Hiển thị các bài đăng có nhãn sach của hậu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sach của hậu. Hiển thị tất cả bài đăng

SÁCH E-BOOK CỦA MÌNH

 

NHỮNG CUỐN SÁCH SAU CỦA MÌNH CÓ BẢN ĐIỆN TỰ (E-BOOK) TẠI NXB TỔNG HỢP TPHCM

1.      Một đời sân khấu (tác giả Nguyễn Ngọc Bạch – ba mình 😊 )

2.      Nghĩ Ngợi đường xa (tùy bút, tản văn, Nguyễn Thị Hậu)

3.      Đô thị Sài Gòn – TPHCM khảo cổ học và bảo tồn di sản (Khảo cứu – Nguyễn thị Hậu)

4.      Mỗi ngày ta sống (tùy bút, tản văn, Nguyễn Thị Hậu)

5.      Văn hóa khảo cổ huyện Cần Giờ TPHCM (Khảo cứu, Nguyễn Thị Hậu)

6.      Quay qua quay lại (tản văn, Nguyễn thị Hậu)

7.      Khảo cổ học bình dân Nam bộ VN – từ thực nghiệm đến lý thuyết (khảo cứu, Nguyễn thị Hậu, Lê Thanh Hải)

Các bạn cần đọc thì vào https://nxbhcm.com.vn/ tìm mua nhé. Giá e-book rẻ hơn sách in, lại tiện lưu và đọc bằng máy tính hoặc máy đọc sách.

[Tiếp tục lan tỏa tình yêu và hiểu biết về Di sản đô thị Sài Gòn]



KẾT NĂM 2025 - 1/4 ĐẦU THẾ KỶ XXI

 Thế là năm 2025 đang ở những giờ cuối...

Buổi sáng ngồi ở quán cà phê chếch Nhà thờ Đức Bà. Tại cái bàn quen thuộc được hai anh chị thân quý “đặt riêng” cho nhóm bạn bè, mình đến sớm chờ các anh chị, ngắm nhìn đường phố nhộn nhịp vội vã mà vẫn có gì đó bồi hồi... Thời tiết Sài Gòn mát mẻ, se se hơi gió mang lại không khí tết sớm. Dường như những khoảnh khắc cuối năm bao giờ cũng mang lại cho người ta cảm giác tiếc nuối một điều gì đó...

Các anh chị thân quen là những “người Sài Gòn” đúng nghĩa, dù quê quán ở miền Bắc, xứ Quảng, miền Tây... ngồi với nhau trò chuyện bằng các giọng “quê nhà” nhưng chung những ý tưởng, tình cảm, nghĩ suy, về cuộc sống và những sự kiện xã hội... Thế hệ các anh chị là những trí thức đúng nghĩa, không chỉ ở nền tảng văn hóa, trình độ học thức mà ở thái độ với thời cuộc. Giờ hiếm còn những người như vậy, ngay cả ở Sài Gòn – “cái nôi” của sự năng động, dám nghĩ dám nói dám làm!

Cuộc trò chuyện vui vẻ nhưng không thiếu những khoảng lặng, nửa vui nửa buồn. Là một kiểu bâng khuâng vì ai cũng biết mình đã đi qua rất nhiều thứ: những ý tưởng còn dang dở, những câu hỏi chưa kịp trả lời trọn vẹn, những đoạn đường tưởng quen mà vẫn thấy mới khi ngoái lại. Cuối năm giống như một “điểm dừng” ngắn không để ở lại, mà để nhìn lại cho rõ hơn.

Với mình, sự bâng khuâng ấy còn đến từ việc được đồng hành cùng những người nghiêm túc với tri thức, với ký ức và với giá trị lâu dài. Những cuộc trò chuyện không ồn ào, nhưng có chiều sâu, và chính điều đó làm cho thời khắc cuối năm trở nên có ý nghĩa hơn.

Nếu bạn cũng đang thấy lòng mình chùng xuống một chút thì không sao cả. Bâng khuâng là dấu hiệu cho thấy ta đã sống không hời hợt trong năm vừa qua. Rồi ngày mai, năm mới sẽ đến. Ta lại đi tiếp nhưng đi với một lớp trầm tích cảm xúc, tri thức dày hơn trong lòng.

Có lẽ không cần nói gì thêm nữa. Chỉ mong khoảnh khắc cuối năm này, bạn và tôi cùng thấy nhẹ hơn một chút, ấm hơn một chút, như khi tự tay giở lại vài trang “sách đời”, và biết rằng mình đã sống thật và sống hết mình.

Hẹn nhé, 2026.

-----

Chuyến đi cuối của năm 2025: Làng hoa Chợ Lách - Bến Tre, Nhà thờ Cái Mơn, Cúng Miếu Bà và mộ tổ ở P.7 Bến Tre








 


BẢN SẮC ĐÔ THỊ SÀI GÒN TRONG BỐI CẢNH NAM BỘ (trích phần đầu và cuối của một bài dài)

Nguyễn thị Hậu

Lời mở
Nam bộ nói chung và vùng đất Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh nói riêng vẫn thường được gọi là “vùng đất mới”, “vùng đất có 300 năm lịch sử”. Không thể phủ nhận vai trò của lưu dân khai khẩn trong giai đoạn từ thế kỷ XVII, XVIII trở đi, tuy nhiên khoa học lịch sử và khảo cổ học cũng đã cho biết, nơi này từng có 1000 năm trước công nguyên với những cộng đồng dân cư thời tiền sử của văn hóa khảo cổ Đồng Nai, rồi từ đầu Công nguyên có nền văn minh Óc Eo của vương quốc Phù Nam từ thế kỷ I đến thế kỷ VII. Do đó Nam bộ là “vùng đất mới” đối với những lớp người đến đây trong các giai đoạn về sau, còn bản thân nơi này có một quá trình lịch sử lâu dài, đa dạng về tộc người và văn hóa.
Cái nhìn về Nam bộ như một “vùng đất mới” tồn tại khá bền chặt trong giới nghiên cứu lịch sử và tư duy quản lý nhà nước, có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội và cũng để lại hệ lụy trong việc cố gắng bảo tồn di sản và bản sắc văn hóa Sài Gòn – Nam bộ. Bởi vì với quan niệm vùng đất Nam bộ - Sài Gòn là “muộn”, là “mới”, lại liên quan khá nhiều đến thời kỳ các chúa Nguyễn và triều Nguyễn – vốn bị định kiến trong lịch sử - nên đã dẫn tới tâm lý không coi trọng những giá trị văn hóa (vật thể và phi vật thể) độc đáo, hình thành và tồn tại lâu bền ở đây. Đến nay, những di tích “Sài Gòn trăm năm” bị phá hủy gần hết do quá trình đô thị hóa qua nhiều thời kỳ, cũng như do nhận thức thiếu sót của chính quyền về giá trị của những di sản này từ sau khi đất nước hòa bình vào năm 1975.
Vì vậy, tìm hiểu những đặc điểm về lịch sử - văn hóa một thành phố, một vùng đất chính là cách thiết thực giữ gìn di sản, trước hết vì đấy là tài sản văn hóa của cộng đồng. Giữ gìn di sản trước hết vì “người sống” chứ không phải chỉ vì bản thân di sản. Việc cố gắng bảo tồn những di tích lịch sử văn hóa của TP. Hồ Chí Minh hay các tỉnh Nam bộ là nhằm xây dựng xã hội hiện đại với không gian sống có chiều sâu ký ức. Sống trong không – thời gian đó con người sẽ giàu có hơn về mặt tinh thần. Bảo vệ di sản văn hóa là để con người sống tốt hơn cho hôm nay chứ không chỉ là bảo vệ một ý niệm nào đó của quá khứ dù đẹp đến đâu.
I. Vị thế địa – kinh tế - văn hóa của các đô thị Nam bộ
1.1 Dưới triều Nguyễn. Năm 1808, vua Gia Long nhà Nguyễn đổi trấn Gia Định thành Gia Định Thành, bao gồm 5 trấn: Phiên An (địa hạt Gia Định), Biên Hòa, Vĩnh Thanh (sau chia ra Vĩnh Long và An Giang), Vĩnh Tường (sau này là Định Tường) và Hà Tiên.
Năm 1834 Vua Minh Mạng đặt ra Nam Kỳ và chia thành 6 tỉnh nên gọi là Nam Kỳ Lục tỉnh. Đó là các tỉnh: Phiên An, năm 1836 đổi thành Gia Định (tỉnh lỵ là tỉnh thành Sài Gòn), Biên Hòa (tỉnh lỵ là tỉnh thành Biên Hòa), Định Tường (tỉnh lỵ là tỉnh thành Mỹ Tho) ở miền Đông; Vĩnh Long (tỉnh lỵ là tỉnh thành Vĩnh Long), An Giang (tỉnh lỵ là tỉnh thành Châu Đốc) và Hà Tiên (tỉnh lỵ là tỉnh thành Hà Tiên) ở miền Tây.
Từ cuối thế kỷ XVII, năm 1698 chúa Nguyễn đã “lập phủ Gia Định, dựng dinh Trấn Biên” thiết lập thôn xã phường ấp, khuyến khích dân cư khai khẩn đất hoang, định tô thuế, lập sổ đinh. Trước đó năm 1679 đã có những nhóm người Hoa “bài Thanh phục Minh” được chúa Nguyễn cho vào cư trú ở vùng đất phương Nam. Với kinh nghiệm và truyền thống buôn bán lâu đời, những người Hoa “tỵ nạn chính trị” này đã lập phố xá buôn bán và hoạt động thủ công nghiệp.
Gia định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức vào khoảng năm 1820 đã cho biết các trấn thời Nguyễn ở Nam bộ vào đầu thế kỷ XIX đã là những trung tâm kinh tế sầm uất, cùng thành trì là trung tâm hành chính thì nhà cửa phố xá bến chợ luôn được nhắc đến như một thành phần quan trọng của một trấn. Sau đây là vài miêu tả trong phần Thành trì chí.
Trấn Phiên An có Chợ phố Bến trước thành, phố chợ, nhà cửa rất trù mật... tụ tập hàng trăn thứ hàng hóa, dọc bến sống thuyền buôn lớn nhỏ đi lại san sát . Phố Sài Gòn (Chợ Lớn) đường phố lớn, thẳng suốt ba đường giáp đến bến sông... đan xuyên nhau như chữ điền, phố xá liền mái, người Việt và người Trung quốc cùng sinh sống... Hai bên nam - bắc bến sông không thứ gì là không có ; Ngoài ra còn có các chợ khác cũng nổi tiếng như Chợ Khung Dong (chợ cây da còm), Chợ Điều Khiển, phố chợ Lịch Tân (chợ Bến Sỏi), chợ Tân Kiểng...
Trấn Biên Hòa có phố lớn Nông Nại – cù lao Đại Phố. mái ngói tường vôi, lầu quán cao ngất, dòng sông rực rỡ, ánh nhật huy hoàng, liền nhau tới 5 dặm, chia làm 3 đường phố, đường phố lớn lát đá trắng, đường phố ngang lót đá ong, đường phố nhỏ lót đá xanh, toàn thể đường bằng phẳng như đá mài, kẻ buôn tụ tập, thuyền đi biển, đi sông đều đến cuốn buồm neo đậu, đầu đuôi thuyền đậu kế tiếp nhau, thật là một chỗ đô hội…
Trấn Định Tường có chợ và phố lớn Mỹ Tho, mái ngói cột chạm phủ, đình cao, nha thự rộng, thuyền bè sông biển ra vào, buồm thuyền trông như mắc cửi, thật là nơi đô hội lớn phồn hoa huyên náo .
Trấn Vĩnh Thanh có chợ Vĩnh Thanh, chợ Long Hồ phố xá liền nhau hàng hóa cả trăm món, dài đến 5 dặm ghe thuyền đầu suốt bến, miếu thần, đình làng mọc lên, đờn ca náo nhiệt, là chợ phố lớn của trấn. Chợ Sa Đéc: phố chợ nằm dọc theo bờ sông, mái nối mái liền nhau đối nhau san sát như vảy cá... trên bờ dưới sông có hàng trăm thứ hàng hóa tốt đẹp, nhìn ngợp mắt thỏa lòng, quả là chốn phồn hoa .
Trấn Hà Tiên: đường xá giao nhau, phố xá nối liền. Người Việt người Hoa người Cao Miên người Chà Và tụ họp chia ở, thuyền biển ghe sông qua lại như mắc cửi, thất là nơi đô hội góc biển vậy .
Giai đoạn Chúa Nguyễn mở mang vùng đất Nam bộ cũng là giai đoạn họat động ngọai thương ở khu vực Đông Nam Á khởi sắc. Ngòai thương cảng Hội An nổi tiếng từ thế kỷ XVI, các trung tâm thương nghiệp mới như Cù Lao Phố (Biên Hòa, Đồng Nai), Mỹ Tho, Hà Tiên... cũng phát triển nhờ lợi thế của hệ thống giao thông đường thủy (cảng biển, sông rạch...). Từ năm 1790 Thành Gia Định từ một trung tâm chính trị mau chóng trở thành thương cảng lớn của Đàng Trong và trong khu vực Đông Nam Á.
Đến thời nhà Nguyễn, Gia Định thành là một đô thị có vai trò sánh ngang Thăng Long và Phú Xuân, nhưng khác với Thăng Long và Phú Xuân vai trò chủ yếu là trung tâm chính trị, Sài Gòn – Gia Định được nhìn nhận vai trò kinh tế quan trọng (thương nghiệp, thủ công nghiệp) bên cạnh vai trò trung tâm chính trị - văn hóa của Đàng Trong: thành phố này đã hình thành theo quy luật của các đô thị tiền tư bản, tức yếu tố “thị” có trước rồi phát triển thành yếu tố “thành” chứ không phải như các đô thị phong kiến ở đó yếu tố “thành” có trước rồi mở rộng thêm yếu tố “thị” .
...
III. Bản sắc Sài Gỏn - Bản sắc Nam bộ
3.1 Trong quan niệm và ngôn ngữ của người dân đồng bằng sông Cửu Long, “thành phố” gần như một danh từ riêng để chỉ Sài Gòn dù miền Tây có nhiều đô thị sầm uất, như Cần Thơ – “Tây đô”, như Long Xuyên – thành phố bên bờ sông Hậu, như Mỹ Tho bên sông Tiền – một “đại phố” từ thủa mới hình thành… Điều đó có hoàn cảnh lịch sử của nó.
Như đã nói ở trên, từ đầu thế kỷ XIX vùng Gia Định gồm 5 trấn là Biên Hòa, Phiên An, Định Tường, Vĩnh Thanh và Hà Tiên. Sự trù phú về tự nhiên và phát đạt về kinh tế của năm trấn này được Gia Định thành thông chí miêu tả và liệt kê đầy đủ. Trấn Phiên An (vùng Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định) là trung tâm của Gia Định và là đơn vị hành chính thống quản 5 trấn. Dù không còn là “kinh đô” như thời chúa Nguyễn nhưng Sài Gòn vẫn giữ vai trò quan trọng trong hệ thống chính quyền triều Nguyễn, là đơn vị hành chính đặc biệt trong buổi đầu thống nhất quốc gia. Đặc biệt là vị trí của Gia Định thành trong mối quan hệ (quân sự - chính trị) với Xiêm và Chân Lạp.
Từ cuối thế kỷ XIX Paul Doumer đã nhận xét về Sài Gòn “Khó mà so sánh Hà Nội với Sài Gòn, hai thành phố này mang những nét khác nhau và sẽ chẳng bao giờ giống nhau được. Nhưng vào năm 1897, ấn tượng về sự khác nhau rõ nét nhất là Sài Gòn là một thành phố đã hình thành, ta chỉ việc hoàn thiện và làm đẹp cho nó, trong khi Hà Nội là một thành phố mới chỉ được phác họa, vẫn còn rất nhiều thứ phải làm” .
Có thể hiểu nguyên nhân của sự khác biệt này là Sài Gòn từ khi khởi lập đã có chức năng và duy trì được chức năng đô thị kinh tế, dù sau đó Thành Gia Định (thành Phụng, thành Quy) bị san bằng, vị trí chính trị mất đi thì vai trò kinh tế đã không mất theo. Ngược lại do tiếp nhận những phương thức và kỹ thuật mới nên Sài Gòn nhanh chóng phát triển theo một mô hình đô thị mới.
Đô thị hóa là quá trình biến đổi về phân bố các lực lượng sản xuất, bố trí dân cư, những vùng không phải đô thị trở thành đô thị. Tiền đề cơ bản của đô thị hóa là sự phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ... thu hút nhiều nhân lực từ nông thôn đến sinh sống và làm việc, làm cho tỉ trọng dân cư ở các đô thị tăng nhanh. Đô thị xuất hiện làm tăng sự phát triển giao thông với các vùng nông nghiệp xung quanh và các đô thị khác; phát triển văn hoá và sự phân công lao động theo lãnh thổ, tăng cường thành phần công nhân, tiểu thủ công, trí thức, thương nhân, kĩ thuật viên... Theo đó thì quá trình đô thị hóa ở Nam bộ khá đồng bộ và trong giai đoạn nào thì Sài Gòn vẫn giữ vị trí và vai trò quan trọng nhất.
3.2 Ở Nam bộ ít có sự phân biệt văn hóa và người Nam bộ nói chung (ngoại vi) với văn hóa và người Sài Gòn (trung tâm) nói riêng. Nếu không quá khắt khe có thể coi người/văn hóa Sài Gòn là đại diện cho người/ văn hóa Nam bộ, từ giọng nói, ngôn ngữ, ẩm thực, tính cách, cách thức làm ăn… Ở Sài Gòn khi thân thiết thì hỏi nhau “quê đâu” mà không hề có ý phân biệt người “tỉnh” hay “thành phố”.
Gia phả nhiều dòng họ, gia đình ở Nam bộ phần lớn được ghi nhận “thời ông cố ông sơ” từ miền Trung đi ghe theo biển vô Nam, đầu tiên định cư trên những giồng đất vùng cửa sông… rồi từ đó ngược các nhánh Cửu Long vào sâu vùng ngập trũng, khai phá đồng bằng và khai thác tự nhiên .
Công cuộc khai phá này chẳng hề dễ dàng thuận lợi chút nào! Do đó tính thực tiễn được đặt lên hàng đầu: tất cả hướng đến thực tế, không lý thuyết suông, không giáo điều, lấy hiệu quả lao động làm mục đích chính. Không hay than vãn, người Nam bộ thường nói “làm chơi ăn thiệt” nhưng đây là thể hiện tư duy giản dị mọi việc, “coi vậy mà hổng phải vậy”, nhìn khó khăn đã qua như một việc chơi chơi, còn kết quả thực sự mới là quan trọng, là đã “có ăn”.
Với hơn ba trăm năm đi xa “gốc gác” từ đồng bằng sông Hồng, sông Mã làm sợi dây “truyền thống” khép kín càng dãn ra. Những tính chất của không gian “nông thôn làng xã” biến đổi theo thời gian, bị/ được đứt gãy do phải thích ứng với không gian địa – xã hội khác. Thay vào đó là sự tự lập và tính linh hoạt ứng phó với hoàn cảnh điều kiện mới và từ đó tạo ra truyền thống mới, dám thay đổi cho phù hợp hoàn cảnh, thích nghi nhanh, chịu đổi mới. Quan trọng là không mặc cảm sợ sai và sửa sai nhanh.
Ở Sài Gòn/ Nam bộ “dư luận xã hội” không nặng nề khe khắt với những điều khác lạ, cái mới. Là bởi người Việt trên bước đường lưu chuyển vào đây đã trải nghiệm qua những vùng đất toàn những điều mới lạ. Cùng với sự nhạt đi của tính chất phong kiến gia trưởng, lại luôn cần đùm bọc nhau trong hoàn cảnh mới, tiếp xúc sớm với các giá trị dân chủ, bình đẳng của văn minh phương Tây làm cho người Sài Gòn khá cởi mở trong các mối quan hệ xã hội, cá nhân ít lệ thuộc, phụ thuộc vào cộng đồng và vì thế vai trò và trách nhiệm cá nhân rõ ràng.
Có thể nói tính cách người Sài Gòn/Nam bộ gắn liền với chữ “LÀM”; “làm ăn”, “Làm chơi ăn thiệt”, “làm đại”, “dám làm dám chịu”… sự liên kết gắn bó, hòa trộn những đặc điểm trên tạo nên tính cách người Sài Gòn/ Nam bộ.
Trong tiến trình lịch sử không thể phủ nhận một điều, với vị thế là thương cảng trung tâm kinh tế – văn hóa, có tầm giao lưu và ảnh hưởng đến khu vực rộng hơn, Sài Gòn luôn được coi là thành phố tiêu biểu và đại diện cho Nam bộ trên tất cả các lĩnh vực. Cũng cần lưu ý rằng, trong một thời gian dài Sài Gòn là thủ phủ của chính quyền thực dân và thủ đô của chính quyền miền Nam trước năm 1975, từng là một trung tâm chính trị. Những yếu tố trên đây hợp thành và tạo nên một đô thị cổ Bến Nghé – Gia Định, một đô thị Sài Gòn – TP.HCM độc đáo khác với Hà Nội hay Huế – hai thành phố cũng là trung tâm của cả nước trong giai đoạn lịch sử khác .
3.3 Thời hiện đại, quá trình dân cư của Sài Gòn cũng khác với nhiều đô thị khác: Thời kỳ chiến tranh Sài Gòn là nơi mà nhiều người từ các tỉnh miền Trung đổ vào, từ miền Tây Nam bộ lên, nhất là khi chiến sự ác liệt. Sau năm 1975 Sài Gòn cũng là nơi có tình trạng thay thế dân cư lớn nhất và kéo dài cho đến nay: Người (thị dân) Sài Gòn ra đi bằng nhiều con đường, lúc ồ ạt khi chẳng mấy ồn ào; người các tỉnh lại liên tục đổ vào Sài Gòn tới nay chưa hề giảm bớt (khác với Hà Nội trong chiến tranh dân cư rời bỏ thành phố đi về tản cư, sơ tán nông thôn, sau chiến tranh mới trở lại thành phố).
Tuy nhiên Hà Nội và Sài Gòn cũng có một số điểm giống nhau: 1/ Sau khi chiến tranh chấm dứt khá nhiều người Hà Nội “gốc” và Sài Gòn “xịn” đã rời thành phố đi nơi khác sinh sống, tạo ra khoảng trống trong cơ cấu dân cư là tầng lớp thị dân lâu đời; 2/ Chính quyền thiết lập sau chiến tranh (Hà Nội 1954 và Sài Gòn 1975) đều do (hầu hết) những người (kháng chiến) ở nông thôn, rừng núi trở về lãnh đạo, một giai đoạn dài tổ chức chính quyền không kịp thích nghi với đô thị lớn nhất nước và 3/ hiện nay hai thành phố này có số lượng người nhập cư nhiều nhất, phức tạp nhất.
Những đặc điểm này làm cho Hà Nội và Sài Gòn khó khăn trong việc xây dựng đô thị văn minh hiện đại. Đặc biệt, tình trạng đột biến dân cư nhanh, ồ ạt, sự đứt gãy ký ức cộng đồng của hai đô thị lớn nhất nước đã để lại nhiều ảnh hưởng tiêu cực trong việc gìn giữ lối sống đô thị, bảo vệ và bảo tồn di sản đô thị.
Nam bộ được nhìn nhận có hai tiểu vùng trên cơ sở hai vùng địa hình: Đông Nam Bộ là lưu vực sông Đồng Nai và Tây Nam Bộ là lưu vực sông Cửu Long. Tuy nhiên về cộng đồng dân cư, về kinh tế và văn hóa giữa hai tiểu vùng khá giống nhau. Đây là điều tương đối khác so với miền Trung và miền Bắc. Trên cơ sở đó, Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh được coi là và luôn là đại diện cho Nam bộ. Chính vì vậy có thể coi những đặc trưng lịch sử - văn hóa của Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh cũng là những đặc trưng của nhiều đô thị ở Nam bộ. Nguồn vốn di sản đô thị ở TP. Hồ Chí Minh có những loại hình và giá trị thế nào thì các đô thị Nam bộ cũng có như vậy, tuy mức độ khác nhau.
Lời tạm kết
Hiện nay tại TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam bộ, ngoài hệ thống di tích Lịch sử văn hóa (phần lớn là cấp tỉnh thành) và các bảo tàng chưa được nhiều người biết đến thì chưa có chiến lược và chương trình cụ thể nhằm làm cho người dân và thế hệ trẻ hiểu biết nhiều hơn, đúng hơn về di sản văn hóa. Một vài chương trình truyền hình, chuyên mục trên một số tờ báo… chưa đủ sức mang lại sự yêu thích và khơi dậy ý thức bảo vệ di sản văn hóa. Mỗi khi có vụ việc phá hoại di sản thì báo chí lên tiếng rồi sau đó lại chìm vào lãng quên. Mặt khác các chương trình “xúc tiến quảng bá du lịch” còn nặng về “khai thác” mà chưa chú ý làm cách nào tăng thêm giá trị cho di sản văn hóa.
Nói về bản sắc đô thị Sài Gòn – Nam bộ là góp phần khẳng định: Nam bộ - Sài Gòn không chỉ có vai trò “cùng cả nước vì cả nước” về kinh tế mà di sản văn hóa của vùng đất này đã đóng góp những giá trị quan trọng đối với lịch sử - văn hóa Việt Nam. Mặt khác, bảo tồn di sản còn là nuôi dưỡng ký ức và tình cảm đối với thành phố, với quê hương, vì vậy, bảo tồn di sản đô thị Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh và các đô thị Nam bộ còn góp phần vào tiến trình hòa hợp hòa giải dân tộc.
[Trích từ một bài viết dài với 10 tài liệu tham khảo, trích dẫn.]


TRONG MIỀN CHỮ GIỮ NIỀM THƯƠNG

 (Điểm sách THƯƠNG NHỮNG MIỀN QUA)

Tôi đọc “Thương những miền qua” (NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh) của TS. khảo cổ Nguyễn Thị Hậu vào những ngày Sài Gòn mưa dầu dãi. Mưa đem đến một không gian đủ phiêu bồng để tôi thả trôi cảm xúc theo từng miền thương của Nguyễn Thị Hậu. Văn đàn và giới khảo cổ đều quen cái biệt danh “Hậu khảo cổ” của chị. Ít ai gặp chị mà gọi rõ họ tên. Giữa những lần ngược xuôi cho các chuyến công tác khảo cổ, nữ tiến sĩ lại tẩn mẩn ghi chép rất nhiều cảm xúc của mình ở mọi vùng miền chị đi qua. Và lần này là “Thương những miền qua”, tập tạp bút còn nóng hổi mới ra mắt từ đầu tháng sáu.
Tập tạp bút đầy đặn với 250 trang và 36 bài viết là những xúc cảm của chị khi đôi chân phiêu bạt qua những vùng miền đong đầy những luyến thương. Nguyễn Thị Hậu quê gốc miền Tây. Nhà nội ở làng Mỹ Hiệp trên Cù Lao Giêng, huyện Chợ Mới, An Giang. Nhà ngoại ở bến đò Mỹ Hiệp qua làng Hòa An, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp. Bên này là nội, bên kia là ngoại, cách một nhánh sông Tiền. Nên dẫu sinh ra ở Hà Nội, cái chất phù sa thấm dạ và châu thổ quyện cuộn vào lòng, vẫn miên mải trong tâm khảm của Nguyễn Thị Hậu. Chín nhánh sông cứ vậy mà mang nhiều da diết trên trang viết của chị. Có lẽ vậy mà dù đi qua biết bao vùng lạ, biết bao miền xa, và giờ sống ở đô thị nắng ấm phương Nam nhưng câu chữ của chị vẫn mang sự hồn hậu của người miền Tây.
Có thể thấy điều này ngay cách chị đặt bài viết “Quê tôi ở miền Tây” đầu tiên trong tập sách. Đó chính một tình yêu cội nguồn mà bất cứ ai cũng thao thiết trong lòng mình. Mượn câu chữ như sự giải bày, Nguyễn Thị Hậu kể lại cuộc đời mình từ gốc tích nội, ngoại và cha mẹ với những tháng ngày tập kết ra Bắc. Nếp nhà với những phong cách sống rặt miền Tây vẫn được cha mẹ lưu giữ qua từng món ăn, từng ngày lễ Tết, cả cách dạy dỗ con cái. Dằng dặc 21 năm trời vọng cố hương, thương xứ mình nuôi nấng trong lòng chị những âm ba dạt dào ký ức. Bây giờ bước đời mỏi gót điêu linh miên viễn bao nơi, thì ngày về lại xứ quê vẫn cứ trĩu trịt tấc lòng: “Mỗi lần về quê lại thấy thương quê mình hơn, lại được đón nhận những chân thành và tình nghĩa, được tiếp thêm sự lạc quan và năng động của người miền Tây. Quê hương đâu chỉ là nơi ta sinh ra và lớn lên, mà còn là nơi ta biết rằng trái tim mình đã thuộc về nơi đó…”.
Bằng giọng văn rủ rỉ rù rì, bằng những câu chữ mộc mạc, hầu hết các tạp bút trong tập sách đều nhẹ nhàng chuyển tải một câu chuyện rất đỗi chân phương và đậm đà tấm tình. Tấm tình của một người đã đi qua dâu bể gieo neo cuộc đời, ngoái lại nhìn quãng đường xưa xa thì nghe cũ càng dậy lên một niềm thương tưởng. Tỷ như chị gói ghém nhớ nhung ấy vào những thứ rất bình dị mà bật lên một vùng trời ký ức. Nhớ những táu lá chuối và cái Tết xa quê của hồi còn ở thủ đô với tục gói bánh tét. Nhớ mùa vịt chạy đồng của lưu dân khai phá châu thổ Cửu Long mỗi bận nước nổi. Nhớ những chuyến phà dọc ngang các con sông của đồng bưng chín nhánh. Nhớ để thấy thao thiết khi miền Tây giờ không còn những chuyến phà, ít lắm mùa vịt chạy đồng và càng ít hơn nữa những người gói bánh tét. Cầu nối những bờ vui, vịt nuôi giờ theo phương thức công nghiệp, hay bánh tét giờ chợ, siêu thị gói sẵn bán đầy.
Tất cả sự hiện đại hóa ấy khiến những nét đẹp bình dị của châu thổ mai một, sợ ngày nào đó, đám cháu con lại ngơ ngác hỏi nhau thế nào là phà, chẳng biết mùa vịt chạy đồng, hay càng không thể hiểu được hồn Tết đôi khi gói gọn trong đòn bánh tét. Sự thay đổi nào của thế thời cũng ít nhiều khiến mất đi vài nét đẹp văn hóa đời sống. Dẫu biết là tất yếu, nhưng ký ức đôi khi vẫn rưng rức về điều quá vãng.
Với 36 tạp bút, Nguyễn Thị Hậu không chỉ kể chuyện hồn quê bản xứ mà như một tập du ký sống động với nhiều bài viết về các vùng miền, mảnh đất chị từng đi, từng đến, từng qua và từng lưu lại một khoảng thời nào đó. Độc giả hiểu thêm từng niềm thương đắng đót qua loạt tác phẩm như Cây cầu tình yêu ở Sài Gòn, “Bia con cọp” – một biểu tượng của Sài Gòn xưa, Dòng sông mang tên thành phố, Hà Nội trong tôi, Di sản Hà Nội trong ngày hôm nay, Một dòng xanh tuyệt vời của Huế, Ấn Độ vùng đất quyến rũ và đầy sức sống, Notre-Dame de Paris nơi dừng chân của ký ức, Lâu đài Amboise và danh họa Leonardo da Vinci…
Ở những miền thương đó, chị luôn trắc ẩn cho những điều cơ hồ đã phôi pha, nhưng qua ngòi bút của chị lại vọng về một cách luyến nhớ, tất cả cứ như từng cơn sóng cảm xúc cuộn lên và dâng tràn vỗ về lòng dạ người đọc những suy niệm. Có những thứ thời gian chẳng thể nào xóa nhòa, bởi nó đã in hằn thành một vùng trời ký ức trong tâm trí của chúng ta. Nhưng, cho dù là bất cứ nơi đâu, vẫn thấy nữ tiến sĩ luôn đau đáu lòng mình trước biến thiên thời cuộc, trước thay đổi nhân tình thế thái, và chị luôn lan tỏa một thông điệp trong miền chữ về sự nảy mầm của lòng nhân ái, bởi nó được vun trồng từ chính trái tim nhân hậu của con người.

“THƯƠNG NHỮNG MIỀN QUA" - NHỮNG CHUYẾN ĐI ĐẦY NỖI NHỚ

https://toptrending.vn/thu-gian/doc-sach/thuong-nhung-mien-qua-nhung-chuyen-di-ve-day-noi-nho-cua-tac-gia-nguyen-thi-hau.html?zarsrc=30&utm_source=zalo&utm_medium=zalo&utm_campaign=zalo&fbclid=IwAR3vT-ZFS5HK6JuMm4YbP36F3EsuxdzgL7mLo0M04rP9TvwMo8RuTlgIjS8

Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh chính thức giới thiệu tùy bút “Thương những miền qua” của tác giả Nguyễn Thị Hậu.
Giọng văn tự sự đậm chất Nam bộ, với cách kể chuyện rủ rỉ tâm tình, gây nhớ, gây thương, và gây ngẫm ngợi của tác giả … chữ “thương” được ẩn mình trong từng dòng viết. Sách dày hơn 250 trang gồm 36 bài viết kể về những miền đất đi qua đọng lại muôn vàn thương nhớ của Nguyễn Thị Hậu.
Ngay ở đầu trang sách, tác giả giới thiệu “Quê tôi ở miền Tây, tôi sinh ở Hà Nội và sống ở Sài Gòn”. Ngay từ thuở bé ở Hà Nội, dù chưa từng được thấy quê nội và quê ngoại nhưng truyền thống gia đình Nam bộ lưu giữ cho Nguyễn Thị Hậu một tình yêu quê hương hồn nhiên, thương về cội rễ.
Nghề khảo cổ học cho tác giả những thấm thía nghĩ suy về giá trị của những cổ vật trong lòng đất ở ngay trong lòng đô thị Sài Gòn và vùng ven đô Sài Gòn hay những vùng miền đất cổ ở đồng bằng sông Cửu Long. Hơn thế nữa, tác giả đã có những chuyến đi khảo sát và nghiên cứu trải dài trên dọc đường của đất nước, kể cả những chuyến đi ở nước ngoài.
Có thể kể đến những bài viết như: Quê tôi ở miền Tây; Tàu lá chuối và những Tết xa quê; Rưng rưng nhớ “Miền nước nổi”; Những chuyến tàu nối quá khứ với tương lai; Từ biệt những chuyến phà; Dòng sông mang tên thành phố; Ước mơ Metro thành phố; “Cây cầu tình yêu” ở Sài Gòn; Di sản Hà Nội trong ngày hôm nay; Một dòng xanh tuyệt vời của Huế; Sống qua ngày đại dịch… Và có dịp đến những miền đất trên thế giới, Nguyễn Thị Hậu có dịp ghi lại như: Ấn Độ vùng đất quyến rũ và đầy sức sống; Notre-Dame de Paris nơi dừng chân của ký ức; Lâu đài Amboise và danh họa Leonardo da Vinci…
Gắn bó với Sài Gòn, tác giả cảm nhận từng khoảnh khắc thay đổi, giao mùa. Những ngày đầu mùa mưa ở Sài Gòn, chỉ một cơn gió nhẹ lướt qua là những cánh hoa dầu lao xao bung mình nhẹ nhàng bay trong gió làm lòng ta xao xuyến đến lạ. Như một dòng chảy thời gian, Sài Gòn mang bản sắc là một đô thị sông nước. Từ những dòng sông, con kênh, cây cầu, những chuyến phà, chuyến tàu giao thông tấp nập, cho đến các công trình kiến trúc đặc trưng. Ở đó có sự giao thoa cũ – mới, giữa phát triển – giữ gìn các giá trị truyền thống…
Không nằm ngoài quy luật phát triển, những dấu ấn xưa đang dần nhường chỗ cho sự đổi thay phát triển nhanh chóng của thành phố. Nhắc nhớ và thêm trân trọng những biểu trưng của thành phố này, nơi hợp lưu các dòng chảy văn hóa. Những cây cầu cổ hay còn được xem là “cây cầu tình yêu” trở thành không gian nối liền quá khứ với hiện tại, tăng thêm tình cảm của mọi người dân và du khách đối với thành phố. Hay từ biệt những chuyến phà kỷ niệm để thay thế bằng những cây cầu hiện đại phục vụ việc rút ngắn lộ trình giao thông. Sẽ sớm thôi, những chuyến tàu Metro hiện đại sắp đi vào hoạt động, người dân thành phố thắp lên niềm tin từ đây sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian trong cuộc sống và mưu sinh hàng ngày.
Đến với Notre-Dame de Paris (Nhà thờ Đức Bà Paris) như trở về miền ký ức ngọt ngào và bí ẩn kiến trúc đồ sộ của nhà thờ như một cái bóng khổng lồ đè lên số phận của chàng gù Quasimodo nhân hậu, nàng Esmeralda tài hoa xinh đẹp. Đi qua vùng đất sông Hằng đề viếng đền Taj Mahal chứng kiến tình yêu bất tử của vị vua Shah Jahal dành cho người vợ thông thái yêu quý của mình. Đặt chân đến với Lâu đài Amboise và tìm hiểu các sáng tác của danh họa Leonardo da Vinci…
“Thực ra, Hậu không chỉ đi qua, mà là đi đến và cũng là đi về miền đất quê hương, nơi cha sinh mẹ đẻ. Và Hậu đã không ngừng đi, không chỉ đi, trên dọc dài đất nước mình. Để rồi, tất cả sự đi chứa chan cảm xúc ấy, đã lên hương, thành tình tự, ngụ trong một chữ thương. Bởi vậy, chữ thương ngự ngay tên sách của Hậu: Thương những miền qua. Vì thế, sách có chữ thương này rất có thể động lòng người chịu đọc nó. Bởi lẽ, người đọc nào mà chẳng thương miền đất đã sống, thương miền đất sắp đến và thương về miền đất mình sẽ trở lại – nơi quê hương nguồn cội”. – PGS. TS Nguyễn Thị Minh Thái chia sẻ.






QUÊ TÔI Ở MIỀN TÂY


Tùy bút, Nguyễn Thị Hậu
Quê nội tôi là làng Mỹ Hiệp trên Cù lao Giêng, Chợ Mới (An Giang), chỉ cách quê ngoại một nhánh sông Tiền, có bến đò Mỹ Hiệp qua làng Hòa An – Cao Lãnh (Đồng Tháp).
Sau ngày hòa bình tôi thường về quê ngoại vì nơi đó còn bà ngoại và mấy cậu mấy dì, các anh chị em họ. Quê nội không còn ai ruột thịt, chỉ có bà con xa. Từ cách mạng 1945, bác tôi và ba tôi đi kháng chiến. Năm 1947 Tây bắn chết ông nội tôi, bác gái tôi đưa bà nội lên sinh sống ở Sài Gòn. Nhà cửa ở làng lâu dần hư hỏng hết... Hết chiến tranh gia đình tôi về quê chỉ còn thấy trơ trụi cái nền nhà của ông bà nội, ruộng đất của gia đình cũng đã chia năm sẻ bảy từ lâu... Vài năm sau chú tôi bán nốt cái nền nhà. Vậy là ở quê chỉ còn khu mộ ông bà nội nằm giữa ruộng đất của người ta, thỉnh thoảng được một người bà con chăm nom dọn dẹp.
Ba tôi từ khi lớn lên đi học ở Sài Gòn và làm thầy giáo ở trường huyện Chợ Mới. Rồi ông đi kháng chiến chín năm và tập kết ra Bắc... Ký ức về quê nội tôi có được đều từ má tôi truyền cho. Bà chỉ về làm dâu ông bà nội có vài năm rồi cũng đi kháng chiến, những năm đó ở nhà chỉ có ông bà nội với má tôi và anh Hai mới ra đời. Vì vậy ngôi nhà sàn tuy không lớn nhưng vắng vẻ lắm, cách sông một đỗi đường làng mà vẫn nghe lao xao người lên xuống đò ngoài bến. Ròng rã bao nhiều năm xa quê nội, má tôi vẫn nhớ như in ngôi nhà sàn chiều chiều bà nội ngồi ở hàng hiên ngoáy trầu, ngó ra đường nghe tiếng xe thổ mộ lại ngóng xem có đứa con nào về ? Nhớ con rạch sáng chiều nước lớn nước ròng theo tiếng bìm bịp kêu, con rạch mà ông nội thường chặt tre nhà trồng để kè bờ, bắc cầu khỉ cho người trong xóm qua lại, nhớ đám ruộng chiều chiều nghe mùi khói đốt rạ má tôi lại nao nao nhớ ngoại... Gần vậy nhưng má tôi ít dịp về nhà ngoại, thời đó đàn bà lấy chồng rồi thì quê chồng là quê mình.
Tôi hay về quê nội vào tiết Thanh minh. Làng quê không giàu nhưng cũng không quá nghèo, ruộng vườn vén khéo nhà nào cũng đủ ăn, bà con lối xóm người theo đạo Phật người theo Hòa Hảo cũng chân chất như nhau. Từ nhiều năm nay trường học, trạm xá được xây dựng ngay tại xã, gần gũi cho trẻ nhỏ đi học, khám chữa bệnh của bà con cũng thuận tiện hơn nhiều. Nhà trệt mái ngói, mái tôn đã thay thế những ngôi nhà sàn mái lá xưa kia. Nhưng đường làng vẫn làm cho khách lạ đi xe lôi xe ôm “hồi hộp” lắm vì chưa được thẳng thớm, bằng phẳng.
Lần nào có dịp về quê ngoại mà không qua được quê nội, tôi cứ nhớ con đò ngang sông Tiền lộng gió mùa nước lớn, bến đò có con đường dốc cao mùa nước cạn, mấy chiếc xe lôi chờ khách ồn ào khi đò cập bến... Và khu mộ ông bà nội quét vôi trắng sạch sẽ giữa vườn cây xanh mát. Rưng rưng thấy có lỗi như đã để ông bà nội đợi chờ, dù ông bà đã khuất từ khi tôi chưa kịp ra đời...
***
Do công việc nên tôi thường về Long Xuyên, Châu Đốc hơn về Chợ Mới Cù lao Giêng. Vậy mà ông bạn thân ở Long Xuyên mỗi lần gặp là một lần hờn giận “Sao bà ít dìa quê quá vậy? lần sau bà dìa tới Vàm Cống là tui kêu... phà khỏi chở bà qua sông, cho biết!”. Lần này cũng vậy, ông bạn chưa kịp nói thì tôi đã cười “Có cầu Vàm Cống rồi nghe, khỏi dọa không cho tui qua phà dìa quê!”. À mà cầu Vàm Cống không nằm ngay bến phà mà xuôi về hạ lưu mấy cây số, nối hai bờ sông Hậu bên là Cao Lãnh bên thuộc Cần Thơ, đi vòng hơn mười cây số mới vào thành phố Long Xuyên. Tôi đã từng gợi ý cho ngành du lịch của tỉnh là hãy duy trì cái phà cho xe hơi nhỏ, xe máy qua lại, vừa tiện lợi cho dân sống ở hai bên bờ từ lâu đời, vừa giữ một cảnh quan sinh hoạt quen thuộc của đô thị Nam bộ, giữ một “di tích” cho du lịch sông nước. Nhưng cũng như nhiều di tích khác, những cái phà bến bắc ở miền Tây cứ mất dần, mai mốt con cháu sẽ không biết một phương tiện giao thông phổ biến gần trăm năm ở miền sông nước này. May ra chỉ còn nhìn thấy “bắc Mỹ Thuận” trong bộ phim Người tình nổi tiếng!
Đường về quê dù “độc đạo” từ mấy chục năm qua nhưng các bến phà/bắc đã thay thế bằng những cây cầu hiện đại. Ngày trước về quê ngoại phải qua bắc Mỹ Thuận, bắc Cao Lãnh, về quê nội thêm bắc Vàm Cống. Hai mươi mốt năm trước (5.2000) cầu Mỹ Thuận hoàn thành và cho đến nay, theo tôi, vẫn là cây cầu đẹp nhất ở đồng bằng sông Cửu Long. Tháng 2.2020 cầu Mỹ Thuận 2 đã được khởi công nhằm tăng lưu lượng giao thông cho khu vực “nút thắt” của tuyến đường quan trọng nhất miền Tây. Trên sông Cửu Long giờ có nhiều cây cầu dây văng đẹp như mơ đã trở thành hiện thực, nối liền các tỉnh của vùng sông nước như mong ước bao đời của người đồng bằng. Trên sông Tiền có cầu Mỹ Thuận, cầu Cao Lãnh, cầu Rạch Miễu, cầu Hàm Luông và cầu Cổ Chiên, trên sông Hậu có cầu Cần Thơ, cầu Vàm Cống. Cùng với cầu là những cung đường mới hiện đại qua cánh đồng rộng lớn chứ không còn chen chúc qua những thôn xóm và thị trấn ven đường. Tuy nhiên, thông cầu nhưng đường chưa thông vì quốc lộ 1A vẫn là “độc đạo”. Tình trạng kẹt xe tắc đường ngày càng trầm trọng nhất là vào dịp lễ tết.
Đường về quê nội, quê ngoại giờ có thể đi bằng tuyến đường N2 từ Đức Hòa (Long An) đến Mỹ An (Đồng Tháp). Tôi thích đi đường N2 này vì ngày thường khá vắng, tuy đường không tốt lắm và chỉ có hai làn xe. Nhưng đường này có nhiều cây cầu mới xây qua những con “kinh xáng” thẳng tắp, cầu có độ tĩnh không cao cho ghe xuồng, tàu chở hàng, xà lan tải trọng vừa qua lại thoải mái. Có đoạn dài con đường chạy song song kênh N2, ngày lễ tết trên đường xe máy xe hơi nối nhau chật cứng, gần bên là dòng kênh trong vắt, nước lên đầy ắp, vài chiếc ghe máy, tàu nhỏ thong thả xuôi ngược. Lúc đó tôi nghĩ, nếu có “đò dọc” thì chắc nhiều người đi xe máy sẽ xuống đi đò còn hơn phơi mình giữa nắng để nhích từng chút một. Dù đò đi chậm nhưng bù lại sẽ được “mãn nhãn” với cảnh làng quê bình yên và ruộng vườn xanh ngút ngát... Nhưng có lẽ đó chỉ là suy nghĩ của tôi - một người hay “hoài cổ” và thèm được sống chậm, chớ bây giờ ai cũng hối hả đi nhanh. Những con đò dọc đã biến mất từ lâu khi đường lộ nhỏ len lỏi vào vùng sâu cho xe máy chạy ào ào. Còn đò ngang, phà bắc đã có những chiếc cầu thay thế, xe hơi chạy không cần ngừng nghỉ. Tiếng rao hàng rong trên những chuyến phà, tiếng gọi “đò ơi...” chắc chỉ còn tồn tại trong vài tản văn, tạp bút về miền Tây.
Đường N2 băng ngang một phần Đồng Tháp Mười mới được khai thác vài chục năm nay. Đi đường này tha hồ ngắm những ao sen trắng hồng rực rỡ, rừng tràm mới trồng xanh ngắt chiều chiều cò bay đậu trắng ngọn cây. Vài năm nữa thôi nơi này sẽ có nhiều “sân chim” – một “đặc sản” của Nam bộ mà chiến tranh đã làm biến mất khá nhiều. Dọc đường N2 là “cánh đồng mẫu lớn” bên này lúa còn xanh mướt bên kia đã ngả một màu vàng quyến rũ, có nơi đã gặt xong, rơm được máy cuốn tròn thành từng bó xếp gọn ở bờ, bầy vịt nuôi đồng tung tặng lội ruộng sục mỏ kiếm hạt lúa rơi, con cá con ốc. Chỉ sau một mùa gặt bầy vịt sẽ mướt mượt, con nào con nấy chắc nịch chứ không mập ù như vịt nuôi siêu thịt. Trên cánh đồng có nhiều loại máy: máy cày, máy sục, máy gieo máy gặt... Như vậy lẽ ra người nông dân được an nhàn hơn vậy mà họ vẫn còn cơ cực lắm. Buông con trâu cái cày ra họ biết làm gì? Lên thành phố, đến khu công nghiệp cũng không thể trở thành công nhân đúng nghĩa, bởi vì ngoài nghề nông họ đâu đã biết thêm một nghề nào khác?
***
Lần nào về miền Tây khi trở lên thành phố cũng vào buổi chiều, nhưng vừa rời một nơi chốn nào đó đã lại nhớ da diết. Nỗi nhớ chẳng có gì cụ thể, chỉ là cảm giác bồi hồi khi xa những gì thân yêu mà không biết lần sau gặp lại có còn nguyên vẹn? Hôm rồi đi công tác ở Thoại Sơn – An Giang cũng vậy. Trên đường về Sài Gòn khi nghe tôi buông câu “sao cứ chiều là nhớ nhà ghê...”, anh bạn cùng đi như được chạm vào đúng mạch liền kể bao chuyện “hồi đó còn ở dưới quê...”. Quê anh ở Vĩnh Long nhưng chuyện quê anh không khác gì quê tôi. Những câu chuyện cho biết từ thời khẩn hoang đến sau này đất miền Tây vẫn phải đối mặt với bao khó khăn vất vả, bao thách đố từ sông từ biển, từ nắng từ gió, từ đất từ nước mà người nông dân phải thích nghi, phải quen thuộc để có thể sống được!
Người Nam bộ là vậy, khó khăn nào cũng tìm cách vượt qua nhưng không than thở vì “ai cũng như mình”. Sống được là khỏe rồi, nuôi được vợ con là vui rồi, cực nhọc qua rồi thì... “nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ”. Kể cả khi người khác luôn cho rằng “Nam bộ được thiên nhiên ưu đãi, làm chơi ăn thiệt” thì cũng nhẹ nhõm chấp nhận “ờ mà thiệt, ông trời không cho làm sao mình có?”, một thái độ chân thành thể hiện sự biết ơn trời đất, ơn người ơn đời.
Bởi vậy, người miền Tây sanh đẻ ở tỉnh nào cũng coi miền Tây là quê chung. Lên thành phố làm ăn nhưng ngày lễ tết thì chỉ tính chuyện về quê. Ở xa thì rủ nhau ra Bến xe miền Tây mua vé xe đò cùng chuyến mà người xuống trước người xuống sau. Gần hơn thì chạy xe máy, cứ đổ đầy bình xăng, khoác áo gió, đeo ba lô cùng nhau lên đường. Trên đường đi có khi còn ghé nhà bạn ăn bữa cơm ngủ lại một đêm rồi mai mới chạy tiếp về nhà mình.
“Quê tôi ở miền Tây, tôi sinh ở Hà Nội và sống ở Sài Gòn”. Mỗi lần về quê lại thấy thương quê mình hơn, lại được đón nhận những chân thành và tình nghĩa, được tiếp thêm sự lạc quan và năng động của người miền Tây. Quê hương đâu chỉ là nơi ta sinh ra và lớn lên, mà còn là nơi ta biết rằng trái tim mình đã thuộc về nơi đó...
Báo Tiền Phong 23.5.2021
Hình: một đoạn đường và cầu trên tuyến N2

Không có mô tả ảnh.

Bài mở đầu tập tùy bút THƯƠNG NHỮNG MIỀN QUA, NXB TỔNG HỢP TPHCM, 2023


Phản xạ văn hóa các vùng miền Việt Nam

_Nguồn:  https://logbasex.substack.com?utm_source=navbar&utm_medium=web Bản đăng lại từ bài viết trên trang Substack cùng tên của tác gi...