Làng nghề – di sản sống giữa đô thị
Nếu có lần nào đó
bạn đi ra vùng ngoại ô thành phố, có thể bạn sẽ nhận ra mình đang đi qua một làng nghề truyền thống.
Đó là khi bỗng thấy trong gió sớm mùi nhang mới se, hay nghe tiếng va đập kim loại lách cách vọng ra từ một căn nhà cũ bên đường. Trên một con
đường khác, khuất sau những khối bê tông và bảng hiệu, chợt hiện ra không gian thoáng đãng có những giàn
phơi bánh tráng trải dài. Hay tình cờ nhìn qua dòng xe hối hả bạn nhận ra một lò gốm cổ đứng trầm
tư bên đường... Những mùi vị, âm thanh, hình ảnh ấy gợi lên cảm giác bồi hồi, giữa
cuộc sống hiện đại vẫn còn đó một lớp trầm tích văn hóa quý giá, đó là các làng nghề truyền thống.
TP. Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ là một thay đổi về
địa giới hành chính. Đó là sự mở rộng của không gian sống, của nhịp điệu đô thị và những mối quan hệ
xã hội mới. Thành phố mới rộng hơn về không gian, có thêm những
làng nghề truyền thống làm ra những sản phẩm tiêu dùng quen thuộc từ hàng trăm
năm nay: làm gốm, làm mộc, chế biến thủy hải sản, làm muối, đóng sửa tàu
thuyền... Trong hình dung quen thuộc của chúng ta, làng nghề thường gắn với
vùng nông thôn nhưng ở TP. Hồ Chí Minh hôm nay, làng nghề không còn nguyên vẹn
trong khuôn hình ấy. Chúng tồn tại theo cách khác, lặng lẽ, phân tán, khiêm
nhường nhưng bền bỉ với thời gian.
Trong cơn lốc đô thị hóa hàng chục năm
nay, làng nghề truyền
thống không biến mất mà vẫn hiện diện trong nhịp điệu riêng, trở thành những “điểm lặng” quý giá trong thành phố đang trở thành một “siêu đô thị”. Làng nghề không còn là “làng” theo nghĩa xưa, không ranh giới rõ rệt cũng không tập trung với mật độ cao... Thay vào đó là những không gian làm nghề nhỏ hẹp hơn như
một dãy nhà liền kề cùng làm nhang, một cụm hộ gia đình quanh một lò gốm còn
giữ nghề làm gốm, một số hộ gia đình lao động trên những ruộng muối nơi xã đảo,
vài gia đình làm “đèn trung thu” chỉ trong vài tháng để đón mùa trăng tròn...
Làng nghề trở thành di sản không phải “để trưng
bày” mà vẫn tồn tại trong đời
sống thường nhật. Là di sản sống, làng nghề ngày
nay có thể không còn
đẹp theo kiểu lãng mạn vì hòa lẫn trong khói bụi, trong tiếng máy móc, trong những lo toan mưu sinh. Nhưng
chính sự “không hoàn hảo” đó làm nên giá trị thật của làng nghề nơi đô thị: giá trị của
ký ức đang được thực hành, của kỹ năng còn được truyền tay, của một nếp sống
chưa bị thay đổi hoàn toàn. Trong bối cảnh đô thị mở rộng, truyền
thống dễ bị lãng quên. Nhưng chừng nào còn người làm nghề thủ công, chừng đó
truyền thống còn được tiếp nối. Làng nghề vì thế không chỉ là đối tượng bảo tồn
mà còn là “chủ thể” kể lại câu chuyện lịch sử - văn hóa thành phố.
2. Làng nghề - sức
sống của các cộng đồng đô thị
Không gian đô thị mở rộng TP. Hồ Chí Minh là kết quả
của nhiều đợt di dân. Từ Bến Nghé – Gia Định – Sài Gòn – Chợ Lớn rồi nay
thêm Bình Dương – Bà Rịa – Vũng Tàu... Mỗi khu vực đều có những làng nghề được
hình thành theo bước chân của những đoàn lưu dân trong nhiều thế kỷ trước,
những lớp người nhập cư từ thế kỷ 20 đến nay. Người đến mang theo nghề, nghề theo người mà bén rễ, đáp ứng nhu cầu sinh tồn đa dạng của các cộng đồng.
Có những nghề gắn với môi trường sông nước Nam Bộ như làm nước nước mắm, làm cá khô, làm muối, đóng ghe thuyền. Có những nghề theo chân lưu dân từ miền Trung, miền Bắc,
hay cộng đồng Hoa kiều, như nghề làm gốm, đúc đồng, nghề mộc, sơn mài, làm nhang, làm đèn trung thu... Tất cả phát triển nhờ đô thị mở rộng, nhờ kinh
tế thị trường nhạy bén và linh hoạt. Làng nghề ở thành phố vì thế không thuần nhất. Nó là kết quả của sự giao thoa giữa kỹ thuật và
thị trường, giữa truyền thống và thích nghi. Ở TP. Hồ Chí Minh mới, hiếm có
làng nghề nào “đứng yên”. Nghề thay đổi theo người, người thay đổi theo sự phát triển của thành phố.
Đô thị hóa mang lại cơ hội nhưng cũng
tạo ra sức ép lớn với các làng nghề. Quy hoạch thay đổi, giá đất tăng, yêu cầu
môi trường ngày càng khắt khe. Làng nghề truyền thống vốn dĩ cần không gian, cần sự ổn định nơi sản xuất gắn với thị trường. Vì vậy, từ nhiều năm qua có làng nghề phải thu hẹp quy mô, có làng nghề buộc phải di dời, có làng nghề tồn tại trong tình trạng “tạm bợ kéo dài”. Nhưng cũng chính trong những điều kiện ngặt nghèo ấy,
các “làng nghề” bộc lộ khả năng thích ứng đáng kinh ngạc. Một xưởng nhỏ
thay thế cho cả một làng, một vài gia đình gánh trên vai ký ức của nhiều thế hệ.
Cũng có những “làng nghề” mới xuất hiện, với diện mạo và
quy mô mới, do kỹ thuật sản xuất hiện đại hơn. Làng nghề không còn là không gian địa lý cụ thể mà trở thành “không gian tinh thần” của đô thị hiện đại.
Làng nghề chính là một phần ký ức đô thị - di sản văn hóa phi vật thể. Mỗi sản phẩm thủ công đều mang trong nó câu chuyện về nơi chốn, về thời
gian, về con người. Một bó nhang không chỉ để đốt mà là duy trì tín ngưỡng kết nối với tổ tiên. Một chiếc lư đồng không chỉ là vật dụng thờ cúng mà gắn với gian thờ của mỗi gia đình, với không gian đình chùa đền miếu, với sự linh thiêng. Những chiếc đèn trung thu không chỉ là đồ chơi, mà là một trời ký ức thời
thơ ấu...
Ngày nay, không
phải làng nghề nào cũng có thể sống bằng sản xuất thuần túy, bởi vì bối cảnh xã
hội ngày càng hiện đại, thị trường truyền thống và nhu cầu tiêu dùng thay đổi.
Nhiều làng nghề đứng trước ngã rẽ: hoặc biến mất, hoặc cần “hiện đại hóa”. Hiện
đại hóa không có nghĩa là đánh mất bản sắc mà đó là sự chuyển biến, thay đổi
trên nền truyền thống, là cách để bản sắc tiếp tục tồn tại trong hình thức mới.
Khi làng nghề gắn với thiết kế sáng tạo, với du lịch trải nghiệm, với giáo dục
văn hóa, thì làng nghề không chỉ tạo ra sản phẩm mà còn tạo ra giá trị văn hóa,
giá trị tri thức bản địa. Lúc ấy, làng nghề bước sang vai trò mới: là nguồn lực
mềm của đô thị, thông qua đó đóng góp tích cực cho việc tăng giá trị di sản văn
hóa.
3. Làng nghề - “bến đậu” của đời sống thành phố
Hiện nay, quan
niệm “bảo tồn mâu thuẫn với phát triển” đã trở nên lạc hậu, mà bảo tồn di sản văn
hóa vật thể hay phi vật thể đều là cách thức đặc biệt để phát triển bền vững –
nhất là trong các đô thị, siêu đô thị. Những làng nghề của TP. Hồ Chí Minh hôm nay, nếu đòi hỏi phải “bảo tồn nguyên vẹn” là điều bất khả. Vì vậy điều cần giữ không phải là hình thức “làng” mà là cốt lõi: kỹ thuật, tri thức,
tinh thần nghề, cộng đồng làm nghề. Bảo tồn làng nghề vì
thế cần một tư duy khác: bảo tồn động, bảo tồn trong chuyển hóa. Đó không chỉ
là trách nhiệm của các nghệ nhân mà trước hết là trách nhiệm của chính quyền và sau đó, là của cộng đồng đô thị. Một thành phố muốn phát triển bền vững thì không thể cắt đứt ký ức của chính mình, làng nghề là một trong nhiều yếu tố tạo thành lịch sử thành phố.
TP. Hồ Chí Minh mở rộng giống như một dòng sông lớn. Cuộc sống thành phố trôi đi rất nhanh. Trong dòng chảy ấy có thể coi làng nghề là những “bến đậu” cho đời sống đô thị, là “điểm neo” của ký ức cộng đồng. Làng nghề, cũng
như những không gian truyền thống khác như chợ dân sinh, đình, chùa, đền miếu...
không phải là yếu tố cản ngăn dòng chảy cuộc sống mà là để giúp con người không bị cuốn trôi hoàn toàn khỏi quá
khứ.
Khi bước vào một không gian làng nghề, dù chỉ là một
căn nhà nhỏ còn giữ nghề cũ, bất giác ta luôn bước chậm lại, vì trong khoảnh khắc ấy ta nhận ra, thành phố không chỉ được tạo nên bởi những tòa nhà cao
tầng mà còn bởi những bàn tay thô ráp, những kỹ năng được truyền qua nhiều thế
hệ. Có thể một ngày nào
đó, nhiều làng nghề sẽ không còn tồn tại như hôm nay. Nhưng nếu biết cách trân
trọng và chuyển hóa, chúng vẫn sẽ để lại dấu ấn sâu sắc trong ký ức đô thị, như những lớp phù sa âm thầm bồi đắp
cho thành phố. Và chính nhờ những lớp phù sa ấy, TP. Hồ Chí Minh mới có thể ngày càng phát
triển nhưng vẫn được nuôi dưỡng từ cội nguồn truyền thống.
TP. Hồ Chí Minh,
1/2026
Tạp chí DU LỊCH TPHCM số XUÂN BÍNH NGỌ 2026
Nguyễn Thị Hậu


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét