Hiển thị các bài đăng có nhãn quy hoạch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quy hoạch. Hiển thị tất cả bài đăng

MỘT TRAO ĐỔI VỀ QUY HOẠCH KHU VỰC HỒ GƯƠM

 (Trung Dũng thực hiện)

Cảm nhận của bà, với tư cách là một chuyên gia về bản Quy hoạch phân khu đô thị H1-1B (khu vực Hồ Gươm và phụ cận) đang được lấy ý kiến người dân thì Hồ Gươm đang cần được giải quyết vấn đề gì và quy hoạch mới có thực sự giải đúng bài toán đó?

Là một người nghiên cứu di sản đô thị từ góc tiếp cận chính là Khảo cổ học đô thị, tôi nhận thấy mỗi thành phố đều có 3 lớp “diện mạo” mà người làm quy hoạch đô thị cần nhận biết. Ba “lớp diện mạo” này gần nhau nhưng không đồng nhất, có thể coi là 3 hướng tiếp cận một đô thị đương đại để nhìn ra bản chất, bản sắc của đô thị đó. 

Thứ nhất, Cảnh quan đô thị. Đó là diện mạo của đô thị là một chỉnh thể sống động như chúng ta đang nhìn thấy hàng ngày.

Thứ hai, Địa tầng đô thị. Đây là chiều kích lịch sử của đô thị được tích tụ vật chất theo thời gian.

Thứ ba, Không gian di sản. Đây chính là những thành phần được xã hội hiện tại nhận diện, lựa chọn và trao giá trị di sản, cộng đồng “di truyền” qua ký ức đô thị.

Hồ Gươm và vùng phụ cận chứa đựng cả 3 yếu tố đó, là một nút giao của nhiều lớp đô thị: cảnh quan hồ tự nhiên, lịch sử kinh đô Thăng Long, đô thị thuộc địa, thủ đô Hà Nội và không gian lịch sử - văn hóa công cộng hiện đại

Vì vậy, quy hoạch khu vực này không chỉ để giải quyết các vấn đề đương đại (như giao thông, mật độ dân số, hiện đại hóa cảnh quan đô thị) mà cần đồng thời bảo tồn được các lớp lịch sử và không gian di sản. Theo những gì của bản quy hoạch được công bố để lấy ý kiến, tôi thấy điều này chưa đạt được. Nếu chỉ giữ lại đúng một cái hồ và vài công trình trên nó, nhưng lại có quá nhiều yếu tố mới hiện diện ở khu vực này thì hậu quả là làm mờ nhạt, thậm chí đã xóa bỏ những gì thuộc về “ký ức đô thị”. Khi Hồ Gươm lọt thỏm vào một không gian xa lạ như vậy, Hồ Gươm chỉ như một yếu tố tự nhiêu như “hồ điều hòa sinh thái” cho một “khu đô thị mới” nào đó, chứ không còn hồn cốt của chính nó và mất đi diện mạo lịch sử của Hà Nội.

 

Từ những nội dung trao đổi tại tọa đàm, đặc biệt là về vấn đề bảo tồn di sản cảnh quan, theo bà, đâu là những nguyên tắc quản trị di sản bắt buộc đối với các đồ án quy hoạch Hồ Gươm hiện nay? Và có cần một công trình biểu tượng mới bên Hồ Gươm, hay chính Hồ Gươm đã là biểu tượng?

Nếu đồng ý một đô thị có 3 “chiều kích” như trên, thì phương thức quản trị đô thị nói chung, quản trị di sản nói riêng cũng cần thay đổi. Không thể xây dựng các bản quy hoạch không gian hay quy hoạch bảo tồn chỉ quan tâm đến “di tích đã được xếp hạng”, còn ký ức đô thị và không gian di sản lại được quyết định theo những logic hoàn toàn khác, dù với lý do phục vụ quy hoạch giao thông, quy hoạch xây dựng, phát triển bất động sản và phát triển kinh tế.

Với trường hợp Hồ Gươm, cần có một phương thức quản trị tích hợp giữa các thành phần: Quy hoạch đô thị, Quản lý cảnh quan, Bảo tồn di sản với Phát triển kinh tế – xã hội và Đời sống cộng đồng. Tại khu vực Hồ Gươm việc bảo tồn di sản phải là tiền đề của các thành phần khác, đây là nguyên tắc bắt buộc! Trên cơ sở đó mới có thể cân bằng được những nhu cầu hiện tại và bảo tồn một không gian công cộng đã chứa đựng cả lịch sử đô thị, di sản văn hóa, ký ức và đời sống cộng đồng đương đại.

Hồ Gươm vốn đã là một trong vài biểu tượng quan trọng nhất của Hà Nội. Nhưng phương án mới lại tiếp tục đưa thêm khá nhiều yếu tố mang tính biểu tượng vây quanh tứ phía: “Khải hoàn môn” ở phía Bắc, các quảng trường lớn, công trình tưởng niệm, tổ hợp không gian văn hóa – nghệ thuật, TOD văn hóa, dịch vụ, thương mại, và đặc biệt là nghiên cứu Tháp Tài chính Quốc tế tại khu đất Bảo tàng Cách mạng cũ. (Xây Dựng Chính Sách)... Điều này dẫn đến sự “quá tải” biểu tượng, lúc đó sẽ không có gì thực sự là “biểu tượng” nữa. Đó là một nghịch lý cần nhìn thấy! Giá trị biểu tượng của Hồ Gươm không chỉ nằm ở những công trình nhìn thấy được, nó còn nằm ở ký ức tập thể về cả một không gian.

 

Từ kinh nghiệm nhiều năm làm việc về phát triển đô thị bền vững, bà có khuyến nghị gì trước các dự án tái thiết, chỉnh trang và đề xuất điều chỉnh quy hoạch xung quanh khu vực Hồ Gươm hôm nay?

Là người nghiên cứu và làm công tác thực tiễn về bảo tồn di sản và phát triển bền vững, tôi mong các nhà quản lý định hướng quy hoạch đô thị, các chuyên gia thể hiện và thực thi quản lý đô thị thực sự làm đúng nguyên lý của “phát triển bền vững”! Càng đụng chạm vào “vùng lõi đô thị”, “không gian di sản” càng cần có trách nhiệm với tiền nhân, với chính thời đại mình và nhất là với thế hệ mai sau. Với Hồ Gươm, hãy để Hồ Gươm được là chính nó! Mình không giữ di sản của cha ông thì tương lai “Quanh Hồ Gươm không ai bàn chuyện Vua Lê” mà thậm chí cũng chẳng còn bàn đến lịch sử - văn hóa nữa, mà có lẽ chỉ bàn chuyện sẽ tiếp tục phá đi xây mới thêm cái gì!


 

ĐỪNG CHIẾM DỤNG GIÁ TRỊ DI SẢN CỦA HỒ GƯƠM

 

 1. Hồ Gươm không chỉ là một cái hồ

Trong lịch sử phát triển Hà Nội, hồ nước luôn là một thành tố quan trọng của cấu trúc đô thị, trong đó Hồ Tây và Hồ Gươm có vị trí đặc biệt. Đây không đơn thuần là những mặt nước tự nhiên còn sót lại giữa đô thị hóa. Qua nhiều thế kỷ, hai hồ này đã được tích hợp vào lịch sử, không gian và đời sống của Thăng Long – Hà Nội, đồng thời trở thành hai trong những biểu tượng mạnh nhất của thành phố.

Hồ Gươm từ lâu đã vượt ra khỏi giới hạn của một thắng cảnh, một di tích lịch sử hay một mặt nước cảnh quan giữa trung tâm Hà Nội. Đối với nhiều thế hệ người Hà Nội, Hồ Gươm là một phần của ký ức đô thị. Đó là nơi mà trong bất cứ mùa nào trong năm người ta đều có thể tìm đến để đi bộ, gặp gỡ, hẹn hò, đọc sách, ngắm phố và đôi khi chỉ đơn giản là đứng bên mặt hồ để cảm nhận mình đang ở Hà Nội. Có thể nói, từ một mặt nước giữa lòng đô thị Hồ Gươm đã trở thành “ký ức sống” của người Hà Nội. Chính vì vậy, khi nói đến việc quy hoạch, chỉnh trang hay làm mới không gian Hồ Gươm và vùng phụ cận, vấn đề đặt ra không chỉ là làm thế nào để khu vực này trở nên hiện đại, đẹp hơn, thuận tiện hơn. Câu hỏi quan trọng hơn là, làm thế nào để Hồ Gươm có thể thay đổi mà sau sự thay đổi ấy, người Hà Nội vẫn nhận ra Hồ Gươm của mình?

Đây là một câu hỏi về di sản, nhưng đó không phải là di sản theo nghĩa thông thường, nơi giá trị được xác định chủ yếu bởi tuổi đời của công trình, tính nguyên gốc của kiến trúc hay những sự kiện lịch sử đã diễn ra tại đó. Hồ Gươm là một dạng di sản phức hợp hơn: di sản của cảnh quan, của không gian đô thị, của lịch sử, của đời sống cộng đồng và đặc biệt là của ký ức đô thị. Vì thế, nếu chỉ xem Hồ Gươm là một “khu vực cảnh quan” cần chỉnh trang thì có thể tạo ra một Hồ Gươm mới và hiện đại. Nhưng không cẩn trọng sẽ tạo ra một Hồ Gươm xa lạ vì người Hà Nội không còn nhận ra những gì quen thuộc của mình nữa.

Hồ Gươm, nếu nhìn từ bản đồ, nó chỉ là một khoảng không gian mặt nước. Nếu nhìn từ lịch sử, đó là một không gian gắn với truyền thuyết Lê Lợi – Rùa thần và thanh kiếm báu, về những triều đại và biết bao câu chuyện của kinh đô Thăng Long, và về sự hình thành của đô thị Hà Nội hiện đại. Nếu nhìn từ kiến trúc, đó là một quần thể gồm Tháp Rùa, đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, Tháp Bút, Đài Nghiên và nhiều công trình lịch sử – kiến trúc xung quanh. Nếu nhìn từ đời sống xã hội, đó là nơi người Hà Nội gặp nhau, là nơi du khách luôn muốn tìm đến. Nhưng nếu nhìn từ ký ức đô thị, Hồ Gươm còn lớn hơn tất cả những điều đó.

Một người từng sống ở Hà Nội có thể nhớ Hồ Gươm không phải bằng tên một công trình mà bằng một chuỗi cảm giác: bước ra khỏi một con phố nhỏ, nhìn thấy mặt nước, đi dưới những hàng cây, ngắm nhìn Tháp Rùa thấp thoáng, nghe tiếng người trò chuyện, nhìn cầu Thê Húc đỏ giữa màu xanh của cây và nước, ngồi trên ghế đá, đi một vòng quanh hồ… Những trải nghiệm ấy không phải là “phần phụ” của di sản. Chúng chính là một phần quan trọng cấu thành di sản Hồ Gươm của thủ đô Hà Nội.

2. Từ cảnh quan đô thị đến không gian di sản

Trong tư duy quy hoạch truyền thống, cảnh quan đô thị thường được nhìn qua những thành tố có thể đo đếm: mặt nước, cây xanh, đường giao thông, công trình kiến trúc, quảng trường, mật độ xây dựng, tầng cao công trình, tầm nhìn... Đó là những yếu tố cần thiết, nhưng chưa đủ để hiểu biết về giá trị của Hồ Gươm. Bởi có những cảnh quan rất đẹp nhưng không trở thành ký ức của một cộng đồng, ngược lại, có những không gian có thể không hoàn hảo về mặt hình thức nhưng lại có sức sống văn hóa đặc biệt, là vì chúng chứa đựng lịch sử và trải nghiệm của nhiều thế hệ.

 Hồ Gươm là như vậy. Giá trị của Hồ Gươm nằm ở mối quan hệ giữa các thành tố, chứ không nằm riêng ở bất kỳ thành tố nào. Mặt nước có giá trị vì nó nằm giữa đô thị. Tháp Rùa có giá trị vì nó nằm trên mặt hồ. Đền Ngọc Sơn có giá trị vì nó tạo ra một điểm nhấn văn hóa – tín ngưỡng. Cầu Thê Húc có giá trị vì nó nối không gian phố với không gian tâm linh. Hàng cây có giá trị vì chúng tạo ra lớp chuyển tiếp giữa mặt nước và đô thị. Các phố xung quanh có giá trị vì chúng tạo nên cảm giác “đi từ phố vào hồ”… Và tất cả những thành tố ấy cùng nhau tạo ra một thứ khó đo đếm hơn, “cảm giác về Hồ Gươm”. Do đó, Hồ Gươm cần được nhìn nhận như một không gian di sản đặc biệt, nơi cảnh quan vật chất và ký ức xã hội không thể tách rời.

Một trong những nghịch lý của bảo tồn đô thị là chúng ta thường quan tâm rất nhiều đến những gì cần giữ lại nhưng ít quan tâm đến những gì cần để trống. Trong trường hợp Hồ Gươm, “khoảng trống” lại chính là một phần quan trọng của giá trị di sản. Đó là nơi đôi mắt có thể được nghỉ ngơi để ý nghĩ có thể lang thang mà không bị ngăn chặn bởi một công trình nhân tạo nào đó: Mặt hồ là khoảng trống. Khoảng trời trên mặt hồ là khoảng trống. Những khoảng nhìn từ phố xuống mặt nước là khoảng trống. Khoảng cách giữa Tháp Rùa và bờ hồ là khoảng trống. Khoảng xanh giữa các công trình cũng là khoảng trống. Những khoảng trống đó tạo nên sự cân bằng đặc biệt giữa cái được xây dựng và cái không được xây dựng.

Vì thế, trong quy hoạch di sản Hồ Gươm, không nên đặt vấn đề “Chúng ta có thể xây thêm gì?” mà phải suy nghĩ “Chúng ta cần giữ lại những khoảng không nào để Hồ Gươm vẫn là Hồ Gươm?”. Đây là một thay đổi rất quan trọng trong tư duy, từ một thực tiễn là có nơi giá trị di sản nằm trong một công trình, nhưng có nơi giá trị nằm trong quan hệ giữa công trình và khoảng trống. Hồ Gươm ở trong trường hợp này.

Một đặc điểm rất dễ bị bỏ qua của Hồ Gươm là tỷ lệ hài hòa của nó: Hồ không quá lớn, tháp Rùa không quá cao, cầu Thê Húc không quá dài. Các công trình quanh hồ tạo thành một chuỗi điểm nhấn nhưng không công trình nào hoàn toàn áp đảo toàn bộ không gian. Người đi bộ có thể nhìn thấy mặt hồ mà không cảm thấy mình đứng trước một quảng trường khổng lồ. Đó là một không gian mà con người vẫn giữ được vị trí trung tâm và đây là điều đặc biệt quan trọng trong bối cảnh đô thị đương đại. “Tỷ lệ con người” một giá trị vô hình cần được bảo tồn trong không gian Hồ Gươm.

Nếu thay đổi, có thể nơi này sẽ thành một quảng trường lớn hoành tráng, thêm công trình biểu tượng gây ấn tượng hình thành một trục cảnh quan lớn tạo ra những hình ảnh rất đẹp trên bản vẽ. Nhưng tất cả những yếu tố đó làm cho con người trở nên quá nhỏ bé trong không gian thì bản chất của Hồ Gươm bị thay đổi. Hồ Gươm không cần trở thành một sân khấu đô thị khổng lồ mà cần tiếp tục là một nơi chốn mà con người cảm thấy được “thuộc về”.

3. Hồ Gươm là một “di sản sống”

Điều quan trọng nhất khi quy hoạch khu vực Hồ Gươm là phải nhận thức được rằng đây không phải một di tích đã “đóng băng”. Hồ Gươm vẫn đang có cuộc sống sinh động hàng ngày hàng giờ. Bao nhiêu thời gian đã qua nhưng con người vẫn sử dụng không gian này với nhiều cách thức: Có người đi làm qua đây, có người đi bộ, người tập thể dục. Có người tham quan, có người bán hàng, rồi người chụp ảnh, người hẹn hò, người đưa trẻ em đi chơi. Cũng có người chỉ ngồi nghỉ ngơi thư thái bên bờ hồ, thậm chí có người tìm đến quán cà phê trên gác nhỏ cheo leo tại một con phố bên Hồ Gươm, chỉ để có một góc Hồ Gươm đẹp lạ của riêng mình... Những hoạt động bình thường ấy tạo nên một lớp văn hóa mà có thể bản vẽ quy hoạch không thể hiện hết nhưng cũng không có quyền “bỏ quên”.

Một không gian di sản chỉ thực sự sống khi cộng đồng vẫn có thể sử dụng, trải nghiệm, diễn giải và tạo ra ký ức mới trong đó. Vì vậy, bảo tồn khu vực Hồ Gươm không thể đồng nghĩa với việc biến nơi này thành một “bảo tàng ngoài trời”. Hồ Gươm phải được phép tiếp tục thay đổi. Nhưng sự thay đổi ấy cần có giới hạn. Không phải mọi thứ cũ đều cần giữ nhưng những gì làm nên “Hồ Gươm” phải được giữ.

Bảo tồn không có nghĩa là đóng băng, một đô thị muốn sống phải thay đổi, Hà Nội cũng vậy. Những công trình xuống cấp cần được cải tạo. Những không gian không còn phù hợp cần được điều chỉnh. Giao thông cần được tổ chức lại. Hạ tầng kỹ thuật cần được hiện đại hóa. Công nghệ mới có thể được đưa vào để nâng cao trải nghiệm. Nhưng cần phân biệt rất rõ: cái cũ và cái có giá trị không phải lúc nào cũng là một. Một công trình có thể cũ nhưng không có giá trị đặc biệt. Ngược lại, một khoảng không có thể không “cổ” nhưng lại có giá trị rất lớn đối với ký ức cộng đồng. Do đó, trước mỗi quyết định quy hoạch Hồ Gươm, cần đặt ra câu hỏi: Nếu thành tố này biến mất, liệu người Hà Nội có còn nhận ra Hồ Gươm không? Khi câu trả lời là không tức là thành tố đó cần được bảo vệ đặc biệt.

Hồ Gươm cần một diện mạo mới mà vẫn giữ được diện mạo của ký ức. Đó cũng chính là thước đo quan trọng nhất của một quy hoạch di sản thành công. Đó cũng là thước đo của “tâm và tầm” của người định hướng quy hoạch, người thực hiện ý tưởng đó… Sau khi được làm mới, nếu khu vực này trở thành một không gian hiện đại và hoành tráng đến đâu nhưng người Hà Nội, du khách đến đây phải thốt lên “Ai đã mang Hồ Gươm của tôi đi đâu”, thì có nghĩa là tại đây một cảnh quan khác đã mang tên Hồ Gươm. Thực chất đây là một sự chiếm dụng giá trị và thương hiệu di sản Hồ Gươm – một cách xóa bỏ lịch sử - văn hóa “ngàn năm văn hiến” của Thủ đô!

Tp. Hồ Chí Minh ngày 10.9.2026

 Nguyễn Thị Hậu


Lưu lại khoảng khắc bên Hồ Gươm của hai mẹ con, lỡ sau này cảnh quan này không còn nữa...



 

KIẾN TẠO KHÔNG GIAN VĂN HÓA – XÃ HỘI CỦA ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH MỚI

 

Nguyễn thị Hậu
1.
Việc tổ chức lại đơn vị hành chính tại TPHCM và nhiều tỉnh thành khác từ 1.7.2025 thường được tiếp cận dưới góc độ quản lý nhà nước, quy hoạch không gian và tổ chức bộ máy. Tuy nhiên, mỗi đơn vị hành chính mới không đơn thuần là sự cộng gộp diện tích và dân số. Đó còn là sự gặp gỡ của những cộng đồng cư dân, ký ức địa phương, cảnh quan tự nhiên và những phương thức sinh kế vốn được hình thành qua thời gian. Tức là, việc thành lập các phường mới không chỉ như một đơn vị hành chính mới, mà như sự hình thành của một không gian văn hóa-xã hội mới.
Trong bối cảnh ấy, việc sáp nhập đơn vị hành chính mới thực chất là quá trình kiến tạo một bản sắc văn hóa mới. Nhìn từ góc độ Địa-Văn hóa thì không gian văn hóa được hình thành bởi sự tương tác giữa địa hình, môi trường tự nhiên, lịch sử cư trú và hoạt động của con người. Vì vậy, Quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội không chỉ xem địa giới hành chính là đối tượng chính, mà còn cần chú ý mối liên hệ truyền thống giữa tự nhiên - con người - lịch sử - kinh tế đã tạo nên những bản sắc văn hóa của một vùng. Vấn đề đặt ra là, trong quá trình hiện đại hóa hiện nay không nên chỉ bàn về "định hướng đô thị hóa", mà còn cần "định hướng kiến tạo không gian văn hóa đô thị". Bởi vì, nếu “đô thị hóa” chủ yếu trả lời câu hỏi: xây gì, mở đường gì, phân khu ra sao? Thì “kiến tạo không gian văn hóa đô thị” trả lời câu hỏi: cư dân sẽ sống với nhau như thế nào, ký ức địa phương sẽ được gìn giữ ra sao, và điều gì làm cho các phường mới khác với hàng trăm phường đô thị khác?
2.
Mới đây Ủy ban Nhân dân xã Bình Hưng (TPHCM) tổ chức hội thảo "Tiềm năng phát triển đô thị xã Bình Hưng và định hướng quy hoạch phân khu trong giai đoạn mới". Nội dung hội thảo tập trung bàn về giải pháp phát triển đô thị, nâng cao quản trị công và khơi thông nguồn lực đầu tư. Từ “không gian hành chính” xã Bình Hưng thử phân tích các yếu tố căn bản để “kiến tạo không gian văn hóa mới” trong quá trình phát triển.
Không gian của những lớp địa văn hóa chồng xếp. Dự thảo đề án thành lập Phường Bình Hưng cho biết, địa bàn mới có lịch sử hành chính khá phức tạp, bao gồm vùng cư trú lâu đời của xã Bình Hưng, vùng ven đô xã Phong Phú (huyện Bình Chánh cũ) và một phần không gian đô thị phường... quận 8 cũ. Nếu từ góc độ hành chính, đây là kết quả của quá trình sáp nhập không gian địa lý. Nhưng từ góc nhìn địa-văn hóa thì đây là quá trình giao thoa giữa ba kiểu không gian xã hội: làng ven sông Nam Bộ, vùng nông thôn đang đô thị hóa và khu dân cư đô thị mở rộng. Vì vậy Bình Hưng là một không gian đa văn hóa, nơi các bản sắc khu vực đang tiếp tục được dung hòa và tái cấu trúc.
Sinh thái sông nước vẫn là nền tảng của bản sắc. Mặc dù đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, nền tảng địa lý tự nhiên của Bình Hưng vẫn là vùng đất thấp Nam Bộ. Hệ thống sông ngòi, kênh rạch không chỉ là yếu tố tự nhiên mà còn là "hạ tầng văn hóa", chi phối cách con người tổ chức đời sống. Bởi vậy, trong quá trình phát triển đô thị, việc bảo tồn hệ sinh thái nước không chỉ nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu mà còn là bảo tồn nền tảng của bản sắc địa phương.
Từ xã nông thôn đến cộng đồng đô thị mở. Một hiện tượng đáng chú ý là trong khi tỷ lệ đất nông nghiệp vẫn còn đáng kể thì cơ cấu lao động đã gần như hoàn toàn chuyển sang phi nông nghiệp. Điều đó phản ánh sự lệch pha giữa cảnh quan và đời sống xã hội. Nói cách khác, Bình Hưng không còn là xã hội thuần nông nhưng cũng chưa là đô thị đúng nghĩa. Không gian này đồng thời tồn tại các khu dân cư cũ, khu đô thị mới, khu nhà trọ, các khu vực dịch vụ và các vùng đất đang chuyển đổi. Cộng đồng Bình Hưng ngày càng được tổ chức từ các quan hệ mang tính chất đô thị: nghề nghiệp, dịch vụ, giáo dục và giao thông.
Giao thông và logistics như một yếu tố văn hóa. Trong các nghiên cứu đô thị, giao thông thường chỉ được xem là hạ tầng kỹ thuật. Tuy nhiên đối với Bình Hưng, hạ tầng giao thông không chỉ làm thay đổi kinh tế mà còn làm thay đổi nhịp sống, cấu trúc cư dân và phương thức giao tiếp. Có thể nói, hệ thống giao thông ở đây đã trở thành một thành tố cấu thành bản sắc văn hóa đô thị.
Từ "cộng đồng cư dân" đến "cộng đồng đô thị". Đặc điểm xã hội quan trọng của Bình Hưng là sự đa dạng nguồn gốc cư dân. Cộng đồng hiện nay bao gồm cư dân lâu đời, người nhập cư, người thuê trọ, lao động dịch vụ, người làm việc tại trung tâm thành phố và các khu công nghiệp phía Nam. Điều đó tạo nên một cộng đồng mà sự gắn kết không còn dựa chủ yếu vào huyết thống hay làng xóm, mà dựa vào trường học, nơi làm việc, mạng lưới dịch vụ và các thiết chế đô thị. Đây là một xu hướng phổ biến của các vùng ven TPHCM.
3.
Theo công trình Space and Place: The Perspective of Experience của Yi-Fu Tuan: "Space" (không gian) chỉ trở thành "Place" (nơi chốn) khi con người sống trong đó, gắn bó với nó và trao cho nó ký ức, ý nghĩa và cảm xúc. Nhiều đơn vị hành chính sau sáp nhập mới chỉ là một space về mặt hành chính, nhiệm vụ của phát triển văn hóa và quản trị đô thị là giúp nó trở thành một place – một nơi chốn mà cư dân “cảm thấy thuộc về”. Nếu lấy luận điểm này làm sợi chỉ đỏ cho cho quá trình sáp nhập, chuyển đổi các đơn vị hành chính nói chung, thì quan điểm đô thị hóa không chỉ là gia tăng mật độ xây dựng hay mở rộng hạ tầng kỹ thuật. Mà Đô thị hóa đồng thời là quá trình tái cấu trúc không gian sống và kiến tạo bản sắc văn hóa của một cộng đồng mới.
Vì vậy, việc phát triển các đơn vị hành chính mới cần được đặt trên những nguyên tắc phù hợp với đặc điểm tự nhiên, lịch sử và xã hội của địa phương, của vùng. Trường hợp xã Bình Hưng, quá trình kiến tạo không gian văn hóa mới dựa trên các nguyên tắc:
Thứ nhất, tôn trọng cấu trúc sinh thái sông nước như nền tảng của phát triển đô thị. Hệ thống kênh rạch, vùng đất thấp và các không gian trữ nước không chỉ thực hiện chức năng thoát nước, điều hòa khí hậu mà còn là dấu ấn của lịch sử cư trú Nam Bộ.
Thứ hai, gìn giữ ký ức lịch sử của vùng ven đô. Cộng đồng văn hóa mới cần được nuôi dưỡng từ những ký ức chung. Những địa danh cũ, các tuyến đường, đình, chùa, miếu, chợ truyền thống, các tuyến kênh, câu chuyện về quá trình khai phá hay chuyển đổi nghề nghiệp đều là những "mốc ký ức" giúp cư dân nhận diện nơi mình đang sống.
Thứ ba, xây dựng không gian công cộng mới để tăng cường sự gắn kết xã hội. Các công viên, quảng trường nhỏ, đường đi bộ ven kênh, nhà văn hóa, thư viện cộng đồng hay các không gian sinh hoạt chung sẽ trở thành nơi gặp gỡ của cư dân cũ và mới, các tầng lớp dân cư... góp phần xây dựng ý thức chung cho một cộng đồng mới.
Thứ tư, phát triển kinh tế đô thị gắn với bản sắc địa phương. Việc khai thác cảnh quan sông nước, văn hóa ẩm thực, các tuyến chợ truyền thống, nghề dịch vụ địa phương hay các hoạt động văn hóa cộng đồng sẽ góp phần tạo nên lợi thế cạnh tranh dựa trên bản sắc thay vì chỉ dựa vào hạ tầng.
Thứ năm, văn hóa là một thành phần của quy hoạch đô thị. Các nghiên cứu văn hóa cần tham gia ngay từ giai đoạn quy hoạch nhằm xác định những không gian cần bảo tồn, những giá trị cần phát huy và những yếu tố có thể tạo nên bản sắc của đô thị mới. Việc bảo tồn di sản địa phương góp phần hình thành bản sắc của phường Bình Hưng trong tương lai. Văn hóa vì vậy còn là một nguồn lực phát triển.
4.
Quá trình hình thành các đơn vị hành chính mới cần được nhìn nhận đồng thời từ góc độ tổ chức lãnh thổ và góc độ kiến tạo không gian văn hóa. Nếu quy hoạch là quá trình tổ chức không gian vật chất thì văn hóa là quá trình kiến tạo ý nghĩa cho không gian ấy. Một đơn vị hành chính mới chỉ thực sự trở thành một cộng đồng khi cư dân có thể nhận diện được những giá trị chung được hình thành từ lịch sử, cảnh quan và đời sống đương đại.
Trong quá trình này, khái niệm "không gian văn hóa – xã hội" có thể phát triển thành khái niệm "địa-văn hóa đô thị chuyển tiếp" (transitional urban geoculture). Khái niệm này giải đáp một vấn đề: không gian văn hóa là một cơ sở quan trọng để đề ra những nguyên tắc phát triển đô thị, từ đó có chính sách phù hợp giải quyết thực tiễn và quản lý xã hội.
Quá trình sắp xếp lại đơn vị hành chính tại Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh thành khác không chỉ tạo nên những địa giới quản lý mới, mà còn đặt ra yêu cầu nhận diện các không gian văn hóa đang hình thành trong quá trình đô thị hóa. Quá trình quy hoạch không gian kinh tế-xã hội cần lưu ý đến "không gian văn hóa chuyển tiếp", nơi vốn hội tụ nhiều lớp lịch sử cư trú, nhiều dạng cảnh quan và nhiều cộng đồng xã hội khác nhau từ những đơn vị hành chính cũ. Điều này sẽ góp phần thiết thực cho nghiên cứu và xây dựng chính sách văn hóa-xã hội tại địa phương trong giai đoạn mới.



Ý KIẾN TẠI TỌA ĐÀM VỀ HẠ TẦNG XANH (tại xã Bình Mỹ, 18.8.2026)

 Nguyễn thị Hậu, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM

Tham dự workshop hôm nay với chủ đề “Giá trị hạ tầng xanh trong quản lý phát triển vùng ven đô thị lớn” tôi muốn bắt đầu từ một câu hỏi đơn giản:

Khi nói đến phát triển vùng ven đô thị, cụ thể là tại Bình Mỹ, chúng ta đang phát triển cái gì? Là đất đai? Là hạ tầng? Là những khu đô thị mới? Hay rộng hơn, là một không gian sống mới cho con người? Tôi cho rằng câu hỏi này rất quan trọng, bởi nếu chúng ta chỉ nhìn vùng ven như một “quỹ đất” để đô thị mở rộng, thì hạ tầng xanh có thể sẽ chỉ được hiểu như một thành phần kỹ thuật của quy hoạch: thêm cây xanh, thêm mặt nước, thêm công viên, thêm hành lang sinh thái. Nhưng nếu nhìn vùng ven như một không gian sống, thì câu chuyện sẽ khác.

1. Đặt vấn đề: Vùng ven không phải là nơi “chưa trở thành đô thị”

Trong chương trình hôm nay, các nhà tổ chức đặt vấn đề về việc dung hòa giữa chiến lược phát triển đô thị và bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên, hướng tới một “không gian cộng sinh bền vững”. Tôi rất chú ý đến chữ “cộng sinh”, bởi nó gợi cho chúng ta một cách nhìn khác về vùng ven.

Thông thường, chúng ta gọi vùng ven là vùng chuyển tiếp: từ nông thôn sang đô thị, từ đất nông nghiệp sang đất xây dựng, từ không gian tự nhiên sang không gian nhân tạo. Nhưng có lẽ cần đảo ngược cách nhìn ấy.

Vùng ven không phải là nơi đô thị chưa hoàn chỉnh. Nó có thể là nơi đang tồn tại một hệ thống sống hoàn chỉnh theo một cách khác. Một sự so sáng tương tự: huyện Châu Thành của các tỉnh Nam bộ: không gian cộng sinh giữa đô thị hóa và vùng ven. Ở đó có sông, rạch, ao hồ, ruộng vườn, cây cối; có nhà cửa, đường làng, nơi sản xuất; có cộng đồng dân cư, tập quán, ký ức và những mối quan hệ xã hội đã được hình thành qua nhiều thế hệ. Nói cách khác, đô thị đến sau không có nghĩa là không gian sống bắt đầu được kiến tạo từ khi đô thị đến. Và đây chính là điều tôi nghĩ chúng ta cần lưu ý khi quản lý phát triển vùng ven.

2. Hạ tầng xanh và Không gian “sống cộng sinh”

2.1 Hạ tầng xanh không chỉ là “màu xanh” trên bản đồ quy hoạch

Từ góc nhìn đó, tôi muốn đề nghị chúng ta mở rộng khái niệm hạ tầng xanh.

Một con rạch có thể vừa điều tiết nước, vừa tạo sinh cảnh, vừa là không gian giao tiếp của cộng đồng. Một khu vườn có thể vừa sản xuất, vừa tạo cảnh quan, vừa lưu giữ một phương thức cư trú. Một con đường làng có thể vừa là giao thông, vừa là ký ức về một cấu trúc cư trú đã tồn tại trước đô thị hóa.

Bởi mỗi thành phần ấy có thể đồng thời mang nhiều chức năng: sinh thái – kinh tế – xã hội – văn hóa – cảnh quan – ký ức. Vì thế, tôi nghĩ điều chúng ta cần bảo vệ không chỉ là “hạ tầng xanh”, mà sâu hơn là hệ thống các quan hệ làm nên không gian sống.

2.2 Có thể gọi Hạ tầng xanh là “địa tầng của không gian sống”

Tôi xin mượn một cách tiếp cận mà tôi thường quan tâm trong nghiên cứu về đô thị và di sản: đọc không gian như những địa tầng.

Một vùng đất không chỉ có một lớp hiện tại. Nó có lớp tự nhiên, trên đó hình thành lớp cư trú, Rồi đến lớp sản xuất. Tiếp theo là lớp văn hóa, ký ức và các quan hệ cộng đồng. Sau đó đô thị hóa xuất hiện và tạo thêm một lớp mới. Nhưng đô thị hóa không nhất thiết phải xóa bỏ hoàn toàn những lớp trước đó. Nếu biết tổ chức tốt, những lớp ấy có thể chồng lên nhau và tiếp tục cùng tồn tại.

Tôi gọi đó là: địa tầng của không gian sống. Đây là một cách rất hữu ích để chúng ta nhìn vùng ven TP.HCM.

2.3 Từ hạ tầng xanh đến không gian cộng sinh

Nếu tiếp tục suy nghĩ như vậy, tôi muốn đề xuất một công thức rất đơn giản:

Không gian sống = tự nhiên + con người + văn hóa + kinh tế.

Bốn yếu tố này không tồn tại riêng rẽ:

Con người sống nhờ tự nhiên èKinh tế hình thành trên nền tảng của tự nhiên và xã hội èVăn hóa được hình thành từ cách con người thích nghi với môi trường và tổ chức đời sống è Tất cả những điều ấy được biểu hiện trong không gian.

Vì vậy, hạ tầng xanh có thể được nhìn như hạ tầng của sự cộng sinh. Không phải con người đứng một bên và thiên nhiên đứng một bên. Mà là: con người sống cùng tự nhiên, kinh tế phát triển cùng sinh thái, đô thị phát triển cùng cộng đồng, và hiện tại phát triển trên nền tảng của ký ức và di sản. Đó có lẽ là một cách hiểu sâu hơn về phát triển bền vững.

2.4 Hạ tầng xanh và di sản tự nhiên và văn hóa

Có thể nhiều người sẽ hỏi: Hạ tầng xanh thì liên quan gì đến di sản? Theo tôi, mối quan hệ này rất gần. Bởi chúng ta thường quen hiểu di sản là một ngôi đình, một ngôi chùa, một căn nhà cổ, một công trình kiến trúc, một hiện vật. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, di sản còn có thể là một cảnh quan, một dòng sông, một bến nước, một con đường, một khu vườn, một không gian cư trú, một phương thức sản xuất và cả ký ức của cộng đồng về nơi chốn ấy. Như vậy, không gian sống hôm nay chính là một phần của di sản ngày mai.

Nếu quá trình đô thị hóa chỉ quan tâm đến việc xây dựng cái mới mà không nhận diện những giá trị đang tồn tại, thì chúng ta có thể tạo ra một thành phố rất hiện đại nhưng ngày càng ít khả năng nhận diện chính mình. Đây là điều tôi nghĩ TP.HCM cần đặc biệt suy nghĩ khi mở rộng không gian đô thị.

3. Vùng ven có thể là nơi thử nghiệm một mô hình đô thị khác

Tôi cho rằng vùng ven không nhất thiết phải đi theo một con đường duy nhất:

nông thôn → đô thị → đô thị hóa hoàn toàn.

Chúng ta có thể nghĩ đến một mô hình khác:

nông nghiệp + sinh thái + cư trú + văn hóa + dịch vụ + đô thị.

Trong mô hình đó, phát triển không nhất thiết đồng nghĩa với san lấp, hạ tầng không chỉ là đường và cống... Cây xanh không chỉ là phần diện tích phải đạt trong một đồ án. Di sản không chỉ là những công trình cần “bảo tồn”. Và cộng đồng không chỉ là đối tượng được lấy ý kiến. Tất cả có thể trở thành thành phần chủ động của quá trình kiến tạo không gian sống.

Vì vậy, câu hỏi quan trọng không phải là “đô thị hóa Bình Mỹ sẽ đi đến đâu?” Tôi nghĩ chúng ta nên đặt một câu hỏi khác: Khi đô thị mở rộng, chúng ta muốn Bình Mỹ tăng diện tích đô thị hóa hay mở rộng không gian sống? Hai điều đó không hoàn toàn giống nhau: Một khu đô thị có thể rất lớn nhưng không nhất thiết tạo ra một không gian sống tốt. Ngược lại, một vùng ven có thể không quá “đô thị hóa” nhưng lại có những giá trị rất lớn về sinh thái, văn hóa, cộng đồng và chất lượng sống.

Do đó, bài toán hiện nay không phải chỉ là làm thế nào để vùng ven Bình Mỹ trở thành đô thị nhanh hơn, mà là: làm thế nào để Bình Mỹ có thể chuyển hóa mà không đánh mất khả năng sống của chính nó. Khi đó, hạ tầng xanh không còn là một phần bổ sung cho quy hoạch. Nó trở thành một trong những nền tảng của quy hoạch không gian sống mới của Bình Mỹ.

4. Kết luận

Thứ nhất, cần nhìn xã vùng ven Bình Mỹ như một không gian sống đang tồn tại, chứ không phải một khoảng trống chờ đô thị hóa (hạ tầng cứng).

Thứ hai, cần nhìn hạ tầng xanh ở Bình Mỹ như một hệ thống sống, chứ không chỉ như hệ thống kỹ thuật hay cảnh quan.

Thứ ba, cần nhìn phát triển đô thị ở Bình Mỹ như quá trình tái cấu trúc không gian sống, trong đó tự nhiên, con người, kinh tế, văn hóa và ký ức phải được đặt trong cùng một bài toán.

Nếu làm được như vậy, chúng ta không chỉ tạo ra đô thị vùng ven “xanh” hơn, mà có cơ hội tạo ra một xã/phường Bình Mỹ có khả năng sống tốt hơn, có bản sắc hơn và có khả năng thích ứng lâu dài hơn. Và có lẽ, đó mới là ý nghĩa sâu xa nhất của khái niệm “không gian cộng sinh bền vững” mà workshop hôm nay đặt ra.

Xin trân trọng cảm ơn quý vị!

GHI NHẬN TỪ HỘI THẢO
https://nguoidothi.net.vn/ha-tang-xanh-vung-ven-tai-san-cho-tuong-lai-do-thi-53696.html

Dưới góc nhìn bảo tồn di sản, TS Nguyễn Thị Hậu - Tổng Thư ký Hội Hoa học Lịch sử TP.HCM - Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM - đã thẳng thắn gạt bỏ góc nhìn “hạ cố”, coi vùng ven chỉ là nơi thấp kém, chưa được đô thị hóa hay là quỹ đất dự trữ chờ được xây dựng.

Vị chuyên gia lập luận rằng vùng ven của các đô thị lớn ở Nam bộ thực chất mang bóng dáng của các “huyện Châu Thành” thời xưa, sở hữu cấu trúc không gian sống vô cùng đặc biệt và bền vững. Những vùng ven này luôn giữ một vị thế công bằng, cân bằng mọi mặt đời sống vật chất lẫn tinh thần, và chính sự bình đẳng đó đã giúp nuôi chở, bảo vệ lại khu vực đô thị trung tâm suốt hơn 200 năm qua.

Phản biện lại xu hướng quy hoạch thực dụng hiện nay, bà Hậu bày tỏ sự dị ứng với ngôn ngữ làm dự án: “Tôi rất kỵ cái từ giao đất sạch cho nhà đầu tư. Bởi vì từ đất sạch đấy làm một nhát trên bản đồ là xóa toàn bộ lịch sử, xóa toàn bộ ký ức, xóa toàn bộ đời sống con người và những người đến sau họ hoàn toàn không biết gì về cái nơi đất mà họ đang sống, họ không biết ký ức, và đặc biệt là nó không có cái lòng biết ơn nữa”.

Theo bà, một đô thị hiện đại không bắt buộc phải xây dựng từ một vùng đất trống hay dập khuôn hệ thống hạ tầng cứng của nội thành. Hạ tầng xanh ở vùng ven như Bình Mỹ không chỉ là những mảng màu xanh của cây cỏ hay kênh rạch, mà nó bao gồm nhiều địa tầng đan xen như địa tầng tự nhiên, địa tầng cư trú, kinh tế và đặc biệt là lớp ký ức của cộng đồng.

TS Nguyễn Thị Hậu đưa ra một thông điệp thấm thía khác: “Trước tiên cái gì cũng phải ưu tiên cho cộng đồng cư dân Bình Mỹ. Cho nên du lịch thì tôi vẫn nghĩ là cái thứ hai. Chỉ khi nào đời sống cư dân bản địa được cải thiện, họ thấy được hưởng lợi và tự giác bảo vệ dòng sông của mình, thì lúc đó đô thị mới thực sự phát triển bền vững”.




 

Phản xạ văn hóa các vùng miền Việt Nam

_Nguồn:  https://logbasex.substack.com?utm_source=navbar&utm_medium=web Bản đăng lại từ bài viết trên trang Substack cùng tên của tác gi...