Hiển thị các bài đăng có nhãn tản văn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tản văn. Hiển thị tất cả bài đăng

GIÓ MÙA TẾT (Tạp chí Du lịch TPHCM xuân 2024)

 GIÓ MÙA TẾT

Nguyễn Thị Hậu
Cuối tháng mười một âm lịch, mùa nắng ở thành phố ngày càng gay gắt, nhưng chiều tối có những cơn gió từ phía biển mang theo hơi lạnh se se tràn về. Hơi gió quen thuộc nhắc nhớ mùa tết đang đến thật gần.
Mùa này, bà con miền Tây gọi những cơn gió thổi từ biển theo những cửa sông lớn nhỏ vào đất liền là “gió chướng”, chắc vì nó là nguyên nhân của sự xâm nhập mặn khá sâu gây trở ngại lớn đến sản xuất nông nghiệp, thủy sản và sinh hoạt của nhân dân. Nhưng với người xa quê lên thành phố làm ăn thì mùa gió chướng làm nỗi nhớ nhà cồn cào hơn, thúc giục người ta về quê sum họp. Thế là từ sau ngày cúng ông Táo 23 tháng chạp đường về miền Tây lũ lượt người xe, những cây cầu mới qua sông Tiền, sông Hậu thay thế những bến phà bến bắc trước đây làm cho đường về quê như gần hơn.
Người sống ở thành phố cũng thấy lòng chùng lại khi trên đường lá vàng rụng theo từng cơn gió, khi những chùm hoa giấy bung ra rực rỡ sau hàng rào nhà ai trong hẻm nhỏ... Không về quê nhưng nhiều người thành phố lại mong chờ người ở xa về ăn tết. Những ngày này sân bay Tân Sơn Nhứt lúc nào cũng đông nghẹt, ga quốc nội chủ yếu là người đi ra miền Trung miền Bắc, còn ga quốc tế đón hàng ngàn người từ nhiều nước trở về. Trở về có khi chỉ mươi ngày chưa kịp thăm hỏi hết bà con họ hàng, nhưng “chỉ cần được một ngày chạy xe máy và cảm nhận hơi gió chướng vây quanh, vậy là đủ để bù đắp những ngày tháng xa quê”, như tâm sự của một người bạn tôi.
***
Tháng mười âm lịch vào mùa khô, những cánh đồng miền Tây nước bắt đầu rút xuống các sông, kinh rạch, ao đìa. Cá cũng theo dòng nước về các sông rạch để có thể sinh sống qua mùa khô khắc nghiệt. Đây là lúc nhiều nơi bà con bắt đầu đào hầm để bắt cá. Tùy từng nơi chốn cụ thể và lựa theo thế nước chảy mà đào kiểu hầm khác nhau. Rồi sát tết thì tát đìa, ôi là nhiều loại cá tôm, nhiều nhứt là cá lóc, cá trê và cá rô đồng. Bữa cơm tối thường có canh chua và cá khô tộ thơm lừng trong hơi gió chướng...
Vào giữa tháng Chạp bà con miền Tây lo lặt lá cây mai để nhựa cây dồn tất cả chất dinh dưỡng nuôi các nụ hoa “cho mập”. Thời điểm lặt lá rất quan trọng để giúp cây mai nở rộ và đều bông vào đúng dịp Tết, bà con thường lấy ngày Rằm tháng chạp làm mốc để biết là sớm hay muộn. Năm nào nắng nóng quá, hoặc gió chướng mạnh thì mai sẽ nở sớm hơn, vì thế lặt lá mai trễ hơn từ sau rằm đến ngày 20. Nhưng năm nào mưa nhiều và chấm dứt muộn, thời tiết lạnh hơn, ít gió chướng thì mai sẽ nở trễ, vì thế phải lặt lá mai vào trước ngày rằm, khoảng mùng 10 -13 tháng Chạp.
Đường miền Tây vào mùa Tết rất đẹp vì nhà nào cũng có vài cây mai, có khi cả một vườn mai nở vàng rực. Cây mai như người bạn của mỗi gia đình miền Tây, nhìn mai nở biết người thân sắp về ăn tết, nhìn mai rụng biết người thân sắp rời nhà đi thành phố… Cây mai trồng trước sân trong vườn, người miền Tây ít khi chặt cành mai vô chưng trong nhà mà để mai nở tự nhiên giữa nắng vàng trời xanh, mang lại vẻ đẹp cho cả con đường, nét rực rỡ mùa xuân cho cả làng quê.
***
Khi Nam bộ vào mùa gió chướng thì ở miền Bắc đã qua gần nửa mùa đông với những đợt gió mùa đông bắc lạnh giá, có khi mang theo những cơn mưa làm cái lạnh càng như cắt vào da thịt. Nhưng có năm gió mùa đông bắc không đủ sức mang theo giá lạnh, thời tiết ấm áp “trái mùa” lại làm người Hà Nội và người xa Hà Nội bần thần nhắc nhớ... Dường như ai đi ngang cửa/ Gió mùa đông bắc se lòng/ Chút lá thu vàng đã rụng/ Chiều nay cũng bỏ ta đi... Thôi đành ru lòng mình vậy/ Vờ như mùa đông đã về... * Mùa gió Tết ở nơi nào trên đất nước mình cũng là “mùa nhớ”, thiếu nó thì một năm vừa qua chưa thể đủ đầy, một đoạn đời người chưa trọn vẹn.
Khi thời gian đang chuyển mình bước sang một chu kỳ tự nhiên mới, những ngọn gió mùa Tết làm nỗi nhớ dâng trào. Nhớ quê hương, nhớ nơi để lại nhiều ký ức, nhớ ai đó giờ đã là quá khứ, nhớ một thời đã qua của chính mình... Trong vòng xoáy quay cuồng của cuộc sống hiện đại, mỗi khi năm hết Tết đến lại bâng khuâng nhận ra gió mùa Tết đang về...
• Thơ Thảo Phương





NHỚ PARIS

 MỘT KIẾP NÀO ĐÓ Ở PARIS

Buổi sáng, khi mở mắt là thấy trời đã sáng rõ, không phải vì dậy trễ mà vì mùa hè phương Bắc gần như không có màu đêm. Ban đêm không khí như ở Sài Gòn, thỉnh thoảng có ngọn gió lang thang lướt qua làm dịu cả cái nóng bức của cả một ngày dài chói chang ánh nắng. Mở cửa sổ thì hơi lạnh nên đắp tấm chăn mỏng, nằm “nướng” và tha hồ nghĩ ngợi linh tinh, một cảm giác lười biếng dễ chịu của ngày thơ bé...
Paris có gì lạ không em? Ai cũng nhắn hỏi như vậy khi biết tôi đang ở Paris. Khi tôi trả lời một người bạn rằng, em thấy Paris vẫn thế chỉ có em dường như có khác khi trở lại. Anh nói: Paris lạ vì nó luôn làm người ta khám phá ra chính mình, mỗi lần một khác, mỗi lần một mới hơn!
Có lẽ vì vậy mà tôi luôn mong muốn trở lại Paris.
Paris là một thành phố có nét đẹp cổ kính tạo nên sự lãng mạn chưa bao giờ phai nhạt... Ở Paris hình như người ta luôn sống bình thản trong khung cảnh ấy. Nhiều người đến đây cũng bị “lây” sự bình thản và bỗng sống chùng lại. Tôi thích bước đi chậm rãi trên đường phố Paris, dưới những tán lá mùa hè xanh mướt, thi thoảng lọt qua kẽ lá một mảnh trời xanh biếc không một gợn mây. Những quán cà phê trên vỉa hè như ngưng đọng qua hàng trăm năm, ngồi đó và tưởng một kiếp nào đó mình từng sống nơi đây.
Kiếp nào đó... tôi đã quen thuộc một Paris với những quán sách cũ ven sông, những con đường dịu dàng ánh đèn vàng ấm áp, những cây cầu qua sông Seine đẹp như mơ, và một Paris “đẹp nhất lúc trời mưa” khi bên cạnh là một ánh mắt ấm áp và giọng nói trìu mến.
Kiếp nào đó... tôi đã quen thuộc những đại lộ lát từng viên đá chẻ vang lên tiếng xe ngựa lọc cọc, từng ngõ nhỏ mờ sương tím thấp thoáng bóng chiếc váy dài kiều diễm, công viên mùa hè rực rỡ nắng như lụa trên những chiếc dù ren trắng mong manh... Tôi từng quen thuộc những người “đàn ông Paris” hào hoa và hóm hỉnh, những vị vua chúa cao sang, những chàng ngự lâm quân can đảm và đa tình...
Kiếp nào đó ở Paris... có sự thất vọng ê chề của Madame Bovary, của những người đàn bà quên mình lao vào mối tình đẹp và buồn nhưng ngắn ngủi như ánh mặt trời hiếm hoi ngày đông lạnh giá... Có sự bao dung của lời tỏ tình đẹp nhất tôi từng biết “Ông Marius, hình như em có đem lòng yêu ông”...
Kiếp nào đó Paris là của “Những người khốn khổ”. Và đàn ông Paris ngày ấy, cũng như ở đâu ở thời nào cũng vậy, với họ “chiến đấu” bao giờ cũng là trên hết và trước hết. Màu cờ đỏ cứ làm cho tôi rờn rợn mỗi khi xem lại những bộ phim, những bức tranh... về thời cách mạng Pháp, khi đám đông quần chúng ào ào xông lên rồi ngã xuống trước những loạt đạn. Một nhà văn sau này đã viết một câu, đại ý: Quần chúng nhân dân làm nên lịch sử, nhưng lịch sử là đoàn tàu chạy trên đường ray có sẵn, và quần chúng thì ngồi trên tàu vỗ tay ca hát reo hò còn đoàn tàu đã có đầu máy kéo đi.
... Dẫu vậy, sau tất cả, rốt cuộc Paris làm cho tôi nhận ra rằng, cuộc chiến nào cũng vô nghĩa trước tình yêu!
Paris có gì lạ không ư? Đừng “hỏi khó” nhau như thế, nếu là người yêu hãy cùng nhau đến nơi đây dù chỉ một lần.
Từ biệt Paris, không biết có còn dịp nào trở lại thành phố này nữa không... Nhưng cảm giác một mình lơ lửng với mùa hè của tuổi đôi mươi mà Paris mang lại cho tôi sẽ mãi tươi nguyên... như ở một kiếp nào đó có một người vừa đi khỏi cuộc đời tôi...

___

ANH VÀ EM, VÀ PARIS

Paris có gì lạ không em?
Mỗi lần em quay trở lại
Dường như Paris không khác
Chỉ có em thay đổi mỗi lần
Không phải em khám phá Paris
Mà Paris khám phá em, lạ lẫm
Dưới tán lá xanh mùa hạ
Em trở về tuổi đôi mươi
Thèm được cầm tay anh
Thèm nụ hôn của anh
Trong quán cà phê
Trên vỉa hè phố cũ
Không phải em khám phá Paris
Mà Paris làm em chợt hiểu
Em vẫn nhớ anh da diết
Người đàn ông cô đơn của em
Paris có gì lạ không em?
Anh đừng hỏi em nữa nhé
Nếu trong ta còn ước mơ ngày cũ
Hãy cùng nhau trở lại Paris dù chỉ một lần...








QUÊ HƯƠNG


Tùy bút, Nguyễn Thị Hậu
1.Bạn từ xa về nhắn đi uống cà phê, hẹn ở một quán sân vườn ngoại ô. Hỏi: sao xa dữ vậy? bạn cười: ồ, quán này là quán vườn đúng nghĩa. Ừ nhỉ, từ xứ lạnh nhà cao thang máy chục tầng về, cần gì phải tới những quán máy lạnh cửa kính đèn mờ…
Lu bu, nửa buổi mới đến nơi. Quán lá, chòi bát giác dưới hàng dừa rợp bóng, thỉnh thoảng trái rụng lộp bộp xuống mương nước. Tiếng cá quẫy, tiếng gà gáy le te ban trưa… Quán vắng, bạn ngồi một mình với ấm trà nóng. Trông ung dung như chủ nhà sau một ngày làm việc.
Mỗi năm bạn đều cố gắng “về nhà” một lần, vào dịp gần tết dù chẳng bao giờ bạn ở lại đến tết. Thời gian nghỉ phép chỉ có vậy, công việc không như ở trong nước muốn nghỉ phép hồi nào là nghỉ. Bạn chọn mùa gió chướng để về, thuê một ngôi nhà nhỏ ven sông Sài Gòn để ở, mỗi ngày ngắm hai lần nước lớn nước ròng, đêm nghe gió chướng ngoài kia ào ạt để rồi thiếp đi trong hơi nước mang theo vị biển.
Năm nay cũng vậy. Khi tôi hỏi như năn nỉ: tết năm nay ở lại đi, bạn cười buồn, ở lại thì cũng một mình, thà bên đó đi làm cho qua ba ngày tết… Tôi vẫn biết nỗi cô đơn của bạn nhưng khi nghe bạn nói chợt thương bạn nhói lòng.
Rồi đến ngày bạn đi, để hẹn sang năm sẽ lại về. Gần ba mươi năm vẫn như người “một chốn đôi nơi”, cứ ngong ngóng qua hết những tờ lịch cuối để bay nửa vòng trái đất về ngôi nhà nhỏ ven sông, ngồi ngoài hiên nghe tiếng sóng đánh ì oạp vào bờ, ngó hàng rào bông giấy lốm đốm nắng trưa, nghe tiếng gà eo óc ngoài kia mà nhớ mẹ, nhớ chị… Và thỉnh thoảng, vào buổi sáng được uống ly cà phê pha bởi đôi tay người phụ nữ đã hơn nửa đời chờ đợi bạn.
Tất cả là Quê hương mà bạn đã mang theo bên mình đến hết cuộc đời người xa xứ…
2.Em là một họa sĩ trẻ, sinh sống ở nước ngoài từ nhỏ. Tranh của em được giới mỹ thuật biết đến khi mới tuổi teen. Tốt nghiệp cao học loại ưu, trước mắt em là một tương lai thênh thang khi giáo sư của em đã có hẳn chương trình vài năm tới đưa tranh của em đi triển lãm khắp châu Âu rồi qua Mỹ, em sẽ bước vào thế giới của những người nổi tiếng trong giới hội họa và sưu tập… Em đã có đầy đủ điểu kiện để thành công ở xứ sở mà tài năng hội họa được tôn vinh như một báu vật chỉ có một số rất rất ít người được Thượng đế ban tặng.
Vậy nhưng em lại quyết định mang tranh của mình về nước “cho đồng bào con xem, Thầy ạ”. Vị giáo sư sững sờ: Ai hiểu và trân trọng tài năng của con? Ai sẽ sở hữu tranh của con với sự hiểu biết đúng giá trị của nó? Con làm vậy là đánh mất cơ hội ngàn năm để bước chân vào “giới thượng lưu nghệ thuật”. Em nhẹ nhõm trả lời: con tuy sống từ nhỏ ở nước ngoài, nhưng con vẫn là người Việt. Không có tâm hồn Việt con không thể sáng tác được những tác phẩm như thế này… Tại sao con không mang nó về tạ ơn đất nước của con?
Tranh của em có kỹ thuật điêu luyện do những người thầy giỏi truyền dạy, nhưng tất cả kỹ thuật ấy ẩn sau tâm hồn và cảm xúc quê hương tràn đầy trên tranh, một quê hương trong ký ức của ba mẹ em trao cho em, từ làn điệu chèo cổ, từ tấm áo tứ thân, từ mái đình cây đa, từ cô Thị Màu từ nàng Súy Vân, từ những cánh đồng lúa chín từ dòng sông quan họ… Những người đàn bà trong tranh của em dịu dàng như lúa mà cũng mãnh liệt như sóng. Họ, như hiện thân của em.
Và em nói, em không thể đi tiếp trên con đường nghệ thuật đằng đẵng nếu không có quê hương bên cạnh, sau mỗi chuyến đi về như thế.
3.Nhà văn nổi tiếng với các tác phẩm ca ngợi những vĩ nhân trên khắp thế giới. Quá nửa đời sống nơi đất khách ông mới về thăm quê. Đứng trước mộ ông bà cha mẹ, nhà văn chợt hiểu đây chính là những con người tuyệt vời nhất, vì họ đã dạy cho ông biết nhận ra sự vĩ đại trong những con người bình dị quanh mình.
Nhà văn ra đi, mang theo món nợ văn chương mà ông biết kiếp này sẽ không thể trả. Vì thiếu quê hương.

Hình: Lăng Ông Bà Chiểu, 2/2023
Có thể là hình ảnh về 7 người và ngoài trời
Tất cả cảm xúc:
Hien Nguyen, Hoang Tuan và 262 người khác

NHỚ BẬC THỀM XƯA


Nếu bậc thềm nhà biết nói, chắc chúng sẽ thì thầm kể lại những gì đã chứng kiến, là chuyện của một ngôi nhà và những đời người ở đó…
Ngôi nhà miền quê là ngôi nhà xưa mái ngói rêu phong, ba gian hai chái và hàng hiên rộng mái xà thấp che bớt nắng và ánh sáng, làm cho người ngồi trong dễ dàng nhìn ra ngoài sân ngõ nhưng người đứng ngoài khó nhìn rõ bên trong nhà. Mỗi ngày, sáng sớm mẹ thức dậy, bước ra thềm vừa chải mái tóc dài vừa nhìn bao quát sân vườn còn mờ mịt hơi sương. Bao nhiêu buổi sáng mẹ đã đứng đây từ ngày về làm dâu, từ khi mái tóc đen dày dài phủ gót chân đến ngày bạc trắng mỏng như những sợi tơ… Cứ nghe tiếng kẹt cửa và bước chân mẹ nhẹ nhàng là con chó chạy lại vẫy đuôi mừng rỡ, con mèo lượn sát cọ mình mềm ấm vào chân mẹ, đàn gà vịt trong chuồng phía sau nhà cũng lục tục gọi nhau… Chỉ lát sau bếp đã đỏ lửa, ấm nước reo nho nhỏ, đàn gà tíu tít nhặt thóc ngoài sân, đàn vịt lẹp xẹp kéo nhau ra ao. Khi bước chân nhanh nhẹn của cha cùng với tiếng mở cổng lạch cạch vang lên thì cũng là lúc trời sáng rõ… Một ngày mới bắt đầu.
Từ sân vào nhà bước lên hai bậc thềm, những buổi chiều mát mẻ mẹ thường ngồi chải tóc cho con gái và nói chuyện với cha ngồi uống nước trong nhà. Có khi chị ngồi may vá và lắng nghe tiếng trò chuyện của cha với “anh hàng xóm qua thăm hai bác”, thỉnh thoảng chị vào nhà pha ấm trà mới, liếc nhanh “hàng xóm” rồi lại ra ngồi bậc thềm thì thầm gì đó với mẹ. Ít lâu sau chị lấy chồng. Ngày đưa dâu mẹ dừng chân ở bậc thềm, nhìn theo con gái đến khi đoàn người đón dâu khuất dần trên đường làng, mẹ ngồi xuống bậc thềm, im lặng… Hồi còn nhỏ có lần chị mải chơi, đến trưa vẫn chưa nấu cơm, nghe tiếng mẹ đi làm về chị quýnh quáng chạy vào nhà xúc gạo đi vo, vấp bậc thềm cao rá gạo đổ vung vãi. Mẹ xoa dầu vào cục u sưng to trên trán chị xót xa không nỡ mắng… Giờ chị đi rồi, mẹ lại xót xa không biết ngôi nhà mới mà con gái sẽ về ở đó bậc thềm có cao không?
***
Cuộc đời trải dài theo những chuyến đi. Ở những nơi tôi qua có con đường chạy qua làng quê. Hai bên đường những ngôi nhà xinh xắn nằm giữa khu vườn nhỏ trồng hoa, vài luống rau, cây táo trong sân, hàng rào gỗ sơn nâu, mái ngói xám dốc đứng, cửa sổ tầng sát mái như đôi mắt lặng ngắm con đường mềm mại chạy qua chia ngôi làng làm hai nửa. Có khi là con đường nhỏ chạy giữa rừng thưa, một bên là lối đi nhỏ lát gạch sạch sẽ dành cho xe đạp, bên kia lề đường rộng rãi và những ngôi nhà nhỏ. Qua cửa sổ sơn màu sáng buông rèm trắng có thể nhìn thấy gian phòng ấm cúng ngọn đèn vàng. Phía trước là bậc tam cấp bằng gỗ có tay vịn thanh mảnh, vài chậu hoa nho nhỏ đủ màu sắc đặt sát cửa ra vào… Có khi là con đường chạy qua thành phố với đèn giao thông và những vạch sơn trắng. Nhà trên đường phố lùi sau vỉa hè và thảm cỏ xanh, có hàng rào thấp và bậc thềm bằng gạch trông quen thuộc với cả người tình cờ đi qua…
Những ngôi nhà như thế cứ lùi lại phía sau xe hơi, phía sau đoàn tàu, thậm chí có lần khi máy bay đã cất cánh mà tôi còn như nhìn thấy rõ ràng bậc thềm nhà ai bên cạnh bụi lavender tim tím thoảng hương thơm lướt qua dưới kia, nơi tôi vừa từ biệt ra đi… Những bậc thềm nơi đâu cũng bình yên giống như ngôi nhà xưa của cha mẹ, bình yên đến mức có thể ngồi đợi một ai đó ở bậc thềm xinh xắn này cho đến hết đời… dù có thể là đợi chờ trong vô vọng…
***
Thềm nhà là “ranh giới” sân, vườn và ngôi nhà, nhưng không ngăn cách lạnh lùng như hàng rào “kín cổng cao tường” mà luôn thân thiện mời gọi người đến, lưu luyến người đi. Nó tạo nên sự gắn kết của mỗi ngôi nhà với cảnh quan xung quanh. Người ta có thể không ngồi xuống nền nhà nhưng hoàn toàn có thể ngồi ngay ở bậc thềm, ngồi ở đây thấy mình hòa hợp như một phần của ngôi nhà, của sân vườn, thậm chí là một phần của con đường chạy qua ngoài kia… Khách đến chơi có thể ngồi ở bậc thềm chỉ là khách thân quen “như người nhà”.
Ở làng xưa những nhà cũ đã không còn. Cha mẹ khuất núi, con cái ra thành phố, làng xóm đô thị hóa nhanh chóng, ngõ hẻm thành đường bê tông mở rộng, giá đất lên cao ngất, nhà nhà rầm rộ phân lô bán nền xây nhà cao tầng. Chẳng còn nhà nào có cái mái hiên rộng mát mẻ và bậc thềm lát gạch tàu như xưa.
Bây giờ ở thành phố trong căn hộ chung cư cao tầng làm gì có bậc thềm nhà thân thuộc. Con người lọt thỏm vào không gian toàn những hình hộp đôi khi tạo cảm giác bất an. Cầu thang cao hun hút, bước vào thang máy như chui vào cái lồng, chỉ khi nào bước ra mới yên tâm là mình không bị lơ lửng giữa “đường”. Những căn hộ giống hệt nhau từ cấu trúc các phòng đến trang trí nội thất “sang trọng và tiện dụng”. Hình như con người sống trong những căn hộ đó cũng giống nhau, theo kiểu “mỗi gia đình chỉ có hai con vợ chồng hạnh phúc”. Bước ra khỏi cửa là hành lang dài thông thống gió, bước vào nhà cửa khép lại ngay sau lưng, tầm mắt chỉ chạm bức tường sơn bóng láng hay màu mè giấy dán tường hay ô cửa kính lớn che rèm, không gian giới hạn bởi sự bằng phẳng và đơn điệu, có phần lạnh lùng.
Đô thị mở rộng, ngoại ô là những “làng” villa nhà vườn cao cấp. Cũng có hàng hiên và bậc thềm lát đá trơn láng mát lạnh nhưng chỉ là nơi chủ và khách dừng chân chào hỏi, bỏ lại giày dép rồi bước vào phòng khách máy lạnh ghế nệm êm ái. Chẳng ai còn thói quen ngồi bệt xuống bậc thềm mà trò chuyện thân mật như xưa…
Có những lúc bỗng nhớ quay nhớ quắt bậc thềm nhà xưa hay của ngôi nhà nào đó tình cờ lưu lại trong ký ức, lại thèm được ngồi đó duỗi dài đôi chân phiêu lãng, nghe tiếng chim sâu lách chách dưới mái hiên, để những ý nghĩ không đầu không cuối lang thang đâu đó và chờ đợi tiếng cửa mở…
Tôi vẫn tin rằng, một ngôi nhà có những bậc thềm giản dị bình yên thì ở đó luôn có những trái tim ấm áp chờ đợi một trái tim mệt mỏi quay về…

Tản văn, Nguyễn Thị Hậu. TC Phụ nữ Mới



RƯNG RƯNG NHỚ “MIỀN NƯỚC NỔI”

Nguyễn Thị Hậu

Sau nhiều năm nước về muộn, năm nay từ giữa tháng chín nước đã về miền Tây, tuy không cao nhưng người dân vui mừng đón mùa nước nổi. Nước lên từ từ, cá đồng có thời gian sinh trưởng, nguồn sống của người miền Tây dồi dào hơn, đồng thời cũng phải đỡ vất vả “chạy lũ” như những năm nước về đột ngột với lưu lượng lớn.

Mấy bữa trước bạn gọi điện: “nhà mới tát đìa, cá rô cá trê nhiều quá trời, làm sao gởi lên cho chị được? Gởi chị thì gởi cả thùng chớ 1,2 kg ai nhận? Dưới này cá đồng có vài chục ngàn một ký, trên Sài Gòn nghe nói tới mấy trăm? Hay chị ở nhà đi, em gởi cá lên chị bỏ mối cũng kiếm bạc triệu mỗi ngày!”. Tôi cười, trời ơi tui mà biết buôn bán thì đâu có chờ tới giờ này?

Vậy mà bữa qua bạn đã nhắn: em gửi chị thùng cá theo xe đò đó, họ sẽ mang tời tận nhà nhen! Chưa kịp nhắn lại thì thùng cá đã tới cửa. Một thùng xốp bự nặng đến chục ký, cuốn băng keo chắc chắn như đi vòng quanh thế giới. Mở thùng ra thì nào cá linh, cá rô, ba khía, chuột đồng… còn tươi bọc trong bịch xốp giữa lớp nước đá, nào bông súng còn nguyên những nụ tím hồng, đọt nhãn lồng màu xanh tươi xếp đầy phía trên…

Như sợ tôi không nhớ cách nấu nướng, bạn còn dặn: chị nấu canh chua cá linh bông súng, cá rô kho tộ ăn với đọt nhãn lồng luộc sơ. Ba khía nhớ ướp ớt tỏi đường chút dấm với bột nêm, mai mốt ăn với cơm nóng cơm nguội đều ngon. Chuột đồng ướp gia vị rồi rôti, bây giờ về miền Tây cũng ít nơi còn đặc sản này…

Cả một trời hương vị miền Tây mùa nước nổi ùa về, bỗng rưng rưng nỗi nhớ quê nhà…

***

Nhiều năm trước năm nào tôi cũng về quê vào mùa nước nổi. Có năm từ bến xe về nhà theo đường lộ mà nước ngập hơn nửa bánh xe máy, có năm phải đi đò theo con rạch mới hồi mùa nắng còn cạn trơ đáy, giờ nước đã ngấp nghe mặt cầu ván. Nhà có đám giỗ, đám cưới hay tiệc tùng vào mùa này thì cực nhưng mà vui. Sông rạch nước ngập cá tôm đầy chợ, tươi chong, rau đồng mơn mởn nhiều loại tươi tốt vào mùa này như bông điên điển, hẹ nước, bông súng, bông sen, sầu đâu, đọt choại, bồn bồn… Hồi đó đám tiệc ở quê còn do nhà tự nấu, chưa đặt dịch vụ như bây giờ. Sáng sớm lội nước ra chợ mua thức ăn, các sạp hàng có khi nổi lềnh bềnh trên mặt nước, người bán người mua luôn hít hà chắt lưỡi không phải vì thức ăn đắt hiếm, mà vì quá nhiều quá ngon mà lại rẻ rề. Đám tiệc hay bữa ăn gia đình cũng dễ dàng chế biến được những đặc sản.

 Đám giỗ ông ngoại tôi vào tháng chín âm lịch. Người lớn kể rằng ông mất vào mùa nước lớn, gia đình và bà con lối xóm lội nước đưa ông ra đồng. Từ đó năm nào ngày giỗ ông cũng lấy nước năm đó để mà so sánh, năm nay nước hơn hay kém…  Xong ngày chánh giỗ đãi đằng bà con, ngày “hậu thường” chỉ còn người nhà, thế nào mấy dì mấy mợ cũng làm nồi lẩu mắm “ăn đỡ ngán”, dù từ mấy ngày trước phụ nữ trong nhà đã phải lo lắng và luôn tay chuẩn bị mọi thứ từ nồi xoong chén đĩa, bàn ghế đến các mòn dưa chua, củ kiệu, có năm còn gói bánh tét bánh ít, làm bánh ngọt… có ai ăn uống được gì đâu. Chỉ cần mua mớ tép mớ cá linh, một rổ gần chục loại rau đồng tươi mướt về là có ngay nồi lẩu mắm ngon lành, có khi còn đổ bánh xèo, món khoái khẩu những ngày mưa se lạnh. Trời ơi là ngon! Bảo sao cứ đến mùa nước nổi là người miền Tây lại cồn cào nỗi nhớ. Ai cũng nói, nhớ nhà bắt đầu từ nỗi thèm những món ăn dân dã quen thuộc, bởi đó là cánh đồng, dòng sông, là mùa nắng mùa mưa chốn quê nhà.

***

Mùa nước nổi mang theo phù sa làm tươi mới những cánh đồng, mang về sông rạch bao nhiêu cá tôm cua ốc… Cuộc sống ở đồng bằng sinh động hẳn lên. Khi nước "nhảy" khỏi bờ là lúc người dân dùng nhiều loại ngư cụ như giăng câu, thả lưới, đặt lờ, lọp, dớn… để khai thác thủy sản trên những cánh đồng mênh mông nước. Dân mưu sinh bằng việc đánh bắt cá tôm và nhiều sản vật tự nhiên, tuy cực nhưng bù lại có miếng ăn miếng để, có đồng ra đồng vô, nên thật ra mùa nước nổi không phải là mùa đói kém. Tuy nhiên, trước hết phải có một ngôi nhà chắc chắn, rồi một chiếc xuồng với những dụng cụ đơn sơ là có thể “sống khỏe”. Nhiều nơi ở miền Tây phổ biến chiếc xuồng “năm quăng” làm từ gỗ tạp, chỉ dùng một mùa nước là quăng bỏ, các xưởng ghe xuồng làm ra bán rất chạy vào mùa nước nổi, vì phù hợp với túi tiền của nhiều người.

Khoảng hai mươi năm trước khái niệm “sống chung với lũ” xuất hiện trên truyền thông với ám ảnh tiêu cực. Nhưng có ở miền Tây mới biết, người miền Tây không chỉ nhìn thấy những thiệt hại trong ‘mùa lũ” bởi họ hiểu đó là quy luật của tự nhiên. Thích nghi với mùa nắng mùa mưa, tận dụng mùa nước nổi mang lại nguồn lợi, đó là lối sống “thuận thiên” của cư dân đồng bằng sông Cửu Long đã hình thành từ hàng trăm năm qua.

 TC DU LỊCH TPHCM, 10.2022





 

 

 

 

 

TÔI CÒN NỢ MÙA HÈ NƯỚC PHÁP


Tôi đến nước Pháp vài lần, vừa là cái duyên từ những ký ức qua văn chương thời thơ ấu, vừa là kỳ duyên với những người bạn vong niên thân quý. Năm nay ánh nắng ấm áp mùa hè nước Pháp theo tôi suốt những con đường tôi qua…

Paris tháng bảy là mùa du khách tấp nập trong khi người Paris bắt đầu “đi trốn” cái nóng. Nhân viên các công sở lần lượt nghỉ hè, cửa hàng cửa hiệu bắt đầu treo bảng “tạm nghỉ”… Những chuyến xe bus, metro thoát khỏi cảnh chen chân nhau lên xuống, những quán cà phê vỉa hè không còn quá đông đúc, có thể dễ dàng tìm thấy một vài bàn trống để ngồi đó thoải mái ngó nghiêng một Paris mà tôi yêu thích. Cà phê Paris cũng giống như cà phê Sài Gòn (có lẽ phải nói ngược lại mới đúng  ) là bạn có thể ngồi đó hàng giờ chỉ với một ly cà phê hay thêm một cái croissant, ngồi đó mơ màng, viết lách thậm chí chẳng nghĩ ngợi gì cả, giản đơn chỉ là đắm mình vào cái thú nhàn tản của người Paris. Ở Paris người ta chỉ “cắm mặt” vào thế giới ảo ở smarphone hay ipad khi đi bus hay metro, còn ở tiệm ăn hay quán cà phê thì người ta thưởng thức cuộc sống, trò truyện, ăn uống hoặc im lặng bên nhau… Người Paris “sống thật” hơn nhiều nơi khác.
Có lần tôi ngồi ở Café de Flore nổi tiếng trên đại lộ Saint-Germain. Được mở từ năm 1887, trong suốt thế kỷ 20, Café de Flore từng là điểm đến của rất nhiều nhân vật nổi tiếng nhưng người ta thường tự hào nhắc đến các nghệ sĩ như Jean-Paul Sartre, Picasso, Yves Saint Laurent, Ernest Hemingway... Cùng với Les Deux Magots và Brasserie Lipp, Café de Flore là một trong ba quán cà phê nổi tiếng của khu phố Saint-Germain-des-Prés. Quán lúc nào cũng đông khách và hình như ai cũng thích ngồi ngoài vỉa hè có lẽ vì bên trong quán khá nhỏ, ngồi dưới bảng hiệu “Café de Flore” và trên nữa là những ban công hàng rào bằng gang đúc hoa văn mềm mại xen những chậu hoa mùa hè rực rỡ, phía sau thấp thoáng rèm thưa màu trắng tinh khôi… Một cảm giác thật là Paris.
Ở Paris có nhiều nơi để bạn đi chơi, nhìn ngắm và thư giãn: trong công viên, viện bảo tàng, những lâu đài cung điện, di tích thắng cảnh, các khu chợ trời, nhâm nhi cà phê hay tản bộ dọc theo sông Seine, kể cả những nghĩa trang yên tĩnh… Không cần phải vội vàng cứ thong thả dạo quanh thành phố, có thể mang theo đồ ăn đơn giản, tìm một chiếc ghế mát dọc theo bờ sông, trên bãi cỏ trong công viên hay ngay trên những cây cầu dành cho người đi bộ, ngồi đó với bạn bè hay chỉ một mình thưởng thức bữa trưa ngoài trời. Paris ngày hè làm cho ai đến đây cũng có cảm giác đang tận hưởng ngày cuối tuần kéo dài bất tận bởi vì đến chín, mười giờ đêm ngoài trời vẫn còn nhìn rõ mặt người.
Mỗi lần đến Paris như một lần gặp lại người thân yêu, quen thuộc lắm nhưng cảm xúc luôn mới mẻ, hệt như mỗi sáng “gặm” miếng bánh mì baguette còn nóng hổi thơm lừng mùi men mùi bột và cả mùi ban mai Paris tinh khiết.
Nhưng nước Pháp đâu chỉ có Paris?
Mùa hè nước Pháp trong ký ức tươi nguyên của tôi là ba sắc màu xanh, vàng và trắng. Màu xanh của cây lá khắp nơi, màu vàng của cánh đồng lúa mì đang mùa thu hoạch, của vệt dài hoa cỏ ven đường, và màu trắng lấp lánh của cánh quạt điện gió và những cánh chim bay về nơi cuối trời… Tất cả sắc màu tươi tắn hiện ra dưới ánh nắng trong như mật những ngày hè tháng bảy.
Mùa hè cũng là mùa gặt - ừ, bây giờ hay gọi là mùa thu hoạch bởi trên những cánh đồng lúa mì chỉ thấy những chiếc máy gặt đập thong thả cuốn từng vòng để lại phía sau lớp rơm rạ nằm ngay hàng thẳng lối. Đã lâu lắm rồi người nông dân châu Âu đâu còn phải cắm mặt xuống đất còng lưng cầm liềm hái gặt lúa nữa.
Mùa hè nước Pháp của tôi là những thành phố cổ kính, những ngôi làng xưa “đẹp nhất nước Pháp”, pháo đài cổ, nhà thờ, di tích khảo cổ hang động xưa hàng triệu năm, xưởng gốm cổ chuyên sản xuất phục vụ Hoàng gia Pháp… Những ngọn đồi xanh mướt bên thung lũng xanh thắm nối nhau hiện ra rồi lùi lại phía sau… Và tôi, hệt như cậu bé Remy trong “Không Gia đình” khi ngồi trên đỉnh đồi nhìn xuống thung lung, nơi có ngôi làng và căn nhà nhỏ của má Barberin, lòng nao nao vì phải rời xa nó… Thấp thoáng đâu đó hương thơm dịu nhẹ của những bông hồng nở muộn và những bụi oải hương màu tím… còn đọng lại trong ký ức tôi. Cánh đồng lavender tím ngát tận chân trời, quyến rũ như người đàn bà tuổi vào thu đầy bí ẩn.
Trong nhiều làng cổ nước Pháp chợt tôi nhìn thấy cái nhà lồng chợ, quen thuộc như nhà lồng ở bất cứ thị tứ nào ở Nam bộ, đó là ngôi nhà rộng rãi, cao ráo chỉ có những cây cột và mái ngói, bốn phía trống không, nền cao. Khác với nhà thờ bao giờ cũng ở trung tâm của làng, nhà lồng thường nằm ngay “quảng trường” đầu làng, là chợ cũng là nơi hội họp chung khi cần. Xưa người ta họp chợ vào buổi sáng hay vào ngày phiên chợ, bây giờ không còn sinh hoạt này nữa, nhà lồng trở thành “di tích”, chỉ vào ngày cuối tuần khi du khách đổ về, trong nhà lồng là những quầy hàng thức ăn đặc sản, đồ lưu niệm đặc sắc của làng, xung quanh những ngôi nhà cổ trở thành hàng quán, tiệm ăn, khách sạn nhỏ… Làng cổ bình yên giữ nguyên cảnh quan và được đẹp thêm bởi hàng chục loài hoa nở rộ dưới hiên nhà, trên bệ cửa sổ, bởi những khuôn cửa trắng bình yên, bởi con đường uốn quanh sạch sẽ và những nụ cười của dân làng… Những ngôi làng với nhà lồng nơi xa dường như chẳng có gì liên quan lại làm tôi nhớ quá chừng những làng quê Nam bộ, cũng nhà lồng chợ xôn xao lúc ngày rạng sáng, cũng những gương mặt hồn hậu… chỉ còn thiếu tiếng mái chèo khua nhẹ trên kinh rạch và bóng chị bóng mẹ dịu dàng trên chiếc xuồng ba lá…
Mùa hè nước Pháp với tôi còn là sắc vàng trong những bức tranh của Van Gogh. Những cánh đồng bát ngát lúa mì vàng sậm, những cánh đồng tràn hoa hướng dương rực rỡ. Đắm mình trong không gian này mới hiểu và cảm nhận hết những sắc độ màu vàng trong những bức tranh của danh họa – người đã chọn nước Pháp làm nơi ra đi lần cuối - màu vàng đầy sức sống nhưng cũng đầy ám ảnh của sự chia ly mãi mãi.
Rời nước Pháp vào giữa những ngày hè rực rỡ nhưng chỉ ít ngày sau bạn nhắn, bên này trời chưa lạnh nhưng lá bắt đầu vàng, sắp sang thu rồi đấy. Tôi hay đi xa vào mùa thu nhưng chưa lần nào phải chia tay với ai vào cái mùa mà người ta mặc định là “mùa chia ly”. Nhưng khi chia tay mùa hè nước Pháp với cảm giác còn nợ một điều gì đó… cũng ám ảnh không khác gì màu vàng hoa hướng dương Van Gogh.
Bởi vì, ở tuổi mùa thu của chúng ta mùa hè không trở lại nữa mà phía trước sắp là mùa đông…

TỪ BIỆT NHỮNG CHUYẾN PHÀ

Nguyễn Thị Hậu

Cầu Vàm Cống vừa khánh thành, cây cầu dây văng vắt ngang dòng sông Hậu nối liền hai tỉnh Cần Thơ và Đồng Tháp. Vậy nhưng khi nhắc đến phà Vàm Cống thì ai cũng nghĩ đến thành phố Long Xuyên của tỉnh An Giang, bởi vì từ huyện Lấp Vò tỉnh Đồng Tháp qua phà này thì vào đến thành phố một thủa nổi tiếng với tên gọi Đông Xuyên.
Nam bộ - miền đất sông Tiền sông Hậu và hàng ngàn con sông kinh rạch. Từ Sài Gòn về các tỉnh lỵ miền Tây biết bao nhiêu cây cầu hình như chưa ai thống kê đầy đủ, nhưng có thể nhớ tên những chiếc phà bến “bắc” lớn nhỏ bởi vì gần như một quy luật, trên đường miền Tây cứ qua một chiếc phà/bắc là vào thị tứ của một tỉnh khác. Này nhé: từ Tiền Giang qua phà Rạch Miễu là Bến Tre, từ Bến Tre qua phà Hàm Luông là tỉnh Trà Vinh... Đi theo quốc lộ Một thì qua chiếc “bắc” Mỹ Thuận nổi tiếng là đến Vĩnh Long, từ Vĩnh Long qua bắc Cần Thơ vào Tây Đô, đi ngả Sa Đéc qua phà Cao Lãnh đi Cao Lãnh, Hồng Ngự... Đi ngả Lấp Vò qua phà Vàm Cống đến Long Xuyên, từ An Giang qua bắc An Hòa tới Kiên Giang... Đó là chưa kể đến hàng trăm chiếc phà nhỏ nối những cù lao và đất liền, như phà Mỹ Hiệp qua một nhánh sông Tiền nối liền quê nội tôi là làng Mỹ Hiệp trên Cù Lao Giêng – Chợ Mới – An Giang với làng Hòa An bên thị tứ Cao Lãnh là quê ngoại... Hay như ở TP. Hồ Chí Minh vẫn còn phà lớn Bình Khánh qua sông Nhà Bè sang huyện Cần Giờ.
Những năm cuối thế kỷ 20 đường về miền Tây rất cực không chỉ vì độc đạo mà còn vì tắc nghẽn tại các bến phà. Chờ phà là nỗi ám ảnh lâu đến nỗi biến thành thói quen của người miền Tây. Chờ hai, ba giờ qua để phà là bình thường, ngày lễ tết nửa buổi gần hết ngày cũng bình thường luôn. Mỗi bến phà là một “thị tứ” nhỏ xíu luôn nhộn nhịp ngày đêm: hàng quán sát hai mặt đường treo đủ thứ bánh tráng nem chua bánh phồng lạp sườn trái cây mùa nào thức ấy... những chai nước ngọt, “nước suối”, xửng hấp bánh bao bánh giò, xe bánh mì... Rồi quán hủ tiếu cơm tấm phở bún bò bánh canh... ôi thôi miền Tây có đặc sản ẩm thực gì thì ở bến phà có món đó.
Trên phà thường xuyên có một lực lượng hùng hậu bán hàng rong: bắp nấu trứng cút bánh phồng trái cây bịch trà đá đậu phộng luộc, cả nem chua bánh ít bánh tét gói nhỏ xíu... Ngồi trên phà gió mát rượi làm hành khách đói bụng hơn sau khi đã phải chờ đợi mỏi mòn, ăn vặt lót dạ vừa kịp lúc phà cập bến lại hối hả chạy theo chiếc xe đò đang leo lên bờ. Trên phà là một bầu không khí đặc quánh mùi xăng dầu, mùi người, mùi của mặt sàn phà nhớp nháp... quyện vào nhau thật khó chịu. Khi phà đã xa bờ cơn gió mát tràn qua mang lại sự trong lành trong chốc lát, rồi tất cả lại đậm đặc trong tiếng sình sịch đều đều của động cơ... Có người mơ màng ngủ gật giật mình bởi tiếng rao “báo mới đây, hôm nay thành phố có 30 người bị lừa”, thấy tin giật gân bèn mua tờ báo, nghe liền sau đó “báo mới đây hôm nay thành phố có 31 người bị lừa”... xung quanh cười ồ. Những chuyện vui như thế trên chuyến phà nào cũng có.
***
Với tôi ấn tượng chờ phà qua phà không phải là nơi nổi tiếng như phà Mỹ Thuận hay Bắc Cần Thơ, mà là một chiếc phà nhỏ vùng Cần Giờ: Phà Dần Xây. Những năm 1990 chúng tôi thường xuyên đi nghiên cứu và khai quật các di tích khảo cổ học ở đây. Hàng tuần 1,2 lần từ TP.HCM đi chiếc xe Jepp trống hơ trống hoác qua huyện Nhà Bè, qua phà Bình Khánh ra Cần Giờ theo con đường lúc đó mới đắp, đất đỏ bụi mù, có đoạn đường bị lở hai xe tránh nhau còn khó. Cũng may, đường “duyên hải” lúc đó chạy cả tiếng có khi chưa thấy chiếc xe nào chạy ngược. Hai bên bờ ngút ngát dừa nước, kênh rạch chằng chịt, vài chiếc cầu sắt nhỏ gập ghềnh chỉ một xe qua được.
Phà Dần Xây qua một nhánh của sông Đồng Tranh đổ ra sông Lòng Tàu. Nhánh sông khá lớn và chịu ảnh hưởng rất rõ của chế độ bán nhật triều từ cửa Gành Rái, vì vậy phải canh giờ “con nước lớn” theo ngày âm lịch để kịp giờ qua phà không phải chờ lâu. Tuy vậy nhiều lần chúng tôi phải chờ ở đó gần nửa ngày, dòng sông vào lúc “nước ròng” lộ ra bãi sình lớn, chỉ có chiếc ghe nhỏ chở người đi bộ hay xe đạp nhưng phải lội sình lầy khá xa từ bờ ra ghe, còn xe máy xe hơi thì chờ phà. Ở bến phà chỉ có phòng bán vé và quán nhỏ kế bên, bán trà đá cà phê, treo một, hai cái võng tòng teng. Đi lại nhiều riết rồi quen thân với mấy cô bán vé và bà chủ quán. Bữa nào tới bến mà chưa qua được phà thì tôi nằm võng đung đưa, nghe mùi bùn sực lên trong nắng, nước ròng nên đứng gió, trời cứ xanh thẳm không một bóng mây... Nghe mấy anh đồng nghiệp tán chuyện với mấy cô mà ngủ quên hồi nào không hay. Khi thấy làn gió lao xao tràn qua rừng cây mắm đước hai bên là biết đang nước lớn, sắp qua được phà.
***
Sống ở Nam bộ, cả ở những thành phố lớn, mấy ai chưa từng đi qua những chuyến phà bến bắc? Nhiều năm trước một buổi chiều muộn đi ngang bến Bạch Đằng thấy trống trải thiêu thiếu một cái gì đó… À phải rồi, phà Thủ Thiêm hôm nay ngừng hoạt động. Đi làm về tôi thấy con gái có gì buồn buồn. Gặng hỏi, con gái nói: hồi sáng tụi con ra bến Thủ Thiêm, hôm nay là chuyến phà cuối cùng mẹ ạ… Rồi các con cho tôi xem những bức hình chụp chiếc phà đang rời bến phía Sài Gòn, ra giữa sông rồi cặp bến Thủ Thiêm. Gương mặt hành khách, gương mặt những người làm việc trên phà đều lặng lẽ… Nhiều người dân Sài Gòn cũng đến bến Thủ Thiêm để chia tay với quá khứ gần trăm năm của những chuyến phà cũng như trước đây đã từng chia tay với những “con đò Thủ Thiêm” qua lại trên sông này hàng trăm năm, đã đi vào câu ca dao nổi tiếng “Bắp non mà nướng lửa lò, đố ai ve được con đò Thủ Thiêm”.
Hồi mới khánh thành cầu Mỹ Thuận, dân miền Tây hàng tháng trời còn chèo ghe về đứng ngắm chiếc cầu là mơ ước bao đời. Bây giờ trên những chuyến xe vun vút qua những cây cầu mới trên sông Sài Gòn, sông Tiền sông Hậu như cầu Thủ Thiêm, Mỹ Thuận, cầu Cần Thơ, Rạch Miễu, cầu Vàm Cống mới đây… hành khách mải mê ngắm cây cầu dây văng hiện đại vươn dài qua dòng sông rộng. Không biết có ai còn nhớ bến phà nổi tiếng một thời, nhớ những chiếc phà rộng lòng đưa đón hàng triệu lượt người xe qua lại cả năm không hề ngưng nghỉ một ngày. Hiện nay đi xe về đồng bằng sông Cửu Long có thể ghé bất cứ trạm dừng nào để nghỉ ngơi, ăn uống, mua đặc sản... Không gian sạch sẽ và ngăn nắp như trạm dừng trên nhiều con đường khác mang lại cảm giác thoải mái cho hành khách, nhưng không ít người nao nao thương nhớ sự sống náo nhiệt và thân thiện “rất miền Tây” của bến phà bến bắc ngày xưa.
***
Trong chuyến đi công tác ở Pháp gần đây, có lần qua một nhánh của sông Seine gần Paris bằng chiếc phà nhỏ. Trên bờ nơi đậu xe chuẩn bị xuống phà có tấm biển ghi chữ BAC... A, giờ tôi mới hiểu chữ “bắc” Mỹ Thuận, “bắc” Cần Thơ là từ đâu. Chợt thấy vui vui như gặp lại một người bạn thân thiết ở quê nhà...
Cuộc sống là phát triển, tạm biệt những bến phà và những chuyến phà! Quốc lộ I ở đồng bằng sông Cửu Long nhờ những chiếc cầu đã liền mạch nhưng vẫn còn cảnh kẹt xe tắc đường y như hồi phải chờ phà qua bắc. Mong sao miền Tây sẽ có thêm đường cao tốc để nơi này thực sự chuyển mình thay đổi.
(Bài hai năm trước). Trên phà Vàm Cống 2017

TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...