Hiển thị các bài đăng có nhãn Thầy. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thầy. Hiển thị tất cả bài đăng

LỊCH SỬ, SỰ THẬT VÀ SỬ HỌC - GS. Hà Văn Tấn


Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Hà Văn Tấn, người được mệnh danh là Lê Quý Đôn của thế kỷ 20, người cuối cùng trong tứ trụ của sử học Việt Nam, vừa từ trần vào 21h02 ngày 27-11 tại Hà Nội.


“Ai ai đều đã bằng câu hết
nước chẳng còn có Sử Ngư”
Đó là hai câu thơ trong bài thơ cuối cùng của mười bốn bài “mạn thuật” mà Nguyễn Trãi đã để lại cho chúng ta. Thật là cay đắng khi mà mọi người uốn cong như lưỡi câu, và chẳng còn ai nói lên sự thật nữa, chẳng còn ai như Sử Ngư nữa. Sử Ngư là một chép sử nước Vệ thời Xuân Thu, nổi tiếng về thẳng thắn và trung thực. Khổng Tử đã từng khen: “trực tai Sử Ngư” (Sử Ngư thẳng thay)
Cho đến hôm nay, đọc câu thơ Nguyễn Trãi chúng ta vẫn như tê tái với nổi đau của ông, làm sao có thể sống trong xã hội mà mọi sự thật đều bị che đậy và xuyên tạc. Trong những thời kỳ như vậy, người chép sử, nhà sử học, những người có nhiệm vụ nói lên sự thật, không biết bị dằn vặt như thế nào? Ngày nay chúng ta đang sống trong một giai đoạn cần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật đáp ứng yêu cầu của nhân dân của đất nước. Đã đến lúc những người chép sử, nhà sử học phải tự hỏi rằng “sử bút” của mình có thật nghiêm chưa, đã viết đúng sự thật lịch sử hay chưa?
Từ thời cổ đại người ta đã yêu cầu cho việc chép sử là nêu gương cho nhân dân và đem lại bài học cho những nhà cầm quyền. Polibious, nhà sử học Hy Lạp vào thế kỷ 2 TCN, đã nhận thấy rằng sử học có tính Pagmatikos, tức thực dụng. Trong các vị thần Muses Hy Lạp thì nữ thần Clio là thần sử học, nhưng tên Clio là bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là Kleio nghĩa là ca tụng, biểu dương.
Ơ Phương Đông Khổng Tử viết kinh Xuân Thu, bộ sử lớn của Trung Quốc cổ đại, là cốt để “bao biến” tức là khen và chê các hành vi của nhân vật lịch sử. Cái mẫu mực sử học thực dụng còn tồn tại rất lâu dài về sau, nhất là ở Phương Đông. Ta hãy đọc những dòng của Phạm Công Trứ trong bài tựa sách đại việt sử ký tục biên : “Vì sao phải viết quốc sử? Vì sử chủ yếu ghi chép công việc. Có chính trị của một đời tất phải có sử của một đời mà sự ghi chép của sử giữ nghị luận rất nghiêm, tụ điểm việc trí trị thì sáng tỏ ngang với mặt trời, mặt trăng, răn đe kẻ loạn tặc thì ráo riết như sương thu lạnh buốt, người thiện biết thì có thể bắt chước, người ác biết thì có thể tự răn, quan hệ với chính trị thì không thể là ít, cho nên mới làm ra quốc sử”
Một mục đích thực dụng như vậy đặt ra cho sử học tất nhiên đã ngăn cản không ít việc nói lên sự thật của lịch sử. Thường thì người ta chỉ chọn chép những sự kiện nào có lợi cho đường lối chính trị, hoặc làm thay đổi sự kiện cho phù hợp với ý muốn của nhà cầm quyền.
Nhưng ngay trong hàng ngũ các nhà sử học thời cổ cũng đã có người cho rằng cần làm thế nào để phục vụ đời sống và chính trị không làm haị đến thiên chức nói sự thật của nhà sử học. Chẳng những thế, họ còn cho rằng sử có chép đúng sự thật thì mới phục vụ tốt cho đời sống và chính trị. Ciceron ở la mã đã gắn historia magistra vitae(lịch sử chính yếu của cuộc sống) với yêu cầu đạt tới Lus Veritatis (ánh sáng của sự thật. Trong Deoratore, ông đã viết “luật thứ nhất của chép sử là không giám nói cái giả mạo, luật thứ hai là giám nói tất cả những gì là sự thật”.
Còn Lê Quý Đôn của chúng ta, ở đầu tập Đại Việt thông sử, đã dẫn một loạt các câu nói của các nhà sử học đời trước để coi việc chép sử đúng sự thật như một tôn chỉ của việc soạn sử. Và để giữ được tôn chí đó, cuối cùng ông đã chép lại câu của Yết Hề Tư đời Nguyên “ việc soạn sử phải lấy việc dùng người làm gốc, người có văn mà không biết chép sử thì không thể dự vào sử quán. Người có văn học lại kiêm biết cách soạn sử, nhưng bụng dạ bất chính cũng không được dự”.
Từ thế kỷ thứ 17 sử học thế giới đạt đến mẫu mực phê phán, đặt yêu cầu đem lại sự thật quá khứ. Và từ cuối thế kỷ thứ 19, khi sử học đạt đến mẫu mực cấu trúc và biện chứng, các hình ảnh của quá khứ mà sử học khôi phục còn phải được đặt trong cái toàn thể và sự vận động.
Nhưng biết sự thật không dễ, và dám nói lên sự thật nhiều khi càng khó hơn. Với ý của Yết Hề Tư mà Lê Quý Đôn đã dẫn, nhưng nói theo ngôn ngữ hiện đại thì như thế này :Muốn viết sử phải biết phương pháp sử học và trước hết phải là người trung thực chứ không phải là tên cơ hội .
Viết sử là một nghề, nói như người pháp là Métier D Historien. Người viết sử phải được luyện rèn tay nghề. Cách dạy nghề, tức các sách viết về phương pháp sử học, thường nói đến hai bước cơ bản trong công tác sử học : bước thứ nhất là từ sử liệu, khôi phục sự kiện; bước thứ hai là giải thích và đánh giá sự kiện.
Ngay từ bước thứ nhất đã có những khả năng dẫn nhà sử học xa rời sự thật, đó là vì sử liệu thiếu, và phổ biến hơn vì sử liệu không được phê phán nghiêm túc. Nguời ta chia sử liệu ra làm hai loại: sử liệu trực tiếp và sử liệu gián tiếp. Sử liệu trực tiếp xuất hiện cùng với sự kiện, chẳng hạn trống đồng Ngọc Lũ, khẩu pháo điện biên hay văn bản hiệp nghị Paris… là sử liệu trực tiếp. Còn sử liệu gián tiếp là sử liệu nói đến sự kiện này qua một thông tin gián tiếp, tức tác giả sử liệu. Loại sử liệu này cần được giám định cẩn thận vì thông tin nhận được đã qua trung gian người thông tin. Chẳng hạn hồi ký là sử liệu gián tiếp. Ở đây các sự kiện xảy ra không đồng thời với sử liệu, tức là trước lúc hồi ký được viết nhà sử học Liên Xô M.N.Thernomorski đã viết cả một quyển sách dày, có đầu đề “ hồi ký với tư cách là sử liệu lịch sử” để trình bày các phương pháp để nghiên cứu nguồn sử liệu gián tiếp này.
Hiện nay nhiều công trình nghiên cứu sử học của chúng ta đã sử dụng những nguồn sử liệu gián tiếp một cách thiếu thận trọng. Sử liệu gián tiếp bao gồm cả những lời kể về sau của những người đã chứng kiến sự kiện. Các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương hay lịch sử hiện đại, lịch sử đảng thường sử dụng nguồn tài liệu này, những lời kể như vậy thường được phân tích so sánh với các tư liệu khác, nếu không sẽ dẫn đến tình trạng là cùng một sự kiện, có thể được trình bày rất khác nhau. Tình hình càng xảy ra là nếu người thông tin là người hiện có uy lực chi phối ở địa phương thì lịch sử sẽ được viết theo cách nhìn nhận của người đó.
Đối với các thời kỳ xa xưa, sự sai lầm càng dễ xảy ra, vì sử liệu càng hiếm hơn, khó kiểm tra hơn. Trong nhiều trường hợp để khôi phục sự kiện nhà sử học phải vận dụng đến sự suy đoán lôgích, và thậm chí cả sự tưởng tượng. Nhưng trong trường hợp sự kiện được trình bày mới chỉ là giả thiết thì điều đó phải được nói rõ, đừng để người khác tin rằng đó là sự thật đích xác. Trong nhiều công trình sử học hiện nay, cái mới chỉ là giả thuyết với cái đã là sự thật, thường bị làm lẫn lộn.
Chẳng hạn không một nhà sử học nào có thể chứng minh được rằng bài thơ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” là của Lý Thường Kiệt. Không có một sử liệu nào cho biết điều đó cả. Sử cũ chỉ chép rằng trong trận chiến chống quân Tống ở sông Như Nguyệt, một đêm quân sĩ nghe ngâm bài thơ đó trong đền thờ Trương Hống, Trương Hát, cóthể đoán rằng Lý Thường Kiệt đã cho người ngâm thơ. Đi xa hơn có thể đoán rằng Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ. Nhưng đó chỉ là đoán thôi, làm sao nói chắc đựơc đó là bài thơ của Lý Thường Kiệt. Thế nhưng cho đến nay, mọi người tin rằng đó là sự thật, hay đúng hơn không ai giám nghi ngờ đó không phải là sự thật.
Ta còn có thể dẫn ra những ví dụ khác về những sự kiện chắc là không thật mà nay nghiễm nhiên là “sự thật”, ngay cả trong giai đoạn lịch sử gần đây.
Các nhà sử học thường chủ yếu dựa vào nguồn sử liệu viết. Mà nước ta, các văn bản sử liệu thường bị biến chuyển ghê gớm. Đó là chưa kể sự xuất hiện những tài liệu giả. Nếu trình bày sự kiện mà dựa vào sử liệu đã bị biến đổi hay sử liệu giả thì hiển nhiên không tránh khỏi những sai lầm.
Chẳng hạn, cuốn Binh thư yếu lược hiện có, được coi là của Trần Hưng Đạo, là một cuốn sách giả từ đầu chí cuối . Các nhà nghiên cứu viện Hán Nôm vừa làm một việc có ý nghĩa là chứng minh được cuốn sách giả mạo đó đã hình thành như thế nào. Thế nhưng khi viết về cuộc kháng chiến chống Nguyên hay về Trần Hưng Đạo, một số người vẫn dùng cuốn sách giả này. Thậm chí có lãnh tụ đã trích dẫn cuốn sách này trong diễn văn của mình. Đó là lỗi của các nhà sử học, họ đã không thuyết minh đầy đủ khi cho in bản dịch tác phẩm giả mạo này.
Còn các văn bản bị biến đổi, sữa chữa qua các thời kỳ rất nhiều. Thậm chí các văn bản hiện đại. Ngay bức thư của chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các em học sinh mà hiện nay các em trong trường phổ thông vẫn học, vẫn trích, cũng đã sai, khác nhiều với văn bản đầu tiên còn được cất giữ ở cục lưu trữ Trung Ương. Các văn kiện khác cũng vậy. Về điểm này cần phải học tập thái độ của Mac và Angghen khi cho xuất bản Tuyên ngôn Đảng cộng sản năm 1872, hai ông viết rằng “Tuyên ngôn là một tài liệu lịch sử mà chúng tôi không có quyền sửa lại”. Các nhà sử học đòi hỏi phải có một thái độ như vậy đối với các văn kiện lịch sử.
Trên đây là chuyện phê phán sử liệu và miêu tả sự kiện, thực ra sự thật sẽ bị che lấp hay xuyên tạc là ở bước thứ hai, giải thích và đánh giá sự kiện. Đó là vì công việc này phụ thuộc vào mặt chủ quan của nhà sử học như quan điểm, nhận thức và nhân cách. Các nhà sử học chúng ta thường tự coi là người matxit nhưng bệnh thiên lệch lại hay dễ mắc. Mà thiên lệch, cường điệu một cách phiến diện, một mặt nào đó lại là đặc trưng của chủ nghĩa duy tâm . Vì vậy, nhiều sự thật lịch sử đã bị bỏ qua.
Trong một thời gian dài, do một động cơ tốt là phải tập trung binh lực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các nhà viết sử chỉ chú ý đến các trang sử chống ngoại xâm trong lịch sử dân tộc. Không chỉ trong các công trình chuyên luận, mà cả trong các bộ thông sử, cũng chỉ tập trung khai thác truyền thống đánh giặc giữ nước. Một nhà sử học Liên Xô khi bình luận một quyển sử Việt Nam do Uỷ Ban Khoa học Xã hội xuất bản đã có một nhân xét thú vị là các bản đồ trong sách, trừ một bản đồ hình thể chung, đều là bản đồ các trận đánh. Trong thời gian qua, hàng loạt các vấn đề kinh tế – xã hội của lịch sử Việt Nam đã không được chú ý đầy đủ.
Cũng là đề cao truyền thống, chúng ta thường đánh giá một chiều, chỉ nhận thấy cái hay cái tốt, dường như người ta không chấp nhận có truyền thống xấu. Đến nay, trong công cuộc xây dựng đất nước, chúng ta đang cần đánh giá đúng về con người Việt Nam, mà phần lớn là tính cách, khả năng đã được quy định qua lịch sử. Phải phân tích trung thực và khoa học các ưu điểm và nhược điểm của con người Việt Nam, chứ không phải cái gì cũng khen.
Chúng ta đã được đọc cả một cuốn sách dày đề cao truyền thống khoa học kỹ thuật Việt Nam. Tôi nghĩ truyền thống khoa học kỹ thuật Việt Namcũng đã đạt được một số thành tựu về kỹ thuật. Nhưng đề cao quá đáng truyền thống khoa học kỹ thuật của người Việt Nam xưa thì là một sự tô hồng không thật. Vả lại, đề cao ông nghè Vũ Hữu cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16 đã tính đủ số gạch xây tường không thiếu một viên, khi trên thế giới không chỉ châu Au (thời Copernic) mà ở Ả Rập (thời Al Kashi) đã có những công trình toán học cao, thì chỉ là một việc lố bịch.
Rồi người ta lại đề cao cả những truyền thống của làng xã cổ truyền, nhấn mạnh tính dân chủ của nó. Không hiểu vì sao các nhà sử học tự coi mình là Mác xít lại có thái độ “dân tuý” đến như thế. Ngày nay, khi cái cung cách, cái tâm lý “việc làng” đang khoác áo xã hội đi giữa chúng ta, các nhà sử học phải xem xét lại thái độ của mình trong việc đánh giá làng xã cổ truyền. Lịch sử Việt Nam anh hùng thật, vinh quang thật, trình bày nó lúc nào, chỗ nào cũng tốt đẹp cả, rực sáng cả thì quả là không thật. Nhà sử học không chỉ ngâm ngợi những thiên anh hùng ca mà không biết đến những khúc bi ca trong lịch sử.
Cũng thường thiên lệch khi chúng ta đánh giá các nhân vật lịch sử. Con người là cả một hệ thống những mối quan hệ phức tạp, bị quy định bởi các điều kiện xã hội tự nhiện, lịch sử. Thiếu một sự đánh giá xuất phát từ chủ nghĩa lịch sử dường như là căn bệnh chung của chúng ta. Một số người đã chỉ trích các nhân vật lịch sử vì họ không giống ta. Một số lại quá yêu các nhân vật đó, đến chỗ miêu tả tư duy và hành động của họ cứ y như là họ đã được học tập chủ nghĩa Mac- Lênin.
Chúng ta hãy nhớ lời Mac :” khoa học càng vô tư và không thiên vị thì càng phù hợp với quyền lợi và nguyện vọng của người công nhân”. Một nền sử học muốn tự biểu hiện là Macxít chân chính, chẳng những phải đặt cho mình nhiệm vụ khám phá chân lý của lịch sử, mà còn phải tỏ rõ khả năng đạt được sự thật khách quan. Cho đến nay nhiều học giả tư sản vẫn nghi ngờ tính khách quan của sử học. Ngay người bạn của chúng ta là Bertrand Russell cũng nói rằng:” sử học chỉ là dẫn ra những ngu xuẩn ngày hôm qua để giúp con người chịu đựng được những ngu xuẩn ngày hôm nay”. Chúng ta phải bác bỏ những luận bằng cách chứng minh rằng nền sử học của chúng ta có khả năng đạt được sự thật khách quan, chứ đừng tiếp tục giúp thêm chứng cứ cho những luận điểm đó
Từ khi chủ nghĩa duy vật biện chứng và lịch sử macxít ra đời, khám phá ra cơ chế hoạt động của sự thật phát triển xã hội, các nhà sử học được cung cấp một mô hình giải thích lịch sử có tính nhất thể – năng động, kết hợp cả hai mặt cấu trúc và biến đổi. Sử học vươn tới phát hiện quy luật và nhờ đó sử học không những nhận thức được quá khứ mà còn chuẩn bị cho những khả năng dự báo. Nhưng sử học muốn thực hiện các chức năng đó, khảo sát con đường đã qua và góp phần nhận thức con đường sắp tới, một điều kiện cơ bản là phải biết sự thật và nói lên sự thật.
Đã là con người, không phải là ông thánh, thì có lúc đúng lúc sai. Đó là chuyện thường tình. Nhưng thật là không công bằng khi chỉ vì khuyết điểm của thời kỳ này, ta sổ toẹt hết cả công lao của nhân vật đó, khi ở thời kỳ khác, đóng góp của người đó rõ ràng, không thể chối cãi. Nhà sử học Mác xít không thể chấp nhận một thái độ như vậy. Tại sao chúng ta không noi gương Lênin trong việc đánh giá nhân vật như Plê-kha-nốp?.
GS Hà Vãn Tấn
Tạp chí Tổ quốc, tháng giêng, 1988.

GS Trần Quốc Vượng và việc nghiên cứu lịch sử - văn hóa vùng đất Nam bộ



1. Trong số hàng trăm bài viết và hàng chục công trình đã được công bố của giáo sư Trần Quốc Vượng thì số lượng bài có nội dung trực tiếp về các vấn đề lịch sử - văn hóa vùng đất Nam bộ thật là ít ỏi, chỉ có khoảng 10 bài. Nhưng cũng như nhiều bài viết khác của giáo sư, các vấn đề ông đặt ra, gợi mở, lưu ý… hoàn toàn không phụ thuộc vào số lượng bài viết hay con chữ, mà thậm chí, có bài rất ngắn nhưng đã chỉ đúng vấn đề nền tảng cho việc nghiên cứu một lĩnh vực nào đó. Như một vài bài viết của giáo sư Trần Quốc Vượng về lịch sử - văn hóa Nam bộ sau đây (theo thống kê chưa đầy đủ của tôi).
*Sách Việt Nam cái nhìn địa văn hóa. Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc – Tạp chí Văn  hóa nghệ thuật, Hà Nội 1998.
Về nền tảng văn hóa dân gian vùng Đông Nam bộ (tr.455)
Đôi nét về nền cảnh địa – văn hóa của nghệ thuật sân khấu cải lương (tr.465)
Côn Đảo – một cái nhìn địa – văn hóa (tr.470)
Về với Cà Mau (tr.479)
*Sách Góp phần tìm hiểu lịch sử - văn hóa 300 năm Sài Gòn – TP.HCM. Nhà xuất bản Trẻ, 1998
- Du khảo một số di tích lịch sử văn hóa ở Sài Gòn và vùng phụ cận (tr.252), viết chung với Lê Trung.
*Sách Văn hóa Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm. Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc – Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội 2000.
- Văn hóa ẩm thực trên nền cảnh môi trường sinh thái nhân văn ba miền Bắc Trung Nam (tr.392)
*Sách Môi trường, Con người và Văn hóa. Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin – Viện Văn hóa. Hà Nội 2005
- Nam bộ - các tiểu vùng sinh thái khào cổ - nhân văn và huyền tích khởi nguyên luận (tr.379)
- Khảo cổ học tiền – sơ sử TPHCM (tr.393)
*Sách Trong cõi. Nhà xuất bản Hội nhà văn và Công ty Nhã Nam. Hà Nội 2014.
- Đô thị cổ Việt Nam (tr.93)

2. Có thể nhận thấy từ những bài viết đầu tiên về lịch sử - văn hóa Nam bộ GS Trần Quốc Vượng đã tiếp cận và đặt cơ sở cho việc nghiên cứu khu vực này từ lĩnh vực Địa – Văn hóa.
Như một bài viết trước đây của tôi về Thầy Vượng: “Dạy về các nền văn hóa khảo cổ Việt Nam nhưng Thầy lại bắt đầu bằng câu hỏi: Các ông các bà có biết vì sao Đại học Văn khoa Sài Gòn có khoa Sư - Địa không?. Câu hỏi làm chúng tôi ngạc nhiên, vì  ngay từ giờ học Lịch sử đầu tiên trong trường Đại học, chúng tôi đã được biết rằng truyền thống nghiên cứu khoa học xã hội ở VN là Văn Sử bất phân.  Các công trình sử học quan trọng đồng thời là những tác phẩm văn học tiêu biểu cho từng thời kỳ, và ngược lại, nhiều tác phẩm văn học  cũng được sử dụng như những tư liệu lịch sử. Bằng câu hỏi này Thầy Vượng đã mở ra cho chúng tôi  kiến thức đầu tiên về Địa -Văn hóa, Địa - Chính trị , một khái niệm khoa học hiện đại mà bất cứ người học Sử, làm Sử nào cũng cần nắm vững. Có thể diễn giải đơn giản khái niệm này là: Lịch sử – đó là địa lý trong thời gian và Địa lý – đó là lịch sử trong không gian”.
Từ việc khai mở hướng tiếp cận và những kiến thức mới cho lứa sinh viên đầu tiên ở miền Nam sau ngày 30/4 giáo sư Trần Quốc Vượng đã tiếp tục triển khai lý thuyết không gian địa – văn hóa Nam bộ, cả trên bình diện tổng quan Đông và Tây Nam bộ và cả ở những tiểu vùng sinh thái đặc thù (như Cần Giờ - TPHCM).
Ông đã sơ đồ/mô hình hóa vùng Đông Nam bộ trong “mạng lưới” các nền văn hóa cổ thời kim khí ở Đông Dương và Đông Nam Á, bằng cả con đường lục địa và ven biển. Ông chỉ ra mối liên hệ mật thiết, hữu cơ của kinh tế - xã hội ĐNB – văn hóa Đồng Nai và các nền văn hóa khảo cổ khác (Tây Nguyên,  Đông Sơn, Sa Huỳnh, Samrong Sen, Nonnok Tha, Hạ Lào, Thượng Lào, Vân Nam, Lưỡng Quảng, Ryukyu, cũng như trong tiểu vùng lưu vực Đồng Nai từ Đồng Nai Thượng (Đạ Đờn sông lớn) xuống Đồng Nai hạ lưu cận biển… Trong cái nhìn rộng lớn như vậy, văn hóa khảo cổ Đồng Nai không bị “nhòa” đi mà ngược lại, hiện ra rõ nét hơn từ những đối sánh về di tích, di vật, trên cơ sở so sánh về môi trường sinh thái nhân văn.
Tôi nhận thấy GS Trần Quốc Vượng thường đề cập đến ba vấn đề cơ bản của lịch sử - văn hóa Nam bộ từ góc độ Địa – Văn hóa.

2.1 Trường hợp nhóm di tích mộ chum Cần Giờ TPHCM và sự “đa dạng văn hóa” ngay từ thời tiền – sơ sử.
Giáo Sư Trần Quốc Vượng nhận xét “Chúng tôi cho rằng một trong những phát hiện khảo cổ quan trọng nhất ở miền Nam sau ngày giải phóng mà Bảo tàng Lịch sử VN. TPHCM và bảo tàng Lịch sử quốc gia Hà Nội đã góp phần tích cực nhất – là việc điều tra, khai quật, nghiên cứu và phân lập được phức hệ văn hóa Giồng cá Vồ - Giồng Phệt – Giồng Am ở vùng Cần Giờ với tuổi kéo dài 2500 BP – 2000 BP cho đến vài thế kỷ sau công nguyên”.
Nếu chỉ nhìn nhóm di tích này hạn hẹp trong mối liên hệ trong “biên giới hành chính Việt Nam” thì có cái nhìn khác về nguồn gốc tính chất của nó. Nhưng nếu đặt nó trong bối cảnh rộng hơn về địa – văn hóa Đông Nam Á và xa hơn (biên giới văn hóa không bao giờ là/trùng với biên giới hành chính), thì khó có thể coi nó hoàn toàn “thuộc về” một văn hóa khảo cổ nào, bởi tính chất “phối/kết hợp” về di vật của nó rất rộng trong không gian nhưng đồng thời, về địa tầng văn hóa và nhất là (địa tầng) đồ gốm thì rất sâu về thời gian với những yếu tố chủ đạo của các di tích khảo cổ lưu vực Đồng Nai. Đây mới là “cơ tầng” quan trọng của “văn hóa Giồng Phệt/Cần Giờ” như cách định danh của chúng tôi về nhóm di tích này.
Cũng nhìn từ bối cảnh rộng/dài như vậy, văn hóa Giồng Phệt (hay nhóm di tích Cần Giờ) đã góp phần quan trọng minh chứng cho nguồn gốc nội tại, bản địa của văn hóa Óc Eo, văn minh Phù Nam trên đất Nam bộ; đồng thời góp phần làm sáng tỏ “bước chuyển từ giai đoạn tiền sử sang giai đoạn hình thành nhà nước sơ khai” ở khu vực Đông Nam Á từ văn hóa Đồng Nai/Giồng Phệt đến vương quốc Phù Nam, từ văn hóa Sa Huỳnh đến vương quốc Chămpa: “Chặng cuối, Giồng Am (niên đại C14 1500 BP) thì đã là Óc Eo sớm – giữa và cùng với các phát hiện ra những di chỉ văn hóa – văn minh Óc Eo khác ở Long An, ở TP. Hồ Chí Minh, ở Đồng Nai… nó góp phần minh chứng rằng không gian văn hóa Óc Eo không chỉ hạn hẹp ở Tây Nam bộ như các nhà khảo cổ Pháp trước 1945 – 1947 suy nghĩ mà không gian ấy bao trùm cả miền Nam hiện tại, từ Đông sang Tây”.

2.2 Trong bối cảnh Địa – Văn hóa đó, giáo sư Trần Quốc Vượng đã chỉ ra một  khiếm khuyến của việc nghiên cứu tiền – sơ sử Sài Gòn – TPHCM“không viết một chữ nào về các đảo gần TPHCM như Côn Đảo, Thổ Chu… nơi đều có mộ vò, gốm, đồ trang sức thủy tinh, mã não tương tự Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt”. Khuyết điểm này đến nay vẫn chưa được sửa chữa vì gần 30 năm rồi (từ 1998) nhưng tới nay, KCH tiền – sơ sử TPHCM gần như không có thêm một bước tiến mới nào, do nguồn nhân lực bị phân tán và do quan niệm của những người lãnh đạo ngành văn hóa, bảo tàng ở TPHCM về vai trò của khảo cổ học trong bảo tàng.
Từ mô hình  “lấy sông làm tuyến chính với các trung tâm thánh địa, thành, cảng thị và tiền cảng thị của một tiểu vùng/ tiểu vương quốc” mà GS Trần Quốc Vượng cùng cộng sự đã khảo sát ở miền Trung và xây dựng nên, áp dụng vào lưu vực Đồng Nai, GS cũng đã phác họa một “tiểu quốc” có thánh địa Cát Tiên, thành Biên Hòa (“trên nền cũ thành man”  như ghi chép trong Gia Định thành thông chí) và cảng thị sơ khai Cần Giờ. Trong mô hình này có thể coi Côn Đảo là “tiền cảng thị” của Cần Giờ, sau này là của thành Gia Định.
Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hòai Đức (khoảng 1819) đã ghi chép về Côn Đảo như sau:
Ở giữa biển Đông, từ cửa cảng Cần Giờ chạy thuyền ra biển theo hướng đông mặt
trời mọc 2 ngày mới đến. Đảo lớn 100 dặm, có ruộng núi trồng lúa, bắp, khoai, đậu,nhưng cũng không nhiều, nên thường phải mua gạo ở Gia Định mới đủ dùng. Thổ sản ở đây là ngựa và trâu, núi không có cọp beo. Dân ở đảo tự kết lại làm binh sĩ, gọi Tiệp Nhất, Tiệp Nhị, Tiệp Tam ba đội, trực thuộc đạo Cần Giờ, có đủ khí giới để giữ gìn đất ấy phòng quân cướp hung dữ Đồ Bà, không cần kêu gọi chỗ khác đến giúp. Dân lính ở đấy thường lấy yến sào, đồi mồi, vích, quế hương, mắm, ốc tai tượng, rồi theo mùa mà dâng nộp; còn lại thì đánh bắt hải sản như cá, tôm để sinh sống. Quả cau ở đây to, vỏ màu hồng, vị lại ngọt thơm, cứ đến đầu mùa xuân, lúc cau ở Gia Định chưa kết quả, thì cau ở đây đã dùng được, người ta chở vào bán với giá rất cao.
Như vậy có thể coi Côn Đảo là “tiền cảng” của cảng Bến Nghé – Gia Định. Mối quan hệ chặt chẽ về kinh tế (và quân sự) giữa Côn Đảo và (thành/vùng) Gia Định đã mang lại sự phát triển ổn định cho hòn đảo này. Và chắc hẳn mối quan hệ này có nguồn gốc từ thời cửa biển Cần Giờ là cảng thị sơ khai của cả vùng Đồng Nai trù phú. Nghiên cứu về mối liên/quan hệ giữa Côn Đảo – Cần Giờ - Đồng Nai/Bến Nghé không chỉ để hiểu về Nam bộ thời tiền sử mà còn để ngày nay suy ngẫm về vị thế của Côn Đảo nói riêng, các đảo ven bờ nói chung trong mối quan hệ hướng nội và hướng ngoại. Cũng có nghĩa là vấn đề văn hóa biển (qua kinh tế, lối sống của cư dân, giao lưu văn hóa – kỹ thuật) của vùng đất Nam bộ cần được lưu ý.

2.3 Một vấn đề nữa mà GS Trần Quốc Vượng đã đặt ra từ những cuộc khai quật đầu tiên ở khu di tích Cát Tiên, cũng theo mô hình “một tiểu quốc” ở lưu vực Đồng Nai, đó là vấn đề về “vương quốc Mạ”. Thánh địa Cát Tiên thế kỷ X-XII ở Đồng Nai thượng ngã ba Đạ Đờng (sông lớn) trong một bồn địa giữa núi. Đạ Hoai – La Ngà là “ranh giới mơ hồ” của Mạ - Chăm. Nghiên cứu về “vương quốc Mạ” – theo GS Trần Quốc Vượng, là để sáng tỏ hơn luận điểm “không có một mô hình Trung Hoa tập quyển thống nhất, mà thật ra chỉ có sự tồn tại của một mandala Phù Nam, cũng như một mandala Champa, có thể gọi là những liên hiệp tiểu quốc, phức thể Phù Nam, Champa… nhưng có sự đồng nhất nào đó về mỹ thuật, nghệ thuật, kiến trúc, tôn giáo tín ngưỡng”. “Thống nhất trong đa dạng” là thừa nhận những khác biệt, từ những khác biệt đi đến sự hòa hợp với nhau. 
Nhưng cho đến nay nhiều vấn đề về văn hóa các tộc người ở miền Đông Nam bộ đã được nghiên cứu khá toàn diện nhưng về “Vương quốc Mạ” thì (hình như) vẫn chưa được tiếp tục nghiên cứu. Có lẽ dân tộc/ tộc người gắn với vấn đề nhà nước (dù là sơ khai) là một (trong những) vấn đề “nhạy cảm” nên chưa thể nghiên cứu, hoặc có nghiên cứu thì chưa thể công bố chăng? (Trừ trường hợp tộc người Việt và nhà nước sơ khai Văn Lang – Hùng Vương).

3. Phương pháp liên ngành nghiên cứu văn hóa – lịch sử Nam bộ, đặt diễn trình lịch sử trong dòng chảy văn hóa; đồng thời nhìn ra những “đứt gãy văn hóa” là hệ quả của (một số sự kiện quan trọng) lịch sử. Biết/cần đặt câu hỏi “ngược”.
Trong cuộc “Du khảo một số di tích lịch sử - văn hóa ở sài Gòn và các vùng phụ cận” năm 1998, giáo sư Trần Quốc Vượng luôn “suy nghĩ về di sản văn hóa và thành phần tộc người ở Đồng Nai – Biên Hòa – Sài Gòn – Gia Định xưa. Như Thầy viết “trước, trong và sau tuần lễ du khảo, chúng tôi đọc và đọc lại những Trương Vĩnh Ký, Vương Hồng Sển, Minh Hương, Huỳnh Ngọc Trảng… các nhà văn – học giả, nhà nghiên cứu tài danh của nam kỳ lục tỉnh, của Ngũ Quảng đã tạo nên hương hoa bản sắc Sài Gòn”. Bài nghiên cứu – bút ký của giáo sư về cuộc du khảo này là một trong những bài thể hiện tư duy liên ngành mà những học trò của Thầy ở Nam bộ đã học được từ Thầy.
Cũng trong tư duy, phương pháp liên ngành, giáo sư Trần Quốc Vượng đã lưu ý “Khảo cổ học lịch sử/ đô thị” là một trong những ngành quan trọng của Khảo cổ học thế kỷ XXI, đặc biệt ở Nam bộ, bởi vì đây là vùng được đô thị hóa về quy hoạch, kiến trúc và xây dựng, về lối sống (theo kiểu phương Tây) sớm và phổ biến nhất so với những vùng miền khác ở Việt Nam.
Tại Hội thảo khoa học Quốc tế: Một thế kỷ Khảo cổ Học Việt Nam, giáo sư Trần Quốc Vượng đã cập về vấn đề khảo cổ học Đô thị trong “một viễn cảnh khảo cổ học Việt Nam ở thế kỷ 21” như sau: Khảo cổ học thế kỷ mới cần dũng cảm mở đột phá vào Hà Nội – Huế - Sài Gòn để xây dựng một nền khảo cổ học đô thị Việt Nam, dẫu cho bản chất của văn minh Việt Nam cổ truyền là văn minh nông nghiệp, nhưng thành thị Việt Nam cổ không thể chỉ là những cục bướu thịt thừa của nền kinh tế như nhận định của Marx từ thế kỷ 19 về phương thức sản xuất châu Á[1].
Từ năm 1998 sau khi đến “thăm thú” (chữ của Thầy) di tích lò gốm cổ Hưng Lợi đang trong quá trình khai quật, giáo sư Trần Quốc Vượng đã nhận định: “Nếu nét đặc sắc của khảo cổ học lịch sử TP. Hồ Chí Minh 300 năm là việc phân lập và nghiên cứu “Gốm Sài Gòn” (trước, Tây và ta chỉ gọi là Gốm Cây Mai) với cả sản phẩm gốm và các lò gốm của nó ở xứ Lò gốm – rạch (lò) gốm bao trùm mấy quận nội thành thì nét đặc sắc của khảo cổ học tiền – sơ sử TP. Hồ Chí Minh là việc khảo cổ vùng Cần Giờ Giồng cá Vồ - Giồng Phệt – Giồng Am và nên bao gồm luôn Long Bửu, cái gạch nối Núi – Đồi – Rừng và Biển – Đảo – cát theo dòng Đồng Nai – Sài Gòn”.
Từ những kết quả nghiên cứu đầu tiên về Di tích lò gốm Hưng Lợi, Thầy nhận xét “Áp dụng cách tiếp cận liên ngành các phó tiến sĩ của Viện bảo tàng lịch sử thành phố đã đi điền dã ở Lái Thiêu – Bình Dương – Sông Bé… thăm các lò gốm của người Hẹ, người Quảng Đông… Cuối cùng tìm thấy ngay ở quận 9 nơi chợ nhỏ Hiệp Phú (Thủ Đức cũ) rẽ vào phường Long Trường (Long Thạnh Mỹ cũ) một lò lu hiện đại (1954 – 1966) có cấu trúc giống hệt “Lò gốm Hưng Lợi” quận 8. Đây là một thành công thể nghiệm cách tiếp cận liên ngành nhân học văn hóa, bao gồm cả khảo cổ học và dân tộc học”

Bài viết Nam bộ - các tiểu vùng sinh thái khào cổ - nhân văn và huyền tích khởi nguyên luận của GS Trần Quốc Vượng đã dẫn dắt người đọc đi từ Bắc, qua Trung vào Nam, từ “phân vùng địa lý tự nhiên” đến “địa lý nhân văn” - không gian văn hóa, từ các di chỉ khảo cổ thời đá cũ đá mới đến ngữ hệ, từ ngôn ngữ của các tộc người đến cổ sử, từ tín ngưỡng dân gian đến huyền tích khởi nguyên… Tất cả tưởng là tản mạn không có gì liên quan, nhưng từ sự liên tưởng, liên hệ giữa những vấn đề khác nhau thì rồi “mọi con đường đều đến La Mã”: “văn minh – văn hiến Đông Nam Á nhìn chung là kết quả tác động qua lại (interaction) giữa các yếu tố nội sinh (nguyên lý mẹ) và các yếu tố ngoại sinh (nguyên lý bố). Bắc (Âu Lạc, Việt cổ) – Trung (Champa cổ) – Nam (Phù Nam cổ) đều cùng chung một mô hình huyền tích khởi nguyên luận!
Những huyền tích từng được nhiều người biết đến, và cũng chỉ hiểu/coi là huyền tích, khi đặt trong mối liên hệ văn hóa – ngôn ngữ - khảo cổ - cổ sử… bỗng phản ánh một cái gì đó của quá khứ “thuộc về lịch sử”. Những “mảnh vỡ” lấp lánh của huyền tích, thần thoại, truyền thuyết tuy không phải là “sự thật lịch sử” nhưng nó phản ánh quá khứ đã được “khái quát hóa” qua nhiều đời, như một “dị bản” của lịch sử.. Một câu nói vui của dân Nam Bộ mà Thầy Vượng rất thích và hay nói “Coi zdậy, mà hổng phải zdậy, mà đúng là zdậy…”. Từ thời chúng tôi là sinh viên Thầy đã dạy cách suy nghĩ như thế, như một triết lý của Phật giáo Thiền tông Việt Nam: Khi chưa học Thiền ta nhìn núi là núi, ta nhìn sông là sông. Khi đang học Thiền ta thấy núi không còn là núi, sông không là sông. Nhưng sau khi đã chứng ngộ Thiền, ta lại nhìn ra giản dị: Núi đúng là Núi, Sông thật là Sông. Thật ra đây là cách lật đi lật lại vấn đề, hay như Thầy vẫn nói: đi đi lại lại, hỏi đi hỏi lại, nghĩ đi nghĩ lại…

Hầu như các bài viết của Thầy về lịch sử - văn hóa Nam bộ ít nhiều đều từ phương pháp liên ngành đặt vấn đề/lĩnh vực trong “mạng /net” để có thể phân tích, đánh giá, nhìn nhận vấn đề, sự kiện, nhân vật lịch sử. Nếu chỉ căn cứ vào “chính sử” hay “huyền sử’ ta khó có thể lý giải, hiểu được cặn kẽ những gì đã xảy ra, bởi vì nếu không từ góc nhìn văn hóa học (theo nghĩa rộng nhất) thì “lịch sử” còn lại rất ít do tầm nhìn hạn hẹp của người đời sau.
Từ đó, việc đặt lại vấn đề với những điều tưởng chừng đã “an bài” trong lịch sử - văn hóa luôn là “thao tác tư duy” cần thiết. Từ một góc nhìn khác, một chiều kích khác, một phương pháp khác… sẽ cho những nhận thức, hiểu biết mới. Không thể có nhận thức mới nếu thao tác tư duy cũ. “Giải thiêng” các huyền thoại, huyền tích, cổ tích là một cách nhận biết những điều người xưa/dân gian ngầm gửi qua bề mặt câu chữ. “Đọc dưới những con chữ”, kể cả chính sử và huyền thoại, cổ tích.

4. Có một PHONG CÁCH TRẦN QUỐC VƯỢNG!
Tôi không có cái may mắn như nhiều bạn đồng nghiệp là tôi chỉ được học Thầy Vượng trực tiếp trong một vài chuyên đề khi Thầy  vô Sài Gòn thỉnh giảng, cũng không được đi khảo sát hay khai quật do Thầy hướng dẫn. Tôi lại ở “vùng sâu vùng xa” nên chỉ có thể học “vọng” Thầy, bằng việc nghiềm ngẫm những bài viết của Thầy, “hóng hớt” trong những bữa nhậu với Thầy, và học lại từ bạn bè, những học trò được Thầy trực tiếp truyền dạy. Từ trải nghiệm cá nhân, tôi nhận thấy:
 Ngoài học thuật, nhiều học trò của Thầy còn học ở Thầy thái độ dấn thân với xã hội: từ sự hiểu biết sâu sắc lịch sử - văn hóa đến sự mẫn cảm trước những hiện tượng báo động những bất ổn xã hội… Thầy đã có tiếng nói cảnh báo với cái Tâm của một người Trí thức chân chính.
Từ nền kiến tức cơ bản Thầy truyền cho, một vài học trò của Thầy có số phận phải “dịch chuyển” nhiều công việc khác nhau nhưng đều làm được và làm tốt là nhờ tự học theo phương pháp tiếp cận và tư duy phản biện của Thầy.
“Quảng giao” “làm bạn” với mọi người nhưng vẫn là chính mình, “hòa hợp” chứ đừng “hòa tan”. Cho nên, cũng như Thầy, có lúc học trò thấy cô đơn lắm, sự cô đơn mà phải qua hơn nửa đời người học trò mới chiêm nghiệm được, Thầy ạ!
Thế hệ học trò khảo cổ đầu tiên ở Sài Gòn của Thầy Trần Quốc Vượng Thầy Hà Văn Tấn nay đã trưởng thành, “già rồi” nhưng vẫn luôn biết mình là những học trò nhỏ của các Thầy, nhất là về phương pháp tiếp cận vấn đề và tư duy phản biện. Bên cạnh đó, “Học Thầy (học tày) học bạn” là lời khuyên bảo của Thầy Vượng mà chúng tôi cố gắng làm theo.
Những gì Thầy Vượng để lại cho chúng tôi không chỉ là tri thức mà còn là cái tâm đối với nghề, cái tình đối với người.
Chúng tôi trưởng thành là nhờ điều đó!

Sài Gòn, 10 năm Thầy đi xa.
(8/2005 - 8/2015)





[1]Trần Quốc Vượng (2004): Viễn cảnh Khảo cổ học Việt Nam thế kỷ 21. Trong  kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế - Một thế kỷ Khảo cổ học Việt Nam. Hà Nội 2001.

NHỚ THẦY TRẦN QUỐC VƯỢNG


Tôi chỉ là một trong số hàng ngàn học trò đã được học với Thầy Trần Quốc Vượng, nhưng lại học trò nữ (duy nhất) ở Sài Gòn đi theo chuyên ngành Khảo cổ .Với Thầy ngay từ những khóa đầu tiên của khoa Sử Đại học Tổng hợp TP.HCM sau năm 1975 (nay là Đại học KHXH&NV TP.HCM). Tôi đã lựa chọn cái nghề luôn phải“đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt” ngay từ khi được học những bài đầu tiên về Khảo cổ của Thầy Trần Quốc Vượng, Thầy Hà Văn Tấn từ năm thứ II. Có lẽ nhờ vậy tôi được Thầy biết đến,“nhớ mặt đặt tên” và cho ra Hà Nội làm luận văn tốt nghiệp với Thầy, rồi Thầy lại hướng dẫn soạn giáo án giảng dạy. Sau này còn “bị” nhiều bạn bè“tị nạnh” vì được Thầy coi là một trong vài học trò ruột.

Tôi nhớ mãi giờ đầu tiên Thầy Vượng lên lớp: Một người đàn ông khoảng 40 tuổi nhanh nhẹn bước vào giảng đường, trán cao, mắt tinh anh, quần jean áo thun “cá sấu”, vai khoác túi dết, tay cầm điếu thuốc 3 số cháy dở, thong thả nói rõ từng tiếng “Chào các ông các bà sinh viên Đại học Văn khoa Sài Gòn, tôi là Trần Quốc Vượng…”. Ngày ấy chúng tôi ở Sài Gòn được học nhiều thầy cô từ Hà Nội vào giảng dạy, buổi đầu bao giờ giáo vụ Khoa Sử cũng đưa thầy cô vào lớp và giới thiệu trân trọng. Thầy Vượng là người duy nhất phá bỏ lệ thường và làm nhiều người ngỡ ngàng vì hình dáng rất “Sài Gòn” của một ông Thầy Hà Nội. Còn tôi, tôi chợt giật mình vì những hàm nghĩa trong lời chào ấy – thầy gọi chúng tôi là “sinh viên Đại học Văn khoa Sài Gòn”! – bởi vì lúc đó chúng tôi không được gọi là “sinh viên” mà chỉ là “học sinh đại học”, và Đại học Văn khoa vừa sát nhập với Đại học Khoa học để thành trường Đại học Tổng hợp TP.HCM, với cơ cấu những khoa, ngành theo mô hình từ những năm 1960 của Đại học Tổng hợp Hà Nội.

Bắt đầu những giờ học Thầy Vượng – những buổi trò chuyện vô cùng thú vị về mọi vấn đề. Giờ Thầy Vượng nghe thì thật thích, nhưng ghi thì thật khó vì hình như chẳng có gì liên quan đến Khảo cổ, để khi “đốn ngộ” thì mọi cái đều là Khảo Cổ ! Chỉ khi nào hiểu được những gì Thầy nói trong sự liên tưởng, liên hệ với nhiều vấn đề khác thì mới có thể ghi chép được bài giảng – tư tưởng của Thầy – bằng ngôn ngữ của mình, chứ chẳng thể nào ghi chép được bằng ngôn ngữ của Trần Quốc Vượng ! Do đó, không chỉ “động não” ngay trên lớp mà khi về nhà vẫn phải tiếp tục suy nghĩ để có thể bổ sung vào bài ghi, xâu chuỗi những kiến thức mà qua cách trình bày của Thầy tưởng như tản mạn thành một/ vài nhận thức cụ thể của mình. Một câu nói vui của dân Nam Bộ mà Thầy rất thích và hay nói “Coi zdậy, mà hổng phải zdậy, mà đúng là zdậy…”. Và Thầy bảo, là sinh viên phải biết suy nghĩ như thế! Sau này mới hiểu Thầy đã khai tâm cho chúng tôi một triết lý của Phật giáo Thiền tông: Khi chưa học Thiền ta nhìn núi là núi, ta nhìn sông là sông. Khi đang học Thiền ta thấy núi không còn là núi, sông không là sông. Nhưng sau khi đã chứng ngộ Thiền, ta lại nhìn ra giản dị: Núi là Núi, Sông là Sông.

Dạy về các nền văn hóa khảo cổ Việt Nam nhưng Thầy lại bắt đầu bằng câu hỏi: “Các ông các bà có biết vì sao Đại học Văn khoa Sài Gòn có Khoa Sử - Địa không?”. Câu hỏi làm chúng tôi ngạc nhiên, vì ngay từ giờ học Lịch sử đầu tiên trong trường Đại học, chúng tôi đã được biết rằng truyền thống nghiên cứu khoa học xã hội ở VN là “Văn Sử bất phân”: Các công trình sử học quan trọng đồng thời là những tác phẩm văn học tiêu biểu cho từng thời kỳ, và ngược lại, nhiều tác phẩm văn học cũng được sử dụng như những tư liệu lịch sử. Bằng câu hỏi này Thầy Vượng đã mở ra cho chúng tôi kiến thức đầu tiên về Địa -Văn hóa, Địa - Chính trị , một khái niệm khoa học hiện đại mà bất cứ người học Sử, làm Sử nào cũng cần nắm vững. Có thể diễn giải đơn giản khái niệm này là “ Lịch sử – đó là địa lý trong thời gian và Địa lý – đó là lịch sử trong không gian”. Sau này, một lần tôi có dịp đưa Thầy đi khảo sát hệ thống các di tích khảo cổ vùng rừng ngập mặn ở Cần Giờ-TP.HCM. Khi biết sẽ đi bằng xe jeep theo con đường mới đắp băng qua vùng đầm lầy nước mặn, Thầy hỏi tôi, giọng không bằng lòng: “Thế ngày xưa dân vùng này cũng đi bằng đường bộ à?”. Khi nghe tôi trả lời chỉ đi xe jeep đến huyện, từ đó sẽ dùng ghe theo đường nước là các sông, rạch, tắt, ngọn…chằng chịt ngang dọc để đến những giồng đất đỏ- nơi lưu lại dấu tích cư trú của người tiền sử - Thầy có vẻ vui và ra điều kiện: “Tôi chỉ đi đường bộ một lần, lúc về cô cho tôi đi bằng đường sông nhé”. Và Thầy trò tôi đã lang thang ngược dòng Đồng Nai từ cửa Cần Giờ về đến ngã ba Nhà Bè, chiêm nghiệm một vùng trời mây sông nước bây giờ vẫn còn dáng vẻ hoang sơ lạ lẫm mà bồi hồi nhớ lại câu ca của những người lưu dân đi mở đất thuở xa xưa: “Nhà Bè nước chảy chia hai, Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”…

Tôi ở Sài Gòn nên không có may mắn như những bạn bè khác được đi nhiều nơi với Thầy, cũng chưa bao giờ được đi khai quật khảo cổ do Thầy hướng dẫn. Nhưng hầu như tất cả các di tích khảo cổ ở vùng đất Sài Gòn mà chúng tôi phát hiện và nghiên cứu đều đã được Thầy đến tận nơi, có khi ngay trong lúc khai quật, để “thăm thú”, để hỏi han, để khơi gợi cho chúng tôi một “idea” nào đó. Tuy thầy không có điều kiện để trực tiếp hướng dẫn chúng tôi trong các công trình khoa học nhưng Thầy luôn là người phản biện tuyệt vời, thấu hiểu và nâng đỡ những ý tưởng khoa học mới mẻ của học trò với trách nhiệm của một nhà khoa học chân chính và tấm lòng nhân hậu của một người Thầy! Thầy ở Hà Nội và thường xuyên dịch chuyển khắp trong và ngoài nước, nhưng mỗi khi có dịp “hành phương Nam” thì bao giờ Thầy cũng ghé vô Sài Gòn 1,2 ngày, có khi chỉ là 1,2 giờ quá cảnh ở sân bay Tân Sơn Nhất. Tôi luôn là người được Thầy gọi đi đón, rồi sau đó cùng vài học trò khác ngồi với Thầy ở quán Vườn Cau, Vườn Dừa nào đó và hầu Thầy mấy lon bia…Ở đó có thể hỏi Thầy bất cứ chuyện gì mình đang phân vân, chưa rõ hay chưa biết, và nghe Thầy hỏi chuyện này, chuyện khác mà biết rằng, đó là chỗ mình còn đang yếu, đang thiếu, đang dốt… Thầy Vượng thương học trò lắm, chẳng bao giờ Thầy trách giận chúng tôi cho dù có lúc chúng tôi đã làm Thầy buồn lòng vì không hiểu Thầy, cho dù chúng tôi chưa đạt được những gì mà Thầy luôn kỳ vọng.

Học Thầy đã lâu lại ở xa Thầy nhưng không hiểu sao cứ mỗi lần gặp Thầy, tôi luôn cảm nhận nỗi cô đơn của Thầy ngày một đầy hơn. Dường như trên con đường khoa học gập ghềnh vạn dặm, trên những nẻo đường đời quanh co đầy bất trắc Thầy đã không có lấy một người bạn đồng hành, dù quanh Thầy bao giờ cũng tấp nập những người, ồn ào và náo nhiệt… Ở Thầy không chỉ có kiến thức rộng lớn, sâu sắc, tư duy linh hoạt, sắc sảo mà Thầy còn có cả một nỗi lòng lắng đọng, ẩn sâu bên trong cái vẻ “bạc đời” đôi khi đến mức kỳ cục! Nỗi lòng ấy tựa như những ca khúc đơn côi của Trịnh Công Sơn … Và như lời một bài hát của Trịnh mà Thầy trò tôi vẫn thường ngâm nga“sống trên đời cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không, để gió cuốn đi, để gió cuốn đi…”, ở Thầy Vượng là sự trân trọng, lòng bao dung với những điều bình dị trong cuộc sống, và cũng là thái độ không thỏa hiệp với những gì làm cho con người trở nên tầm thường: sự dối trá, phản bội, lòng ghen ghét, đố kỵ…vốn có không ít trên cuộc đời này…

Tiễn đưa Thầy rời xa cõi tạm vào một ngày bão xa, trời lúc mưa lúc tạnh… Nơi quán nhỏ quen thuộc gần Viện Khảo cổ học, tôi lại ngồi với những người bạn thân như mỗi khi tôi từ Sài Gòn ra. Quanh bàn gần như đông đủ những học trò ruột của Thầy mà sao vẫn vắng lạnh quá... “đời người như gió qua” … Một ly rượu đặt ở đầu bàn dành cho Người vẫn ngồi chỗ đó, Thầy Trần Quốc Vượng của chúng tôi, và của riêng tôi…

Hà Nội , ngày 12/8/2005

TÂM THỨC MÕ, HÀNH XỬ MÕ (tạm đặt, bài từ FB Le Quang)

  https://www.facebook.com/share/p/1EBostJRqR/ “Hồi nhỏ chắc cậu vẫn còn nhớ, chúng mình thường thắc mắc không biết dân phòng rốt cuộc là nh...