Hiển thị các bài đăng có nhãn đọc sách. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đọc sách. Hiển thị tất cả bài đăng

MỘT CUỐN SÁCH THÚ VỊ VÀ HỮU ÍCH


Gần đây giới nghiên cứu và những người yêu thích tìm hiểu về chữ viết – một thành tố quan trọng của văn hóa VN - đã vui mừng đón nhận công trình "Lịch sử ngữ pháp và chữ viết dùng chữ cái Latinh của tiếng Việt từ 1615 đến 1919" của Tiến sĩ Phạm Thị Kiều Ly được bảo vệ tại Đại học Sorbonne nouvelle, Pháp năm 2018. Từ công trình này TS Phạm Thị Kiều Ly cùng họa sĩ Tạ Huy Long đã cho ra đời cuốn sách dành cho thanh - thiếu niên Người Việt gọi tôi là Cha Đắc Lộ - Hành trình sáng tạo chữ Quốc ngữ” (tháng 4.2023).

Đây là cuốn tranh truyện bán hư cấu kể lại câu chuyện hình thành chữ quốc ngữ, thông qua hành trình của một số nhà truyền giáo tại Việt Nam. Các sự kiện trong cuốn sách được lựa chọn từ cơ sở tư liệu xác đáng, sắp xếp trong ba phần: Đắc Lộ ký sự, Chữ quốc ngữ ký sự và Phụ lục. Thông qua cấu trúc các phần nội dung, cuốn sách dẫn dắt người đọc theo dõi quá trình hình thành chữ quốc ngữ trong bối cảnh lịch sử - xã hội thời bấy giờ.

 Phần I là truyện tranh về cuộc đời Alexandre de Rhodes, nhưng qua đó người đọc có thể hình dung được một cách cụ thể một hiện tượng lịch sử mà không nhiều người Việt quan tâm và hiểu biết, đó là là quá trình du nhập Công giáo vào Việt Nam. Phần II trình bày khái quát nhưng đầy đủ các sự kiện của quá trình hình thành chữ quốc ngữ dưới dạng thông tin ngắn gọn cho từng vấn đề (như các câu hỏi và câu trả lời). Phần III Phụ lục rất thú vị, ngoài những thông tin bổ sung cho nội dung sách toàn diện hơn còn có phần “talk show” giả định giữa hiện tại và quá khứ, với 3 nhà truyền giáo ở thế kỷ 17 có vai trò quan trọng trong sự hình thành chữ quốc ngữ.

Bằng ngôn từ giản dị, dễ hiểu nhưng thể hiện quan điểm khoa học rõ ràng, cuốn sách giúp người đọc nhận thức tính lịch sử, tính khoa học của sự hình thành chữ quốc ngữ, vai trò của chữ quốc ngữ tại thời điểm nó ra đời và giá trị lâu dài của thành tựu văn hóa này. Cuốn sách không chỉ dành cho thiếu nhi, mà cả người lớn cũng thu nhận được nhiều thông tin hữu ích, khách quan.

***

Chữ quốc ngữ là chữ viết chung của cả nước. Trải qua gần một ngàn năm bị phương Bắc đô hộ nhưng người Việt vẫn nói tiếng Việt. Từ khi giành được độc lập vào thế kỷ thứ X, các triều đại phong kiến nước ta đã mượn chữ Hán (còn gọi là chữ Nho) để sử dụng trong hành chánh, học thuật nhưng chữ Nho chưa bao giờ có vai trò và được phổ biến như chữ quốc ngữ. Từ thế kỷ 13 người Việt dựa trên chữ Hán để làm ra chữ Nôm nên muốn học chữ Nôm thì phải biết chữ Hán. Vì vậy cả chữ Hán và chữ Nôm đều không thể phổ biến trong dân chúng, do đó ít được sử dụng.

Cuốn sách “Người Việt gọi tôi là Cha Đắc Lộ - Hành trình sáng tạo chữ Quốc ngữ” kể lại một cách vắn tắt hành trình truyền giáo các giáo sĩ phương Tây từ thế kỷ 16 đến Đông Nam Á và Việt Nam (thời đó là Đàng Ngoài và Đàng Trong). Khi truyền đạo, các giáo sĩ cần phải biết ngôn ngữ bản địa, sau đó cần có kinh sách để giảng giải. Vì vậy, để truyền đạo cho người Việt, các giáo sĩ phải học tiếng Việt. Từ nhu cầu đó một số giáo sĩ đã ký âm thẳng tiếng Việt bằng mẫu tự la-tinh, rồi dùng thứ chữ mới ký âm này dạy cho nhau nói tiếng Việt. Sau đó tổ chức biên soạn từ điển và in kinh thánh, giáo lý bằng loại chữ mới này.

Thông qua cuộc đời của Alexandre de Rhodes và hoạt động của những người “bề trên, tu huynh” của ông, từ góc độ lịch sử văn hóa, người đọc thấy được quá trình sáng tạo ra chữ quốc ngữ là công trình của nhiều giáo sĩ phương Tây, trong đó có Alexandre de Rhodes. Bên cạnh đó là sự đóng góp thầm lặng của nhiều người Việt cùng thời. Sự ra đời của các công trình được in ấn bằng “chữ Việt” đầu tiên như Từ điển Việt – Bồ - La, Phép giảng tám ngày đã mang lại cho Alexandre de Rhodes vị trí đặc biệt trong quá trình này.

Có thể nói, tgiữa thế kỷ 17 trở đi, nhờ dễ sử dụng bằng cách ghép chữ thành vần nên loại chữ mới bằng mẫu tự Latin phổ biến hơn trong giới truyền giáo và phục vụ nhà thờ. Chữ quốc ngữ phát triển dựa trên nền tảng tiếng Việt là một ngôn ngữ giàu và đẹp, phong phú, linh hoạt và biểu cảm. Từ nửa sau thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20 với vai trò tiên phong của các nhà văn hóa, trí thức người Việt, cùng với sự xuất hiện nhiều thành tố văn hóa mới: báo chí, các thể loại văn học nghệ thuật, in ấn và xuất bản... chữ quốc ngữ càng có điều kiện phát triển rộng khắp, đồng thời tác động trở lại làm cho “văn viết” và “văn nói” của tiếng Việt ngày càng hoàn thiện.

Từ sau 1945, bằng phong trào “bình dân học vụ” phần lớn dân chúng trước đây “mù chữ” đã biết đọc biết viết. Ngôn ngữ, văn hóa nhiều vùng miền đi vào chữ viết càng làm cho chữ quốc ngữ phong phú và tinh tế, nhiều sắc thái và giàu đẹp hơn. Từ đó chữ quốc ngữ có ý nghĩa thúc đẩy văn hóa phát triển (văn chương, giáo dục, khoa học kỹ thuật...) và hội nhập với thế giới.

***

Năm 2018 tôi có dịp đến thành phố Isfahan - thủ đô của Ba Tư từ năm 1598 đến năm 1722 và là một trong bốn trung tâm kinh tế - văn hóa lớn của Iran. Từ nhiều thế kỷ trước Isfahan được coi là một trong những thành phố đẹp nhất trên thế giới. Hiện nay, Isfahan là thành phố có kiến trúc hiện đại bên cạnh nhiều kiến trúc cổ được bảo tồn rất tốt. Nơi đây có một nghĩa địa lớn, tại đó có phần mộ của Alexandre de Rhodes. Đúng ngày 5.11.2018 - ngày giỗ lần thứ 358 của (5.11.1660) chúng tôi đến viếng và khánh thành bia tri ân tại mộ của Ngài. Giữa nghĩa địa rộng lớn và thoáng đãng như một công viên lớn, hơn 350 năm qua ngôi mộ giản dị của Cha Đắc Lộ nằm đây, đánh dấu bằng một phiến đá lớn có khắc tên Ngài và được chăm sóc chu đáo như tất cả những ngôi mộ xung quanh.

Tại TP. Hồ Chí Minh, từ trước năm 1975 đến nay vẫn có một con đường nhỏ mang tên  Alexandre de Rhodes, con đường rợp bóng cây xanh kế bên công viên trung tâm thành phố. Đối diện bên kia cũng có một con đường nhỏ xinh như vậy mang tên Hàn Thuyên, người được cổ sử ghi nhận là giỏi thơ Nôm và có công với chữ Nôm của Việt Nam. Hành trình chữ viết là một trong những hành trình đi vào văn minh của nhân loại. Nhờ công lao của bao vị tiền nhân, bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ quốc ngữ, đất nước ta đã được tham dự vào một đoạn đường quan trọng của hành trình ấy.

Công trình của TS Phạm Thị Kiều Ly và cuốn sách “Người Việt gọi tôi là Cha Đắc Lộ - Hành trình sáng tạo chữ Quốc ngữ” đã “phục dựng” quá trình hình thành chữ quốc ngữ một cách khoa học trong bối cảnh lịch sử - xã hội cụ thể, qua đó nhìn nhận vai trò của các nhà truyền giáo và minh định sự đóng góp của những người quan trọng nhất. Điều này giúp cho người đọc, nhất là những người trẻ, có thể tiếp cận lịch sử - văn hóa một cách khách quan.

 

TP. Hồ Chí Minh, 24.5.2023

Xin cảm ơn tác giả TS Phạm Thị Kiều Ly và Omega Plus Books đã gửi tặng sách quý mới xuất bản ❤







 

NỖI ÁM ẢNH CỦA QUÁ KHỨ

 Trần Quốc Vượng

 Nước Việt Nam ta hiện là một quốc gia kém phát triển về mọi mặt, vừa lạc hậu, vừa lạc điệu với một thế giới nhìn chung đã và đang phát triển rất nhanh, đặc biệt từ nửa sau thế kỷ 20.

Tạm bỏ qua một bên mọi sự “giải thích”, nào đổ tội cho phong kiến đế quốc, thực dân bành trướng, thiên tai, địch hoạ, chiến tranh, cách mạng, nào viện dẫn sai lầm chủ quan của những người cầm nắm vận mệnh quốc gia mấy chục năm qua, v.v. tình trạng ấy là không bình thường, gây nên một bức xúc tâm lý, một nỗi đau thân thể, một nhức nhối thân xác và tâm linh, buộc KẺ SĨ và NGƯỜI DÂN, vừa gian khổ kiếm sống, vừa suy nghĩ đêm ngày, tìm cách khắc phục và vượt qua tình trạng tủi nhục này…

Có ĐỘC LẬP rồi chăng, nhưng hoạ LỆ THUỘC vẫn luôn luôn mai phục, cả về mô hình chính trị và sự phát triển kinh tế…

Có THỐNG NHẤT rồi chăng, nhưng mầm CHIA RẼ mọc rễ sâu xa, nào Bắc / Nam, nào Cộng sản / không Cộng sản…

Điều chắc chắn, là NHÂN DÂN chưa có HẠNH PHÚC, TỰ DO thực sự.

Với biết bao hệ luỵ của một cuộc chiến kéo dài, buộc ràng tới 3 thế hệ người Việt Nam (và rất nhiều quốc gia liên đới), lạ một điều (mà sao lại là lạ nhỉ?), là từ “người thua” đến “kẻ thắng”, giờ đây, ai ai cũng mang một mặc cảm hoành đoạt (complexe de frustration), nói nôm na là MẤT MÁT. Trước hết là NGƯỜI DÂN THƯỜNG.

Người ra đi hàng triệu, bỏ xác ngoài biển khơi hàng ngàn, vạn, biết bao em gái ta, chị ta, cả mẹ ta nữa… bị kẻ hải tặc khốn kiếp dày vò làm nhục! Chưa nói đến của cải, ai còn sống thì đều cảm thấy mất quê hương!

Người ở lại, hàng chục triệu nông dân bỗng dưng cảm thấy mất đất, không có quyền tự do hành xử trên “mảnh đất ông bà”, trong khuôn viên do chính tay mình tạo dựng; hàng triệu công nhân mất việc, thất nghiệp hay bị kém sử dụng (sous-emploi), sống ngất ngư, lây lất qua ngày…

Trí thức, thì tản mác, bị lãng phí thảm hại, trừ một số rất ít kẻ xu thời (đời nào chẳng có?), người nào cũng cảm thấy mất tự do tư tưởng và sáng tạo.

Một tình trạng như thế, chỉ có lợi cho lũ gian manh. Một cuộc “đổi đời” kỳ cục như thế, mà nếu cứ nhất định muốn gọi nó, muốn gọi đó, là “cách mạng”, thì là một cuộc cách mạng đã mất phương hướng. Phương hướng là cái tiêu ngữ trên mỗi đầu trang giấy, từ sau Tháng Tám 1945: ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC.

Cho nên phải nghĩ lại, phải bình tâm mà nghĩ lại, nói theo thời thượng từ giữa thập kỷ 80, là phải ĐỔI MỚI TƯ DUY.

Tư duy là công việc của mỗi CON NGƯỜI, vì về bản chất, con người là một sinh vật có tư duy, có ý thức và vì có tư duy, có ý thức mà được / phải có quyền tự do lựa chọn mô hình hành động, cho chính mình (tự do cá nhân), cho chính cộng đồng mình (nhà mình, làng mình, nước mình…) và phải / được chịu trách nhiệm về chính sự lựa chọn đó.

Tôi rất thân và rất quí Nguyễn Huy Thiệp, hẳn thế, nhưng chính vì thế mà tôi không thể nào đồng ý với anh khi anh trả lời phỏng vấn báo Libération là “Tôi đã sống như một con thú”. Con thú làm sao mà biết viết, biết in Tướng về hưu, Phẩm tiết…? Lẽ tất nhiên là tôi hiểu cái “ý tại ngôn ngoại” của anh: Cái mặt bằng kinh tế xã hội của một Việt Nam hiện nay trên đó “anh phải sống”, sự ràng buộc của “cơ chế”? v.v.

Tôi nhớ lại, ngày 12-1-1983, trong buổi họp kỷ niệm 40 năm ra đời “Đề cương Văn hoá Việt Nam”, ông Trường Chinh – tác giả chính của cái “Đề cương” đó – đã nói với các “nhà khoa học xã hội” Việt Nam: “Nếu không có một điều kiện tối thiểu về vật chất để sinh sống thì con người có thể trở thành con thú!”. Điều đó chẳng có gì mới lạ, vì bằng kinh nghiệm nghiệm sinh, nhiều nhà trí thức chúng tôi đã nghĩ và nói thế từ lâu; điều mới và lạ, là cho đến tận lúc ấy, một vị lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam mới nói ra như thế! Mà con người, nhất là người trí thức Việt Nam, đâu chỉ đói rét vì miếng cơm manh áo? Đói tự do tư tưởng cũng có thể trở thành con thú! Vì con thú, như con trâu, con bò, dù có no cỏ thì cũng chỉ biết theo đuôi! Theo đuôi con đầu đàn! Bao năm qua, có biết bao con người Việt Nam chỉ biết theo đuổi kẻ cầm quyền, hoặc khốn khổ thay, là chỉ được theo đuôi người lãnh đạo và lại được “khen” là “có ý thức tổ chức, kỷ luật” và vì vậy được vào Đảng, được “đề bạt” làm kẻ “cầm quyền” bậc sơ trung cấp, để, nói cho cùng, cũng chỉ thành kẻ “chấp hành”, “thừa hành”, nhưng có được chút “quyền”: dối trên và nịnh trên, lừa dưới và nạt dưới!

Tôi nhớ lại, khoảng mười năm trước đây, một người học trò và là bạn bè của tôi, trước khi đi Nga làm luận án Phó tiến sĩ sử học, trong buổi “tiệc bia” tiễn biệt thầy trò, bè bạn, đã ngỏ với tôi lời “khuyên” tâm sự: “Nếu như thầy mà cũng “đầu hàng cơ chế” nữa là bọn em mất nhờ đấy!”. Anh ấy ở Nga 4 năm, về nước với bằng xanh Phó tiến sĩ, thẻ đỏ đảng viện và, gia nhập “cơ chế”, trở thành “người lãnh đạo” của tôi hôm nay! Tôi chẳng buồn mà cũng chẳng vui. Tôi chọn lựa cho mình một hướng đi: Gia nhập “Câu lạc bộ những người thích đùa”. Tôi thường nói đùa như người Hà Nội vẫn thường đùa anh ấy:

– Cậu là đảng viên nhưng mà tốt!

Câu nói đùa, mà “nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào” và hơn nữa, với câu nói ấy, có thể bị “quy chụp” là “phản động”.

Tôi có một anh bạn, phải nói là rất thân, học với nhau từ thuở “hàn vi”, lại cũng làm việc dưới một mái trường Đại Học trên ba chục năm trường, cùng “leo thang” rất chậm, từ “tập sự trợ lý” đến full professor, chair-department; anh là con “quan lớn”, em của “nguỵ lớn” nhưng “có đức có tài”, được chọn làm “hàng mẫu không bán” kiểu như ông Bùi Tín vừa làm ồn ào giới truyền thông một dạo – nhưng khác ông ta là cho đến nay anh không gửi “kiến nghị” kiến nghiếc gì, nói năng với TRÊN, với DƯỚI bao giờ cũng “chừng mực”, chẳng “theo đuôi” mà cũng chẳng là “dissident” của chế độ. Anh thường bảo tôi: thì về cơ bản cũng nghĩ như cậu thôi. Nhưng cậu thông cảm, mỗi người một tính một nết, một hoàn cảnh. Cậu “thành phần tốt”, ăn nói táo tợn thì quá lắm người ta chỉ bảo cậu là “bất mãn cá nhân” thôi. Tớ “thành phần xấu”, ăn nói bằng 1/10 cậu thôi cũng đủ bị “quy” là “phản ứng giai cấp” rồi! O.K.! Anh cứ sống kiểu anh, tôi cứ sống kiểu tôi. Chỉ có mỗi một điều thôi, là vì vậy và vì nhiều lý do sâu xa khác nữa – nên nước ta chỉ có những nhà trí thức (intellectuals) chứ không có giới trí thức (intelligentsia).

Vậy thua thiệt thì Dân ráng chịu!

Bi kịch, nỗi bất hạnh của trí thức Việt Nam, của nước Việt Nam là ở đó…

* * *

Báo Đoàn kết của một cộng đồng người Việt Nam bên Pháp đưa tin: Vào cuối năm ngoái (1990), có một ông Ủy viên Bộ chính trị kiêm Bí thư thường trực Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam nhân sang Paris dự Đại hội Đảng Cộng sản Pháp, có tập hợp Việt kiều lại để nói chuyện. Trong khoảng 2 tiếng, ông chỉ “nói” mà không “nghe”, lại còn bảo: “Sống ở nước ngoài, biết gì chuyện trong nước, tuổi 40-50 trở xuống – nghĩa là vào hạng tuổi con cháu ông – biết gì mà góp ý kiến!”. Xem chừng bà con Việt kiều, nhất là anh chị em “trí thức”, bực mình với ông lắm.

Tôi là “trí thức” ở trong nước, ở Hà Nội nữa, nghe những lời lẽ ấy “quen tai” rồi.

Cũng ông ấy, lúc còn làm “Bí thư Thành uỷ” Hà Nội, khi thấy báo Quân đội nhân dân 1987 công bố “Bức thư ngỏ gởi ông Chủ tịch thành phố Hà Nội” của tôi, nói về việc “Phá hoại các di tích lịch sử của Thủ đô” đã cho triệu tôi lên trụ sở Thành uỷ và “thân mật” bảo – Nếu anh là công nhân, anh nói (nôm na, tục tằn) kiểu đó tôi còn hiểu được, đằng này anh là Giáo sư, là trí thức, sao lại nói (nôm na, “toạc móng heo, treo móng giò”) kiểu - Nếu anh nói thế, “tôi” thì “tôi” nghe được, nhưng những “người khác”, họ không nghe được! Từ nay anh nên “thay đổi” cái “giọng nói” của anh đi!

– Đảng bảo: “Trí thức là của Công Nông và cũng là Công Nông”, vậy nếu công nhân – theo ông – nói được như vậy thì trí thức cũng nói được như vậy. Có gì – theo ông – là khác nhau giữa giọng “trí thức” và giọng “công nhân”?

– Ông không khác gì người khác. Nếu theo ông, ông “nghe được” vậy thì người khác cũng phải nghe được. Vậy tôi chả việc gì phải “đổi giọng” cả!

Thực ra, tôi biết thừa cái “giọng tôi” chính ông nghe không được nên ông mới “góp ý” cho tôi, nhưng ông lại cố tình đổ cho là người khác nghe không được, hơn nữa ông lại cố tách “tôi” ra khỏi công nhân, “đề cao” tôi là “trí thức”, để chỉ cốt răn dạy tôi: Với vị thế của anh, anh không được ăn nói với chúng tôi (những nhà lãnh đạo) bằng cái giọng như vậy! Bà xã tôi lúc ấy còn sống và là giáo viên Trường Trung học Trưng Vương nổi danh ở Hà Nội – nghe tin tôi được / bị phải gọi lên Thành uỷ, lấy làm lo lắng lắm, bảo tôi (“giọng” bà ấy bao giờ cũng vậy, con gái nhà “tư sản Hà Nội” mà): Anh lên đấy, liệu mà ăn mà nói! Anh có sao, chỉ khổ vợ con! Chùa Một Cột có bị phá để làm Bảo tàng Lăng Bác, nếu có hại thì hại cả nước, đâu dính gì đến riêng anh mà anh cứ “la làng” lên, một con én chẳng làm nổi mùa xuân, “ăn cái giải gì” mà cứ nói, chỉ khổ vào thân; có cái giấy Úc mời sang kỷ niệm 200 năm nước “nó” đấy, khéo các “bố” ấy lại không cho đi, vợ con Ôi, làm “thằng người Việt Nam”, làm “trí thức Việt Nam” biết bao là “hệ luỵ”.

Tôi đưa chuyện HỌC TRÒ, BÈ BẠN, VỢ CON dàn trải trên mặt giấy đâu phải để “nói xấu” họ, nhất là nói về vợ tôi – nay đã mất, cầu cho linh hồn bà ấy tiêu diêu miền cực lạc – mà trong tâm khảm tôi, bao giờ tôi cũng cảm thấy mình xấu tính hơn bè bạn - vợ con - học trò. Tôi chỉ muốn nói về thân phận trí thức ở cái nước Việt Nam mang cái nhãn hiệu Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa mà thực ra là còn đang rất kém phát triển này: ông Ủy viên Bộ chính trị ấy, kiêm Bí thư Trung ương này, kiêm Bí thư thành phố này… ai chả nghĩ là ông ấy cộng sản hơn ai hết nhưng thực ra thì ứng xử của ông ấy từ Hà Nội đến Paris lại “gia trưởng”, “nho giáo cuối mùa” hơn ai hết!

Khổ vậy đó, Cho nên giáo sư Alexander Woodside, từ góc trời tây bắc của xứ tuyết Canada mới hạ một câu về cách mạng Việt Nam: “The spiritual and cultural milieu from which the vietnamese revolution sprang was both confucian and comunist” (Cái môi trường tâm linh và văn hoá mà từ đấy cách mạng Việt Nam phóng tới là cả Khổng Nho và Cộng sản).

* * *

Ông giáo sư Từ Chi một trong những bạn bè thân thiết của tôi từ một cậu tú ở Huế đi Nam tiến ngay sau ngày 23 tháng 9 và trở thành cộng sản rồi năm 54 trở về học đại học để trở thành một nhà dân tộc học. Ông đi làm chuyên gia ở Tây Phi, thương một người con gái Hà Nội nhà nghèo vì chiến tranh mà lưu lạc mãi sang tận bờ sông Niger. Ông quyết đưa người phụ nữ bất hạnh đó trở về Tổ quốc chỉ bằng cách kết hôn với nhau, dù ông biết trước rằng hành động dấn thân ấy ông phải về nước trước thời hạn. Và cho đến 25 năm sau, ông không bao giờ được ra nước ngoài, dù ông, không có bất cứ một hành vi gì phạm pháp. Cái án được phán quyết không theo “Luật hôn nhân và gia đình” của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ban hành năm 1960, mà là theo đạo lý hủ Nho.

Về nước năm 65 qua ngã Moscow ông dừng chân ở đó 5 ngày. Gặp tôi ở quán cà phê Sính, ông rỉ tai tôi: “Chế độ Xô Viết không thể nào viable” (nguyên văn có nghĩa: không thể “thọ” được). Đấy là lời tiên tri đúng trước 1/4 thế kỷ! Vì sao NƯỚC và ĐẢNG có những người trí thức giỏi đến thế mà bây giờ cả NƯỚC, cả ĐẢNG đều lâm vào tình huống “khủng hoảng toàn diện”?

Từ năm 65, cứ mỗi lần nghe thấy lời khuyến dụ tôi vào Đảng, ông lại bảo tôi: “Tuỳ ông đấy, nhưng… nếu ông có vào thì đừng để người ta đuổi ông ra!”. Ông biết kỷ luật của Đảng ông là “kỷ luật sắt” mà tôi thì ông cũng biết quá rõ tôi là người “tự do”, tính ưa phóng khoáng, là người “bất cơ” (không chịu ràng buộc) theo chữ dùng để đánh giá mình của nhà sử gia họ Tư Mã bên Tàu!

Tôi hỏi ý kiến ông về tính chất Cách mạng Việt Nam. Ông trả lời: Cụ Hồ bảo nước mình là một nước nông nghiệp, dân tộc mình là một dân tộc nông dân. Cứ đấy mà suy, thì cuộc “Cách mạng” bây giờ hẳn vẫn là một cuộc khởi nghĩa nông dân. Khác chăng là trước, khởi nghĩa nông dân do một số nhà nho xuất thân nông dân như Quận He, như Cao Bá Quát cầm đầu, bây giờ là do những người cộng sản cũng xuất thân ở nông thôn và có căn tính nhà nho, như cụ Hồ, như ông Trường Chinh… lãnh đạo. Ông đọc bài ông Nguyễn Khắc Viện rồi chứ, Confucianisme et Marxisme (La Pensée, No 105, Octobre 1962). Ông Viện là cộng sản và là con cụ nghè Nguyễn Khắc Niêm đấy!

Đầu thế kỷ XX, trong xã hội yêu nước vẫn âm ỉ một chủ nghĩa yêu nước xóm làng (village patriotism, chữ của Alexander Woodside). Yêu nước chống Pháp kiểu Nho của cụ Phan Bội Châu thất bại ở 2 thập kỷ đầu của thế kỷ XX. Và dòng trí thức Nho gia tàn lụi. Một số con cháu nhà Nho, một số con cháu nông dân, một số con cháu nhà công thương mới trở thành lớp trí thức Tây học. Một số ấy chấp nhận le fait colonial và trở thành công chức cho Tây, như ông cụ ông Kỹ sư canh nông, như ông cụ tôi (Bác sĩ)… Một số khác, yêu nước hơn, mong áp dụng ở Việt Nam những lý tưởng Mác-Lê thế kỷ XIX.

Cái chủ nghĩa quốc gia của kiểu tư sản mà ông Nguyễn Thái Học, ông Xứ Nhu, kể cả cậu ruột ông đã khởi xướng ở Việt Nam Quốc dân đảng thì đã bị thực dân vùi dập khủng bố tan hoang từ thập kỷ 30. Còn lại cái chủ nghĩa quốc tế của Mác Lê mà Nguyễn Ái Quốc và những nhà cộng sản mang về áp dụng vào một xã hội nông dân châu Á nghèo khổ, khác hẳn cơ địa xã hội tư sản Tây Âu, nơi hình thành chủ nghĩa Marxisme. Người cộng sản Việt Nam có căn tính nông dân – Nho giáo đã gần Dân hơn người tiểu tư sản Tây học ở thành thị. Họ đã vận động và tổ chức được phong trào nông dân và toàn dân đánh Pháp, đuổi Nhật, làm cách mạng tháng Tám thành công. Kháng chiến là sự nối dài của Cách mạng tháng Tám.

Kháng chiến đã thắng lợi. Chủ nghĩa thực dân phương Tây đã bị hoá giải.

* * *

Dưới thời quân chủ – nông dân – nho giáo, ở Viễn Đông, có một ước mơ ĐẠI ĐỒNG. “Thế giới ĐẠI ĐỒNG, thiên hạ vi CÔNG”. Ở đầu thập kỷ 20, trong một bài viết, Nguyễn Ái Quốc cho rằng cái chủ nghĩa ĐẠI ĐỒNG của Khổng Nho ấy rất gần với chủ nghĩa Cộng sản. Alexander Woodside nhận xét: Ông Mao phê phán rất dữ dằn Khổng Nho còn ông Hồ rất nhẹ nhàng với Nho Khổng. Xây “đời sống mới” năm 46, ông Hồ nêu khẩu hiệu của Nho Khổng: CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH CHÍ CÔNG VÔ TƯ. Dạy đạo đức cho cán bộ, ông Hồ lấy câu Nho Tống: “Tiên ưu hậu lạc”. Về giáo dục xã hội, ông cũng dùng câu có sẵn của Khổng Mạnh, đại loại như “Bất hoạn bần nhi hoạn bất quân…” (Không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng…) hay là “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”, v.v. và v.v. Đến di chúc, ông cũng đưa vào một câu trích dẫn của Đỗ Phủ đời Đường: “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”. Thơ chữ Hán của ông, có nhiều câu, y phỏng theo Đường thi…

Nhưng cái mô hình xã hội chủ nghĩa kiểu Stalin hay kiểu Mao (Staline Mao hoá) dù đã ít nhiều Hồ hoá, Việt Nam hoá cũng tỏ ra không thành công trước thực tiễn “bướng bỉnh” của một nước Việt Nam nhỏ bé – tiểu nông.

Người Cộng sản Việt Nam đã lầm khi tưởng rằng dù với cơ cấu kỹ thuật cũ, ít thay đổi, cứ làm đại việc công hữu hoá (quốc hữu hoá, tập thể hoá, hợp tác hoá…) thì vẫn xoá bỏ được áp bức bóc lột, cải tạo xã hội chủ nghĩa thành công. Hoá ra là một công thức đơn giản hơn:

CÔNG HỮU HOÁ + CHUYÊN CHÍNH (VÔ SẢN) = (QUÁ ĐỘ sang) CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Tôi và ông Từ Chi bàn mãi về chuyện này. Sau thời công xã nguyên thuỷ, chế độ áp bức bóc lột đầu tiên nảy sinh ở đất Việt với chế độ “thủ lĩnh địa phương”, lang đạo, phia tạo (tiếng Anh tạm dịch là local chieftains) khi ruộng đất còn gần như y nguyên là “của công” nhưng “dân đen” là tiểu nông tản mạn còn thủ lĩnh giữ quyền “thế tập” theo dòng máu. Dân gian nói giản dị:

Trống làng ai đánh thì thùng

Của chung ai khéo vẫy vùng thành riêng!

Thì giờ đây, ruộng hợp tác, của kho hợp tác, bọn bí thư, chủ nhiệm, kiểm soát đều ở trong một cơ sở Đảng chuyên chính, chúng sẽ “vẫy vùng” thành riêng thôi! Ba năm liền 76-79 tôi đi Định Công Thanh Hoá, khảo cổ (ngày), khảo kim (đêm). Và 3 ngày liền cuối năm 79, tôi thuyết trình trước Tỉnh ủy Thanh Hoá về sự phá sản của mô hình làng Định Công (người ta tuyên bố “Định Công hoá” toàn tỉnh Thanh Hoá, với bài báo tràng giang “Bài học Định Công” của Bí thư Trung ương Tố Hữu). Thính giả cứ bỏ dần trước sự “vắng mặt” của Bí thư, Phó bí thư Tỉnh uỷ (người ta phải “nhìn Trên” để định thế ứng xử). Còn một ông thường vụ phụ trách tuyên huấn kiên trì nghe 3 ngày, để sau này khi Định Công phá sản hoàn toàn, đã khoa trương tuyên bố, chứng tỏ ta đây sáng suốt hơn các nhà lãnh đạo khác:

– “Lúc bấy giờ (79), ai dám nghe Trần Quốc Vượng nói, ngoài tôi?” (ông ấy bây giờ là Bí thư Đảng uỷ Bộ Văn hoá Thông tin).

Năm 82 tôi đi Liên Xô thuyết trình khoa học. Bài viết của tôi bằng tiếng Việt, Dương Tường dịch sang tiếng Anh, Từ Chi dịch sang tiếng Pháp, bà Nona Nguyễn Tài Cẩn dịch sang tiếng Nga. Bà Nona bảo: bài của anh hay lắm, nhưng thuyết trình ở Paris thì hợp hơn, nói với trí thức nước tôi (Liên Xô), họ không hoan nghênh đâu! Mà quả nhiên!

Về nước, tôi briefing cho bạn bè nghe về Liên Xô và nói lén qua hơi men: “Dứt khoát hỏng!” Và đấy là lần duy nhất tôi “được” đi Liên Xô. Đầu năm 83, giáo sư Phạm Huy Thông cho đăng bài của tôi lên trang đầu Tập san Khảo cổ học (1). Đảng uỷ Uỷ ban Khoa học Xã hội viết bản báo cáo dài lên Ban Tuyên huấn Trung ương quy kết tôi 4 tội:

– Chống chủ nghĩa Mác-Lê: vì tôi bảo: Công hữu hoá có thể đẻ ra bóc lột.

– Chống công nghiệp hoá: vì tôi bảo: Nông nghiệp phải / còn là mặt trận sản xuất hàng đầu.

– Chống đấu tranh giai cấp: vì tôi bảo: Nông dân khởi nghĩa – ngay cả ăn cướp – cũng không đánh vào người làng mà chủ yếu đi cướp nơi khác và đánh vào Quan.

– Chống chuyên chính vô sản: vì tôi bảo: Chuyên quyền đẻ ra tham nhũng.

Vụ án “văn tự” này kéo dài 3 năm, không có kết luận. 3 năm tôi được “ngồi nhà”, khỏi đi Tây và nói tiếng Tây! Cuối năm 86, khi Đại hội VI đảng Cộng sản Việt Nam kết luận lại trong nghị quyết là Nông nghiệp là “mặt trận hàng đầu”, Giáo sư Phạm mỉa mai ở trụ sở Uỷ ban Khoa học Xã hội: Thế bây giờ Đảng uỷ đúng hay Trần Quốc Vượng đúng?

Nhưng “nỗi ám ảnh của quá khứ” vẫn không tha người làm Sử như tôi (mà nói theo nhà Phật thì kiếp này còn là “quả” của kiếp trước kia mà). Năm 85, nhân năm “quốc tế người già”, ông Nguyễn Hữu Thọ nhờ người nói tôi viết bài “Truyền thống người già Việt Nam”. Báo Đại đoàn kết của ông không “đoàn kết” nổi bài của tôi, tôi nhờ báo Tổ quốc của ông Nguyễn Xiển đăng dùm. Rồi năm 86 có hội Khoẻ Phù Đổng của Đoàn Thanh niên, ông Bí thư T.N. nhờ tôi viết bài “Phù Đổng khoẻ”. Mùa hè nóng bỏng 86, trước Đại hội VI 5 tháng, ông Bí thư Trung ương Đảng phụ trách tư tưởng H.T. đem hai bài của tôi ra “chửi bới” giữa Hội nghị mở rộng Ban Chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam, đề bạt Nguyễn Khắc Viện, Trần Quốc Vượng, Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng là 4 trí thức chống đối. Ông Giàu, thầy học cũ của tôi, đâm thư kiện. Ông H.T. biên thư trả lời (tôi còn giữ làm “chứng từ thanh toán”) bảo: Tôi không động đến anh, tôi chỉ động đến Trần Quốc Vượng, vì anh ta viết “Các vua Trần nhường ngôi” ám chỉ đòi chúng tôi rút lui, và viết “Thánh Gióng bay lên trời” ám thị chúng tôi đánh giặc xong còn cứ ngồi lại giành quyền vị…! Khốn khổ, vì sao các ông ấy cứ “mỗi lời là một vận vào khó nghe” như vậy? Hay là tại dân gian “nói cạnh” các cụ: Có tật giật mình?

* * *

Xã hội Việt Nam truyền thống cũ có nhiều nét hay, vẻ đẹp nên ở cạnh nước lớn, bị xâm lăng, đô hộ, đè nén hàng ngàn năm vẫn trỗi dậy phục hưng dân tộc, “trở thành chính mình”. Nhưng xã hội quân chủ – nông dân – nho giáo từ sau thế kỷ XV có nhiều “khuyết tật trong cấu trúc” – nói theo các nhà khoa học hôm nay:

Ở trong NHÀ thì có thỏi GIA TRƯỞNG, tuy tâm niệm “con hơn cha là nhà có phúc” mà vẫn không thích “ngựa non háu đá”, “trứng khôn hơn vịt”.

Ở trong LÀNG thì có nạn CƯỜNG HÀO, với tinh thần ngôi thứ, chiếu trên, chiếu dưới, “miếng giữa làng hơn sàng xó bếp”.

Ở trong VÙNG thì có nạn SỨ QUÂN, thủ lĩnh vùng thích “nghênh ngang một cõi”, gặp dịp là sẵn sàng “rạch đôi sơn hà”.

Ở cả NƯỚC thì có nạn QUAN LIÊU, quan tham nhũng, tân quan tân chính sách, luật không bằng lệ, kiện thì cứ kiện nhưng “chờ được vạ má đã sưng”, nên chỉ cứng đầu thì dại, “không ngoan” nhất là “luồn cúi” và trí thức “lớn” thì cũng tự an ủi “gặp thời thế thế thời phải thế”. Vì ngoài thì “bế môn toả cảng”, trong thì “chuyên quyền độc đoán”, cho nên sĩ khí ắt phải bạc nhược.

Thế giới giờ đây thay đổi đã nhiều. Song trong nước mình thì chưa đổi được bao nhiêu. “Nỗi ám ảnh của Quá khứ” vẫn còn đè nặng.

Chỉ còn một cách để “đổi đời” cho DÂN, cho NƯỚC: Đó là xây dựng một chế độ dân chủ, một nhà nước pháp quyền, một nền kinh tế công - nông nghiệp với thị trường tự do, một tư tưởng cởi mở, rộng dung, khoáng đạt, tự do, một nền văn hoá đa dạng, giữ cho được bản sắc tốt đẹp của dân tộc nhưng biết hoà nhập với thế giới, với nhân gian…

Tóm một chữ thì không phải là chữ “ĐẤU” mà là chữ “HOÀ”: HOÀ BÌNH, HOÀ HỢP, HOÀ THUẬN, HOÀ GIẢI…

Chẳng những NHÂN HOÀ mà cả NHIÊN HOÀ (hoà hợp với thiên nhiên, tự nhiên)

“Hoà nhi bất đồng”… mong lắm thay!

 Trích từ sách Trong cõi - GS Trần Quốc Vượng








“MỘT CÁI NHÌN ĐA CHIỀU VÀ NHẤT QUÁN VỀ HUẾ VÀ TRIỀU NGUYỄN”

  

Vài năm gần đây một hiện tượng tích cực xuất hiện và ngày càng phát triển trên thị trường sách, đó là sách nghiên cứu, khảo cứu về lịch sử - văn hóa ngày càng nhiều về số lượng và chủ đề, từ các nhà xuất bản các công ty sách… Những tác giả cả trong và ngoài nước, đủ các lứa tuổi, “hàn lâm” và “không chính thống” đã mang lại nhiều thông tin, tư liệu và nhận thức mới cho độc giả là người nghiên cứu hay người yêu thích tìm hiểu lịch sử - văn hóa.

Trần Đức Anh Sơn hiện diện trong hiện tượng này với một nét riêng!

Là một nhà nghiên cứu thuộc thế hệ lớn lên sau 1975 và trưởng thành trong nghiên cứu khoa học từ sau Đổi mới 1986. Bối cảnh xã hội thời “mở cửa” về kinh tế nhưng chưa thật sự “mở” về học thuật cũng đã giúp cho thế hệ này tiếp nhận “truyền thống nghiên cứu” lịch sử - văn hóa với một tâm thức mới. Có thể nhận thấy điều này ở Trần Đức Anh Sơn. Anh là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu phong phú về đề tài, đa dạng về cách tiếp cận và khá gần gũi với người đọc bởi cách diễn đạt chính xác, khoa học nhưng giản dị và nhiều khi hóm hỉnh.

Huế - Triều Nguyễn một cái nhìn là một tác phẩm như vậy. Cuốn sách gồm 47 bài viết về nhiều lĩnh vực, phân chia thành hai chủ đề Huế - di sản văn hóa (32 bài) và Triều Nguyễn - những vấn đề lịch sử (15 bài). So với lần tái bản thứ ba thì lần này tác giả đã rút bớt 2 bài ở chủ đề Huế - Di sản văn hóa (do đã in trong ấn phẩm Kiểu Huế, tái bản năm 2021), nhưng bổ sung thêm 3 bài cho chủ đề Triều Nguyễn - Những vấn đề lịch sử. Đây là những bài khảo cứu tác giả mới viết trong 3 năm gần đây, công bố nhiều tư liệu lịch sử mới, với nhiều kiến giải thú vị, giúp độc giả hiểu thêm những vấn đề lịch sử của Việt Nam vào thời Nguyễn, vốn đang bị khuất lấp bởi nhiều lý do khác nhau.

Đọc kỹ các bài thì có thể nhận ra cách phân chia thành hai chủ đề như trên cũng chỉ là “tạm chia”, bởi, văn hóa và lịch sử đâu thể nào tách bạch rạch ròi? Có sự kiện, nhân vật hay quá trình lịch sử nào có thể đứng ngoài và không chịu ảnh hưởng từ những yếu tố và truyền thống văn hóa một vùng đất, một quốc gia, một thời đại? Và ngược lại, văn hóa một vùng đất, một quốc gia hay của một thời đại thường được phản ánh và nhận diện qua lịch sử, nhất là ở/qua những trường hợp điển hình.

Sự đa chiều chính là điều thú vị của cuốn sách nói chung và từng bài nói riêng. Có thể nhận thấy sự đa chiều từ nhìn nhận về sinh thái nhân văn, để tìm hiểu, phân tích, đánh giá lịch sử - sự kiện, để liên kết các yếu tố, thành tố văn hóa. Đa chiều để đặt Huế Triều Nguyễn trong dòng chảy văn hóa của đất nước. Nhưng đồng thời lại nhất quán trong tâm thế người nghiên cứu: tâm thế cởi mở và thẳng thắn trình bày suy nghĩ, nhận định, cởi mở tiếp nhận trao đổi với ý kiến đồng thuận hay trái chiều, cởi mở về sự đánh giá tư liệu điền dã hay sử liệu mới phát hiện...

Với riêng tôi thì Trần Đức Anh Sơn là một trong số ít học trò của GS. Trần Quốc Vượng đã thể hiện được trong các công trình của mình những gì mà Thầy Vượng khởi lập và truyền đạt cho nhiều thế hệ học trò. Chúng tôi tạm gọi đó là “Trường phái Trần Quốc Vượng”: phương pháp liên ngành đặt vấn đề/lĩnh vực trong “mạng/net” để có thể phân tích, đánh giá, nhìn nhận vấn đề, sự kiện, nhân vật lịch sử. Vì nếu chỉ căn cứ vào “chính sử” hay “huyền sử ta khó có thể lý giải, hiểu được cặn kẽ những gì đã xảy ra. Nếu không từ góc nhìn văn hóa học (theo nghĩa rộng nhất) thì “lịch sử” còn lại rất ít do tầm nhìn hạn hẹp của người đời sau. Từ đó, việc đặt lại vấn đề với những điều tưởng chừng đã “an bài” trong lịch sử - văn hóa luôn là “thao tác tư duy” cần thiết.

Từ một góc nhìn khác, một chiều kích khác, một phương pháp khác… sẽ cho những nhận thức, hiểu biết mới. Không thể có nhận thức mới nếu thao tác tư duy cũ. Ngoài học thuật, nhiều học trò của Thầy Vượng còn học ở Thầy thái độ dấn thân với xã hội: từ sự hiểu biết sâu sắc lịch sử - văn hóa đến sự mẫn cảm trước những hiện tượng báo động sự bất ổn xã hội… Từ đó đã có tiếng nói cảnh báo, phản biện với cái Tâm của một người trí thức chân chính.

Giữa tôi và Trần Đức Anh Sơn, tuy chênh nhau về tuổi tác, khác nhau về nơi sinh trưởng, nhưng có nhiều điểm chung về nghề nghiệp: cùng học lịch sử, cùng làm công tác bảo tàng, rồi giảng dạy đại học không chỉ về lịch sử, khảo cổ mà còn về văn hóa, du lịch trên nền tảng kiến thức chuyên sâu được đào tạo bài bản và “học hành tử tế” như chúng tôi tự nhận. Và do “số phận” chúng tôi đều phải tạm rời lĩnh vực chuyên môn sâu để đảm nhận công việc liên quan đến văn hóa - xã hội hiện nay. Có lẽ nhờ vậy mà Trần Đức Anh Sơn và tôi, trong nhiều công trình nghiên cứu sau này, tính thực tiễn thể hiện rõ nét hơn, vừa là để giải quyết các vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đặt ra, vừa là “trả lại” cho xã hội những kiến thức khoa học để góp phần nâng cao tri thức cho cộng đồng.

Xin vui mừng và trân trọng giới thiệu với bạn đọc công trình vô cùng thú vị của Trần Đức Anh Sơn: Huế - Triều Nguyễn một cái nhìn - in lần thứ và tôi tin rằng, Trần Đức Anh Sơn sẽ có những công trình tiếp theo về chủ đề này.

                                                                                   Sài Gòn, 20.10.2023

                                                                                 TS. NGUYỄN THỊ HẬU

Phó Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam







@ NGỌN LỬA HOANG DÃ của tác giả LONG ỨNG ĐÀI (ĐÀI LOAN)


Nhiều bạn đọc đã biết đến cuốn sách “Người Trung quốc xấu xí” của Bá Dương – cũng một tác giả từ Đài Loan - phê phán những thói hư tật xấu có tính “truyền thống” trong sinh hoạt, những “cố tật” của người TQ trong đời sống, ứng xử... ở trong nước cũng như ở nước ngoài.
Cuốn sách “Ngọn lửa hoang dã” ra đời sau Người TQ xấu xí, nó tập trung phê phán thái độ của người TQ trước các hiện tượng tiêu cực của xã hội Đài Loan thập niên 1980, nhấn mạnh vai trò của những người trí thức và thị dân nơi đô thị.
Tôi đã đi Đài Loan, đọc cuốn sách này và thấy rằng lúc đó Đài Loan cũng giống như VN bây giờ. Nhưng chỉ ba mươi năm thôi mà Đài Loan đã thay đổi vượt bậc! Những tiếng nói như cuốn sách này chắc chắn góp phần không nhỏ vào cuộc đổi thay ấy!
Một sự thú vị: Từ 1985 tác giả - trong “tự bạch” – đã nói về thân phận của mình khi mọi người phát hiện ra tác giả “không phải là con người mà là một phụ nữ”. Nhưng đến 2016 – hơn 30 năm sau – Đài Loan có nữ Tổng thống đầu tiên là bà Thái Anh Văn, và bà cũng vừa tái đắc cử năm 2020.
—-
Lời giới thiệu ở bìa 4 cuốn sách NGỌN LỬA HOANG DÃ.
Tháng 11.1984, với cảm hứng từ lời nói của một Ủy viên Lập pháp viện Trung Hoa dân quốc, Long Ứng Đài đã viết bài bình luận “Người Trung quốc! Anh không biết tức giận ư?”Trên tờ Trung quốc thời báo, tạo ra một hiện tượng dư luận. Tiếp đó Trung quốc thời báo với một chuyên mục mang tên Dã Hóa tập chuyên đăng những bài bình luận mang tính phê phán của Long Ứng Đài về các vấn đề môi trường, trị an, giáo dục... tạo nên một cuộc lật đổ về nhận thức đối với giới truyền thông Đài Loan thời điểm đó. Tuyển tập Ngọn Lửa Hoang Dã được ra đời từ tập hợp những bài viết trong giai đoạn 1984 – 1985.
Cuốn sách này đã nghiêm khắc phê phán những vấn đề của xã hội Đài Loan trong thập niên 1980. Vào thời điểm đó Đài Loan đang bị ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, trật tự trị an đô thị không được thực thi tốt, nhưng người Đài Loan vẫn tiếp tục bỏ mặc những vấn đề bất hợp lý của xã hội, dùng một tâm thái “nhẫn nại” để sinh tồn. Long Ứng Đài đả cố gắng khích lệ độc giả “tức giận” với những thực tế đó, đưa ra những câu hỏi cũng như sự phẫn nộ của họ đối với trách nhiệm của chính quyền.
Khi được xuất bản thành sách vào năm 1985, nó đã trở thành một hiện tượng xã hội với ảnh hưởng sâu rộng khắp các tầng lớp xã hội, nhất là đối với tầng lớp sinh viên. Học sinh. Cuốn sách không chỉ có ảnh hưởng ở Đài Loan, nó còn có ảnh hưởng sâu rộng đấn xã hội TQ đại lục. Cuốn sách cho họ có thêm một lựa chọn là trở thành trí thức xã hội trong không gian công cộng , trở thành con người với nền tảng về lương tri cá nhân cùng trách nhiệm xã hội , có thể dùng sức mạnh ngôn ngữ để sửa đổi những thói tật của xã hội.
—-
Ps. Đọc cuốn sách này cũng như đọc Người TQ xấu xí, nếu thay tất cả các từ TQ/Đài Loan bằng VN thì rất thích hợp! Khi đọc chắc ai cũng nghĩ sách nói về VN hiện nay. Nhưng ba mươi năm nữa VN có như Đài Loan bây giờ không thì... tôi không dám chắc
Tuy nhiên cuốn này càng làm tôi thấm thía hơn câu nói của tác giả Bách Dương (Người TQ xấu xí):
"Chúng ta không thể trút gánh nặng cứu vớt dân tộc xuống đôi vai của các nhà chức trách, mà mỗi người dân đều phải chia sẻ. Quốc dân loại ba tuyệt nhiên không thể sản sinh ra chính phủ loại một, nhưng chính phủ loại ba lại có sẵn những quốc dân loại một".
* Sách do NXB Hội nhà văn và DOMINOBOOK xuất bản. DOMINOBOOK từng hai lần đạt giải thưởng SÁCH HAY.
Các bạn trẻ rất nên đọc cuốn sách này để biết và tránh những gì làm cho mình thành "không giống ai!”. Và cũng đừng chỉ đổ thừa “do bị chính quyền ngu dân”!



TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...