1. Không gian văn hóa và ký ức lịch sử
Trong thời đại thông tin, những cuộc tranh luận trên
mạng xã hội bắt đầu và kết thúc với nhiều kiểu khác nhau. Có chuyện nhanh chóng
bùng lên rồi cũng nhanh chóng biến mất, hệt như bong bóng xà phòng phồng to rồi
vỡ tan. Cũng có chuyện sinh từ một chuyện rồi bùng to hơn thành một chuyện hoàn
toàn khác, như một đốm lửa từ tàn thuốc lá lại trở thành đám cháy rừng. Hết
chuyện này đến chuyện khác, mạng xã hội hay kéo người ta vào những cơn sôi sùng
sục… Để rồi khi câu chuyện đi qua, nhiều người nhận ra sự tham gia của mình như
góp vài giọt cát xây lâu đài trên bãi biển.
Tuy nhiên khi quan sát những “cơn sóng” ấy, đôi khi tôi
nhận ra vài điều thú vị. Có những cuộc tranh luận rồi sẽ chìm xuống rất nhanh, nhưng
điều còn đọng lại không phải là câu chuyện đang được viral, mà lại sự đánh thức
một ký ức nào đó, khó nắm bắt khó gọi tên, nhưng thực sự luôn ở trong tâm thức.
Chỉ cần một cái cớ là sẽ hiện diện rõ ràng. Với tôi, câu chuyện quanh vai diễn
Nam Phương Hoàng hậu trong bộ phim Hoàng hậu cuối cùng là một trường hợp
như vậy.
Điều tôi quan tâm không phải là tranh luận diễn viên có
phù hợp với nhân vật hay không, mà là những cách nhìn rất khác nhau về nhân vật lịch sử ấy. Có người ca ngợi,
có người phủ nhận; có người xem bà như biểu tượng của vẻ đẹp, học vấn và phẩm
giá, cũng có người nhìn bà bằng cái nhìn phê phán, thậm chí rất khắt khe, dành
cho giai đoạn cuối của triều Nguyễn, một giai đoạn có những biến động lớn lao,
thử thách sự chọn lựa của những người có một vai trò nhất định trong lịch sử. Điều đó
không riêng đối với Nam Phương Hoàng hậu. Nhưng bà lại là nhân vật chính trong
một bộ phim bỗng nhiên đình đám trên mạng xã hội. Vì vậy, theo tôi, nhiều người
đã nhìn nhận, khen ngợi hay đánh giá, phán xét bà bằng ký ức lịch sử của chính mình,
rộng hơn là của thế hệ mình, từ không gian văn hoá mình từng sinh ra và lớn
lên. Bởi vì, lịch sử bao
giờ cũng được ghi lại bằng tư liệu, nhưng ký ức lịch sử lại được nuôi dưỡng
bằng những câu chuyện trong một không gian văn hoá nhất định.
Có thể hình dung mối liên hệ từ không gian văn hoá đến
ký ức lịch sử của một cộng đồng.
Không gian văn hóa (các yếu tố tự nhiên và nhân văn) đã
tác động vào quá trình hình thành đời sống cộng đồng (kinh tế, văn hoá,
xã hội, chính trị…). Đó là dòng chính của lịch sử cộng đồng. Trải qua
thời gian được lắng đọng thành ký ức, bồi đắp và trao truyền cho nhiều
thế hệ. Những thế hệ tiếp nhận ký ức cũng là tiếp nhận ý nghĩa, giá trị văn
hoá của không gian. Từ đó không gian văn hoá lại tiếp tục nuôi dưỡng bản sắc
cộng đồng, truyền thống lịch sử.
Như vậy, "không gian văn hóa" và "ký ức
lịch sử" thực chất là hai khái niệm không thể tách rời. Từ góc độ di sản
và nghiên cứu đô thị, có thể hiểu mối quan hệ này theo ba cấp độ: không gian
lưu giữ ký ức, không gian tạo ra ký ức và không gian tái tạo ký ức. Không
gian văn hoá có thể là một đô thị, có thể là một làng quê, rộng hơn là một vùng
miền. Nam bộ chính là một không gian văn hoá rộng lớn như vậy.
2. Không gian văn hóa Nam bộ
Nam Bộ là một không gian văn hóa đặc biệt. Được coi là vùng
đất mới “thiên nhiên ưu đãi”, hệ thống sông nước chằng chịt tạo nên những mối
quan hệ giao lưu luôn rộng mở; từ đó phát triển giao thương và sớm hình thành
kinh tế thị trường. Nơi đây có nhiều cộng đồng cùng sinh sống và làm ăn, từ các
tộc người bản địa đến lưu dân khai khẩn, là nơi luôn có những làn sóng nhập cư
lớn và liên tục. Chính vì vậy quan hệ xã hội ít ràng buộc bởi cấu trúc làng xã
khép kín mà quan niệm “tứ hải giai huynh đệ”. Trong không gian ấy, con người
sống với nhau bằng sự nương tựa, chia sẻ, giúp đỡ chứ không phải bằng tước vị
thấp cao. Do đó những giá trị luôn được cộng đồng đề cao là nghĩa tình, hào
sảng, trọng chữ tín, ai có khả năng thì ít nhiều đều giúp người khác. Câu
chuyện về ông Thủ Huồng dựng Nhà Bè trên sông Sài Gòn là một minh chứng.
Đến nửa đầu thế kỷ 20 Nam bộ là vùng đất của những con
sông mở ra biển lớn, của những thương cảng đông đúc, của những con tàu cập bến
từ khắp nơi trên thế giới. Ở đó, truyền thống và hiện đại gặp nhau mỗi ngày.
Những ngôi đình, ngôi chùa nằm không xa nhà thờ, trường học kiểu Pháp bên cạnh
dãy phố buôn bán của người Hoa. Đô thị Sài Gòn là nơi người tứ xứ hội tụ làm
ăn. Một xã hội đang chuyển mình, nơi con người sớm tiếp xúc với văn hoá phương
Tây nhưng vẫn giữ nếp sống trọng nghĩa tình của miền đất mới. Trong bối cảnh ấy
xuất hiện một tầng lớp thượng lưu Nam Kỳ xuất thân từ đại địa chủ, doanh nhân,
những người vừa lưu giữ truyền thống Á Đông trong gia đình và những mối quan hệ
xã hội, đồng thời tiếp thu tri thức kinh tế, kỹ thuật hiện đại, tiếp nhận văn
hoá phương Tây. Họ đã góp phần định hình diện mạo xã hội Nam Bộ nửa đầu thế kỷ
20.
Ký ức cộng đồng luôn có cách lựa chọn rất riêng. Người
Nam Bộ vốn không có truyền thống thần tượng quyền lực, mà thường ghi nhớ rất
lâu những hình tượng “trọng nghĩa khinh tài”, “trọn tình trọn nghĩa”. Trong văn hóa Nam Bộ truyền thống,
sự giàu có ít khi tự nó trở thành đối tượng bị đố kỵ hay nghi ngờ mà điều cộng
đồng quan tâm hơn là người giàu ấy đã sống và ứng xử như thế nào. Vì vậy mà những
tên tuổi như Huyện Sĩ, Quách Đàm và nhiều người khác luôn được nhắc đến, không
phải vì sự giàu có mà vì những gì họ đóng góp cho xã hội: mở chợ, lập phố, xây
đình chùa, nhà thờ, làm cầu, đào kênh… sau này là nuôi giấu cán bộ cách mạng,
làm từ thiện, cứu trợ… Rất
nhiều gia đình Hoa, Việt, Minh Hương, địa chủ, thương nhân... đã góp phần như vậy.
Suốt hơn ba trăm năm khai phá Nam Bộ, hình ảnh
"phú hộ nghĩa hiệp", "điền chủ nhân hậu", "thương gia
yêu nước", "mạnh thường quân" xuất hiện khá nhiều trong ký ức địa
phương. Đương nhiên lịch sử cũng có những địa chủ bóc lột hay thương nhân chỉ
biết tư lợi. Nhưng điều đặc biệt là cộng đồng lưu giữ và truyền lại là những
người đã dùng của cải để tạo dựng lợi ích chung. Chính vì vậy, khi nhắc đến các
nhân vật giàu có trong lịch sử Nam Bộ, ký ức tập thể thường gắn họ với những việc
làm cụ thể cho cộng đồng hơn là chỉ với khối tài sản họ sở hữu. Không hay thù
ghét người giàu mà trọng người giàu tử tế. Có thể coi đó là một nét độc đáo của
văn hoá Nam bộ.
Có một đặc điểm thú vị ở người Nam Bộ, đó là họ kể lịch
sử bằng từng con người, nhớ nhân vật lịch sử hơn nhớ thứ thế triều đại. Bởi vì quá
trình hình thành người Nam bộ trên vùng đất Nam bộ diễn ra gần như trọn vẹn
trong thời Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn. Cùng với sự thờ phụng những vị thần
linh, những tiên hiền, hậu hiền, các anh hùng liệt sĩ, người Nam bộ luôn nhắc nhớ
những con người giàu tử tế, cống hiến tài sản cho cộng đồng, những người có học
mà khiên cung, cống hiến tri thức cho xã hội, những người sống có nhân có nghĩa
như hai nhận vật văn học được yêu thích nhất của người Nam bộ là Lục vân Tiên
và Kiều Nguyệt Nga. Họ không phải là những "anh hùng" nhưng mỗi người
đại diện cho một phẩm chất tốt đẹp mà cộng đồng trân trọng.
Mỗi con người hay mỗi nhân vật lịch sử, đều trở thành
một phần ký ức của một không gian văn hoá cụ thể. Cũng giống như một dòng sông,
một khu chợ hay một con đường cũ, có những con người chỉ cần được nhắc tên là cả
một bối cảnh lịch sử hiện lên. Đó cũng là một di sản của cộng đồng.
3. Nam Phương Hoàng Hậu trong ký ức văn hóa Nam bộ
Nam Phương Hoàng hậu là một nhân vật của lịch sử Việt
Nam hiện đại. Bà sinh ra ở Gò Công (theo một nghiên cứu mới là Gò Công thuộc Thủ
Đức, TPHCM ngày nay), lớn lên trong một gia đình Công giáo giàu có và có ảnh hưởng
ở Nam Kỳ, được giáo dục theo chương trình Pháp từ rất sớm, rồi trở thành hoàng
hậu duy nhất của triều Nguyễn, hoàng hậu đầu tiên và cũng là cuối cùng trong
giai đoạn xã hội Việt Nam có nhiều biến động lớn. Cuộc đời của bà vừa thuộc về
triều đình Huế, vừa thuộc về đại gia đình ở Sài Gòn, lại vừa gắn với nước Pháp.
Nhưng nơi còn lưu giữ nhiều nhất ký ức và cảm xúc lịch sử về bà, theo tôi là
Sài Gòn/Nam Bộ. Vì vậy ký
ức cộng đồng đã "đọc" Nam Phương bằng hệ giá trị Nam Bộ, sự yêu mến
bà không hoàn toàn xuất phát từ lịch sử triều Nguyễn mà xuất phát từ ký ức văn
hóa Nam Bộ.
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình tiêu biểu và điển
hình của tầng lớp thượng lưu, địa chủ Nam bộ có nhiều đóng góp của cải vật chất
cho xã hội, Nam Phương là một trường hợp hội tụ nhiều yếu tố tưởng như đối lập
nhưng lại hoà hợp lạ lùng. Nếu bỏ qua chiếc vương miện, bà vẫn là hình mẫu của
một phụ nữ Nam Bộ nửa đầu thế kỷ 20: được dạy dỗ nghiêm khắc, giáo dục bài bản,
thông thạo ngoại ngữ, tự tin trong môi trường quốc tế và mang theo những giá
trị của gia đình, của đức tin và của phép ứng xử kết hợp nhuần nhuyễn Đông –
Tây. Chính điều ấy khiến nhiều người miền Nam cảm thấy gần gũi với bà hơn là
bởi địa vị Hoàng hậu cao sang.
Trong ký ức của nhiều gia đình Nam Bộ, đặc biệt là giới Công giáo hoặc tầng
lớp trung lưu cũ thường dành nhiều thiện cảm đối với Nam Phương Hoàng hậu. Người
ta ít kể về vị thế cung đình của bà mà thường kể về cô gái Gò Công học giỏi ở
Pháp, tiểu thư nhà giàu nhưng khiêm nhường, về người phụ nữ trọn đạo làm dâu xứ
Huế với những phép tắc nghiêm ngặt, về người vợ nền nã chưa từng gây chuyện
ghen tuông với ông chồng Hoàng đế đào hoa, về mẹ lặng lẽ nuôi dạy các con sau
khi cuộc hôn nhân tan vỡ, không tham gia chính trị, không viết hồi ký để công
kích ai, giữ được phẩm giá trong cuộc sống lưu vong…
Chiếc mũ miện chỉ là một phần rất nhỏ trong cuộc đời
bà. Điều còn lại trong ký ức nhiều người là hình ảnh một người phụ nữ bước qua
những đổi thay lớn của xã hội, của chính cuộc đời mình mà không để mình trở
thành trung tâm của những thị phi và ồn ào lịch sử. Có thể có chi tiết trong cuộc
đời bà cần được kiểm chứng bằng tư liệu. Nhưng điều đáng chú ý là việc chúng
được kể đi kể lại đã làm nên ký ức văn hóa của một cộng đồng. Mặt khác, Nam Phương Hoàng hậu trong
ký ức ấy dường như không chỉ được nhớ như một nhân vật của triều Nguyễn. Bà còn
được nhớ như một "người con của Nam Bộ". Nhắc đến bà, người ta nhớ Gò
Công, nhớ gia đình Huyện Sỹ, nhớ Sài Gòn những năm đầu thế kỷ 20, nhớ những
chuyến tàu vượt biển sang châu Âu, nhớ một thời mà Nam Bộ đang mở cửa với thế
giới bằng thương mại, giáo dục và những khát vọng hiện đại hóa.
Nếu nhìn rộng hơn, Nam Bộ đầu thế kỷ 20 đã sản sinh một
thế hệ phụ nữ rất đặc biệt. Họ không phải những "nữ anh hùng" theo
nghĩa truyền thống, nhưng họ là những người phụ nữ đầu tiên học trường Pháp, biết
ngoại ngữ, đi du học, điều hành
doanh nghiệp, làm báo, hoạt động xã hội, làm từ thiện, gìn giữ nền nếp gia
phong, xuất hiện trong không gian công cộng với tư cách xã hội bình đẳng với
nam giới. Nam Phương là một trong số họ. Cho nên, có thể điều khiến nhiều người
yêu quý bà không phải vì chiếc vương miện, mà vì bà đại diện cho hình ảnh người
phụ nữ Nam Bộ hiện đại: có học thức, có lòng tự trọng, biết ứng xử trong cả
không gian Á Đông lẫn phương Tây.
Có thể nhận thấy những cuộc tranh luận trên mạng xã hội về các nhân vật lịch sử đã thể hiện sự “va chạm” giữa những ký ức tập thể khác nhau. Mỗi cộng đồng, mỗi vùng miền, mỗi thế hệ, thậm chí mỗi gia đình đều mang theo một ký ức lịch sử riêng, những biểu tượng văn hoá khác nhau. Vì vậy, thái độ của từng người hay nhóm người hay một cộng đồng không chỉ phản ánh quan điểm đối với nhân vật lịch sử ấy, mà còn phản ánh ký ức văn hóa của chính họ và cộng đồng, phản ánh điều họ muốn gìn giữ là hệ giá trị của cộng đồng mình.
TP. Hồ Chí Minh 9.7.2026.
Bài viết ngắn gọn hơn trên Tạp chí Tia Sáng :
https://tiasang.com.vn/nam-phuong-hoang-hau-trong-ky-uc-van-hoa-nam-bo-5095949.html
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét