Hiển thị các bài đăng có nhãn bạn bè. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bạn bè. Hiển thị tất cả bài đăng

NHỮNG NGƯỜI BẠN QUẢNG

Nguyễn Thị Hậu

Tôi có nhiều người bạn Quảng, có người gốc Quảng nhưng có người định cư lâu năm nên cũng mang đậm tính cách Quảng. Tôi quen biết họ từ những nguyên do hoàn cảnh khác nhau, vậy mà với ai tôi cũng được dành những tình cảm ấm áp lâu bền.
Người Quảng “không hay cãi”
Hồi học đại học lớp tôi rất đông. Đó là những năm vừa sau chiến tranh nên có rất nhiều người lính xuất ngũ trở lại giảng đường đại học. Cả khóa học của tôi “xanh màu áo lính”, chỉ có một số gương mặt non choẹt của mấy cô cậu học sinh vừa tốt nghiệp phổ thông. Bạn xứ Quảng Hồ Xuân Tịnh nằm trong số ít ấy, như tôi. Bạn là cậu trai có phần lặng lẽ, gương mặt trầm tĩnh với cặp kính cận không có gì nổi bật. Chỉ đến khi cùng học ngành khảo cổ tôi mới biết nhiều hơn về bạn. Tôi nhớ mãi chuyến đi thực tập ở Thánh địa Mỹ Sơn vào khoảng năm 1979. Cả lớp đi xe đò từ Sài Gòn ra Đà Nẵng, rồi tất cả đến ở nhờ nhà của bạn một đêm. Đó là một ngôi nhà phố nhỏ bé, có cái gác lửng cũng nhỏ xíu, vậy mà gia đình bạn đã rộng lòng đón tiếp chúng tôi. Lần đầu tiên tôi được ăn mỳ Quảng là ở đây “ngộ ghê, mỳ gì mà nước có chút xíu, lại ăn với bánh tráng?”.
Sáng sớm hôm sau cả lớp đi Mỹ Sơn, có đoạn đi xe đò chạy bằng than củi bụi đen mù mịt, nhiều đoạn đi bộ mang vác lỉnh kỉnh ba lô, cuốc xẻng… Trên con đường mòn đi vào Mỹ Sơn (hồi đó chưa có đường lớn như bây giờ), giữa trưa nắng gắt, thỉnh thoảng bạn xách đồ giùm cho chúng tôi - hai bạn nữ trong một lớp toàn nam giới – để chúng tôi đi kịp mọi người. Những ngày thực tập ở đó vô cùng vất vả, nhưng rảnh rỗi bạn lại ôm cây đàn ghi ta chơi nhạc… Lúc đó trông bạn thật lãng tử…
Tốt nghiệp đại học bạn về lại xứ Quảng và làm công tác bảo tàng – khảo cổ. Những dấu ấn đặc biệt của khảo cổ học xứ Quảng đều có phần công sức của bạn trong đó. Từ các cuộc khai quật di tích văn hóa Sa Huỳnh đến nghiên cứu tháp cổ Champa, từ khai quật tàu đắm Cù Lao Chàm đến bảo tồn phố cổ Hội An… Thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau trong các dịp hội thảo, hội nghị của ngành. Dù cũng là một “quan chức” nhưng bạn vẫn không thay đổi với nụ cười hiền lành như cậu sinh viên ngày xưa… Có lần tôi hỏi vui: này, sao cũng người Quảng mà ông “hiền” quá vậy, chẳng thấy ăn to nói lớn, cũng không “hay cãi”? Bạn lại cười ánh mắt vui vui lấp lánh sau cặp kính.
Người Quảng gốc Huế
Trong cuộc hội thảo cách đây khoảng 20 năm, có một người dáng cao gầy, da ngăm đen, tóc tai bù xù đến trước mặt tôi và nói: bà Hậu khảo cổ phải không? Tui mới đọc bài “nhà cổ Bình Dương” của bà, hay quá! Tui cũng đang làm về nhà cổ nè. Tôi hơi ngơ ngác nhưng rồi nhận ngay ra anh, họa sĩ Nguyễn Thượng Hỷ - người “đóng đô” ở thánh địa Mỹ Sơn hàng chục năm, dù gốc Huế nhưng tính cách của anh lại đậm chất Quảng. Tôi đã được biết nhiều công trình của anh nhưng đến lúc đó mới gặp mặt. Những lần sau đó, nói chuyện với anh bao giờ tôi cũng ngơ ngơ mất một lúc vì không hiểu anh nói gì, và anh lại đùa tôi: có bằng B tiếng Duy Xuyên chưa mà ra Mỹ Sơn làm việc?
Một người ham đi và đi mải miết suốt bao năm tháng trong thời gian là “cán bộ nhà nước”, không chỉ đi bằng đôi chân dẻo dai của người làm công tác bảo tồn di sản, mà anh còn “đi” từ những kiến thức học được trong dân gian, từ lý thuyết của những người thầy Nhật Bản đến thành quả cụ thể: tự phục dựng một ngôi nhà mái lá khung tre vách đất ở gần thánh địa Mỹ Sơn – một kiểu mẫu về bảo tồn kiến trúc sinh thái, môi trường, mang ý nghĩa văn hóa bản địa đặc sắc. Anh không thể nhớ anh đã đi bao nhiêu lần đến các tỉnh thành trong cả nước, nhất là khu vực miền Trung, để đo, vẽ, chụp hình, khảo tả những ngôi nhà cổ mà anh tìm thấy, hoặc nghe ai mách bảo nơi nào có nhà cổ là anh lại tìm đến ngay. Có bao nhiêu kinh nghiệm, kiến thức về nhà cổ truyền, anh đều nhiệt tình truyền dạy cho thế hệ đàn em, cho học trò.
Có lần anh nhắn: bà ra Quảng Nam ở đi, tui làm cho bà một cái nhà y vậy, tha hồ mà ngồi mơ màng viết lách. Nhưng chưa kịp nghe theo lời rủ rê ấy thì biết anh… vừa nghỉ hưu sớm. Nghỉ hưu nhưng muốn gặp anh còn khó hơn, vì nhiều nơi mời anh đến nghiên cứu nhà cồ truyền, rồi phục dựng nhà cổ để bảo tồn hay để làm du lịch… Tình yêu của anh với nhà cổ truyền không chỉ là một họa sĩ nhận ra và chiêm ngưỡng sự hoàn mỹ của những công trình dân gian, mà sâu xa hơn là từ tình yêu di sản văn hóa. Mỗi chi tiết của ngôi nhà cổ cũng chứa đựng biết bao thông tin, tri thức mà cha ông nhắn gửi cho thế hệ sau – anh luôn nói với chúng tôi như thế.
Người Quảng “giải mã giọng Quảng”
Có lần tôi hỏi một bạn người xứ Quảng: “này, sao người Quảng thường trả lời một câu hỏi bằng một câu hỏi khác mà ít khi trả lời thẳng? Ví dụ: Có phải đi đường đó không? – Chớ không đi đường đó thì đi đường mô?”, thì bạn trả lời ngay: Chớ không nói rứa thì nói răng?
Câu trả lời của bạn càng làm cho tôi thấy đây là một hiện tượng văn hóa rất lý thú.
Từ nhiều năm trước tôi được đọc một công trình về “tiếng Quảng Nam” và gần đây lại biết thêm một công trình nữa cùng chủ đề. Cả hai tác giả đều là người Quảng hoặc từ nhỏ đến lớn sống ở Quảng Nam, mỗi tác giả từ góc tiếp cận khác nhau và đưa ra những kiến giải khác nhau. Công trình “Có 500 năm như thế” của anh Hồ Trung Tú ngay từ lần xuất bản đầu tiên đã mang lại một góc nhìn mới: lý giải một hiện tượng ngôn ngữ từ góc độ lịch sử - hoàn cảnh đặc thù của xứ Quảng từ thế kỷ 15. Ngắn gọn là sự hình thành hay nguồn gốc tiếng Quảng Nam là do người Chăm nói tiếng Việt trong một hoàn cảnh đặc thù.
Thật ra ai đã từng học hay từng đọc các cuốn sách GS Trần Quốc Vượng đều tiếp nhận được ít nhiều phương pháp tiếp cận liên ngành lịch sừ - văn hóa của giáo sư: Thầy Vượng luôn đặt các sự kiện lịch sử trong bối cảnh văn hóa rộng hơn để có thể thấy những tác động đa dạng, đa tuyến, sự phức tạp của lịch sử, của các hiện tượng văn hóa. Từ đó nhìn nhận nguyên nhân hay kết quả một cách khách quan nhất có thể.
Trong các thành tố văn hóa, tìm về nguồn gốc của ngôn ngữ và ẩm thực là thú vị nhất, bởi sự giao lưu tiếp nhận hay loại bỏ đôi khi không theo “quy luật khoa học, hàn lâm” mà mang đậm dấu ấn cuộc sống. Ngôn ngữ cũng như nhiều hiện tượng văn hóa, không phát triển đơn tuyến và đơn giản, nhất là trong bối cảnh lịch sử Xứ Quảng là nơi tiếp nhận/giao thoa/tranh chấp/đối chọi/hòa nhập/phân biệt… văn hóa của hai tộc người Việt (Thanh/Nghệ là chủ yếu) và Chăm, trong đó nổi bật là ngôn ngữ - phương tiện giao tiếp hàng ngày. Vì vậy ngôn ngữ cần được đặt vào đời sống thực tiễn trong các trạng huống khác nhau. Thắc mắc của tôi “vì sao người Quảng Nam hay trả lời một câu hỏi bằng một câu hỏi” phải chăng là một hiện tượng ngôn ngữ phản ánh sự giao lưu – đối lập – hòa hợp – phân biệt văn hóa của hai tộc người Chăm – Việt trong một giai đoạn nhất định, để rồi theo thời gian, được “di truyền” lại như một cá tính văn hóa xứ Quảng.
Vì vậy, ngay cả khi đã có một công trình mới từ góc độ thuần túy ngôn ngữ học thì công trình của anh Hồ Trung Tú vẫn đáng được quan tâm khi nghiên cứu về “tiếng Quảng Nam” nói riêng và Xứ Quảng nói chung.
Tôi và anh Hồ Trung Tú hình như chưa gặp nhau mặc dù đã biết nhau rất lâu, từ thời còn mạng xã hội yahoo.360. Vậy nhưng ở cả anh và hai ông bạn Hồ Xuân Tịnh, Nguyễn Thượng Hỷ, tôi luôn cảm nhận được ở các anh những tính cách có vẻ “đối lập” nhau: sự quyết liệt của một nhà báo, tính cần mẫn của một nhà nghiên cứu lại vừa có gì đó lãng mạn như một nhà thơ! Mà hình như người Quảng nào cũng đã có sẵn trong mình cả ba cá tính ấy.
Sài Gòn 31.5.2023



BẠN Ở NƠI XA

 Internet mang lại cho con người những trải nghiệm thú vị về một thế giới mênh mông mà cũng vô cùng nhỏ bé, khi chỉ một cú nhấp chuột là có thể đến bất cứ nơi nào mình muốn. Dù ở nơi đâu trên trái đất người ta cũng dễ dàng quen biết nhau, có thể cả đời chẳng gặp mặt mà vẫn trở thành bạn bè. Tôi đã quen nhiều người bạn như thế. Dù thường xuyên gặp gỡ đổi trao thân thiết trên mạng, nhưng khi có cơ hội thì chúng tôi vẫn cố gắng tìm gặp nhau. Và thật may mắn, những cuộc gặp gỡ ấy chưa bao giờ làm chúng tôi thất vọng.

Nhiều năm qua tôi có dịp đi công tác nước ngoài. Trước khi đi tôi liên lạc với bạn ở nơi tôi sẽ đến và luôn nhận được lời “rủ rê” của bạn, rằng sẽ đưa tôi đi chơi bảo tàng, di tích ở nơi này nơi khác. Nhưng rồi do thời gian chặt chẽ của công việc nên nhiều khi chỉ gặp bạn trong một cuộc cà phê vội vã, may mắn thu xếp được thì có bạn đến đón và đưa tôi đi quanh thành phố trong thời gian rảnh rỗi ít ỏi của cả hai.

Một lần ở Berlin tôi được gặp chị H. Tôi quen chị qua facebook, nhưng hóa ra chúng tôi biết nhau từ thời còn ở Hà Nội khi tôi còn bé xíu. Ngay buổi chiều đầu tiên khi tôi mới tới, chị đưa tôi đến một nơi khá đặc biệt: Khu tưởng niệm Hồng quân Liên xô trong thế chiến II, “nơi này rất ít khách Việt Nam đến tham quan, nhưng là một trong vài nơi đẹp nhất Berlin”, chị H. nói. Quả như vậy! Hơn thế nữa, khu tượng đài mang lại cho tôi nhiều cảm xúc, đã gợi nhớ một thời chiến tranh ở miền Bắc mà tôi không quên, bao nhiêu năm đã trôi qua.

Sống ở Berlin hơn 30 năm mà chị H. vẫn giữ giọng nói nhẹ nhàng, phong cách Hà Nội thuần khiết, chu đáo, nhiệt tình. Những ngày sau đó dù công vịêc rất bận rộn mà chị vẫn tranh thủ sau giờ làm việc đưa tôi đi tham quan thành phố. Anh chị định cư ở đây nhưng thường xuyên lên mạng xem tin tức, rồi trao đổi với các con để chúng gần gũi hơn với quê hương. Hai con của anh chị học rất giỏi, nói tiếng Việt khá tốt dù được sinh ra và lớn lên ở nước Đức. Có hôm hai chị em về đến nhà đã thấy cháu trai nấu xong bữa cơm. Tôi hỏi cháu có thích ăn cơm Việt không, cháu nói rất thích vì mẹ cháu nấu rất ngon. Chị H. cười hóm hỉnh, cả ngày các con ở trường ăn đồ ăn Tây, nói tiếng Đức tiếng Anh nên nhà ăn cơm Việt để nói tiếng Việt nhiều hơn. Học ngôn ngữ qua đường… dạ dày là nhanh nhất, phải không?

Ngay sau đó chị “trổ tài” làm ngay một “đặc sản” mà nay ở Hà Nội cũng ít người có thể nấu ngon: món bún thang. Đây là món ăn rất hấp dẫn, nhưng nấu thì phải thật tỉ mỉ, công phu. Giữa trời se lạnh xứ Tây mà chị dọn ra một tô bún thang nóng hổi thơm phức, đúng chuẩn đủ cả bún tươi, gà luộc xé tơi, trứng tráng mỏng xắt chỉ, giò lụa xắt chỉ, tôm khô, nấm hương và củ cải khô, thêm nhúm rau răm xanh mướt dậy mùi… Vị ngọt thanh của nước dùng hòa quyện với vị ngọt đậm của thịt gà vườn - mà chị phải về tận chợ quê để mua gà nông dân nuôi… khiến tôi ăn một lần và nhớ hoài, chỉ mong lần nữa được thưởng thức tô bún thang đậm chất “Hà Nội xưa”.

***

Tình cờ một ngày lướt facebook, tôi nhìn thấy một cái tên đặc biệt nhưng rất quen thuộc. Tôi đoán đó là người bạn đã bặt tin từ rất lâu. Hai đứa chỉ học chung với nhau lớp 12 ở trường Marie Curie từ năm 1975. Hồi đó, lớp học phần lớn là các bạn người Sài Gòn, chỉ có vài người là con cái cán bộ miền Nam tập kết trở về. Ba má của chúng tôi cùng kháng chiến ở miền Tây thời chống Pháp, cùng tập kết ra Bắc và hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật, hai người cha rất thân thiết với nhau. Bởi vậy, bặt tin bao nhiêu năm nhưng khi tình cờ tìm thấy, chỉ một lời nhắn hỏi là nhận ra nhau ngay. Chúng tôi nối lại liên lạc và đã có dịp gặp nhau ở Paris. Bạn tôi vẫn giọng Hà Nội dịu dàng như ngày nào, vẫn những nét giống cha như hồi còn là cô con gái “rượu"...

Câu chuyện gì của hai người bạn, hai cô thiếu nữ biết nhau khi mới 17 tuổi, nay là những người phụ nữ “đã toan về già”, một đứa sinh sống trời Tây hơn 30 năm, một đứa ở Sài Gòn mà thường xuyên vẫn lang thang đây đó? Ký ức về cây kem Tràng Tiền ở Hà Nội, kem dừa Bạch Đằng ở Sài Gòn, về chuyện xếp hàng thời bao cấp vất vả khó khăn; chuyện về những người bạn chung, chuyện gia đinh con cái, chuyện xã hội… Nhưng trong câu chuyện của hai đứa nhiều hơn cả vẫn là kỷ niệm của hai người cha. Hai ông đều là người trí thức chân chính, “dám làm dám chịu” để bảo vệ giá trị nhân văn, tiến bộ của tác phẩm văn học - nghệ thuật, bảo vệ những người tốt trước quan niệm bảo thủ, giáo điều vào thời kỳ đất nước mới thống nhất… Những điều đó đã để lại cho hai chúng tôi sự hiểu biết, cách ứng xử và nhìn nhận xã hội giống nhau, để lại cho cả hai đứa cá tính biết chịu đựng mà cũng biết vượt qua nghịch cảnh để trở thành chính mình.

Trong chuyến đi chơi, khi qua một quán cà phê thơm lừng mùi bánh crepe, bạn rủ tôi vào và gọi những chiếc crepe thật ngon, bột mềm mịn thơm mùi bơ, trứng, mỏng mảnh và dai mềm, với ly cà phê có mấy viên đá để chiều theo sở thích của người Sài Gòn. Câu chuyện cuộc đời của bạn làm sống dậy ký ức về cuốn tiểu thuyết “Sans famille - Không gia đình” mà thời thơ ấu chúng tôi cùng yêu thích. Đó là cảnh cậu bé Remy đang háo hức chờ đợi chiếc bánh crepe ngon lành từ bàn tay của bà má nuôi Barberin, bất ngờ ông bố Barbarin từ nơi xa trở về… Thế là tất cả bột cả sữa, cả bơ cả trứng gà mà má Barberin đã phải đi vay hàng xóm… trong chốc lát bị ông bố đổ tuột vào nồi súp hành. Hết cả bánh lẫn bữa ăn ngon mà hai má con đã phải chờ đợi rất lâu mới có được. Những chiếc bánh crepe bị “cướp đi” là dấu hiệu bé Remy bị đẩy ra khỏi vòng tay thương yêu của má Barberin, bắt đầu bước đường lưu lạc đầy gian truân của cậu.

Bây giờ tôi mới biết lý do hai đứa bặt tin nhau, vì cuộc đời cũng đã cướp đi “chiếc bánh crepe” ngon lành của bạn và làm cho bạn bất ngờ phải bỏ lại quê hương ra đi… Nhưng rồi như cậu bé Remy, vượt lên trên nghịch cảnh bằng nghị lực và tình yêu gia đình vô bờ bến, bạn đã có được cuộc sống bình an nơi đất khách. Bằng sức lao động cần mẫn và khéo léo, bây giờ bạn đã là một trong số rất ít thợ lành nghề nhất của một hãng thời trang nổi tiếng của Pháp, người có thể làm “hàng mẫu” cho dòng sản phẩm cao cấp nhất của hãng. Không chỉ vậy, bạn còn trở thành người hướng dẫn, truyền dạy cho những thợ trẻ người Pháp kỹ năng thủ công tuyệt vời của mình.

Nhìn con cháu của bạn đã là những cô cậu “người Pháp” giỏi giang, thành đạt, nhưng rất tình cảm và chu đáo với bạn bè của mẹ từ xa đến chơi, tôi nhận ra rằng, tự bạn đã có thể làm những chiếc crepe ngon lành cho mình, luôn mang lại cho gia đình và bạn bè vị ngon đặc biệt của loại bánh này. Giống như cuối cùng cậu bé Remy đã được hạnh phúc bên gia đình ruột thịt sau nhiều năm xa cách vì nghịch cảnh.

***

Một lần đi trên đường phố Quận Cam (Mỹ), nhìn thấy mấy tàu chuối vươn khỏi tường rào vẫy vẫy trên hè phố, tôi bỗng nhớ nhà da diết dù chỉ mới xa nhà hai ngày trong đó có gần 20 giờ trong chuyến bay dài. Hỏi bạn, ở đây trồng nhiều chuối không? Bạn như hiểu, trả lời: chị thấy nhà ai mà trồng bụi chuối thì gần như chắc chắn là nhà người Việt mình. Ừ càng đi xa lại càng muốn lưu lại chút gì của quê hương bên mình.

Bụi chuối sau hè, hồi nhỏ là sự sợ hãi mỗi tối khi phải ra đó vì một lý do mà ai cũng như ai, là niềm vui khi thấy bắp hoa bắt đầu kết thành buồng bé xíu xinh xinh, lớn dần lên, rồi từng nải trái già căng, mẹ chặt mang vô dựng trong bếp gần khạp gạo. Vài bữa khi trái hườm hườm, nải chuối ngon nhất, đẹp nhất được cha đặt lên bàn thờ ông bà, thắp nén nhang trước là lấy thảo sau là lấy hơi ấm cho cả nải chín đều. Bạn nhắc hoài, bữa cơm Nam bộ ít khi thiếu vài trái chuối sứ, từ con nít đến bà già đều quen với chén cơm chan nước cá kho thịt kho ăn với chuối chín. Nhà có đàn bà sanh nở luôn có buồng chuối chín dần, canh chuối sứ nêm chút muối chút đường là món ăn lợi sữa rất lành và cũng rất rẻ tiền, dễ kiếm. Giữa buổi mà đói,  có chén chè chuối hay cái bánh chuối chiên thì không còn gì bằng.

Một người bạn khác có lần đi đâu đó đến tận bờ biển Mexico xa xôi. Email bạn gửi cho tôi đầy thảng thốt: trời ơi, tui như đang ở bãi biển quê mình, cũng hàng dừa đong đưa trong gió chiều, cũng mùi thơm của mực tươi cá tươi, của ốc của sò nướng trên than hồng, cũng mấy trái khóm trái chuối mà mấy bà đội cái thúng trên đầu mang bán… nhớ nhà quá trời… Bạn đã hơn 40 năm sống ở Cali, đã tự coi mình như một người Mỹ “chánh hiệu”, vậy mà chỉ mùi thơm khói bếp than cũng làm bạn bần thần rồi quyết tâm “tết này sẽ về nhà” dù ở quê nhà bạn chẳng còn ai cả.

Đặc biệt khi đến những ngôi nhà của các anh chị thì nhận ra ngay “nhà Việt”. Không chỉ có táo, nho, lê, mận căng mọng trĩu cành, chỉ nhìn thôi đã thấy vị ngọt thấm vào tận… bao tử, mà ngon hơn cả là giàn bầu bí xanh non, những ngọn mùng tơi, rau muống, đậu đũa, khổ qua xanh mướt trong khu vườn nhỏ. Tôi nói đùa: tranh luận về “nguồn gốc dân tộc” làm gì cho mệt, cứ nhìn cái vườn, nhìn bữa ăn thì biết ngay là người Việt gốc… rau: thiếu rau xanh thì không thành bữa cơm Việt.

Dù ở nơi nào trên thế giới, qua hàng chục năm xa đất nước nhưng các anh chị, bạn bè vẫn lưu giữ từng mảnh quê hương: chỉ là bữa bánh xèo Nam bộ với rổ rau sống xanh tươi đủ vị, đĩa rau luộc chấm nước mắm dầm trứng, tô phở gà đậm đà “Hà Nội”, bình gốm Bát Tràng, đĩa sơn mài mua từ phố cổ, những cuốn sách mới xuất bản ở trong nước, giọng nói Sài Gòn hay Hà Nội thuần khiết của một thời chưa xa, sự tinh tế trong giao tiếp, ký ức một thời “Sài Gòn hoa lệ” hay những năm “Hà Nội thời bao cấp”… Tất cả đã mang lại cho tôi cơ hội chiêm nghiệm một quy luật “văn hóa càng đi xa càng được bảo tồn nguyên vẹn”. Những người bạn ở xa… thời gian các anh chị gắn bó với quê hương dù nhiều hay ít nhưng những gì họ mang theo đã trở thành ký ức bền vững, bởi được nuôi dưỡng bằng tình yêu gia đình, tình yêu đất nước.

Mỗi lần chia tay bạn bè, tôi đều hẹn sẽ gặp lại, hàng ngày, trên internet. Để chia sẻ với nhau những khó khăn những nỗi buồn, để góp từng niềm vui, mang lại cho nhau chút bình yên khi cuộc sống còn quá nhiều bề bộn và bất trắc…

TC Người đô thị tết 2023 




TÔI CÒN NỢ MÙA HÈ NƯỚC PHÁP


Tôi đến nước Pháp vài lần, vừa là cái duyên từ những ký ức qua văn chương thời thơ ấu, vừa là kỳ duyên với những người bạn vong niên thân quý. Năm nay ánh nắng ấm áp mùa hè nước Pháp theo tôi suốt những con đường tôi qua…

Paris tháng bảy là mùa du khách tấp nập trong khi người Paris bắt đầu “đi trốn” cái nóng. Nhân viên các công sở lần lượt nghỉ hè, cửa hàng cửa hiệu bắt đầu treo bảng “tạm nghỉ”… Những chuyến xe bus, metro thoát khỏi cảnh chen chân nhau lên xuống, những quán cà phê vỉa hè không còn quá đông đúc, có thể dễ dàng tìm thấy một vài bàn trống để ngồi đó thoải mái ngó nghiêng một Paris mà tôi yêu thích. Cà phê Paris cũng giống như cà phê Sài Gòn (có lẽ phải nói ngược lại mới đúng  ) là bạn có thể ngồi đó hàng giờ chỉ với một ly cà phê hay thêm một cái croissant, ngồi đó mơ màng, viết lách thậm chí chẳng nghĩ ngợi gì cả, giản đơn chỉ là đắm mình vào cái thú nhàn tản của người Paris. Ở Paris người ta chỉ “cắm mặt” vào thế giới ảo ở smarphone hay ipad khi đi bus hay metro, còn ở tiệm ăn hay quán cà phê thì người ta thưởng thức cuộc sống, trò truyện, ăn uống hoặc im lặng bên nhau… Người Paris “sống thật” hơn nhiều nơi khác.
Có lần tôi ngồi ở Café de Flore nổi tiếng trên đại lộ Saint-Germain. Được mở từ năm 1887, trong suốt thế kỷ 20, Café de Flore từng là điểm đến của rất nhiều nhân vật nổi tiếng nhưng người ta thường tự hào nhắc đến các nghệ sĩ như Jean-Paul Sartre, Picasso, Yves Saint Laurent, Ernest Hemingway... Cùng với Les Deux Magots và Brasserie Lipp, Café de Flore là một trong ba quán cà phê nổi tiếng của khu phố Saint-Germain-des-Prés. Quán lúc nào cũng đông khách và hình như ai cũng thích ngồi ngoài vỉa hè có lẽ vì bên trong quán khá nhỏ, ngồi dưới bảng hiệu “Café de Flore” và trên nữa là những ban công hàng rào bằng gang đúc hoa văn mềm mại xen những chậu hoa mùa hè rực rỡ, phía sau thấp thoáng rèm thưa màu trắng tinh khôi… Một cảm giác thật là Paris.
Ở Paris có nhiều nơi để bạn đi chơi, nhìn ngắm và thư giãn: trong công viên, viện bảo tàng, những lâu đài cung điện, di tích thắng cảnh, các khu chợ trời, nhâm nhi cà phê hay tản bộ dọc theo sông Seine, kể cả những nghĩa trang yên tĩnh… Không cần phải vội vàng cứ thong thả dạo quanh thành phố, có thể mang theo đồ ăn đơn giản, tìm một chiếc ghế mát dọc theo bờ sông, trên bãi cỏ trong công viên hay ngay trên những cây cầu dành cho người đi bộ, ngồi đó với bạn bè hay chỉ một mình thưởng thức bữa trưa ngoài trời. Paris ngày hè làm cho ai đến đây cũng có cảm giác đang tận hưởng ngày cuối tuần kéo dài bất tận bởi vì đến chín, mười giờ đêm ngoài trời vẫn còn nhìn rõ mặt người.
Mỗi lần đến Paris như một lần gặp lại người thân yêu, quen thuộc lắm nhưng cảm xúc luôn mới mẻ, hệt như mỗi sáng “gặm” miếng bánh mì baguette còn nóng hổi thơm lừng mùi men mùi bột và cả mùi ban mai Paris tinh khiết.
Nhưng nước Pháp đâu chỉ có Paris?
Mùa hè nước Pháp trong ký ức tươi nguyên của tôi là ba sắc màu xanh, vàng và trắng. Màu xanh của cây lá khắp nơi, màu vàng của cánh đồng lúa mì đang mùa thu hoạch, của vệt dài hoa cỏ ven đường, và màu trắng lấp lánh của cánh quạt điện gió và những cánh chim bay về nơi cuối trời… Tất cả sắc màu tươi tắn hiện ra dưới ánh nắng trong như mật những ngày hè tháng bảy.
Mùa hè cũng là mùa gặt - ừ, bây giờ hay gọi là mùa thu hoạch bởi trên những cánh đồng lúa mì chỉ thấy những chiếc máy gặt đập thong thả cuốn từng vòng để lại phía sau lớp rơm rạ nằm ngay hàng thẳng lối. Đã lâu lắm rồi người nông dân châu Âu đâu còn phải cắm mặt xuống đất còng lưng cầm liềm hái gặt lúa nữa.
Mùa hè nước Pháp của tôi là những thành phố cổ kính, những ngôi làng xưa “đẹp nhất nước Pháp”, pháo đài cổ, nhà thờ, di tích khảo cổ hang động xưa hàng triệu năm, xưởng gốm cổ chuyên sản xuất phục vụ Hoàng gia Pháp… Những ngọn đồi xanh mướt bên thung lũng xanh thắm nối nhau hiện ra rồi lùi lại phía sau… Và tôi, hệt như cậu bé Remy trong “Không Gia đình” khi ngồi trên đỉnh đồi nhìn xuống thung lung, nơi có ngôi làng và căn nhà nhỏ của má Barberin, lòng nao nao vì phải rời xa nó… Thấp thoáng đâu đó hương thơm dịu nhẹ của những bông hồng nở muộn và những bụi oải hương màu tím… còn đọng lại trong ký ức tôi. Cánh đồng lavender tím ngát tận chân trời, quyến rũ như người đàn bà tuổi vào thu đầy bí ẩn.
Trong nhiều làng cổ nước Pháp chợt tôi nhìn thấy cái nhà lồng chợ, quen thuộc như nhà lồng ở bất cứ thị tứ nào ở Nam bộ, đó là ngôi nhà rộng rãi, cao ráo chỉ có những cây cột và mái ngói, bốn phía trống không, nền cao. Khác với nhà thờ bao giờ cũng ở trung tâm của làng, nhà lồng thường nằm ngay “quảng trường” đầu làng, là chợ cũng là nơi hội họp chung khi cần. Xưa người ta họp chợ vào buổi sáng hay vào ngày phiên chợ, bây giờ không còn sinh hoạt này nữa, nhà lồng trở thành “di tích”, chỉ vào ngày cuối tuần khi du khách đổ về, trong nhà lồng là những quầy hàng thức ăn đặc sản, đồ lưu niệm đặc sắc của làng, xung quanh những ngôi nhà cổ trở thành hàng quán, tiệm ăn, khách sạn nhỏ… Làng cổ bình yên giữ nguyên cảnh quan và được đẹp thêm bởi hàng chục loài hoa nở rộ dưới hiên nhà, trên bệ cửa sổ, bởi những khuôn cửa trắng bình yên, bởi con đường uốn quanh sạch sẽ và những nụ cười của dân làng… Những ngôi làng với nhà lồng nơi xa dường như chẳng có gì liên quan lại làm tôi nhớ quá chừng những làng quê Nam bộ, cũng nhà lồng chợ xôn xao lúc ngày rạng sáng, cũng những gương mặt hồn hậu… chỉ còn thiếu tiếng mái chèo khua nhẹ trên kinh rạch và bóng chị bóng mẹ dịu dàng trên chiếc xuồng ba lá…
Mùa hè nước Pháp với tôi còn là sắc vàng trong những bức tranh của Van Gogh. Những cánh đồng bát ngát lúa mì vàng sậm, những cánh đồng tràn hoa hướng dương rực rỡ. Đắm mình trong không gian này mới hiểu và cảm nhận hết những sắc độ màu vàng trong những bức tranh của danh họa – người đã chọn nước Pháp làm nơi ra đi lần cuối - màu vàng đầy sức sống nhưng cũng đầy ám ảnh của sự chia ly mãi mãi.
Rời nước Pháp vào giữa những ngày hè rực rỡ nhưng chỉ ít ngày sau bạn nhắn, bên này trời chưa lạnh nhưng lá bắt đầu vàng, sắp sang thu rồi đấy. Tôi hay đi xa vào mùa thu nhưng chưa lần nào phải chia tay với ai vào cái mùa mà người ta mặc định là “mùa chia ly”. Nhưng khi chia tay mùa hè nước Pháp với cảm giác còn nợ một điều gì đó… cũng ám ảnh không khác gì màu vàng hoa hướng dương Van Gogh.
Bởi vì, ở tuổi mùa thu của chúng ta mùa hè không trở lại nữa mà phía trước sắp là mùa đông…

Nhớ Bảy Bạch, Lục Vân Tiên của sân khấu Nam bộ

 

Nếu Bảy Bạch còn sống, năm nay ông tròn 100 tuổi - cùng tuổi thi sĩ Hoàng Cầm Lá diêu bông (1922 - 2022).

    Ông Bảy Bạch mất, sân khấu Việt hiện đại, đặc biệt là sân khấu Nam bộ, đã vắng thiếu một Lục Vân Tiên đầy tinh thần nghĩa hiệp, hào sảng, phóng khoáng và khí khái rặt chất Nam bộ. Bảy Bạch – một đời “sinh ư nghệ, tử ư nghệ” với sân khấu, đúng như tên cuốn sách của ông: Nguyễn Ngọc Bạch – một đời sân khấu (NXB Tổng hợp TP.HCM, xuất bản năm năm 2020. Sách do con gái út Nguyễn Thị Hậu của ông biên soạn và biên tập).   

    Hoạ sĩ Hoàng Lập Ngôn, trường phái hội họa cá nhân “Tinh tướng họa”, vẽ chân dung ông Bảy làm bìa sách: mái tóc Bảy Bạch bồng bềnh, cặp kính cận gọng lớn và vẻ mặt đầy hưng phấn nghệ sĩ, với một nụ cười mỉm hồn hậu, rất chi là… Bảy Bạch.

    Và tôi ngồi nhớ ông, người nghệ sĩ Nam bộ mang rõ phong cách của Lục Vân Tiên, tinh hoa tính cách người Nam Bộ vào sân khấu, với tràn đầy nhiệt huyết, tận tụy hết mình – đúng tinh thần “Giữa đường thấy sự bất bằng (bình) chẳng tha”.

    Ấn tượng Bảy Bạch

    Ngay từ hồi mới chuyển từ Trường Viết văn Nguyễn Du về làm ký giả kịch trường cho Tạp chí Sân khấu năm 1977, hai vị tổng, phó tổng thư ký của tạp chí này: thi sĩ Lưu Trọng Lư và nhà viết kịch Xuân Trình đã yêu cầu tôi phải “công du” Sài Gòn đặng tìm hiểu, phản ánh tình hình sân khấu của thành phố này. Và phải đến “trình diện”, đối thoại với một nhân vật sân khấu Nam bộ rất đặc biệt: đạo diễn Nguyễn Ngọc Bạch – vốn là Trưởng Đoàn Cải lương Nam bộ, Phó giám đốc Nhà hát Cải lương Việt Nam, Trưởng Đoàn Kịch nói Nam bộ, từ trước năm 1975 ở Hà Nội.

    Khi tôi võ vẽ theo nghề bình luận kịch trường thì ông đã kịp trở về TP.HCM sau năm 1975, làm Trưởng Đoàn Kịch Cửu Long Giang (vốn có gốc gác từ Đoàn Kịch nói Nam bộ ở Hà Nội). Sau đó, ông trở thành Phó Tổng thư ký Hội Sân khấu TP.HCM, rồi Phó Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin TP.HCM.

    Đạo diễn Nguyễn Ngọc Bạch.

    Cuốn sách đã tập hợp và tinh tuyển những bài biết của chính Bảy Bạch theo dọc dài năm tháng cống hiến cho sân khấu. Bốn mươi năm, kể từ cột mốc lịch sử tháng 8.1945 cho đến khi ông về cõi tháng 10.1985. Kỷ niệm của tôi với ông đã rơi vào đoạn đời rực rỡ và “hiệp sĩ” nhất của ông – là ở Đoàn Kịch Cửu Long Giang, đoàn kịch căn cơ, lớn nhất, “đổ bộ” từ Hà Nội về quê hương Nam bộ sau bao nhiêu năm “ngày Bắc đêm Nam” của trưởng đoàn Bảy Bạch khi ông lên tàu tập kết ra Bắc.

    Khi tôi được gặp ông lần đầu tại TP.HCM, ông nở nụ cười hồn hậu, gọi tôi thân thương theo cách Nam bộ, là “con nhỏ Hà Nội ký giả kịch trường”. Ông giới thiệu lịch sử Đoàn Kịch Cửu Long Giang, mời tôi xem vở diễn hay nhất của đoàn, giúp tài liệu và đối thoại với tôi về các vai diễn xuất sắc nhất của dàn diễn viên: Văn Thành, Tú Lệ, Thương Tín, Thành Trí, Minh Trí…

    Rất may mắn là Bảy Bạch sau bao năm cống hiến ở vai trò lãnh đạo nhà hát, đoàn hát, và sau bao năm thử nghiệm ngôn ngữ dàn dựng của đạo diễn sân khấu, ông đã “lận lưng” được một nghề rất căn cơ, vốn đã là tảng nền của sân khấu hiện đại, đó là nghề đạo diễn – tác giả của vở diễn.

    Ông Bảy Bạch vô cùng yêu mến và quan tâm đến người xem và thị hiếu thẩm mỹ của họ ở vùng văn hóa phương Nam này. Ông hiểu rõ rằng khán giả còn thì sân khấu còn. Khán giả quay lưng thì sân khấu mất trắng. Song, muốn sân khấu còn, nhất là sân khấu thể loại kịch hiện thực xã hội chủ nghĩa vẫn còn rất mới mẻ, thì nhất quyết phải đề cao tính tư tưởng, tính giáo dục cho vở diễn. Và điều này, phụ thuộc trước hết vào người đạo diễn – tác giả của vở diễn. Vở diễn là phải diễn trên sân khấu cho người xem. Muốn diễn, thì phải có ngôn ngữ dàn dựng của đạo diễn, trên cơ sở kịch bản hay, thì mới có vai kịch hay cho diễn viên sắm vai. Và phải có cái diễn thì mới có cái để xem.

    Đạo diễn Nguyễn Ngọc Bạch với các nghệ sĩ cải lương Sài Gòn.


    Cho nên, với tư cách một đạo diễn tự học, tự xây cất ngôn ngữ dàn dựng bằng nghiệm sinh trong thực tế hành nghề, Bảy Bạch đặc biệt yêu quý những đạo diễn người Nam bộ được đào tạo ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa như Thành Trí, Bạch Lan, Đoàn Bá, Minh Trị, Ca Lê Hồng, Huỳnh Nga… Khi làm Phó Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin kiêm trưởng phòng nghệ thuật, ông phát hiện và mời Minh Trị, Minh Quân, Văn Thơm làm phó phòng, với linh cảm của người quản lý tài giỏi rằng đã giao việc đúng người. Mà đúng người đúng việc thật. Công việc cứ chạy ro ro như không cần người “bẻ lái”.

    Cha - con và hai ngả đường

    Xem phụ lục của cuốn sách này, với cái tên Nhớ người ra đi, mới thấu suốt rằng bạn bè sân khấu và người thân của Bảy Bạch đã thấy thiếu vắng khi ông dứt áo ra đi khỏi cõi trần ai này, kinh khủng đến thế nào. May mắn nhất là ông còn để lại những chữ và chữ mà ông đã ghi chép miệt mài, ròng rã suốt 40 năm sống chết vì nghề.

    Và ông đã để lại giữa đời một sản phẩm cũng thật đẹp dù không phải là sản phẩm sân khấu: tiến sĩ khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu, tưởng chẳng liên hệ gì đến nghề sân khấu của cả đời ông Bảy. Cha và con đã không đi chung đường nghệ thuật dù ông Bảy rất cưng chiều con gái út Nguyễn Thị Hậu.

    Gia đình đạo diễn Nguyễn Ngọc Bạch ở Hà Nội năm 1973 (TS. Nguyễn Thị Hậu đứng bìa phải).

    Người chính gốc An Giang, ông vẫn giữ giọng Nam bộ khi tập kết, ở Hà Nội hàng hai mươi năm, có thể thay giọng Bắc để giao tiếp với người Bắc, nhưng ông vẫn giữ chắc giọng Nam và cách nói Nam bộ, khi khen tôi: “Con nhỏ Hà Nội lanh trí, thạo nghề ký giả kịch trường”, làm tôi thấy thú vị đáo để. Nguyễn Thị Hậu trưởng thành trong vòng tay cha êm đềm, không bị “chỉ định” phải nói giọng Nam, càng không bắt phải theo nghề cha. Cô cứ lanh lảnh giọng Hà Nội như chuông và báo tin cho cha biết đã thi đỗ Khoa Diễn viên Trường Nghệ thuật Sân khấu 2 TP.HCM. Ông Bảy nghiêm nghị, lập tức mời con gái “đối thoại sân khấu”, và đơn giản chỉ bảo: muốn làm nghề diễn viên sân khấu thì phải có tài năng, nhất thiết phải có tài năng mới làm được.

    Hậu nghĩ: “Cha nói phải củ cải cũng nghe”.

    Hậu nghe lời cha, thi vào Khoa Sử Trường Đại học Tổng hợp TP.HCM và được giữ lại trường giảng dạy. Và sau đó được giáo sư Trần Quốc Vượng hướng dẫn, bảo vệ thành công luận án tiến sĩ khảo cổ học. Ông Bảy mừng hết biết trước thành công của con gái út với lời lẽ không thể giản dị và hạnh phúc hơn: “Rồi con cũng nối tiếp được nghề dạy học của cha, dạy tiểu học hay đại học thì cũng là người thầy con à”. Sau ngày mất cha, Hậu và má cùng chị em trong gia đình bị hẫng hụt, chênh vênh trong một thời gian dài, không thể nào nguôi.

    Gia đình Hậu vẫn như trước khi cha mất, mâm cơm gia đình vẫn dành cho ba một đôi đũa, một cái chén và mọi người vẫn như có ý ngóng chờ ba về ăn cơm nhà… Hậu nghĩ trong nước mắt rơi ngược vào lòng: Ba cô – Bảy Bạch đã sống đời giản dị của một người cộng sản, đẹp như thế và đến thế…

    PGS-TS. Nguyễn Thị MinhThái - Ảnh: TLGĐ

    https://nguoidothi.net.vn/nho-bay-bach-luc-van-tien-cua-san-khau-nam-bo-33888.html?fbclid=IwAR2p0-_FV1ppr_expDZSHRejkCOMtwZKhQ3XRlx5kwaAqrcY7ptSz_7CZJM

    MINH MẠNG – TỰ ĐỨC VÀ NHỮNG LẦN LỠ HẸN CỦA NGƯỜI VIỆT (Midnight Talks)


    Tối qua mình tham gia cuộc trò chuyện này, từ 21g – 24g. Người tham gia lúc đông nhất đến hơn 700 và ngồi đến cuối cũng khoảng 500 người. Có nhiều người quen biết, thân thiết do cùng nghề, cùng sự quan tâm về lịch sử... Nhiều người mình từng đọc nhưng chưa quen chưa gặp. Nhưng người tổ chức Midnight Talks là Nguyễn Cảnh Bình thì hai chị em đã có dịp gặp nhau ở tận... Hungary từ 10 năm trước, người dẫn là Vũ Đức Liêm mình đã đọc nhiều bài viết của anh, còn diễn giả Trần Đức Anh Sơn thì quá thân, hai chị em số phận dịch chuyển như nhau trong quá trình làm việc, một phần quan trọng do thẳng thắn và biết từ bỏ nơi không phải của mình.

    Cuộc trò chuyện thú vị ngay từ những phát đầu và càng về sau càng hấp dẫn, không chỉ vì các vấn đề của triều Nguyễn mà khoảng hơn mười năm trở lại đây, đã có nhiều nghiên cứu, đánh giá khác trước, công khai, công minh và khách quan hơn. Có thể nói cuộc hội thảo quốc tế về CHÚA NGUYỄN VÀ VƯƠNG TRIỀU NGUYỄN tổ chức tại Thanh Hóa năm 2008 là dấu mốc cho sự thay đổi này. Tư liệu lịch sừ, công trình nghiên cứu nước ngoài được dịch, xuất bản nhiều hơn, mạng internet giúp kiến thức phổ biến nhanh chóng hơn, và sự lạc hậu trong chương trình dạy và học lịch sử - nhất là ở bậc phổ thông - cũng làm tăng thêm sự quan tâm của xã hội với lịch sử, đặc biệt là lịch sử thời Nguyễn và lịch sử hiện đại VN.

    Trong bối cảnh đó, những người nghiên cứu lịch sử có bản lĩnh và tri thức đã có thể tìm thấy những câu trả lời cho mình trong nhiều vấn đề lịch sử còn bị đánh giá thiên lệch, thậm chí cực đoan “bảo hoàng hơn vua”. Những câu hỏi nhẹ nhàng mà sắc sảo của anh Vũ Đức Liêm, sự lý giải cặn kẽ, khúc chiết và logic của Trần Đức Anh Sơn đã thể diện điều đó. Một điều nữa mình tâm đắc là các câu trả lời luôn là một “sự lý giải” từ góc độ tiếp cận, từ tư liệu lịch sử mới, từ so sánh đối chiếu các sự kiện trong bối cảnh trong nước và rộng hơn... do vậy luôn “mở’, không trả lời kiểu chắc “như đinh đóng cột” và khẳng định “chỉ như thế”. Bởi lịch sử càng lùi xa càng ở “phổ rộng’ thì càng rõ ràng từng chi tiết.

    Hai vấn đề chốt của Midnight Talks (mình nhớ không thật chính xác câu chữ, nhưng nội dung thì đúng) là:

    1/ Thời Tự Đức mất nước vào tay Pháp là tất yếu. Có những nguyên nhân nào?

    2/ Quan hệ với Trung Hoa có ảnh hưởng thế nào đến triều Nguyễn (nói riêng và lịch sử VN nói chung)

    Là một người tham gia nhưng mình cũng bị Nguyễn Cảnh Bình “túm” phải, cũng tham góp vào 2 vấn đề trên mà Vũ Đức Liêm đặt ra cho một số anh chị khác. Thời gian của nói chuyện không cho phép nên mình tham gia 2 ý kiến ngắn. Bây giờ viết lại mình diễn giải rõ hơn 1 chút.
    Vấn đề 1/ Có nguyên nhân nội tại: đến thời Tự Đức triều Nguyễn chưa có được sự thống nhất thực sự về “lòng dân”, hậu quả của hơn 200 năm đàng trong – đàng ngoài, Tây Sơn – Nguyễn Ánh... Gần hơn là việc lập kinh đô ở Huế, ở phía Bắc thì xóa bỏ vị thế “kinh đô ngàn năm” của Thăng Long; phía Nam sau loạn Lê Văn Khôi thành Gia Định cũng bị phá đi và xây lại Thành Phụng nhỏ hơn nhiều. Kiểu như phá di sản (vật chất, tinh thần) của triều trước nên gây ra sự “tổn thương tinh thần” không nhỏ cho cộng đồng. [Thật ra hiện tượng này thường phổ biến, phản ánh tâm thế “bên thắng cuộc” muốn giữ ổn định “đồng nhất tinh thần” và bảo vệ thành quả sau chiến tranh]

    - Cải cách xã hội luôn bắt đầu từ sự “thuyết phục” nhau thực hiện điều tốt, có lợi, cả hai bên thuyết phục và bị thuyết phục đều “thắng” vì xã hội phát triển hơn, kịp với thời đại. Thế nhưng dường như ở VN mình cả 2 yếu tố biết nói (thuyết phục) và biết nghe (chấp nhận cái mới, khác biệt) đều kém. Quan văn “trình bày” thì quan võ “nạt nộ” ngay, phe “chủ chiến” thường thắng phe “chủ hòa”. Mà cải cách là quá trình lâu dài khéo léo, biết học người khác, chứ không thể “thần tốc” hay quyết tâm chính trị mà được.

    Tính cách văn hóa của dân tộc có can dự vào quá trình lịch sử, thậm chí còn góp phần làm nên số phận dân tộc.

    Vấn đề 2/ Quan hệ Việt Nam – Trung Hoa trong lịch sử khá phức tạp. VN luôn đánh thắng kẻ thù phương Bắc nhưng thắng xong rồi thì triều cống và ứng xử đúng như nước nhỏ với nước lớn. Tâm lý mặc cảm với nền văn minh vĩ đại của Trung Hoa mâu thuẫn với tâm lý tự tôn “luôn chiến thắng chúng mày” tạo nên ứng xử khá là “linh hoạt”, kiểu khôn lỏi của anh nông dân trong “cây tre trăm đốt” để có cái lợi nhỏ cho mình. Mặt khác thế giới Trung Hoa là hình mẫu, quen thuộc ngàn năm nên VN hầu như không nhìn ra ngoài, nhìn thấy gì khác mình.

    Điều này hạn chế sự hội nhập với thế giới ngay từ khi tiếp xúc với văn minh phương Tây với nhiều yếu tố quá lạ lẫm khác biệt, dẫn đến sự “từ chối” mở cửa như trong thời Nguyễn.

    Với mình, bài học từ lịch sử VN luôn là: đừng chỉ nhìn vào nhau (nhìn vài nước bên cạnh, tức là đừng chỉ nhìn vào ao làng) để rồi cứ “mặc cảm” hay “tự hào”, mà hãy nhìn ra bên ngoài, ra đại dương, rồi nhìn lại chính mình. Mới thấy nước mình đang ở đâu, thế nào, mới có thể quyết định đi đường nào tốt nhất!

    Cám ơn các bạn Nguyễn Cảnh Bình, Vũ Đức Liêm và Trần Đức Anh Sơn và các anh chị khác đã gợi mở và kiến giải một cách thẳng thắn, khoa học những vấn đề lịch sử của Triều Nguyễn mà cho đến bây giờ, vẫn còn có người cho rằng đó là vấn đề “tế nhị, nhạy cảm”!
    Hy vọng sẽ có thêm nhiều buổi sinh hoạt khoa học thú vị và bổ ích như vậy.

    P/S/. Sau buổi trò chuyện, nghĩ mãi, mình chợt tự hỏi: Với tất cả những nguyên nhân cả khách quan và chủ quan mà các diễn giả và khách mời đã nêu ra, liệu có thật sự chúng ta đã LỠ HẸN với thế giới – như chủ đề của Midnight Talks? Vì phải có HẸN thì mời LỠ, còn không hẹn, thậm chí không biết hay là không muốn HẸN thì làm sao có thể LỠ HẸN? :)

    25.12.2021

    NHỮNG NGƯỜI HÀ NỘI TÔI VỪA GẶP LẠI


    Tôi đọc những cuốn sách của nhà văn Vũ Ngọc Tiến từ lâu, rồi quen biết ông qua facebook, đôi lần được ngồi cà phê trò chuyện cùng ông và các nhà văn, nhà báo ở Hà Nội, Sài Gòn... Thật bất ngờ và cảm động được nhà văn gửi tặng cuốn sách mới của ông với lời nhắn “gửi em đọc những câu chuyện về Hà Nội của anh”.

    “Hà Nội và Tôi” gồm 24 truyện ký phản ánh Hà Nội trải qua gần trăm năm, từ thời các nhà nho cuối mùa đến thời chiến tranh, thời bao cấp rồi đổi mới... Giọng văn điềm đạm mà thiết tha, đôi chỗ hóm hỉnh, nhà văn Vũ Ngọc Tiến như đã dựng một cuốn phim “nhân học xã hội” về Hà Nội. Những người Hà Nội hiện lên tự nhiên như chính họ là, không cố thể hiện hay phân biệt ai là “Hà Nội gốc” còn ai thì không. Hà Nội thời ấy đâu coi người phố người quê là ai hơn ai kém, làm ăn buôn bán ở 36 phố phường hay sinh sống ở khu phố Tây thì “ai mà chẳng có một nhà quê”, có khi ở ngay ngoại thành Hà Nội.

    Thế kỷ 20 Hà Nội chịu nhiều biến động, những chân dung mà nhà văn Vũ Ngọc Tiến ký họa bằng ngôn từ đã cho thấy người “Hà Nội gốc” không phải là đã sinh sống bao lâu ở Hà Nội, mà quan trọng hơn là “nếp nhà” được gìn giữ thế nào. Xã hội thay đổi làm quan hệ gia đình, nhân cách và hành xử cũng biến đổi theo... Nhưng những “người Hà Nội” trong tập sách này dù có nghề nghiệp đàng hoàng hay phải làm những việc “bên lề xã hội”, có người chẳng may phạm tội vướng vòng lao tù... thì họ vẫn luôn tâm niệm “giấy rách phải giữ lấy lề”. Nếu lâm vào hoàn cảnh suy sụp về địa vị và kinh tế, không thể “thích nghi” với thời thế thì họ cũng cố gắng gìn giữ gia phong.

    Nhờ được lắng đọng trong các dòng họ nổi tiếng hay những gia đình bình dị, khí chất Hà Nội càng tinh túy và bền chặt. Giàu hay nghèo, người Hà Nội xưa cần mẫn làm ăn, tính toán khéo léo nhưng không “cạn tàu ráo máng”, thương người cơ nhỡ khó khăn, cư xử lịch thiệp mà thân thiện, trên dưới rõ ràng mà vẫn tình nghĩa sau trước, gia cảnh thế nào cũng ăn ở nền nếp. Giàu mà sang là thế, nghèo nhưng không hèn là thế, người xưa trọng nhau vì nhân cách ấy. 

    Trong “Hà Nội và Tôi” có vài chân dung “người nhà quê” nhưng với tôi, đó vẫn là người Hà Nội. Bởi vì, vào thời ấy khi lên thành phố họ đã mang theo những gì tốt đẹp của làng quê, rồi tiếp nhận và bồi đắp thêm “chất Hà Nội” được hình thành và lưu giữ qua ngàn năm Thăng Long. Sau này, dân cư Hà Nội biến động quá nhanh, cuộc sống hiện đại như một dòng chảy ồ ạt, cứ chưa hết một “kế hoạch năm năm” đã lại có một lớp người Hà Nội mới theo tiêu chí đầu tiên là cái hộ khẩu. Hà Nội ngày càng mở rộng và đông đúc thì “chất Hà Nội” ngày càng khó mà tìm thấy...

    “Hà Nội và tôi” là những ký ức và chiêm nghiệm của tác giả cũng như thế hệ người Hà Nội trưởng thành vào nửa sau thế kỷ 20. Tôi cũng được trải qua một thời gian ngắn như vậy, vì vậy cuốn sách mới của nhà văn Vũ Ngọc Tiến như đã cho tôi được “gặp lại” những người Hà Nội mà tôi quen thuộc từ thời thơ ấu.

    Sài Gòn, tháng 8.2020

      Nguyễn Thị Hậu


     

     

    NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI ĐÔ THỊ SÀI GÒN



    PGS.TS Nguyễn Minh Hòa là một trong những chuyên gia đầu ngành về Đô Thị học của Việt Nam nói chung và tại TP. Hồ Chí Minh nói riêng, cả từ góc độ nghiên cứu lý thuyết và công tác thực tiễn.

    Ông là người đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực mới mẻ này từ sự tiếp cận, tiếp thu tri thức ở những quốc gia có sự phát triển đô thị hài hòa giữa “bảo tồn và phát triển”, nơi mà những đô thị dù được xây dựng hiện đại thế nào vẫn luôn hướng đến sự nhân văn và thân thiện cho cộng đồng dân cư. PGS.TS Nguyễn Minh Hòa cũng là người mở ra ngành đào tạo mới – ngành Đô Thị học - tại trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn TPHCM, tại đây sinh viên được trang bị lý thuyết và thực tiễn tiên tiến của thế giới đồng thời với việc tiếp cận thực tế còn quá nhiều bất cập của các đô thị Việt Nam, nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực thực thi những vấn đề dặt ra trong quá trình đô thị hóa – hiện đại hóa ở VN.

    Những điều đó được nhiều người biết đến và qua công việc đã khâm phục, quý mến ông. Riêng tôi, bậc đàn em của PGS.TS Nguyễn Minh Hòa cả về tuổi đời và nghề nghiệp, cả về những trải nghiệm thực tiễn trong hành trình bảo vệ di sản văn hóa đô thị, xin được chia sẻ vài cảm nhận về tập sách mà quý vị đang cầm trên tay – như sự đồng cảm của một người cùng thế hệ và phần nào có cùng tâm thức với tác giả.

    Tôi và anh Nguyễn Minh Hòa cùng là lứa sinh viên đầu tiên sau 1975 của trường Đại học Văn khoa Sài Gòn (sau là Đại học Tổng hợp và nay là ĐHKHXH&NV. TPHCM). Anh Hòa là bộ đội được giải ngũ và theo học Khoa Chính trị học, còn tôi là học sinh vừa hết lớp 12 thi vào học khoa Lịch sử. Tuy khác khoa nhưng hai anh em biết nhau nhờ các hoạt động ngoại khóa văn – thể - mỹ. Vài năm sau khi ra trường lứa sinh viên đầu như chúng tôi hầu như ít liên lạc với nhau vì đều phải lo cơm áo trong thời kỳ bao cấp cuối cùng đầy khắc nghiệt. Bẵng đi rất nhiều năm, tôi và anh Nguyễn Minh Hòa “gặp lại” qua những bài báo về việc bảo vệ di sản đô thị, về xây đựng đời sống văn hóa hiện đại và lối sống văn minh... Tuy xuất phát từ hai chuyên ngành khác nhau nhưng cùng hướng đến một mục tiêu chung là bảo tồn di sản hướng đến phát triển bền vững, vì vậy chúng tôi chia sẻ được với nhau nhiều vấn đề về văn hóa đô thị, nhất là về thực tiễn phát triển ở TP. Hồ Chí Minh.

    Sự đồng cảm và chia sẻ còn đến từ “hoàn cảnh lịch sử”: chúng tôi đều từ miền Bắc về sinh sống ở Sài Gòn từ 1975: gia đình tôi là miền Nam tập kết trở về còn anh Hòa là bộ đội giải ngũ. Sống tại một thành phố lớn nhất nước, từ nhiều bỡ ngỡ và xa lạ ban đầu dần dần chúng tôi trở thành “người Sài Gòn” một cách tự nhiên không chỉ vì đã sống cả đời ở đây, mà vì chúng tôi thực sự hòa hợp và coi thành phố là một phần quan trọng của cuộc đời mình.

    Trong nhiều bài viết của tập sách này độc giả có thể cảm nhận tình yêu Sài Gòn của tác giả rất da diết mà cũng rất tỉnh táo. Đó là vì sự “phân thân” của người viết: vừa là người Sài Gòn vừa là người “từ nơi khác đến”, vừa là người dân bình thường vừa là nhà nghiên cứu, vừa là người mang trong mình “văn hóa” của một vùng miền khác lại vừa sống và hòa nhập với văn hóa một nơi chốn mới, vừa là người thụ hưởng di sản văn hóa vừa là người có tiếng nói góp vào chính sách bảo tồn hay không những di sản ấy... Tất cả điều đó mang đến sự khách quan của “người trong cuộc” chứ không phải sự khách quan lạnh lùng của những nghiên cứu hàn lâm xa vời, cũng không phải là sự đánh giá chủ quan đầy “cảm tính” của một người có những gắn bó riêng tư sâu đậm với thành phố này.

    Tôi nghĩ rằng, những tiếng nói bảo vệ di sản văn hóa Sài Gòn có được sự đồng cảm từ cộng đồng, sự ủng hộ của nhiều nhà khoa học và thậm chí, nhận được sự chú ý tiếp nhận của các cấp chính quyền - thì không thể thiếu sự khách quan như vậy! Nghiên cứu văn hóa của một nơi chốn, dù là đô thị hay thôn quê, đều cần có cái nhìn công tâm của người nhà khoa học trong vị thế một cá nhân của cộng đồng. Điều đó sẽ đưa đến những đề xuất mang tính định hướng hoặc giải pháp phù hợp với thực tiễn chứ không phải là những giải pháp “luôn đúng mà không trúng”!

    Những gì PGS.TS Nguyễn Minh Hòa đã làm, và sẽ còn tiếp tục , chính là những nỗ lực như thế! Là người có thể được gọi là đồng nghiệp với anh, tôi chia sẻ là quý trọng anh vì điều đó.
    Tập sách này – như anh nói với tôi - là những gì “máu thịt” của anh với Sài Gòn. Tôi hiểu và trân trọng điều đó. Và cũng xin được chia sẻ với bạn đọc tình cảm này!

    Sài Gòn, tháng Tư 2019
    Nguyễn Thị Hậu
    Không có mô tả ảnh.

    HAI TẬP THƠ TRÀN ĐẦY CẢM XÚC


    Tôi vừa được nhà thơ Nguyễn Duy tặng hai tập thơ mới: “Vợ ơi” gồm những bài thơ anh Duy viết cho vợ, và “Con đường trong giọt sương” là tập thơ - ảnh của con trai anh – Nguyễn Duy Sơn.
    Sơn mất tháng 4.2018, khoảng gần một năm sau (3.2019) thì chị Hào – vợ anh Duy cũng mất sau một thời gian bệnh nặng. Hai tập thơ này anh Nguyễn Duy thực hiện rất cẩn thận với tất cả tình yêu dành cho vợ và con trai – tình yêu mà khi hai người còn sống có lẽ anh ít khi nói ra bằng lời.
    Khi đọc tập thơ VỢ ƠI có lẽ không ít phụ nữ phải thầm “ghen tỵ” với chị Hào. Bởi vì hiếm ai có thể thổ lộ tình yêu, lòng biết ơn, lời xin lỗi với vợ một cách giản dị, chân tình mà âu yếm và da diết như vậy. Với nhiều phụ nữ, sự thấu hiểu và sẻ chia luôn được coi là biểu hiện của tình yêu, nhờ vậy cực khổ mấy họ cũng chịu được. Chị Hào đã luôn nhận được tình cảm đó của anh Nguyễn Duy trong suốt cuộc đời vất vả của mình.
    CON ĐƯỜNG TRONG GIỌT SƯƠNG là một tập thơ rất LẠ và ĐẸP cả về trình bày, về hình ảnh của chính tác giả và cả thơ. Hầu hết là những bài lục bát có bốn câu thôi nhưng là suy tư về cuộc đời, tình yêu thấp thoáng mà sâu đậm, ký ức quê nhà... Nỗi cô đơn của Sơn đầy ắp nhưng dường như Sơn cứ muốn giấu bằng cách làm nhòa nó đi. Nếu hai câu trên hé lộ chút gì như sâu thẳm riêng tư thì hai câu sau bình thản khép lại ngay, đôi khi thấp thoáng sự giễu nhại chính mình...
    Nhưng bài thơ mở đầu tập thơ Sơn viết cho mẹ thì thật cảm động vì tình cảm của một cậu con trai thầm lặng, chu đáo, tinh tế khi chăm sóc mẹ... Sơn yêu mẹ nhiều lắm, phải chăng vì vậy mà Sơn đã nhẹ nhàng đi trước trên con đường trong vắt như giọt sương để đón mẹ, để mẹ không cô đơn ở nơi “thiên đường mù sương”... như chính câu thơ cuối cùng trong tập thơ của Sơn “hóa ra sự sống để mà cho đi”.
    “Có con đường/trong giọt sương/có thiên đường/trong mù sương”. Sương mù là từ vô vàn những giọt sương kết thành, thiên đường phải chăng bắt đầu từ mỗi khoảnh khắc “cho đi” trong cuộc đời?
    Xin cám ơn anh Nguyễn Duy!
    SG 2.5.2020

    Không có mô tả ảnh.

    Trong hình ảnh có thể có: văn bản
    Trong hình ảnh có thể có: văn bản



    Không có mô tả ảnh.

    TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

      https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...