PHÁT TRIỂN KINH TẾ DI SẢN TỪ TẠP CHÍ DU LỊCH
NHỊ HÒA – NƠI HIỆN HỮU KÝ ỨC LÀNG QUÊ NAM BỘ
Khi làng không “trình diễn” mà kể chuyện
Đó là một ngôi làng nhỏ ngay bên đường quốc lộ, thời
chiến tranh là vùng thường xảy ra chiến sự. Hòa bình rồi nhưng nhiều năm trước
nơi này vẫn là vùng sâu vùng xa, xung quanh bốn bề sông nước. Con trẻ đi học có
khi quá giang ghe, xuồng qua lại, mà thường xuyên “chỉ có cuốn tập cột với cái
áo trên đầu, lội qua sông mà đi học”. Nay Nhị Hòa đã có một con đường bê tông
rộng rãi chạy cặp theo con sông, xuyên từ đầu đến cuối làng. Khách đến chơi có
thể đi đường bộ mà cũng có thể đi đường sông. Bên đường, những ngôi nhà nhỏ nằm
giữa vườn rộng rợp cây xanh, có những vườn xưa mương dừa đã cạn, những cây dừa
lão nghiêng ngả, lá dừa rơi dày trên lớp đất đen ngai ngái mùi bùn.
Làng du lịch vào ngày cuối tuần nhưng cũng không quá
đông. Chỉ có vài bảng hiệu giản dị nhưng vui mắt ở đầu làng, còn lại trong làng
cuộc sống vẫn như ngày thường. Những hoạt động du lịch ở từng nhà được chuẩn bị lỹ lưỡng nhưng không mang tính dàn dựng “trình diễn”, cả làng hiện ra trước hết bằng những thứ rất quen của miền Tây: vườn cây, hàng rào trồng bông bụt, bông giấy, vài cây
mái đã nở vàng, mái nhà thấp thoáng sau hàng cây, tiếng chào hỏi từ hiên nhà... Ở đó, các hoạt động du lịch không phải như người khách tham quan, mà như người
thân quen đang ghé lại trò chuyện với chủ nhà, cùng tham gia vào sinh hoạt đời thường. Ở nhà này
thì cùng thưởng thức mấy loại bánh mứt làm vào dịp tết, nhà kia là các loại
trái cây, nhà nữa thì xem anh chủ dùng lá dừa đan thành mấy con vật ngộ
nghĩnh... Du khách cứ thoải mái ghé chơi, thử ăn các món dân dã, và thích thì
mua chút quà quê màng về thành phố.
Cũng như nhiều làng du lịch cộng đồng, khách đến tham
quan không phải là đến một điểm tham quan cụ thể, mà là để được đắm mình vào cảm giác hòa mình vào đời sống – như nó vẫn vậy. Ở Nhị Hòa đã không có sự tách biệt
rạch ròi giữa “không gian du lịch” và “không gian cư trú”, người “làm du lịch” và người làng đang làm vườn, nấu ăn, trò chuyện, sinh hoạt. Ở Nhị Hòa du khách là người
đến cùng chia sẻ nhịp sống ấy. Ở đây, du lịch cộng đồng
không được sân khấu hóa thành tiết mục chỉn chu mà tồn tại trong
những chi tiết nhỏ: ngôi nhà còn
nguyên bàn thờ với những bức hình của ông bà chắc cũng gần trăm năm trước; cách bày mâm cơm, cách tiếp khách, cách gọi nhau bằng những đại từ thân
mật, cách mở cửa nhà như một thói quen tự nhiên của làng quê Nam Bộ... Những điều ấy tưởng như bình thường,
nhưng chính là lớp trầm tích của ký ức văn hóa mà không nhiều người còn lưu giữ được.
Làng như một cảnh quan văn hóa sống
Tính chất cộng đồng ở Nhị Hòa được “bảo tồn” trong du
lịch ở điểm mấu chốt: người dân vẫn duy trì công việc làm ăn, sinh hoạt hàng
ngày, công việc du lịch nhưng chưa bị tách rời khỏi cuộc sống đời thường Nhưng nếu chỉ dừng ở khái niệm ấy thì chưa đủ để chạm đến cảm giác thật khi đứng trong không gian làng. Bởi
điều đáng nói hơn không phải là “mô hình du lịch” mà là việc một ngôi làng Nam Bộ đang tồn tại như một di sản sống, đang lưu giữ ký ức trong sinh
hoạt thường ngày. Chính
điều này ở Nhị Hòa đã mang lại cho nhiều người một cảm giác quen thuộc “như
được trở về quê nội quê ngoại vậy!”. Trong bối cảnh nhiều
điểm du lịch cộng đồng bị “sân khấu hóa”, Nhị Hòa may mắn chưa bị mất đi sự hồn nhiên chất phác của người dân miệt vườn Nam
bộ. Và chính sự hồn nhiên ấy làm nên giá trị học thuật đặc biệt, vì nó cho thấy một cộng đồng đang sống
với di sản của mình, chứ không chỉ trình diễn di sản cho người ngoài xem.
Nhị Hòa có thể được
xem là một cấu trúc điển hình của làng quê Nam Bộ miệt vườn. Ở đó, không gian
sinh thái, không gian xã hội và không gian văn hóa đan cài chặt chẽ. Vườn cây không chỉ là sinh kế, mà còn là ký ức canh tác. Sông và kênh rạch không chỉ là cảnh quan, mà là trục giao thông và ký ức sông
nước. Ngôi nhà không chỉ là nơi ở, mà là
không gian lưu giữ nếp sống gia đình nhiều thế hệ. Khi du khách bước đi giữa những lớp
không gian ấy, họ không chỉ “tham quan”, mà đang đi qua một hệ thống ký ức vật
chất và phi vật chất tích tụ qua thời gian. Đó là dạng di sản không dễ nhận
diện bằng tiêu chí di tích, nhưng lại có giá trị bền vững hơn — bởi nó gắn với
đời sống.
Nhị Hòa cho thấy một cách tiếp cận đáng chú ý: bảo
tồn không bằng cách “đóng băng” làng, mà bằng cách tạo sinh kế từ/gắn với chính
đời sống văn hóa của cộng đồng. Khi mỗi hộ dân trở thành một mắt xích trong
chuỗi trải nghiệm, du lịch không còn là hoạt động ngoại lai mà trở thành một
phần của cấu trúc kinh tế – xã hội làng. Đây là mô hình bảo tồn mềm (soft
conservation), tức là không xây dựng công trình du lịch quy mô lớn, không phá
vỡ cấu trúc làng hiện hữu đồng thời khai thác giá trị từ chính sinh hoạt bản
địa. Cách làm này phù hợp với nguyên lý bảo tồn di sản sống. Bởi vì di sản chỉ
có thể tồn tại bền vững khi cộng đồng còn sống với nó, chứ không phải khi nó bị
tách khỏi đời sống để trưng bày.
Ký ức làng quê trong thời đại chuyển đổi nông
thôn
Nam Bộ đang thay đổi
nhanh chóng do quá trình đô thị hóa lan rộng, nông nghiệp chuyển dịch, lao động trẻ rời làng lên thành phố, đến các khu công nghiệp. Trong bối cảnh ấy cấu trúc làng truyền thống đang bị biến dạng hoặc
mai một. Vì thế Nhị Hòa không chỉ là một
điểm du lịch mới mà còn là không gian đang giữ lại ký ức của một kiểu làng quê đang hiếm dần.
Ký ức ấy không nằm ở
những sự kiện lịch sử lớn, mà ở đời sống thường nhật: đó là ký ức về những bữa cơm gia đình, cuộc trò chuyện ở hiên nhà khi chiều xuống, về con đường làng rợp
bóng cây, về con sông
luôn có bóng dáng ghe xuồng qua lại, là ký ức về sự hiếu khách chân tình, rất Nam Bộ... Những yếu tố này được
gọi là di sản đời sống (everyday heritage), rất khó bảo tồn bằng biện pháp hành chính nhưng lại có thể được duy trì
thông qua từng người dân.
Nếu du lịch cộng đồng nếu được tổ chức đúng hướng thì loại di sản này càng có điều kiện lưu giữ lâu
dài.
Khi đặt Nhị Hòa trong mối liên hệ với
không gian đô thị Nam Bộ, đặc biệt là TP.HCM, ta sẽ thấy một đối sánh thú vị.
Trong đô thị, ký ức thường bị nén lại, thay thế nhanh bởi các lớp phát triển
mới. Những không gian cộng cư truyền thống, nhịp sống chậm, quan hệ láng giềng
thân mật dần bị suy giảm. Trong khi đó ở Nhị Hòa, ký ức làng quê vẫn được duy trì trong đời sống
hàng ngày. Đây là một hiện
tượng đang diễn ra trong “cấu trúc văn hóa vùng” ở Nam Bộ trong thời kỳ chuyển đổi. Theo nghĩa ấy, trường hợp Nhị Hòa không chỉ là một
làng du lịch mà còn thể hiện sự “đối trọng ký ức” của vùng đô thị hóa mạnh.
Trải nghiệm cá nhân
thường mang tính cảm xúc. Cảm giác bình yên, thân thuộc khi đến Nhị Hòa không chỉ là cảm xúc chủ
quan mà phản ánh sự hiện diện của một hệ sinh thái văn hóa còn nguyên vẹn. Tuy nhiên, cũng cần cảnh báo một cách tỉnh táo: bất kỳ mô hình du lịch cộng đồng nào
khi phát triển đều đối diện nguy cơ thương mại hóa ký ức. Khi lượng khách tăng,
đời sống có thể bị điều chỉnh để phù hợp với kỳ vọng du lịch, những gì tự nhiên có thể dần trở
thành “chuẩn hóa” để phục vụ thị trường. Do đó, vấn đề cần đặt ra không chỉ là “Nhị Hòa có hấp dẫn hay không?” mà quan trọng hơn, mô hình này sẽ giữ được tính xác thực văn hóa dài
hạn hay không?
Rời Nhị Hòa, điều
còn lại không phải là một danh sách điểm tham quan, mà là một cảm giác về nhịp
sống. Một ngôi làng không quá xa, nhưng đủ khác để khiến người đô thị nhận ra
mình đã quen với tốc độ nhanh đến mức nào. Đến Nhị Hòa, người ta nhận ra nơi ấy là một không gian còn giữ được “nhịp sống chậm” - thứ đang dần trở nên
hiếm trong xã hội đương đại. Ở Nhị Hòa mình được tạm dừng cuộc đua vất vả nơi phố thị mà nghỉ ngơi
theo nhịp võng thong thả bên hiên nhà.
Có lẽ, giá trị lớn
nhất của những làng du
lịch cộng đồng không nằm ở việc trở thành một điểm
đến nổi tiếng mà ở khả năng nhắc cho chúng ta nhớ rằng, di sản không chỉ là những gì cổ xưa và
tĩnh tại, mà còn là đời sống bình dị đang tiếp diễn mỗi ngày. Khi du lịch được
tổ chức như một sự chia sẻ thay vì khai thác thì làng quê không bị biến thành
sản phẩm, mà trở thành một không gian đối thoại giữa ký ức và hiện tại.
Đấy cũng là điều mà tôi muốn được chia sẻ với anh - người bạn quý mến, người luôn dành
hết tâm huyết cho sự
phát triển du lịch và văn hóa tại vùng quê xinh đẹp, hiền hòa và giàu tiềm năng của mình.
TC DU LỊCH TP.HCM
“ĐIỂM LẶNG” QUÝ GIÁ GIỮA LÒNG SIÊU ĐÔ THỊ
Làng nghề – di sản sống giữa đô thị
Nếu có lần nào đó
bạn đi ra vùng ngoại ô thành phố, có thể bạn sẽ nhận ra mình đang đi qua một làng nghề truyền thống.
Đó là khi bỗng thấy trong gió sớm mùi nhang mới se, hay nghe tiếng va đập kim loại lách cách vọng ra từ một căn nhà cũ bên đường. Trên một con
đường khác, khuất sau những khối bê tông và bảng hiệu, chợt hiện ra không gian thoáng đãng có những giàn
phơi bánh tráng trải dài. Hay tình cờ nhìn qua dòng xe hối hả bạn nhận ra một lò gốm cổ đứng trầm
tư bên đường... Những mùi vị, âm thanh, hình ảnh ấy gợi lên cảm giác bồi hồi, giữa
cuộc sống hiện đại vẫn còn đó một lớp trầm tích văn hóa quý giá, đó là các làng nghề truyền thống.
TP. Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ là một thay đổi về
địa giới hành chính. Đó là sự mở rộng của không gian sống, của nhịp điệu đô thị và những mối quan hệ
xã hội mới. Thành phố mới rộng hơn về không gian, có thêm những
làng nghề truyền thống làm ra những sản phẩm tiêu dùng quen thuộc từ hàng trăm
năm nay: làm gốm, làm mộc, chế biến thủy hải sản, làm muối, đóng sửa tàu
thuyền... Trong hình dung quen thuộc của chúng ta, làng nghề thường gắn với
vùng nông thôn nhưng ở TP. Hồ Chí Minh hôm nay, làng nghề không còn nguyên vẹn
trong khuôn hình ấy. Chúng tồn tại theo cách khác, lặng lẽ, phân tán, khiêm
nhường nhưng bền bỉ với thời gian.
Trong cơn lốc đô thị hóa hàng chục năm
nay, làng nghề truyền
thống không biến mất mà vẫn hiện diện trong nhịp điệu riêng, trở thành những “điểm lặng” quý giá trong thành phố đang trở thành một “siêu đô thị”. Làng nghề không còn là “làng” theo nghĩa xưa, không ranh giới rõ rệt cũng không tập trung với mật độ cao... Thay vào đó là những không gian làm nghề nhỏ hẹp hơn như
một dãy nhà liền kề cùng làm nhang, một cụm hộ gia đình quanh một lò gốm còn
giữ nghề làm gốm, một số hộ gia đình lao động trên những ruộng muối nơi xã đảo,
vài gia đình làm “đèn trung thu” chỉ trong vài tháng để đón mùa trăng tròn...
Làng nghề trở thành di sản không phải “để trưng
bày” mà vẫn tồn tại trong đời
sống thường nhật. Là di sản sống, làng nghề ngày
nay có thể không còn
đẹp theo kiểu lãng mạn vì hòa lẫn trong khói bụi, trong tiếng máy móc, trong những lo toan mưu sinh. Nhưng
chính sự “không hoàn hảo” đó làm nên giá trị thật của làng nghề nơi đô thị: giá trị của
ký ức đang được thực hành, của kỹ năng còn được truyền tay, của một nếp sống
chưa bị thay đổi hoàn toàn. Trong bối cảnh đô thị mở rộng, truyền
thống dễ bị lãng quên. Nhưng chừng nào còn người làm nghề thủ công, chừng đó
truyền thống còn được tiếp nối. Làng nghề vì thế không chỉ là đối tượng bảo tồn
mà còn là “chủ thể” kể lại câu chuyện lịch sử - văn hóa thành phố.
2. Làng nghề - sức
sống của các cộng đồng đô thị
Không gian đô thị mở rộng TP. Hồ Chí Minh là kết quả
của nhiều đợt di dân. Từ Bến Nghé – Gia Định – Sài Gòn – Chợ Lớn rồi nay
thêm Bình Dương – Bà Rịa – Vũng Tàu... Mỗi khu vực đều có những làng nghề được
hình thành theo bước chân của những đoàn lưu dân trong nhiều thế kỷ trước,
những lớp người nhập cư từ thế kỷ 20 đến nay. Người đến mang theo nghề, nghề theo người mà bén rễ, đáp ứng nhu cầu sinh tồn đa dạng của các cộng đồng.
Có những nghề gắn với môi trường sông nước Nam Bộ như làm nước nước mắm, làm cá khô, làm muối, đóng ghe thuyền. Có những nghề theo chân lưu dân từ miền Trung, miền Bắc,
hay cộng đồng Hoa kiều, như nghề làm gốm, đúc đồng, nghề mộc, sơn mài, làm nhang, làm đèn trung thu... Tất cả phát triển nhờ đô thị mở rộng, nhờ kinh
tế thị trường nhạy bén và linh hoạt. Làng nghề ở thành phố vì thế không thuần nhất. Nó là kết quả của sự giao thoa giữa kỹ thuật và
thị trường, giữa truyền thống và thích nghi. Ở TP. Hồ Chí Minh mới, hiếm có
làng nghề nào “đứng yên”. Nghề thay đổi theo người, người thay đổi theo sự phát triển của thành phố.
Đô thị hóa mang lại cơ hội nhưng cũng
tạo ra sức ép lớn với các làng nghề. Quy hoạch thay đổi, giá đất tăng, yêu cầu
môi trường ngày càng khắt khe. Làng nghề truyền thống vốn dĩ cần không gian, cần sự ổn định nơi sản xuất gắn với thị trường. Vì vậy, từ nhiều năm qua có làng nghề phải thu hẹp quy mô, có làng nghề buộc phải di dời, có làng nghề tồn tại trong tình trạng “tạm bợ kéo dài”. Nhưng cũng chính trong những điều kiện ngặt nghèo ấy,
các “làng nghề” bộc lộ khả năng thích ứng đáng kinh ngạc. Một xưởng nhỏ
thay thế cho cả một làng, một vài gia đình gánh trên vai ký ức của nhiều thế hệ.
Cũng có những “làng nghề” mới xuất hiện, với diện mạo và
quy mô mới, do kỹ thuật sản xuất hiện đại hơn. Làng nghề không còn là không gian địa lý cụ thể mà trở thành “không gian tinh thần” của đô thị hiện đại.
Làng nghề chính là một phần ký ức đô thị - di sản văn hóa phi vật thể. Mỗi sản phẩm thủ công đều mang trong nó câu chuyện về nơi chốn, về thời
gian, về con người. Một bó nhang không chỉ để đốt mà là duy trì tín ngưỡng kết nối với tổ tiên. Một chiếc lư đồng không chỉ là vật dụng thờ cúng mà gắn với gian thờ của mỗi gia đình, với không gian đình chùa đền miếu, với sự linh thiêng. Những chiếc đèn trung thu không chỉ là đồ chơi, mà là một trời ký ức thời
thơ ấu...
Ngày nay, không
phải làng nghề nào cũng có thể sống bằng sản xuất thuần túy, bởi vì bối cảnh xã
hội ngày càng hiện đại, thị trường truyền thống và nhu cầu tiêu dùng thay đổi.
Nhiều làng nghề đứng trước ngã rẽ: hoặc biến mất, hoặc cần “hiện đại hóa”. Hiện
đại hóa không có nghĩa là đánh mất bản sắc mà đó là sự chuyển biến, thay đổi
trên nền truyền thống, là cách để bản sắc tiếp tục tồn tại trong hình thức mới.
Khi làng nghề gắn với thiết kế sáng tạo, với du lịch trải nghiệm, với giáo dục
văn hóa, thì làng nghề không chỉ tạo ra sản phẩm mà còn tạo ra giá trị văn hóa,
giá trị tri thức bản địa. Lúc ấy, làng nghề bước sang vai trò mới: là nguồn lực
mềm của đô thị, thông qua đó đóng góp tích cực cho việc tăng giá trị di sản văn
hóa.
3. Làng nghề - “bến đậu” của đời sống thành phố
Hiện nay, quan
niệm “bảo tồn mâu thuẫn với phát triển” đã trở nên lạc hậu, mà bảo tồn di sản văn
hóa vật thể hay phi vật thể đều là cách thức đặc biệt để phát triển bền vững –
nhất là trong các đô thị, siêu đô thị. Những làng nghề của TP. Hồ Chí Minh hôm nay, nếu đòi hỏi phải “bảo tồn nguyên vẹn” là điều bất khả. Vì vậy điều cần giữ không phải là hình thức “làng” mà là cốt lõi: kỹ thuật, tri thức,
tinh thần nghề, cộng đồng làm nghề. Bảo tồn làng nghề vì
thế cần một tư duy khác: bảo tồn động, bảo tồn trong chuyển hóa. Đó không chỉ
là trách nhiệm của các nghệ nhân mà trước hết là trách nhiệm của chính quyền và sau đó, là của cộng đồng đô thị. Một thành phố muốn phát triển bền vững thì không thể cắt đứt ký ức của chính mình, làng nghề là một trong nhiều yếu tố tạo thành lịch sử thành phố.
TP. Hồ Chí Minh mở rộng giống như một dòng sông lớn. Cuộc sống thành phố trôi đi rất nhanh. Trong dòng chảy ấy có thể coi làng nghề là những “bến đậu” cho đời sống đô thị, là “điểm neo” của ký ức cộng đồng. Làng nghề, cũng
như những không gian truyền thống khác như chợ dân sinh, đình, chùa, đền miếu...
không phải là yếu tố cản ngăn dòng chảy cuộc sống mà là để giúp con người không bị cuốn trôi hoàn toàn khỏi quá
khứ.
Khi bước vào một không gian làng nghề, dù chỉ là một
căn nhà nhỏ còn giữ nghề cũ, bất giác ta luôn bước chậm lại, vì trong khoảnh khắc ấy ta nhận ra, thành phố không chỉ được tạo nên bởi những tòa nhà cao
tầng mà còn bởi những bàn tay thô ráp, những kỹ năng được truyền qua nhiều thế
hệ. Có thể một ngày nào
đó, nhiều làng nghề sẽ không còn tồn tại như hôm nay. Nhưng nếu biết cách trân
trọng và chuyển hóa, chúng vẫn sẽ để lại dấu ấn sâu sắc trong ký ức đô thị, như những lớp phù sa âm thầm bồi đắp
cho thành phố. Và chính nhờ những lớp phù sa ấy, TP. Hồ Chí Minh mới có thể ngày càng phát
triển nhưng vẫn được nuôi dưỡng từ cội nguồn truyền thống.
TP. Hồ Chí Minh,
1/2026
Tạp chí DU LỊCH TPHCM số XUÂN BÍNH NGỌ 2026
Nguyễn Thị Hậu
TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)
https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...
-
Trích phần 3 của bài đăng trên tạp chí Di sản văn hóa số 3(15) 2023 3. Bảo tồn và phát triển nghệ thuật gốm Chăm ở Bàu Trúc trong bối cảnh ...
-
Một người bạn fb bất ngờ ra đi. Post bài thơ rất hay của bạn. Tôi biết Cao Hải Hà qua mạng Yahoo blog và sau là FB. Vài lần gặp Hà ở chỗ ...
-
Người Việt có một số thành ngữ và sự tích liên quan đến cá trê, như truyện Trê Cóc chẳng hạn. Câu chuyện không chỉ là việc Trê tranh giàn...

