Hiển thị các bài đăng có nhãn hoà giải. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hoà giải. Hiển thị tất cả bài đăng

HÒA HỢP CHO TƯƠNG LAI

 https://nld.com.vn/hoa-hop-cho-tuong-lai-196260429201158224.htm

1.

“Có những đường biên đã được xóa khỏi bản đồ từ rất lâu, nhưng phải mất nhiều thập niên con người mới học cách xóa chúng ngay trong lòng mình.” Đó là một thực tế sau chiến tranh của nhiều quốc gia. Những cũng từ thực tế ấy Việt Nam đã có bài học hữu ích. Sau năm mươi mốt năm hoà bình thống nhất đất nước, trong một không gian không còn bị chia cắt về lãnh thổ, Việt Nam bắt đầu một hành trình dài hơn, khó khăn hơn, đó là hàn gắn những “vết thương chiến tranh” không chỉ trên mặt đất, trên da thịt con người, mà còn là sự khác biệt trong ký ức cá nhân, trong lịch sử gia đình, trong trải nghiệm chiến tranh ở mỗi vùng miền, và trong cách mỗi người Việt nhìn về nhau, “định danh” nhau.

Nếu chấm dứt chiến tranh là một sự kiện, thì thống nhất và hòa hợp là một tiến trình xã hội, âm thầm nhưng bền bỉ, kéo dài qua nhiều thế hệ. Sau nửa thế kỷ tiến trình ấy không chỉ là câu chuyện nhìn về quá khứ mà đang trở thành một phần quan trọng trong định hướng phát triển quốc gia. Những năm sau 1975, Việt Nam đối diện với một thực tế phức tạp hơn nhiều so với các khẩu hiệu mang tính bao quát: một dân tộc thống nhất về lãnh thổ nhưng ký ức và hậu quả chiến tranh còn quá nặng nề, đã tạo nên những khoảng cách âm thầm nhưng dai dẳng không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn tồn tại trong từng gia đình, từng thế hệ. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều người Việt Nam không chọn cách phủ nhận hay “làm phẳng” những khác biệt đó, mà từng bước thấu hiểu và nhìn nhận một cách khoan hoà hơn. Có thể nói đó là quá trình tự hòa giải về nhận thức và tâm lý.

Từ phía nhà nước, một dấu mốc quan trọng là Nghị quyết 36-NQ/TW (năm 2004) về Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Nghị quyết đã khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là nguồn lực quan trọng của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đồng thời nhấn mạnh xóa bỏ định kiến, gắn kết kiều bào với quê hương, khuyến khích cống hiến, và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người Việt xa xứ. Đây không chỉ là một chính sách đối ngoại mà là đổi mới tư duy, phản ánh cách nhìn nhân văn, phù hợp với thực tiễn hội nhập quốc tế. Từ phân tách sang bao dung, từ khoảng cách sang kết nối, khái niệm “kiều bào” dần được mở rộng thành một cách hiểu mới: người Việt toàn cầu. Một bước tiến về tư duy quốc gia mang lại những chính sách mới.

2.

Từ mục tiêu chính sách của Đảng và nhà nước là xóa bỏ định kiến, tăng cường đoàn kết, gắn kết cộng đồng người Việt ở nước ngoài với quê hương. Từ những giải pháp cụ thể để hỗ trợ và điều kiện thuận lợi để kiều bào về thăm quê hương, đầu tư, kinh doanh, hỗ trợ giữ gìn tiếng Việt và văn hóa dân tộc… chủ trương hòa hợp không chỉ diễn ra bằng những tuyên bố mà bằng những thay đổi cụ thể, tích lũy theo thời gian. Từ sau thời kỳ “Mở cửa” sự kết nối cộng đồng người Việt ở nước ngoài bắt đầu bằng chính sách thị thực, sở hữu nhà ở, đầu tư… ngày càng cởi mở. Nhiều chương trình kết nối, gặp gỡ được tổ chức thường xuyên ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, nhất là vào dịp tết cổ truyền như “Xuân Quê hương”, trại hè thanh niên kiều bào, mạng lưới trí thức Việt toàn cầu… Đó là những hoạt động không chỉ mang tính biểu tượng mà tạo ra các không gian gặp gỡ thực chất, trao đổi thẳng thắn và cùng hướng đến một mục tiêu chung: vì tương lai của đất nước.

Có thể nhận thấy chủ lưu của quá trình kết nối này là dòng chảy kinh tế và tri thức ngày càng mạnh. Kiều hối duy trì ở mức cao trong nhiều năm. Ngày càng có nhiều chuyên gia, doanh nhân, trí thức người Việt ở nước ngoài tham gia vào các dự án kinh tế, nghiên cứu khoa học và giảng dạy tại các trường đại học trong nước. Đây không chỉ là nguồn lực tài chính mà còn là nguồn lực mạng lưới và tri thức mang tính toàn cầu, góp phần kéo gần khoảng cách giữa Việt Nam và thế giới về kinh tế và khoa học kỹ thuật.

Thay đổi trong đời sống xã hội và văn hóa được nhận thấy rõ ràng nhất: đó là ngày càng có nhiều người Việt ở nước ngoài thuộc thế hệ tham gia chiến tranh trở về thăm quê, tìm lại gia đình, tìm lại ký ức một thời đã qua. Người Việt thuộc thế hệ “hậu chiến” ra đi khi còn quá nhỏ hoặc được sinh ra ở nước ngoài, nhiều người trong số họ đã thành danh bằng những công trình khoa học, vị thế chính trị - xã hội hay tác phẩm văn học nghệ thuật… và họ luôn tự hào “là người Việt Nam”. Văn hóa đại chúng (âm nhạc, điện ảnh, ẩm thực…) đã trở thành “cầu nối” giữa các cộng đồng. Hòa hợp không còn là khái niệm chính trị mà đi vào đời sống thường ngày với từng người Việt một cách cụ thể, gần gũi. Tình cảm với quê hương là điểm khởi đầu, nhưng để người Việt toàn cầu thực sự gắn bó, điều cần hơn là một hệ sinh thái đủ cởi mở để họ thấy mình thuộc về đất nước.

Một thực tế là các thế hệ sinh sau chiến tranh và lớn lên trong bối cảnh hội nhập – dù ở trong hay ngoài nước –  dần dần ít bị chi phối hơn bởi những phân tuyến lịch sử cũ. Họ luôn tôn trọng ký ức của thế hệ ông bà, cha mẹ, nhưng trong bối cảnh thế giới mới, trong những quan hệ kinh tế - xã hội mới, họ trở thành lực lượng thực hiện và thúc đẩy hòa hợp một cách tự nhiên, bắt đầu từ tâm thế của thế hệ “toàn cầu hoá”.

Những sự thay đổi ấy diễn ra tuy không rầm rộ nhưng ngày càng bền chặt và đi vào chiều sâu. Đó là sự dịch chuyển trong cách hình dung về cộng đồng dân tộc. Nếu vào thập niên cuối thế kỷ 20 người Việt ở nước ngoài thường được nhìn như những người luôn “hướng về quê hương”, thì ngày nay cách nhìn đó đang dần thay đổi, người Việt ở đâu cũng đang ở trong một Việt Nam mở rộng, không bị giới hạn bởi địa lý. Trong một thế giới vận hành bằng mạng lưới, cộng đồng người Việt toàn cầu là một trong những mạng lưới tự nhiên quan trọng nhất của đất nước. Dựa trên bản sắc văn hoá chung và khát vọng tương lai chung, kết nối Việt Nam với tri thức, công nghệ, thị trường và văn hóa quốc tế. Hòa hợp dân tộc vì thế không chỉ là vấn đề “hoà giải” với tình cảm hay lịch sử như ở giai đoạn hậu chiến, mà còn là một chiến lược phát triển trong “kỷ nguyên mới” của đất nước.

3.

Sau nửa thế kỷ đất nước được nối liền bằng một đường biên thống nhất, thách thức hiện nay lớn hơn là làm sao để có thể nối liền những không gian ký ức, những trải nghiệm khác biệt, những cộng đồng phân tán trên toàn cầu.

Một trong những ngộ nhận lớn nhất về hòa giải là “phải quên đi quá khứ”. Nhưng lịch sử đã cho thấy, không một dân tộc nào có thể quên đi lịch sử của mình. Cũng từ bài học của nhiều quốc gia, “hoà hợp” là không xoá bỏ khác biệt mà chấp nhận rằng có nhiều trải nghiệm khác nhau về cùng một thời kỳ, có nhiều ký ức cùng tồn tại, và những ký ức ấy không nhất thiết phải triệt tiêu nhau. Do đó, cùng với nhiều tiến triển tích cực song hòa hợp dân tộc vẫn trong quá trình thay đổi nhận thức còn nhiều khó khăn.

Trong thực tế, còn đó những khác biệt trong cách nhìn về lịch sử, những khoảng cách giữa các thế hệ và giới hạn trong đối thoại và niềm tin. Nhưng điều đáng ghi nhận là cách xã hội Việt Nam hôm nay đang đối diện với những vấn đề ấy: nhiều người (thuộc các thế hệ khác nhau) đã nhìn nhận sự khác biệt mà không còn cực đoan đẩy thành “đối lập”, họ bình tĩnh và cởi mở hơn trong tìm hiểu đối thoại, thực tế và cụ thể hơn khi đưa ra giải pháp. Bởi vì ngày càng nhiều người Việt Nam hiểu rằng, để có hòa hợp thực sự là cần tạo ra một không gian chung, nơi các khác biệt có thể cùng tồn tại mà không dẫn đến chia rẽ và triệt tiêu nhau. Khi tất cả những khác biệt ấy cùng hiện diện thì mới tạo nên lịch sử Việt Nam một cách khách quan và công bằng. Khách quan và công bằng đối với quá khứ chính là con đường cao tốc đi đến tương lai.

Người Việt Nam không quên lịch sử đau thương nhưng cũng cần hiểu rõ hòa hợp không chỉ là mục tiêu phải đạt tới mà cần trở thành một trạng thái bình thường của đời sống. Đó mới là một nền Hoà Bình thật sự của Việt Nam. Khi ít đi những ranh giới cứng nhắc, nhiều hơn những cuộc trở về, những kết nối và hợp tác, thì thế hệ trẻ lớn lên không còn phải mang “gánh nặng” hậu quả tinh thần của chiến tranh. Khi đó mới là thống nhất bền vững vì không chỉ liền một dải trên bản đồ mà liền mạch trong ý thức hướng đến tương lai chung của mọi người Việt nam.  

Năm mươi năm là một khoảng thời gian đủ dài để nhìn lại, nhưng đến khi nào đủ để “khép lại” mọi vết cắt của lịch sử? Đó là khi người Việt, dù ở lứa tuổi nào không còn cảm thấy mình đứng ở “một phía” bên đường ranh vô hình do chiến tranh tạo ra, khi người Việt ở trong hay ngoài nước không còn cảm thấy mình “ở ngoài”, mà là đang “ở trong” một Việt Nam rộng lớn và nhân văn,  lúc đó non sông mới thực sự liền một dải, không chỉ trên không gian địa lý mà từ ý thức dân tộc. Bởi vì tất cả chúng ta đang đứng trong cùng một câu chuyện – câu chuyện của một dân tộc đã anh dũng đi qua chiến tranh và đang học cách sống cùng hòa bình, bắt đầu từ sự hoà hợp dân tộc. Và chỉ như vậy giá trị của chiến thắng, của thống nhất mới thực sự trở thành động lực phát triển để đất nước ta “sánh vai cùng các cường quốc năm châu”.

TP. Hồ Chí Minh ngày 21.4.2026





Báo NGƯỜI LAO ĐỘNG 30.4.2026


"Lịch sử cần mang ‘khuôn mặt’ con người"

 Nhân dịp 51 năm đất nước liền một dải, cùng trò chuyện với tiến sĩ khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu để trả lời cho câu hỏi: Làm sao để lịch sử có thể hiện diện trong đời sống của người trẻ thay vì chỉ lướt qua như ‘hồi ức mùa vụ’?

Mỗi dịp lễ 30/04, 02/09, những câu chuyện lịch sử thường được nhắc lại dày đặc trên truyền thông, mạng xã hội và trong các sản phẩm văn hóa, với nhiều cách kể và góc nhìn khác nhau. Nhờ đó, lịch sử trở nên sống động và dễ tiếp cận hơn, đặc biệt với người trẻ.

Ở góc nhìn rộng hơn, hiện tượng này cũng xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới. Theo tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu, việc lịch sử được “kích hoạt” mạnh mẽ vào các dịp kỷ niệm là xu hướng phổ biến trong bối cảnh truyền thông, công nghiệp văn hóa phát triển và trở thành cơ hội để công chúng hiểu lịch sử sâu sắc hơn.

Ký ức lịch sử không mất đi nhưng được gợi nhắc và hiện diện rõ nét vào những dịp như vậy. Đây là cơ hội để công chúng nhớ đến các sự kiện, từ đó quan tâm tìm hiểu và sẽ hiểu lịch sử sâu sắc hơn, Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu.

Vì vậy, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để kể lại lịch sử hấp dẫn hơn và là làm sao để nó có thể hiện diện bền vững trong đời sống của công chúng, bám rễ vào từng ngóc ngách xã hội.


Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 1
Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu


Lịch sử cần mang ‘khuôn mặt’ con người


Lịch sử hiếm khi “ở lại” trong ký ức tập thể nếu chỉ tồn tại như chuỗi niên biểu hay những mốc sự kiện được đóng khung trong sách giáo khoa. Các nghiên cứu về ký ức văn hoá cho thấy con người không ghi nhớ quá khứ như một hệ thống dữ kiện mà như một tập hợp những câu chuyện có nhân vật, cảm xúc và xung đột. Nhà xã hội học Maurice Halbwachs từ đầu thế kỷ XX đã chỉ ra rằng ký ức luôn mang tính tập thể và được kiến tạo thông qua những khuôn khổ xã hội (Les cadres sociaux de la mémoire, 1925). Nói cách khác, chúng ta nhớ không phải vì sự kiện đã qua mà vì nó được kể lại theo cách khiến cộng đồng có thể đồng cảm và nhận diện chính mình trong đó.

Lịch sử càng mang gương mặt, câu chuyện cụ thể thì càng hấp dẫn, Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu.

Càng lùi xa những sự kiện lịch sử thì người ta càng có cơ hội nhìn lại sự kiện đó bằng “con tim” chứ không chỉ bằng “khối óc”, tức là nhìn lại nó bằng trải nghiệm cá nhân chứ không bằng cách nhìn của đám đông vào thời điểm đó. Vì thế, lịch sử chỉ thực sự sống khi nó mang gương mặt con người. Đó có thể là sự chia ly với quê hương, với gia đình để “di cư” hay “tập kết” hồi năm 1954, là lá thư người con viết vội trước giờ ra trận. Là hình ảnh người mẹ đứng lặng nơi sân ga khi chuyến tàu chở những người lính dần khuất bóng. Là những lời hẹn chưa kịp thực hiện, là khi tình yêu nhỏ nhường chỗ cho tình yêu lớn hơn. Những điều tưởng như rất nhỏ ấy lại có sức bền hơn cả những bản tường thuật dài dòng về chiến thắng hay thất bại. Bởi vì, chiến tranh không chỉ là những con số lạnh lùng trên giấy mà là những con người cụ thể có cảm xúc có tình yêu, có cuộc sống bình thường như chúng ta hiện nay.


Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 2


Như nhà sử học như E. P. Thompson lập luận rằng chính đời sống thường nhật mới là nơi lịch sử thực sự diễn ra, và việc khôi phục tiếng nói của những cá nhân này không chỉ làm đầy khoảng trống tư liệu mà còn tái cấu trúc cách chúng ta hiểu về quá khứ.


Lịch sử ở ngay cạnh bên


Nhìn theo cách đó, lịch sử gần hơn ta nghĩ. Đó chính là những câu chuyện quen thuộc được kể lại trong các bữa cơm, những tấm hình gia đình trong album hay trong ký ức của ông bà về một thời đã qua. Đó là những con đường, những công trình, di tích mà ta đi qua mỗi ngày.

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng con người thường gắn ký ức với những địa điểm cụ thể. Nhà sử học Pierre Nora gọi đó là những “lieux de mémoire” (không gian ký ức), tức những điểm neo của ký ức tập thể. Thuật ngữ này đề cập đến cả những hình thức hữu hình như tượng đài, bảo tàng, nghĩa trang lẫn những yếu tố vô hình như ký ức, cảm xúc... Không gian ký ức không chỉ là dấu ấn sự kiện quan trọng, mà còn phản ánh trong cuộc sống đời thường con người đã sống và kiến tạo văn hóa như thế nào?

Lịch sử đến từ gia đình của mình, từ chính nơi mình sống, Tiến sĩ Khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu.


Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 3


Mỗi công trình đều là kết quả của nhiều lựa chọn và phản ảnh dấu vết thời gian trong một giai đoạn cụ thể. Vậy, lịch sử nên được tìm hiểu bằng các câu hỏi hơn là đọc câu trả lời có sẵn. Vì sao con đường này có tên này? Điều gì đã diễn ra trong một khu chợ vô danh trước đây? Và lịch sử sẽ trả lời qua những thứ tưởng như lặng lẽ, từ những vết nứt trên bức tường trong xóm, con hẻm uốn lượn, lát gạch nơi chung cư cũ đã nằm đó trăm năm... nếu chúng ta biết đặt câu hỏi cho những gì quá khứ để lại.

Chính vì thế, những thứ ít được nhìn dưới góc độ lịch sử và dễ bị bỏ qua lại chính là nơi lịch sử đã âm thầm tồn tại như một lớp trầm tích của đời sống xã hội. Nó không cần ồn ào để được chú ý cũng không áp đặt để được ghi nhớ mà đi vào nhận thức của công chúng thông qua những chi tiết thân quen. Bởi vì, lịch sử được làm nên từ những con người cụ thể, từ những việc làm bình dị.


Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 4


Khi tiếp cận lịch sử từ những trải nghiệm gần gũi như vậy, ta không còn đứng ngoài để quan sát nó như một đối tượng xa lạ. Ta bắt đầu nhận ra mình đang ở trong chính dòng chảy ấy. Sự kết nối này không đòi hỏi phương thức phức tạp, chỉ cần chúng ta bước chậm lại, quan sát kỹ hơn và lắng nghe những câu chuyện tưởng như đã quá quen thuộc.


Để lịch sử rời khỏi lớp vỏ hàn lâm, khép kín


Tuy nhiên, “kể lại” chưa phải là đích đến. Như tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu từng nhấn mạnh, điều quan trọng không nằm ở hình thức mới mẻ đến đâu mà là ở việc câu chuyện đó có khiến người xem dừng lại để “tự vấn” hay không. Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực sử học chỉ ra rằng việc đặt ra những câu hỏi mang tính truy vấn: Vì sao một sự kiện xảy ra, nó diễn ra trong bối cảnh nào, được nhìn từ những góc độ khác nhau ra sao và có mối liên hệ thế nào với hiện tại... chính là chìa khóa để biến việc “biết” thành “hiểu”. Khi người xem bắt đầu tự hỏi, họ không còn đứng ngoài câu chuyện nữa mà đã bước vào trong đó.

Trong bối cảnh công nghệ khiến mọi thứ trôi qua nhanh như một cú lướt tay, lịch sử nếu chỉ xuất hiện như những thông tin rời rạc, những sự kiện tách khỏi bối cảnh của nó thì rất dễ bị hiểu sai hoặc quên lãng. Có lẽ vì thế, người trẻ không còn tiếp cận lịch sử theo cách cũ, họ thích tiếp cận lịch sử bằng những cách thức linh hoạt hơn, gần với nhịp sống của mình hơn. Một video ngắn vài chục giây, một tập podcast kể lại một lát cắt nhỏ, hay một dự án cá nhân ghi chép về ký ức đô thị… tất cả đều là những cách để lịch sử được nói lại bằng giọng điệu của hiện tại. Khi đi qua những câu chuyện đời thường và góc nhìn cá nhân, lịch sử không còn là điều xa xôi nhưng trở thành thứ có thể chạm vào, có thể hiểu theo cách riêng.

Hinh anh Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh 5

Những tác phẩm văn học - nghệ thuật về chiến tranh, thay vì chỉ kể lại một trận đánh, một sự kiện bi tráng theo tuyến tính, nếu đi vào những lựa chọn rất cụ thể, những giằng xé, mất mát và khoảnh khắc lặng im của từng nhân vật, thì ở đó họ không chỉ đại diện cho một tập thể mà hiện lên với trải nghiệm rất riêng. Từ đó, câu chuyện mở ra hàng loạt câu hỏi cho người đọc, người xem, thay vì chấp nhận một góc nhìn duy nhất. Chính những điểm chạm cảm xúc và khoảng trống để suy tư này khiến việc tiếp nhận lịch sử không dừng lại mà trở thành ký ức nhân văn của cộng đồng. Đồng thời lịch sử trở thành một nhận thức mới vượt qua những điều đã biết.

Nếu lịch sử chỉ dùng những phương tiện kỹ thuật mới để kể cho nhanh, xem cho biết, thì cũng sẽ nhanh chóng bị thay thế bởi những nội dung mới hơn cách trình bày hấp dẫn hơn.

Vì vậy, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu cho biết mọi nỗ lực làm mới cách kể lại lịch sử không thể tách rời nền tảng cốt lõi của lịch sử là sự tôn trọng sự thật và học được điều gì từ quá khứ? Những câu chuyện giàu cảm xúc hay góc nhìn cá nhân chỉ thực sự có ý nghĩa khi được xây dựng trên dữ kiện đã được kiểm chứng. Bởi một khi ranh giới giữa sáng tạo và hư cấu bị xóa nhòa thì lịch sử rất dễ bị hiểu sai hoặc bị giản lược theo cảm tính hay định kiến. Vì vậy, vấn đề là tìm được cách thể hiện sao cho vừa tạo ra “cảm xúc lịch sử” chạm đến người xem, vừa giữ được giá trị khoa học vì mang lại nhận thức và bài học hữu ích từ quá khứ.


Nội dung: Cécile Uyên Phương, Lenna Huỳnh

Ảnh: Cécile Uyên Phương

Dạy sử thời hậu chiến: làm thế nào để trưởng thành từ bài học lịch sử?

  Góc Nhìn Phát Triển | 04/11/2013 Nghiêm Hoa

http://dienngon.vn/Blog/Article/day-su-thoi-hau-chien-lam-the-nao-de-truong-thanh-tu-bai-hoc-lich-su

Chiến tranh, xung đột vũ trang và bạo lực là hoàn cảnh làm nảy sinh những vi phạm nhân quyền trắng trợn và tràn lan nhất. Di sản của một cuộc chiến cần được nhìn nhận như thế nào để đau thương không lặp lại và những vi phạm nhân quyền ở quy mô lớn như vậy không tái diễn? Với tư cách là một môn khoa học xã hội nhân văn, việc viết sách giáo khoa sử và dạy sử ở một xã hội hậu chiến cần được cân nhắc như thế nào từ góc độ nhân quyền?

“Việc dạy sử cần hướng đến thúc đẩy tư duy phê phán, học hỏi và tranh luận dựa trên lý tính, nhấn mạnh tính phức hợp của lịch sử, việc dạy sử cần làm nảy sinh cách tiếp cận mang tính so sánh và đa diện. Việc dạy sử không nên đặt ra mục đích đắp bồi chủ nghĩa yêu nước, tô đậm bản sắc dân tộc hay gò khuôn cho lớp trẻ, dù là theo lý tưởng chính thống hay một tôn giáo đang chiếm ưu thế”.

Đó là phát biểu của bà Farida Shaheed, Báo cáo viên Đặc biệt về các quyền con người trong lĩnh vực văn hóa trước Đại hội đồng Liên Hợp quốc về việc viết sách giáo khoa môn sử và dạy sử ở những xã hội thời kỳ hậu xung đột và hậu chiến. Nhân dịp bà Shaheed sẽ sang thăm chính thức Việt Nam theo lời mời của Nhà nước từ ngày 18 đến 29 tháng 11 năm 2013, bài viết này thảo luận một số vấn đề xung quanh tuyên bố trên đây.

Làm gì với vết thương hậu xung đột?

Điều gì sẽ xảy ra với con người cá nhân trong một cuộc xung đột? Cuộc xung đột, ở quy mô nhỏ, có thể là mối mâu thuẫn cá nhân với một người khác. Ở quy mô lớn, xung đột có thể là mâu thuẫn giữa hai hoặc nhiều tập hợp xã hội, hai tôn giáo, hai quốc gia. Dạng thấp nhất của một cuộc xung đột có thể là sự không dung hòa giữa hai cách suy nghĩ hoặc hành xử khác nhau. Dạng xung đột cao nhất với mức độ bạo lực cao nhất là chiến tranh. Ở bất kỳ cấp độ và quy mô nào, hậu quả trực tiếp của xung đột bạo lực với cá nhân hay với một nhóm, dù ở bên nào, là sự tổn thương mất mát.

Câu hỏi đặt ra với những thế hệ bước ra khỏi cuộc chiến là, từ những nỗi đau thương của mình, họ muốn để lại thông điệp gì cho thế hệ tiếp theo. Cách thức đối diện với vết thương hậu xung đột sẽ đè nặng và phá hủy nhân cách của một cá nhân hoặc một dân tộc, hay sẽ giúp một họ đứng lên mạnh mẽ như phượng hoàng bay lên từ tro tàn? Quan trọng hơn, phượng hoàng ấy sẽ khiến xung quanh kinh hoàng hay thán phục, sẽ giúp viết nên một trang chỉ lặp lại và kéo dài thêm nỗi đau, hay sẽ tiến bộ và nhân văn hơn? Người Đức mất đến hai lần thua cuộc đại chiến thế giới để tự học và khẳng định tư thế một nước lớn với những giá trị vững vàng. Người Nhật, từ bên thua cuộc trong Thế chiến thứ Hai, đã viết cho mình một chương lịch sử mới khiến thế giới kính nể.

Cách thức một cá nhân hay một dân tộc tự nhận thức về mình và nhận thức về thế giới xung quanh khi họ bước ra khỏi cuộc xung đột mang tính bạo lực, dù ở tư cách bên thắng cuộc hay bên thua cuộc, sẽ định hình vận mệnh tiếp theo của cá nhân hay dân tộc đó.

Trách nhiệm lịch sử của thế hệ sau là truyền bá sự thù địch hay xây đắp hòa bình?

Từ một trải nghiệm mất mát có thể sinh ra nhiều tâm lý khác nhau. Sự thù hận là một hệ quả mang tính bản năng của mất mát. Sự mất mát và tâm lý hơn thua chính là động lực nuôi dưỡng những mối thù được truyền kiếp trong lịch sử của một dòng tộc, một tôn giáo, một nhóm người hay một dân tộc. Điều đó chẳng khác gì việc giữ lại một hạt giống bạo lực chỉ chờ có dịp sẽ nảy mầm sinh sôi. Chỉ khi nào chúng ta không còn chất lên vai thế hệ sau gánh nặng thù địch kết quả từ một cuộc chiến, chúng ta mới có thể đoạn tuyệt khỏi thời kỳ tăm tối của lịch sử loài người mà kẻ thua trận và cả con cháu của họ sẽ phải làm nô lệ.

Thế hệ sau, dù thừa hưởng di sản là nỗi đau của một cuộc chiến, không cần và không đáng phải mang trên lưng mình ý thức cừu địch và nhiệm vụ trả thù. Romeo và Juliet không cần và không đáng phải đeo một mối thù truyền kiếp giữa hai dòng họ mà họ vốn chẳng trực tiếp liên quan. Tuổi trẻ và trường học là mảnh đất màu mỡ để gieo nhiều loại hạt giống khác nhau. Vì vậy cần chọn hạt giống của tư duy khoa học, lòng vị tha và tình bác ái thay vì hạt giống thù hận, chia rẽ và bạo lực.  Sự thù hận không chỉ nảy sinh từ vết thương bạo lực của tất cả các bên xung đột. Tâm lý vẻ vang với chiến thắng cũng có thể làm nảy sinh thù hận.

Trong một cuộc chiến, người tham chiến cần được coi là chiến binh chuyên nghiệp mà vinh quang là của cả người thắng cuộc lẫn người ngã xuống. Bên thắng cuộc được hưởng vinh quang, nhưng vinh quang ấy không thể thiếu vẻ đẹp mã thượng thể hiện lòng tôn trọng với đối thủ thua cuộc. Bên thua cuộc cũng có vinh quang của họ bởi cái giá xương máu họ đã phải trả cho một cuộc chiến. Có nghĩa là khi cuộc chiến kết thúc, người ngã xuống thương vong hoặc bên thua cuộc cần được đối xử như những con người với đầy đủ phẩm giá của họ.

Không phải ngẫu nhiên mà ngày nay nhân loại công nhận đây là một nguyên tắc nền tảng của Luật Chiến tranh – hay các Công ước Geneva trong Luật Nhân đạo quốc tế. Nguyên tắc này giảm thiểu sự tàn bạo trong một hoàn cảnh tàn bạo nhất, và là một nỗ lực để không gieo những hạt mầm bạo lực. Việc dạy và học sử ở nhà trường cũng cần tôn trọng và thực hành nguyên tắc nhân bản này.

Môn sử cần giúp nhận thức trưởng thành cả về lý tính và nhân tính

Cả tâm lý thù hận do mất mát và tâm lý vẻ vang với chiến thắng đều che mờ khả năng lý tính để nhận thức sự việc một cách khách quan. Ngược lại, vận dụng lý tính và thúc đẩy việc nhận thức sự việc một cách khách quan, dựa trên các bằng chứng khoa học và việc soi sáng những bằng chứng ấy bằng tư duy độc lập và biện chứng cho phép chúng ta tiến gần hơn đến thực tế. Những diễn biến trong lịch sử và đặc biệt là trong một cuộc xung đột là vô cùng phức tạp bởi nó liên quan đến nhiều bên khác nhau, nhiều luồng tư tưởng, nhiều lợi ích khác nhau, nhiều mối quan hệ quyền lực và cả những ý đồ chính trị khác nhau.

Mỗi chứng nhân của lịch sử có thể mô tả sự kiện họ đã liên đới theo cách nhìn khác nhau, xuất phát từ vai trò, quan điểm và ý thức hệ của họ, từ đó tạo ra một phiên bản lịch sử của họ. Bởi thế không có một phiên bản mô tả lịch sử nào có thể coi là trọn vẹn và duy nhất. Cũng như không có sự thực nào là hoàn hảo do nhận thức của con người là giới hạn, và do bản chất phức tạp của cả thực tại khách quan lẫn quan điểm và phẩm chất của con người.

Bởi thế, bản thân những mô tả về lịch sử cũng đa dạng, mà chúng ta chỉ có thể biết về một sự kiện một cách bao quát hơn bằng cách tập hợp nhiều góc nhìn, nhiều phiên bản, nhiều bằng chứng. Phủ nhận một góc nhìn khác cũng chính là phủ nhận một cơ hội tiến gần hơn đến sự thật. Chính vì thế, thúc đẩy những tranh luận dựa trên bằng chứng khoa học chứ không phải bản năng trả thù, chấp nhận tính phức hợp và đa nguyên của lịch sử chứ không phải những thông tin một chiều nặng tính tuyên truyền sẽ giúp chúng ta tiến gần hơn đến tri thức.

Môn sử trong nhà trường trước hết cần đóng vai trò là một môn khoa học giúp người học phát triển về khả năng tư duy để nhận thức về bản thân và thế giới, từ đó lựa chọn số mệnh của mình một cách ngôn khoan hơn. Môn học ấy cũng cần bồi đắp tinh thần nhân văn và sự khoan dung để giúp thế hệ sau xung đột biết cách tránh được xung đột và mất mát, thay vì biến họ thành những hạt giống mới của bạo lực, thành phương tiện truyền đạt hoặc công cụ  xương máu cho các chủ nghĩa hoặc các ý thức hệ.

Với tư cách là một khoa học nhân văn, việc dạy và học môn sử ở xã hội hậu xung đột có vai trò phá vỡ vòng xoáy bạo lực để tránh sự lặp lại những vi phạm nhân quyền tràn lan trong chiến tranh: Ký ức và trải nghiệm được ghi nhận và truyền bá không phải là những thông điệp bạo lực, mà phải tạo điều kiện cho sự nhận diện bạo lực và thức tỉnh khỏi bạo lực.  Những bài học lịch sử không nên truyền đạt sự thù hận địch – ta, bởi nó cần sự khách quan từ việc công nhận tính đa diện và đa nguyên của một cuộc xung đột.

Nhìn lại một cuộc chiến có những trận đánh được sắp đặt như thế nào là câu hỏi của khoa học quân sự. Những quan hệ quyền lực diễn biến ra sao trong xung đột như thế nào là câu hỏi của khoa học chính trị. Truyền đạt vẻ đẹp của sự hy sinh, lòng trung thành, tình yêu nước hay ghi tạc bản sắc dân tộc là thông điệp của thi ca và nghệ thuật. Còn lịch sử, như một ngành khoa học và người dạy sử như một người hướng dẫn phát triển tư duy cần làm nhiệm vụ khai sáng để giúp người học nhận thức rõ ràng hơn về thế giới trong quá khứ, và hướng đến một tương lai chung sống hòa bình.

Bài này mình copy về FB lâu rồi, link bây giờ cũ không truy cập được.



TINH THẦN CÙNG THẮNG


Năm 2019, trong chuyến công tác tại Campuchia, tôi đã đến thăm Quảng trường Cùng Thắng (Win – Win) tại thủ đô Phnompenh, khánh thành vào tháng 12 – 2018 nhân kỷ niệm 20 năm kết thúc chiến tranh và thực hiện thành công chính sách Cùng thắng của nhà nước Campuchia (từ năm 1998).

Trung tâm quảng trường là tượng đài thanh thoát cao vút, các hình tượng điêu khắc ở đây phản ánh những giai đoạn lịch sử của đất nước Campuchia theo phong cách nghệ thuật thời kỳ Angkor. Những nhóm tượng khác rải rác khắp quảng trường theo phong cách tả thực thể hiện tinh thần hướng đến hòa bình của một đất nước đã chấm dứt nội chiến được 20 năm. Từ tượng đài này lan tỏa một thông điệp đầy tính nhân văn: Quá khứ không bị quên lãng, nhưng được nhắc nhớ sao cho vết thương được hàn gắn, tương lai tốt đẹp hơn chứ không phải để lòng người mãi đau đớn và chia cắt.

Chính sách Cùng thắng của Campuchia tôi cũng vừa được nghe lại tại lễ khai mạc Sea Games 32 tối 5-5. Lễ khai mạc thực sự mang lại cho tôi nhiều bất ngờ. Bất ngờ từ cảnh quan kiến trúc và cơ sở vật chất của sân vận động chính ở thủ đô Phnom Pênh đến những phương tiện kỹ thuật và công nghệ hiện đại sử dụng trong buổi lễ. Bất ngờ từ nội dung kịch bản đậm nét truyền thống, giàu cảm xúc mà vẫn tươi sáng sắc màu của tương lai, quy mô buổi lễ hoành tráng …

Đặc biệt, chính sách Cùng thắng của chính phủ Campuchia đã được nhắc lại trong buổi lễ như một trong những điều kiện xuyên suốt và sức mạnh tinh thần quan trọng nhất dẫn đến sự ổn định và phát triển của quốc gia này trong mấy chục năm qua.

Hòa bình là giá trị sống cơ bản đầu tiên, là điều kiện để các giá trị sống khác hình thành và phát triển. Một cách hiểu đơn giản và phổ biến, “Hòa bình là tình trạng không có chiến tranh”. Có nghĩa là chiến tranh để lại hậu quả trái ngược với hòa bình: những tội ác khủng khiếp như diệt chủng, những thành tựu văn minh của loài người bị tàn phá... Chiến tranh còn để lại hậu quả lâu dài và không dễ nhận thức, đó là hủy diệt niềm tin, xóa bỏ lòng trắc ẩn và khoan dung giữa con người, làm đảo lộn các giá trị sống của nhân loại nói chung và từng quốc gia nói riêng. Từ lịch sử đau thương của mình, Việt Nam cũng là đất nước hiểu rõ về chiến tranh và luôn có ước vọng bòa bình.

Nếu coi hòa bình là mục đích cao cả nhất, là ước mơ và quyền lợi của mỗi người, thì khi tiếng súng đã chấm dứt, hòa bình chính là sự quý trọng và bình đẳng về mọi mặt giữa những người cùng trong một nước. Sau chiến tranh, nếu chỉ một mình phát triển thôi chưa đủ, con đường đi tới luôn cần sự đi cùng của mọi thành phần, trong và ngoài nước. Sự hòa hợp, hòa hiếu, hợp tác trong nước và ngoài nước sẽ mang lại kết quả lớn. Chỉ có nền hòa bình như thế mới mang lại an lạc cho nhân dân, mang lại sức mạnh cho đất nước phát triển bằng người. Campuchia đã nhận rõ điều đó nên mới sớm đặt ra chính sách Cùng thắng.

Hòa bình cũng là tinh thần chủ đạo của Sea Games 32 cũng như các Sea Games khác, đều mong mỏi hướng đến một Đông Nam Á đoàn kết và cùng phát triển. Thể thao giúp con người cố gắng và rèn luyện vượt qua những giới hạn của bản thân, nhằm đạt được mục đích nhất định. Chiến thắng bản thân là chiến thắng quan trọng, song tinh thần Cùng thắng sẽ mang lại thành công tốt đẹp và tình hữu nghị cho những cuộc thi đấu thể thao. Chính tình thần Cùng thắng cũng sẽ mang lại hòa bình, hòa hợp, thịnh vượng lâu dài cho ĐNA nói chung và từng quốc gia nói riêng.


Báo Tuổi trẻ hôm nay, 7/5/23




 

Sài Gòn 6.5.2023

 

 

 

NHỮNG NGÀY THÁNG TƯ

 https://nguoidothi.net.vn/nhung-ngay-thang-tu-3241.html


 Nguyễn Thị Hậu

 

1. Ngày 30 tháng 4, chiến tranh chấm dứt đồng thời cũng là ngày dập tắt tia hy vọng mong manh của bao nhiêu gia đình miền Bắc về sự trở về của chồng, con em mình… Từ ngày này, chiến tranh chấm dứt nhưng bao nhiêu gia đình miền Nam lại phải chia ly vì người đi “học tập”, người vượt biên, người đi kinh tế mới… Từ ngày này, những gia đình có người thân trở về sau cuộc chiến có khi lại bắt đầu một “cuộc chiến” khác. Trong cùng một nhà có bên này bên kia, có vợ sau chồng khác…

Chính vì vậy ký ức những ngày này luôn luôn quay về, mỗi năm như không hề nhạt bớt với thế hệ tham chiến bên này lẫn bên kia. Sự mất mát vì chiến tranh và sau cuộc chiến không từ một ai. Cuộc sống trôi qua và cho đến nay trong nhiều người vẫn chỉ tồn tại “một bên của quá khứ”, nỗi đau (hình như) ngày càng di căn. Bên này bên kia có gia đình nào không không chia ly, kiểu này hay kiểu khác? Bên nào không có những di chứng kéo dài chắc chắn không chỉ một, hai thế hệ?

 Nhưng thử nhìn những gì tràn ngập trên mạng xã hội những ngày này mà xem, có nỗi đau chỉ cần một hai câu từ cũng đủ làm nhói lòng và buộc người ta phải nghĩ suy cặn kẽ. Nhưng cũng có câu chữ… chỉ thấy người viết “ăn theo” những nỗi đau những sự mất mát. Có một câu nói rất hay “ngoài đau bụng mọi cái đau khác chỉ là sự tưởng tượng. Nhưng ai không cảm nhận được những nỗi đau ấy thì đó không phải là người tử tế”. Vâng, khi không thực sự cảm nhận nỗi đau của người trong cuộc thì xin đừng độc ác mà khoét sâu hơn vết thương ngày cũ.


2. “Không một điều gì, không một ai bị lãng quên”. Nhưng vấn đề là NHỚ như thế nào… Những bà mẹ đau nỗi đau mất đi những đứa con, có phân biệt nỗi nhớ đứa con bên này bên kia? Những người đã yên nghỉ ở những nghĩa trang bạt ngàn mộ trắng, trên cao xanh họ có còn phân biệt bên thắng hay thua?  “Năm tháng trôi qua, các cuộc chiến tranh sẽ thôi gào thét… chỉ còn tấm lòng em nhẫn nại dịu dàng…”, từ những năm 20 của thế kỷ trước nhà văn Alexei Tonxtoi đã viết như một lời nguyện cầu trong cuộc nội chiến ở nước Nga sau cách mạng tháng Mười. Vậy mà sau mỗi cuộc chiến không biết đến bao giờ lòng người mới thôi gào thét hận thù để chỉ còn lại sự nhẫn nại dịu dàng hàn gắn vết thương?

Những ngày này 41 năm trước gia đình tôi được quay trở lại quê hương sau hơn 20 năm “ngày Bắc đêm Nam”. Năm nào cũng vậy, ngày này tôi chỉ ở nhà thắp nhang cho những người đã khuất. Trong gia đình tôi có nỗi đau của cả hai bên nhưng chẳng bao giờ nói đến hai chữ “thắng thua”, người về không màng chữ “được” người đi không vì chữ “mất”, bởi cùng thấu hiểu nỗi đau của ông bà tôi khi đã hòa bình mà vẫn tiếp tục phải xa lìa con cháu.

 

Hồi tháng hai tôi được xem trên mạng một clip: tại đất nước Isarel có một ngày mà tất cả mọi người lưu thông trên đường phố, khi nghe một hồi còi dài vang lên, khắp nơi đều dừng lại, xuống xe và kính cẩn làm một phút tưởng niệm 6 triệu người Do Thái bị thảm sát bởi Đức quốc xã trong thế chiến thứ hai.
Bao giờ có một ngày tháng Tư mọi người Việt Nam cùng chung một phút tưởng niệm những người đã ngã xuống trong chiến tranh, đã chết sau cuộc chiến vì “vượt biên”, vì bom mìn còn gài lại, vì chất độc hóa học ngấm sâu vào cơ thể…? Từ giây phút tưởng niệm chung như thế có mở ra những ngày Tháng Tư  hòa giải hòa hợp của chúng ta?

 

3.Nhưng cũng từ ngày cuối tháng Tư năm ấy, thế hệ hậu chiến đã ra đời và trưởng thành. Nhiều người trong họ tự nhận mình là “bên bỏ cuộc” –tạm gác lại quá khứ của những chính thể, mất mát tổn thất của gia đình, họ nhìn về tương lai nhiều hơn. Như những người “đồng hương”, mối liên hệ bà con giữa thế hệ “bỏ cuộc” như một sợi dây mà thời gian càng dài càng trở nên mỏng manh trong cái thế giới ngày càng phẳng…
Nhiều người trong thế hệ hậu chiến hiểu được căn nguyên của sự thiếu hụt tình cảm bao dung và lòng vị tha, đó là một biểu hiện của “mặc cảm thất bại” mà thế hệ chiến tranh đã bị mất mát và tổn thương nặng nề về tinh thần, cho đến nay không có gì có thể bù đắp lại những mất mát và tổn thương ấy…

 Trong Bảo tàng Ký ức chiến tranh ở Hàn quốc, ngay sảnh chính có một bức tranh lớn kín một bức tường. Bức tranh vẽ rừng cây hoa lá tràn ngập, ở giữa là giới tuyến Bàn Môn Điếm và hai lá cờ Hàn quốc và Triều Tiên nhỏ xíu. Dòng chữ lớn chạy suốt bức tranh “Bán đảo Triều Tiên có bốn mùa xuân hạ thu đông nhưng đang bị chia cắt thành hai nước”. Đọc dòng chữ này tôi ứa nước mắt. Có quốc gia nào dân tộc nào không có khát vọng thống nhất, chỉ khác nhau sự nhắc nhớ về chia ly, khác nhau sự lựa chọn con đường đi đến đoàn tụ mà thôi. 

Khi còn độc quyền quá khứ, độc quyền lịch sử thì tương lai đất nước này chưa phải là của chung mọi người dân Việt. Thống nhất giang sơn đã khó mà thống nhất lòng người còn khó hơn vạn lần. Bởi vì “cuộc chiến không đổ máu” âm thầm lặng lẽ hủy hoại cơ thể Việt Nam bắt đầu không phải từ tiếng súng mà từ sự định kiến tối tăm giữa những con người.

 

Sài Gòn tháng tư, 2016

Hình: HN 1975 và SG 2023






 

 

 

CUỘC TRÒ CHUYỆN VỀ MỘT THỜI CHƯA QUA

 @ Được làm vua thua làm giặc: thay thế địa vị của nhau bằng cách “làm lọan”. Vì vậy VUA, GIẶC tuy đối lập về địa vị nhưng có khi tâm thức như nhau: làm giặc lại coi mình như vua, làm vua mà hành xử như giặc.

Đã thế còn muốn “nổi can qua” để con vua con sãi đổi chỗ của nhau. Cứ thế cứ thế…sẽ dẫn đến (những cuộc) CÁCH MẠNG KHỨ HỒI.
(Ghi chép tháng Tư)

CUỘC TRÒ CHUYỆN VỀ MỘT THỜI CHƯA QUA

Cô cháu học ở nước ngoài, cuộc trò chuyện này vào tháng 3 năm 2016 nhân một bài luận cháu viết về chiến tranh VN. Năm nay post lại đây cũng nhân một số sinh viên hỏi tôi những hỏi câu tương tự.
Những câu trả lời của tôi trong bài này về những vết thương thời hậu chiến không khác suy nghĩ trong nhiều bài khác tôi đã viết trên FB, trên báo chí… Các anh chị và các bạn đã không cùng cách nhìn nhận thì không nhất thiết phải đọc và comment ở bài này. Xin cám ơn!

1. Con muốn biết ý kiến của cô trước việc mà học sinh học thuộc lòng môn Sử mà không tìm hiểu rõ vấn đề? Có phải vì học thuộc lòng khiến cho học sinh ghét môn Sử hay vì môn Sử vốn dĩ khô khan nên khó tiếp cận với người học không ạ?

@ Cách dạy - học thuộc lòng có nguồn gốc từ kiểu học thi từ thời xưa nên nhiều môn học ngày nay cũng duy trì lối dạy và học này, nhất là những môn xã hội. Cách học thuộc lòng không có lỗi, vì từ kinh nghiệm cô nhận thấy, nhiều bài văn, bài sử mà hay, hay vì cách viết và cách dạy của thầy cô, thì việc học thuộc lòng hoàn toàn không mang ý nghĩa tiêu cực mà ngược lại còn tích cực, vì ngoài kiến thức nhớ được thì cảm xúc có từ bài học sẽ nuôi dưỡng rất lâu niềm yêu thích môn học. Vì vậy, có thể sách giáo khoa viết không hay nhưng nếu thầy cô biết cách truyền đạt giảng hay thì không cần bắt buộc có lẽ nhiều học sinh vẫn thuộc bài và nhớ lâu.

Tất nhiên nếu thầy cô không “giảng” mà chỉ đọc và bắt học sinh học thuộc lòng thì môn nào cũng chán, ngay cả các công thức toán mà thầy cô giảng không hiểu thì cũng học sinh cũng khó thuộc và không thể áp dụng để giải bài tập.

2. Cô thấy cách dạy Sử ở Việt Nam hiện giờ có điểm gì tốt và chưa tốt ạ? Nếu có điểm chưa tốt cô muốn thay đổi, cải thiện như thế nào để tốt lên ạ?

@ Điểm tích cực: luôn nhắc nhở và nuôi dưỡng lòng yêu nước, chống ngoại xâm. Đây là truyền thống cũng là đặc điểm lớn nhất của lịch sử VN. Điểm hạn chế là ngoài truyền thống chống ngoại xâm thì lịch sử VN chưa thấy rõ các yếu tố văn hóa xã hội, chưa thấy một cách sâu sắc, thật sự những ưu, nhược điểm của con người VN – chủ thể của lịch sử, trong đó có những nhân vật lịch sử và có người dân bình thường.

Muốn khắc phục điều này thì cần đặt/coi lịch sử là một dòng chảy trong truyền thống văn hóa, nhìn lịch sử từ văn hóa sẽ khách quan và toàn diện hơn.

3. Con học ở Mỹ thì người ta dạy rằng cuộc chiến năm 1957 tới 1975 là cuộc chiến giữa hai ý thức hệ (tư bản – cộng sản) bị ảnh hưởng bởi Chiến Tranh Lạnh. Mỹ tham gia để viện trợ giúp đỡ cho miền Nam. Trong khi ở Việt Nam thì cho rằng Mỹ là một nước đế quốc xâm lược miền Nam Việt Nam. Và thật sự trong cuộc chiến thì không phải lúc nào cũng có một bên đúng hoàn toàn và một bên sai hoàn toàn, sẽ có đúng và sai tùy vào mỗi người nhìn nhận. Vậy theo cô mình có nên dạy Sử một cách đa chiều cho học sinh tiếp cận với hai mặt, nhìn nhận cái đúng cái sai của các bên không hay chỉ cần nêu ra cái đã làm tốt của một bên?

@ Nhận định khác nhau do đứng ở những góc độ khác nhau. Nhận định từ phía Mỹ là từ bên ngoài / trên bình diện rộng hơn của thế giới nhìn vào tình hình VN lúc đó. Còn từ VN – cụ thể là từ miền Bắc VN, là nhìn trong nội bộ VN: thực tế Mỹ vào miền Nam, mục đích chiến tranh là để “đuổi Mỹ và thống nhất”. Với cách dạy sử là dạy truyền thống chống ngoại xâm thì chiến tranh với sự có mặt của Mỹ ở miền Nam thì coi đó là sự xâm lược. “Sự thật” được con người nhận thức thế nào, nhận thức ở thời điểm nào thì thành lịch sử như vậy. Do vậy, đến một lúc cũng cần cho học sinh biết những đánh giá khác nhau của các bên về cuộc chiến, tuy nhiên kiến thức lịch sử phải đi cùng kiến thức những môn xã hội khác cùng nội dung. Học sinh có kiến thức rộng, có nhiều cách tiếp cận sẽ tự biết mình đứng ở đâu để nhận thức lịch sử. Quan trọng trong nhận thức lịch sử là “nguyên nhân dẫn đến sự việc hiện tượng đó” chứ không chỉ là đánh giá “đúng/sai” “thành công / thất bại”.

4. Con có đọc bài viết của cô viết về hồi ức đi ra Bắc tập kết và con thấy rất hay và cảm động (Con cũng đọc bài viết của mẹ con – một người Bắc đi di cư vào Nam sinh sống). Đọc cả hai bài thì con thấy rằng cả hai bên đều có những đau khổ trăn trở của riêng mình, nhất là nỗi nhớ quê hương vùng miền mình sinh sống (rất xúc động). Nhưng những sự kiện như: năm 1954 đất nước bị chia cắt ở vĩ tuyến 17 và người dân hai miền có 300 ngày để chọn nơi mình muốn ở; không được nhắc nhiều trong sách giáo khoa môn Sử. Sách giáo khoa môn Sử chỉ nhấn mạnh rằng quân đội miền Bắc đã đánh Mỹ như thế nào. Chỉ nhấn mạnh về các chiến công đạt được. Cô nghĩ sao về việc này? Con thấy người ta cứ nhắc đến việc hòa hợp dân tộc, xóa bỏ hận thù nhưng mà sách giáo khoa thì dạy như vậy thì liệu có đi ngược lại với gì mà ta đang muốn làm (là xóa bỏ thù hận) hay không?

@ Càng lùi xa những sự kiện lịch sử thì người ta càng có cơ hội nhìn lại sự kiện đó bằng “con tim” chứ không chỉ bằng “khối óc”, tức là nhìn lại nó bằng cách nhìn của con người cá nhân chứ không còn là cách nhìn của “cộng đồng”, của đám đông lúc sự kiện xảy ra. Chiến tranh nào thì cũng có bên thắng bên thua, việc nhấn mạnh chiến thắng là nằm trong mục đích dạy sử: truyền thống anh dũng chống ngoại xâm. Như ở trên đã nói, như vậy là chưa đầy đủ và chưa khách quan.

Trong SGK còn nhiều sự kiện sơ sài hoặc thiếu vắng, điều này có thể bổ sung bằng bài giảng của giáo viên, hoặc bây giờ có thể tham khảo nhiều nguồn tài liệu. Không sự kiện lịch sử nào có thể che dấu mãi, chiến tranh, ngoài thắng lợi thì còn rất nhiều đau thương. Đấy mới là tác hại và hậu quả lâu dài của chiến tranh.

Việc hòa hợp hòa giải ở nước ta, theo cô không chỉ vì “người ta” nhắc nhiều về chiến thắng, mà còn là vì sau chiến tranh đã không có thống nhất thực sự ở lòng người do những chính sách và thực tế sai lầm trong thời hậu chiến. Sự mất mát trong chiến tranh có thể qua được nhưng mất mát thời hậu chiến không dễ qua. Sai lầm dẫn đến không/ chưa thể hòa hợp hòa giải chủ yếu là ở chỗ đó.

5. Theo cô nghĩ ý nghĩa của việc học và tìm hiểu môn Sử là gì ạ?

@ Là học làm người: hiểu biết quy luật lịch sử chung và quy luật lịch sử riêng của nước nhà, để độc lập suy nghĩ, nhận thức, từ đó mới trở thành con người tự do. Hiểu biết lịch sử một cách đúng đắn thì không phụ thuộc vào thế hệ trước, thế hệ trước cũng không thể ràng buộc thế hệ sau, như vậy mới có thể tránh những sai lầm của thế hệ trước trong quá khứ và biết tìm/ đi con đường đúng để tới tương lai, biết tự chịu trách nhiệm với chính tương lai của mình.

6. Cô có nghĩ là điều gì xảy ra ở quá khứ thì nên cho qua và tập trung cho hiện tại, những gì chính quyền và nhà nước làm cho dân trong hiện tại và tương lại mới là quan trọng không? Nếu cô nghĩ hiện tại và tương lai là quan trọng thì ta có cần thiết biết các câu chuyện bị che giấu đi trong lịch sử không ạ?

@ Quá khứ luôn tồn tại trong mỗi người, mỗi quốc gia, dù muốn hay không. Cũng không ai có thể chỉ biết hiện tại và tương lai. Như một câu nói “Không ai, không một điều gì bị lãng quên”, nhưng vấn đề là NHỚ như thế nào, kể cả quá khứ tốt hay không tốt. Chỉ nhìn thấy/nhớ đến cái tốt đẹp cũng như cái xấu xa thì đều có hại như nhau. “Cho qua hay không cho qua” tùy thuộc vào nhớ như thế nào.

Lịch sử, dù xấu hay tốt, và cũng chẳng có lịch sử nào lịch sử của ai toàn tốt hay toàn xấu, đều luôn cần được minh bạch, công khai, khách quan đánh giá/ nhận thức lại. Cách nhận thức đánh giá quá khứ thế nào, ta sẽ có ngày hôm nay và tương lai như vậy.

Sài Gòn 19/3/2016

Nguyễn Thị Hậu



Phản xạ văn hóa các vùng miền Việt Nam

_Nguồn:  https://logbasex.substack.com?utm_source=navbar&utm_medium=web Bản đăng lại từ bài viết trên trang Substack cùng tên của tác gi...