàng từ lâu không có khả năng chi trả.
Như vậy, trong số 6 gia đình tử sĩ Hoàng Sa mà Chương trình được biết, chúng tôi đã giúp được 4 gia đình "dựng lại nhà".
Sau ngôi nhà của Lê Hữu Thảo, Chương trình đang tiếp tục có nhiều hoạt động hỗ trợ các gia đình liệt sỹ Gạc Ma và các cựu binh Gạc Ma (sửa sang nhà cửa, cấp học bổng cho con em...).
Qua vừa đúng hai năm vận động (từ 7-1-2014), chương trình Nhịp Cầu Hoàng Sa đã nhận được hơn 1000 lượt đóng góp với số tiền lên đến hơn 4 tỷ đồng.
Nhịp Cầu Hoàng Sa là một chương trình do các nhà báo Vũ Kim Hạnh, Nguyễn Thế Thanh, Huy Đức, Đỗ Thanh Triều cùng nhà nghiên cứu hàng hải Đỗ Thái Bình và tiến sỹ Nguyễn Thị Hậu khởi xướng nhằm tri ân gia đình những người lính đã tham gia, đã ngã xuống trên các trận tuyến chống quân Trung Quốc xâm lược, đặc biệt là hai trận hải chiến Hoàng Sa 1974 và Gạc Ma 1988.
Hoàng Sa còn là một nhịp cầu, được bắc để nối những tấm lòng người Việt.
Chương trình kính mong tiếp tục nhận được sự ủng hộ của các bạn. Xin cám ơn bạn bè người Việt ở trong và ngoài nước đã liên tục đồng hành với chúng tôi.
Nhịp Cầu Hoàng Sa mong nhận được sự hưởng ứng của các bạn theo các địa chỉ sau:
1, Đỗ Thanh Triều– Vietcombank TP.HCM – số TK 0071001176816 cho tiên đồng VN (VND) Vietcombank TP.HCM số TK 0071370974455 cho dollar
2, Trường hợp chuyển tiền mặt xin gửi: Đỗ Thanh Triều, báo Tuổi Trẻ, 60A Hoàng Văn Thụ, quận Phú Nhuận, điện thoại: 0903383994.
3, Tài khoản Paypal: nhipcauhoangsa@gmail.com
4, Những người ở Mỹ có thể gửi check cho “Thai Thai Dinh” (tức Đinh Quang Anh Thái ) địa chỉ 14771 Moran Street, Westminster, CA 92683, USA ; với memo “Đóng góp cho quĩ Nhịp Cầu Hoàng Sa
Xin cám ơn nhà báo Trung Dũng và Sự Viễn đã chụp những bức ảnh này.

OSIN HUY ĐỨC




14/3/1988 : GẠC MA - CO LIN - LEN ĐAO!


Cuộc toạ đàm BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỊCH SỬ CỦA CÁC CUỘC CHIẾN TRANH BẢO VỆ BIÊN GIỚI, HẢI ĐẢO VÀ CHỦ QUYỀN QUỐC GIA THỜI HIỆN ĐẠI do Hội KHLSVN tổ chức tại HN dự định tổ chức vào ngày 17/2/2014 nhưng… phải lùi đến này chủ nhật 9/3/2014!

Tại cuộc toạ đàm này, sau rất nhiều ý kiến, phát biểu của các GS,TS, những người đương chức và cả người “nguyên là”… về những vấn đề liên quan đến “sử liệu” của các cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam 1987, biên giới phía Bắc 1979, Hoàng Sa 1974, Trường Sa 1988, về việc đưa nội sung lịch sử này vào trưng bày tại bảo tàng, vào sách giáo khoa… (nội dung cuộc toạ đàm các bạn có thể xem ở FB Chú Tuễ-TS Nguyễn Xuân Diện), gần cuối giờ mình ráng “đòi” được nói. Vị GS.TSKH, một trong ba vị chủ trì Toạ đàm, đồng ý, vì “đại biểu từ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ra, lại là phụ nữ mà hôm nay mới là mùng 9/3, chúng ta dành cho TS Ng Thị Hậu một món quà là dành cho chị 5 phút trước khi Chủ toạ tổng kết Toạ đàm".

Đây là ý kiến của mình, viết lại mạch lạc hơn khi phát biểu, nhưng vẫn là những ý đã nói.
Muốn "bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử..." như nội dung cuộc toạ đàm nêu ra, tôi tán thành ý kiến của các SG, các nhà khoa học đã nói. Ngoài ra tôi đề nghị 4 vấn đề sau:

1. Về sử liệu: Cần công bố những tư liệu, tài liệu lịch sử có liên quan đến các cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc ở biên giới Tây Nam, Tây Bắc và biển Đông. Hiện nay tình trạng tư liệu lịch sử không được công bố làm cho việc nghiên cứu rất khó khăn. Những tư liệu tài liệu chữ viết nào đã đến thời hạn “giải mã” thì cần “bạch hoá” và tập trung tại các cơ quan có chức năng nghiên cứu lịch sử, như Viện Sử học, Viện Lịch sử quân sự, Viện Hán Nôm. Đặc biệt Viện Hán Nôm phải là nơi lưu trữ các văn bản gốc thời Nguyễn liên quan đến quản lý, khai thác và bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa. Việc chuyển tài liệu cho các cơ quan khoa học là để hiện nay nghiên cứu, công bố, đồng thời cũng để đời sau tiếp tục nghiên cứu. Tránh tình trạng tài liệu bị thất lạc, biến mất hay “tam sao thất bản”, như vậy không thể nào viết lại lịch sử một cách khách quan và khoa học được. Những cơ quan khác, khi cần, có thể sử dụng bản sao.

2. Về việc đưa nội dung này vào sách giáo khoa: chắc chắn phải đưa vào, nhưng đưa vào như thế nào, đến đâu… tôi nghĩ sẽ là một quá trình không ngắn. Trước mắt để giáo dục con em về sự toàn vẹn lãnh thổ, tôi đề nghị một việc mà Hội Sử VIỆT NAM, các hội địa phương đều có thể phối hợp cùng ngành giáo dục làm được. Đó là trang bị cho mội lớp học một tấm bản đồ VIỆT NAM có đầy đủ đường biên giới hiện nay, đầy đủ các đảo và quần đảo HS-TS. Mỗi trường phổ thông cần có một bộ bản đồ VIỆT NAM từ thời NGuyễn đến nay minh chứng tính thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ VIỆT NAM. Giáo dục trực quan, hàng ngày như thế sẽ làm cho học sinh ý thức ngay từ nhỏ việc bảo vệ chủ quyền tổ quốc.

3. Cần thành lập một cơ quan nghiên cứu Biển Đông về tất cả các lĩnh vực địa chất địa lý, tài nguyên môi trường, kinh tế, văn hoá… nhằm tránh sự manh mún, tản mạn và khó liên kết giữa các ngành trong mục tiêu cùng nghiên cứu biển Đông. Nếu chưa thể thành lập cơ quan nghiên cứu cấp Trung Ương thì nên thành lập tại 1 tỉnh duyên hải, như Đà Nẵng, để nơi đây là cơ quan tập hợp và có tiếng nói khoa học chính thức. Hiện nay các cơ quan khoa học có rất ít thông tin trên mạng về lịch sử, tình hình biển Đông, trong khi đó TQ có hàng chục cơ quan nghiên cứu biển Nam hải, họ công bố dồn dập tài liệu, thật giả ta không thể biết. Trong khi đó ta chậm công bố và ít công bố tài liệu liên quan. Chưa kể việc ta đưa rất ít nhà khoa học đi dự HT quốc tế về vấn đề này.

4. Cần có chính sách rõ ràng và nhất quán về truyền thông các vấn đề liên quan đến lịch sử vùng biên giới và biển Đông. Đành rằng về ngoại giao thì nhà nước không thể hay chưa thể nói, nếu các báo, đài chính thống chưa được nói thì nên để các hội , đoàn lên tiếng. tế nhị về ngoại giao nhưng với nhân dân cũng cần tế nhị, vì dân là người giữ nước, một mình chính quyền không thể giữ nước. Mặt khác, nhân dân lên tiếng về việc này là thể hiện sức mạnh. Khi chúng ta có chính kiến rõ ràng thì điều này cũng tạo nên sự sức mạnh đoàn kết của cả người Việt trong và ngoài nước.

Từ những tấm bản đồ cổ


Báo Văn nghệ (Hội Nhà văn) ngày 18/8/2012.

Sau khi tiến sĩ Mai Hồng, nguyên trưởng phòng tư liệu thư viện - Viện Hán Nôm, trao tặng Bảo tàng lịch sử Quốc gia tấm bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” (Địa dư toàn đồ tới các tỉnh của Trung Quốc thực hiện từ thời Thanh) xuất bản năm 1904 ghi rõ cực nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam, không hề bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa, một số nhà sưu tầm và nghiên cứu đã phát hiện thêm một số bản đồ khác của Trung Quốc cũng giống bản đồ trên. Điều này cho thấy từ lâu nay, do chưa có điều kiện để quan tâm đầy đủ, chưa có sự hiểu biết về giá trị đặc biệt của bản đồ cổ nên trong nhân dân đã lưu giữ những tài liệu như thế mà chưa được phát hiện. Trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển Đông và hai quần đảo Hòang Sa – Trường Sa, những tấm bản đồ cổ và tài liệu lịch sử thành văn khác có một ý nghĩa và giá trị đặc biệt quan trọng về pháp lý.
Khỏang vài năm nay nhà nước ta được những cá nhân, gia đình, dòng họ hiến tặng khá nhiều tư liệu lịch sử liên quan đến chủ quyền biển đảo Việt Nam, ví dụ như sắc phong, lệnh chỉ… tìm thấy tại đảo Lý Sơn, những văn bản triều Nguyễn chẳng hạn... nhưng hầu hết những tư liệu này đều giao cho một số cơ quan không có chức năng nghiên cứu và lưu giữ tài liệu lịch sử tiếp nhận. Sau đó việc thẩm định, đánh giá và sử dụng những tư liệu này cũng không được đề cập đến.
Để đảm bảo giá trị khoa học của những tài liệu mới phát hiện như bản đồ cổ, văn bản Hán - Nôm có nội dung liên quan đến chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam,  những tài liệu này cần được giao cho cơ quan chuyên ngành là Viện Hán Nôm, Viện Sử học... là nơi có chức năng lưu giữ, nghiên cứu, dịch và công bố tòan bộ nội dung và cũng như thẩm định giá trị khoa học của những tài liệu đó, bổ sung kho tư liệu lịch sử góp phần vào việc đấu tranh khẳng định chủ quyền biển đảo Việt Nam hiện nay. Đặc biệt cần được lưu giữ và truyền lại cho nhiều thế hệ sau, bởi vì việc bảo vệ chủ quyền Tổ quốc là việc làm không chỉ của một thế hệ.
Liên quan đến những tấm bản đồ còn một hiện tượng khác: gần đây cơ quan công an phát hiện được khá nhiều bản đồ Việt Nam in sai sự thật về biên giới trên bộ và cả vùng lãnh hải Việt Nam. Những tấm bản đồ này do Trung Quốc sản xuất và bán công khai ở nhiều tỉnh biên giới nước ta. Việc phát hiện, tịch thu và ngăn chặn sự phát tán những tấm bản đồ “hàng giả” này là kịp thời và rất cần thiết. Nhưng cần thiết và quan trọng hơn là chúng ta phải có nhiều “hàng thật, hàng chất lượng cao” để chống lại hàng giả: xuất bản bản đồ Việt Nam đầy đủ, chính xác về biên giới và lãnh hải, bày bán rộng rãi khắp nơi, sao cho trong mỗi trường học, lớp học, mỗi công sở, mỗi gia đình đều có bản đồ Việt Nam. Trong giáo dục thì việc in bản đồ Việt Nam trên bìa sách giáo khoa, tập vở... sẽ giúp con em chúng ta hàng ngày nhìn thấy và ghi nhớ sự toàn vẹn lãnh thổ lãnh hải của Tổ quốc! Cần thiết in bản đồ Việt Nam trong tất cả các cuốn sách và tờ giới thiệu, hướng dẫn du lịch và phát rộng rãi cho du khách, đặc biệt lưu ý tên BIỂN ĐÔNG cần được ghi đúng trên những tấm bản đồ này, tránh tình trạng ghi tên “South China Sea” trên các bản đồ du lịch Việt Nam và cả ở bản đồ hướng dẫn vùng bay trên các máy bay của Vietnam Airlines.
Bảo vệ chủ quyền Tổ quốc ngay từ ý thức mỗi người và từ những việc làm giản đơn như thế!

THÁI ĐỘ VỚI DI TÍCH LÀ THÁI ĐỘ VỚI LỊCH SỬ


 TUỔI TRẺ  16/8/2012 "Nguy cơ xóa sổ ụ tàu 124 tuổi"

Việc bảo tồn di sản văn hóa thể hiện thái độ của con người, của xã hội, của thời đại đối với lịch sử nói chung, đối với những vấn đề, sự kiện, nhân vật lịch sử cụ thể nói riêng. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có bộ Luật về Di sản văn hóa, được cụ thể hóa bằng chính sách chủ trương bảo tồn các lọai hình di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh cũng như những cổ vật, bảo vật quốc gia, đồng thời hạn chế và dần lọai bỏ những yếu tố, điều kiện làm  hủy hoại di tích lịch sử - văn hóa.
Đô thị Sài Gòn có hơn 300 năm hình thành và phát triển, nhiều lọai hình di tích đã ghi dấu những giai đọan lịch sử liên tục của thành phố. Di tích “Sài gòn 300 năm” thuộc loại hình di tích “khảo cổ học công nghiệp và đô thị”, đây cũng là một ưu thế của di sản lịch sử thành phố khi so sánh với những thành phố khác trong hệ thống di tích lịch sử văn hóa chung của cả nước. Từ góc độ Khảo cổ học đô thị thì cần thiết phải bảo tồn tòan bộ những di tích lịch sử phản ánh quá trình đô thị hóa của Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh, mà hiện nay, trải qua nhiều biến động xã hội, lọai hình di tích này còn lại không nhiều!
Một trong những di tích đó là xưởng đóng tàu Ba Son. Ngòai việc nơi đây là cái nôi của phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân Sài Gòn – Gia Định, trong đó có vai trò quan trọng của nhà cách mạng Tôn Đức Thắng, Công xưởng Ba Son còn là chứng tích của ngành đóng tàu Việt Nam từ “xưởng thủy” thời chúa Nguyễn (thế kỷ 18) và được “hiện đại” lần thứ nhất vào thời Pháp, mà chứng tích hiện thời chỉ còn lại hai ụ tàu và khu nhà xưởng xây dựng vào khỏang cuối thế kỷ 19. Công xưởng Ba Son đã ghi dấu về sự hình thành và phát triển ngành đóng tàu Việt Nam, và đó không chỉ là sự phát triển của một ngành công nghiệp mà đó còn là bằng chứng của một nền kinh tế biển, góp phần khẳng định Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền biển từ lâu đời. Chính vì ý nghĩa quan trọng đó mà Công xưởng Ba Son đã được công nhận là Di tích lịch sử quốc gia.
Cần khẳng định một điều: Những di tích lịch sử văn hóa “cấp quốc gia” nằm ở bất cứ địa phương nào, trước hết là di tích của cả nước. Vì vậy, thái độ ứng xử với di tích quốc gia chính là thái độ đối với lịch sử đất nước. Trong cơn lốc “hiện đại hóa” những di tích văn hóa đô thị luôn bị đặt trên “bàn cân”  giữa “bảo tồn và phát triển”: phá hủy di tích để xây dựng một khu dân cư mới và hiện đại hơn. Những thành phố với kiến trúc mới tự nó chưa đủ để mang nghĩa là một “thành phố hiện đại”, mà một thành phố hiện đại phải là một thành phố có sự quy họach cân bằng giữa không gian đô thị mới và không gian ký ức lịch sử của chính nó. Thiếu vắng không gian lịch sử, thành phố mới trở nên “vô hồn”.  Ký ức lịch sử là mạch ngầm  nuôi dưỡng thành phố phát triển bền vững.
Nếu một thế hệ phá bỏ di sản văn hóa đã là đặt một bậc thang cho những thế hệ sau tiếp tục xóa hết chứng tích lịch sử của một thành phố, một quốc gia.

NGÀY NÀY NĂM TRƯỚC


Hà Nội (ảnh Mai Kỳ)
và Sài Gòn (ảnh Viễn Sự)



Viết trong ngày 5 tháng 6

Một ngày tuyệt vời, khi mà những người dân Sài Gòn, Hà Nội đã thể hiện lòng yêu nước một cách đẹp tuyệt vời!

Blog của tôi tràn ngập hình ảnh bạn bè, những gương mặt trẻ già dễ thương rạng ngời tình yêu Tổ quốc, những gương mặt trong sáng đầy vẻ cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia. Họ bày tỏ lòng yêu nước một cách hồn nhiên, không vụ lợi, không suy tính, không đao to búa lớn. Họ là những người bạn của tôi, là những người tôi không quen bíêt, nhưng tất cả đều là những con người chân chính, là đồng bào của tôi! Nâng thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân - Lời người xưa dặn đó!

 Tình yêu Tổ quốc là tình cảm thiêng liêng của mỗi con người, của mỗi dân tộc. Tình yêu đó thiêng liêng bởi vì nó xuất phát từ trái tim trong sáng, tình yêu Tổ quốc không có chỗ cho những gì giả trá. Ngày hôm nay nhân dân đã làm nên một “Hội nghị Diên Hồng” ở Hà Nội , ở Sài Gòn và kết nối hàng triệu trái tim.

Hôm nay tôi đã được chứng kiến những giờ phút giao hòa của mỗi con người với Hồn thiêng sông núi!

Trường Sa của tôi

http://www.baomoi.com/Home/DuLich/www.thanhnien.com.vn/Truong-Sa-cua-toi/8454635.epi

Chuyến đi Trường Sa của tôi có thể coi là “hành trình xanh”, bởi từ đầu đến cuối chuyến đi nhìn đâu cũng thấy một màu xanh bất tận.

Những ngày tháng tư âm lịch vẫn còn trong thời gian thuận lợi cho những chuyến đi biển dài ngày, gió nhẹ, nắng nóng. Ra khỏi cửa Cần Giờ là biển hiện ra một màu xanh hiền hòa. Cứ vậy suốt gần ba ngày đầu của hành trình xung quanh là sắc biển xanh biến đổi khôn lường. Mỗi sáng, mỗi chiều, nhìn gần, nhìn xa… biển xanh nhạt, xanh thẫm, xanh tím, xanh đen… Vào lúc bình minh và hoàng hôn mặt trời đỏ rực phía chân trời, biển chuyển màu vàng cam nhưng chỉ thoáng chốc lại trở về với sắc xanh bất tận của mình.
Hành trình miệt mài trên biển cứ ngong ngóng khi một chấm, rồi một dải xanh mờ hiện lên, rõ dần, mọi người lại nôn nao... Đảo của ta đấy, những tên đảo đã thân quen tự khi nào mà bây giờ mới được tận mắt nhìn thấy: Song Tử Tây, Đá Nam, Đá Thị, Sơn Ca, Sinh Tồn, Len Đao, Đá Lát, Đá Tây, Trường Sa lớn… Đảo nổi đảo chìm xanh màu lá trên nền xanh của biển của trời. Ca nô cặp sát tàu đưa từng nhóm vào đảo.

Đảo Song Tử Tây - Ảnh: Nguyễn Thị Hậu
Đảo xanh, có thể gọi tất cả những hòn đảo của Trường Sa như vậy bởi màu xanh của cây lá có mặt khắp nơi. Có hai loại cây phổ biến là bàng trái vuông và phong ba đều có lá đan nhau rậm rạp, từng chiếc lá to dày che chắn cho nhau dưới ánh nắng như nung. Mùa này bàng trái vuông chưa có nhiều trái, thấp thoáng trong đám lá chùm nụ hoa xinh xắn chờ đêm tối nở bung nhụy lấp lánh như đèn lồng, vài trái non xanh đong đưa trong gió. Mấy anh lính trẻ luyến tiếc chưa có trái bàng để tặng cho người từ đất liền vì ai cũng muốn có được một trái bàng vuông mang về làm kỷ niệm. Nhưng thôi, mọi người bằng lòng chụp hình và mang những tấm hình trái bàng vuông về đất liền khoe với bạn bè, để trái bàng kia trên cây cho chúng già đi, hạt lại mọc mầm nảy lên cây mới, mang lại làn gió mát, mang lại màu xanh mà sau này ai ra thăm đảo cũng được nhìn thấy cây bàng trái vuông độc đáo.
Đảo nổi còn có lớp cát san hô mỏng trên mặt nhưng các đảo chìm thì chỉ có nhà xây nổi trên mặt nước. Vậy mà đảo nào cũng xanh trên từng mét vuông mặt đất hay trên giàn treo nho nhỏ lấn ra biển cả. Rau trồng bằng hạt theo từng luống nhỏ xíu: rau muống, rau cải, mồng tơi... chăm sóc từng cây. Hầu như đảo nào cũng trồng rau muống, lính ta nói đùa “rau muống còn thì đảo ta còn, đảo ta còn thì biển trời ta còn”. Đảo Song Tử Tây còn có chuối, ớt, lá lốt, rau ngót... Đảo Sinh Tồn Đông có cả giàn bầu trái sai lúc lỉu, đảo chìm trồng cả sả, riềng và lá mơ. Có nơi phải đóng dàn rồi dùng ni lông quấn xung quanh vườn rau nhỏ để tránh gió mang hơi nước mặn làm cháy hết lá. Ngay trên nhà giàn DK1, trong cái vuông đất nhỏ xíu cao hàng chục mét chênh vênh trên mặt biển còn trồng cả hành và thìa là nữa (món cá biển làm sao thiếu rau thìa là?). Nước tiết kiệm qua nhiều lần dùng và lần cuối để tưới rau. Mà cũng đâu được tưới thoải mái. Rau cũng như người, chắt chiu từng giọt nước ngọt hứng từ cơn mưa đỏng đảnh thất thường ở Trường Sa hay dành dụm từ những thùng nước ngọt theo tàu từ đất liền ra đảo. Ở nơi đảo xa này mới thấy quý từng giọt nước, từng nắm đất, mới càng hiểu hơn hai chữ  ĐẤT NƯỚC thiêng liêng!
Màu xanh Trường Sa của biển cả, của ngọn rau quê nhà, là gương mặt tỉnh táo người lính đảo dõi canh biển trời, là ánh mắt vời vợi người mẹ, người em gửi thương gửi nhớ… Hành trình của chúng tôi đi theo màu xanh Trường Sa đầy sức sống mãnh liệt mà bình dị. “Tấc đất ngọn rau ơn Chúa, tài bồi cho nước nhà ta; bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó” *. Hàng ngàn năm lịch sử mỗi tấc đất, mỗi tấc biển đảo là mồ hôi nước mắt, là xương máu tiền nhân.
 
Vườn rau trên nhà giàn DK1
Màu xanh Trường Sa nhắc nhớ không ai có thể quên điều đó.
Bàn tay người lính
Đi trong mênh mông trời biển, khi nào nghe thấy tiếng còi tàu rúc lên là biết đã gần tới đảo. Hồi còi báo hiệu tràn ngập niềm vui. Mọi người đổ ra boong ngóng về phía xa để được nhìn thấy một chấm nhỏ hay một vệt mờ hiện ra, rõ dần, lớn dần… Kìa ngọn đèn biển vươn cao vững chãi, kìa những cánh quạt gió như những cánh chim chấp chới, kìa màu xanh của cây bàng trái vuông, của cây bão táp, phi lao… Có đi biển dài ngày mới hiểu nỗi bồi hồi khi thấy đảo như thấy đất liền. Ba hồi còi tàu rúc lên, đã nhìn thấy áo trắng áo xanh của lính đảo nơi cầu tàu.
 
Đàn gà trên đảo Song Tử Tây
Lên đảo, việc đầu tiên là đứng trước cột mốc chủ quyền chụp hình kỷ niệm, lại còn “tranh nhau” đứng cạnh người lính đang bồng súng nghiêm trang bên cột mốc chủ quyền. Đôi lúc quên mất là anh lính đang làm nhiệm vụ, xúm lại hỏi thăm anh, em, cháu, con tên gì, quê đâu, ra đảo lâu chưa? Vẫn trong tư thế đứng nghiêm, có người trả lời dõng dạc như quân lệnh, cũng có chú lính ngượng ngùng “xin lỗi, con đang làm nhiệm vụ”. Ít phút sau thay ca, chú lính ào vào náo nức trò chuyện với chúng tôi.
Trên đảo Song Tử Tây, phía sau doanh trại có mấy cái chuồng gà, khi được thả ra chúng đập cánh đua nhau gáy ầm ĩ làm lũ vịt đang nằm tránh nắng dưới bóng cây nhao nhao đứng dậy. Hỏi một người lính: sao toàn là gà trống thế hả cháu?
Chú lính trẻ vui vẻ trả lời:
 - Gà mái đi tàu ra đảo bị say sóng chả sống được cô ạ.
- Thật à? Khổ thân bọn gà trống.
Lỡ lời đùa rồi tôi ân hận ngay khi nghe chú lính nửa đùa nửa thật:
- Sao cô chả khổ thân bọn cháu, cả năm có nhìn thấy bóng dáng con gái đâu hả cô?
Nhưng cũng cậu lính ấy tếu táo: không sao cô ạ, bọn gà trống ghê lắm, chúng nó toàn đi “yêu” bọn vịt đấy. Không tin cô chờ tí nữa mà xem.

 Hát cùng lính đảo - Ảnh: Nguyễn Thị Hậu
Thế là mấy cô cháu cười òa vui vẻ.
Để vào được mấy đảo chìm, tàu phải neo đậu xa hơn. Bước lên bờ là bước vào “nhà”, cũng đủ nhà bếp, phòng ngủ, phòng khách. Đứng bên mấy cô ca sĩ trẻ trên ban công đón gió biển, bàn tay anh lính vụng về mà trìu mến đội cho cô gái chiếc mũ hải quân rồi bối rối khi cô kế bên chụp hình lưu niệm. Mắt tôi nhòe đi… Bao giờ bàn tay kia được cài vòng hoa cô dâu lên đầu một người con gái?
Và chúng tôi hát, không phân biệt đâu là lính, đâu là ca sĩ, đâu già, đâu trẻ. Vừa rối rít nhận đồng hương đấy, nhưng khi cất tiếng hát tất cả đều là đồng đội. Có người lính trẻ đứng trong công sự mắt dõi nhìn biển trời mà bàn chân anh vẫn vô tình nhịp theo bài tình ca quen thuộc.
Thời gian trên đảo qua nhanh lắm, chưa kịp ấm bàn tay đã nghe còi bùi ngùi nhắc trở về tàu. Ca nô quay mũi, những bàn tay vẫy. Sẽ còn gặp lại, sẽ còn gặp lại. Lời chào chung cũng là niềm hy vọng của mỗi người.
Đi qua vùng biển Len Đao -Cô Lin - Gạc Ma và vùng biển trên thềm lục địa, mọi con tàu đều tổ chức lễ tưởng niệm những người lính đã hy sinh bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc. Buổi lễ thiêng liêng không chỉ là nghi thức mà là tình cảm thật sự của những người còn sống dành cho các anh. Khi vòng hoa đỏ và những bông cúc vàng được thả xuống biển xanh, trong mờ ảo khói nhang trầm, các anh như đang hiển hiện quanh đây… Ba hồi còi tàu vang lên: Các anh không bao giờ mất, những người lính đã nằm lại với biển Đông hay ngã xuống nơi biên giới phía Bắc, chừng nào chúng ta còn nhớ đến họ, còn tiếp tục những công việc mà họ đã làm.
Đất nước trọn vẹn một màu xanh. Xanh núi xanh sông xanh rừng xanh biển, bởi trong màu xanh bất tận ấy có màu máu đỏ của biết bao con người…
 TP.HCM 7.5.2012
Nguyễn Thị Hậu

Tiếng kẻng báo động trên “vùng trời bình yên”


Báo TUỔI TRẺ ngày 8/5/2012

Chúng tôi lên đảo Sơn Ca vào buổi sáng (30/4/2012) biển trời thăm thẳm một màu xanh thanh bình. Sau phút chào đón xúc động những ánh mắt những bàn tay xiết chặt, những nghệ sĩ của Trung tâm ca nhạc nhẹ thành phố bắt đầu chương trình văn nghệ phục vụ chiến sĩ. Cùng hát với các ca sĩ trẻ là những người lính đảo. Thật bất ngờ, nói như nghệ sĩ ưu tú Tạ Minh Tâm, MC của chương trình, lính đảo hát hay không thua gì ca sĩ chuyên nghiệp. Những tiết mục nối nhau tạo nên không khí khi sôi nổi khi sâu lắng, trên gương mặt những người lính đảo tràn đầy nét vui tươi hồn nhiên, tưởng như không phải họ là những người đang ngày đêm đối mặt với muôn vàn khó khăn nguy hiểm.
          
 Khi ca sĩ Yến Nhi đang bay bổng lời ca Từng vòng tay trao hơi ấm, rộn rã, đôi tim mừng vui gặp gỡ, trong ngày mới… của ca khúc VÙNG TRỜI BÌNH YÊN thì bỗng một hồi kẻng dồn dập vang lên. Báo động! Những người khách còn đang ngơ ngác thì chủ nhà đã đâu vào đấy trong nháy mắt. Chưa dứt tiếng kẻng bộ đội đã có mặt đúng vị trí, mũ sắt buộc nghiêm chỉnh, vũ khí trong tư thế sẵn sàng.
Một lúc sau khi kẻng báo yên, nhanh thoăn thoắt, những người lính lại ùa về “sân khấu”, cả chủ và khách lại hồn nhiên tiếp tục Nắm tay ta về vùng trời bình yên…

Đã lâu lắm mới nghe thấy tiếng kẻng báo động dồn dập căng thẳng, tôi chợt nhớ lại những phản xạ quen thuộc của thời chiến: chạy nhanh, nhảy xuống hầm trú ẩn gọn, mũ rơm đội ngay lên đầu. Nhìn những người lính còn rất trẻ nhưng đã thuần thục các thao tác quân sự, ranh giới mong manh giữa thời chiến và thời bình trên đảo này, trên vùng biển này hiển hiện rõ ràng hơn bao giờ hết. Trong cái khoảnh khắc “thời chiến” vừa vụt qua, sự sống bỗng quý giá hơn gấp ngàn lần, sự sống của mỗi con người, của mỗi chàng trai cô gái chỉ như những đứa con của tôi. Bao thế hệ đã làm tất cả để tuổi trẻ được sống trong hòa bình, để không bao giờ họ phải làm quen và thuần thục với thứ phản xạ mà nếu chậm trễ chỉ giây lát sẽ phải trả giá bằng mạng sống của mình.

Cuộc chiến tranh nào rồi cũng qua đi, nhưng hòa bình chỉ thật sự đến khi  những “phản xạ thời chiến” không còn có cơ hội “di truyền” cho thế hệ sau.

 http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/490694/Tieng-keng-bao-dong-tren-%E2%80%9Cvung-troi-binh-yen%E2%80%9D.html

CÔN ĐẢO, TỪ “ĐỊA NGỤC” ĐẾN “THIÊN ĐƯỜNG”



 http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120408/khong-gian-thieng.aspx


. Đi một vòng quanh Côn Đảo ta luôn nhìn thấy dấu tích của hệ thống nhà tù dày đặc ở đây: những ngôi nhà trơ bức tường dày, những hàng rào thép gai, những trạm gác – lô cốt. Còn được bảo tồn khá nguyên vẹn có thể kể đến các di tích: Nghĩa trang Hàng Dương, cầu tàu 914, Chuồng cọp Pháp, Chuồng cọp Mỹ, Hầm phân bò và nhiều trại tù khác… Khách tham quan được hướng dẫn chu đáo, nội dung thuyết minh khá chi tiết về những di tích này. Đặc biệt Nghĩa trang Hàng Dương bạt ngàn bia mộ không ngay hàng thẳng lối vì được dựng ngay nơi người tù bị vùi xác.  Nghĩa trang nay được xây dựng khang trang, có đền Tưởng niệm, đài Liệt sĩ, mỗi ngôi mộ ban đêm sáng một ngọn đèn nhỏ xíu như ngàn vạn đom đóm lập lòe trong tiếng gió tiếng sóng rì rào…
Côn Đảo còn có nhiều di tích khác như An Sơn Miếu – nơi thờ bà Phi Yến là thứ phi của Nguyễn Ánh, Cầu Ma thiên Lãnh, Nhà Chúa đảo, Nhà Công quán, Chùa Núi Một… phản ánh khá đầy đủ lịch sử nơi đây.
Không chỉ có hệ thống di tích lịch sử mà cảnh quan và hệ sinh thái tự nhiên của Côn Đảo xứng đáng được coi là di sản tự nhiên, vốn quý để nơi đây trở thành “thiên đường” của du lịch và nghỉ dưỡng. Nhiệt độ ôn hòa, bờ biển dài bằng phẳng mịn màng cát trắng, trong lòng biển là những rặng san hô nhiều màu sắc, trên đảo nào cũng có những khu rừng nguyên sinh… Hệ sinh thái này là môi trường thuận lợi cho bảo tồn và sự phát triển của  sinh vật biển như các loại ốc, hàu, vích, cá… làm nên những món ăn độc đáo. Thị trấn Côn Sơn như một viên ngọc bích nổi trên biển trời xanh biếc. Những con đường nho nhỏ xanh rợp lá, những cây bàng cổ thụ gốc sần sùi lớn tới hai người ôm, những bụi bông giấy thắm màu đỏ tía hồng cam mọc trên sườn núi trên hàng rào nhà tù trên bãi cát ven hàng dương, những hàng rào bông hòang anh vàng tươi rực rỡ trước khách sạn nhà nghỉ, và phượng đỏ trong nghĩa trang Hàng Dương mang lại chút ấm áp cho những người nằm lại nơi đó…
Trừ khu vực các trại tù đã được bảo tồn thành di tích, tham quan những nơi khác ở Côn Đảo người ta không cảm thấy không khí ghê rợn của “địa ngục trần gian” quanh quất đâu đấy như những di tích trại tập trung ở Ba Lan hay ở Đức. Đó là nhờ sự hiện diện, tuy ít ỏi, của dân cư trên đảo. Họ đã góp phần bảo tồn quá khứ anh hùng và hiện nay cuộc sống hiền hòa của họ đang hàng ngày mang lại sức sống mới cho hòn đảo xinh đẹp này.
Từ khỏang đầu thế kỷ XIX sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hòai Đức đã ghi chép về Côn Đảo như sau:
Ở giữa biển Đông, từ cửa cảng Cần Giờ chạy thuyền ra biển theo hướng đông mặt
trời mọc 2 ngày mới đến. Đảo lớn 100 dặm, có ruộng núi trồng lúa, bắp, khoai, đậu,
nhưng cũng không nhiều, nên thường phải mua gạo ở Gia Định mới đủ dùng. Thổ sản ở
đây là ngựa và trâu, núi không có cọp beo. Dân ở đảo tự kết lại làm binh sĩ, gọi Tiệp
Nhất, Tiệp Nhị, Tiệp Tam ba đội, trực thuộc đạo Cần Giờ, có đủ khí giới để giữ gìn đất
ấy phòng quân cướp hung dữ Đồ Bà, không cần kêu gọi chỗ khác đến giúp. Dân
lính ở đấy thường lấy yến sào, đồi mồi, vích, quế hương, mắm, ốc tai tượng, rồi theo
mùa mà dâng nộp; còn lại thì đánh bắt hải sản như cá, tôm để sinh sống. Quả cau ở
đây to, vỏ màu hồng, vị lại ngọt thơm, cứ đến đầu mùa xuân, lúc cau ở Gia Định chưa
kết quả, thì cau ở đây đã dùng được, người ta chở vào bán với giá rất cao.
Như vậy có thể coi Côn Đảo là “tiền cảng” của cảng Bến Nghé – Gia Định. Mối quan hệ chặt chẽ về kinh tế (và quân sự) giữa Côn Đảo và (thành) Gia Định đã mang lại sự phát triển ổn định cho hòn đảo này.
Đừng để Côn Đảo “ngủ quên” trong quá khứ đau buồn, bởi vì Côn Đảo xứng đáng được đánh  thức để trở thành một thiên đường trong tương lai. Những ghi chép của tiền nhân có thể coi là một gợi ý, một hướng nghiên cứu để tìm ra nguồn lực phù hợp nhất cho sự phát triển của Côn Đảo hôm nay và ngày mai.



TRƯỜNG SA (1)



 LÊN ĐƯỜNG
 BÌNH MINH
 NGÀY MỚI
 CÂY PHONG BA
  
Trên vùng biên đảo của đất nước tất cả đều là chứng tích lịch sử về chủ quyền.

 CÔNG DÂN TRƯỜNG SA
 ĐẢO XA THÂN YÊU

 TRÁI BÀNG VUÔNG Ở TRƯỜNG SA

 LÍNH HÁT KHÔNG THUA CA SĨ CHUYÊN NGHIỆP

 BIỂN CỦA TA TRỜI CỦA TA

 TƯỞNG NIỆM
 HOA BÀNG VUÔNG

CÁC ANH NẰM LẠI BIỂN XANH...


 HÒANG HÔN

"KHAI QUẬT" TRẦM TÍCH VĂN HÓA BIỂN

Tuổi Trẻ Cuối tuần
Thứ Sáu, 27/01/2012, 06:30 (GMT+7)

“Khai quật” trầm tích văn hóa biển

TTCT - Tôi cứ băn khoăn tự hỏi mãi, vì sao khi những bản tin thời tiết lại dùng từ “khẩn cấp” chỉ khi bão đổ vào đất liền và dùng từ “bão xa” khi ngay lúc ấy, cả ngàn ngư dân Việt Nam trên biển đã phải đối mặt và chịu thiệt hại về người và của?

Nơi biển cả mà từ đất liền, ta thấy là mênh mông khôn cùng, từ ngàn đời nay những ngư dân đã để lại một bề dày trầm tích văn hóa...

Thuyền bè trên sông Fai Fô (Hội An). Tranh phụ bản trong cuốn Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792-1793) của J.Barrow

Dọc dài hơn 3.000km bờ biển từ Móng Cái đến Kiên Giang là hàng trăm ngàn kilômet vuông thềm lục địa, hàng trăm đảo, quần đảo lớn nhỏ. Vùng duyên hải Việt Nam là nơi làm ra loại gia vị độc đáo từ cá là nước mắm - gia vị chủ đạo để chế biến những thức ăn đặc biệt Việt Nam, theo một cách nấu cũng không nơi nào có: món kho!

Những cá kho, thịt kho, đậu kho, trứng kho, rau củ (trám, củ cải, măng...) cũng kho - loại thức ăn mặn mòi vị muối từ biển, có thể để dành bữa sau, ngày mai... cũng không bị thiu hỏng trong tiết nhiệt đới nóng nực. Và đấy chỉ là một trong vô vàn yếu tố văn hóa biển hiện hữu trong cuộc sống hằng ngày của người dân ta.

Những dấu tích nguyên vẹn

Từ thời xa xưa, những tộc người sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay đã biết khai thác nguồn lợi từ biển, thông thạo buôn bán, trao đổi bằng đường biển, phát triển nghề đi biển và tiến ra khai thác các đảo và quần đảo. Các đô thị ven biển cũng hình thành tính chất đa văn hóa, pha trộn, giao lưu và cởi mở...

Ta còn có thể nhận biết nhiều dấu tích văn hóa vật thể và phi vật thể trong “trầm tích” văn hóa biển - một phần quan trọng trong di sản văn hóa Việt Nam.

Tài liệu khảo cổ học cho biết đã có những di tích người nguyên thủy sinh sống ở các miền ven biển cách đây 6.000-3.000 năm, hình thành các văn hóa khảo cổ như văn hóa Hạ Long (Quảng Ninh), Cái Bèo (Hải Phòng), Đa Bút, Hoa Lộc (Thanh Hóa), văn hóa Quỳnh Văn (Nghệ An), Thạch Lạc (Hà Tĩnh), Bàu Tró (Quảng Bình)...

Các nền văn hóa ven biển này có nhiều yếu tố gần gũi với văn hóa Hòa Bình - Bắc Sơn ở miền núi và thung lũng, có niên đại 12.000-8.000 năm cách ngày nay. Dấu tích thức ăn của con người để lại là lớp vỏ ốc dày hàng mét trong các hang động miền núi, vỏ sò điệp tạo thành cồn dài hàng chục mét ven biển, trong đó còn có mộ táng, công cụ đá mài, mảnh gốm, bếp và than tro lẫn xương thú, xương cá...

Động vật thủy sinh là nguồn thức ăn đạm động vật phổ biến của những lớp cư dân cổ. Những nhóm cư dân miền núi và ven biển này là những cộng đồng cư dân sinh sống bằng nghề trồng trọt sơ khai và khai thác sản phẩm tự nhiên từ rừng núi, từ sông, từ biển. Phải chăng sự thật lịch sử này đã được huyền thoại hóa thành truyền thuyết khởi nguyên của người Việt “con rồng cháu tiên”, con cháu nửa lên núi, nửa xuống biển khai phá mở mang đất - nước?

Bếp gốm dùng trên ghe xuồng (đồ tùy táng tìm được trong mộ chum ở Cần Giờ, TP.HCM). Ngày nay cư dân Đông Nam Á vẫn dùng loại bếp này

Vào khoảng nửa sau thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, hoạt động giao thông đường biển đã phát triển ở Việt Nam, tạo điều kiện cho việc đi lại, tiếp xúc, trao đổi giữa các nhóm cư dân ven biển nước ta với khu vực hải đảo Đông Nam Á. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng trên mặt trống đồng Đông Sơn có khắc hình chiếc thuyền lớn với hình người cùng những nghi lễ, đầy đủ lương thực, vũ khí... chính là hình dáng của những con thuyền của tổ tiên ta vươn ra khai thác sông biển từ rất sớm.

Ở phía Nam, văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung và văn hóa Đồng Nai ở vùng cửa biển Cần Giờ đã để lại nhiều dấu ấn của những đoàn thương thuyền đến từ Ấn Độ, như đồ trang sức bằng ngọc, bằng thủy tinh, bằng vàng... Dấu tích thương mại Trung Hoa là những đồng tiền Ngũ Thù, gương đồng, bình gốm thời Hán tìm thấy khá nhiều ở một số di tích khảo cổ ven biển.

Quan hệ buôn bán với Ấn Độ và Trung Quốc diễn ra ở vùng ven biển từ rất sớm, khoảng 1-2 thế kỷ trước Công nguyên. Đặc biệt đồ gốm trong mộ táng chum vò của văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Đồng Nai rất giống đồ gốm trong các di tích mộ táng ở Philippines, mà các nhà khảo cổ cho rằng đó là bằng chứng của sự trao đổi sản phẩm và kỹ thuật sản xuất giữa cư dân vùng ven biển và hải đảo.

Hiện vật gốm thương mại của Việt Nam trên tàu đắm tại Cù Lao Chàm

Một nền văn hóa biển cởi mở

Đến đầu Công nguyên, các vương quốc cổ Phù Nam, Champa ở phía Nam hình thành và phát triển thành những vương quốc giàu mạnh nhờ khai thác thủy hải sản, lâm sản, nông nghiệp và nhất là nhờ có hệ thống cảng thị ven biển để buôn bán và làm dịch vụ cho con đường thương mại trên biển nối liền lục địa Ấn Độ đến lục địa Trung Hoa.

Ở phía Bắc, từ đầu thế kỷ thứ 10, quốc gia Đại Việt giành được nền độc lập tự chủ. Các triều đại Lý - Trần bắt đầu mở cảng Vân Đồn tiếp nhận thương thuyền nước ngoài. Đến thời Lê, Dư địa chí của Nguyễn Trãi còn nhắc đến các cửa biển Càn Hải, Hội Thống (Nghệ An), Hồi Triều (Thanh Hóa)... Từ thế kỷ 17, chính quyền Chúa Nguyễn Đàng Trong tiếp tục phát triển Đại Chiêm hải khẩu thành cảng thị Fai Fô - Hội An, xây dựng cảng Bến Nghé mở đường ra biển cho vùng Gia Định - Đồng Nai.

Từ khoảng thế kỷ 8-12, 13 và sau đó, biển Đông của Việt Nam không chỉ là nơi trung chuyển mà còn tích cực tham gia con đường thương nghiệp biển. Con đường tơ lụa, con đường gốm sứ trên biển nhộn nhịp quanh năm. Ven biển Đông Nam Á, khảo cổ học đã khai quật được nhiều tàu đắm chở hàng hóa xuất xứ từ nhiều nước.

Thương nghiệp đường biển mang đến Đông Nam Á sự du nhập tôn giáo và ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, hình thành các đô thị thương nghiệp (cửa biển, bến cảng) - những đô thị phát triển nhanh mà lụi tàn cũng nhanh một khi mất chức năng cảng thị; phát triển dịch vụ thương nghiệp, nghề đóng và sửa chữa tàu. Các đô thị ven biển cũng hình thành tính chất đa văn hóa, pha trộn, giao lưu và cởi mở.

Bình gốm tứ giác ven biển Quảng Ninh (văn hóa Phùng Nguyên 4.000-3.000 năm cách ngày nay) khắc vạch hoa văn sóng nước - Ảnh tư liệu

Tất cả những điều trên cho thấy từ thời xa xưa những tộc người sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay đã biết khai thác nguồn lợi từ biển, thông thạo buôn bán, trao đổi bằng đường biển, phát triển nghề đi biển và tiến ra khai thác các đảo và quần đảo. Đường bờ biển dài chính là một lợi thế của Việt Nam: đây là “mặt tiền” nhìn, hướng ra biển Đông, một vùng giàu tài nguyên và là đường giao thông quan trọng của khu vực Đông Nam Á và châu Á.

Khai thác lòng biển, thềm lục địa không chỉ có tài nguyên thiên nhiên, mà còn có tài nguyên văn hóa chứa đựng nhiều giá trị. Đó là việc ngành khảo cổ học phát hiện và khai quật di tích tàu đắm trong vùng biển nước ta, những con tàu chở đồ gốm xuất khẩu của Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan, mà nay những cổ vật gốm này có giá trị không chỉ về lịch sử - văn hóa mà còn về kinh tế.

Ta còn thấy những di sản văn hóa phi vật thể như lễ cầu ngư và nhiều lễ hội khác, những phong tục tập quán lối sống của cư dân vùng ven biển chứa đựng nhiều yếu tố văn hóa Đông Nam Á ... Tất cả đều góp phần tạo nên lớp trầm tích quý giá của truyền thống văn hóa - lịch sử nước Việt Nam đa dạng và thống nhất.

Bởi vậy nói đến văn hóa Việt Nam và Đông Nam Á không chỉ là “văn hóa, văn minh lúa nước” mà còn là văn hóa biển: thương nghiệp, cảng thị, giao lưu. Do những hoàn cảnh lịch sử, nhiều quốc gia Đông Nam Á phát triển nông nghiệp trồng lúa với tộc người chiếm đa số cư trú ở trung du, đồng bằng. Văn hóa nông nghiệp trồng trọt dần trở thành chủ đạo, “văn hóa biển” còn lưu lại dấu ấn trong nhiều yếu tố truyền thống.

Truyền thống văn hóa biển của khu vực Đông Nam Á cũng cần được coi là cơ sở dữ liệu để nghiên cứu vấn đề lịch sử và pháp lý liên quan biển Đông. Cái nhìn từ góc độ lịch sử có thể coi là một “sự nhắc nhớ” về việc khai thác nguồn lợi của biển Đông không chỉ trong lòng biển, dưới thềm lục địa mà còn ngay trên mặt biển. Sự có mặt của những đội thương thuyền cũng như tàu đánh bắt cá xa, gần bờ thể hiện một cách cụ thể chủ quyền của mình ở vùng biển này.

Nên không thể không “đứng trước biển” với tâm thức của người sống nhờ biển, sống vì biển như đã sống nhờ đất, vì đất.

TS NGUYỄN THỊ HẬU
(Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM)

TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...