Hiển thị các bài đăng có nhãn entry cũ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn entry cũ. Hiển thị tất cả bài đăng

THÁNG TƯ

 Trong hình ảnh có thể có: hoa, thực vật và thiên nhiên
Tháng tư về…
 Trên những con đường Hà Nội gánh hàng rong thong thả màu vàng mơ chùa Hương, vòng xe đạp tinh khôi những bông loa kèn trắng… Tôi gọi tháng Tư Hà Nội là mùa dịu dàng, khi đông đã qua mà hạ còn ngập ngừng chưa đến.
Tháng Tư.
Mỗi sáng mỗi chiều sương giăng mờ đường phố. Quán bên đường thơm mùi café… Tháng Tư ơi sao vẫn làm người ta ngần ngại khi muốn ngồi xích lại gần nhau...
Tháng Tư.
Đêm bên Hồ Gươm vừa quen vừa lạ. Lòng vẫn mềm khi nhắc về chuyện cũ dù lời nói như bông đùa. Bạn chắc đã quên sao mình còn nhớ mãi…?
Tháng Tư. Một lời nhắn vu vơ… hẹn rồi nhưng không gặp. Uh, cuộc đời đôi lúc cũng
như mạng ảo mà thôi…
Tháng Tư đi… nhớ hẹn tháng Năm về…

Trong hình ảnh có thể có: hoa, bầu trời, thực vật, cây, ngoài trời và thiên nhiên

Tháng Tư về…
 Trên những con đường Sài Gòn hoa lẫn trong nắng vàng đầu hạ. Cánh điệp vàng bay theo từng làn gió mát. Hoa bò cạp rực rỡ từng chùm đong đưa theo dòng xe hối hả.
 Tôi gọi tháng Tư Sài Gòn là mùa thương nhớ, khi người ra đi và người ở lại mãi mong một ngày được về lại bên nhau…
Tháng Tư.
Cái nắng cuối mùa oi bức làm người ta chỉ mong tìm một nơi bóng râm mát mẻ, ngồi đó và trò chuyện về thời đã qua, thời mà ta chia tay chỉ vì phải chia xa như thế…
Tháng Tư.
Nơi bạn ở hoa mùa xuân tràn đường tràn phố. Hơi ấm quay về sau một mùa đông giá lạnh. Xe chạy trên xa lộ mang theo lời ca nhắn nhủ “về đây nghe em, về đây nghe em…”
Bao nhiêu năm đã trôi qua, cuộc sống dẫu dài nhưng cuộc đời mỗi người là hữu hạn. Tháng Tư ơi hãy để bạn tôi trở lại Sài Gòn…

Trong hình ảnh có thể có: bầu trời, cây, thực vật, ngoài trời và thiên nhiên
(Tháng Tư 2010)


Chúc mừng sinh nhật con gái Châu Quyên!



Mẹ sinh con sau một cơn đau kéo dài đến 2 ngày, cơn đau mà chỉ có người phụ nữ nào đã trải qua mới có thể hình dung được. Lúc mới lọt lòng con là một cô bé tròn trịa có cặp mắt rất to và đôi môi đỏ như son. Cô bác sĩ vừa đỡ cho con ra đời nói “con bé xinh quá, hiếm có đứa trẻ nào mới sinh mà nết nào ra nét ấy như thế”. Mẹ như quên hết nỗi đau đớn vừa trải qua, tràn ngập cảm giác dịu dàng của lần đầu làm mẹ khi nhìn thấy con.
Thấm thoắt con đi nhà trẻ, rồi mẫu giáo. Con vào lóp 1 tung tăng váy xanh áo trắng… lên cấp 3 với tà áo dài tinh khôi. Con vô đại học, rồi đi làm… Chưa bao giờ con làm mẹ phải buồn lòng vì bất cứ chuyện gì. Con gần 3 tuổi thì mẹ sinh em gái. Tối đầu tiên mẹ bế em từ bệnh viện về, con quấn quýt bên em. Mẹ bảo: tối con lên gác ngủ với bố nhé, nằm với mẹ nhỡ em tè ướt người con. Con không nói gì, đến tối kéo lê chiếc gối ôm lên gác vừa đi vừa chảy nước mắt. Mẹ thương quá lại gọi xuống, thế là ba mẹ con nằm với nhau… Sàn sàn tuổi nhau nhưng con luôn là Chị Hai dịu dàng, nhường nhịn em, chăm sóc em chu đáo. Nghề của mẹ hay phải đi công tác, con đã sớm biết phụ mẹ nấu cơm đi chợ. Món nào mẹ cũng chỉ hướng dẫn 1,2 lần là con biết làm. Bây giờ có những món con nấu còn ngon hơn cả mẹ nữa. Cuối tuần là những ngày con trổ tài nấu nướng còn mẹ thì khoe… trên blog. Con gái còn là “tay hòm chìa khóa” của mẹ nữa đấy.
Vẫn biết sẽ có ngày “con cái đặt đâu cha mẹ ngồi đấy”, mẹ vừa mong nó đến để được yên tâm vì thấy con trưởng thành, vì đã có người đi cùng con với tất cả tình yêu trên con đường dài phía trước … lại cũng mong nó đừng vội đến, bởi vì nếu nhà mình mà vắng con thì sẽ buồn lắm… Nhưng dù sau này con ở đâu làm gì thì mẹ vẫn tin rằng mẹ con mình mãi là những người bạn có thể chia sẻ với nhau tất cả như nhiều năm qua…
Cuộc sống không phải lúc nào cũng là những điều tốt đẹp, cuộc đời sẽ mang lại cho con cả niềm vui và cả những nỗi buồn. Nhưng đừng để lòng đố kỵ, sự ghen ghét, hận thù có chỗ trong trái tim. Hãy luôn giữ được tình yêu thương và sự quan tâm đến người thân, với mọi người, và hãy luôn mỉm cười, con nhé. Mong sao cuộc sống của con sẽ luôn được bình yên, Niềm vui và Hạnh phúc sẽ luôn ở bên con.
Điều may mắn nhất của mẹ là đã có con và em, và  thành công nhất của mẹ là hai cô con gái ngoan hiền. Và cũng như tất cả những người mẹ khác, với sự thiên lệch thường tình, bao giờ con gái của mẹ cũng là cô gái xinh đẹp nhất!
Chúc mừng sinh nhật con gái yêu của mẹ!

P/S. Còn một điều vui vui: “Nhờ” cơn đau hai ngày ấy mà con ra đời đúng ngày tròn một năm mẹ lên xe bông, hihi :)

Nắng lạnh



Tôi đến Thiên Tân – thành phố lớn thứ 3 ở Trung Quốc sau Thượng Hải và Bắc Kinh – vào một ngày tháng 2 nắng lạnh. Lần đầu tiên biết cái lạnh của phương Bắc. Nắng rực rỡ thế mà buốt trong xương, gió nhẹ nhàng thế mà rát mặt mũi… Những con đường có hai hàng cây giao nhau trơ trụi cành không một nhành lá trông thật đẹp, vẻ đẹp của sự cô đơn, và cứng cỏi.

Lần đầu tiên nhìn thấy tuyết rơi. Đêm, bầu trời bỗng ưng hồng, rồi hàng ngàn bông tuyết nho nho như mưa xuân nhẹ nhàng bay xuống. Chốc lát những bông tuyết vương trên tóc, trên áo, đọng trắng xóa trên cây. Trong ánh đèn vàng thành phố lấp lánh một trời mưa tuyết… Sáng mai khắp nơi sẽ phủ một màu trắng tinh khôi. Người phương Nam cầu được ước thấy, đã qua tháng 2 rồi mà trên mỗi con đường, mỗi khu vườn vẫn có những “cây thông Noel” phủ dày tuyết trắng. Bạn hỏi: thấy tuyết chưa, đẹp không? Nếu bạn từng nhìn thấy cảnh tuyết rơi trong những bộ phim tình yêu lãng mạn thì có thể bạn sẽ thất vọng… Nhưng may thay cái cảm giác lần đầu nhìn thấy tuyết rơi có lẽ không ai giống ai, đã mang lại cho tuyết một vẻ đẹp diệu kỳ khi ta được khi nhìn thấy tận mắt…

Là một thành phố cảng cách Bắc Kinh khỏang 150 km, dân số hơn 11 triệu người, Thiên Tân là thành phố văn hóa lịch sử nổi tiếng, hiện tại có 37 điểm du lịch đạt cấp tỉnh và đạt chuẩn quốc gia. Trong đó phải kể đến Độc Lạc Tự của Tế Huyện hơn 1.000 năm tuổi. Ngoài ra còn Hậu Cung, Văn Miếu, Thanh Chân Đại Tự, Đại Bi Viện, Đại Khiết Khẩu Pháo Đài, Giáo đường Vọng Hải Lầu, Hội quán Quảng Đông. Bảo tàng Thiên Tân hình dáng con thiên nga khổng lồ với ba tầng lầu đầy những cổ vật độc đáo, bảo tàng Lịch sử tự nhiên kiến trúc hiện đại, hiện vật trưng bày vô cùng hấp dẫn… Nhưng Thiên Tân cũng là một thành phố công nghiệp hiện đại: cái nôi và trung tâm của công nghiệp xe hơi Trung Quốc và đang xây dựng ngành công nghiệp hàng không. Thiên Tân - một đặc khu kinh tế với mức tăng trưởng rất cao, và như một tất yếu, cũng là thành phố có mức độ ô nhiễm môi trường vào bậc nhất Trung Quốc. Thành phố phương Bắc này mang một vẻ mâu thuẫn kỳ lạ. Dường như một thành phố Trung Hoa thời Lỗ Tấn vẫn còn qua những giọng nói nhanh và rất to có thể nghe thấy khắp nơi, trong cửa hàng, trên đường phố tràn ngập màu đỏ của những biển hiệu toàn chữ Hoa, của đèn lồng, những chiếc xe đạp cũ kỹ, xe lam xấu xí, dòng người đi bộ khép mình trong áo khoác dày sẫm màu... Đồng thời cũng là một thành phố hiện đại với những con đường rộng rãi 8 làn xe hơi lao vun vút, xe bus nối đuôi nhau tại các trạm dừng, những bước chân vội vã giày thể thao, giày bốt cao cổ, điện thoại di động, máy nghe nhạc, quần jeans, váy ngắn... Một thành phố với những toà nhà đồ sộ kiến trúc hiện đại, những cầu vượt đường tầng, tháp truyền hình vút cao giữa nền trời xanh thăm thẳm và một thành phố của những con phố nho nhỏ vắng lặng, hai bên đường còn nguyên những ngôi nhà cổ xưa mái ngói xanh khung cửa gỗ có “đèn lồng đỏ treo cao cao”.

Tháng hai, những tia nắng mùa xuân ấm áp chưa xua hết cái giá lạnh còn sót lại của mùa đông phương Bắc. Nhưng mặt trời đã đến mỗi ngày đều đặn hơn, thành phố như thức dậy sớm hơn và đi ngủ cũng muộn hơn. Trường đại học Nam Khai – trường đại học lớn nhất Thiên Tân và là một trong 10 trường đại học lâu đời và nổi tiếng nhất Trung Quốc – rộng mênh mông, nhiều tòa nhà cũ mới nối liền với nhau bằng những con đường có hai hàng bạch dương cao vút. Khu trường như bừng tỉnh sau mùa đông dài giá lạnh. Sinh viên lại tấp nập trên đường, trong lớp. Những ngôn ngữ đến từ nhiều nước khác nhau bất chợt vang lên ở khắp nơi. Trường đại học như một thành phố nhỏ trong thành phố lớn. Có cảm giác rằng nhịp sống của thành phố nhỏ chính là nhịp đập trái tim thành phố lớn. Một trái tim trẻ trung, khoẻ mạnh. Một trái tim nồng nhiệt từ những dòng máu đến từ nhiều nơi trên thế giới.

Đi trên đường phố Thiên Tân tôi nhớ đến một sự kiện có liên quan đến lịch sử cận đại Việt Nam: Đây là nơi ký kết bản Hòa ước Thiên Tân năm 1885. Hòa ước Thiên Tân được ký kết giữa chính phủ thuộc địa Pháp và triền đình Mãn Thanh vào năm 1885 sau Chiến tranh Pháp -Thanh nhằm tranh giành ảnh hưởng đối với Việt Nam, chấm dứt chiến tranh Pháp -Thanh, quân đội nhà Thanh phải rút khỏi Bắc Kỳ, và công nhận sự hiện diện bảo hộ của Pháp với Việt Nam, chấm dứt vĩnh viễn quan hệ thượng quốc - chư hầu giữa Trung Hoa và Việt Nam.

Một tuần trôi qua, vừa mới kịp làm quen với cái lạnh của thời tiết và giọng nói nồng nhiệt của người phương Bắc. Bỗng giật mình khi nhìn thấy trong hầu hết các phòng học của trường đại học đều có hai tấm bản đồ rất lớn: Một bản đồ thế giới tô màu nổi bật lãnh thổ rộng lớn của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, và một bản đồ hành chính Trung Quốc, trên đó “cái lưỡi bò” ngạo nghễ vươn dài xuống vùng biển phía Nam, đầy thách thức. Những tấm bản đồ du lịch để ở sân bay, bán nơi hiệu sách, trong những trang sách lịch sử... cũng đều như vậy. Trái tim tôi đau thắt, trong số những sinh viên Việt Nam đang học ở đây có bao nhiêu em chú ý đến điều này? Bao nhiêu em thờ ơ hay mặc nhiên chấp nhận điều đó? Và còn bao nhiêu sinh viên những nước khác…?
Càm giác yên bình và vô tư trong tôi khi đến Thiên Tân không còn nữa...

PARIS, MÙA THU TÍM… (2)



Mấy ngày ở Paris, một mình với ba lô, bản đồ, một tập vé có thể đi tất cả các tuyến metro và xe bus (mua liền 10 vé rẻ được 20%!), chân giày Adidas, quần jean áo khoác ngoài (trời thu nóng lạnh thất thường), với vốn tiếng Pháp đủ để …xem bản đồ và chào hỏi xã giao, cứ thế tôi đi đến những địa danh đã in sâu trong tâm tưởng. Đến tháp Ep phen vào buổi chiều nắng vàng rực rỡ, nhìn thấy dòng người xếp hàng dưới chân tháp, tôi thấy tiếc – không phải tiếc mấy chục EUR mà tiếc vì thời gian của mình eo hẹp quá, không thể chờ đợi để “rồng rắn lên mây”. Đành tự nhủ, thôi thì để dành lần sau (mà lòng vẫn biết chắc sẽ chẳng có lần sau!). Lên chuyến tàu du lịch dọc sông Xen, qua mỗi địa điểm đều có lời giới thiệu tỉ mỉ phát qua hệ thống loa trên tàu. Toà Thị chính Thành phố nằm bên dòng sông Xen đang mở cửa đón du khách. Hàng năm vào cuối hè, Toà Thị chính trở thành điểm du lịch hấp dẫn trong 10 ngày, khách du lịch và người dân Paris có thể vào tham quan tòa lâu đài cổ, rất lớn và đẹp này, cũng là nơi làm việc của những người đứng đầu thành phố. Tàu đi qua Cầu Vàng, bảo tàng Orsay, Nhà thờ Đức bà…Nhìn từ sông Xen, toà nhà thờ nổi tiếng này không quá đồ sộ, lạnh lùng và ám ảnh như khi nhìn chính diện…Ngày khác tôi đi xe bus đến khu La tinh, đồi Mông mac, rồi quay về khu vực có nhiều quán hàng của người Việt. Chiều tối đứng từ Khải Hoàn Môn nhìn ra Đại lộ Săng Elide, dòng xe hơi nối nhau không dứt …Ừ nhỉ, đại lộ này có từ thế kỷ XIX, còn nguyên những viên đá chẻ lát đường và bọc vỉa hè, vậy mà đến nay vẫn đủ rộng cho 8 làn xe hơi, vỉa hè vẫn đủ thoáng cho hàng chục ngàn du khách tản bộ ngắm những cửa hàng, khách sạn sang trọng hai bên đường. Chợt nhớ đến khu vực Nhà thờ Đức bà và Bưu điện Sài Gòn – rộng hơn là những công sở ở khu vực Trung tâm thành phố – do người Pháp xây dựng từ những năm 1880 - 1890, khi mà dân số Sài gòn chỉ mới vài trăm ngàn người, đến nay đã hơn 7 triệu nhưng các công trình ở đây vẫn thực hiện tốt các chức năng của mình. “Quy hoạch đô thị” phải là như thế?

Phần lớn thời gian của tôi là dành để tham quan một số bảo tàng lớn ở Paris. Có trong tay tấm thẻ của “Hiệp hội các bảo tàng Quốc gia Pháp”, tôi “lang thang” ở Bảo tàng Louvre một ngày nhưng cũng chỉ xem được phần về các nền văn minh phương Đông, còn những phần khác thì đúng là “cưỡi tên lửa …xem hoa”! Nhất là khu trưng bày các tác phẩm thời văn hóa Phục Hưng, khách du lịch đông quá, không sao đến gần những bức tranh, bức tượng nổi tiếng được, tôi phải đứng từ xa zoom máy chụp hình. Mỏi chân quá bèn ngồi nghỉ trên những bậc đá cẩm thạch trắng tinh với chiếc ba lô bên cạnh, lúc đứng lên chưa kịp cầm thì một người bảo vệ hiện ngay ra nhắc nhở – Paris vẫn cảnh giác với nạn khủng bố mà!

Khác với bảo tàng Louvre vốn là một cung điện, bảo tàng Orsay – trưng bày mỹ thuật hiện đại – được “cải tạo” và xây dựng lại từ một ga xe lửa. Cấu trúc bên ngoài hoàn toàn không thay đổi nhưng bên trong là những phòng trưng bày với phong cách và nhiều trang thiết bị hiện đại. Một vài bảo tàng lớn của nhà nước cũng vậy, thường sử dụng những toà nhà cổ, ở vào vị trí thuận lợi trên các tuyến đường, nhưng phần nội thất được làm mới hoàn toàn để đáp ứng các chức năng hoạt động của bảo tàng hiện đại. Có thể nhận thấy Paris đang luôn cố gắng giữ cho được những gì làm cho Paris đã trở nên quen thuộc với thế giới và làm cho nhiều người yêu quý Paris. Đồng thời cũng làm cho nó ngày càng mới mẻ và hấp dẫn hơn.

Ngày cuối cùng tôi đi xuống Vec xay, cách Paris khoảng 40 km. Xe lửa cứ 20 phút có một chuyến, mua vé khứ hồi (tất nhiên, rẻ hơn mua 1 lượt!) và chỉ khoảng 30 phút sau thì đến nơi. Từ ga xe lửa đến khu lâu đài Vec xây đi bộ chừng 15 phút, qua 1 khu chợ trời, vài con phố nhỏ và một công viên rợp mát bóng cây, trông thật bình yên với thảm cỏ xanh và những hàng ghế gỗ dọc hai bên đường. Cũng như ở Louvre, một ngày cũng chẳng kịp xem hết những căn phòng chứa đầy bí ẩn trong lâu đài Vec xây, nhưng tôi đã được đi dạo trong khu vườn nổi tiếng… Những bồn hoa rực rỡ, hồ nước trong xanh có khối tượng những nàng tiên làm đài phun nước, thảm cỏ xanh ngút ngát giữa hàng tượng cẩm thạch trắng tinh, nép mình vào lối đi nhỏ bên hàng rào cây xén bằng phẳng… tưởng như chỉ một chút thôi, sau khúc quanh kia sẽ hiện ra những chàng ngự lâm quân can đảm…

Vài ngày ở Paris vụt qua rất nhanh.Tiễn tôi ra phi trường là bầu trời xanh trong vắt của một sáng cuối thu, hàng cây cổ thụ dọc theo các đại lộ những tán lá đã ngả vàng rực rỡ… Nhưng niú giữ trái tim tôi ở lại Paris là làn sương tím những buổi chiều nhạt nhòa, sắc tím nao nao của thảm Violet bên cạnh Viện bảo tàng Tự nhiên, và màu phớt tím dịu dàng của chiếc khăn choàng người bạn Paris gửi tặng…Chợt ước mong một ngày, nếu ai đó lần đầu đến với Hà Nội của tôi thì cũng sẽ có được cảm xúc như khi tôi đến Paris: lạ lẫm nhưng vô cùng quen thuộc, mới mẻ mà vẫn luôn cổ kính…

Suốt chuyến bay về, vẳng bên tai tôi một giai điệu như một lời trách cứ... Ngày rời Paris, em đã bỏ quên con tim…*

họp họp nữa họp mãi...


Hành quân xa đâu có gì gian khổ

Xe máy lạnh đâu có đổ mồ hôi

Mắt ta sáng thấy phong bì là ta mau tiến tới

Đời chúng ta đâu có họp là ta cứ đi

Có tuần họp 5 ngày đủ 10 cuộc. Có tuần tỷ lệ này giảm 50%... hiếm tuần nào giảm xuống dưới 30%. Bạn bảo: họp họp gì họp hoài! Mình bảo: phải có lương tâm tí chứ, lãnh lương thì phải đi họp. Nhưng cũng phải nói ngay, mình đi họp chả mấy khi có phong bì (híc).

Từ kinh nghiệm mười mấy năm hay bị họp, “và ta biết một điều thật giản dị” , phàm việc gì muốn làm được thì… đừng họp. Còn việc gì phải họp nhiều thì sẽ… không làm được/ ko ai làm. Hay nếu ko muốn làm thì cứ họp, hay do cứ họp mà ko phải làm gì, hay do ko làm gì nên cứ phải họp…. Tóm lại cứ quẩn quanh quanh quẩn khứ hồi như thế!

Họp nhiều đầu óc mụ mị, rối tung, lâu dần thành mít đặc.

Họp nhiều không còn lúc nào lang thang café, ngồi nhìn lá rụng mưa rơi tơi bời chim cá cảnh…

Họp nhiều, chiều vỉa hè ly bia đắng nghét, tào lao chuyện này chuyện khác mà không sao cười nổi…

Họp nhiều, mặt mũi lúc đăm chiêu, lúc ngơ ngác như mấy anh bị vợ quản thẻ ATM vậy, lúc buồn rầu như nhà thơ đang làm thi, hay nhà thi đang làm thơ cũng rứa.

Túm lại, họp nhiều nó nhược hết cả người.

Họp nhiều nó bạc hết cả người.

Họp nhiều nó già hết cả người.

Thế mới phục ông nhà thơ Maiakopxki từ những năm 1920 đã phải kêu lên “cần phải có một cuộc họp để chấm dứt tất cả các cuộc họp” của “những người cộng sản loạn họp”. Nhưng đến nay là đầu thế kỷ 21 rồi mà vẫn chưa có cuộc họp cuối cùng ấy, đành vào bờ - lốc viết cái en - chi này, để xả bớt cái mụ mẫm, cái ngơ ngác, cái buồn rầu, cái nhược cái bạc cái già…

[entry cũ nhưng tâm trạng ko cũ :))]

VỚI SÀI GÒN



Từ nơi xa anh mail cho tôi, sau những dòng chữ ngắn gọn và rõ ràng thông báo về công việc như thường lệ, chợt dòng cuối một câu hỏi thảng thốt “Sài Gòn bây giờ thế nào hả em…?”.

Sài Gòn bây giờ thế nào ư?

Anh xa Sài Gòn đã rất lâu rồi, biết anh còn nhớ hay đã quên gì để có thể kể cho anh nghe nhỉ… Bỗng giật mình tự hỏi, ba mươi năm sống ở thành phố phương Nam đầy nắng gió này nhưng với tôi, Sài Gòn có những gì trong tâm tưởng?

Ấn tượng đầu tiên của tôi về Sài Gòn là từ một câu ca dao về vùng đất còn đầy vẻ hoang sơ lạ lẫm:
Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định – Đồng Nai thì về
cùng với tích chuyện xưa Thủ Hoằng dựng Nhà Bè ở ngã ba sông, để sẵn gạo củi giúp cho những người lỡ đường sông nước tạm dừng ghe xuồng nghỉ ngơi, chờ con nước lớn mà ngược vào vùng bán sơn địa Gia Định Đồng Nai hay theo nước ròng mà xuôi ra cửa biển Cần Giờ… Trong tôi, Đất Sài Gòn hiện lên nơi ngã ba sông Sài Gòn và sông Đồng Nai nhập vào nhau để cùng đổ ra biển Đông, và Người Sài Gòn hiện ra như những con người rộng rãi sẵn sàng làm việc nghĩa.

Nằm trong lưu vực Đồng Nai bao gồm cả lưu vực sông Bé, sông Sài Gòn với cửa sông/ cảng thị Cần Giờ từ gần hai ngàn năm trước, Sài Gòn – Bến Nghé xưa vốn là một thị tứ sông nước với sông Đồng Nai – Sài Gòn phía Đông, sông Bến Cát phía Bắc, đôi dòng Vàm Cỏ phía Tây và cửa Soài Rạp – Đồng Tranh – Cần Giờ phía Đông Nam. Vị trí địa lý tự nhiên đã “quy định” cho Đất và Người Sài Gòn tính cách phóng khoáng, cởi mở, dễ dàng tiếp xúc và giao lưu, tiếp nhận những cái mới, những người mới… Nếu không/ chưa kể đến thời tiền sử của vùng đất này từ khoảng 3000 ngàn năm trước thì Sài Gòn thường được biết đến như vùng đất mới 300 năm, với cái mốc mùa xuân Mậu Dần 1698 Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh Chúa Nguyễn Phúc Chu vào đất Gia Định lập nền hành chánh. Việc thiết lập chính quyền nhằm chính thức hóa đời sống của hàng chục ngàn lưu dân đã bằng đường biển, đường sông hay băng rừng vượt núi đến đây khai phá từ nhiều năm trước. Bản thân sự “khai sinh” Sài Gòn – Gia Định đã là quá trình những con người từ nhiều nguồn gốc, nhiều vùng miền trong cả nước, có cả những nhóm người Hoa từ lục địa Hoa Nam vượt biển xuống đây, hội nhập với các tộc người đã tụ cư lâu đời ở vùng đất này. Trong dòng lưu dân khai phá Sài Gòn – Gia Định, phần đông là nông dân từ miền Bắc, miền Trung… Cuộc sống quá vất vả khó nhọc nên những người nông dân đã phải suốt đời “đầu tắt mặt tối”, “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” dường như cho ta hiểu thêm một tầng nghĩa khác – bên cạnh ý nghĩa “đồng bào” – của huyền thoại nguồn gốc Mẹ Au Cơ và bọc Trăm trứng: phải chăng đó là bóng dáng quen thuộc của bầy gà hiền lành, cần mẫn kiếm ăn trong sân nhà vườn nhà, nhường nhịn chia sẻ cho nhau từng hạt lúa con sâu, tuy đôi lúc cũng “đá nhau” nhưng lại sẵn sàng xù lông bảo vệ lẫn nhau khi có lũ quạ lũ diều xuất hiện… Cũng những người nông dân ấy khi vào đến vùng đất thiên nhiên còn hoang sơ lạ lùng, đất rộng người thưa lại cùng cảnh ngộ, việc làm ăn không còn quá vất vả như trên cánh đồng ô trũng bị che chắn bởi đê điều ở châu thổ sông Hồng hay dải ruộng hẹp sát núi liền biển ở miền Trung, mà đồng ruộng làng xóm đã mở rộng theo dòng chảy của sông ngòi, kênh rạch, theo đó có thể đến những miền đất mới… Vì vậy, sự sẻ chia bao bọc được nhân lên mà tính cách phóng khoáng, nghĩa hiệp cũng được nhân lên cùng với sự năng động, quyết đoán hơn:“Làm đại đi, ừ, làm đại nghen!” là một cách ứng xử rất Sài Gòn/ Nam bộ của người Việt phương Nam.

Trải qua nhiều biến cố lịch sử, cho đến bây giờ nếu làm một cuộc thống kê ở các thành phố lớn về Hội đồng hương của các Tỉnh (chưa kể đến huyện, xã) thì chắc chắn, Sài Gòn là nơi có số lượng nhiều nhất! Ở Sài Gòn ta có thể nghe thấy tiếng nói, thưởng thức món ăn của nhiều vùng miền khác nhau nhưng cách thức làm ăn của những người tứ xứ tại đây vẫn đậm nét Sài Gòn: nhanh nhạy “chịu chơi”(chứ không chơi chịu), tín nghĩa “một là một, hai là hai”. Sài Gòn biết chấp nhận những khác biệt, không kỳ thị không tự lấy mình “làm chuẩn” để mà so sánh hơn thua về bất cứ điều gì… Nhờ vậy mà sâu thẳm trong người Sài Gòn là truyền thống văn hóa cội nguồn được gạn lọc rồi lắng đọng theo thời gian, để trong hoàn cảnh ngặt nghèo đến đâu Sài Gòn cũng luôn tìm được cách để vượt qua, để người Sài Gòn vẫn luôn là người Việt Nam dù hàng trăm năm thực dân cũ mới. Luôn thích nghi với những điều mới lạ nhưng không đánh mất bản chất của mình, ấy là một phẩm chất mà người Sài Gòn hôm nay mang theo mình như một hành trang quan trọng trên con đường hội nhập.

Sài Gòn bây giờ thế nào? Anh à, Sài Gòn bây giờ vẫn thế. Thành phố những năm gần đây đã mở rộng, cảnh quan thay đổi từng ngày nhưng vị thế Địa – Văn hoá, Địa – Kinh tế của nó thì vẫn không thay đổi. Đôi khi tôi nghĩ vẩn vơ: giá như hình ảnh ngã ba sông tại Nhà Bè được lấy làm biểu tượng của thành phố thì hay biết mấy, vì đây chính là vị thế “trời cho người chọn” để làm nên bản sắc Sài Gòn, cũng là tiêu biểu cho bản sắc Nam bộ. Thành phố giờ đã hơn 7 triệu dân mà phần lớn là người tứ xứ, những người đã làm nên sức sống trẻ trung năng động của thành phố đồng thời cũng được nơi đây nuôi dưỡng, cưu mang. Qua nhiều năm khó nhọc mưu sinh, nhiều người đã thầm hiểu, nơi mình được sinh ra là nơi để gửi nhớ gửi thương mỗi dịp năm hết Tết đến, còn Sài Gòn là nơi mỗi ngày ta có thể sống hết mình trong suốt cuộc đời … Và nếu như ta đừng quá “thiên lệch” lòng yêu thương đối với nơi chôn nhau cắt rốn thì tình cảm của ta đối với Sài Gòn sẽ “công bằng” hơn: Mỗi khi nghĩ về Sài Gòn lòng ta ấm áp một tình cảm gắn bó vì đây là thành phố của mình, vì ta cũng đã là người Sài Gòn!

Rất mong một ngày nào đó anh về lại Sài Gòn, đi trên những con đường hoa điệp vàng hay dưới hàng cây cao vút thả từng cánh hoa xoay xoay trong gió chiều, ngắm nhìn con người Sài Gòn, lắng nghe nhịp sống Sài Gòn, chắc hẳn anh sẽ đồng cảm hơn với cảm nhận của tôi: Sài Gòn bây giờ vẫn thế, và Sài Gòn bao giờ cũng thế…

một đọan miền Trung


NHỚ HUẾ

Nửa đêm, bạn điện thoại: ra Huế chơi đi, mọi người đang nhắc đây nè! Trời ạ, mãi mới ngủ được (dạo này mất ngủ triền miên), cú điện thoại của bạn sẽ làm mình thức suốt đêm cho mà coi…
Ừ, Huế… lâu quá rồi mình chưa ghé Huế. Bạn đừng vội tự ái khi mình bảo: chưa GHÉ Huế mà không phải là đến/ trở về/ ra với Huế! Bạn còn lạ gì nghề của mình, cái nghề đi suốt nhưng chả ở đâu lâu được quá vài tuần, có khi chỉ vài ngày… Mỗi nơi mình đã đến nói cho cùng cũng chỉ là ghé qua, liệu mình có đủ “tư cách” để có thể gọi là “trở về” dù không ít những kỷ niệm, nhưng cũng không thể chỉ là “đến” một cách lạnh lùng như một người khách lạ. Huế với mình cũng vậy. Xuôi ngược dải đất miền Trung không dưới mươi lần bằng xe hơi (chưa kể những lần đi bằng xe lửa, hay… bay ngang qua trời miền Trung), hầu như lần nào mình cũng ghé Huế. Có lần vì công việc, nhưng cũng nhiều lần chỉ ghé vào chơi với bạn bè, ngồi với nhau một ly cà phê hay vài li rượu, rồi mình lại tiếp tục ra Bắc hay vào Nam…
Mình biết Huế lần đầu vào một đêm tháng Năm năm 1975. Theo đoàn xe đi từ Hà Nội vào Sài Gòn ngay sau những ngày mới giải phóng, mình đến Huế sau … 4 ngày đi đường vô cùng vất vả! Sẩm tối xe vào đến thành phố, mọi người ồ lên khi nhận ra cây cầu Tràng Tiền vắt ngang hai bờ sông Hương ngày ấy còn rất vắng lặng. Đêm ấy đoàn xe nghỉ lại ngay bên bờ sông, mọi người tản ra mắc võng nghỉ rải rác quanh xe… còn mình, mình cứ loanh quanh dọc bờ sông, nhìn mấy con đò neo lại gần bờ, nghe giọng Huế nhẹ nhàng nửa lạ nửa quen, cố tìm trong đêm xem núi Ngự đang ngự nơi nào… Đêm qua mau, sáng sớm đoàn xe tiếp tục hành trình về Nam.
Lần đầu Huế để lại trong mình một cảm giác buồn…
Không hiểu sao những lần sau cũng vậy… Dù mình luôn có những kỷ niệm vui ở Huế. Ví như, mình đố bạn tìm ra một quán “Bún bò Huế” tại Huế, bạn bảo dễ ợt! Nhưng rồi bạn phải mất với mình một chầu cà phê hoành tráng (vì mình lôi theo cả đống bạn mình từ bảo tàng, từ trường đại học…), vì quả thật chỉ có những quán “Bún bò” mà không có quán nào kèm thêm chữ “Huế”! Hay, sau khi tấm tắc khen các loại bánh của Huế quá ngon, mình hỏi, bạn có biết tại sao các loại bánh Huế ngon không? Bạn lập tức thuyết trình như một chuyên gia ẩm thực lành nghề… Nhưng mình đã tỉnh bơ giải thích: bánh Huế ngon vì… quá ít! Chả lẽ ăn nhiều thì… xấu hổ quá (vì trước mặt đã là một đống lá, một chồng chén, hũ nước mắm vơi đi thấy rõ), mà ăn ít thì cứ thòm thèm mãi… vậy là bánh Huế lúc nào cũng ngon!!! “Đồ đểu” - nhiều lần mình đã khiến bạn mắng yêu mình như thế… Bạn vẫn luôn nhớ mình không ăn cay được, đi ăn gì bạn cũng dặn 1 tô không ớt. Thế mà nhìn mình vừa ăn vừa sụt sịt bạn cứ xót xa, lại tự “chê” món Huế của mình “cay hổng giống ai!”…
Bạn biết mình không thích đến những lễ hội kiểu “quốc doanh” mà, nhất là dịp festival ở Huế (đấy, mình lại làm cho bạn… bực mình rồi!). Nhưng bạn cũng biết mình luôn yêu Huế, vì ở đó mình có bạn, bạn ơi…

ĐÔI BỜ THẠCH HÃN

Đúng ngày rằm tháng Bảy năm ngóai tôi đến Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn. Hơn 10.000 ngôi mộ liệt sĩ được quy tập về đây, hơn mười ngàn chàng trai tuổi đôi mươi, quê từ 64 tỉnh thành đang quây quần tại đây… Đi qua nơi yên nghỉ của những chàng trai Hà Nội, của các tỉnh phía Nam, của Hà Bắc, Hà Tây, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình… chỉ kịp thắp vội vài nén nhang, lòng cầu mong các anh thông cảm vì không thể đến với từng người… Lướt qua những dòng bia mộ, có anh nhập ngũ được vài năm, có anh nhập ngũ chỉ mới vài tháng, nhiều anh còn chưa tìm thấy tên tuổi… Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn giờ đã khang trang hơn xưa, nhưng vẫn nắng Quảng Trị, vẫn gió miền Trung, vẫn xào xạc lá rừng Trường Sơn, vẫn những tên tuổi năm tháng ấy, thời gian ở đây như ngập ngừng không muốn trôi qua để giữ mãi tuổi thanh xuân của những người đã yên bình nơi đây…
Thành cổ Quảng Trị, 81 ngày đêm đỏ lửa. Nắng hôm nay có dội lửa như những ngày năm ấy? Gió hôm nay có thiêu đốt như những ngày năm ấy? Sông Thạch Hãn, 81 ngày đêm đỏ máu… “đáy sông còn đó bạn tôi nằm”… Sông ơi, sông hôm nay có quặn dòng như những ngày năm ấy…?
Trên đất nước này còn biết bao nghĩa trang chưa được chăm nom như thế?
Trên đất nước này còn biết bao con người chưa tìm được sự bình yên như thế?
Bên này, bên kia… như hai bờ của dòng sông quê mẹ, lỡ chia đôi nhưng một chuyến đò ngang cũng đủ nối liền. Sao hơn 30 năm rồi mà vết cắt vẫn còn đau…?

ANH HAI


Nhà có 3 anh em, anh là anh Hai, đến chị Ba, và em là Út. Anh em mình cách nhau tròn một giáp. Ngày thơ ấu của em, ba thường xuyên đi công tác vắng, với em, anh vừa là anh Hai, vừa là hình bóng của ba…
Má kể, má sinh anh vào những ngày kháng chiến ở Đồng Tháp mười. Mùa mưa nước ngập đồng mênh mang, không có một manh vải làm tã cho anh, ba phải kiếm bao bố đựng gạo về cho má giặt sạch, rồi các cô chú cho vài bộ quần áo cũ, anh được ủ mình trong những mảnh tã lót như thế mà vẫn lớn lên mạnh khỏe, “tròn cui”. Mùa nắng chang chang cháy khô cỏ lát, đất vàng phèn mặn, anh đã biết tự chạy ra hầm khi có máy bay, biết tát nước hầm cho má khi má sinh chị Ba… Không lạ là sau này anh rất thích bài hát “Lên ngàn” của Hoàng Việt, vì nó gợi nhớ nơi mà tuổi thơ của anh đã trải qua.
Ba má tập kết ra Bắc, bà nội bà ngoại năn nỉ má để anh lại hủ hỉ với nội ngoại vì chỉ đi hai năm rồi về thôi mà. Nhưng má thì luôn “mẹ đâu con đấy”, nhờ vậy mà hai mươi năm chia cắt bắc nam nhưng anh em mình không bị xa cách nhau, nhà mình may mắn không lâm vào bi kịch không ai muốn có, vì cha mẹ bên này con lại phía bên kia, như nhiều gia đình khác ở miền Nam sau năm 1975.
Những năm anh học trường học sinh miền Nam, hè về thăm nhà anh hay cõng em ra phố chơi. Thả em xuống đất anh cùng chúng bạn trèo sấu, dính ve. Một lần em lò mò đi xuống đường bị xe đạp xô ngã, mồm miệng sưng vêu, anh lo quýnh quáng, ko phải vì sợ ba má rầy la mà vì thương em bị đau… Lớn hơn một chút, mỗi lần thấy bóng anh từ đầu ngõ, em chạy ra “anh Hai, em không đi đất đâu, em đi dép rồi nè” và chìa bàn chân đen thui ra khoe! Anh nạt: đi vào rửa chân ngay, em phụng phịu: người ta rửa chân hôm qua rồi mà… Em đi sơ tán, anh đạp xe lên thăm em trong những ngày gió mùa đông bắc mưa dầm lạnh buốt, mua cho em từng trái cà chua hồng từng cái bánh khoai sọ, dỗ dành em đừng khóc mà nước mắt anh chảy dài khi quay về…
Tròn 18 tuổi anh đi bộ đội, làm lính lái xe ở Trường Sơn. Ngày anh nhập ngũ Hà Nội mưa to lắm, con đường Nam bộ trước ga Hàng Cỏ nước ngập mênh mông. Em khóc òa khi con tàu đưa anh đi, má vẫn cười nhìn theo anh nhưng đêm về má lặng lẽ khóc… nước mắt má cứ chảy âm thầm như thế cho đến khi anh lành lặn trở về… Gia đình đoàn tụ. Anh em mình đã sống như ba má mong muốn, dù làm gì vẫn thương yêu nhường nhịn nhau, không vì giàu nghèo không vì có dâu có rể mà anh em xích mích. Có gia đình riêng nhưng anh em mình lại gần gũi nhau hơn. Nhiều tâm sự của anh em là người luôn được anh chia sẻ…
Anh đã đi theo Ba hơn mười năm rồi, vì di chứng của những năm tháng ở Trường Sơn. Mỗi năm vào ngày ấy Má lại âm thầm rơi nước mắt…
Dù chiến tranh đã lùi xa hơn ba mươi năm…

Đà Lạt mùa vắng dã quỳ



Mọi năm tôi thường lên Đà Lạt vào khoảng tháng muời một. Lúc ấy là đầu mùa đông. Bước xuống sân bay Liên Khương, cùng với không khí se lạnh và đầy hương gió núi, đập vào mắt tôi đầu tiên bao giờ cũng là thảm dã quỳ rực lên trong nắng.

Dọc đường từ sân bay về thành phố Đà Lạt những vạt dã quỳ cứ hồn nhiên khoe sắc mặc cho bụi cuốn lên phủ đỏ hai bên đường… Đi đã nhiều nơi, chiêm ngưỡng nhiều loài hoa nhưng với tôi, chưa có loài hoa dại nào mang trong hình dáng mình vẻ trái ngược nhau đến thế: cây cứng cỏi thoáng những chiếc gai nhọn, kết thành từng vạt rậm rạp nhưng vẫn mềm mại uốn mình theo từng cơn gió lộng cao nguyên, trong nắng sớm mai hay trong buổi hoàng hôn màu vàng rực rỡ buộc người thờ ơ nhất đi qua cũng phải ngắm nhìn nhưng từng bông hoa vẫn e ấp này cánh này nhị, duyên dáng nổi bật trên nền lá xanh ngăn ngắt… Dã quỳ giống như một thiếu phụ từng trải mà vẫn vô cùng quyến rũ vì tâm hồn thanh sạch và tình yêu nồng nàn thơ trẻ… dù không phải ai đến với nàng cũng hiểu và yêu nàng vì điều đó…

Năm nay lên Đà Lạt khi mùa dã quỳ đã qua mà trời đêm vẫn vừa đủ lạnh cho những đôi lứa đi bên nhau nép sát vào nhau… Không có dã quỳ dường như Đà Lạt xa lạ hơn, tôi như cô đơn hơn khi ngồi cà phê một mình nơi quán nhỏ đầu con dốc dài đi xuống thung lũng mờ sương vắng những đốm vàng ấm áp… Vào mùa này dã quỳ chỉ có ở một nơi xa lắm… Đã lâu rồi, hình như cũng vào một buổi tối se lạnh như thế này, có người đã hẹn sẽ cùng tôi lên Ba Vì ngắm dã quỳ nở vào mùa hè chứ không phải vào đầu đông như ở Đà Lạt… Nhưng rồi với tôi, lời hẹn ấy mãi mãi chỉ là hẹn ước…

Ở Đà Lạt thú nhất là ngồi quán cà phê.
Quán cà phê ở đây có thể gặp trên mọi đường phố, là ngôi nhà lầu đồ sộ ven đường hay là sân vườn ngôi biệt thự nằm sâu trong con đường nhỏ quanh co. Lớn hay nhỏ, sang trọng hay bình dân, phong cách trang trí thể hiện cá tính nghệ sĩ hay đậm nét trẻ trung sinh viên… những quán cà phê như vậy là nơi ta có thể ngồi vào bất cứ thời điểm nào trong ngày, một mình, từng đôi hay cùng bạn bè, bên ly cà phê thơm nồng, ly trà gừng thơm dịu mà ngắm nhìn những thiếu nữ tóc buông dài, áo len màu tím, màu xanh khoác ngoài áo dài trắng, ôm cặp sách thong thả đến trường mỗi buổi sớm mai hay trở về nhà vào mỗi hoàng hôn.

Trong một quán cà phê như thế bất ngờ lần này tôi gặp lại một người bạn cũ.
Khi tôi bước vào, nơi góc quán có một nhóm người đang trò chuyện vui vẻ. Có vẻ như câu chuyện xoay quanh văn chương thơ phú. Vốn là khách quen, tôi lẳng lặng đến chiếc bàn nhỏ “của mình” sát ô cửa sổ rồi ngồi xuống và giở tờ tạp chí ra đọc. Vài gương mặt tò mò ngoái nhìn (ở Đà Lạt phụ nữ ngồi cà phê một mình là điều hơi lạ?). Đón ly cà phê từ tay cô bé phục vụ, chưa kịp đặt xuống bàn bỗng giật mình bởi một giọng nói hồi hộp: H. phải không, saoem lại ở đây…?

Phút chốc ngạc nhiên nhưng tôi nhận ngay ra anh.
Ngày ấy, tôi và anh cùng học với nhau chỉ một năm cuối cùng của trường trung học. Khi tôi vừa kịp quen với thành phố phương Nam ấm áp và sôi động thì anh đã cùng gia đình ra đi, đến một nơi cách xa nửa vòng trái đất. Nhiều năm sau tình cờ công việc làm chúng tôi biết nhau, rồi liên lạc thường xuyên hơn khi nhận ra là “đồng môn” thủa nào. Biết bao lần anh mail cho tôi, nói đủ thứ chuyện nhưng chưa một lần anh nói đến chuyện về quê, thậm chí cả khi tôi “rủ rê”: về chơi đi, bạn bè gặp nhau vẫn nhắc anh luôn đấy… Anh vẫn im lặng và lảng sang chuyện khác. Vì sao, tôi cũng không biết nữa… Thời gian sau này khi công việc đã kết thúc, tôi và anh ít liên lạc với nhau hơn. Công việc mới lại đến và cuốn tôi đi, trong nhịp sống bận rộn những mối liên hệ qua NET tưởng như bền chặt bỗng hóa mỏng manh, rồi thường mất hút tưởng như chưa từng bao giờ tồn tại…

Giây phút đầu tiên nói chuyện với nhau, cả tôi và anh đều không tránh khỏi ngỡ ngàng. Tôi, vì chưa quen với giọng nói hơi “cứng” của một người đã lâu ít dùng tiếng Việt. Còn anh, hơi ngạc nhiên với một chút gì như là trách cứ: đã ba mươi năm mà em vẫn không nói tiếng Sài Gòn được ư?!

Nhưng chính câu hỏi này đã làm chúng tôi bật cười vui vẻ. Hồi đó, anh và tôi thường “cạnh tranh” với nhau trong tất cả các môn học. Anh rất giòi ngoại ngữ vì là “dân trường Tây” từ nhỏ nên thường vượt qua tôi về môn này. Mặc dù cả hai đều học hành rất “tài tử” chứ không phải là kiểu người chuyên cần chăm chỉ, lại cùng hay làm thơ viết văn… nghiệp dư báo tường nhưng anh luôn tỏ thái độ không thích tôi , chỉ vì giọng nói “rặt Bắc kỳ” của tôi! Có lần anh nhái giọng chọc quê một cách đầy ác ý, làm tôi tức đến phát khóc khi tôi nói một điều gì đó bằng giọng Bắc mà bạn bè không hiểu… Từ đó trước mặt anh tôi bỗng e dè ít nói hơn, nhưng nếu nói thì cố ý dùng toàn tiếng “Hà Nội chuẩn” để chọc tức anh, dù tôi đã có thể nói giọng Nam bộ một cách dễ dàng. Vài lần như vậy dường như cũng đủ để anh hiểu sự bướng bỉnh của tôi và sự… vô lý của mình nên lúc ra đi, qua người bạn thân anh gửi đến tôi lời chào tạm biệt “cô nhỏ Bắc kỳ dễ…ghét”.

Bao năm trôi qua nhưng dường như anh không thay đổi mấy… Anh cũng nhận xét về tôi như vậy. Có lẽ mối liên hệ từ mấy năm trước đây đã mang lại cho chúng tôi cảm giác đó? Được biết anh về Sài Gòn để lo thủ tục cho một dự án đầu tư về công nghệ thông tin. Công việc tạm ổn, trước khi quay về bên đó anh lên Đà Lạt nghỉ ngơi mấy bữa, cũng để gặp gỡ một số bạn bè bàn việc sẽ triển khai một dự án khác trên này. Anh nói, gần một tháng ở Sài Gòn nhưng anh không thể liên lạc với tôi vì e-mail cũ tôi đã không còn sử dụng. Qua vài người bạn anh biết tôi đã có một công việc mới, hình như cũng đi công tác thường xuyên và ít ở Sài Gòn… Hỏi thăm nhau về gia đình, anh hóm hỉnh Sao, con gái em có nói giọng Bắc kỳ như em không? Dạ không, nó nói rặt giọng Sài Gòn anh ơi. Còn con trai anh thì sao? Ừ, anh sợ nó không quen nên rèn dữ lắm, giờ thì nó nói tiếng Việt cũng khá, nhưng chắc không bằng… ba nó đâu! Đấy, ba mươi năm nói tiếng Tây nhưng anh có quên tiếng Việt được đâu, huống chi em ở đây, giọng Nam hay Bắc thì cũng là tiếng Việt mình, phải không anh…

Từ ô cửa nhỏ nhìn xuống thung lũng trải dài ngút ngát dưới ánh nắng vàng như mật ngày chớm hè, tôi chợt nhận ra Đà Lạt trong một màu sắc mới: màu tím tươi thắm của dàn bông giấy bên hàng rào ngôi biệt thự cổ, thấp thoáng đây đó bông bằng lăng tím e ấp dịu dàng, và hàng phượng ven đường những chùm hoa ngơ ngác tím… Tiết trời Đà Lạt làm cho sắc tím nơi đây thật lạ, như sắc tím đôi mắt thiếu nữ trong lần hò hẹn đầu tiên…

Mùa này Đà Lạt không có dã quỳ…

(Đăng Tạp chí Người Đô Thị ngày 25/5/2010)

TẢN MẠN VỀ NGƯỜI PARIS


Tôi có thể biết gì và nói được gì về người Paris nhỉ, khi mà tôi chỉ tình cờ gặp họ trên đường phố hay may mắn hơn, được tiếp xúc vài lần trong thời gian ngắn ngủi tôi đến Paris?

Ấn tượng về người Pháp nói chung và người Paris nói riêng đến với tôi là từ ba tôi. Dù chỉ là giáo viên tiểu học thời trước năm 1945 nhưng ông có một vốn tiếng Pháp tuyệt vời và sự am hiểu sâu sắc nền văn hoá Pháp, như ông vẫn nói, là nhờ ông đọc rất nhiều sách tiếng Pháp. Trong nhà tôi có một tủ sách lớn mà phần nhiều là sách văn học được ba tôi cần mẫn tìm mua và gìn giữ suốt cuộc đời, kể cả những lúc khốn khó nhất. Cùng với “tài sản” quý giá này ông còn để lại cho chúng tôi tình yêu văn học – nhất là dòng văn học lãng mạn – cổ điển của Pháp, và sau này là văn học Nga – Xô viết. Từ đó, những nhà văn Pháp mà tôi vô cùng yêu thích, với tôi chính là hiện thân của “người Paris”. Những nhân vật trong các tác phẩm của họ đã trở thành những người bạn không quen biết mà trong những khoảnh khắc chống chếnh, khi tôi tìm đến họ đã âm thầm giúp tôi lấy lại thăng bằng trong cuộc sống.

Chút hồi hộp như sắp gặp lại những người thân quen từ thời thơ ấu. Bao thời gian đã trôi qua, liệu tôi có còn nhận ra được họ…?

Do thói quen nên những ngày ở Paris tôi thường dậy sớm. Một mình trên con đường vắng lặng, cảm nhận hơi thở mùa thu tinh khiết từ những vòm lá còn đẫm sương đêm, từ mùi thơm những khay bánh mì mới hay ly cà phê trong cửa hàng nhỏ…Trên phố có người thong thả dẫn theo bên mình chú chó lông xù trắng tinh có đôi mắt nhỏ đen láy, trông như hai cái nút trên tấm áo choàng lông thú! Những tốp công nhân làm ca đêm trong dáng mệt mỏi vội vã đi về, có người ghé vào cửa hàng mua một chiếc bánh mì lớn còn nóng hổi, vừa đi vừa ăn thật ngon lành. Đó là những công nhân đang thi công lắp đặt hệ thống đường xe điện trên mặt đất, phục vụ cho du lịch tham quan khu trung tâm “phố cổ” Paris, nhưng việc đào đường chỉ tiến hành vào ban đêm để không gây kẹt xe… Hầu như ở mỗi góc phố đều có một quán cà phê mà trang trí và phong cách phục vụ có lẽ không thay đổi từ hàng trăm năm nay, tưởng như chúng từ những trang tiểu thuyết hồi thế kỷ 19 bước thẳng ra hè phố! Những quán cà phê đã trở thành một phần không thể thiếu được của Paris. Ung dung bên làn khói nhẹ, ly cà phê và tờ báo, người Paris vẫn lưu giữ thói quen đón ngày mới như vậy. Từ khoảng sau bữa trưa quán thường đông hơn. Người Paris và người đến với Paris hình như luôn nhàn nhã, họ có thể ngồi với nhau hàng giờ chuyện phiếm về mọi vấn đề hoặc trầm ngâm cà phê một mình…Một người bạn Paris bảo tôi, người Pháp có một điều hơn hẳn người Mỹ, ấy là họ luôn được lãng mạn, mơ mộng và suy tưởng… Ngày trôi qua và Paris chỉ thực sự sống động khi thành phố lên đèn rực rỡ cho đến lúc mọi con đường ngõ phố chìm dần dưới làn sương giăng mờ tím, rồi từng ô cửa sổ lần lượt nhắm mắt, tắt đèn …

Trừ hai ngày cuối tuần, hàng ngày từ khoảng 8 giờ sáng đường phố bắt đầu nhộn nhịp. Dưới lòng đường từng dòng xe hơi nối đuôi nhau, có thể chậm nhưng không có hiện tượng kẹt xe ở các giao lộ, đơn giản vì mọi người đều tuân thủ tín hiệu đèn giao thông. Nếu có khách bộ hành nào lỡ qua đường đúng lúc đèn chuyển màu vàng hay đỏ thì dòng xe cũng tạm dừng lại để nhường đường. Người Paris đi bộ nhiều vì sử dụng phương tiện giao thông cộng cộng là chính. Họ luôn vội vã đến các bến xe bus hay mất hút trong đường hầm metro, trong ga xe lửa. Hầu như ai cũng đeo xách một chiếc túi khá lớn, chân đi giày vải mềm, thanh thiếu niên đi giày thể thao, máy nghe nhạc hay điện thoại đeo trên cổ, vừa đi vừa lắc lư theo tiếng nhạc… Những chuyến metro vào giờ cao điểm rất đông, nhưng chỉ cần một hàng máy soát vé tự động là đủ để cho dòng người trật tự ngay từ cửa vào. Trên các phương tiện giao thông công cộng, nhiều người tranh thủ chợp mắt vì quãng đường khá dài, hoặc đọc sách báo hay một cái gì đó, thỉnh thoảng nhìn lên bảng điện báo tên ga dừng, ga sắp đến hay trò chuyện nho nhỏ. Nhiều phụ nữ thường thay đôi giày cao gót, cất giày vải và áo choàng vào túi khi sắp đến ga xuống. Trong trang phục công sở hay một bộ quần áo lịch sự, ở họ toát ra một phong thái thật ung dung, duyên dáng đặc trưng của các Quý bà Paris… Trên một chuyến metro như vậy, khi tôi đang dán mắt vào tấm bản đồ thì có cảm giác ai đó chăm chú nhìn mình. Ngẩng đầu lên tôi bắt gặp ánh mắt vừa vội vã quay đi của một người phụ nữ trạc tuổi tôi, có vẻ như chị là Việt kiều ở Pháp đã lâu nên dễ biết tôi là người “đồng hương” mới qua. Suốt quãng đường dài, chị – vì không thể “bất nhã” mà nhìn tôi mãi, tôi - vì rụt rè cũng không dám hỏi chị để làm quen…Cho đến một ga, lúc bước xuống chị mới nhìn tôi và mỉm cười, một nụ cười làm cho mọi người Việt có thể nhận ra nhau ở bất cứ nơi nào trên trái đất… Tàu chạy rồi tôi vẫn thấy chị đứng đó, nhìn theo…

Dịp tôi ở Paris có Ngày hội Báo Nhân đạo – tờ báo của Đảng Cộng sản Pháp. Hàng chục báo của Đảng Cộng sản nhiều nước đã tham gia ngày hội này. Các gian trưng bày tuy nhỏ nhưng đều rực rỡ, nhiều tờ báo còn tổ chức biểu diễn văn nghệ dân tộc nên thu hút khá nhiều người ghé xem. Gian báo Nhân Dân của ta thì có quầy bán thức ăn Việt Nam bên cạnh, khách đông chen nhau mua chỉ với hai món chủ đạo là phở bò và chả giò. Những người bán luôn tay, hỏi ra mới biết toàn là du học sinh Việt Nam tình nguyện đến phục vụ và tự tổ chức quầy hàng này. Tìm đến gian trưng bày của báo Nhân Đạo. Rộng rãi, sáng sủa, có cả sân khấu ca nhạc, nhiều quầy hàng lưu niệm bán các ấn phẩm của tờ báo. Tôi ghé vào mua mấy cái logo báo Nhân Đạo để làm kỷ niệm. Hai cụ bà tuổi chắc ngoài bảy mươi, tóc bạc phơ và đôi mắt đã kém tinh anh – cũng là người tham gia phục vụ tình nguyện – hỏi tôi có phải là người Trung Quốc không. Khi tôi trả lời tôi là người Việt Nam thì hai cụ mừng rỡ, cứ nhắc đi nhắc lại hai tiếng Việt Nam, rồi lấy huy hiệu gắn lên áo tôi và nhất định không chịu lấy tiền khi tôi mua thêm mấy chiếc nữa. Khi tôi tặng lại cuốn sách giới thiệu Bảo tàng ở TP. Hồ Chí Minh thì hai cụ nắm tay tôi hồi lâu mà mắt rưng rưng…

Mỗi ngày tôi đều ghé tiệm Internet ở đầu ngõ để lên mạng xem tin tức và liên lạc với gia đình. Tiệm nhỏ chỉ có khoảng mươi máy, khá yên tĩnh vì khách phần nhiều là thanh thiếu niên ngồi “chát” hay e-mail, không thấy ai chơi game cả…Chủ tiệm là một anh chàng cao lớn, khuôn mặt vuông với bộ râu quai nón rậm đen trông như “Bin Laden” nhưng hiền khô! Biết tôi muốn mua thẻ điện thoại, bằng thứ tiếng Anh cũng khá như …tiếng Pháp của tôi, anh hướng dẫn tôi tìm trong một “rừng” thẻ điện thoại chọn loại nào gọi về Việt Nam rẻ nhất. Có lần tôi ghé vào lúc tiệm đông người không còn chỗ, thấy tôi tần ngần định quay ra, anh liền nhường tôi “máy chủ”: để gia đình bà ở Việt Nam không phải đợi lâu. Ngày cuối tôi đến chào tạm biệt, anh đã tặng tôi một chiếc thẻ điện thoại và nói: Mong bà sẽ sử dụng khi bà quay lại Paris …Bây giờ tôi vẫn giữ chiếc thẻ này như ấp ủ một niềm hy vọng…

Chỉ dẫn tận tình mọi việc cho tôi trong những ngày ở Paris là anh bạn đồng nghiệp mà tôi mới quen trước chuyến đi. Đó là một người đàn ông cao, gầy, mái tóc bồng bềnh màu hạt dẻ đã chớm bạc. Đôi mắt xanh sau cặp kính trắng luôn ánh lên tia nhìn hiền hậu nhưng chiếc mũi nhọn thì trông khá hài hước. Nhìn anh tôi cứ nghĩ, khi về già chắc anh trông rất giống Cụ Vitaly*! Anh khá kiệm lời nhưng khi nói về các vấn đề khoa học thì rất sôi nổi. Là người phụ trách chính về nội dung và mỹ thuật cuộc trưng bày cổ vật Việt Nam, anh đã thuyết phục mọi người phương án trưng bày hay nhất, tuy vậy anh vẫn tế nhị hỏi ý kiến tôi. Ở Paris, các bảo tàng về cổ vật hay bảo tàng mỹ thuật vẫn trung thành với phong cách “cổ điển” – nghĩa là cổ vật và tác phẩm mỹ thuật được trưng bày trong thế “tĩnh” và là trung tâm của nội dung trưng bày, các tài liệu minh họa, thiết bị nghe nhìn hiện đại và mọi phương án mỹ thuật đều phải làm tăng thêm vẻ đẹp nhưng không được làm nhạt đi hay lấn át yếu tố lịch sử của cổ vật. Đơn giản là phải làm cho cổ vật trở nên sang trọng hơn, xứng đáng với giá trị vật thể và phi vật thể của nó. Khi nghe tôi nhận xét như vậy và cho rằng, đó cũng là phương án tốt nhất đối với cuộc trưng bày này, anh bạn đồng nghiệp xoa tay hài lòng và nói vui: Tôi cứ nghĩ không biết bà có đề nghị cho “Madame Bovary”* mặc váy ngắn và áo hở bụng không? (anh muốn nói đến kiểu trưng bày mà cổ vật được “mô hình hoá” hay “sân khấu hoá” đang trở thành xu hướng được gọi là “hiện đại hóa” trong nhiều bảo tàng ở Đông Nam Á). Tôi cũng đùa: Vâng, nếu ông cho “Giăng Van Giăng”* mặc quần áo hip hop và đi giày Adidas??? Chúng tôi cười phá lên khi tưởng tượng ra cảnh đó! Vâng, Paris không chỉ lưu giữ những kho tàng di sản văn hóa vô giá mà còn bảo tồn cả truyền thống “văn hóa bảo tàng” hàng mấy thế kỷ, là đại diện tiêu biểu cho “trường phái cổ điển” của hệ thống bảo tàng trên thế giới.

Cùng làm việc với chúng tôi là những nhân viên các bộ phận nghiệp vụ bảo tàng, công nhân của một công ty chuyên vận chuyển và đóng gói cổ vật. Họ có phong cách làm việc hết sức chuyên nghiệp. Chuyên nghiệp thể hiện ở chỗ, mỗi người đều thành thạo công việc của mình, thực hiện đúng chức trách đồng thời tự giác về kỷ luật lao động. Dù công việc phải tiến hành khẩn trương, hầu như không ai nói chuyện phiếm trong giờ làm việc mà chỉ có vài trao đổi ngắn gọn, nhưng không khí làm việc vẫn khá thoải mái vì mọi người đều có trách nhiệm, quan hệ giữa những người đồng nghiệp hầu như không vướng bận điều gì. Do đó mọi việc nhỏ hay lớn luôn được tiến hành một cách suôn sẻ, hoàn thành đúng thời hạn, kết quả tốt và hiệu quả lâu dài.

Một lần trên chuyến xe lửa từ Paris ra ngoại ô, tôi nhìn thấy một người đàn ông trung niên mặc bộ quần áo đã sờn cũ nhưng lành lặn và sạch sẽ, tay cầm một xấp giấy đi dọc toa tàu và để cạnh mỗi người một tờ. Tò mò tôi cầm lên đọc. Tờ giấy có mấy hàng chữ in vi tính: “Tôi thất nghiệp và đang cố gắng tìm việc làm. Tôi còn 4 đứa con đang đi học. Cám ơn sự giúp đỡ của ông, bà!”. Vài hành khách để một ít tiền lên trên tờ giấy. Người đàn ông đi đến cuối toa rồi quay lại, lần lượt cầm tờ giấy và tiền lên, hơi cúi đầu cảm ơn và tiếp tục đi sang toa khác. Lặng lẽ, cam chịu nhưng dáng vẻ ông không làm cho người khác khó chịu hay thương hại. Trong các ga xe lửa hay metro thỉnh thoảng tôi cũng gặp những người như người đàn ống ấy, họ nhờ vào lòng hảo tâm của mọi người bằng cách đánh đàn, biểu diễn ảo thuật hay có người già yếu chỉ ngồi yên lặng trước một tấm bìa có ghi vài chữ. Người qua lại dù có giúp hay không giúp chút gì thì cũng tránh không để một cử chỉ, một ánh mắt nào có thể làm tổn thương đến những con người không may mắn ấy…

Dù Paris đã xa lâu rồi nhưng hình ảnh người Paris mà tôi chỉ thoáng gặp vẫn còn tươi nguyên… Dường như trong cái xôn xao rất lạ của mùa thu Paris trái tim bỗng nhạy cảm hơn, từ sâu thẳm ký ức tôi những “người bạn cũ” bỗng hiện về sống động trong người Paris hôm nay: hào hiệp, ân cần, hóm hỉnh nhưng đầy lãng mạn, và trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không mất đi lòng tự trọng – sự tự trọng ở mỗi con người nhưng cũng là của cả một nền văn hóa…

Góc khuất


Trong các tòa biệt thự, lâu đài hay trong mỗi căn phòng, mỗi ngôi nhà đều có những góc khuất. Thường là phía sau cánh cửa, dưới gầm cầu thang.
Góc khuất sau cánh cửa hiếm khi người lạ nhìn thấy, bởi chỉ khi đóng cửa lại, ngồi trong nhà mới thấy góc khuất ấy lộ ra. Có khi là cái chổi dựng ngược, có khi là một lũ quần áo dài tay ngắn ống đang mặc dở (và có cả một số thứ trang phục ko tiện kể ra…), có khi là những bức tranh lòe loẹt phản cảm hay ảnh các cô nhà nghèo trong tư thế gợi lên một số cảm giác gì đấy...
Góc khuất dưới gầm cầu thang hay được che chắn lại, thành kho chứa đồ cũ, đồ hư hỏng, ít dùng… Chỉ lúc cần thiết kho ấy mới được mở ra, và cũng hiếm khi người lạ nhìn thấy “nội tình” bên trong (hừhừ, chuột nhắt chạy sột soạt kêu chít chít, gián và kít gián hôi rình, con nhện giăng tơ đầy bụi… ắtxì liên tục…).
Và có những góc khuất khi nhìn thấy ta ko khỏi có cảm giác ngượng ngùng, như khi bước vào WC trong nhà của một người lạ, chẳng hạn.
Nói chung, trong (nhà) mỗi người, những góc khuất ấy người lạ khó thấy, khó biết. Chỉ có mình mới biết rõ nhất góc khuất của mình như thế nào. Hoặc chỉ trong một vài mối quan hệ thật thân thiết, khi mà khỏang cách tâm lý gần đến mức ta/ bạn có thể nhìn vào những “góc sau cửa”, “gầm cầu thang” của nhau mà ko có cảm giác ngại ngần…. Tuy nhiên khi ấy những góc khuất cũng bình thường như mọi chỗ khác trong ngôi nhà, tùy theo sự bố trí/ trang trí mà chủ nhân - muốn - ta - nhìn - thấy, và như ta - cũng - chỉ - nhìn - thấy như thế: nói chung là gọn gàng, sạch sẽ, đẹp đẽ, chỉn chu, duyên dáng, hoành tráng, cầu kỳ sang trọng…
Nhưng một lúc nào đó, “bỗng dưng… thấy chán”, cái góc khuất ấy lại là nguyên vẹn phía sau cánh cửa với linh tinh các thứ có thể và ko thể kể tên, lại là cái kho đồ cũ đủ thứ vụn vặt tầm thường, thậm chí còn là cái WC lâu ngày chưa cọ rửa…
Tự nhủ, nè, chịu khó “dọn dẹp” nhé, đừng để đến khi mình tự chán mình, chỉ thấy mình là cái góc khuất cũ kỹ tối tăm toàn chuột, gián và mạng nhện...
Hừmmm, đôi lúc muốn tìm xem có loại bình xịt thuốc diệt “côn trùng” trong đầu không nhỉ...

TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...