Nguyễn Thị Hậu
NHỮNG NGƯỜI BẠN QUẢNG
BẠN Ở NƠI XA
Internet mang lại cho con người những trải nghiệm thú vị về một thế giới mênh mông mà cũng vô cùng nhỏ bé, khi mà chỉ một cú nhấp chuột là có thể “đến” bất cứ nơi nào mình muốn. Dù ở nơi đâu trên trái đất người ta cũng dễ dàng quen biết nhau, có thể cả đời chẳng gặp mặt mà vẫn trở thành bạn bè. Tôi đã quen nhiều người bạn như thế. Dù thường xuyên gặp gỡ đổi trao thân thiết trên mạng, nhưng khi có cơ hội thì chúng tôi vẫn cố gắng tìm gặp nhau. Và thật may mắn, những cuộc gặp gỡ ấy chưa bao giờ làm chúng tôi thất vọng.
Nhiều năm qua tôi có dịp đi công tác nước
ngoài. Trước khi đi tôi liên lạc với bạn ở nơi tôi sẽ đến và luôn nhận được lời
“rủ rê” của bạn, rằng sẽ đưa tôi đi chơi bảo tàng, di tích ở nơi này
nơi khác. Nhưng rồi do thời gian chặt chẽ của
công việc nên nhiều khi chỉ gặp bạn trong một cuộc cà phê vội vã, may mắn thu xếp
được thì có bạn đến đón và đưa tôi đi quanh thành phố trong thời gian rảnh rỗi
ít ỏi của cả hai.
Một lần ở Berlin tôi được gặp chị H. Tôi quen chị qua facebook, nhưng hóa ra chúng
tôi biết nhau từ thời còn ở Hà Nội khi tôi còn bé xíu. Ngay buổi chiều
đầu tiên khi tôi mới tới, chị đưa tôi đến một nơi khá đặc biệt: Khu tưởng niệm
Hồng quân Liên xô trong thế chiến II, “nơi này rất ít
khách Việt Nam đến tham quan, nhưng là một
trong vài nơi đẹp nhất Berlin”, chị H. nói. Quả là như vậy! Hơn thế nữa, khu tượng
đài mang lại cho tôi nhiều cảm xúc, đã gợi nhớ một thời
chiến tranh ở miền Bắc mà tôi không quên, dù bao nhiêu năm đã trôi
qua.
Sống ở
Berlin hơn 30 năm
mà chị H. vẫn giữ giọng nói nhẹ nhàng, phong cách Hà Nội thuần khiết,
chu đáo, nhiệt tình. Những ngày sau đó dù công vịêc rất bận rộn mà chị vẫn
tranh thủ sau giờ làm việc đưa tôi đi tham quan thành phố. Anh chị
định cư ở đây nhưng thường
xuyên lên mạng xem tin tức, rồi trao đổi với các con để chúng gần gũi hơn với quê hương. Hai con của anh chị học rất giỏi,
nói tiếng Việt khá tốt dù được
sinh ra và lớn lên ở nước Đức.
Có hôm hai chị em về đến nhà đã thấy cháu trai nấu xong bữa cơm. Tôi hỏi
cháu có thích ăn cơm Việt
không, cháu nói rất thích vì mẹ cháu nấu rất ngon. Chị H. cười hóm hỉnh, cả ngày
các con ở trường ăn đồ ăn Tây, nói
tiếng Đức tiếng Anh nên ở nhà ăn cơm Việt để nói tiếng
Việt nhiều hơn. Học ngôn ngữ qua đường… dạ dày là nhanh nhất, phải không?
Ngay sau đó chị “trổ tài” làm ngay một “đặc sản” mà nay ở
Hà Nội cũng ít người có thể nấu ngon: món bún thang. Đây là món ăn rất hấp dẫn,
nhưng nấu thì phải thật tỉ mỉ, công phu. Giữa trời se lạnh xứ Tây mà chị dọn ra
một tô bún thang nóng hổi thơm phức, đúng chuẩn đủ cả bún tươi, gà luộc xé tơi,
trứng tráng mỏng xắt chỉ, giò lụa xắt chỉ, tôm khô, nấm hương và củ cải khô,
thêm nhúm rau răm xanh mướt dậy mùi… Vị ngọt thanh của nước dùng hòa quyện với
vị ngọt đậm của thịt gà vườn - mà chị phải về tận chợ quê để mua gà nông dân
nuôi… khiến tôi ăn một lần và nhớ hoài, chỉ mong lần nữa được thưởng thức tô
bún thang đậm chất “Hà Nội xưa”.
***
Tình cờ
một ngày lướt facebook, tôi nhìn thấy một cái tên đặc biệt nhưng rất quen
thuộc. Tôi đoán đó là người bạn đã bặt tin từ rất lâu. Hai đứa chỉ học chung với
nhau lớp 12 ở trường Marie Curie từ năm 1975. Hồi đó, lớp học phần lớn là các
bạn người Sài Gòn, chỉ có vài người là con cái cán bộ miền Nam tập kết trở về. Ba
má của chúng tôi cùng kháng chiến ở miền Tây thời chống Pháp, cùng tập kết ra
Bắc và hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật, hai người cha rất thân thiết với
nhau. Bởi vậy, bặt tin bao nhiêu năm nhưng khi tình cờ tìm thấy, chỉ một lời
nhắn hỏi là nhận ra nhau ngay. Chúng tôi nối lại liên lạc và đã có dịp gặp nhau
ở Paris. Bạn tôi vẫn giọng Hà Nội dịu dàng như ngày nào, vẫn những nét giống
cha như hồi còn là cô con gái “rượu"...
Câu
chuyện gì của hai người bạn, hai cô thiếu nữ biết nhau khi mới 17 tuổi, nay là
những người phụ nữ “đã toan về già”, một đứa sinh sống trời Tây hơn 30 năm, một
đứa ở Sài Gòn mà thường xuyên vẫn lang thang đây đó? Ký ức về cây kem Tràng
Tiền ở Hà Nội, kem dừa Bạch Đằng ở Sài Gòn, về chuyện xếp hàng thời bao cấp vất
vả khó khăn; chuyện về những người bạn chung, chuyện gia đinh con cái, chuyện
xã hội… Nhưng trong câu chuyện của hai đứa nhiều hơn cả vẫn là kỷ niệm của hai
người cha. Hai ông đều là người trí thức chân chính, “dám làm dám chịu” để bảo
vệ giá trị nhân văn, tiến bộ của tác phẩm văn học - nghệ thuật, bảo vệ những
người tốt trước quan niệm bảo thủ, giáo điều vào thời kỳ đất nước mới thống
nhất… Những điều đó đã để lại cho hai chúng tôi sự hiểu biết, cách ứng xử và
nhìn nhận xã hội giống nhau, để lại cho cả hai đứa cá tính biết chịu đựng mà
cũng biết vượt qua nghịch cảnh để trở thành chính mình.
Trong
chuyến đi chơi, khi qua một quán cà phê thơm lừng mùi bánh crepe, bạn rủ tôi vào
và gọi những chiếc crepe thật ngon, bột mềm mịn thơm mùi bơ, trứng, mỏng mảnh
và dai mềm, với ly cà phê có mấy viên đá để chiều theo sở thích của người Sài
Gòn. Câu chuyện cuộc đời của bạn làm sống dậy ký ức về cuốn tiểu thuyết “Sans
famille - Không gia đình” mà thời thơ ấu chúng tôi cùng yêu thích. Đó là cảnh
cậu bé Remy đang háo hức chờ đợi chiếc bánh crepe ngon lành từ bàn tay của bà
má nuôi Barberin, bất ngờ ông bố Barbarin từ nơi xa trở về… Thế là tất cả bột
cả sữa, cả bơ cả trứng gà mà má Barberin đã phải đi vay hàng xóm… trong chốc
lát bị ông bố đổ tuột vào nồi súp hành. Hết cả bánh lẫn bữa ăn ngon mà hai má
con đã phải chờ đợi rất lâu mới có được. Những chiếc bánh crepe bị “cướp đi” là
dấu hiệu bé Remy bị đẩy ra khỏi vòng tay thương yêu của má Barberin, bắt đầu
bước đường lưu lạc đầy gian truân của cậu.
Bây giờ
tôi mới biết lý do hai đứa bặt tin nhau, vì cuộc đời cũng đã cướp đi “chiếc bánh
crepe” ngon lành của bạn và làm cho bạn bất ngờ phải bỏ lại quê hương ra đi…
Nhưng rồi như cậu bé Remy, vượt lên trên nghịch cảnh bằng nghị lực và tình yêu
gia đình vô bờ bến, bạn đã có được cuộc sống bình an nơi đất khách. Bằng sức
lao động cần mẫn và khéo léo, bây giờ bạn đã là một trong số rất ít thợ lành
nghề nhất của một hãng thời trang nổi tiếng của Pháp, người có thể làm “hàng
mẫu” cho dòng sản phẩm cao cấp nhất của hãng. Không chỉ vậy, bạn còn trở thành
người hướng dẫn, truyền dạy cho những thợ trẻ người Pháp kỹ năng thủ công tuyệt
vời của mình.
Nhìn con
cháu của bạn đã là những cô cậu “người Pháp” giỏi giang, thành đạt, nhưng rất
tình cảm và chu đáo với bạn bè của mẹ từ xa đến chơi, tôi nhận ra rằng, tự bạn
đã có thể làm những chiếc crepe ngon lành cho mình, luôn mang lại cho gia đình
và bạn bè vị ngon đặc biệt của loại bánh này. Giống như cuối cùng cậu bé Remy đã
được hạnh phúc bên gia đình ruột thịt sau nhiều năm xa cách vì nghịch cảnh.
***
Một lần đi trên đường phố Quận Cam (Mỹ), nhìn thấy mấy tàu chuối
vươn khỏi tường rào vẫy vẫy trên hè phố, tôi bỗng nhớ nhà da diết dù chỉ mới xa
nhà hai ngày trong đó có gần 20 giờ trong chuyến bay dài. Hỏi bạn, ở đây trồng
nhiều chuối không? Bạn như hiểu, trả lời: chị thấy nhà ai mà trồng bụi chuối
thì gần như chắc chắn là nhà người Việt mình. Ừ càng đi xa lại càng muốn lưu lại
chút gì của quê hương bên mình.
Bụi chuối sau hè, hồi nhỏ là sự sợ hãi mỗi tối khi phải ra đó vì một
lý do mà ai cũng như ai, là niềm vui khi thấy bắp hoa bắt đầu kết thành buồng
bé xíu xinh xinh, lớn dần lên, rồi từng nải trái già căng, mẹ chặt mang vô dựng
trong bếp gần khạp gạo. Vài bữa khi trái hườm hườm, nải chuối ngon nhất, đẹp nhất
được cha đặt lên bàn thờ ông bà, thắp nén nhang trước là lấy thảo sau là lấy
hơi ấm cho cả nải chín đều. Bạn nhắc hoài, bữa cơm Nam bộ ít khi thiếu vài trái
chuối sứ, từ con nít đến bà già đều quen với chén cơm chan nước cá kho thịt kho
ăn với chuối chín. Nhà có đàn bà sanh nở luôn có buồng chuối chín dần, canh chuối
sứ nêm chút muối chút đường là món ăn lợi sữa rất lành và cũng rất rẻ tiền, dễ
kiếm. Giữa buổi mà đói, có chén chè chuối
hay cái bánh chuối chiên thì không còn gì bằng.
Một người bạn khác có lần đi đâu đó đến tận bờ biển Mexico xa xôi.
Email bạn gửi cho tôi đầy thảng thốt: trời ơi, tui như đang ở bãi biển quê
mình, cũng hàng dừa đong đưa trong gió chiều, cũng mùi thơm của mực tươi cá
tươi, của ốc của sò nướng trên than hồng, cũng mấy trái khóm trái chuối mà mấy
bà đội cái thúng trên đầu mang bán… nhớ nhà quá trời… Bạn đã hơn 40 năm sống ở
Cali, đã tự coi mình như một người Mỹ “chánh hiệu”, vậy mà chỉ mùi thơm khói bếp
than cũng làm bạn bần thần rồi quyết tâm “tết này sẽ về nhà” dù ở quê nhà bạn
chẳng còn ai cả.
Đặc biệt khi đến những ngôi nhà của các anh chị thì nhận ra ngay “nhà
Việt”. Không chỉ có táo, nho, lê, mận căng mọng trĩu cành, chỉ nhìn thôi đã thấy
vị ngọt thấm vào tận… bao tử, mà ngon hơn cả là giàn bầu bí xanh non, những ngọn
mùng tơi, rau muống, đậu đũa, khổ qua xanh mướt trong khu vườn nhỏ. Tôi nói
đùa: tranh luận về “nguồn gốc dân tộc” làm gì cho mệt, cứ nhìn cái vườn, nhìn bữa
ăn thì biết ngay là người Việt gốc… rau: thiếu rau xanh thì không thành bữa cơm
Việt.
Dù ở nơi nào trên thế giới, qua hàng chục năm xa đất nước nhưng các
anh chị, bạn bè vẫn lưu giữ từng mảnh quê hương: chỉ là bữa bánh xèo Nam bộ với
rổ rau sống xanh tươi đủ vị, đĩa rau luộc chấm nước mắm dầm trứng, tô phở gà đậm
đà “Hà Nội”, bình gốm Bát Tràng, đĩa sơn mài mua từ phố cổ, những cuốn sách mới
xuất bản ở trong nước, giọng nói Sài Gòn hay Hà Nội thuần khiết của một thời
chưa xa, sự tinh tế trong giao tiếp, ký ức một thời “Sài Gòn hoa lệ” hay những
năm “Hà Nội thời bao cấp”… Tất cả đã mang lại cho tôi cơ hội chiêm nghiệm một
quy luật “văn hóa càng đi xa càng được bảo tồn nguyên vẹn”. Những người bạn ở
xa… thời gian các anh chị gắn bó với quê hương dù nhiều hay ít nhưng những gì họ
mang theo đã trở thành ký ức bền vững, bởi được nuôi dưỡng bằng tình yêu gia
đình, tình yêu đất nước.
Mỗi lần chia tay bạn bè, tôi đều hẹn sẽ gặp lại, hàng ngày, trên
internet. Để chia sẻ với nhau những khó khăn những nỗi buồn, để góp từng niềm
vui, mang lại cho nhau chút bình yên khi cuộc sống còn quá nhiều bề bộn và bất
trắc…
TÔI CÒN NỢ MÙA HÈ NƯỚC PHÁP
Tôi đến nước Pháp vài lần, vừa là cái duyên từ những ký ức qua văn chương thời thơ ấu, vừa là kỳ duyên với những người bạn vong niên thân quý. Năm nay ánh nắng ấm áp mùa hè nước Pháp theo tôi suốt những con đường tôi qua…
Nhớ Bảy Bạch, Lục Vân Tiên của sân khấu Nam bộ
Nếu Bảy Bạch còn sống, năm nay ông tròn 100 tuổi - cùng tuổi thi sĩ Hoàng Cầm Lá diêu bông (1922 - 2022).
Ông Bảy Bạch mất, sân khấu Việt hiện đại, đặc biệt là sân khấu Nam bộ, đã vắng thiếu một Lục Vân Tiên đầy tinh thần nghĩa hiệp, hào sảng, phóng khoáng và khí khái rặt chất Nam bộ. Bảy Bạch – một đời “sinh ư nghệ, tử ư nghệ” với sân khấu, đúng như tên cuốn sách của ông: Nguyễn Ngọc Bạch – một đời sân khấu (NXB Tổng hợp TP.HCM, xuất bản năm năm 2020. Sách do con gái út Nguyễn Thị Hậu của ông biên soạn và biên tập).
Hoạ sĩ Hoàng Lập Ngôn, trường phái hội họa cá nhân “Tinh tướng họa”, vẽ chân dung ông Bảy làm bìa sách: mái tóc Bảy Bạch bồng bềnh, cặp kính cận gọng lớn và vẻ mặt đầy hưng phấn nghệ sĩ, với một nụ cười mỉm hồn hậu, rất chi là… Bảy Bạch.
Và tôi ngồi nhớ ông, người nghệ sĩ Nam bộ mang rõ phong cách của Lục Vân Tiên, tinh hoa tính cách người Nam Bộ vào sân khấu, với tràn đầy nhiệt huyết, tận tụy hết mình – đúng tinh thần “Giữa đường thấy sự bất bằng (bình) chẳng tha”.
Ấn tượng Bảy Bạch
Ngay từ hồi mới chuyển từ Trường Viết văn Nguyễn Du về làm ký giả kịch trường cho Tạp chí Sân khấu năm 1977, hai vị tổng, phó tổng thư ký của tạp chí này: thi sĩ Lưu Trọng Lư và nhà viết kịch Xuân Trình đã yêu cầu tôi phải “công du” Sài Gòn đặng tìm hiểu, phản ánh tình hình sân khấu của thành phố này. Và phải đến “trình diện”, đối thoại với một nhân vật sân khấu Nam bộ rất đặc biệt: đạo diễn Nguyễn Ngọc Bạch – vốn là Trưởng Đoàn Cải lương Nam bộ, Phó giám đốc Nhà hát Cải lương Việt Nam, Trưởng Đoàn Kịch nói Nam bộ, từ trước năm 1975 ở Hà Nội.
Khi tôi võ vẽ theo nghề bình luận kịch trường thì ông đã kịp trở về TP.HCM sau năm 1975, làm Trưởng Đoàn Kịch Cửu Long Giang (vốn có gốc gác từ Đoàn Kịch nói Nam bộ ở Hà Nội). Sau đó, ông trở thành Phó Tổng thư ký Hội Sân khấu TP.HCM, rồi Phó Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin TP.HCM.
![]() |
| Đạo diễn Nguyễn Ngọc Bạch. |
Cuốn sách đã tập hợp và tinh tuyển những bài biết của chính Bảy Bạch theo dọc dài năm tháng cống hiến cho sân khấu. Bốn mươi năm, kể từ cột mốc lịch sử tháng 8.1945 cho đến khi ông về cõi tháng 10.1985. Kỷ niệm của tôi với ông đã rơi vào đoạn đời rực rỡ và “hiệp sĩ” nhất của ông – là ở Đoàn Kịch Cửu Long Giang, đoàn kịch căn cơ, lớn nhất, “đổ bộ” từ Hà Nội về quê hương Nam bộ sau bao nhiêu năm “ngày Bắc đêm Nam” của trưởng đoàn Bảy Bạch khi ông lên tàu tập kết ra Bắc.
Khi tôi được gặp ông lần đầu tại TP.HCM, ông nở nụ cười hồn hậu, gọi tôi thân thương theo cách Nam bộ, là “con nhỏ Hà Nội ký giả kịch trường”. Ông giới thiệu lịch sử Đoàn Kịch Cửu Long Giang, mời tôi xem vở diễn hay nhất của đoàn, giúp tài liệu và đối thoại với tôi về các vai diễn xuất sắc nhất của dàn diễn viên: Văn Thành, Tú Lệ, Thương Tín, Thành Trí, Minh Trí…
Rất may mắn là Bảy Bạch sau bao năm cống hiến ở vai trò lãnh đạo nhà hát, đoàn hát, và sau bao năm thử nghiệm ngôn ngữ dàn dựng của đạo diễn sân khấu, ông đã “lận lưng” được một nghề rất căn cơ, vốn đã là tảng nền của sân khấu hiện đại, đó là nghề đạo diễn – tác giả của vở diễn.
Ông Bảy Bạch vô cùng yêu mến và quan tâm đến người xem và thị hiếu thẩm mỹ của họ ở vùng văn hóa phương Nam này. Ông hiểu rõ rằng khán giả còn thì sân khấu còn. Khán giả quay lưng thì sân khấu mất trắng. Song, muốn sân khấu còn, nhất là sân khấu thể loại kịch hiện thực xã hội chủ nghĩa vẫn còn rất mới mẻ, thì nhất quyết phải đề cao tính tư tưởng, tính giáo dục cho vở diễn. Và điều này, phụ thuộc trước hết vào người đạo diễn – tác giả của vở diễn. Vở diễn là phải diễn trên sân khấu cho người xem. Muốn diễn, thì phải có ngôn ngữ dàn dựng của đạo diễn, trên cơ sở kịch bản hay, thì mới có vai kịch hay cho diễn viên sắm vai. Và phải có cái diễn thì mới có cái để xem.
Đạo diễn Nguyễn Ngọc Bạch với các nghệ sĩ cải lương Sài Gòn.
Cho nên, với tư cách một đạo diễn tự học, tự xây cất ngôn ngữ dàn dựng bằng nghiệm sinh trong thực tế hành nghề, Bảy Bạch đặc biệt yêu quý những đạo diễn người Nam bộ được đào tạo ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa như Thành Trí, Bạch Lan, Đoàn Bá, Minh Trị, Ca Lê Hồng, Huỳnh Nga… Khi làm Phó Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin kiêm trưởng phòng nghệ thuật, ông phát hiện và mời Minh Trị, Minh Quân, Văn Thơm làm phó phòng, với linh cảm của người quản lý tài giỏi rằng đã giao việc đúng người. Mà đúng người đúng việc thật. Công việc cứ chạy ro ro như không cần người “bẻ lái”.
Cha - con và hai ngả đường
Xem phụ lục của cuốn sách này, với cái tên Nhớ người ra đi, mới thấu suốt rằng bạn bè sân khấu và người thân của Bảy Bạch đã thấy thiếu vắng khi ông dứt áo ra đi khỏi cõi trần ai này, kinh khủng đến thế nào. May mắn nhất là ông còn để lại những chữ và chữ mà ông đã ghi chép miệt mài, ròng rã suốt 40 năm sống chết vì nghề.
Và ông đã để lại giữa đời một sản phẩm cũng thật đẹp dù không phải là sản phẩm sân khấu: tiến sĩ khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu, tưởng chẳng liên hệ gì đến nghề sân khấu của cả đời ông Bảy. Cha và con đã không đi chung đường nghệ thuật dù ông Bảy rất cưng chiều con gái út Nguyễn Thị Hậu.
![]() |
| Gia đình đạo diễn Nguyễn Ngọc Bạch ở Hà Nội năm 1973 (TS. Nguyễn Thị Hậu đứng bìa phải). |
Người chính gốc An Giang, ông vẫn giữ giọng Nam bộ khi tập kết, ở Hà Nội hàng hai mươi năm, có thể thay giọng Bắc để giao tiếp với người Bắc, nhưng ông vẫn giữ chắc giọng Nam và cách nói Nam bộ, khi khen tôi: “Con nhỏ Hà Nội lanh trí, thạo nghề ký giả kịch trường”, làm tôi thấy thú vị đáo để. Nguyễn Thị Hậu trưởng thành trong vòng tay cha êm đềm, không bị “chỉ định” phải nói giọng Nam, càng không bắt phải theo nghề cha. Cô cứ lanh lảnh giọng Hà Nội như chuông và báo tin cho cha biết đã thi đỗ Khoa Diễn viên Trường Nghệ thuật Sân khấu 2 TP.HCM. Ông Bảy nghiêm nghị, lập tức mời con gái “đối thoại sân khấu”, và đơn giản chỉ bảo: muốn làm nghề diễn viên sân khấu thì phải có tài năng, nhất thiết phải có tài năng mới làm được.
Hậu nghĩ: “Cha nói phải củ cải cũng nghe”.
Hậu nghe lời cha, thi vào Khoa Sử Trường Đại học Tổng hợp TP.HCM và được giữ lại trường giảng dạy. Và sau đó được giáo sư Trần Quốc Vượng hướng dẫn, bảo vệ thành công luận án tiến sĩ khảo cổ học. Ông Bảy mừng hết biết trước thành công của con gái út với lời lẽ không thể giản dị và hạnh phúc hơn: “Rồi con cũng nối tiếp được nghề dạy học của cha, dạy tiểu học hay đại học thì cũng là người thầy con à”. Sau ngày mất cha, Hậu và má cùng chị em trong gia đình bị hẫng hụt, chênh vênh trong một thời gian dài, không thể nào nguôi.
Gia đình Hậu vẫn như trước khi cha mất, mâm cơm gia đình vẫn dành cho ba một đôi đũa, một cái chén và mọi người vẫn như có ý ngóng chờ ba về ăn cơm nhà… Hậu nghĩ trong nước mắt rơi ngược vào lòng: Ba cô – Bảy Bạch đã sống đời giản dị của một người cộng sản, đẹp như thế và đến thế…
PGS-TS. Nguyễn Thị MinhThái - Ảnh: TLGĐ
MINH MẠNG – TỰ ĐỨC VÀ NHỮNG LẦN LỠ HẸN CỦA NGƯỜI VIỆT (Midnight Talks)
Tối qua mình tham gia cuộc trò chuyện này, từ 21g – 24g. Người tham gia lúc
đông nhất đến hơn 700 và ngồi đến cuối cũng khoảng 500 người. Có nhiều người
quen biết, thân thiết do cùng nghề, cùng sự quan tâm về lịch sử... Nhiều người
mình từng đọc nhưng chưa quen chưa gặp. Nhưng người tổ chức Midnight Talks là Nguyễn Cảnh Bình thì hai chị em đã có dịp gặp nhau ở tận... Hungary từ
10 năm trước, người dẫn là Vũ Đức Liêm mình đã đọc nhiều bài viết của anh, còn
diễn giả Trần Đức Anh Sơn thì quá thân, hai chị em số phận dịch chuyển như nhau
trong quá trình làm việc, một phần quan trọng do thẳng thắn và biết từ bỏ nơi
không phải của mình.
Cuộc trò chuyện thú vị ngay từ những phát đầu và càng về sau càng hấp dẫn,
không chỉ vì các vấn đề của triều Nguyễn mà khoảng hơn mười năm trở lại đây, đã
có nhiều nghiên cứu, đánh giá khác trước, công khai, công minh và khách quan hơn.
Có thể nói cuộc hội thảo quốc tế về CHÚA NGUYỄN VÀ VƯƠNG TRIỀU NGUYỄN tổ chức tại
Thanh Hóa năm 2008 là dấu mốc cho sự thay đổi này. Tư liệu lịch sừ, công trình
nghiên cứu nước ngoài được dịch, xuất bản nhiều hơn, mạng internet giúp kiến thức
phổ biến nhanh chóng hơn, và sự lạc hậu trong chương trình dạy và học lịch sử -
nhất là ở bậc phổ thông - cũng làm tăng thêm sự quan tâm của xã hội với lịch sử,
đặc biệt là lịch sử thời Nguyễn và lịch sử hiện đại VN.
Trong bối cảnh đó, những người nghiên cứu lịch sử có bản lĩnh và tri thức đã
có thể tìm thấy những câu trả lời cho mình trong nhiều vấn đề lịch sử còn bị đánh
giá thiên lệch, thậm chí cực đoan “bảo hoàng hơn vua”. Những câu hỏi nhẹ nhàng mà
sắc sảo của anh Vũ Đức Liêm, sự lý giải cặn kẽ, khúc chiết và logic của Trần Đức
Anh Sơn đã thể diện điều đó. Một điều nữa mình tâm đắc là các câu trả lời luôn
là một “sự lý giải” từ góc độ tiếp cận, từ tư liệu lịch sử mới, từ so sánh đối
chiếu các sự kiện trong bối cảnh trong nước và rộng hơn... do vậy luôn “mở’, không
trả lời kiểu chắc “như đinh đóng cột” và khẳng định “chỉ như thế”. Bởi lịch sử
càng lùi xa càng ở “phổ rộng’ thì càng rõ ràng từng chi tiết.
Hai vấn đề chốt của Midnight Talks (mình nhớ không thật chính xác câu chữ, nhưng nội dung thì đúng) là:
1/ Thời Tự Đức mất nước vào
tay Pháp là tất yếu. Có những nguyên nhân nào?
2/ Quan hệ với Trung Hoa có
ảnh hưởng thế nào đến triều Nguyễn (nói riêng và lịch sử VN nói chung)
Là một người tham gia nhưng mình cũng bị Nguyễn Cảnh Bình “túm” phải, cũng
tham góp vào 2 vấn đề trên mà Vũ Đức Liêm đặt ra cho một số anh chị khác. Thời
gian của nói chuyện không cho phép nên mình tham gia 2 ý kiến ngắn. Bây giờ viết
lại mình diễn giải rõ hơn 1 chút.
Vấn đề 1/ Có nguyên nhân nội tại: đến thời Tự Đức triều Nguyễn chưa có được sự
thống nhất thực sự về “lòng dân”, hậu quả của hơn 200 năm đàng trong – đàng ngoài,
Tây Sơn – Nguyễn Ánh... Gần hơn là việc lập kinh đô ở Huế, ở phía Bắc thì xóa bỏ
vị thế “kinh đô ngàn năm” của Thăng Long; phía Nam sau loạn Lê Văn Khôi thành
Gia Định cũng bị phá đi và xây lại Thành Phụng nhỏ hơn nhiều. Kiểu như phá di sản
(vật chất, tinh thần) của triều trước nên gây ra sự “tổn thương tinh thần” không
nhỏ cho cộng đồng. [Thật ra hiện tượng này thường phổ biến, phản ánh tâm thế “bên
thắng cuộc” muốn giữ ổn định “đồng nhất tinh thần” và bảo vệ thành quả sau chiến
tranh]
- Cải cách xã hội luôn bắt đầu từ sự “thuyết phục” nhau thực hiện điều tốt,
có lợi, cả hai bên thuyết phục và bị thuyết phục đều “thắng” vì xã hội phát triển
hơn, kịp với thời đại. Thế nhưng dường như ở VN mình cả 2 yếu tố biết nói (thuyết
phục) và biết nghe (chấp nhận cái mới, khác biệt) đều kém. Quan văn “trình bày”
thì quan võ “nạt nộ” ngay, phe “chủ chiến” thường thắng phe “chủ hòa”. Mà cải cách
là quá trình lâu dài khéo léo, biết học người khác, chứ không thể “thần tốc” hay
quyết tâm chính trị mà được.
Tính cách văn hóa của dân tộc có can dự vào quá trình lịch sử, thậm chí còn
góp phần làm nên số phận dân tộc.
Vấn đề 2/ Quan hệ Việt Nam – Trung Hoa trong lịch sử
khá phức tạp. VN luôn đánh thắng kẻ thù phương Bắc nhưng thắng xong rồi thì triều
cống và ứng xử đúng như nước nhỏ với nước lớn. Tâm lý mặc cảm với nền văn minh
vĩ đại của Trung Hoa mâu thuẫn với tâm lý tự tôn “luôn chiến thắng chúng mày” tạo
nên ứng xử khá là “linh hoạt”, kiểu khôn lỏi của anh nông dân trong “cây tre trăm
đốt” để có cái lợi nhỏ cho mình. Mặt khác thế giới Trung Hoa là hình mẫu, quen
thuộc ngàn năm nên VN hầu như không nhìn ra ngoài, nhìn thấy gì khác mình.
Điều này hạn chế sự hội nhập với thế giới ngay từ
khi tiếp xúc với văn minh phương Tây với nhiều yếu tố quá lạ lẫm khác biệt, dẫn
đến sự “từ chối” mở cửa như trong thời Nguyễn.
Với mình, bài học từ lịch sử VN luôn là: đừng chỉ nhìn
vào nhau (nhìn vài nước bên cạnh, tức là đừng chỉ nhìn vào ao làng) để rồi cứ “mặc
cảm” hay “tự hào”, mà hãy nhìn ra bên ngoài, ra đại dương, rồi nhìn lại chính mình.
Mới thấy nước mình đang ở đâu, thế nào, mới có thể quyết định đi đường nào tốt
nhất!
Cám ơn các bạn Nguyễn Cảnh Bình, Vũ Đức Liêm và Trần
Đức Anh Sơn và các anh chị khác đã gợi mở và kiến giải một cách thẳng thắn,
khoa học những vấn đề lịch sử của Triều Nguyễn mà cho đến bây giờ, vẫn còn có
người cho rằng đó là vấn đề “tế nhị, nhạy cảm”!
Hy vọng sẽ có thêm nhiều buổi sinh hoạt khoa học thú vị và bổ ích như vậy.
P/S/. Sau buổi trò chuyện, nghĩ mãi, mình chợt tự hỏi:
Với tất cả những nguyên nhân cả khách quan và chủ quan mà các diễn giả và khách
mời đã nêu ra, liệu có thật sự chúng ta đã LỠ HẸN với thế giới – như chủ đề của
Midnight Talks? Vì phải có HẸN thì mời LỠ, còn không hẹn, thậm chí
không biết hay là không muốn HẸN thì làm sao có thể LỠ HẸN? :)
NHỮNG NGƯỜI HÀ NỘI TÔI VỪA GẶP LẠI
Tôi đọc những cuốn sách của nhà văn Vũ Ngọc Tiến từ lâu, rồi quen biết ông qua facebook, đôi lần được ngồi cà phê trò chuyện cùng ông và các nhà văn, nhà báo ở Hà Nội, Sài Gòn... Thật bất ngờ và cảm động được nhà văn gửi tặng cuốn sách mới của ông với lời nhắn “gửi em đọc những câu chuyện về Hà Nội của anh”.
“Hà Nội và Tôi” gồm 24 truyện ký phản ánh Hà Nội trải qua gần trăm năm, từ thời các nhà nho cuối mùa đến thời chiến tranh, thời bao cấp rồi đổi mới... Giọng văn điềm đạm mà thiết tha, đôi chỗ hóm hỉnh, nhà văn Vũ Ngọc Tiến như đã dựng một cuốn phim “nhân học xã hội” về Hà Nội. Những người Hà Nội hiện lên tự nhiên như chính họ là, không cố thể hiện hay phân biệt ai là “Hà Nội gốc” còn ai thì không. Hà Nội thời ấy đâu coi người phố người quê là ai hơn ai kém, làm ăn buôn bán ở 36 phố phường hay sinh sống ở khu phố Tây thì “ai mà chẳng có một nhà quê”, có khi ở ngay ngoại thành Hà Nội.
Thế kỷ 20 Hà Nội chịu nhiều biến động, những chân dung mà nhà văn Vũ Ngọc Tiến ký họa bằng ngôn từ đã cho thấy người “Hà Nội gốc” không phải là đã sinh sống bao lâu ở Hà Nội, mà quan trọng hơn là “nếp nhà” được gìn giữ thế nào. Xã hội thay đổi làm quan hệ gia đình, nhân cách và hành xử cũng biến đổi theo... Nhưng những “người Hà Nội” trong tập sách này dù có nghề nghiệp đàng hoàng hay phải làm những việc “bên lề xã hội”, có người chẳng may phạm tội vướng vòng lao tù... thì họ vẫn luôn tâm niệm “giấy rách phải giữ lấy lề”. Nếu lâm vào hoàn cảnh suy sụp về địa vị và kinh tế, không thể “thích nghi” với thời thế thì họ cũng cố gắng gìn giữ gia phong.
Nhờ được lắng đọng trong các dòng họ nổi tiếng hay những gia đình bình dị, khí chất Hà Nội càng tinh túy và bền chặt. Giàu hay nghèo, người Hà Nội xưa cần mẫn làm ăn, tính toán khéo léo nhưng không “cạn tàu ráo máng”, thương người cơ nhỡ khó khăn, cư xử lịch thiệp mà thân thiện, trên dưới rõ ràng mà vẫn tình nghĩa sau trước, gia cảnh thế nào cũng ăn ở nền nếp. Giàu mà sang là thế, nghèo nhưng không hèn là thế, người xưa trọng nhau vì nhân cách ấy.
Trong “Hà Nội và Tôi” có vài chân dung “người nhà quê” nhưng với tôi, đó vẫn là người Hà Nội. Bởi vì, vào thời ấy khi lên thành phố họ đã mang theo những gì tốt đẹp của làng quê, rồi tiếp nhận và bồi đắp thêm “chất Hà Nội” được hình thành và lưu giữ qua ngàn năm Thăng Long. Sau này, dân cư Hà Nội biến động quá nhanh, cuộc sống hiện đại như một dòng chảy ồ ạt, cứ chưa hết một “kế hoạch năm năm” đã lại có một lớp người Hà Nội mới theo tiêu chí đầu tiên là cái hộ khẩu. Hà Nội ngày càng mở rộng và đông đúc thì “chất Hà Nội” ngày càng khó mà tìm thấy...
“Hà Nội và tôi” là những ký ức và chiêm nghiệm của tác giả cũng như thế hệ người Hà Nội trưởng thành vào nửa sau thế kỷ 20. Tôi cũng được trải qua một thời gian ngắn như vậy, vì vậy cuốn sách mới của nhà văn Vũ Ngọc Tiến như đã cho tôi được “gặp lại” những người Hà Nội mà tôi quen thuộc từ thời thơ ấu.
Sài Gòn, tháng 8.2020
NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI ĐÔ THỊ SÀI GÒN

HAI TẬP THƠ TRÀN ĐẦY CẢM XÚC
Sơn mất tháng 4.2018, khoảng gần một năm sau (3.2019) thì chị Hào – vợ anh Duy cũng mất sau một thời gian bệnh nặng. Hai tập thơ này anh Nguyễn Duy thực hiện rất cẩn thận với tất cả tình yêu dành cho vợ và con trai – tình yêu mà khi hai người còn sống có lẽ anh ít khi nói ra bằng lời.
Xin cám ơn anh Nguyễn Duy!



TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)
https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...
-
Trích phần 3 của bài đăng trên tạp chí Di sản văn hóa số 3(15) 2023 3. Bảo tồn và phát triển nghệ thuật gốm Chăm ở Bàu Trúc trong bối cảnh ...
-
Một người bạn fb bất ngờ ra đi. Post bài thơ rất hay của bạn. Tôi biết Cao Hải Hà qua mạng Yahoo blog và sau là FB. Vài lần gặp Hà ở chỗ ...
-
Người Việt có một số thành ngữ và sự tích liên quan đến cá trê, như truyện Trê Cóc chẳng hạn. Câu chuyện không chỉ là việc Trê tranh giàn...






